Từ năm 1944, Hùng Lân là giáo sư âm nhạc cho các trường trung học Chu Văn An và Nguyễn Trăi ở Hà Nội. Sau Hiệp Định Genève 1954 chia đôi đất nước Việt Nam, nhạc sĩ Hùng Lân di cư vào Nam làm giáo sư âm nhạc của trường Ca Vũ Nhạc Phổ Thông Sài G̣n và cũng là Trưởng Ban Phát Thanh Nha Tổng Giám Đốc Thanh Niên Và Thể Thao Sài G̣n. Từ năm 1957, ông là giáo sư nổi tiếng của trường Quốc Gia Âm Nhạc Kịch Nghệ Sài G̣n. Cùng một lúc ông vẫn bỏ th́ giờ ghi tên học và tốt nghiệp bằng Cử Nhân Văn Chương Pháp tại Đại Học Văn Khoa Sài G̣n năm 1963. Đến năm 1965, ông được bổ nhiệm chức vụ Chủ Sự Pḥng Phát Thanh Học Đường, Trung Tâm Học Liệu, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Sài G̣n. Sau khi tu nghiệp tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và truyền thông, từ năm 1971 đến năm 1975 ông Hùng Lân trở lại việc dạy nhạc tại Âm Nhạc Viện Đà Lạt. Sau 1975 và măi đến khi gần qua đời năm 1986, giáo sư Hùng Lân tiếp tục việc dạy nhạc và nghiên cứu âm nhạc tại tư gia. Là một nghệ sĩ nhưng cũng là một nhà mô phạm, được mọi người kính mến, giáo sư nhạc sĩ Hùng Lân có tiếng dạy học tận tâm, đứng đắn nhưng thật ra tính t́nh ông ḥa nhă, vui vẻ. Sự nghiệp về âm nhạc ngoài chuyện dạy nhạc kể trên c̣n những lănh vực khác như tŕnh diễn, nghiên cứu, viết sách nhạc và sáng tác nhạc. Hấp thụ kiến thức thần học sở đắc tại Đại Chủng Viện Xuân Bích tại Hà Nội, nhạc sĩ Hùng Lân là người khởi xướng và phát huy phong trào dùng tiếng Việt trong thánh ca. Năm 1945, Hùng Lân người sáng lập Ca Đoàn Lê Bảo Tịnh tại Hà Nam. Tính đến năm 1974, Ca Đoàn Lê Bảo Tịnh đă xuất bản được 16 tuyển tập Thánh Ca của nhiều tác giả. Ngoài ba tập nhạc Thánh Ca có tên Ca Vang Lời Chúa, những sách khác do giáo sư Hùng Lân viết có thể được chia làm hai loại chính, sách nghiên cứu âm nhạc và sách giáo khoa âm nhạc. Công tŕnh nghiên cứu âm nhạc của nhạc sĩ Hùng Lân đă được ông ghi lại ở những sách ông viết: 1970: T́m Hiểu Dân Nhạc Việt Nam
Sách giáo khoa âm nhạc của giáo sư Hùng Lân đă xuất bản: 1952: Giáo Khoa Âm Nhạc (giải thưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục)
Thêm nữa ông có soạn 100 bài viết cho phong cầm độc tấu hay đệm nhạc. Riêng về phương diện sáng tác âm nhạc, theo tài liệu của gia đ́nh và các bạn hữu, Hùng Lân có khoảng 900 tác phẩm và rất nhiều bản bị thất truyền. Về Thánh Ca, ngoài tác phẩm Ca Vang Lời Chúa 1, 2 và 3, nhạc sĩ Hùng Lân c̣n 80 bài Thánh Vịnh Ứng Tác. Ông viết khá nhiều nhạc cho nhi đồng, nổi tiếng là những bài Em Yêu Ai, Thằng Tí Sún, Con C̣, Ông Trăng Thu... Tập nhạc Vui Ca Lên là nhạc Hùng Lân biên soạn cho thiếu nhi. Nhạc sĩ Hùng Lân cũng đă phụ trách chương tŕnh Phát Thanh Học Đường cho trẻ em, thiếu niên ở đài phát thanh Sài G̣n ngày xưa. Nhiều sáng tác Tân Nhạc của Hùng Lân đă sống măi trong ḷng người Việt. Vài bản được ghi lại sau đây, một số bài ghi lại theo kư ức. Nhạc phẩm Rạng Đông được giải thưởng Sáng Tác của Hội Khuyến Nhạc Hà Nội năm 1943 đă cho thấy ngay từ lúc đầu, khuynh hướng viết nhạc của Hùng Lân là những sáng tác của tuổi trẻ, của sức mạnh:
Một bài hát khác cũng được rất nhiều người biết đến và hát là Khỏe V́ Nước:
Những trường học nữ sinh thường hát bản Cô Gái Việt, đây cũng là bài nhạc hầu như bao giờ cũng được hát lên trong những ngày hội lễ của phụ nữ, như ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng:
Hùng Lân viết rất ít nhạc t́nh cảm ủy mỵ, có vài bài c̣n lưu truyền đến nay như bài hát Hận Trương Chi:
Một bài nhạc có lẽ không có ai mà không biết đến là Hè Về, một tuyệt tác trong âm nhạc Việt Nam:
Một bài nhạc khác, Việt Nam Minh Châu Trời Đông, được giải nhất kỳ thi Âm Nhạc Toàn Quốc năm 1944, đă làm dậy ḷng ái quốc của giống dân Lạc Hồng:
Giáo sư nhạc sĩ Hùng Lân là một nhân tài hiếm có và quư báu của nước Việt Nam. Phạm Anh Dũng
|
|
|