HOME

My favorite
  Quotes on
  Happiness

Mạn Đàm về
  Chữ và Ngĩa
  (Trúc Huy)

École de
  mon âme
  (Chê Lan Viên)

A Silhouette
  in the Fog
  (Nhat Linh)

You Must
  Live
  (Khai Hung)

School of
  my Heart
  (Che Lan Vien)

Heart of
  Perfect Wisdom
  (Prajna
  Paramita)

Book Review

Trang Thơ
  của Mẹ

My Family
  Photos

Viet Links

Guestbook

Email :)

 ~~~ scenery ~~~ 



DI CẤU TĐƯỜNG
của Cụ TRẦN THANH ĐẠT

(Bản văn bằng chữ Hán ghi trên bức bình phong Nhà Thờ)






Thường nghe: "Ăn trái nhớ cội, uống nước nhớ nguồn", tính niệm ân, niệm đức, của con người đối với sự việc là một tâm tính có sẵn, huống đối với những đấng sanh thành tạo hoá ra thân chúng ta, ra thân sinh chúng ta cùng các tổ khảo những đời trên nữa, thời tấm lòng niệm ân niệm đức của chúng ta lẽ phải thiết tha nhiệt liệt là dường nào.

Chúng ta có cái thân mấy thước này, đội lấy cái tên Trần Công hay Trần Thị này, há chẳng phải nhờ một giọt huyết của liệt tổ tỷ ta di truyền xuống cho. Huống nữa công danh sự nghiệp lớn nhỏ thế nào há chẳng nhờ nền phúc ấm đắp xây từ trước?

Họ ta từ đời Sơ-Tổ hàn vi, linh lạc, đã trải biết bao gian nan khó nhọc trong mấy thế đại mới dần dần gây dựng nên một cơ nghiệp hưng thịnh như cảnh tượng ngày nay. Truy niệm công đức của liệt tổ đã ghi chép trong Tộc-phổ nhà ta, chúng ta nhận thấy các cụ tề gia phụng tiên, chỉ noi theo một đạo hiếu đễ, hoà mục, mà gây dựng thành nền tảng một gia tộc vẻ vang có chế độ chỉnh đốn, có quy tắc rạch ròi.

Cụ Tằng-tổ ta lập nhà thờ tại Vạn-Xuân, trí tự-điền tại Tiên-Nộn, quy lăng mộ tại Châu-Chữ, đặt ruộng chạp giao cho làng sở tại lo việc tĩnh táo và sắm sinh phẩm hào soạn mỗi lễ Thanh-Minh, v. v...

Cụ tạ thế trong nửa thế kỷ nhà thờ Vạn-Xuân rủi phải bán đi, vài mươi năm sau Cụ Thúc-Dự là cháu nội Cụ lập lại nhà thờ tại Tiên-Nộn, và cúng thêm ruộng tế, vì lúc bấy giờ tằng-tôn-trưởng là Công Hân làm nghề ruộng ở tại làng.

Ngày nay ta được thừa kế một thế nghiệp trang nghiêm như thế, hưởng thụ những công đức viên mãn như kia, há không biết noi gương tiền đại mà lo tô bồi vun quén nền gốc Họ Trần cho được kiên cố thịnh mậu thêm, trước là báo đức đền ơn với lịch đại tổ tiên, sau là kết chặt mối tình cốt nhục giữa họ hàng con cháu.

Tháng tư năm Quý-Mùi 1943, Hội-Đồng Đại-biểu ba phòng đã xét thấy việc thờ việc họ, có mấy khoảng cần phải sửa sang chỉnh đốn cho hợp với tình thế hiện thời, một là nhà thờ hư nát cần phải tu bổ lại, hai là người chủ-tự không còn ở tại làng như trước nữa, thời nhà thờ nên di cấu lên vùng Nam-Giao cho con cháu được tới lui gần gủi săn sóc thuận tiện, ba là sửa việc thờ tự lại cho được cộng đồng chu tất, bốn là nghĩ soạn điều lệ về việc họ để cho có quy định về sau.

Việc sửa sang cải cách ấy là một công trình to lớn phí tổn trên 5.000 đồng. Lúc mới trù định qua ông Bá Cung, ông Công Điện, tôi và ông Công Dực đều lấy làm lo, song sau khi tờ thông cáo của Đại-biểu ba phòng gởi đi kêu gọi tấm lòng hiếu hữu của bà con con cháu, thời ai nấy đều hăng hái lạc tùng, người nghèo cũng hết lòng như người có, bên ngoại cũng như bên nội, số tiền cúng đã quá số dự định.

Thấy cái nhiệt tâm của bà con con cháu đối với việc phụng sự tổ tiên như thế, thiệt rất đáng mừng: chủ nghĩa gia tộc nhà ta vẫn kiên cố như cũ, đạo đức luân lý của ông cha ta không phải là hư văn.

Tôi, Công-Toại Thanh-Đạt, chẳng có gì ngoài một số bạc ít ỏi, xin cúng thêm hai ngàn thước vuông đất tại đồi Quảng-Tế (Dương-Xuân) để lấy chỗ đặt nền nhà thờ và sửa thành cái vườn nho nhỏ cho có một ít cây cối cỏ hoa, để thế cái vườn của cụ Thúc-Dự cúng ngày xưa và gọi là tán trợ tấm lòng nhiệt tình của Ông Công Điện lo lắng việc họ ngày nay.



Ôi ! Đồi Quảng-Tế chưa chắc là sùng sơn thắng địa, nhà thờ Họ không cần phải tráng lệ nguy nga, sở vọng của tộc nhơn ta là tại nơi tình tương thân tương ái đó thôi. Nguyện con cháu ngày sau hãy bồi dưỡng lấy tinh thần ấy cho ngày thêm bền vững, thời đồi Quảng-Tế không sùng sơn cũng là thắng địa, nhà Từ-Đường không tráng lệ cũng đủ nguy nga. Vả lại vùng Quảng-Tế nằm nơi tịch mịch cao ráo, đây là miệt núi, xóm chùa, hợp với nơi thờ tự, lên Châu-Chữ cũng gần, mà về Tiên-Nộn cũng không xa lắm, huống nay cả ba phòng con cháu đều có nhà vườn ở gần, tới lui hôm sớm, vui tẻ có nhau, tộc nghị lân tình, càng thêm đầm ấm. Và rồi đây bà con con cháu hẳn còn lắm kẻ muốn rủ nhau quây quần trong lối xóm, thời cảnh tượng thịnh vinh của Họ Trần ngày xưa từng thấy ở Vạn-Xuân ắt sẽ được thấy lại ở Dương-Xuân vậy.

Lúc bấy giờ, vùng Quảng-Tế Nam-Giao sẽ hoá thành cái Trần-Gia-Trang vui vẻ tốt đẹp như trong ý tưởng của tôi chăng, duy cầu Tiên-Linh thùy lân gia hộ.


Ngày 16 tháng Tư năm Giáp Thân
Hoàng hiệu Bảo Đại thứ 19
( tức ngày 08/05/1944 )


Nghĩa-Phòng Tằng-Tôn

Giáo-Dục-Bộ Thượng-Thư
Cơ-Mật-Viện Đại-Thần

TRẦN THANH-ĐẠT
bái ký



      - Notes biographiques. Extrait du livre "Souverains et notabilités d'Indochine", éd. du Gouvernement Général de l'Indochine. (Hanoi: Imprimerie de l'Extrême-Orient, 1943).

S.E. Trần Thanh Đạt


      Ministre de l'Éducation Nationale. Né en 1891 à Thừa Thiên.
      Diplômé de l'Enseignement primaire supérieur. Secrétaire à la Résidence supérieure en An Nam de 1908 à 1919.
      Admis à l'École de Droit et d'Administration en 1919, en est sorti diplômé en 1922.
      Nommé Commis la même année.
      Admis à l'École des Hautes Etudes du Gouvernement Annamite et reçu premier à l'examen de sortie en 1925.
      Versé dans les cadres du Gouvernement Annamite et désigné comme Tạm-Phái au Ministère de l'Intérieur.
      Désigné successivement comme Tri-Phủ de Quảng-Ninh (Quảng-Bình), puis comme Tri-Phủ de Thăng-Bình (Quảng-Nam).
      Nommé Viên-Ngoại du Conseil du Cơ-Mật en 1929 et 1930.
      Nommé Quản-Đạo du Haut-Donnai (Dalat) en 1931 et Án-Sát du Quảng-Nam en 1932.
      Nommé Lãnh-Thượng-Tá (Secrétaire Général) du Ministère de l'Education Nationale.
      Promu Tham-Tri au même Département en 1937.
      Tuần-Vũ du Bình-Thuận de février 1940 à mai 1942.
      Nommé Ministre de l'Éducation Nationale le 12 mai 1942.
      Commandeur du Dragon d'Annam.


***  Trang Gia Đình :  ~.~  GÓC VƯỜN CỦA MẸ  ~.~
      - Trần Thị Hồng CẩmDuyên Thơ  (Trích tập thơ DUYÊN THƠ, 1948)
      - Phạm QuỵThầy Nguyễn Đình Thuý  (Trích đặc san TIẾNG SÔNG HƯƠNG, 1996)
      - Thương ThươngHồi Ký: Những Năm Dạy Học Ở Liên Khu IV (1946-1952)
      - Thương ThươngDặm Mòn (Chốn Cũ)
      - Trần Thanh DiệuTiếng Sấm Đầu Mùa
      - Khanh Tương: Trần Công Tộc Phả -- Cây Thế Hệ
      - Khanh Tương: Trần Công Tộc Phả -- Phần I , Phần II , Phần III , Phần IV , Phần V
      - Khanh TươngDo you think that the dead can communicate with us?
      - Trần Tuấn MẫnTản Mạn Bên Tháp
      - Diên ChiCái Vùng Nắng Sáng Ngày Xanh Ấy...
      - Diên ChiHương Phấn Trùng Khơi  (Trích tập thơ HƯƠNG PHẤN TRÙNG KHƠI, 1998)
      - Diên ChiKhung Trời Tuổi Ngọc  (Trích đặc san TIẾNG SÔNG HƯƠNG, 1995)
      - Trúc HuyTường Thuật Về Một Giấc Mơ Kỳ Lạ
      - Trúc HuyVài kỷ niệm về Trường Lycée Français Huế
      - Lang-Hoàn PhạmA Place Called Childhood
      - Anna Quỳnh-Châu TrầnMaman -- poème  (Prix PLUME D'OR 1990)
      - Văn TuyểnNhững Vì Sao, Anh Phải Sống, Bóng Người Trên Sương Mù, Chơi Giữa Mùa Trăng, Tôi Đi Học, Bỏ Trường Mà Đi, Bông Hồng Cài Áo ...