|
Mờ trong bóng chiều Một đoàn quân thấp thoáng... CHIẾN SĨ VÔ DANH
|

Trong khoảng thời gian mấy tháng ở trong chiến khu Bà Rịa-Vũng
Tầu này, tôi có được đầy đủ những niềm vui, nỗi buồn của một thanh
niên tự nguyện tham gia vào một cuộc chiến đấu chung. Lúc đó, không
cứ gì Mặt Trận Việt Minh hay ông Hồ Chí Minh, bất cứ một Mặt Trận
nào, bất cứ một lãnh tụ nào cũng có thể đẩy chúng tôi vào cuộc chiến.
Còn có thể nói hơi ngoa là chúng tôi đòi được đi đánh Tây. Và riêng tôi
thì chắc chắn là tôi không bị kích thích bởi bất cứ một chủ nghĩa hay bất
cứ một tham vọng nào cả. Không nhân danh một giai cấp, không ham
muốn địa vị chỉ huy như đội trưởng hay chính trị viên, tôi chỉ có một tình
yêu nước được nuôi dưỡng từ khi còn bé và bây giờ được dịp thể hiện
mối tình đó ra một cách rất cụ thể. Không phải chỉ hô to : Đi là đi chiến
đấu. Đi là đi chiến thắng... mà muốn đem thân xác, đem tính mạng của
mình ra để tỏ tình. Chỉ muốn làm một người tuổi trẻ vô danh trong một
cuộc chiến đấu chỉ có một danh nghĩa rất giản dị : đánh Tây, cứu nước.
Trong ý nghĩ đó, tôi soạn bài Chiến Sĩ Vô Danh :
Tham gia cuộc kháng chiến Nam Bộ này, tôi còn được biết thế nào là sự gian khổ của một người tay không đi chiến đấu. So với vũ khí của lính viễn chinh Pháp, chúng tôi chẳng có gì để có thể thắng họ được. Pháp chiếm đóng hầu hết các tỉnh ở miền Hậu Giang và mạnh mẽ tiến ra miền Đông. Áp dụng du kích chiến, chúng tôi làm chậm bước tiến của quân Pháp. Tôi tham dự hai cuộc phục kích, trong tay chỉ có khẩu mousqueton. Có lần chúng tôi bắt được một tù binh Pháp rất trẻ. Tôi ái ngại nhìn anh ta khi được dẫn đi, nói rằng đem về giam tại một nơi an toàn khu nào đó. Chắc bị thủ tiêu quá.
Quân Pháp nắm được các con lộ thì tiến vào rừng làm những cuộc tảo thanh. Chúng tôi lùi dần từ Đất Đỏ, Xuyên Mộc lùi tới biên giới của ba tỉnh Biên Hoà-Bà Rịa-Phan Thiết và lên đóng quân ở trên núi Mây Tào. Bây giờ, chúng tôi lại từ đó lùi ra Mũi Né và theo dọc bờ biển lùi ra tới Phan Rang. Đội viên cứ chết dần mà quân số thì không được bổ xung gì cả.
Tôi chứng kiến những cái chết âm thầm và thảm khốc của các đồng
đội. Những xác bạn, có những xác đã mất đầu vì lính Pháp (chắc gốc Phi
Châu) chặt cổ mang đi hay vì thú rừng tha đi, chỉ được vội vàng vùi nông
trong một khu rừng không tên không tuổi. Để không ai quên được những
xác không đầu đó, tôi đã soạn bài Nợ Xương Máu :
Lúc đó, tôi cũng ý thức được vũ khí để đánh Tây còn có thể là văn nghệ. Là thơ, là văn, là họa, là nhạc, là kịch. Trong trường hợp ở cái chiến khu cứ bị co dần là chiến khu miền Đông của tôi lúc này, làm gì có được nhà văn, nhà thơ, họa sĩ hay đội kịch đi theo ? Chỉ có tôi để trang bị vũ khí tinh thần cho anh em bằng những bài hát yêu nước. Hơn thế nữa, tôi làm luôn công việc dân vận bằng âm nhạc nữa. Ngoài nhiệm vụ thông tin, liên lạc, tiếp vận, tôi là cán bộ văn nghệ độc nhất của chiến khu.
Làm sao quên được những đêm trong khu rừng miền Đông, có ngọn lửa chập chờn soi những khuôn mặt trẻ măng, có tôi hát những bài Nhớ Chiến Khu, Côn Đảo... những bài hát trước đây tôi chỉ hát để mua vui cho thính giả tại những phòng trà Hà Nội và bây giờ bài hát mới thực sự có sự sống.
Nhớ tới bãi biển đêm trăng khi tôi hát bài Chiến Sĩ Hải Quân cho
dân chài ở Mũi Né nghe. Thật là chuyện khôi hài vì bài hát lính thủy
hào hoa này nói tới chuyện ra đi không vương thê nhi đâu có phù hợp
với hoàn cảnh thực tế ? Vậy mà dân chài Mũi Né vẫn khoái những câu :
Cũng ở trên một bãi biển, lần này là bãi biển ở gần Phan Rang, sống
tại nhà của đồng bào có cô con gái rất xinh, bởi vì bây giờ -- than ôi -- tôi
cần phải giữ đạo đức cách mạng (!) cho nên tôi chỉ soạn ra một bài hát rất
dụt dè là bài Cây Đàn Bỏ Quên bịa ra chuyện tôi đến chơi tại nhà cô em
rồi ra về mới nhớ rằng quên cây đàn :

Hội Nghị Fontainebleau tan rã. Phái Đoàn Việt Nam bỏ ra về. Ban đêm Hồ Chí Minh tới nhà riêng của Bộ Trưởng Marius Moutet để ký bản Tạm Ước. Ở Hà Nội, Quốc Hội để nghe thuyết trình về Tạm Ước này. Lệnh ngưng bắn được ban hành ở Nam Bộ.
Cho tới đầu mùa Thu năm 46, đúng vào lúc có lệnh ngưng bắn, tôi bị
thương nhẹ ở cánh tay và được phép đi Nha Trang để lên xe lửa về Bắc.
Tôi ngừng chân ở Huế và ngồi chép ra 2 bài hát mà tôi đã có ở trong đầu
khi còn ở trong chiến khu Nam Bộ. Một là Chinh Phụ Ca, nói tới ngày
trở về của một chinh nhân :