(Độc giả cần tham khảo thêm với Bác Sĩ Gia Đ́nh của ḿnh)
Bài ca dao lục bát đă ví von người con gái như hoa bưởi, như nụ tầm xuân. Khi người con gái c̣n nhỏ, chưa có phát triển hoàn toàn, ví như một nụ hoa chưa nở. Nụ tầm xuân sau sẽ nở thành hoa đẹp. Về sau lớn lên, có chồng, người đàn bà mới trở thành mặn mà. Lúc đó có tiếc th́ cũng đă muộn! Bưởi cũng vậy. Hái hoa bưởi đâu có ăn được. Nhưng để hoa thành quả th́ ngon và nhiêàu khi ngọt nhất là loại bưởi Biên Ḥa ở Việt Nam. Trừ loại bưởi bán ở những chợ Việt Nam, bưởi ở xứ Hoa Kỳ ăn không được ngon ngọt như bưởi tại Việt Nam, do đó ở Hoa Kỳ bưởi thường được xay làm nước bưởi (grapefruit juice) để uống. Nước bưởi kể ra uống khá ngon, vị vừa đăng đắng, chua chua lại ng̣n ngọt. Tuy nhiên, về phương diện y dược khoa, không có thứ nước trái cây nào phải để ư hơn là nước bưởi. Trong ruột, có một phân hóa tố (enzyme) là CYP3A4 có nhiệm vụ phá hủy bớt phân tử của một số chất hóa học, trong số đó có nhiều loại thuốc. Nước bưởi có tác dụng làm giảm lượng của phân hóa tố này, do đó làm thuốc thẩm thấu từ ruột vào máu nhiều hơn. V́ thế khi uống nước bưởi khi dùng một số thuốc, gần như là người ta đă uống thuốc với liều thuốc mạnh hơn b́nh thường. Những thuốc có thể bị nước bưởi ảnh hưởng đến là thuốc an thần, thuốc ngủ loại benzodiazepines như triazolam (Halcion), diazepam (Valium), alprazolam (Xanax)... Những thuốc này dễ gây ra buồn ngủ, chóng mặt. Uống nước bưởi khi dùng những thuốc này, có thể làm người ta buồn ngủ, chóng mặt nhiều hơn nữa. Loại thuốc khác có thể bị ảnh hưởng của nước bưởi là HMG-CoA Reductase Inhibitors thường được gọi tắt là statins. Đây là những thuốc chữa bệnh cao cholesterol trong máu rất thông dụng như lovastatin (Mevacor), simvastatin (Zocor), atorvastatin (Lipitor), pravastatin (Pravachol), cerivastatin (Baycol), fluvastatin (Lescol)... Nuớc bưởi cũng có thể làm tác dụng của những thuốc này thành mạnh hơn. Một số thuốc dị ứng, khi dùng chung với nước bưởi có thể làm chết người đă có sẵn bệnh tim. Đó là terfenadine (Seldane) và astemizole (Hismanal). V́ có thể làm tim đập loạn xạ ở những người bị bệnh tim, hai thuốc này không thấy bác sĩ kê toa ở Hoa Kỳ nữa, nhưng h́nh như vẫn c̣n được dùng ở Canada và các nước khác. Cyclosporine, một thuốc thuộc nhóm immunosuppressants dành cho những người thay thận (kidney transplants), cũng bị làm tăng tác dụng nếu bệnh nhân uống nước bưởi. Khi bệnh nhân uống nuớc bưởi, c̣n những thuốc khác cũng được kể đến v́ tác dụng có thể thay đổi: amiodarone (Cordarone), cisapride (Propulsid), carvedilol (Coreg), clomipramine (Anafranil), carbamazepine (Tegretol), omeprazole (Prilosec), saquinavir (Invirase), quinidine... Vài thuốc khác cũng bị nghi ngờ nhưng chưa có những cuộc khảo cứu để kiểm chứng ảnh hưởng của nước bưởi là sildenafil (Viagra), montelukast (Singulair), cilostazol (Pletal)... V́ vậy, tất cả các bệnh nhân khi uống những loại thuốc kể trên, nên hỏi ư kiến bác sĩ gia đ́nh và dược sĩ của ḿnh. Nếu không chắc, giản dị nhất có lẽ nên tránh uống nuớc bưởi. Trở lại bài ca dao lục bát Việt Nam, bài này đă được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thật hay thành bài hát Nụ Tầm Xuân. Nguyệt san Thế Kỷ 21, số 121 tháng Năm 1999, có bài viết Nghệ Thuật Phổ Thơ Vào Nhạc của nhạc sĩ Phạm Quang Tuấn. Trong bài này, Phạm Quang Tuấn đă cho thấy kỹ thuật phổ nhạc vào thơ tài t́nh của nhạc sĩ Phạm Duy trong tác phẩm Nụ Tầm Xuân. Sau đây là nguyên văn đoạn về bài nhạc đầy mầu sắc dân ca này:
Hai câu đầu cũng lục bát, nhưng cách phổ nhạc khác hẳn Ngậm Ngùi. Thay v́ theo sát tiết tấu và âm điệu của thể thơ, Phạm Duy tận dụng những kỹ thuật của dân ca Việt Nam mà ông rất rành, biến đổi tiết tấu thành nhiều cách: *Láy và lót: chỉ hai chữ "trèo lên" mà đă thành 10 vần:
Tuy láy đi láy lại, nhưng không tẻ chút nào, v́ giai điệu cũng "trèo lên" theo lời, trong 10 vần đó đă lên gần hai octaves. *Melisma: một chữ mà kéo dài, uốn éo qua nhiều cung:
Câu bát cũng dùng những kỹ thuật đó:
Sang những đoạn sau, tiết tấu chậm dần và trở thành ngân nga:
Những cách lót, láy và melisma này Phạm Duy c̣n dùng trong nhiều bài dân ca khác như Đố Ai:
Đó là về tiết tấu. Về âm giai, bài này dùng ngũ cung để hợp với dân ca, nhưng có chút nào âm điệu Tây Phương v́ xử dụng nhiều những cung của hợp âm trưởng (Do major). Cách đi lên trong câu lục Trèo lên, lên trèo lên rất giản dị, mạnh mẽ và dễ nghe: dùng quăng 5 (fifth interval) của Do (Do - Sol) rồi quăng 5 của Fa (Fa - Do), rồi quăng 5 của Sol (Sol - Re), rồi quăng 5 của Do. Những người biết nhạc lư sẽ thấy ngay rằng quăng 5 là "hợp âm" căn bản nhất trong mọi loại nhạc, (nó là harmonic đầu tiên sau octave) và Fa - Do - Sol - Re là tứ cung căn bản của dân nhạc, lập bằng một chuỗi quăng năm. Nó làm cho âm điệu câu này đượm một vẻ rất mạnh và sáng sủa, trước khi "resolve" bằng một câu có giai điệu êm ái (dùng quăng hai và ba): Lên cây bưởi - ơ - ớ - ơ - hoa... Sự tương phản từ mạnh mẽ sang êm ái này được các ca sĩ giỏi khai thác rất công hiệu, đang crescendo bỗng chuyển thành piano - grazioso. Sau khi cho ta "leo cây" ở câu lục, câu bát kéo ta đi xuống, nhưng thay v́ về Do thấp (tonic), bỗng chuyển sang La (relative minor).
Lối chuyển hệ (metabole) này cũng là một kỹ thuật dùng trong những bài dân ca để gây những sự bất ngờ, kịch tính (dramatic). Nói tóm lại, Phạm Duy đă tận dụng những kỹ thuật của dân ca như láy, lót, melisma và metabole đẩ xây một bản "dân ca mới" rất là điêu luyện. Đó là những ǵ nhạc sĩ Phạm Quang Tuấn đă phân tích thật sâu sắc trong chỉ một bài nhạc Nụ Tầm Xuân của Phạm Duy. Trong bài viết Nghệ Thuật Phổ Thơ Vào Nhạc ở nguyệt san Thế Kỷ 21, Phạm Quang Tuấn c̣n kỹ lưỡng viết về 6 bài thơ phổ nhạc khác của Phạm Duy như Kỷ Vật Cho Em (thơ Linh Phương), Thuyền Viễn Xứ (thơ Huyền Chi), Ngậm Ngùi (thơ Huy Cận), Tiếng Sáo Thiên Thai (thơ Thế Lữ), Pháp Thân tức Đạo Ca 1 (thơ Phạm Thiên Thư) và Thu Ca Điệu Ru Đơn (Chanson d’Automme, thơ Paul Verlaine cũng do Phạm Duy dịch). Chính ra tựa của bài viết Phạm Quang Tuấn nên đặt là Nghệ Thuật Phổ Nhạc Vào Thơ Của Phạm Duy hay gọn hơn Nghệ Thuật Thơ Phổ Nhạc Phạm Duy th́ đúng hơn. Thứ nhất, nhạc sĩ Phạm Quang Tuấn cũng như một người khác hay dùng sai chữ phổ thơ vào nhạc, nhưng đúng phải là phổ nhạc vào thơ. Từ ngữ phổ nhạc bắt nguồn ở tiếng động từ Pháp Văn mettre en musique. Thơ có trước, nhạc được viết vào sau. Chữ thường dùng hơn thơ phổ nhạc có nghĩa là thơ được phổ nhạc chứ không phải thơ phổ vào nhạc. Thứ hai, bài chỉ bàn đến những bài nhạc của Phạm Duy mà thôi. C̣n biết bao nhiêu tác giả khác đă có những bài thơ phổ nhạc nổi tiếng với những kỹ thuật khác, ngày xưa như Phạm Đ́nh Chương, Cung Tiến, Văn Phụng, Đan Thọ, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên... và gần đây hơn như Vơ Tá Hân, Nguyễn Tuấn, Nguyên Bích, Đăng Khánh, Trần Quan Long, Mai Anh Việt, Hoàng Quốc Bảo... Riêng bài Nụ Tầm Xuân, dĩ nhiên không phải là từ một bài thơ theo nghĩa thường, mà nguồn gốc do 4 câu ca dao, nhưng tạm gọi là thơ phổ nhạc cũng có thể chấp nhận được. Dĩ nhiên không phải bài thơ phổ nhạc nào của nhạc sĩ Phạm Duy cũng hay cả, nhưng phải nói Phạm Duy c̣n rất nhiều bài nhạc phổ vào thơ hay khác nữa như Vần Thơ Sầu Rụng (thơ Lưu Trọng Lư), Hoa Rụng Ven Sông (thơ Lưu Trọng Lư), Tâm Sự Gửi Về Đâu (thơ Lê Minh Ngọc), Mầu Thời Gian (thơ Đoàn Phú Tứ), C̣n Chút Ǵ Để Nhớ (thơ Vũ Hữu Định), Lá Diêu Bông (thơ Hoàng Cầm), T́nh Cầm (Nếu Anh C̣n Trẻ/thơ Hoàng Cầm), Mộ Khúc (thơ Xuân Diệu), Kiếp Nào Có Yêu Nhau (thơ Minh Đức Hoài Trinh), Tưởng Như C̣n Người Yêu (thơ Lê Thị Ư), Tiễn Em (thơ Cung Trầm Tưởng), Mùa Thu Paris (thơ Cung Trầm Tưởng), Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà (Mầu Tím Hoa Sim/thơ Hữu Loan), Khi Tôi Về (thơ Kim Tuấn), Tôi Ước Mơ tức Tâm Ca 1 (thơ Nhất Hạnh), Đưa Em T́m Động Hoa Vàng (thơ Phạm Thiện Thư)... và bài viết của nhạc sĩ Phạm Quang Tuấn chỉ bàn đến có bẩy bài hay của Phạm Duy mà thôi. Bẩy bài thơ được phổ nhạc tiêu biểu của nhạc sĩ Phạm Duy kể trên được nhạc sĩ Phạm Quang Tuấn bàn đến có những kỹ thuật, có những mầu sắc khác nhau. Một câu khá đúng, tuy không hoàn toàn đúng hẳn, trong bài viết Nghệ Thuật Phổ Thơ Vào Nhạc của Phạm Quang Tuấn về thơ phổ nhạc Phạm Duy: "Không phải là bài nào của Phạm Duy phổ cũng hay, cũng không phải bài nào nổi tiếng của ông cũng hay, nhưng ông biết cách dùng đủ mọi kỹ thuật một cách rất lăo luyện và những bài hay nhất của ông th́ chưa ai hơn được". Điểm nhận xét này về thơ phổ nhạc Phạm Duy khi diễn giải rộng ra về các loại nhạc khác nhau của nhạc sĩ Phạm Duy chắc cũng đúng. Không hoàn toàn đúng hẳn là v́ ư kiến về âm nhạc nói riêng, về nghệ thuật nói chung, rất tương đối. Quan niệm hay hoặc dở thay đổi tùy theo người, theo thời gian và cả không gian. Thật khó mà có một mẫu mực nào có thể so sánh sự hơn kém giữa những tác phẩm hay giữa những tác giả. Bài viết của nhạc sĩ Phạm Quang Tuấn là một trong những bài viết về kỹ thuật sáng tác âm nhạc Việt Nam rất có giá trị. BS Phạm Anh Dũng, ABFP
|
|
|