1. 

VNNP:
Thưa anh Hoàng Chính, người ta biết đến nhà thơ Hoàng Chính qua thi phẩm "Nửa Đêm Nghe Mẹ Thở Dài" do Làng Văn xuất bản 1991. Người ta cũng biết đến nhà văn Hoàng Chính qua tập truyện ngắn "Mùa Thu Cuối Cùng", Làng Văn xuất bản 1994, tập truyện "Lời Tỏ Tình Đã Cũ", Văn Mới xuất bản năm 2000; truyện dài "Mấy Sông Cũng Lội" đăng từng kỳ trên Thời Báo ở Canada, và mới đây nhất là truyện dài "Tình Khúc" đăng từng kỳ trên Văn Học. Với một tập thơ, hai tập truyện ngắn và hai truyện dài, anh có nghĩ mình thiên về viết văn hơn làm thơ không, và cái nào thực sự lôi cuốn anh?

Hoàng Chính (HC): Về nghệ thuật, tôi là một người không chung thủy. Hôm nay một ý thơ chợt đến trong đầu, tôi cầm bút ghi vội lấy, dù chỉ vài chữ. Rồi sau đó nếu may mắn viết ra câu thơ nào đường được, tôi ôm lấy, âu yếm, vuốt ve. Say đắm như say đắm một người tình; mê muội như mê muội người mình mỏi mắt đợi chờ biết bao lâu mới gặp. Ngày hôm sau, bắt gặp một ý tưởng hứa hẹn một truyện ngắn hay, tôi quên ngay bài thơ ngày hôm trước, vồ lấy cái ý truyện ấy, loay hoay, vất vả với nó; cố gắng chinh phục nhân vật đang lấp ló sau những dòng chữ, để nhân vật đồng lõa với mình trong một hành trình. Tôi mê cái khung sắp thành của mảnh truyện sắp viết, như mê một người con gái buổi cô ta còn e ấp sau khung cửa. Và tôi quên tuốt người tình ngày hôm qua. 

Thơ với truyện, với tôi, thứ nào cũng dễ thương. Nhưng hình như thơ khó chiều hơn thì phải.


2.
VNNP:
Bên Việt Nam anh là bác sĩ y khoa, nguyên do nào đã khiến anh trở thành nhà văn với sức sáng tác dồi dào như vậy, và trước khi định cư tại Canada, anh có làm thơ viết văn nhiều không? 

HC: Tôi tập tành viết văn, làm thơ trước khi biết đặt cái ống nghe cho đúng chỗ trên ngực bệnh nhân. Truyện ngắn đầu tiên được đăng trên Tuổi Hoa hồi học lớp đệ ngũ. Từ đó tôi bon chen qua hai nhật báo Tiền Tuyến và Trắng Đen. Viết có tiền nhuận bút đàng hoàng (ai như bây giờ :):)) Tiền Tuyến 500 đồng, Trắng Đen 800 đồng. Điều phiền phức là phải mua báo để theo dõi mà cắt trang báo có đăng bài của mình đem lên toà soạn, xuất trình thẻ căn cước để lãnh tiền. Tuy vậy, điều tôi thích nhất vẫn là những lần đến toà soạn Tuổi Ngọc nhận sách tặng khi có bài đăng báo. Chỉ cần nói tên (rất rụt rè, rất hồi hộp) là nhân viên toà soạn đưa ngay cho vài cuốn truyện của Duyên Anh, Đinh Tiến Luyện, Từ Kế Tường... Chả ai hỏi thẻ căn cước hết ráo. Hồi đó tôi "ngại" tạp chí Văn dù đọc báo ấy thường xuyên. Báo Văn thuở đó là đất dụng võ của các anh Lâm Chương, Hoàng Lộc, Từ Thế Mộng, Phạm Cao Hoàng, Tần Hoài Dạ Vũ, Nguyễn Tất Nhiên, Du Tử Lê, Luân Hoán... và bao nhiêu cây bút tài danh tôi không nhớ hết. Khi hòa đàm Paris khởi sự, tôi mừng quá, làm thơ dự thi và trúng giải của Đài Phát Thanh Sài Gòn. Đó là lần vinh quang nhất trong đời "cầm bút". Thơ thì Hoàng Hương Trang và Hồ Điệp ngâm trong đêm giao thừa còn tiền thưởng thì phải tới tận ngân hàng quốc gia để lãnh vì đó là số tiền khá lớn. Lần "vinh quang" thứ nhì là khi nhận giải thưởng truyện ngắn Trắng Đen. Được đến Trung Tâm Quốc Gia báo chí dự lễ phát thưởng, được thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà bắt tay bảo rằng "cố gắng, năm tới lãnh giải nữa nghe". Không biết lời khuyến khích ấy có ám vào cái "sự nghiệp văn chương" của tôi không mà đến bây giờ tôi vẫn có cảm tưởng mình chỉ viết ra được những thứ văn chương dự thi truyện ngắn mà thôi. 

Thời kỳ giới văn nghệ Sài Gòn xôn xao với những Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, Nguyễn Thị Hoàng, Tuệ Mai, Trần Tuấn Kiệt, Du Tử Lê, Nguyễn Xuân Hoàng, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Tạ Ký... tôi cũng mon men vào Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hóa hỏi xin bản thể lệ dự thi giải văn học nghệ thuật của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa (đem về làm... hồ sơ). 

Đúng là ngựa non háu đá; điếc không sợ súng. 

Còn nguyên do nào khiến tôi cầm bút thì... tôi cũng không biết nữa.


3. 
VNNP:
"Nửa Đêm Nghe Mẹ Thở Dài", tập thơ của anh, Vi đọc đi đọc lại rất nhiều lần, lần nào cũng cảm động và ngậm ngùi như nhau. Anh nói về thân phận quê hương, những ngày chinh chiến, lần thất trận lịch sử, rồi trại giam, người tù trở về không nhận ra căn phố cũ... Anh đã vẽ lại cuộc chiến và đất nước bằng một dòng thơ nhẹ nhàng, bùi ngùi, như người yêu đang kể chuyện quê hương, đang nói lời phân trần cho người yêu nghe:

Chiếc nhẫn đầu tiên trong đời người
bây giờ ta thua cuộc
ơi những lá cờ trắng trên đỉnh đời buồn
Làm sao dối được lòng mình 
khi em hỏi anh có còn như thuở nào.


(Thơ Tình Của Một Người Thua Cuộc)

Ngay cả lời thơ khi trách móc, than thở cũng rất dịu dàng mà vô cùng thấm thía:

Chỉ có tôi đang chết giữa xa hoa
Chỉ có tôi dần quên nước, quên nhà
(Thơ Viết Trong Công Viên)


Khi anh viết những dòng thơ này, anh muốn gửi gấm như một lời tâm sự của riêng anh hay còn 
muốn nhắn nhủ gì khác hay không?

HC: Ngày xưa, có một ông bạn già, lúc đọc những bài thơ trong tập "Nửa Đêm Nghe Mẹ Thở Dài" tới câu "Múa hoang vườn trống hai vai rã rời," (trong bài thơ nào đó tôi quên tên mất rồi)... đã quả quyết là tác giả phê phán những hội đoàn ở hải ngoại "múa gậy vườn hoang". Bài khác thì "tác giả kêu gọi người Việt ở hải ngoại hãy nhớ tới quê hương..." Ông bạn viết thành bài giới thiệu gửi báo, may mà báo không đăng. 

Thưc sự, tôi chỉ muốn ghi lại một tâm trạng, một khoảnh khắc, một phần đời. Vậy thôi. Thơ, chẳng dám vẽ vời cao xa, chỉ là những dòng nhật ký có vần.


4.
VNNP: 
Này em,
cái nụ hôn đầu
thuở tôi bứt tóc, vò đầu 
năm xưa
gói trong một chút bất ngờ
chút tôi ra ngẩn vào ngơ
tội tình

(Này Em, Cái-Thâ.t-Thà-Tôi)

Ngoài những bài về quê hương, Hoàng Chính còn có thơ tình. Thơ tình của anh nồng nàn trong ngôn ngữ bình thường gần với lời nói hàng ngày chứ không phải là sáo ngữ hay mang ý tưởng ví von cao siêu để người đọc phải suy nghĩ. Anh làm sao mà chọn chữ dùng từ vừa tự nhiên vừa "thơ" như vậy? Điều này chắc chắn không phải là dễ đâu.

HC: Biết mình không có khả năng dùng chữ nên tôi cố tránh những từ ngữ cao siêu. Người làm thơ sử dụng chữ nghĩa trong thơ nhiều khi cũng nguy hiểm như anh chàng hát xiệc chơi trò phóng dao. Tôi nhát gan nên chọn những con dao cùn, ít nguy hiểm hơn. Cái cám dỗ lớn của những người so câu đọ vần là thích trang điểm cho câu thơ mình. Đồ trang sức - không may - thường là những phấn sáp cũ mòn, những "lá thu phong" đã rụng không biết bao nhiêu lần trong thơ Việt, những "tháng tư đen" đã phai hết mầu ám tối trong văn, trong thơ, trong nhạc Việt Nam, những "lệ nến" chảy ròng ròng từ thơ người này sang thơ người khác không biết bao nhiêu thế hệ rồi. 

Nói dài dòng vậy biết đâu lại chỉ là một hình thức chạy tội cho cái lỗi không rành từ Hán Việt của mình.


5.
VNNP:
Tập truyện "Mùa Thu Cuối Cùng" anh có ba truyện kể lại hồi còn học y khoa, thời gian sau 1975, đó là "Ngày Nào Cạn Nước Đồng Nai", "Mùa Thu Cuối Cùng" và "Phiên Toà". Vi chắc là sau 1975 anh đã ra trường, nhưng những gì anh tả thì y hệt như hoàn cảnh xã hội lúc đó, thí dụ như các sinh viên miền Bắc nhờ lý lịch mà thi đậu vào trường, những buổi dạy chính trị, vv... Ngay cả các chi tiết như các anh bên Y hay la cà sang tán mấy cô học Nha, thực tập nha khoa xong cất áo và dụng cụ trong hộc tủ cá nhân, hai chiếc xe đạp đi song song sau giờ thực tập, Vi đọc xong, nhớ lại thời gian mình học ở đấy sau 1975 mà nổi da gà vì anh tả thật quá.

"Những năm sau này, sinh viên hoặc không có đủ tiền ăn trưa ở cafeteria, hoặc không ăn nổi những món ăn độn bo bo, bắp, thóc và sạn nhiều quá, đành đem đồ ăn đã làm sẵn ở nhà lên hành lang ... và nhà vệ sinh khu Cơ Thể Học để ăn trưa...
(Mùa Thu Cuối Cùng, trang 139).

Đúng chóc, Vi nhớ buổi trưa mỗi đứa đều thủ một lon Guigoz đựng đầy nhóc cơm, ngồi dài ở hành lang trên lầu cạnh đại giảng đường, ăn xong chui vào hành lang khu Vi Sinh, khu Anatomy trải khăn ra ngủ trưa chờ lớp kế tiếp. Anh không còn học Y Khoa sau 1975, làm sao anh biết rành rọt và tả đúng quá vậy?

HC: Tháng tư 1975 tôi còn là sinh viên năm thứ ba, đang thực tập tại bệnh viện Nguyễn Văn Học. Buổi chiều cuối cùng của Sài Gòn, thay vì chạy ra bến tàu tôi lại chạy vào bệnh viện. Cả một trung tâm thực tập Y Khoa chỉ còn một bác sĩ, một sinh viên y khoa năm thứ nhất và tôi. Đêm ấy thức trắng mà làm cấp cứu mờ mắt. Sáng hôm sau, ra bãi đậu xe, chiếc xe Honda không còn. Trở vào phòng cấp cứu cái ống nghe duy nhất cũng đi luôn. Có phải đó là điềm báo hiệu tôi sẽ không bao giờ (hay khó lòng mà) trở lại ngành y dù đã đậu bằng tương đương Canada hai lần rồi! 

Tôi lại lạc đề nữa rồi! Thiệt tình! Tóm lại tôi có bốn năm đọc sách Mỹ, học thầy đào tạo từ Pháp và Mỹ cùng với ba năm làm "trí thức xã hội chủ nghĩa". Vậy là đề huề. Những năm học y, tôi cũng nếu không đứng hành lang bên này (trường Y) nhìn qua trường bên kia (Nha) thì cũng lặn lội đạp xe theo người ta từ đường Hồng Bàng Chợ Lớn qua không biết bao nhiêu là phố phường Sài Gòn. 

Sau 75, sinh viên các năm cuối dù không còn học các môn khoa học căn bản vẫn phải về trường học để học chính tri.. (Tường Vi còn nhớ môn Kinh Tế Chính Trị Mác-Lênin không?) Chính nhờ vậy mà tôi biết khá nhiều chuyện trong giảng đường hay ngoài hành lang hai trường Y và Nha.


6.
VNNP:
Trong các truyện ngắn của anh, phần đối thoại giữa các nhân vật chiếm rất nhiều. Nhân vật nữ trong truyện của anh thường là một cô bé hay một phụ nữ có lối nói chuyện thông minh bướng bỉnh hơn là nhu mì. Nhân vật nam và nữ thích nói chuyện trống không, "kênh-xì-po" qua la.i. Nhờ vậy mà truyện của anh đọc rất dễ thương, mang nét học trò. Đó là cái "khuôn" cho những chuyện tình của anh hay sao? Nghĩa là anh có dự định thay đổi cách nói chuyện của các nhân vật trong những truyện ngắn kế tiếp của anh hay không, hay anh vẫn thích cái style "kênh xì po" như vậy? :)

HC: Tự do phát biểu là một trong những quyền căn bản của con người, dù con người đó là 
nhân vật trong truyện. Tác giả hay có tật nói dùm nhân vật. Tôi cố gắng tránh điều đó nhưng vì không khéo nên nhân vật lợi dụng cơ hội nói nhiều quá, kết quả là có nhiều truyện nặng về phần đối thoa.i. Tôi vẫn phục những tác giả có khả năng dùng đối thoại để diễn tả diễn biến của câu 
chuyện cũng như trình bày được rõ nét tâm tính nhân vật. 

Đổi cách nói chuyện của nhân vật thì chắc chắn là không được rồi (dân chợ trời thì phát ngôn kiểu chợ trời, nữ tu nói chuyện kiểu nữ tu tác giả tư cách gì mà xía vô), có điều tôi thấy loại nhân vật nữ thông minh, xinh đẹp, lý lắc (và khiêu gợi một cách kín đáo) đã trở thành cũ mòn. Loại "con nhỏ" thế này, "con nhỏ" thế kia đang tràn ngập không gian truyện ngắn ở hải ngoa.i. Đem trình bày hoài những "con nhỏ" nói chuyện trống không, xách mé, ngang ngược (nhưng đầy nữ tính :() sẽ dần làm người đọc thấy nhàm chán. Như ca sĩ hát hoài một bài tủ, mặc hoài một kiểu áo thì còn ai muốn mua vé đi coi trình diễn. Tôi đang cố gắng cho cái style "kênh xi po" đi chỗ khác chơi. Đó là văn phong (nếu có) của những truyện ngắn trong Mùa Thu Cuối Cùng. Xưa quá trời là xưa!

Nói cho sang vậy chứ trong những truyện ngắn viết thời gian gần đây tôi vẫn thấy mình đi trên lối mòn. Có phải tại lối mòn thì an toàn không?


7. 
VNNP:
Ngoài phần đối thoại ra, các nhân vật của anh thường độc thoại, nói đúng hơn là anh kể lại thật chi tiết nhân vật ấy đang nghĩ gì, đang ngộ nhận hay mơ màng vấn đề gì. Vi thấy phần độc thoại và đối thoại lấn át các đoạn tả cảnh, trong phần độc thoại thì nhân vật hay đoán mò, suy đoán để rồi kết cuộc thường chấm dứt một cách bất ngờ khiến cho nhân vật bị chưng hửng hay "bé cái lầm". Có phải đó là nét đặc trưng, là trademark cho cách viết của Hoàng Chính không?

HC: Khi viết lách lăng nhăng, lúc nào tôi cũng bị ám ảnh trong đầu bởi ý nghĩ viết là viết về một điều gì đó. Thành ra cho đến bây giờ vẫn chưa thể viết nổi một truyện mà không có cốt truyện. Tôi có nhiều điều để nói. Đọc các tác giả khác, gặp truyện hay, tôi say mê đọc đi đọc lại, tôi tìm mua sách của họ, mua không được thì lùng trong thư viện, mượn về rồi đem chụp bản sao để dành. Hầu hết những truyện tôi mê vẫn là những truyện viết về một điều gì đó. Tôi cũng mong được ít ra một người thích truyện hay thơ mình như mình đã thích truyện, thích thơ người khác vâ.y. Mà muốn được vậy, cho đến nay, tôi vẫn nghĩ truyện phải lôi cuốn. Một trong những "xảo thuật" làm thích thú người đọc là gây bất ngờ (xoàng quá! nhưng đành chịu vâ.y.) Có điều quá chú trọng đến điều này dễ làm văn chương trở thành nhiều xảo thuật mà ít nghệ thuật, phải không Tường Vi. 

Nhưng nếu cô gái trong truyện "Ngàn Lẻ Một Đêm" toàn kể những chuyện không có cốt truyện cho ông vua nào đó nghe thì chắc gì cô ta sống sót sau vài ba chuyện. Tường Vi có nghĩ vậy không?


8.
VNNP:
Vì các nhân vật trong truyện của anh là những người bình thường ai cũng có thể gặp hàng ngày, câu truyện anh viết ra hoàn toàn là sản phẩm của tưởng tượng hay là từ những mẫu đời đây đó anh đã gặp được chung quanh anh?

HC: Cả hai, Vi a..

9. 
VNNP:
Trong tương lai, anh có dự định in thêm một thi phẩm nào không hay anh quyết định nghiêng hẳn về truyện ngắn và truyện dài? Gì thì gì, xin anh đừng bỏ làm thơ, vì trước hết có một độc giả là Vi sẽ tiếc lắm.

HC: Cám ơn Tường Vi. Có điều lâu lắm tôi không viết được câu thơ nào ra hồn. Chắc nàng Thơ đã bỏ tôi vì thói lăng nhăng. Những bài thơ dự tính in thành tập, bây giờ đọc lại, thấy... làm sao ấy. Thành ra chuyện in thơ phải để chờ xem sao.


10.
VNNP:
Câu hỏi cuối cùng, với các tác phẩm in đều tay như vậy, anh có nghĩ là ngày nay còn có nhiều người đọc, trong khi các sách, các truyện của nhiều tác giả khác nhau cứ ra đời không ngừng không? Làm sao để tìm ra đủ người đọc số lượng sách báo hằng hà hiện nay?

HC: Một lần (xa lắc xa lơ) báo Văn Học (bên California) cũng đặt vấn đề tương tư.... Khi được hỏi, tôi đã trả lời (một cách mầu mè) rằng tôi viết văn, làm thơ như một cách tỏ tình với cuộc sống... rằng mai này nếu như Việt Nam dùng tiếng Anh làm quốc ngữ (sắp rồi đấy) tôi vẫn viết tiếng Việt như thường. Viết để đọc, một mình. Bây giờ đọc lại câu trả lời ấy, tôi thấy mình cải lương thiệt tình. Nhưng tôi vẫn giữ vững lập trường. Như trong (tự) truyện ngắn "Gửi Riêng Chốn Nào" đăng trong một số Chủ Đề nào đó, nhân vật (tôi) đã nghĩ rằng vì chắc chắn ở một nơi nào đó, vào một lúc nào đó sẽ có một người nào đó nghĩ rằng cái thứ tôi viết ra ấy là viết cho họ, vậy thì tôi viết, là viết cho cõi người xa xôi ấy; dù chỉ một người. 

Tự nhủ lòng như vậy, tôi thấy yên tâm và tiếp tục làm khổ mình (và người, nếu may mắn) bằng trò chơi chữ nghĩa.


11. 
VNNP:
Xin cám ơn anh đã dành thời gian cho VNNP. Mong được đọc thêm thơ, văn của anh trong năm nay.

HC: Biết người viết chỉ nên "nói" bằng chính tác phẩm của mình mà tôi vẫn cao hứng "phát biểu linh tinh" (Tường Vi còn nhớ "cụm từ" này không?) Thiệt tình! 

Rất mong đã không làm những người bạn quí đang đọc tôi phải buồn lòng. Xin cám ơn Tường Vi và các bạn.



Liên lạc nhà văn
Hoàng Chính:  chinh2@hotmail.com