|
Kìa đoàn người đi trong đêm qua rừng âm u Người lạnh lùng nghe mưa Thu trên từng ba lô... ĐƯỜNG VỀ QUÊ
|

Phải có cuộc Cách Mạng và Kháng Chiến thì mới thấy câu châm
ngôn thời thế tạo anh hùng là đúng. Cách mạng Việt Nam không phải
tới năm 1945 mới có. Kể từ ngày đầu tiên Pháp tới xâm chiếm, luôn luôn
có những phong trào Cách Mạng. Từ Cần Vương, Văn Thân qua Đông
Kinh Nghĩa Thục tới Việt Nam Quốc Dân Đảng, suốt trong 80 năm bị đô
hộ, lúc nào cũng có những hoạt động cách mạng ở trong hay ngoài nước.
Nhưng không có phong trào nào thành công vì chưa gặp thời.
Thời thế chỉ tới vào lúc Thế Chiến 2 vừa kết thúc, Pháp bị lép vế ở
Việt Nam, Nhật chuẩn bị đầu hàng, nước ta được bỏ trống, các tổ chức
chính trị ùa ra, đảng nào mạnh và giỏi thì đảng đó nắm chính quyền.
Đám thanh niên thuộc tuổi tôi và không theo đảng phái nào thì chỉ biết
nhào ra theo Cách Mạng. Nghe thấy có tổng khởi nghĩa là hè nhau đi
cướp chính quyền. Thấy Pháp trở lại Việt Nam thì xung phong vào
kháng chiến Nam Bộ. Rồi khi có lệnh toàn quốc kháng chiến là đua
nhau rời phố phường về nơi thôn quê xây làng chiến đấu. Cách Mạng
và Kháng Chiến thu hút tất cả thanh niên, không chừa một ai cả.
Lúc đó, đại đa số chúng tôi là những cậu học trò thò lò mũi xanh
vừa mới lớn lên, những chàng công tử bột hoặc những ông vua thất
nghiệp. Chưa có mấy người trong chúng tôi được học hành ở một trường
quân sự hay ở một trường chuyên môn nào cả, nhưng khi ra với kháng
chiến thì anh này trở thành tiểu đội trưởng, anh kia trở thành Giám Đốc
Nha Khoáng Chất, anh nọ trở thành chuyên viên tình báo. Tất cả đều là
ứng chế (improviser) hết. Bao nhiêu mặc cảm nô lệ bỗng nhiên tiêu
tan, chúng tôi thấy trong lòng tràn đầy sự tự tin. Hơn nữa, chúng tôi còn
thấy đời mình đã được thay đổi hoàn toàn.
Ngoài cơ hội trăm năm một thuở được trở thành chiến sĩ trong cuộc
kháng chiến, đời sống của lớp thanh niên chúng tôi đã khác hẳn thời
trước. Chúng tôi không còn phải tùy thuộc vào thời giờ nữa, không phải
bận tâm vì những chuyện phù phiếm ở thị thành như đi bát phố, coi
cinéma, nghe máy hát... không phải lo nghĩ tới công ăn việc làm, tới
lương cao hay lương thấp. Túi tiền luôn luôn trống rỗng, vậy mà chẳng
bao giờ chúng tôi phải quan tâm. Không có mộng làm giầu, mơ tưởng
nhà lầu xe hơi, kim cương vàng bạc. Mộng lớn nhất trong lúc này chỉ là
một bộ kaki hay một cái áo blouson Mỹ. Tài sản là tất cả những gì mình
mang ở trên người hay bỏ trong balô, được mệnh danh là xí nghiệp.
Giấc mơ của chúng tôi được tóm tắt trong câu châm ngôn của thời đại :
Dân quê bây giờ oai lắm. Nhà thơ Quang Dũng, qua một bài thơ đầu
mùa kháng chiến, cho ta nghe thấy tiếng quát dân quân đầu vọng gác,
và cho ta nhìn thấy cảnh vô cùng thân mật của anh tự vệ xách đèn chai
lối xóm...
Trước đây, ở thị thành, đời sống của chúng tôi bị tách rời ra
khỏi đời sống chung của dân tộc. Bây giờ, chúng tôi được quay về với
nếp sống thôn ổ, bỏ quên điện nước, bật lửa, trà tầu, làm quen với nùn
rơm (tức là mồi rơm), thuốc lào, nước vối. Không có ai phản đối những
sự thay đổi này cả. Nếu bây giờ có dăm ba điều mới thì nó cũng chẳng
hề làm mất đi sự thi vị của đời sống thôn quê. Chẳng hạn qua chính sách
bình dân học vụ, ở những cổng chợ bây giờ có người đứng gác. Ai
không đọc được chữ i chữ tờ trên bảng phấn thì không được vào chợ. Rất
độc tài nhưng cũng rất vui, nếu ta có dịp nhìn thấy các ông già bà già
cười ngặt nghẽo khi bị khảo chữ. Các em bé quê bây giờ cũng được săn
sóc một cách kỹ càng. Làng xóm xưa kia trầm lặng thì bây giờ nổi lên
những tiếng trống ếch ròn rã, ai mà không thích ?
Lúc này lại còn có thêm một chính sách gọi là đời sống mới được
Chính Phủ đưa ra để khuyến khích mọi người thay đổi tác phong trong
lối sống hằng ngày. Ngay từ những việc tầm thường nhất. Ví dụ trong
bữa cơm tập thể, chúng tôi được dậy cho biết cách dùng đôi đũa theo lối
mới nghĩa là dùng đầu đũa suôi để gắp đồ ăn, rồi và cơm bằng đầu đũa
ngược. Ăn cơm mà cứ như là múa đũa vậy. Vấn đề vệ sinh công cộng rất
được chú ý. Dù việc đại tiện vẫn là cái thú thứ hai sau cái thú được làm
quận công, nhưng bây giờ ai đi đồng -- đúng nghĩa vô cùng -- thì phải
mang theo cái xẻng. Rồi tới tác phong phê bình và tự phê bình.
Người nào xưa nay có lối sống vị kỷ đến đâu thì bây giờ cũng phải hoà
mình vào lối sống tập thể.
Đó là chưa kể cuộc du lịch thần tiên trên đất nước, nhất là ở miền
trung du này, có những ngọn đồi êm ái nằm dài như chờ gót lãng du
(!) Dù tôi cũng đã đi khắp mọi nơi trên cả ba miền đất nước nhưng bây
giờ cuộc ra đi của tôi có nhiều ý nghĩa hơn...
Sau khi hát xong ở Vĩnh Yên, Đoàn Văn Nghệ lên đường tới Việt
Trì và ghé thăm Đoàn Chuẩn. Anh bạn nhạc sĩ này là quý tử của ông chủ
xưởng chế nước mắm Vạn Vân. Bước vào nhà anh là đụng phải những
chum và vại. Đoàn Chuẩn về thành rất sớm, tung ra ở Hà Nội và Hải
Phòng những bài hát lãng mạn rất hay như Thu Quyến Rũ, Gửi Gió Cho
Mây Ngàn Bay...
Con đường cái nối liền các tỉnh miền Bắc bị phá hủy hoàn toàn làm cho sư đi lại rất là khó khăn vì phải khách bộ hành phải vượt qua những chướng ngại vật hay những hố sâu. Vả lại con đường xe hoả bị lột hết đường rầy để tiến lên Phú Thọ lại chính là con đường ngắn hơn con đường nhựa. Chúng tôi leo lên đường rầy để đi tới vùng có một di tích lịch sử quan trọng là Đền Hùng. Gặp Tạ Tỵ, Văn Thanh đang lếch thếch đi theo tổ chức Bình Dân Học Vụ của Nguyễn Hữu Đang trên con đường rầy này.
Hát xong ở Phú Thọ là chúng tôi nhắm hướng Bắc mà đi. Đây rồi, hai thành phố lịch sử Yên Bái, Tuyên Quang. Chúng tôi được đi trên những con đường lịch sử nhắc nhở tới các liệt sĩ trong Việt Nam Quốc Dân Đảng của ngày trước và chúng tôi cũng nghĩ rằng mình đang đi trên những con đường tạo ra lịch sử của ngày hôm nay. Thật là hạnh phúc. Nhưng cũng đau lòng khi thấy nhà cửa đã bị phá hủy.
Tại Yên Bái, ngồi trên đống gạch vụn, tôi nhớ tới Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông. Rồi chúng tôi gặp vợ chồng Văn Cao cũng đang từ đâu đó leo lên Tuyên Quang. Lại vui như Tết. Thằng bạn này đang được Đảng chiếu cố cho nên ăn nói đã có vẻ '' chính chị '' lắm rồi. Thấy tôi vẫn tếu như xưa, nó mắng tôi là hủ hoá. Vậy mà nó vẫn còn mê gái như tôi : ca sĩ Mai Khanh ở trong đoàn văn nghệ có cô bạn gái tên là Hoàng Oanh. Con nhỏ cứ hết tống tình thằng Văn Cao lại quay ra quyến rũ tôi khiến cho cả ba thằng Cao-Duy-Khanh suýt nữa trở thành trò cười cho cô ả lẳng lơ này. May thay, đoàn văn nghệ không đậu lâu ở đây. Ít lâu sau, Văn Cao cùng với gia đình dọn lên ở Lào Kai khi Đoàn Văn Nghệ Giải Phóng tới trình diễn ở cái tỉnh biên giới này.
Không biết Văn Cao hoạt động cho Cục Tình Báo từ bao giờ nhưng vào khoảng đầu mùa hè của năm 1947 nó mở ra một phòng trà với cái tên là Quán Biên Thùy ở Lào Kai, bề mặt thì là một nơi giải trí nhưng bề sâu là một tổ chức tình báo. Lúc đó, đối diện với Lào Kai vẫn còn là vùng Trung Hoa Quốc Gia chưa bị nhuộm đỏ hoàn toàn. Văn Cao cố thuyết phục tôi ở lại hát cho phòng trà của nó khi Đoàn Văn Nghệ Giải Phóng ra đi. Với bản tính thích thay đổi, tôi lạnh lùng giã từ đoàn văn nghệ. Đã tưởng rằng sẽ chẳng bao giờ gặp lại các ''đồng chí'' trong chặng đường Sơn Tây-Lào Kai này nữa, ai ngờ hơn một năm sau tôi lại làm việc chung với họ tại Thanh Hoá thuộc Liên Khu IV.
Sau khi đã sống tại một tỉnh biên giới miền Đông là Moncay lúc mới 17 tuổi, đã từng bước qua chiếc cầu sắt để đi đánh bạc ở thị xã Đông Hưng bên Tầu, bây giờ tôi lại được sống bên một chiếc cầu biên giới khác, cũng có một sòng tài xiủ của thị trấn Cốc Lếu ở bên kia sông đang chờ đợi mình. Không hiểu vì lý do gì, thị xã Lào Kai vẫn còn nguyên vẹn. Nhà cửa theo kiểu Tầu được xây trên những con phố nhỏ, đường xá là những con dốc khuất khuỷu đắm chìm trong sương sớm. Tôi tới Chapa khi xưa là nơi nghỉ mát của thực dân ở cách Lào Kai không xa và được nghe người Mèo thổi khène nghe như tiếng chim kêu.
Quán Biên Thùy đông nhân viên lắm. Tất cả đều là dân Hà Nội. Tôi cũng không để ý nhiều tới hoạt động tình báo của quán này, chỉ ngờ rằng ở vùng Lào Kai còn khá nhiều đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Sau khi bị Việt Minh tảo thanh từ vùng trung du, Việt-Quốc tập trung ở đây để sẽ lánh qua Trung Hoa. Nhân viên tình báo của Quán Biên Thùy này đang đi lùng Việt Quốc để báo cho Công An tới bắt hay báo cho bộ đội tới tiêu diệt. Tôi biết rằng Việt Quốc trước đây sống nhờ ở tiền thuế của sòng bạc Cốc Lếu, nay sòng bạc này phải đóng thuế cho Việt Minh. Nhưng tôi không muốn biết thêm nữa vì tôi còn bận việc ca hát và... ái tình.
Quán Biên Thùy có ban nhạc, có ca sĩ và có luôn cả nữ chiêu đãi viên
nguyên là vũ nữ Hà Nội. Tôi bắt tình với một cô và soạn bài Bên Cầu
Biên Giới. Bài này là một trong những bản nhạc tình hiếm hoi của thời
đó cho nên được phổ biến một cách rộng rãi và nhanh chóng. Nó được
soạn ra khi tôi ôm một cô vũ nữ kiêm tình báo viên vào lòng nhưng thực
ra nó phản ảnh sự viễn mơ của tôi, trong khi đang đi chiến đấu, tuy đưa
mắt nhìn về một vùng đau thương chốn làng cũ quê xưa nhưng vì đang
đứng trên chiếc cầu biên giới cho nên vẫn thèm được vượt cầu ra đi để
sống bên người đẹp Tô Châu hay chết bên bờ sông Danube. Từ năm
1947 đó cho tới 1975, chẳng lúc nào tôi dám tin rằng giấc mộng này lại
có thể được thực hiện một cách dễ dàng. Nhưng sau khi bỏ nước ra đi và
định cư ở Mỹ rồi thì tôi thấy rằng thực hiện mơ ước đó là một chuyện
quá dễ. Trong cuộc sống lưu vong buồn tẻ, nhiều khi tôi tự an ủi : trong
đau khổ phải xa quê hương cũng có một chút hạnh phúc, vì mình thực
hiện được một giấc mơ nuôi nấng lúc còn trẻ măng. Cái này bù đắp cái
kia. Tôi chưa có dịp đi gặp người đẹp Tô Châu nhưng đã tới sống bên
sông Danube. Có lẽ cũng chỉ nên thực hiện một nửa giấc mơ mà thôi. (1)
Trong thời gian ở Lào Kai với Văn Cao, tôi còn được cái thú tới hút
thuốc phiện tại dinh của một lãnh chúa người Nùng là Hoàng A Tưởng,
người đang cộng tác mật thiết với anh chàng tình báo Văn Cao. Tôi
chẳng bao giờ biết nghiện một thứ gì ở trên đời nhưng tôi rất thích nằm
cạnh bàn đèn để bù khú với bạn bè. Thuốc phiện chẳng bao giờ làm tôi
say cả nhưng thứ thuốc phiện được hạ thổ lâu năm của Hoàng A Tưởng
lần nào cũng đánh gục hai ''anh hùng'' kháng chiến là Văn Cao và Phạm
Duy.
Tại nơi địa đầu của miền Bắc này, tôi gặp anh bạn của thời ấu thơ là
Đoàn Bính, lúc này mang biệt hiệu là Giang Cao và là Giám Đốc Nha
Khoáng Chất-Kỹ Nghệ của Liên Khu X. Giám Đốc Giang Cao đang đi
công tác nghiên cứu đất đai để khai thác hầm mỏ ở khu vực này. Anh ta
bèn rủ tôi cùng đi. Chúng tôi tới địa hạt của một thứ lãnh chúa người
Nùng khác tên là Vương Chí Sình. Cũng như ở trong khu vực Hoàng A
Tưởng, tại đây gia đình nào cũng hút thuốc phiện. Cha một bàn đèn, mẹ
một bàn đèn, con trai con gái trước khi ra nương làm việc thì nằm hút với
cha, với mẹ vài ba chục điếu. Lạ lùng nhất là họ hút như vậy mà người
con trai nào cũng tráng kiện, người con gái nào cũng má đỏ môi hồng.
Không có vẻ gì là thiểu não như tôi thường thấy nơi những người nghiện
ở Hà Nội. Lúc ở Lào Kai, chúng tôi còn rất trẻ, đang đi theo kháng
chiến, đang mở rộng lòng ra với cuộc đời và đang sắp sửa được nhồi sọ
về vấn đề tư sản và vô sản thì chúng tôi thấy người Nùng ở vùng này có
một phong tục về tài sản rất hay.
Đôi vợ chồng mới lấy nhau -- hoặc lấy nhau đã lâu -- và khi vợ báo
cho chồng biết là mình có thai thì chồng vác cuốc đi tìm một mảnh đất
hoang nào đó rồi khởi sự khai đất ngay. Trong suốt thời gian 9 tháng 10
ngày vợ mình mang thai, mỗi ngày anh phải tiếp tục vác cuốc ra mở rộng
thêm diện tích của mảnh đất mà anh đã chọn. Anh có thể làm việc một
mình hay có bạn bè tới phụ giúp. Hoặc anh có thể thuê thêm người giúp
anh khai hoang. Miễn sao anh có một mảnh đất đã được chuẩn bị kỹ
càng cho việc gieo giống vào ngày mà vợ anh sinh nở. Ngày con anh ra
đời, nếu là con trai thì anh trồng thuốc phiện trên mảnh đất đó. Nếu là
con gái thì anh trồng bông. Đứa bé sinh ra là có ngay một tài sản. Nó lớn
lên cùng với tài sản của nó. Trong khi người ở vùng suôi đợi cho con cái
mình lớn lên rồi mới tính tới chuyện gây dựng thì ở vùng Bắc Việt này,
trong sắc tộc Nùng, cha mẹ gây dựng cho con cái từ khi nó mới chỉ là
trứng nước bào thai.
___________________
(1) Rồi, đi Tô Châu rồi...