|
Cùng đi đem máu lên đỏ ngọn cờ Cùng đi đem sức trai đổ xuống bờ, bờ ruộng xanh... NHAC TUỔI XANH
|

Vào mùa Xuân năm 1947 này, đoàn văn nghệ của chúng tôi đang
đóng quân ở Vĩnh Yên, sau khi từ Sơn Tây qua Phúc Yên để tới đây. Đã
tới nơi sản xuất ra một loại sơn dầu đặc biệt của nước ta. Ở vùng này,
trước khi tổ chức Quân Nhu gửi được người vào vùng Pháp chiếm để
mua nylon đem ra làm áo che mưa cho bộ đội, tôi thấy người ta chế ra
những tấm vải có sơn dầu không thấm nước, dùng để bọc quần áo và
thức ăn khi gặp mưa.
Chúng tôi gặp cái lạnh đầu tiên trong kháng chiến. Lạnh này chưa
thấm thía gì so với cái lạnh Bắc Kạn hay Lạng Sơn sau này. Nhưng bây
giờ, ngoài thứ vải sơn dầu để che mưa, người đi kháng chiến có thêm cái
áo trấn thủ màu xanh cứt ngựa rất giản dị và rất ngộ nghĩnh đối với thanh
niên thị thành như chúng tôi. Trong cái Tết kháng chiến đầu tiên này, tôi
thấy không còn gì ấm lòng hơn là được đồng bào đem đến tặng cho đoàn
văn nghệ những cái bánh chưng còn nóng hổi. Tình gia đình đang thiếu
thốn, có tình đồng bào đến để thay thế. Chúng tôi ngồi ăn bánh chưng ở
trên ổ rơm để hưởng hương vị ngày Tết. Lúc đó đoàn văn nghệ đi tới đâu
cũng thường ăn ở tại những nơi công cộng như trụ sở của Uỷ Ban Hành
Chính-Kháng Chiến (gọi tắt là Hành-Kháng) đặt ở trường học hay đình
chùa. Riêng tôi vì thích sống tách rời nên tôi thường tới ăn ngủ ngay ở
trong nhà đồng bào. Đêm đêm tôi ngồi ở trong màn đốt nến lên để viết
nhạc.
Vì luôn luôn được thảo luận với nhà đạo diễn Trung Cộng đang làm
cố vấn cho Đoàn Văn Nghệ Giải Phóng nên tôi được biết những nhạc
phẩm của Nhiếp Nhĩ, tác giả của bài quốc ca Trung Cộng. Tôi có soạn
lời ca tiếng Việt cho bài quốc ca đó và soạn luôn lời Việt cho bài Đông
Phương Hồng là bài hát xưng tụng Mao Trạch Đông. Tôi còn làm lời ca
tiếng Việt cho bài Quốc Tế Ca nữa Làm lời ca tiếng Việt nhưng không
phổ biến, chỉ muốn tự mình có thể hát lên những bài mình cần biết vào
thời điểm đó. Nghe, ngẫm nghĩ và rút kinh nghiệm. Tôi còn tò mò muốn
biết thêm về một trường ca nhan đề Hoàng Hà Đại Hợp Xướng cũng
của tác giả Nhiếp Nhĩ. Tôi cũng còn muốn hiểu thêm về loại dân ca
mới của Trung Cộng được gọi là ương ca. Nhà đạo diễn Trung Cộng
giảng giải cho tôi nghe và chính nhờ ở những buổi học tập này mà tôi
quyết định tung ra loại dân ca mới của Việt Nam, khởi đầu bằng bài
Nhớ Người Thương Binh. Ngay từ lúc đó. tôi cũng nuôi ý định soạn
những trường ca giống như bài Hoàng Hà Đại Hợp Xướng.
Miền trung du vào thời điểm mùa Xuân 1947 là nơi có đông đảo đồng
bào ở các đô thị di tản lên. Những thành phố nấm (ville champignon =
được gọi như vậy là vì mọc lên một cách rất nhanh chóng, do dân tản cư
tạo ra) đã có mặt ở nhiều nơi và là những chợ trời với khá đầy đủ những
đồ tiêu dùng mà người đi kháng chiến cần đến hằng ngày như sà phòng,
thuốc đánh răng, kim chỉ, thuốc men... Nhất là có những quán cà phê với
sữa đường và thuốc lá là những thứ mà dân tiểu tư sản thành thị đang làm
việc tại các cơ quan Hành-Kháng di động lúc nào cũng thèm. Tôi hay la
cà suốt ngày ở những nơi này và chỉ trở về địa điểm trình diễn vào lúc
sắp khai diễn. Và tôi gặp một người bạn tên là Lý Ngọc, dân phố Bờ Hồ
(sát phố Hàng Dầu của thời tôi còn thơ), đang chống nạng đi trong chợ
trời...
Lý Ngọc là lính trong Trung Đoàn Thủ Đô, ở lại Hà Nội để chống
cự với lính Pháp cho tới khi bị thương và bị cưa chân. Trung Đoàn Thủ
Đô với các anh em thanh niên Tự Vệ giữ được Hà Nội từ đêm 19 tháng
12 năm 1946 cho tới ngày 17 tháng 2 năm 1947 mới chịu rút lui, đem
theo rất nhiều dân thành phố và để lại cho Quân Đội Pháp một Hà Nội
vắng tanh, đổ nát và buồn thiu.
So với thời tôi kháng chiến ở Nam Bộ, luôn luôn phải đối mặt với
súng giặc, với gian lao, với cái chết... thì mấy tháng đầu của cuộc toàn
quốc chiến này có vẻ thanh bình quá, nên thơ quá. Tôi thảnh thơi đi hát
và soạn ra những thanh niên ca vui tươi cho đám người đang rời bỏ các
thành thị ra sống ở đồng quê và đang nhìn cuộc kháng chiến đẹp như
trong tiểu thuyết. Gặp Lý Ngọc, tôi có ngay đề tài mới để đưa vào một
bài dân ca mới đầu tiên của nhạc Việt Nam hiện đại. Theo tôi, nhân vật
điển hình và nổi bật của thời đại không phải là những thanh niên rời bỏ
thành thị đi về đồng quê mà phải là anh thương binh. Có lẽ tôi là người
đầu tiên đưa nhân vật điển hình này vào âm nhạc. Mấy tháng sau, trong
Tuần Lễ Thương Binh, Trung Ương mở cuộc thi soạn bài hát cho thương
binh, tôi có gửi dự thi bài dân ca mới của tôi nhưng bài hát bị đánh rớt
bởi những ông ngồi chấm giải như Tống Ngọc Hạp hay Lưu Hữu Phước.
Tôi nghĩ có lẽ lúc đó người ta còn quan niệm dân ca phải là của vô danh.
Tác giả mà soạn dân ca là hỗn. Uả ? Thế loại ương ca (tức là dân ca
mới) của Trung Cộng là sai à ?
Tôi không có thì giờ và hơi sức để cãi nhau với họ, cứ lầm lũi soạn
thêm những bài dân ca mới khác như Mùa Đông Binh Sĩ, Ru Con,
Nhớ Người Ra Đi... với quan niệm là phải làm mới loại dân ca cổ truyền.
Phải phát triển giai điệu ngũ cung đang nằm chết trong một hệ thống.
Phải chuyển giai điệu qua nhiều hệ thống ngũ cung khác nhau. Nói cho
đúng ra, vào lúc đó, tôi soạn dân ca mới hoàn toàn với bản năng. Tôi chỉ
cảm thấy phải dùng lại những điệu dân ca cổ truyền một cách khôn
ngoan. Cũng may là trước kia tôi sống ở vùng Bắc Giang Yên Thế và
thuộc nhiều điệu hát quan họ. Chưa kể những năm đi theo gánh hát Cải
Lương tôi còn biết thêm nhiều điệu hát sân khấu và điệu hát địa phương.
Tôi chưa đem lý trí vào việc sáng tác để có thể phát triển giai điệu một
cách mạnh mẽ hơn nữa -- ví dụ trong các Trường Ca -- như sau khi đi
học về nhạc ngữ trong hai năm ở Pháp. Tôi cũng thấy rõ ràng là 90 phần
100 đồng bào của chúng ta là dân quê cho nên đưa ra hình thức dân ca
mới vì tôi cho rằng quân ca hay thanh niên ca chỉ phản ảnh tâm tình
của tuổi trẻ thuộc lớp thị dân mà thôi. Dân ca mới phản ánh được tâm
tình của dân quê. Tôi đã quyết định ngay từ lúc đó là cùng tiến lên với
nhân dân. Nhất định không đưa ra những hình thức âm nhạc xa vời đối
với nhân dân.
Tuy nhiên, trong đoàn văn nghệ Giải Phóng, với sự có mặt của những
nhạc sĩ như Văn Chung, Phạm Văn Chừng... không phải chúng tôi chỉ
chủ trương tung ra những bài hát soạn theo đường hướng dân ca của tôi.
Những nhạc phẩm khác, soạn theo lối nhạc chủ thể của Âu Mỹ, dù là cổ
điển hay tân kỳ, cũng đều được biểu diễn tối đa. Trước hết là những bài
như Đoàn Lữ Nhạc của Đỗ Nhuận mang hành điệu của loại nhạc fox
trot, rồi tới những bài soạn theo lối hát tự do (aria) như Hồn Việt Nam
và Giết Giặc của Nguyễn Xuân Khoát, hai bài này có rất nhiều tính chất
bi kịch (operatic). Rồi tới những bản hợp ca dài như một màn tiểu-ca-
kịch (micro-opera) của Tây Phương, như Bài Hát Của Người Hà Nội,
thơ của Chính Hữu do Lương Ngọc phổ nhạc và Đợi Anh Về, thơ của
Simonov do Tố Hữu dịch ra tiếng Việt và do Văn Chung phổ nhạc... Bất
cứ một loại nhạc nào cũng đều được tự do đua nở miễn là nó đề cao sức
mạnh của dân tộc trong công cuộc kháng chiến đầy thú vị này.