|
Đêm nay Thu sang cùng heo may Đêm nay sương lam mờ chân mây... Đặng Thế Phong
|
Học chưa hết một niên khoá, tôi bị đuổi ra khỏi trường Kỹ Nghệ Thực Hành vì tôi phạm kỷ luật hơi nhiều :
đánh nhau, bị cấm túc mà trốn ra khỏi trường. Tội nặng nhất là có một hôm, phạm một lỗi lầm nào đó
nhưng không chịu được cái bợp tai của Besancon, tôi chửi nhau với xếp xưởng ! Lại còn giơ búa định
đánh nó nữa. Tôi bị đuổi ra khỏi trường ngay lập tức. Sợ ông anh quá, tôi không dám về nhà, đáp xe hàng
về Trạm Chôi ở với gia đình vú...
... Sau vài ba tuần trốn mặt ông anh, tôi lò mò về nhà và bị đuổi ngay xuống garage ở. Thế là sau khi đã
bị coi như đứa bé rắn đầu ương ngạnh, với sự bị đuổi ra khỏi trường Kỹ Nghệ, tôi trở thành mục tiêu của sự
dè bỉu nơi hai người anh ruột và anh rể. Một buổi tối nào đó, trong bữa cơm, không nhớ một trong hai
người anh nói một điều gì quá đáng, tôi đập cửa ra đi. Đúng như lời mỉa mai của người anh rể, thường cho
tôi là một kẻ sansfoutiste, tôi ''đếch'' cần tới sự vồn vã thương yêu hay sự che chở nâng đỡ của người lớn
nữa rồi.
Tới ở chung với một gia đình quen rồi sau vài tuần lễ, tôi xin được việc làm ở hiệu sửa radio Nguyễn
Đình Thụ tại phố Hàng Gai. Trước đây, dù mới ngoài 16 tuổi, tôi cũng có đôi chút kiến thức về radio và đã
tự tay lắp được một máy radio nhỏ nghe bằng galène rồi, do đó tôi rất thích thú trong công việc mới mẻ
này. Các máy radio của thời điện tử sơ khai còn dùng các bóng đèn và những mạch dẫn điện theo kiểu
hétérodyne. Nếu so sánh với những chips điện tử bây giờ thì có thể nói rằng tôi đã đi vào điện tử ngay từ
thời kỳ hồng hoang của nó. Làm thợ phụ, lương lậu không nhiều nhưng tôi rất vui vì kiếm ra những đồng
lương đầu tiên trong đời mình.
Hiệu sửa radio Nguyễn Đình Thụ ở ngay đầu Hàng Gai, tôi có dịp chứng kiến lối sống của lớp trẻ Hà
Nội vào cuối thập niên 30 này. Hà Nội có nhiều nơi rất vui nhưng khu vực ngã tư của các phố Hàng Gai,
Hàng Đào, Cầu Gỗ, Bờ Hồ mới là đích thực là nơi để nam thanh nữ tú đi lượn phố. Các cô thì đi xé vải
(mua đồ) hay đi rửa mắt (window shopping). Các cậu thì phần nhiều chỉ đi nhìn gái đẹp.
Ngay từ khi còn bé, tôi đã quen thuộc với hai phố Hàng Gai và phố Hàng Đường. Tôi thường tới nhà
cậu Trưởng, em ruột của mẹ tôi ở phố Hàng Gai để nằm trong lòng cậu, tẩn mẩn nghịch những cái tượng
nhỏ -- tượng thú vật -- đặt trên khay bàn đèn thuốc phiện của cậu.
Gia Đình Bác Hai ở phố Hàng Đường thì có tới ba hay bốn cửa hàng nằm chen chúc với các cửa hàng
khác trên con đường thương mại sầm uất nhất Hà Nội. Đi từ phố Hàng Đào qua Hàng Ngang, Hàng Đường
lên tới Chợ Đồng Xuân, tôi cứ bị thu hút bởi những bảng hiệu mang hình thù con hươu, con voi, con bò,
con ngựa. Có cả hình con tê giác và con lạc đà nữa. Đa số là cửa hàng bán vải. Người Ấn Độ chiếm một số
lớn cửa hàng bán vải ngoại quốc như vải của Pháp và Anh Cát Lợi. Một trong các cửa hàng của gia đình
bác tôi cũng bán vải, ngoài những đồ nội hoá tốt như lụa Hà Đông, the La Cả, đũi Vân Xa, lãnh Bưởi, còn
bán cả gấm Thượng Hải nữa.
Tại phố Hàng Gai vào năm 1938 đó, cậu thanh niên sửa radio 17 tuổi này, trong giờ nghỉ hay trong
ngày nghỉ, rất thích đi lượn trong các phố chung quanh, phố nào cũng nối vào Ngã Tư Bờ Hồ, không phải
để bị mê hoặc bởi những con vật gần với tuổi thơ mà bởi các thiếu nữ ngồi trong các quầy hàng. Lúc đó tôi
chỉ âm thầm đi chơi một mình vì chưa có đủ tiền để sắm đồ ăn diện đúng mốt đi lượn phố.
Lượn phố Hàng Đào là để đi qua cửa hàng bán tơ lụa Đàm Nguyên Sinh, nhìn cô con gái của chủ tiệm,
có đôi mắt trầm mặc như hồ thu. Lượn phố Hàng Bông là để ngắm con gái nhà Mỹ Ký, cha mẹ bán đồ vàng
giả, nhưng trên thân hình của cô không có cái gì là giả tạo cả ! Cũng ở Hàng Bông này, chúng tôi chiêm
ngưỡng bốn mỹ nữ nổi danh của Hà Nội lúc bấy giờ là Kiều Dinh, Kiều Vinh, Kiều Hinh và Kiều Hương.
Bốn tiểu thư này là những con gái của một ông dân biểu thành phố, đồng thời cũng là trưởng ty của một
R.O. (Régie Opium), người nào cũng đẹp một cách rất lộng lẫy. Trong bốn cô, hai cô sau này trở thành
những nghệ sĩ ngâm thơ rất hay và mang những cái tên cũng rất đẹp là Giáng Kiều, Giáng Hương.
Đi lượn phố, thanh niên Hà Nội phải đội mũ lệch mới là oai. Mũ phải là mũ Fléchet, Mossant mua tại
hiệu Trần Văn Sửu. Đa số đã vận âu phục và kiểu áo vai long đình làm cho chúng tôi có vẻ vai to ngực nở
trong khi thân hình có khi chỉ là bụng ỏng đít teo mà thôi ! Đi giầy hiệu Bata ngoại quốc hay giầy nội hoá
hiệu Vạn Toàn nhưng phải là giầy đơ cu lơ (deux couleurs = hai mầu) mũi vuông, mũi mỏ vịt hay mũi
nhọn. Có anh còn văn minh đến độ mặc cả kiểu quần golf, tay cầm ba-toong đi trên hè phố nữa.
Người ta đã hết gán danh từ vui vẻ trẻ trung cho đám thanh niên này rồi. Bây giờ họ được gọi là
công tử bột, có lẽ trong họ có anh cũng đánh phấn như đàn bà. Đám này còn muốn được gọi thêm là
Công Tử Càn Long vì bị ảnh hưởng truyện Càn Long Du Giang Nam của Tầu, nghĩa là thứ công tử càn
quấy, anh hùng. Và khi các công tử Càn Long này tán gái hay viết thư tình thì đều gọi các cô là ''ái nương''. Rồi
cũng giống như cha mẹ mình, nếu có bắt nhân tình được với ai thì đố công tử nào dám nắm tay cô gái đi ngoài
phố.
Các cô gái Hà Nội lúc bấy giờ đã thích mặc áo LEMUR hở cổ. Tóc có đường ngôi rẽ nghiêng hay đã được
uốn quăn. Tuy nhiên, thiếu nữ Hà Nội ''chậm tiến'' hơn thanh niên trong phạm vi cải cách y phục. Đa số
các cô vẫn còn ăn vận theo lối xưa, nghĩa là vẫn giữ được cái đẹp nề nếp, không lố lăng như con trai. Vào
mùa lạnh, các cô mặc áo nhung trên đầu phủ cái khăn rua đen, trông mặn mà như các madonna của
tranh cổ điển Ý Đại Lợi.
Lúc này có một thiếu nữ tên là Hồ Thị Mịch mới khoảng 16 tuổi, đạp xe đạp từ Saigon ra Hà Nội. Ai
cũng phục cô con gái nhỏ tuổi mà có can đảm dùng xe đạp để vượt hai ngàn cây số trên con đường cái
quan có những cái đèo cao vút như Đèo Ngang, Đèo Cả.... Ít người biết được rằng có một hãng Việt-Hoa
làm nghề nhập cảng xe đạp ở Saigon đã thuê cô Mịch làm chuyện ''phiêu lưu'' này, coi như để quảng cáo
cho một vụ buôn bán nhiều hơn là để cổ võ tinh thần thể thao trong nữ giới. Trên con đường thuộc địa số
một, cô Mịch ngồi trên xe ô tô nhiều hơn là đạp xe đạp. Chỉ khi gần tới một tỉnh lỵ cô mới xuống xe hơi
để làm ''nữ anh hùng xe máy'', phóng xe như bay qua đám người được tập trung hai bên đường đón tiếp
cô.
Thanh niên thời nào có tiếng lóng của thời đó. Ngôn ngữ của thanh niên hồi cuối thập niên 30 cũng khá
ngộ nghĩnh.
* Chê bai thằng bạn làm những chuyện thối thì chúng tôi bảo : Mày lọ lắm ! Danh từ ''lọ'' xuất xứ từ giai
thoại này : Ông vua đùa nghịch của Việt Nam là Trạng Quỳnh phê bình ai đó bằng hai chữ ''đại phong''.
Giải thích ra thì biết : ''đại phong'' là gió lớn, ''gió lớn'' thì đổ chùa, ''đổ chùa'' thì tượng lo, ''tượng lo'' nói lái
là... ''lọ tương''. Nghĩa là thằng đó thối như cái lọ đựng tương để lâu ngày ! Danh từ ''lọ'' dần dần trở thành
''lựa'' và cũng mang ý nghĩa ''không thơm và không đẹp''.
* Chim gái thì có chữ ''điểu'' lấy ra từ chữ nho.
* Khen người đẹp trai sang trọng, có danh từ ''bô'' = beau, và ''kẻng'' = american, áp dụng cả tiếng Pháp
lẫn tiếng Mỹ.
* Đi mua ái tình thì có khẩu hiệu ''đỉnh đi em''. Giấy bạc 5 đồng Đông Dương có hình con công thì giấy
100 đồng có hình cái đỉnh. ''Đỉnh đi em'' nghĩa là : Em mà ''đi'' với anh thì anh tặng 100$ (chỉ con
nhà giầu mới trả nổi...)
* Không hiểu vì sao cái ''của qúy'' của phụ nữ lại được gọi là ''đĩa'' ?
Thời đó, tên nghệ sĩ cũng bị chọc ghẹo : Thi sĩ Xuân Diệu vốn là công chức Nhà Đoan nên được gọi là Xuân Rượu Lậu. Kịch tác gia Đoàn Phú Tứ không thành công trên sân khấu được gọi là Đoàn Foutue,
nghĩa là hỏng béng.
Nguyễn Văn Tuyên có thể không thành công trong những buổi vận động cho âm nhạc cải cách ở Bắc
Việt vì giọng nói khó nghe hay vì hai bài hát không được hấp dẫn cho lắm, nhưng hành động của ông thì,
theo tôi, không thể gọi là thừa được. Bởi vì trước khi ông công khai ra mắt công chúng tại các thành phố lớn
ở ba miền Trung Nam Bắc, chưa có một cá nhân nào, một nhóm nhạc sĩ nào gây được sự chú ý của mọi
người về sáng kiến của họ trong phạm vi âm nhạc mới, khả dĩ có thể thay thế được cái phong trào gọi là bài
ta theo điệu Tây. Bấy giờ việc làm của Nguyễn Văn Tuyên được báo chí tường thuật kỹ càng rồi được mọi
người bàn ra tán vào, người khen kẻ chê ầm ỹ cả lên. Tuần báo có thế lực nhất lúc đó là tờ NGÀY NAY thì
hết lòng ủng hộ, cho đăng tải bài hát của Nguyễn Văn Tuyên trong số 122 ra ngày 7-8-1938.
Đây là lúc tôi đã mê hát và thích nghe nhạc lắm rồi ! Anh Khiêm đem ở Tây về rất nhiều đĩa hát và tôi
thường lấy trộm để nghe.Tôi đã thuộc lòng những bản nhạc cổ điển như Sérénade
của Schubert, Élégie của
Massenet và những aria trong các opéra như Le Barbier De Séville của Mozart hay
La Norma của Bellini.
Tôi cũng hay nghịch ngợm với các điệu hát cổ điển này bằng cách thay đổi âm thể (mode) của bài hát. Ví
dụ bài Sérénade của Schubert là trong âm thể ''minơ'', tôi thử hát với âm thể ''majơ'' để thấy sự khác biệt của
tình cảm khi bị chuyển thể. Và sau khi đã hơi quen thuộc với âm nhạc, lẽ dĩ nhiên tôi hoan nghênh công
việc vận động cho âm nhạc cải cách của Nguyễn Văn Tuyên và Nguyễn Văn Cổn.
Trước khi có cái gọi là biến cố tháng ba 1938 gây ra bởi Nguyễn Văn Tuyên, tôi hay tới một tiệm bán
đàn ngay cạnh nơi tôi sửa radio ở phố Hàng Gai để ngắm nghiá các thứ đàn và để nhìn nhạc sĩ chủ nhân
đang dạy học trò đánh đàn guitare hawaienne ngay sau quầy hàng. Đó là nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Anh
nhạc sĩ trẻ trung và đẹp trai này chưa bằng lòng với bộ mặt tròn trĩnh, trắng trẻo của mình nên thỉnh thoảng
còn đánh phấn và bôi son nữa. Các cô gái Hà Nội rất mê chàng nhạc sĩ công tử bột và dòng dõi của
Dương Khuê này.
Lúc đó Dương Thiệu Tước đã nổi danh ở Hà Nội là người đánh đàn ghi ta hạ uy di rất giỏi. Cùng với
Thẩm Oánh, Vũ Khánh, anh thành lập một ban nhạc lấy tên là MYOSOTIS (Hoa Lưu Ly). Trong sinh hoạt
hằng tuần với các bạn nhạc sĩ tài tử của mình, ngoài những bài nhạc cải cách ra, Dương Thiệu Tước còn
sáng tác những bài mang những đầu đề bằng tiếng Pháp, như Joie d'Aimer (Thú Yêu Đương) Souvenance
(Hồi Niệm) Ton Doux Sourire (Nụ Cười Êm Ái Của Em). Lời ca của những bài này là do Thẩm Bích
(anh ruột của Thẩm Oánh) soạn ra, lẽ dĩ nhiên bằng tiếng Pháp.
Thấy Nguyễn Văn Tuyên tung hoành như vậy, cùng với Dương Thiệu Tước, các nhạc sĩ trẻ của Hà Nội
lúc đó là Thẩm Oánh, Văn Chung, Lê Yên... bèn tung ra những nhạc phẩm hoàn toàn Việt Nam mà họ đã
soạn trước khi Nguyễn Văn Tuyên ra Bắc nhưng họ hãy còn e dè chưa dám đem ra trước công chúng.
Chỉ trong một thời gian rất ngắn, tôi đã được hát những bài như Hồ Xuân của Thẩm Oánh, Tâm Hồn
Anh Tìm Em của Dương Thiệu Tước, Bóng Ai Qua Thềm của Văn Chung... Nhưng phải thú nhận rằng tôi
chỉ bị rung động mạnh mẽ bởi một bài hát tới ngày nay đã trở thành cổ điển của nhạc cải cách là bài
Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong, con người tài hoa mệnh yểu, quê quán ở thành phố Nam
Định bé nhỏ và lặng lẽ.
Cũng như con thuyền của Đặng Thế Phong, rồi đây tôi cũng không tìm ra một cái bến nào để cắm neo
cả. Cuối cùng có lẽ sẽ đành chết già ở một nơi thị trấn giữa đàng nào đó mà thôi !
___________________________________
(1) Vào muà Thu 1982, tôi ngồi uống cà phê với Thạc Sĩ Nguyễn Văn Cổn tai một quán nhỏ trong khu Latin Paris,
ôn lại những ngày cũ và được nghe ông đọc vài bài thơ về thời thế... Tôi ngỏ ý rất tiếc cho một nước Việt Nam
chưa bao giờ được an vi để có cơ hội cho tất cả những người trong Làng Âm Nhạc họp nhau lại, viết cho thật
kỹ càng một Bộ Nhạc Sử trong đó Nguyễn Văn Cổn phải có một chỗ ngồi xứng đáng.