Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Tập Truyện Dài: Một Thuở Làm Trùm
Nguyễn Tấn Hưng
Văn Nghệ xuất bản 1989
Mục Lục
01. Một Thuở Làm Trùm
02. Một Lần Ði Một Lần Ở
03. Ðường Vào Bến Mê
04. Tâm Sự Kẻ Sang Miên
05. Ðông Phương Ngư Nghiệp Công Ty
06. Những Kẻ Cướp Của Giết Người
07. Trong Cảnh Sống Còn
08. Ngày Qua Trên Xứ Lạ
09. Bạt của Hồ Trường An
10. Ðiểm Sách của Trần Quán Niệm
11. Ra mắt sách, tác phẩm - Võ Ðình
12. Ra mắt sách, tác giả - Nguyễn Thị Thanh Bình
back to top
01. MỘT THUỞ LÀM "TRÙM"
NGUYỄN TẤN HƯNG
Rốt cuộc rồi cũng có ngày tôi lên đường đi Phú Quốc
đảm nhận chức vụ mới: trưởng phòng Nhì bộ tư lệnh Vùng
4 Duyên hải.
Mới nghe qua chẳng thấy gì quan trọng. Cái quan trọng theo
nghĩa thông thường của những người sống trong nghề. Cũng
chỉ là một chức vụ tình báo tham mưu căn bản thôi. Chẳng
hề có quỹ mật phí, chẳng hề nắm trong tay một tên mật
báo viên hay một
double agent
nào thì làm gì có chuyện
động trời? Làm gì có chuyện đồng vô đồng ra? Vậy mà
hình như ai cũng lăm le dòm ngó nó, làm như nó quả là chức
vụ chỉ dành riêng cho các sĩ quan thân tín, có máu mặt. Cái
hấp dẫn của nó phải chăng là vì đường xá xa xôi cho nên
một mình một cõi, rồi phép vua thua lệ làng mặc sức tung
hoành? Chắc là vậy! Có điều tôi hay thắc mắc là tại
sao mình được cái diễm phúc này?
Sở dĩ tôi chọn đi Phú Quốc là tại vì vợ tôi không thích
trở ra miền Trung. Ðối với vợ tôi, lý do thật hết sức
là đơn giản: ở miền Nam bề gì cũng dễ sống. Còn đối
với tôi, lý do cũng hết sức đơn giản: vì đàn bà. Mặc
dù trong lúc đó xếp lớn đã sẵn sàng một màn lưới mật
báo viên ở Vùng 2 đang cần tôi ra đó điều động. Nắm
lưới, lẽ tất nhiên nắm luôn cái quỹ mật phí của lưới.
Nói cách khác, tức là nắm luôn số lương căn bản phụ trội
hàng tháng không đến nỗi tệ của mình. Ðồng nghiệp thâm
tình người nào cũng chê tôi là dại. Ăn ít no dai, chắc
như bắp vậy mà còn giả bộ thẩn thờ, nhện chờ mối ai.
- Anh đi coi một cái đảo như đi hưởng nhàn, hở?
Lời đại tá Nguyễn Ðỗ Hải, trưởng phòng Nhì của bộ tư
lệnh Hải quân, nhắn nhủ với tôi trước khi tôi đi, xét ra
cũng không đúng cho lắm. Vì chỗ này không phải là chỗ
hưởng nhàn mà là chỗ ăn chịu, lúc nào cũng bận rộn đấu
trí. Ổng nói như vậy tức là ổng chưa am hiểu tình hình
Phú Quốc như thế nào. Cũng chẳng trách ổng được, không
tài gì ổng hiểu hết nổi. Vả lại nếu ổng biết rành rẽ
ngọn ngành chưa chắc ổng đã đồng ý cho tôi đi. Âu cũng
là số trời đã định.
Tôi được biết sơ sơ là tình hình Phú Quốc vừa trải qua
một cơn bão lớn. Ðại tá Phạm Gia Luật, tức "cao bồi"
Luật, tư lệnh Vùng 4 Duyên hải, vừa bị nghị sĩ Ðoàn Văn
Lượng thuộc tỉnh Rạch Giá tố cho một phát văng ngay về Sài
Gòn, đang chờ ngày ra tòa án quân sự. Chạy cái giấy giải
ngũ có lẽ là giải pháp hợp lý, yên ổn nhất. Ðồ đệ
của đại tá Luật là đại úy Trần Văn Xe, trưởng phòng Nhì
Vùng 4 Duyên hải, cũng đang đồng bệnh chìm xuồng, chuẩn
bị bán xe hơi bán nhà lầu để lo khỏi đi tù.
Thiệt tình lúc đó tôi chẳng biết "hoạt động chính hiệu
con nai vàng" của "triều đại" này là làm cái gì? Mà thấy ra
cũng chẳng cần biết chính xác làm chi, vì mỗi triều đại
mỗi khác. Nhưng tôi biết chắc một điều là nếu đúng
như lời đồn đãi thì đất Phú Quốc quả nhiên vẫn còn linh
thiêng. Hình như ai tới đây lập nghiệp cũng tạo dựng
được cơ đồ, dễ dàng như thể được phép tiên khuấy
nước lã nên hồ, khuấy nước biển thành nước mắm.
Ðúng như cái tên của nó, Phú Quốc: xứ giàu, xứ làm
giàu. Ngặt một nỗi đến lúc rời đảo thì hình như chạy
trời không khỏi nắng, tay trắng không khỏi hoàn trắng tay.
Của thiên trả địa, của sông đổ biển.
Một "triều đại mới" được lập lên bởi lý do hết sức
chính đáng: trên một đảo không thể có một ngày không có
"chúa đảo." Mà cũng kỳ, tại sao chẳng ai chịu gọi là chúa
đảo cho gọn, để phải dài dòng lê thê: Tư lệnh Vùng 4
Duyên hải kiêm đặc khu trưởng Ðặc khu Phú Quốc. Xưa nay
chỉ nghe quân khu, tiểu khu, chi khu chớ chưa nghe ai nói đặc
khu bao giờ. Ðặc khu phải lớn hơn chi khu là cái chắc vì
chi khu trưởng tức quận trưởng quận Dương Ðông, trung tá
Thảo, vẫn phải phúc trình rụp rụp cho chúa đảo đặc khu
trưởng. Là một đơn vị coi về lãnh thổ, hành chánh mà
bị đặc trực thuộc dưới một đơn vị tác chiến của Hải
quân thì cũng là chuyện khác thường, ngộ nghĩnh.
Ðầu tàu là đại tá Khương Hữu Bá ra thay cao bồi Luật làm
chúa đảo và tôi thay đại úy Xe giữ vai trò quân sư quạt mo.
Nhiệm vụ trước mắt là nhằm chấn chỉnh lại đường lối
hoạt động hầu có thể tạo dựng một cơ nghiệp mới. Một
khúc quanh lịch sử, nếu được...
Chiếc cessna lượn một vòng trên phi trường An Thới trước
khi đáp. Tôi có cảm giác như mình đang trên đường đi ải
địa đầu. Không địa đầu sao được một khi tôi đã ra
khỏi biên cương và đang ở trên xứ người, đất Miên,
nếu kéo kinh Vĩnh Tế dài ra ngoài khơi làm ranh giới! Từ
trên cao nhìn xuống Phú Quốc quả là một đảo quá lớn.
Lớn hơn cù lao Ré, lớn hơn cù lao Thu và lớn hơn cả Côn
Sơn. Mấy chục lần. Nếu không có bề ngang thì tôi cũng
tưởng là mình đang bay trên đất liền. Ðang ở miền Trung
nữa là khác, vì núi Khu Tượng thấy xa xa, mờ mờ trên
vùng Bắc Ðảo cũng giống như một đỉnh nào trên dãy Trường
Sơn.
Phi cơ lướt trên phi đạo lót bằng vĩ sắt gập ghềnh,
nhấp nhô như ghe tàu chạy trên sông. Bồng bềnh trong giây
phút, rồi quay đầu đi thẳng về bến đậu. Ra phi trường
đón tôi là một anh chàng trung úy. Người hắn to lớn,
bắp tay cuồn cuộn rắn chắc như một lực sĩ Mỹ. Từ ngạc
nhiên đâm ra ngượng ngùn vì tôi biết mình nhỏ con. Trong
đầu tôi độc thoại nhiều câu vớ vẩn. Tôi cần người
phụ tá đắc lực chớ không cần cận vệ đỡ đạn. (Nghe
đâu cao bồi Luật lúc trước đã sử dụng xe jeep có bọc
sắt, chất bao cát xung quanh để đi "dạo phố" ở ngoài
này). Tôi cần người biết dùng mưu lược chớ không cần
người chỉ biết dùng sức mạnh. Tôi cần Khổng Minh chớ
không cần Trương Phi. Tình báo mà... Hắn chào tôi, tôi
chào đáp lễ và hắn tự giới thiệu:
- Tôi, trung úy Sơn. Ðại úy ra đây có một mình hả?
Ngừng lại một giây trên bảng tên cài trên ngực áo, tôi
thân mật chìa tay cho hắn bắt:
- Ừa... Anh ở ngoài này lâu chưa?
- Ðã gần hai năm, đại úy.
- Vậy thì cũng sắp hết hạn kỳ.
Viên trung úy phi công nhập bầy với mấy người sĩ quan bộ
binh ra đón ông thiếu tá cùng đi với tôi trong chuyến bay,
có lẽ là tiểu đoàn trưởng của một tiểu đoàn địa phương
quân. Nhẹ nhàng như một đứa bé cầm lên đòn bánh tét,
Sơn tóm cái sac-marin của tôi thảy lên băng sau chiếc jeep.
Tôi lên xe cho Sơn lái ra khỏi phi trường. Chỉ một hàng rào
kẽm gai mỏng manh, thô sơ làm vòng đai. Tiếp theo là con
đường đất màu gạch cua ngoằn nghoèo, gồ ghề, lởm
chởm. Một đám bụi hồng để lại sau lưng, mù mịt như con
trốt biết đi. Gió ngoài khơi thổi mạnh vào người hạ bớt
nhiệt độ ban trưa. Ðâu đây hình như có nghe tiếng sóng
vỗ rì rầm. Tôi mở lời hỏi thăm:
- Sao? Ở ngoài này có dễ thở không Sơn?
Như được dịp, Sơn không ngần ngại bày tỏ nỗi lòng:
- Dạ sống được lắm, đại úy. Chỉ tội cái xa nhà, mỗi
lần về đất liền thiệt khó. Ðại úy may mắn là có máy
bay đưa ra đây, chớ tụi tôi thường phải nằm tàu đò cả
đêm mới qua được Rạch Giá. Rồi từ Rạch Giá về Sài Gòn
mất thêm một ngày nữa. Ðó là còn hên, không bị kẹt xe
giữa đường.
- Như vậy khoảng bao lâu anh về phép một lần?
- Bốn năm tháng, có khi nửa năm.
Tôi nói như tâm sự với chính mình:
- Lâu vậy à... Tôi phải thăm dò tình hình coi có thuận
buồm xuôi gió hay không rồi mới dám dẫn vợ con theo. Có
gia đình mỗi lần di tản là một lần khổ.
Chợt thấy mình như đã có một quyết định sai lầm, tự
nhiên nằng nằng đòi đi ra cái đảo này cho được. Với
đám độc thân bốn năm tháng mới về đất liền một lần
thì cũng không đến nỗi, đằng này tôi còn một vợ bốn
con đang ăn nhờ ở đậu nhà ông bà nhạc thì ai nuôi? Mà
chẳng lẽ mua mandat hàng tháng gửi lương về? Ngoài này
làm gì có nhà bưu điện? Bưu tín viên của KBC chắc cũng đi
Rạch Giá bằng tàu đò mà thôi. Tôi moi túi lôi gói Bastos
xanh, gõ gõ trên ngón cái, lòi ra một điếu cắn lên môi.
Bật lửa, rít một hơi dài. Mùi thuốc khét lẹt, khô khan
trong buồng phổi. Tôi không ghiền hương vị đắng nồng của
Bastos xanh, nhưng tôi hút nó chỉ vì không có tiền mua Capstan,
Ruby. Ngay cả Ruby xanh quân tiếp vụ có hình người lính bồng
súng xông pha trên nền cờ vàng ba sọc đỏ. Rõ tội cho đời
lính nghèo.
Xe đến một ngã ba. Một đường vòng lên hướng bắc,
một đường đi thẳng vào doanh trại: Thủy xưởng An Thới.
Có chòi canh có lính gác. Một lớp bao cát mới đấp xung
quanh tăng cường thêm mức độ phòng thủ. Màu xanh ve chai
chưa đổi màu, còn đậm. Nét chữ trắng vẽ trên tấm bảng
xám hình vòng cung nối liền hai trụ cổng thấy rõ từ đàng
xa.
- Lối đó đi ra nhà dân, đại úy. Ở đây độc đạo chỉ
có một con đường không tên này. Bắt đầu từ đây chạy
lên quán ông cảnh sát Thơm, chạy vòng ra chợ, chạy xuống
bến đò, chạy ra mấy nhà thùng làm nước mắm, mấy hãng
xẻ khô. Ðại úy muốn đi một vòng cho biết hôn?
Ðang thấm mệt, tôi đáp ngay:
- Thôi để bữa khác đi. Cần nhất là lo chỗ ăn chỗ ngủ
cái đã.
Sơn chạy thẳng. Anh thủy thủ mở cổng cho xe vào và đưa tay
chào. Tôi chào trả. Thêm một đỗi nữa mới đến đoạn
đường tráng nhựa. Quẹo xuống mé biển, băng ngang tổng
hành dinh bộ tư lệnh thì đến cư xá sĩ quan độc thân.
Một dãy nhà trệt nhiều căn cất sát bờ cát trắng. Nền
xe măng, tường gạch block sơn màu xanh đọt chuối. Mặt
tiền trông ra biển. Một cầu tàu bắc dài tuốt ra khơi.
Sóng vỗ ầm ầm liên hồi, nghe dội bên tai. Tôi theo Sơn
vào một căn giữa. Ba bốn giường nệm cá nhân trải song
song. Khoảng trống còn lại phía sau dành riêng cho dàn tập
tạ. Hèn chi đám sĩ quan độc thân ngoài này đứa nào trông
cũng vai u thịt bắp. Chắc chẳng còn chuyện gì quan trọng
để làm?
- Ðại úy nghỉ tạm ở đây đi...
Cuộc tiếp đón một tân trưởng phòng Nhì Vùng 4 Duyên hải
chỉ có vậy. Không kèn trống và cũng không có lễ bàn giao.
Sơn trở lại làm việc, bỏ mặc tôi với căn phòng xa lạ.
Trống trơn. Không màn che không vách ngăn, không ghế ngồi
không bàn viết. Hình như chỗ này chỉ là chỗ chỉ để ngủ
thôi. Tôi tự hỏi: sống tập thể mà không bếp núc nấu
nướng, không chè chén nhậu nhẹt, không đàn ca xướng hát
thì còn gì là hứng thú? Nản thiệt! Tôi lôi mấy thứ
lặt vặt trong sac-marin để lên chiếc giường vô chủ vì chưa
có trụ giăng mùng. Có lẽ dành cho tôi. Bao nhiêu dự đoán
của tôi về Phú Quốc đều sai bét hết. Nhớ ngày nào còn
ở bộ tư lệnh Hành quân Sông, sĩ quan độc thân mỗi
người ở riêng một phòng. Có tủ lạnh, máy điều hòa
không khí đàng hoàng. Ðâu làm sao mà chui rút, chung đụng
như vầy cho được. Tôi lại ở chung phòng với người sĩ
quan phụ tá cho tôi? Nghĩ mà tức cười!
Ðiều làm tôi càng ngạc nhiên hơn nữa là khi tôi lấy khăn ra
nhà sau đi tắm. Tưởng là tắm búp sen, nước nóng nước
lạnh như những đơn vị căn cứ hải quân khác, ai dè tôi phải
dội từng nón sắt một múc từ hồ nước xây bằng xi măng
vuông vức cạnh vách tường. Thiệt là tệ hại. Thiệt là
hết chỗ nói. Cũng may là nước còn trong hồ. Rồi ai xách
nước cho mình, ai cung cấp nước cho mình? Nghĩ tới đó
càng thêm chán nản. Tôi mặc vội bộ đồ pyjama trở vô leo
lên giường làm một giấc. Không buồn thắc mắc thêm
điều gì nữa.
Chiều về, Sơn rủ tôi ra phố ăn cơm. Ði nhậu thì đúng
hơn. Hai thầy trò lội bộ ra quán Bò Vàng vì phòng Nhì
không có xe. Lại thất bại. Không có xe không phải là trong
bảng cấp số không có, mà chỉ vì bảng cấp số ở đây
không có nghĩa lý gì với ai cả. Mượn được chiếc jeep
đi đón tôi tận ngoài phi trường, phải nói là nhờ tài
ngoại giao khéo léo của Sơn. Phải nói là tình sâu, nghĩa
nặng.
Sau mấy món biển lai rai, bây giờ đến món chính của thực
đơn ngày hôm nay: thịt bò xào cần tàu. Thơm phức. Ngọt
lịm. Tôi tưởng tượng đến đất Phú Quốc. Ngoài kia
chắc đâu đâu cũng là đồng cỏ xanh màu. Gia súc, đàn
từng đàn, hồn nhiên lững thững ăn rong. Thanh bình.
Giặc giã có muốn chắp cánh bay ra đây cũng bay không nổi.
Ngàn dặm xa xôi... Nhưng trí tưởng tượng của tôi một
lần nữa đã đi quá xa thực tế. Sơn cho tôi biết tất cả
đồ ăn thức uống tôi đang dùng ở đây hầu hết mang ra từ
đất liền. Trớ trêu thay!
Tàn tiệc, tôi làm gan:
- Ðể tôi trả cho.
Sơn gạt ngang:
- Ðại úy phải để tôi. Ba cái lẻ tẻ này là trách nhiệm
của đàn em, từ rày đại úy khỏi lo mấy chuyện này nữa.
Thằng này nói giỡn hay nói thiệt đây? Nể tình đàn anh
cũng vừa vừa thôi, đâu ai nỡ "nặng lời" như vậy. Ðể
Sơn trả lần đầu thì cũng được, nhưng tôi vẫn thấy ái
nái vì tôi có kêu gái Capstan, mà Sơn thì không hút thuốc.
Dân tập tạ mà. Thây kệ, bữa này anh thì bữa khác tôi.
Bánh ích đi ngày này thì bánh qui sẽ lại ngày kia.
Sáng ngày sau tôi áo mão chỉnh tề trình diện chúa đảo. Tôi
chỉ nghe tiếng đại tá Bá chớ chưa giáp mặt ông lần nào.
Mà điều tôi ngạc nhiên không phải là đại tá Bá mà là ngài
chánh văn phòng của ông: đại úy Nguyễn Ngọc. Chửi cho ngài
một trận:
- Ðù me, cùng khóa với nhau mà mày bủn xỉn quá không biết
tiếp đón, niềm nở bạn bè gì hết vậy! Xã giao hải quân
mày học những hai năm trong trường rồi mày vứt nó đi đâu?
Ngọc cười xòa:
- Tao đâu có xe đâu mà đi đón mày. Mấy thằng đệ tử
của mày lo cho mày không nổi sao. Ðù me, phòng Nhì của mày
ở đây là số một mà. Ê, tao thấy cư xá sĩ quan còn một
hai căn trống, mày nên liên lạc bên căn cứ làm thủ tục xin
liền đi. Ðể rủi có thằng nào xin trước thì mày phải
mướn nhà ngoài phố, phiền phức lắm.
- Chớ nhà của đại úy Xe cựu trưởng phòng Nhì đâu.
- Nó bị tống cổ về Sài Gòn gần nửa năm rồi, ai ở không
mà lo nhà sẵn cho mày.
Tôi đùa:
- Tụi nó phải nể tao là trưởng phòng Nhì chớ mậy.
Ngọc cười ha hả:
- Ừa, để rồi tụi nó sẽ nể mày. Tụi nó sẽ cấp cho mày
một căn nhà ở trên núi để mày dễ bề kết bè kết bạn
với tụi Việt Cộng.
- Ngoài tao với mày, khóa mình còn thằng nào nữa không?
- Không. Nhưng mấy thằng bị đưa đi làm chỉ huy trưởng
đài kiểm báo cũng sắp sửa ra. Thằng Trần Văn Toàn sẽ là
"chúa hòn," hòn Nam Du. Thằng Tôn Thất Minh cũng sẽ là "chúa
hòn," hòn Chuối hòn Dừa... À, hòn Ðốc, trong quần
đảo Hải Tặc.
Bệ kiến chúa đảo xong, tôi trở về phòng làm việc của
mình. Phòng Nhì, một căn nhà tiền chế lợp tôn loại cong
vòng theo hình bán nguyệt nằm phía sau trung tâm hành quân của
bộ tư lệnh. Cửa sổ nằm dọc hai bên hiên. Khoảng khoác,
mát mẻ. Bên cạnh còn cất thêm một nhà tù nhỏ bằng gỗ và
một chuồng cọp toàn bằng kẽm gai.
Tôi điểm danh thuộc hạ. Trước hết là trung úy Sơn. Kể
như tôi đã có qua có lại với vị sĩ quan phụ tá của mình.
Kế đến là thượng sĩ nhứt Thái. E dè, rụt rè như con
gái. Rồi thượng sĩ Nghĩa, em ruột của ông bố khóa đàn
anh của tôi. Coi bộ thâm trầm, lém lỉnh. Tụt xuống hàng
"polo" dẫn đầu là hạ sĩ nhứt Nhiều. Người hùng chết
hụt trận Hoàng Sa. Một thành tích chiến đấu hết sức
dũng cảm: một tuần đeo phao trên biển, hoàn tất nhiệm sở
đào thoát cá nhân. Tiếp theo là ông thần Danh Un, hạ sĩ.
Khỏi cần giới thiệu dài dòng, ai cũng biết ông thần này
người Việt gốc Miên. Chức vụ rất là quan trọng:
interpreter, thông dịch viên Miên và Thái ngữ. Trụ cột của
phòng Nhì trong những lần thẩm vấn kẻ địch đã dám ngang
nhiên xâm lấn hải phận Việt Nam. Và sau cùng là thủy thủ
Khương, tân binh mới đổi về từ trung tâm huấn luyện Cam
Ranh.
Tôi vào phòng riêng xem lại bản đồ tình hình, bản đồ trận
liệt. Lực lượng địch duy nhất chỉ có một tiểu đoàn
Việt Cộng hoạt động du kích khắp đảo. Bộ chỉ huy của
tiểu đoàn này luôn luôn đặt trên núi Khu Tượng, miệt có
nhiều vườn tiêu. Lực lượng bạn gồm địa phương quân,
nghĩa quân thuộc chi khu Dương Ðông và một liên đoàn địa
phương quân trấn đóng và hoạt động trong vùng phía nam.
Ðó là chưa kể đến lực lượng hùng hậu của hải quân Vùng
4 Duyên hải: duyên đoàn 42 ở phía tây An Thới, duyên đoàn
44 vùng Hà Tiên, Kiên Lương, duyên đoàn 43 vùng hòn Tre,
Rạch Sỏi, duyên đoàn 41 vùng hòn Khoai. Và Hải đội 4 Duyên
phòng với trên dưới 20 duyên tốc đĩnh. Xem ra lực lượng
của mình mạnh gấp mấy lần lực lượng địch. Vậy mà tại
sao tiêu diệt địch không nổi? Vậy mà tại sao quận lỵ
Dương Ðông vẫn bị ăn pháo kích đều đều? Vậy mà tại
sao các đồn nghĩa quân mạn Bắc Ðảo vẫn bị tấn công dài
dài? Không hiểu nổi, thiệt là không hiểu nổi!
Tôi gọi Sơn vào phòng:
- Xưa nay ai trách nhiệm khai thác tin tức tình báo? Ai soạn
thảo bài thuyết trình? Ai đảm trách phần thuyết trình tình
hình hàng ngày cho tư lệnh?
- Tôi làm hết, đại úy. Nhưng, ở đây không có vụ thuyết
trình hàng ngày đâu đại úy ơi. Có tin tức gì quan trọng
tôi xách bản đồ lên văn phòng nói thẳng với tư lệnh phó
...
Nghe chẳng lọt lỗ tai, tôi hỏi lại:
- Tại sao tư lệnh phó mà không phải là tư lệnh?
- Tôi làm việc trực tiếp với trung tá Khôi nhiều ngày đã
thành thói quen. Vả lại tư lệnh mới của mình bận dữ
lắm, ổng không có rảnh để nghe thuyết trình tình hình vớ
vẩn của phòng Nhì đâu.
- Hừ, lại là một chuyện lạ... Rồi ai phụ trách tủ hồ
sơ mật này?
- Cũng tôi luôn.
Tôi mù tịt, không hiểu lề lối làm việc ở ngoài này như
thế nào. Hình như mọi phương cách điều hành phòng Nhì ở
đây nhứt nhứt đều đi trái ngược với những gì tôi đã
học hỏi và thu lượm được trong những năm làm trong nghề,
tôi bực mình:
- Cái gì anh cũng thầu mẹ nó hết thì đám nhân viên trong
phòng này chắc là đem bỏ cho chó ăn, hả?
-...
Sơn trở về bàn giấy. Tôi định kêu nhân viên vào phòng
"thẩm vấn" từng tên một. Ðể biết sở trường, sở
đoản của mỗi đứa trước khi chỉ định chức vụ, giao phó
trách nhiệm. Không thấy một văn thư hay một lệnh lạc nào
rõ ràng thì biết thế nào là luận công, thế nào là qui
tội. Phải làm một cuộc cách mạng? Hay là chiếc xe đang
chạy ngon trớn thì đừng nên sửa chữa? Cái nào lợi cái
nào hại? Rốt cuộc rồi tôi chỉ biết thở dài, tự xét
thấy còn quá sớm để làm mấy công tác này. Tôi bước ra
ngoài, dặn Sơn:
- Tôi đi qua bên căn cứ, nếu có gì cần thì anh cho người
tìm tôi. Mà Sơn này, tôi thấy anh cứ tiếp tục làm những
gì anh đã làm đi.
- Dạ, đại úy yên tâm. Bảo đảm không có gì trở ngại.
Việc quan trọng đối với tôi bây giờ không phải là chăm sóc
phòng Nhì mà là chăm sóc nhà cửa, cư xá để đem vợ con
theo. Nếu không phúc trình tình hình hàng ngày cho tư lệnh
thì phòng Nhì đặt ra để làm cái quái gì? Rồi lâu ngày
nếu không kiếm cớ để gặp nhau thì chúa đảo và quân sư
quạt mo có lẽ sẽ trở thành mặt trời mặt trăng. Tôi sẽ
mặc sức tung hoành. Tôi sẽ thảnh thơi mà lo chuyện riêng
của tôi. Cũng hay. Ðộc đáo nữa là khác!
Tôi băng qua căn cứ làm thủ tục xin nhà. Mới hay thằng bạn
cùng khóa của mình nói trật lấc. Chỉ huy trưởng căn cứ,
thiếu tá Nguyễn An Cường, không nể thằng người của tôi
thiệt nhưng ít ra ông cũng nể chức vụ của tôi. Ông đã dành
sẵn cho tôi một căn, căn bìa. Giấy tờ xong xuôi, tôi
vội vã chạy đi thăm "căn nhà lý tưởng" của mình.
Cư xá gia đình sĩ quan nằm phía ngoài vòng đai bộ tư lệnh,
tiếp giáp với khu buôn bán, thị tứ. Không có hàng rào bao
bọc, không có sự cách biệt giữa binh lính và dân chúng.
Hai dãy dài cũng nền xi măng, tường gạch block. Trước
thềm ba có nhà bỏ trống có nhà làm hàng rào cây. Tương
đối khang trang, sạch sẽ.
Mở cửa ra mới biết nhà chỉ có một phòng nối liền từ
vách trước ra vách sau. Tệ hơn cư xá sĩ quan độc thân ở
điểm nhà không có trần, ngó lên thấy mái tôn. Nóng.
Nhưng có còn hơn không! Cốt chỉ cần che nắng che mưa? Tôi
đi thẳng ra nhà sau. Một hồ nước rất lớn xây bằng gạch
block nằm trong góc, ăn gian hai tấm vách tường. Một khoảng
trống thấy trời cất theo kiểu nhà cầu, rồi mới đến
nhà bếp. Ra cửa sau, cầu tiêu nằm phía bên ngoài. Tiếp
theo là một vũng độn ngập bùn đen, cỏ ống đầy lông
trắng mọc dày, tươi tốt. Ðâu đít nhà tôi có lẽ là một
tiệm bán tạp hóa nào đó nằm trên con đường chính.
Vòng quanh hè mới biết ở căn bìa chưa chắc đã ngon. Nhứt
là căn bìa này thì thiên hạ phải chê vì bị nắng chiều
chiếu cố. Thêm một tí nhiệt năng cho cái lò than luôn luôn
hâm hấp nóng. Không sao. Với mớ thì giờ dư giả gần như
tám tiếng mỗi ngày thì việc biến cái nhà trống trước hở
sau này thành tổ uyên ương, biến tấm tường đầu song
thành một cái chái chứa xe nhà cũng không có gì là khó.
Ðám đệ tử của tôi lúc nào cũng rảnh rang. Phải biết sử
dụng người cho đúng chỗ. Phải biết nhân hòa, địa lợi
thiên thời.
Trở về phòng Nhì thì cũng đến giờ đi ăn trưa. Sơn và
tôi lại cùng đi cho có bạn. Vì tôi chân ướt chân ráo
chẳng rành đường đi nước bước. Và chỉ có ai ở lâu
như Sơn mới biết hết những quán ăn, quán nhậu bình dân
không có bảng hiệu trong vùng An Thới này. Tuy bàn ghế có
phần lổng chổng, nhưng món ăn lại không kém phần hương
vị. Tôi để Sơn làm đầu tàu. Mặc tình chọn quán ăn vì
khẩu vị, có lẽ cho tôi, hoặc vì bóng giai nhân, có lẽ cho
chính Sơn... Sau bữa ăn trưa này tôi vẫn thật tình như
buổi ban đầu:
- Ðể tôi trả cho.
- Ðâu được, đại úy. Ðại úy cứ để đó cho đàn em làm
nhiệm vụ mà. Ðại úy về đây thì bảo đảm đại úy khỏi lo
mấy chuyện lẻ tẻ này nữa.
- Giỡn chơi hoài, Sơn.
- Tôi nói thiệt mà. Ðại úy không tin thằng em sao?
Tin làm sao được mà tin! Chuyện gì lạ vậy? Xưa nay đâu
có ai tử tế hơn cha mẹ mình. Ðàn em mà, đâu có thể làm
hơn cha mẹ được. Tôi không tin mà tôi lại nghi. Làm tình
báo phải bắt chước Tào Tháo. Tại sao nó không nói thẳng
cho mình biết là nó làm như vậy với dụng ý gì? Rõ ràng
nó đang làm tài khôn, chịu mất con tép để bắt con tôm.
Mình đang bị nó gài bẫy, lợi dụng mà mình không hay. Lợi
dụng, lợi dụng! Nó lợi dụng mình cái gì đây?
Chẳng đợi tôi nói thêm tiếng nào, Sơn đã đến quày tính
tiền gạ gẫm vài câu với người đẹp. Con gái từ đất
liền chở ra ngoài này chắc đắc, hiếm. Con gái địa
phương nếu có cô nào coi được được một chút thì không
chóng thì chầy, trước sau gì cũng bỏ đảo bỏ xứ đi Sài
Gòn. Quán này sở dĩ đông là nhờ cháu bà chủ quán, thi
rớt tú tài mấy bận đến nỗi phải trôi giạt về đây.
Nhưng, đàn bà con gái đối với tôi giờ này như kể bỏ.
Thời xuân xanh của mình như đã hết, mặc dù ba mươi mốt
tôi chưa bước qua mà ba ba tôi cũng chưa bước lại. Bốn
đứa năm một làm tôi thấy mình bỗng dưng già.
Hai thầy trò lội bộ trở về phòng. Cửa vẫn khóa. Khỏi
cần hỏi tôi cũng biết đám nhân viên của mình về nhà ăn
cơm trưa với vợ con và còn lâu mới trở lại làm việc
đúng giờ. Cũng chẳng màng, công việc của ai người ấy
lo. Tôi bận công việc riêng của tôi. Tôi bảo Sơn:
- Anh tiếp tục coi phòng. Tôi qua thủy xưởng.
Mục đích chính của tôi bây giờ là cái trần nhà và cái
chái. Phải xuống xưởng mộc để bắt áp phe. Trưởng
xưởng mộc là ai? Là một người quen? Tôi cầu mong như
vậy và thiệt trời chẳng phụ lòng người ngay:
- Bố, bố. Bố đi đâu vậy bố?
Tôi ngỡ ngàng nhận ra thằng khóa đàn em, con của tôi:
Nguyễn Kim Ðạo. Thằng con quá sáng nước mà trở thành
tối. Quá gian mà không ngoan nên bị đánh rớt, ra trường
đeo cánh gà. Cái thằng con chẳng những làm mất hết gia
phong gia phả mà còn làm luôn cả họ muôn đời tuyệt dòng
tuyệt tự. Thiếu úy Ðạo? Chắc nó đã trở về trường
học lại khóa sau. Phục hồi chức nghiệp, thể diện. Nhưng
cha nào lại chẳng thương con? Tình phụ tử trong đời hải
nghiệp cũng ví bằng biển Ðông lai láng, tôi niềm nở bắt
tay thằng con tôi:
- Làm xếp khu này hả? Khá quá! Tôi mới đổi ra đây
được vài ngày. Hừ, hình như từ hồi ra trường cho đến
bây giờ, tôi chưa gặp lại anh lần nào? Sáu bảy năm rồi
thì phải...
Ðạo tâm tình:
- Tôi đi tàu ròng rã hai năm trời mới được trở về
trường học lại, bố. Bị tụi nó đì dữ quá, hai năm cay
đắng mùi đời. Bây giờ đỡ rồi bố à. Tôi coi được
cái xưởng này thì thiên hạ cần tôi nhiều hơn tôi cần
thiên hạ. Bố thuộc đơn vị nào? Vùng 4, Hải đội 4, hay
Thủy Xưởng?
Tôi đáp gọn:
- Trưởng phòng Nhì bộ tư lệnh Vùng.
Ðạo vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, kể lể:
- Ồ, tôi nghe đám phòng Nhì ở đây làm ăn dữ lắm, bố.
Bố nắm được đám đó thì đỡ rồi.
Tôi phân bua:
- Thiệt vậy à? Tôi mới ra chả biết tụi nó làm ăn về
phương diện gì. Cũng đành phải từ từ mà nhận định tình
thế. Dục tốc bất đạt. Công việc thiết yếu của tôi
bây giờ là lo tu bổ sửa sang căn nhà mới nhận trong cư xá
sĩ quan. Nói thiệt, tôi cần một mớ ván ép và một mớ
đà ngang để đóng plafond. Anh có thể giúp giùm tôi một tay
không?
- Chuyện gì khác thì tôi không dám hứa, chớ chuyện cây ván
đối với tôi thì dễ rồi. Xưởng mộc mà. Ðể tôi cho
mấy thằng em cắt, xong rồi sẵn xe GMC đây tôi cho tụi nó
chở qua nhà cho bố.
- Bậy nè, ai đâu của cho mà còn lo mang tới. Hay là để
mấy thằng em phòng Nhì của tôi sang đây lãnh phần chuyên
chở, khuân vác đi.
Hình như thằng con của tôi không muốn dính líu, đụng chạm
với đám nhân viên phòng Nhì:
- Ối, chuyện đó hạ hồi phân giải, bây giờ hai bố con mình
tấp vô câu lạc bộ uống cà phê cái đã...
Hàn huyên tâm sự một hồi tôi mới biết thằng con của mình
đang là tay chân, cật ruột của chỉ huy trưởng thủy Xưởng,
trung tá Thơ. Hèn chi mới móc lon thiếu úy mà nó được làm
trưởng xưởng. Mặc dù biết rành tánh của thằng con ngay
từ hồi còn ở trong trường, nhưng tôi không khỏi ngạc nhiên
về những thành quả, tiến bộ của nó. Chẳng lẽ nó biết
học khôn nhờ hai năm bị đì?
Tôi trở về phòng mà lòng hân hoan phơi phới. Công việc ở
đây giải quyết hết sức nhanh chóng, nhẹ nhàng. Hừ, nhớ
hồi nào ở đất liền chạy áp phe một thùng sơn sơn nhà
cũng đã khó... Cặp mắt tôi lướt sơ trên xấp công
văn, công điện "trình đọc." Rồi hai chân gác tréo lên
bàn, kéo thêm vài ba hơi thuốc, hồn tôi lâng lâng thả lần
theo khói. Ngẫm nghĩ lại dưới thế gian biết bao nhiêu
người đã cố tình làm chuyện "nhân định thắng thiên,"
để rốt cùng cũng chỉ ngửa mặt than trời: mưu sự tại
nhơn mà thành sự tại thiên. Chỉ có tôi là rơi vào một
hoàn cảnh hơi đặc biệt: mưu sự do thiên mà thành sự cũng
do thiên. Tôi mỉm cười một mình... Giờ tan sở đã
đến, tôi và Sơn về cư xá độc thân thay đồ civil tiếp
tục đi ăn chung. Tôi bỗng nhiên quen dần với cảnh "để
đàn em làm nhiệm vụ."
Hai tuần lễ trôi qua, căn nhà đầu căn của tôi đã có một
bộ mặt khác thường với sự biệt phái của Nhiều và
Khương. Cũng chẳng phải là một biệt thự nguy nga tráng lệ
gì, vì trong một cư xá dù sĩ quan hay lính thì nhà nào cũng
giống nhà nào. Ðối với tôi, chẳng tốn một đồng xu mà
có một chỗ ở tạm được như vầy đã là diễm phúc. Còn
đòi hỏi gì nữa?
Nhưng diễm phúc của tôi không bị bắt buộc phải dừng lại
tại đó mà còn kéo dài lê thê... cho đến ngày tôi rời
đảo mới thôi. Diễm phúc? Nói tới diễm phúc là phải nói
cái gì như ơn mưa móc do trời cao ban xuống! Nói tới diễm
phúc là phải nói đến một cái gì hết sức đột ngột, đã
làm cho mình ngẩn ngơ, bàng hoàng vì sung sướng. Nói đến
diễm phúc là phải nói đến một phong bì dày cộm mà Sơn đã
trao cho tôi trước ngày tôi về đất liền để rước vợ
con:
- Ðây là phần của đại úy!
Tôi vạch ra coi thoáng qua rồi khoan thai mở khuy áo bỏ vô
bụng. Tiếp theo, tôi hỏi một câu hỏi mà tôi nghĩ nếu ai
ở trong hoàn cảnh của tôi cũng đều hỏi như thế:
- Ở đâu vậy Sơn?
Sơn mỉm cười thay cho câu trả lời. Theo con số viết bên
ngoài thì quá nhiều đối với tôi. Khi không được lãnh
rappelle ba tháng lương mà không nhiều sao được. Tôi phải
xử trí ra sao đây? Tại sao Sơn phải đưa cho tôi? Nếu Sơn
cứ giữ lấy làm của riêng thì tôi cũng đâu làm gì biết
được? Luật lệ giang hồ chắc chắn phải phân minh, chỉ
tại mình chưa rõ đầu đuôi! Hèn chi bấy lâu nay Sơn vẫn
xem chuyện bao ăn uống cho tôi là chuyện chẳng nhằm nhò gì.
Như vậy thì Sơn phải làm theo chỉ thị của một nhân vật
nào? Chỉ có vậy thôi! Sơn phải đứng đắn thi hành lệnh
vì Sơn biết rõ rằng sẽ có sự kiểm chứng, dò xét của
người ra lệnh. Mục đích chính của tôi bây giờ là phải
tìm hiểu cái nhân từ đâu có và cái quả sẽ về đâu. Tôi
đâm ra nghi ngờ lòng tốt của thằng đàn em mình. Chưa chắc
nó đã đưa đủ số. Thôi, nó đã qua mặt mình vù vù
rồi. Tôi xì nẹc:
- Tôi thấy mấy anh làm cái gì, ăn cái gì thì cũng nên nói
cho tôi biết trước chớ. Lỡ có gì trục trặc xảy ra tôi
còn có cách chống đỡ. Mấy anh cứ âm thầm đi đêm điệu
này hoài thì có ngày không riêng gì mấy anh mà cả tôi cũng
vô tù cả đám.
- Thì từ từ rồi đại úy cũng biết mà.
Một tí tiền còm làm lộ phí. Một tí tiền còm cho vợ
sắm chút áo quần. Một tí tiền còm mua sữa cho con. Và
còn nhiều thứ nữa phải chi... Lấy? Chấp nhận đưa hai
tay nhúng chàm? Hỏi, tức là trả lời! Nhưng, có lẽ tôi
không bao giờ cảm thấy ân hận, kêu tiếng: than ôi. Vì
tôi biết mình đang ở cái thế chẳng đặng đừng. Không
còn chọn lựa. Không lấy không được và trong tương lai
biết đâu chừng không làm cũng không được. Tưởng tượng
sẽ là một hành động ác nhơn thất đức như thế nào đó
mà chính tôi ngay giây phút đang tiếp nhận hồng ân này cũng
còn chưa biết. Thôi thì thời thế thế thời phải thế.
Một thuở làm "trùm" liêm chính trong đất liền coi như tôi
vứt bỏ kể từ đây...
(Ðể hiểu rõ thêm
một thuở làm "trùm" liêm chính trong
đất liền
, xin mời độc giả tìm đọc bài
Trăng Mật Bến
Sông Cầu
trong tác phẩm MỘT CHUYẾN RA KHƠI và bài
Sợi Dây
Ðịnh Mệnh
trong tác phẩm MỘT ÐỜI ÐỂ HỌC, cùng một tác
giả.)
back to top
02. MỘT LẦN ÐI MỘT LẦN Ở
NGUYỄN TẤN HƯNG
Khác với Hoàng Sa, Tây Sa độc đạo chỉ có mỗi một con
đường biển, Phú Quốc nối liền với đất liền bằng hai
đường: đường biển và đường hàng không. Còn con
đường thứ ba, đường xa lộ, thì ai cũng biết khả năng
Việt Nam mình chưa làm nổi đường ngầm dưới đáy biển.
Ðường biển đi Phú Quốc gồm đủ hai loại tàu dân sự và
quân sự. Hoạt động dân sự giao cho ba hãng tàu đò Thuận
Lợi, Tân Hưng và Ðại Dương trách nhiệm làm cái gạch nối
giữa thị xã Rạch Giá và bến đò An Thới. Từ An Thới lên
Dương Ðông nhiều tàu đò nhỏ địa phương cũng đã đăng ký
kể từ khi đường bộ bị cắt, cầu kiều bị sập. Tàu
đò chỉ chạy ban đêm, "chiều chiều tàu ra cửa biển" êm êm
như câu nói đầu môi. Ðêm nào căn bản cũng có một chuyến
đi và một chuyến về. Ví dụ Thuận Lợi chạy đi thì Tân
Hưng chạy về. Chiếc Ðại Dương là chiếc sơ-cua, phòng khi
một trong hai chiếc kia bị hư. Tuy nhiên, thỉnh thoảng chiếc
Ðại Dương lại phải chạy thêm chuyến thứ ba trong ngày, để
giải quyết một số lớn hàng hóa bị ứ đọng và luôn thể
mấy người hành khách đã lỡ chuyến tàu đêm cần đi gấp.
Bởi vậy chiếc Ðại Dương là chiếc chạy không định kỳ,
không giờ giấc gì hết. Về quân sự thì tàu hải quân PCF,
LCM hoặc ghe duyên đoàn, ghe căn cứ cũng có nhưng thường
thường chỉ dành riêng cho quân nhân và gia đình hải quân.
Tàu hải quân hoạt động cũng không định kỳ, lịch trình đi
và về luôn luôn thay đổi, tùy ý thuộc vào nhu cầu và sự
sắp xếp của Trạm tiếp liên hải quân tại Rạch Giá.
Ðường hàng không đi Phú Quốc cũng gồm đủ hai loại phi cơ
dân sự và quân sự. Hoạt động dân sự của Air Việt Nam
chỉ giới hạn cho những ai có phương tiện tới được Sài
Gòn hoặc Cần Thơ. Ðó là những chuyến bay nối liền phi
trường Tân Sơn Nhất, phi trường Cần Thơ với phi trường
Dương Ðông. Về quân sự thì cessna, caribou, C 47 và trực
thăng được phép đáp cả hai phi trường, phi trường dân sự
ở Dương Ðông và phi trường quân sự ở An Thới.
Ðể đỡ tiền tổn phí và khỏi mất công lên Sài Gòn hoặc
phải xuống Cần Thơ, gia đình tôi không di chuyển ra ngoài
Phú Quốc bằng đường hàng không. Chỉ cần ra ngã ba Trung
Lương đón xe miền Tây đi Rạch Giá là xong, vì nhà tôi ở
Mỹ Tho. Ðược cái này mất cái kia, xuôi đường đi nhưng
không thuận chỗ ngồi. Những chỗ trống còn lại nếu có
được thì phải là những băng sau cùng không ai thèm đặt
đít. Ðành chịu. Cũng là ghế bọc nệm có lò xo, nhưng
những cái nhún nhảy đồng bộ với nhíp xe thường dở hổng
bàn tọa, đẩy đầu sắp sửa đụng trần. Người lớn khó
chịu, còn con nít thì trái lại được dịp vui đùa thỏa
thích. Vợ tôi chỉ sợ thằng út vừa mới tròn nửa tuổi
lúc nào cũng chực bay đi, ôm chặc cả hai tay. Trong khi ba
đứa kia thỉnh thoảng la:
- Hô, hô... hô...
rồi cười sặc sụa, không vẻ gì sợ sệt.
- Ðéo mẹ tổ cái lũ khỉ này chớ, ông nội nó thiếu điều
muốn lộn ruột lộn gan, vậy mà nó giỡn cho được.
Ðó là lời mắng yêu của ông nội dành cho đàn cháu, trong
đó có cả thằng cháu đích tôn. Ðây là lần đầu tiên ba
tôi đi theo gia đình tôi "di tản" về đơn vị mới. Mấy lần
thuyên chuyển trước ông không hề để ý tới. Ði vùng 1,
Vùng 2 thì cũng ở đất liền mà thôi. Cảnh núi rừng đối
với ông đã quá quen thuộc từ hồi ông còn trẻ, thời ông
theo đuổi nghề cây. Ðã từng lạc rừng, sống với Mọi
trên cao nguyên Di Linh, Ðắc Lắc thì chẳng trách chuyện núi
rừng, phong cảnh núi rừng đối với ông coi như không đáng
kể. Chỉ có đảo và đời sống ở đảo mới hấp dẫn
được ông. Phú Quốc, nơi ông mong mỏi đi thăm với tất
cả nhiệt tình. Ðó là lần đầu tiên và không ngờ cũng là
lần cuối cùng ông đã được đặt chân lên đảo.
Lần đầu tiên qua bắc Mỹ Thuận mà không quẹo xuống Vĩnh
Long. Ði vòng lên Sa Ðéc. Vùng nào chưa đi qua, tự nhiên
phong cảnh thấy lạ lạ và không khí hình như cũng có mùi khác
khác. Mặc dù ở vùng này cũng ruộng vườn, dừa chuối
như khắp mọi nơi ở miền Nam. Rồi đến bắc Vàm Cống.
Bắc Vàm Cống ngắn hơn bắc Cần Thơ vì chiều ngang của sông
Hậu Giang ở đoạn này tóp lại. Số lượng xe cũng ít hơn,
nhưng đoàn xe kẹt bắc có phần dài hơn. Vì không đủ bắc
để chạy? Cũng các gian hàng ăn uống, bánh trái tấp nập
hai bên vệ đường. Những lời rao mời mọc khách hàng lanh
lãnh bên hông xe. Qua được bắc thì không mấy chốc đến
đoạn đường nhiều ổ gà chạy dọc theo kinh Cái Sắn từ ngã
ba Long Xuyên về Rạch Sỏi. Ðám nhỏ đã không còn... hô
hô hô... nữa mà chuyển sang ngủ gà ngủ gật vì mệt mỏi,
nhàm chán. Tưởng là xa ai dè hóa ra gần, gần hơn đường
về Sóc Trăng, Bạc Liêu, Chương Thiện, Cà Mau...
Vì ước lượng sai mà tụi tôi phải đến thị xã Rạch Giá vào
khoảng một hai giờ trưa. Mặc dù có gió từ vịnh Thái Lan
thổi vào, nhưng lúc nào mồ hôi trong người cũng tươm ra
nườm nượp. Nóng. Nhất là lúc tất cả dồn vào chiếc xe
lam đi về Trạm tiếp liên Hải quân. Trước tìm chỗ nghĩ
chân, sau đợi tàu là cái chắc. Chỉ mong nhằm ngay chuyến
để khỏi ở qua đêm.
Tôi trình sự vụ lệnh lên ông thượng sĩ trực cho phải phép
vì tôi đang mặc đồ civil. Chẳng biết vì chức vụ trưởng
phòng Nhì hay vì hoàn cảnh gia đình đang lu bu bồng bế của
tôi mà ông thượng sĩ phản ứng ngay:
- Trời ơi, đại úy di chuyển cả gia đình mà sao đại úy
không đánh công điện hay thư từ cho tụi tôi hay. Kẹt quá,
hình như bữa nay không có tàu mình về Phú Quốc. Thôi bây
giờ đại úy nghỉ tạm ở đây đi, để tôi cho người liên
lạc với trung úy trưởng trạm. Có thể ổng sẽ sắp xếp
kịp cho gia đình đại úy đi tàu đò dân sự ngay chiều hôm
nay.
Tôi không ngờ đám nhân viên hải quân của mình ở đây sốt
sắng, đối đãi tử tế như vậy. Hình như đám này có vẻ
khiếp sợ uy danh của trưởng phòng Nhì? Có lẽ ảnh hưởng
của đại úy Xe, cựu trưởng phòng Nhì, còn sót lại chớ tôi
có làm chuyện ất giáp gì đâu. Tôi tự hỏi chẳng lẽ đám
cung cấp phương tiện di chuyển này cũng có chấm mút chút
chút? Rồi tự gạt ngang, ối, để ý làm chi những chuyện
lặt vặt đó cho thêm mệt óc! Tôi thành thật giải thích
trường hợp của mình:
- Tôi mới đổi về Vùng chưa được tháng, chưa biết hết
các đơn vị trực thuộc Vùng đang nằm ở đâu. Hồi mới ra
nhiệm chức vì chỉ có một mình một thân nên tôi đi bằng
máy bay, bây giờ di chuyển nguyên gia đình nên phải đi
đường bộ. Và mới đi đường bộ lần đầu nên tôi chưa
có kinh nghiệm.
Rồi tôi hỏi luôn:
- Sao, ở đây có dễ sống không anh?
- Dạ được lắm đại úy. Nhà của tôi cũng gần đây, ở
phía ngoài vàm kia, thành thử đi tới đi lui cũng tiện. Vợ
tôi thì có cái sạp vải ở ngoài chợ, đồng vô đồng ra
cũng tạm đủ sống chớ lương hướng của tôi thì nhằm nhò
gì, không đủ cho tôi uống rượu.
- Anh làm ở đây bao lâu rồi?
- Hơn ba năm rồi đại úy!
- Hơn ba năm? Hừ, trong Hải quân mà anh ở nguyên một chỗ
hơn ba năm liền thì kể ra tài ngoại giao của anh cũng khá...
Không những khá mà còn hay nữa! Nếu không khá không hay thì
làm sao cả gia đình tôi ngay trong đêm đó đi tàu đò về Phú
Quốc mà khỏi xuất tiền túi một cắc bạc để mua vé đò?
Ðã vậy còn được nằm trên lồng cu cạnh chỗ tài công lái
tàu. Có chiếu bông, có nước trà, có bánh ngọt. Ở
tầng dưới thì ôi thôi không khác gì cảnh dắt nhau chạy
loạn, nghẹt cứng như xếp cá mòi. Tìm được chỗ nằm
thẳng cẳng cũng không phải dễ. Nhiều người phải ngủ
ngồi qua đêm. Mùi hàng hóa, heo gà, cá đồng xông lên
nồng nặc. Ba tôi, ông già nhà quê đi đâu cũng thường hay
mặc bộ đồ bà ba trắng, đầu đội nón cối trắng, chưn
mang dép nhật, bấy giờ mới thực sự thấy uy quyền của con
trai mình. Một người làm quan cả... nhà được nhờ.
(Mãi sau này tôi mới có dịp quen biết, nhậu nhẹt với mấy
ông chủ tàu đò. Ông Lâm Mỹ Sên, chẳng biết có họ hàng
gì với thi sĩ Ðông Hồ Lâm Tấn Phác ở Hà Tiên hay không,
làm chủ hãng tàu Tân Hưng. Có văn phòng ở phố Phó Cơ
Ðiều, bến bạch Ðằng ở Rạch Giá và bến Lê Quang Liêm ở
Sài Gòn. Ông Lê Văn Khâm, chủ hãng tàu Thuận Lợi. Chỉ
có văn phòng tại Rạch Giá, cũng phố Phó Cơ Ðiều. Hai ông
này cho phép tôi và gia đình suốt đời đi tàu khỏi tốn
tiền, bằng cách viết ở mặt sau tấm card-visit: Người
cầm giấy này được đi tàu miễn phí. Rồi cũng có dịp
làm thân với những ông chủ tàu cá, chủ tàu vận tãi
đường thủy. Ông Nguyễn Văn Ba chủ hãng Nam Hải Ngư Nghiệp
Công Ty, có văn phòng trung ương ở đường Nguyễn Công
Trứ, Sài Gòn. Ông Trần Văn Cưng, chủ hãng Minh Hà, một
công ty vận tãi thủy bộ. Văn phòng chính đặt ở lầu 2
thương xá TAX, đại lộ Nguyễn Huệ, Sài Gòn. Và nhiều
người nữa, có tiếng tăm trong ngành thương nghiệp ở Rạch
Giá, mà không làm sao nhớ hết).
Tàu đò là một chiếc ghe lớn, ghe chài. Vậy mà cũng biết
súp-lê như tàu sắt.
Súp-lê một còn trong còn đợi,
súp-lê hai còn đợi còn trông, súp-lê ba tàu ra biển Bắc,
hai tay nắm chặt song sắt con mắt lờ đờ
..., trật
lấc, tàu ra biển Tây đi vào vịnh Thái Lan. Không riêng gì
tàu Hải quân, tàu gì ra khơi bao giờ cũng buồn buồn. Không
ai thoát được nỗi vương vấn, vướng vít bến bờ.
Trời chiều vàng trên mặt nước. Gió biển mặn dập vào
người. Lâng lâng hồn dâng cao theo triền sóng, thử hỏi ai
mà chẳng ngậm ngùi, bâng khuâng trong cảnh tách bến ra đi.
Lạch nước sâu chảy ra vịnh của dòng Kiên Giang đã thuộc lòng
như chỉ bàn tay vậy mà bác tài công từng chập từng chập
đưa tàu rướn lên cạn, trườn qua những bãi cát ngầm.
Ngập ngừng như những tiếng nấc còn sót lại trước khi dứt
khoác chia tay.
Rồi thị xã Rạch Giá xa dần xa dần trong nuối tiếc. Những
chiếc thuyền con gắn máy đuôi tôm chạy bạch bạch hai bên tàu
trong giờ tiễn người đi đã không còn thấy nữa. Nước
biển trong xanh và những lượn sóng lớn bắt đầu phả vào
mạn tàu. Tiếng máy tàu, máy dầu cặn, nổ đều đều
trầm buồn ru ngủ.
Lúc bắt được hòn Tre, thường gọi là hòn Tre Cửa để
phân biệt với hòn Tre ở miệt Hà Tiên, thì màn đêm đã
xuống hẳn và trăng đã lên cao. Khắp biển bao la một màu
vàng nhạt mơ hồ, lấp lánh ánh lân tinh của những lượn
sóng bạc đầu. Ðèn điện từ xóm nhà dân trên hòn cắt
những vệt sáng dài nhấp nhô trên mặt biển. Vắng lặng.
Hành khách phần lớn đã chìm vào giấc ngủ dù tạm bợ nhưng
không kém phần say sưa. Chỉ còn lại những người mới quá
giang tàu đò lần đầu hay những người luôn luôn nặng
tình, bền lòng với gió trăng.
- Chừng nào mình mới bắt được hòn Nghệ?
- Chắc cũng một hai giờ khuya, đại úy. Ðại úy đi ngủ đi
cho khỏe.
Bác tài công khuyên tôi như vậy và tôi đã nghe lời đặt
lưng lên chiếu...
Tàu đò cặp cầu An Thới trong lúc trời vẫn còn về đêm.
Một đêm suôn sẻ, không lạc đường, không trôi giạt như bà
con thường bị. Nghe đâu có lần tàu Tân Hưng suýt chút nữa
tấp vô quần đảo Bà Lụa ở ngoài khơi Kiên Lương. Giông
bão hay tài công ngủ gục? Không giông bão cũng không ngủ gục
mà là lọt vào tam giác thần, vì chính người lái tàu đêm
đó cũng không biết tại sao mình đi lạc! Giờ này thì vạn
vật vẫn còn im lìm, chìm đắm trong sương. Chỉ đổ hành
khách thôi, hàng hóa phải chờ đến sáng. Ô kìa, cũng có
một vài người chịu khó thức dậy sớm, xuống tận bến
đò để đón thân nhân! Một bóng đèn điện duy nhất có
chụp che mưa nắng giữ nhiệm vụ soi sáng cầu tàu.
Tôi gửi lại hành lý của mình cho bác tài công. Ðợi sáng
ngày cho thằng em xuống lấy. Chỉ mấy vali áo quần và một
bịt thức ăn khô thì không sợ ai ăn cắp. Tôi dẫn vợ con
và ba tôi vòng theo bãi biển, đi đường tắt về nhà. Ánh
trăng vàng nhạt vẫn còn dõi bóng người đi. Không mấy gì
nên thơ nữa vì ai nấy đều mệt mỏi, rã rời. Nhất là
khi đi ngang qua khu phơi cá vụn để làm phân, mùi hôi thúi
xông lên ngập mũi. Phải vạch hai lần kẽm gai để chun vào
khu gia đình sĩ quan, lớp hàng rào duy nhất ngăn cách khu quân
sự với dân chúng. Anh lính gác cổng bộ tư lệnh có lẽ
đã thấy chúng tôi rõ ràng từ điếm canh nhưng vẫn để
chúng tôi tự nhiên hành động. Con đường mòn này chắc
chắn hắn đã nhiều lần đi qua và có thể hắn nghĩ rằng
đất Phú Quốc này không hề có đặc công cộng sản.
Người lớn khòm lưng trong khi mấy đứa nhóc đi xổng.
Qua một bãi cát nhỏ có cái giếng nước bỏ hoang thì tới
nhà. Vợ tôi có vẻ hài lòng với khung cảnh bên ngoài của
căn nhà đầu căn. Vào nhà, tất cả để nguyên đồ mặc
lên giường, divan tiếp tục ngủ.
Người thức dậy sớm nhất là ba tôi, cũng gần đứng
bóng. Ổng lui cui đi nấu nước pha trà ngồi uống một
mình. Tôi hơi ngạc nhiên vì cả đời ông chưa hề xài qua
bếp điện. Ðặc biệt ở chỗ đây là bếp điện phế
thải của tàu PCF do thiếu úy Ðạo, thằng con khóa đàn em của
tôi, mang tặng. Trụi lũi không có hộp đựng bên ngoài.
Bốn ngoe dài cháy một còn ba, vẫn còn xài được. Yên
phận nằm trên mấy miếng gạch lốc bằng xi măng. Chỉ cần
nối dây vào chốt cắm, rồi cắm vào lỗ cắm điện...
chùa gắn trên tường. Nhưng, tôi cứ nghĩ ông già gan
thiệt.
Ðể lũ nhỏ ở nhà chơi với ông nội, hai vợ chồng tôi
bước ra chợ. Nói là chợ cho có vẻ thôi, thực ra chỉ vài
ba tiệm tạp hóa, tiệm may, quán ăn, quán nhậu, phòng chơi
bida, phòng mạch của y sĩ trung úy Lê Huy Thụy... nằm dọc
theo con đường đất chính. Sáng sớm mới có thịt heo, cá
đồng, cá biển, rau cải tươi bày bán hai bên lề đường.
Mục đích là để vợ tôi đi một vòng cho biết, chớ mua
sắm gì thì chờ lần sau. Ấy vậy mà rốt cuộc hai đứa
cũng ghé vô tiệm gạo ôm về một bao nhỏ.
Qua ngày hôm sau, khi tôi sửa soạn đi làm thì tôi phác giác ra
là ba tôi đã bị mất tích từ sáng sớm. Bình trà thường
khi rất nóng bây giờ nguội ngắt. Tôi hỏi vợ tôi:
- Em có biết ba đi đâu hôn?
Vợ tôi phân trần:
- Em dậy trước anh chỉ có một chút xíu thì làm sao em biết
được. Chắc ba biết tụi mình hay nằm nướng nên ổng đi
ra phố ăn sáng cho tiện. Hổng chừng ổng đang ăn hủ tiếu
Mỹ Tho!
- Chỗ này có chút bẻo, ổng đi ăn hủ tiếu gì mà lâu dữ
vậy? Cái ông này đi đâu vậy cà? Có sợ ba lạc đường
hôn?
- Lạc cái gì mà lạc, anh sao khéo lo...
Khéo lo như vậy mà còn không kịp, vì quá mười hai giờ
trưa tôi về nhà ăn cơm cũng không thấy bóng dáng ông già
đâu hết. Ði tìm ổng ở đâu? Lên núi? Xuống biển?
Ði báo cảnh sát? Vô lý! Mà khắp đảo không có một
người quen thì hỏi thăm ai?
- Hồi sáng giờ em có ra chợ tìm ba hôn?
Hỏi xong mới biết mình sơ ý, vì câu trả lời của vợ tôi y
chang như tôi dự đoán:
- Em lu bu với bốn đứa nhỏ ở nhà.
Rồi vợ tôi cười, trấn an tôi:
- Ba không có sức để đi khắp hết cái đảo này đâu mà anh
lo, một chút nữa ổng sẽ về. Vả lại bốn bề biển cả
ổng hổng có bay đi đâu được mà!
Ðến chiều đi làm về tôi cũng không thấy bóng dáng ba tôi.
Lúc này tôi mới biết sợ. Trong đầu tôi nãy ra nhiều câu
hỏi và duy nhất chỉ có một câu trả lời: vái trái cho ba tôi
được bình an. Tôi nói bâng quơ một mình:
- Ði gì mà đi cả ngày vậy cà!
Vợ tôi im lặng dọn cơm. Thằng con trai lớn vỗ vỗ tay lên
đùi tôi, hỏi:
- Ba, chừng nào ông nội về? Ông nội đi mua kẹo hả ba?
- Ừa, chút xíu nữa ông nội về.
Rồi bỗng dưng:
- Nội về, nội về...
Quả nhiên ổng về thật. Mở cửa trước đi thẳng ra sau
bếp. Cũng bộ đồ bà ba trắng, nón cối trắng và đôi
dép nhật. Tôi nửa mừng nửa giận:
- Ba đi xứ nào từ sáng đến giờ mà ba không chịu nói cho
vợ con hay, làm ở nhà lo quá trời.
Ông đáp gọn lỏn:
- Tao cứ nhắm hướng mặt trời mọc mà đi.
- Rồi ba đi tới đâu?
Ông cười hề hề:
- Nghe đồng bào ở đó họ kêu là mũi ông Ðội.
- Ba đi qua thủy xưởng, ba đi qua sân bay, ba đi qua một bãi
biển dài thiệt dài... Ba đi quá xa rồi...
Ông gật đầu, vui vẻ nói:
- Ừa, thì đi cho tới chừng nào tao đi hết được thì
thôi.
Rồi ông bắt sang đề tài khác:
- Ở ngoài đó có nhiều con đỉa biển, con đồn đột, con
mà người Tàu thường gọi là con hải sâm. Vì có vị thuốc
nên bán mắc lắm. Ai ngờ nó đen thui thùi lùi như con đỉa
trâu thiệt bự thấy mà bắt ghê. Có vài người đi bắt
dọc theo bãi. Nhưng nghề chính của dân ở đó là nghề hầm
than. Họ đấp lò chi chít trong rừng, lớn có nhỏ có. Cái
thì vài chục ký cái thì vài chục tạ. Củi rừng thì sẵn đó
mạnh ai nấy đốn, sống dễ dàng như trời sanh trời nuôi.
Họ có dẫn tao đi thăm suối Tiên nữa. Họ nói rằng hồi
xưa vua Nguyễn Gia Long, trên đường lánh nạn Tây Sơn đã
tấp vô cái đảo Phú Quốc này và nhờ cái mạch nước ngọt
đó mà cả đám vua quan, quần thần mới không chết khát.
Tôi chẳng quan tâm đến chuyện lịch sử, huyền thoại mà tôi
để ý đến chuyện khác:
- Ba coi chừng có tụi Việt Cộng trà trộn trong đó. Nguy
hiểm lắm, tốt hơn hết ba đừng có tin ai và đừng đi xa
như vậy nữa!
- Tao chỉ thấy toàn là dân làm ăn lương thiện. Họ mời tao
ở lại ăn cơm trưa, ăn cá biển nướng trui dầm nước mắm
tỏi ớt. Ngon lắm!
Vợ tôi xen vào:
- Ba làm tụi con lo quá chừng. Rủi có bề gì không biết ăn
nói làm sao với anh chị em, bà con lối xóm ở nhà. Dân ở
đảo không giống như dân ở trong đất liền đâu!
Tôi tiếp:
- Ba muốn đi chơi đây đó thì để con nói mấy thằng em trong
phòng xách xe honda chở ba đi cho chắc ăn.
- Ối, tao già cả rồi đâu ai bắt bớ làm gì cho mắc công
tốn cơm, tốn gạo...
Ðã nói như vậy mà qua bữa sau ba tôi cũng đi suốt cả ngày.
Có kinh nghiệm bữa trước nên tôi không lo mấy. Vả lại tôi
đinh ninh cái xứ này quá nhỏ, nhỏ hơn nhiều so với những
nơi mang tiếng
đi năm phút trở về chốn cũ
. Nhưng
thực sự tôi đã sai lầm về cái xứ quá nhỏ này, Phú Quốc
coi vậy mà cũng có nhiều chỗ đáng viếng thăm. Không phải
độc nhứt chỉ có một con đường chạy từ cổng thủy xưởng
An Thới vòng xuống chợ, chạy ra dãy nhà thùng như lời trung
úy Sơn, người sĩ quan phụ tá của tôi, cho biết trước
đây. Khác với ngày hôm qua, bữa nay ba tôi xuất hành
hướng Tây, cứ theo hướng mặt trời lặn mà đi. Ổng cho
biết:
- Không ngờ ở đây người ta lại sùng đạo quá xá. Dân
chúng không bao nhiêu mà cũng có xóm Ðạo, xóm Chùa. Ở xóm
Ðạo có một nhà thờ rất lớn, nền xi măng vách ván sơn
trắng. Ông cha xứ cũng hiền từ, lễ độ. Biết mình là
người ngoại đạo mà ông cũng tiếp đãi đàng hoàng. Bên
cạnh nhà thờ có một trường trung học nữa, trường Thánh
Phê-rô. Họ nói có thầy dòng dạy hết chương trình trung học
đệ nhất cấp... Ði lần ra xóm Chùa, hỏi thăm người
trong xóm mới biết ở đây có hai chùa: chùa Cao Ðài và chùa
Phật nằm tuốt ngoài bãi Xép.
Ðạo gốc bởi lòng thành tính hiệp
Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra
Mùi hương lu ngọc bay xa
Kính thành cầu nguyện tiên gia chứng lòng...
Ðó, họ đọc kinh Tứ Thời cũng như trong mình. Cũng Nam Mô
Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát. Còn thầy chùa, bà
vãi ở chùa Phật thì cũng như trong đất liền thôi, cũng ăn
chay niệm Phật. Ban đầu tao tưởng họ là người Miên,
nhưng không phải, họ nói tiếng Việt Nam rành như mình.
Tôi hơi ngạc nhiên và mở rộng tầm mắt đôi chút vì lời
nói của ông già. Ðừng tưởng Phú Quốc chỉ là một căn
cứ quân sự, một đơn vị đồn trú Hải quân. Phú Quốc có
dân chúng, có binh sĩ, có tôn giáo, có chính trị, và hiển
nhiên có Việt Cộng có chiến tranh. Tôi hỏi:
- Rồi ba đi đâu nữa cho hết ngày?
- Sau đó tao ghé qua trường tiểu học Mai Chí, trường con nít
do Hải quân của bây thành lập, dạy dỗ. Rồi tao trở xuống
chợ và vòng ra mấy hãng nước mắm. Hãng Phong Hưng, Hồng
Lan, Hồng Thắm... có dè đâu lại nằm ở đây. Nước
mắm của họ có bày bán ở chợ Mỹ Tho. Nước mắm Phú
Quốc, nước mắm Phan Thiết làm bằng cá cơm phải ngon hơn
nước mắm cá chốt, cá úc, cá lù đù, cá mề gà của bác
sáu Ðẹt, bác chín Hãng (nước mắm) của mầy ở Chợ Gạo.
Khô cá thiều, cá đường, cá đuối, cá hố chỗ nào cũng
có. Giá rẻ mạt so với trong mình. Rồi tao đi tuốt ra ngoài
mũi Hanh mới gặp anh sáu Bền, chủ hãng nước mắm Thanh
Bình. Tao với ảnh làm lai rai. Ðám con của ảnh học giỏi
lắm nghen, đứa đi Tây đưa đi Tàu, không đứa nào ở nhà
hết...
- Rồi ba khoe đám con của ba đứa đi Mỹ đứa đi Nhật?
- Thì đại khái tao nói mầy đổi ra đây làm trưởng phòng
An Ninh.
- Trời đất, bộ ba hết chuyện nói hay sao mà ba vạch lưng
cho người ta xem thẹo. Làm nghề bí mật mà ba đem mí mí
bật ra hết thì chết con rồi. Nguy hiểm quá!
- Thì mình có sao nói vậy. Ảnh nhắn tao nói với mầy có
dịp nào ra nhà ảnh chơi. Tao thấy ảnh ăn ở hiền lành nhơn
đức.
Không riêng gì ở đây mà bất cứ ở một miền duyên hải hay
một hòn đảo nào, dân đánh cá nhất là chủ nhà thùng, chủ
hãng nước mắm, đều phải nể mặt trưởng phòng Nhì,
trưởng ban 2. Tại vì trước sau gì cũng có ngày ghe đánh cá
của mình thong dong dạo chơi trong vùng cấm đánh cá. Có thể
nói đôi lúc vì cần phải chạy theo bầy cá mà bị lọt vòng
vây, nhưng thường thường là nhảy vô tròng đánh đại một
mẻ, may nhờ rủi chịu. Cá biển coi vậy chớ cũng khôn
lắm, biết ẩn núp trong những vùng ít ai thả lưới, kéo
cào. Cho nên một lần đánh cá trong vùng cấm, vùng tác xạ
tự do, được coi như là một lần trúng số. Nhưng đi đêm
có ngày gặp ma, có ngày ghe chở đầy cá của mình không chạy
được về bến mà lại bị dẫn độ về phòng Nhì, ban 2.
Quen biết với trưởng phòng Nhì, trưởng ban 2 bây giờ mới
thấy có lợi là ở điểm đó. Ghe thả sớm ngày nào hay
ngày nấy, kẹt một tháng cặp cầu, nằm ụ thì cũng dám sạt
nghiệp lắm chớ chẳng phải chơi. Thủ tục khám xét, điều
tra thì gia giảm, co dãn như sợi dây thung. Thưa kiện ai?
- Con chưa ra mũi Hanh, chưa xuống bãi Xép. Nhưng hai chỗ này
nghe nói chỉ đẹp lúc về đêm mà thôi. Trăng thanh gió mát
và lập lòe đèn đóm của những chiếc thuyền con vớt mực
ngoài khơi, trồi lên hụp xuống chớp tắt như đàn đom
đóm. Ba đi ban ngày ban mặt thì có gì là hứng thú...
Có lẽ nếu bắt ba tôi nằm nhà ổng sẽ sanh bệnh vì chưn
ổng là chưn đi, mặc dù đi bộ. Cho nên sáng ngày thứ ba,
ổng cũng đi từ sáng đến chiều. Hết hướng đông sang
hướng tây, hết mặt trời mọc đến mặt trời lặn, và
bây giờ phải theo sao Bắc Ðẩu đi về hướng bắc vì hướng
nam không còn đường đi, giáp ranh với biển. Tuy nhiên bữa
nay ông về nhà sớm hơn mọi khi. Chiều về bước vô cửa,
tôi gặp ông đang ngồi bàn uống nước trà trò chuyện với
mấy đứa cháu nội. Tôi hỏi ngay:
- Bữa nay ba đi đâu chơi?
- Tao đi thăm trại tù, cầu Sấu.
Tôi ngồi vào ghế:
- Mèn ơi, xa quá chừng mà ba đi lên trển làm chi cho mệt
cái thân. Trên đó đâu có gì vui. Chỗ nhốt tụi cay sì-ke
ma-túy, chỗ đóng quân của liên đoàn địa phương quân mà.
Vùng đó là vùng mất an ninh. Tin tức tình báo cho biết du
kích cộng sản đã nhiều lần xuất hiện dọc theo lộ đi về
Hàm Ninh, Dương Tơ. Con vừa mới chấm điểm trên bản
đồ... Lại hải sâm, con nghe nói dân ở Hàm Ninh, Dương Tơ
chuyên về nghề sản xuất hải sâm. Hải sâm nhiều quá nên
người ta không còn đi bắt từng con như ba thấy ngoài bãi
mũi ông Ðội, mà phải dùng ghe cào. Ði cào hải sâm như đi
cào tôm cào cá vậy. Dân ở vùng Hà Tiên, Kiên Lương,
Hòng Ngang nhiều người cũng ra tới đó làm ăn. Nghe đồn
là sau khi bắt họ còn phải ngâm vôi, ướp đu đủ cho nó nhả
nhớt sạch ruột, rồi mới đem phơi khô. Công lao cực khổ
dữ lắm mới bán được. Hải sâm, hải yến, bào ngư...,
cái chuyện ăn của mấy người giàu sao mà cầu kỳ.
- Tao chỉ đi chơi cho biết, trong đời chỉ có một lần.
Nhưng được nữa đường mỏi chưn quá tao lội trở về. May
mà gặp được chú em con chị Bảy tiệm, quê ở Mỹ Tho, cho
quá giang xe honda nên lẹ.
- Sao, ba nói có người ở Mỹ Tho ra đây lập nghiệp?
- Thì chị Bảy bán tiệm hàng xén, bán gạo củi nước mắm
dầu lửa... nào đó tao đâu có biết. Chú em đó nghỉ hè
về đây chơi. Mà chú không có chở về nhà liền đâu, chú
chở tao đi xuống bãi Khem rồi chở vòng lên núi Ðất Ðỏ,
Ðất Ðen gì nữa, chỗ có đường xe hơi đi về quận Dương
Ðông.
Tôi chưa đi Dương Ðông lần nào nhưng đã nghe nhiều huyền
thoại về những cành hoa phong lan đen, về những vườn tiêu
xanh, về một dòng sông thắp sáng bởi những đèn măng xông
trong mùa đánh cá bạc má, và về giống chó săn cứu chủ
giúp người có hai xoáy trên bả vai chạy dài ra sau đuôi. Tôi
nói:
- Ðường đi Dương Ðông xa cả chục cây số đã bị gián đoạn
từ lâu rồi. Không còn ai sử dụng, chỉ để đưa quân đi
hành quân thôi. À, nghe đồn bãi Khem đẹp lắm phải hôn ba?
- Thì nước trong cát trắng, có nhà thủy tạ cất tuốt ra xa.
Hình như mới được ai tu bổ sửa sang, mái tranh chưa sẩm
màu và trụ cừ nhiều cái còn tươi. Lối đi trên cầu còn
lót thêm vĩ sắt cho khỏi trơn trợt. Nhưng, ở ngoài đó
vắng que hà, chỗ để cho học sinh ở Sài Gòn ra đây nghỉ
mát mà, chú em con chị Bảy tiệm nói với tao như vậy.
Có lẽ con người ta lúc về già thì thích tìm đến với thiên
nhiên, thích sống hòa mình vào đất trời, thích khám phá
những gì huyền bí, xa lạ. Tuổi phải dọn mình để lên
thiên đàng, thoát khỏi cảnh tục trần? Tôi đọc được ý
nghĩ đó trong đầu ba tôi. Ðời người chỉ có một lần,
mặc dù ở nhiều nơi, trong nhiều trường hợp. Cho nên lúc
sống cần phải sống hết mình, vì thời gian không bao giờ
trở lại.
Ngày thứ tư là ngày đáng lẽ ba tôi phải theo sao Nam Tào đi
về hướng nam, nhưng vì kẹt đường, kẹt biển nên ông phải
nằm nhà chơi với lũ cháu. Sau giờ tan sở tôi đưa ba tôi
và sắp nhỏ vào thăm căn cứ và bộ tư lệnh. Chụp vài tấm
hình kỷ niệm. Cầu tàu, chiến hạm, sân cờ. Cũng bộ bà
ba trắng, nón cối trắng và đôi dép nhật lèng xèng. Càng
lớn lên tôi càng thương mến ba má tôi, tôi không còn khổ
tâm vì ba má tôi quê mùa như hồi còn nhỏ nữa. Mà tôi
thấy thật sự không ai cười chê mình khi cha mẹ mình không
được "văn minh" đâu. Chỉ tại mình mặc cảm, nghĩ như vậy
mà thôi.
Chiều hôm đó tôi mua vé đò đưa ba tôi về Rạch Giá. Thêm
một ít lộ phí đi đường. Ðã đến lúc tôi làm ra tiền,
tôi phải xài sang hơn một chút. Tôi hi vọng Phú Quốc đã
thỏa mãn ba tôi phần nào nỗi niềm đi cho biết đó biết
đây. Chỉ tiếc một điều là trong những ngày ông ở lại
đây tôi không có dịp nào đưa ông đi ăn tiệm, ăn quán...
Sau này có ở lâu mới biết, tuy phố xá An Thới chỉ bằng
một bụm tay nhưng tiệm ăn, quán nhậu mọc lềnh khênh. Quán
nhậu có nhạc kích động Bò Vàng, quán Biển có nhạc Trịnh
Công Sơn của bên vợ ông Võ, thiếu tá Dương Hồng Võ, quán
ông Ngạc, trung tá Hà Văn Ngạc, quán ông Thanh, trung tá Trịnh
Kim Thanh, quán ông Tư, trung úy Tư, quán ông Lộ, thượng
sĩ Lộ, quán ông Thơm, cảnh sát Thơm, với hai cô con gái
vang bóng một thời, quán Hồng Thịnh... Và cũng có nhiều
nơi cần phải ở lâu mới biết như mấy động điếm trong khu
bãi Xép. Ðộng Kim Thai, tên người cận vệ gốc Miên của
đại tá Kiểm lúc ông còn làm tư lệnh Vùng ở ngoài đó, là
một thí dụ điển hình. Và cũng nên nhắc nhở đến những
căn nhà bí mật trong xóm Ðạo, xóm Chùa đã có một thời là
tổ uyên ương thầm lén của mấy ông lớn...
Phú Quốc đã cho ba tôi một lần đi và cho gia đình tôi một
lần ở. Mặc dù phương tiện và đời sống ở đảo có
phần eo hẹp, nhưng Phú Quốc vẫn tiềm tàng trong lòng chúng
tôi những hình ảnh khó quên. Ðối với riêng tôi, thương
nhớ Phú Quốc là thương nhớ một vùng trời quê hương...
nằm hơi xa đất mẹ.
back to top
03. ÐƯỜNG VÀO BẾN MÊ
NGUYỄN TẤN HƯNG
Những ngày ở Phú Quốc, đối với tôi, quả là những
ngày thanh bình êm ả. Mặc dù tình hình chiến sự càng lúc
càng sôi động. Mùa hè ở đây thật dài, học trò các nơi
hay về đây cấm trại, tắm biển. Hết học trò thủ đô đến
học trò tỉnh lẻ. Cũng vui. Các ông lớn thì không cần đợi
đến hè, vẫn thường xuyên đến đây nghỉ mát, du hí. Hết
tổng trưởng đến tổng nha, hết tư lệnh đến tư lệnh
phó. Cũng sướng. Còn buồn khổ thì chỉ dành riêng cho những
ai có trách nhiệm tiếp đón, sắp xếp chương trình. Lo cho cá
nhân thì còn đỡ, đụng vô đoàn thể bao giờ cũng mệt.
Cuối tuần này đến phiên Phó đề đốc Lâm Ngươn Tánh đi
hưởng nhàn. Săn bắn, câu cá. Làm một cái xả hơi ngắn
hạn. Nhưng ai là người được "ân huệ" tháp tùng theo tư
lệnh phó Hải quân để đi hưởng nhàn ké đây? Tất nhiên
phải là những người cao cấp, thân cận. Tư lệnh hay tư
lệnh phó Vùng chẳng hạn. Hoặc những người có ít nhiều
kinh nghiệm về các môn thể thao ở biển. Như trung tá Nguyễn
Minh Thơ, cựu chủ tịch hội săn bắn dưới đáy biển. Hoặc
giả trung sĩ Nhân, chuyên viên nhổ cồi biên mai sâu thật sâu
trong biển lạnh. Hay là trung sĩ Lành, chuyên viên bắt bào ngư
ngoài hoang đảo, cồn đá ngầm. Và nhiều nhân vật đáng kể
khác nữa...
Rất tiếc những người có thành tích đều đã rời khỏi đảo
từ lâu. Hai chữ thành tích ở đây đôi khi cần phải hiểu
theo hai nghĩa đen và bóng, mới thấy hợp tình hợp lý hơn.
Và chẳng hiểu là một sự trùng hợp hay là một sự xếp
đặt từ trên mà nhiều người có máu mặt của "triều đại
cũ" đều cùng loạt ra đi. Trung tá Thọ về thay trung tá Thơ
nắm chỉ huy trưởng thủy xưởng. Trung tá Mai Mộng Liễn về
thay trung tá Trần Kim Khôi ở chức tư lệnh phó. Trung tá
Khôi về Nha Trang làm chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện.
Thiếu tá Cấn Văn Tâm về thay trung tá Huấn giữ chân tham
mưu phó hành quân. Trung tá Huấn về Sài Gòn làm tùy viên
cho tổng thống Thiệu. Và ngay cả người phụ tá của tôi
cũng bị đưa đi học khóa hải nghiệp vì anh ta là sĩ quan từ
bộ binh chuyển qua.
Một trong những tiết mục lớn vẫn là màn đi câu cá ngoài
khơi. Và tôi tiếp tục thắc mắc không hiểu ai là người
có khả năng nhảy ra cáng đáng, lập công lần này đây? Ở
mặt trận mênh mông này kinh nghiệm chiến trường của tôi,
tôi rất biết, chỉ là con số không to lớn. Ai ngờ rốt
cuộc tôi được đại tá Bá chỉ định đứng ra tổ chức một
đêm thân mật riêng tư giữa trời cao biển rộng, mới là
chết cửa tử. Nghĩ cho cùng đi câu một mình thì cũng dễ
thôi. Thuở thiếu thời tôi đã từng câu ruộng câu đồng,
câu sông câu rạch. Lúc gia nhập hải quân tôi cũng từng câu
doi câu vịnh, câu biển cả đại dương. Câu lúc tàu neo, câu
khi tàu chạy... Kẹt một điều là từ nhỏ đến lớn chưa
lo cho ai, chưa giúp ai đi câu bao giờ.
Tôi bèn hỏi thượng sĩ Nghĩa, đàn em thân tín của tôi:
- Tôi phải lo vụ đi câu cho tư lệnh phó, anh nghĩ mình nên
đi đâu? Xách tàu nào, ghe nào? Mồi rượu ra sao?
Như trúng ngay tim đen, Nghĩa cười hề hề:
- Ông chỉ cần ra nói ông Phong Hưng một tiếng là xong, ổng
đã làm mấy bận rồi.
Tôi ngạc nhiên, hỏi lại:
- Dễ như vậy sao?
Hừ, trên sai mình, mình sai xuống. Sai đàn em. Sai
chuyền. Sai chuyền là tiện lợi nhứt. Ðược, tôi tiếp
luôn, ra lệnh:
- Vậy thì anh nên đi "báo động" ngay cho ông ấy đi. Cứ
làm đúng theo thủ tục xưa nay.
Nói thì nói vậy chớ tôi nào biết thủ tục xưa nay là như
thế nào. Nhưng, Nghĩa lại sợ:
- Tôi đi thông báo cho ông thì được rồi, nhưng một mình
tôi đi theo ghe thì thực sự không bảo đảm chút nào hết...
Tôi chẳng hiểu Nghĩa muốn nói gì. Hắn làm gì được cái
diễm phúc đi câu với ông tướng mà dám nghĩ ngợi xa vời,
tôi gạt ngang:
- Cái gì mà anh phải đi theo ghe với không đi theo ghe? Cứ
nói với ông Phong Hưng là đích thân tôi sẽ đi theo ghe với
ổng để đón tư lệnh và đô đốc Tánh.
Nghĩa như hiểu ý, cười:
- Không phải vậy đâu ông ơi. Theo thủ tục giang hồ là ông
phải cho nó vô vùng cấm đánh cá, đánh một mẻ lưới rồi
mới lo mồi, chịu rượu, đưa ghe cho ông đi chớ. Nói khơi
khơi thì sức mấy mà nó làm.
Tôi vỡ lẽ:
- Ðù me, vậy thì tụi nó lợi dụng mình quá.
- Ở đời mà ông, có qua có lại. Vả lại tụi nó phải bao
một mẻ lưới mới có cá vụn, mực con làm mồi. Mồi đây
là mồi thiệt để móc vô lưỡi câu. Ông thấy hôn, không
những mồi mà còn lưỡi câu, cần câu, dây nhợ, phao
chì... vân vân, ông cũng khỏi phải lo gì hết. Ông còn
đòi hỏi gì nữa?
Xế chiều ngày đó, tôi đích thân theo ghe cào của hãng
nước mắm Phong Hưng ra khơi. Mục đích chính của tôi không
phải là để đỡ đạn đỡ đòn, lỡ khi tàu hải quân của
mình dám bắt quả tang trưởng phòng Nhì đi đánh cá với chủ
nhà thùng trong vùng cấm, mà là để tìm tòi học hỏi xem ngư
phủ của mình đánh cá cơm làm nước mắm như thế nào. Một
hân hạnh thì đúng hơn, vì không một anh "chài dọc" nào muốn
đem cái thiện nghệ của mình truyền cho người khác. Trên
ghe đánh cá cơm, chài dọc còn cao hơn thuyền trưởng một
bực. Nói cho ngay thuyền trưởng, tài công, tài cải, tài
con gì gì cũng phải râm rấp thi hành lệnh của chài dọc. Vì
họ biết rõ rằng gia đình vợ con của họ có rủng rỉnh chút
đỉnh đồng tiền, hoặc là nồi cơm bị bể thì trăm sự
cũng nhờ vào ông tướng chài dọc của họ mà họ đang phò
dưới trướng. Chài dọc làm tiền dễ như in bạc, vậy mà
thường thường chài dọc vẫn phải mượn tiền của chủ hãng
để trang trải nợ nần trước khi đi biển. Thế mới lạ.
Chài dọc nghèo chỉ vì nghiệp đánh bài. Mà thử hỏi trên
đời này có chài dọc nào mà không biết chơi đen đỏ?
Giữa trùng dương xuất trận, chài dọc thủ thế của mình ở
đỉnh cao tuyệt đỉnh: ngọn cột buồm. Ghe cào tung hoành ngang
dọc trên mặt biển tùy theo những cái chỉ tay của người
điều khiển trận đồ. Giống như lâm trận phất cờ làm
hiệu trong thời chiến quốc. Những bầy cá cơm đi nổi
thành đàn làm lâm râm mặt sóng. Những bầy cá cơm đang đi
ngầm dưới nước chưa vội trồi lên ăn mống. Những bầy
cá cơm có lẫn một ít cá nục cá ngân đi chung. Bầy nào
lớn, bầy nào nặng cân? Bầy nào ngon, bầy nào dở? Vài
con hải âu lượn qua lượn lại như muốn điềm chỉ, phụ họa
cho một quyết định tối hậu? Vì một lần đi là một lần
thả lưới, không có lần thứ hai. Cá, cả tấn trở lên.
Ngập khoang, ghe chở không nổi không hết. Có lần thứ hai
thì tên chài dọc đó kể như vứt đi, vừa tốn công vừa
mất sức cho những người đã dốc lòng theo mình đi "bạn."
Vì không có thì giờ và nể tình tôi chỉ muốn xem đánh cá
biểu diễn, anh chài dọc ra hiệu cho ghe quành một vòng bao
vây bầy cá. Ðống lưới nằm trên ghe tuôn ra đều đặn,
nhịp nhàng đúng điệu. Rồi giáp mí trong phút chốc. Máy
kéo lưới bắt đầu chạy, lòng lưới thu nhỏ lại từ từ.
Và một mẻ cá vài trăm ký đổ vào khoang.
Về đến bến thì trời tối hẳn và mảnh trăng tròn cũng
bắt đầu ló dạng. Cho ghe cặp cầu bộ tư lệnh, tôi lội
bộ vào dinh gặp đại tá Bá để phúc trình mọi diễn tiến.
Một lúc sau phái đoàn tụ họp đông đủ. Ðô đốc Tánh,
đại tá Bá, vài ba người nhà và đám cận vệ thân tình.
Trung tá Trần Văn Hản, chỉ huy trưởng Hải đội 4 Duyên
Phòng, và thiếu tá Tâm cũng có mặt. Chỉ có ba ông lớn và
người nhà mặc civil, từ thiếu tá Tâm trở xuống đều
mặc quân phục.
Ghe rời cầu, xả máy ra khơi. Biển đêm nay yên lặng, rất
lý tưởng cho mấy đồ đệ của Khương Tử Nha chơi trò câu
thời câu vận. Tôi cho ghe neo phía tây hòn Thơm, núp sóng.
Mặt biển bàng bạc như một mặt hồ trát vàng. Bàng bạc vì
có ánh trăng của một ngày vào thu. Và gió thu hiu hiu thổi.
Trong lành, mát mẻ. Ôi, còn gì thú cho bằng. Nỗi vướng
bận trong lòng vì sự vô lý của lửa chiến tranh đang hồi
sôi sụt cũng phải chìm xuống tiêu tan trước cảnh êm đềm
đẹp đẻ của thiên nhiên. Tôi lánh xa mấy ông lớn để họ
dễ bề trò chuyện và cũng để khỏi lâm vào bí trận "gỡ
cá móc mồi." Ðô đốc Tánh hình như không nhớ ra là tôi đã
có một thời oanh liệt ở hành quân Sông. Tôi cũng "khiêm
nhường" để cho thân thế của mình chìm xuống. Vì chính
tôi, tôi muốn mình thật sự hưởng nhàn. Cho riêng tôi.
Trong nỗi cảm thông bao la của đất trời, của biển cả mông
mênh...
Ðó, bấy lâu nay trên đất Phú Quốc chỉ có lần đi câu đó
là tôi có chút ít trách nhiệm bổn phận. Ngày qua ngày công
việc trong phòng, văn thư công điện, hồ sơ phúc trình... tôi
giao cho thuộc cấp của tôi làm hết. Càng lớn lon càng làm ít
việc là vậy. Mà thử hỏi, thực sự có việc gì để làm
ở cái đảo xa xôi lữ thứ này chớ?
- Có, có nhiều thứ lắm. Chỉ tại vì thời của mi chưa
tới, mi chưa có cờ trong tay thì làm sao mi phất.
Vận mệnh đảo Phú Quốc đã trả lời với tôi như vậy.
Phải chờ thời, đợi thế. Và theo lịch sử xưa nay cho
biết, thời thế vẫn hay đãi ngộ anh hùng. Bằng chứng là
sau khi tư lệnh phó Hải quân rời đảo độ vài tuần thì tình
hình Phú Quốc bắt đầu hết sức sôi động. Trầm trọng,
mãnh liệt. Sôi động đây không phải là du kích Việt Cộng
đã được tăng cường chiến xa T 54, đang cày nát đảo.
Sôi động đây cũng không phải quân chính qui Bắc Việt dám
đưa máy bay MiG vào thả bom An Thới. Mà sôi động đây là
sự xâm nhập hải phận của các tàu đánh cá Thái Lan. Và
sôi động đây là hàng buôn lậu được tấp nập đưa vào
vùng Hà Tiên, Kiên Lương, và Rạch Giá.
Một buổi sáng rất bình thường, nhưng tôi có lý do riêng
phải đi làm trễ, vừa bước chân vào phòng thì thượng sĩ
Nghĩa báo cáo theo kiểu đưa hơi:
- Ðại úy, ông có xuống cầu tàu thăm tàu Thái Lan chưa?
Làm những động tác quen thuộc: để nón kết-bi lên đầu
tủ hồ sơ mật, trịnh trọng ngồi vào ghế, đốt điếu
thuốc đầu ngày, rít một hơi dài. Tôi chễm chệ hỏi
lại:
- Tàu Thái Lan nào?
- Thì tàu Thái Lan do HQ 619 bắt được ngoài khơi hòn Nam Du
mới dẫn độ về mình tối hồi hôm nè. Tôi tưởng ông hay
rồi. Chớ trung tâm hành quân không thông báo cho ông sao?
- Cái gì?
Tôi chụp vội cái kết-bi đội lên đầu, tiếp:
- Anh đi theo tôi.
Quái đản thiệt, chuyện gì đàn em cũng biết trước mình.
Ở lâu rồi mà cũng chưa nắm vững tình thế, tôi tự trách
như vậy.
Lần lần rồi ông sẽ hiểu mà
, trung úy Sơn
một lần đó đã nhắn nhủ với tôi. Sơn đổi đi lâu rồi
mà tôi nào đã hiểu. Tệ thiệt. Nhưng trước sau gì nghề
sẽ dạy nghề, có đụng chạm mới có kinh nghiệm. Ðoạn
trường ai có qua cầu mới hay. Phòng Nhì mà, chẳng ai khơi
khơi mà bộc lộ nỗi lòng người-biết-quá-nhiều của mình,
tôi nghĩ vậy.
Ðến cầu tàu tôi mới thấy tàu cá Thái Lan lớn thiệt,
không thua gì chiếc tuần dương đĩnh PGM của hải quân mình.
Mũi cao lên ngạo nghễ, đài chỉ huy hai tầng rộng rãi màu
mè. Cần trục chuyển hàng, chuyền cá, câu nước đá cũng
có. Tôi lấy làm lạ vì một thằng người đen đúa vận
xà-rông đến ngang lưng, thoa phấn thoa bột phần trên trắng
sát đang đứng dưới tàu ngó lên. Búng tàn thuốc bay vèo
xuống biển, tôi hỏi:
- Ê, cái thằng mọi này làm gì ở đây, Nghĩa? Còn thủy
thủ đoàn của nó trốn đi đâu?
- Tôi nhốt nguyên băng mười lăm mười sáu trự vô chuồng
cọp rồi. Phải để một thằng ở lại cho nó coi tàu. Lỡ
có đứt dây, vô nước mình khỏi phải chịu trách nhiệm.
Bề gì tàu của nó, nó phải lo, an toàn hơn.
Tôi nhảy ngang qua đài chỉ huy, chui vô phòng lái. Từ vách
phòng, sạp ngủ, hộc tủ đựng dụng cụ hải hành cho đến cái
tay lái hình bánh xe nước mía đều làm bằng cây, đánh
vẹc-ni bóng láng. Một máy vô tuyến viễn liên màu xám tro
gắn chặt trên trần. Từ hải phận Việt Nam mà liên lạc
thẳng về Bangkok thì cũng là loại máy quá tốt, quá mạnh. Máy
đo chiều sâu, máy dò cá cũng được trang bị đầy đủ.
Tôi tụt thang xuống phòng ngủ nhân viên. Hai sạp gỗ hai bên
còn ngỗn ngang áo quần, khăn khiếu và những vật dụng linh
tinh cá nhân. Nồng nặc hơi người. Ði thẳng ra sau là nhà
bếp, nhà bàn. Nước mắm, xì dầu, ớt ngâm dấm, tỏi
ngâm dấm chất đầy kệ. Gạo đầy thùng. Một chuyến đi
ít lắm cũng đôi ba tuần hoặc cả tháng, phải dự trữ đầy
đủ. Một cầu thang xuống hầm máy tối om. Chẳng có gì
hấp dẫn ở dưới đó, tôi trở ra sân trước. Ðống
lưới cào to như cái núi nhỏ nằm bất động. Năm khoang
tàu, năm hầm cá. Nghĩa ra dấu cho tên giữ tàu lật mấy
nắp hầm sang một bên. Chỉ có một hầm cá được ướp
nước đá xay nhỏ, ba hầm kia trống và một hầm chứa nước
đá cây. Bươi nước đá lên, bên dưới đủ thứ cá. Cá
thu, cá ngừ, cá hồng, cá mú, cá ngân, cá nục, cá bạc
má, cá chim, cá lưỡi trâu. Cá thu to đen như khúc than
đước. Cá chim, cá lưỡi trâu lớn như cái dĩa bàn. Thêm
mực và tôm để riêng ra một góc. Tôi vọt miệng:
- Nghĩa à, nên đêm lên một mớ tôm cho tư lệnh.
Nghĩa cười:
- Ông khỏi lo vụ đó ông ơi, đệ tử của ổng xuống lấy
rồi. Mớ tôm nhỏ này là ổng chừa lại cho ông đó.
- Ðệ tử của ổng xuống đây hồi nào? Ði với ai?
- Hồi sáng sớm kia, mở cửa phòng một chút là nó mò tới.
Tôi với thằng Diện bên an ninh dẫn nó đi luôn. Bữa nay
ông đi làm trễ quá mà.
- Ừa, như vậy cũng được. Nhưng, đầu đuôi nó nói ra
sao anh lập lại cho tôi nghe coi.
- Thì nó nói tư lệnh biểu ông lấy tôm cho ổng. Thế
thôi.
Bữa nay sở dĩ tôi ngủ muộn đi làm trễ là tình thiệt tôi
có lý do riêng: vợ đẻ con đau. Không khí Phú Quốc coi vậy
mà rất độc cho trẻ con. Hết cảm sốt thì đến tiêu chảy,
hết đứa này thì tới đứa kia. Mà thuốc tây uống hoài
không dứt căn mới kỳ. Vợ tôi đổi qua thuốc nam, thuốc
bắc. Cảm cúm thì có thuốc tán ngoài tiệm tạp hóa còn tiêu
chảy thì nhờ người quen đi tìm đọt lựu, vỏ lựu. Mấy
cây lựu bạch của bà bác ở xóm Ðạo ra lá muốn không kịp.
Ðúng ra hồi nửa đêm hôm qua thằng con trai kế của tôi không
phải cảm cúm, tiêu chảy mà là làm kinh. Tôi chưa thấy ai
làm kinh tận mắt bao giờ. Vợ tôi cũng vậy. Sợ con nó
cắn lưỡi nên quýnh quáng xuống nhà bếp lấy muỗng nhôm
chận họng. Rồi sợ nó chết ngộp vì bọt mồm bọt mũi sùi
sụt, tôi nghe lời vợ kê miệng hút. Phun ra. Gớm ơi là
gớm. Mà vẫn làm được. Lật đật đi vắt chanh, đổ.
Sợ quá, réo luôn cả hàng xóm, vợ chồng đại úy Phạm Xuân
Kha, chỉ huy phó căn cứ ở sát bên vách, để hỏi ý, trấn
an. Không còn biết mắc cỡ vì mùi "hạnh phúc" nồng nặc
tỏa ra trong mùng. Cái tội vợ chồng con cái cả bầy vẫn
thường ngủ chung. Sợ thiệt. Tại sao lại xảy ra cho con
mình? Biết chạy chữa thế nào đây? Bồng lên ông thầy
thuốc hoàn, thuốc tễ ở xóm Ðạo để ổng mài xương cọp
xương voi cho uống như mọi khi? Thiệt là nan giải!
Ðầu óc tôi bấy giờ vẫn còn lơ lửng nỗi kinh hoàng về
vụ thằng nhỏ làm kinh. Chỉ một đêm thức đêm canh bịnh,
sợ nó giựt giựt trở lại, chỉ một đêm ngủ muộn dậy
trễ mà tôi không nắm vững tình hình. Ðể đàn em giải
quyết chuyện lớn, may là đàn em mình giàu kinh nghiệm. Tôi
quay qua hỏi Nghĩa:
- Bắt tàu Thái Lan như vầy thì theo thủ tục mình phải làm
những gì?
- Trước hết mình đánh công điện báo cáo về phòng Nhì Sài
Gòn. Kế đến là thẩm vấn từng tên một, lấy khẩu cung
lập biên bản. Chụp hình làm hồ sơ lưu. Mục đích chính
là điều tra coi tụi nó có chở vũ khí tiếp tế Việt Cộng
hay không, có chở xì-ke bán vô xứ mình hay không. Nhưng
đời nào có chuyện này, tụi nó xưa nay chỉ sang đây đánh
cá trộm mà thôi. Biển mình nhiều cá vì không có ghe cào
lớn, không ai có khả năng đánh cá xa ra ngoài khơi. Sau
cùng, mình giải giao qua quan thuế Rạch Giá rồi nằm nhà chờ
lãnh tiền thưởng.
- Lãnh tiền thưởng? Ai thưởng cho mình và thưởng được
bao nhiêu?
- Phần mình không có bao nhiêu đâu ông ơi, năm bảy trăm một
ngàn trở lại. Mặc dù chiếc nào chiếc nấy đến mười
lăm hai chục triệu tiền thưởng là thường. Tại vì danh
sách lãnh thưởng lên tới cả chục ngàn lận. Bên hải quân
mình tính từ tư lệnh xuống tới tên tân binh của chiến hạm
có công phát giác, chận bắt. Trong đó dĩ nhiên cũng có
đại tá Bá, trung tá Liễn, thiếu tá Tâm rồi dài dài xuống
phòng mình, trung tâm hành quân. Bên quan thuế thì cũng
vậy, tính từ ông tổng nha xuống đến thằng tà-lọt của
ông trưởng ty quan thuế Kiên Giang. Mà mấy ông lớn ngồi
không ở trên lại được chia nhiều mới là ác chớ...
Tôi cắt ngang:
- Tóm lại mình chẳng ăn được cái giải gì hết? Tưởng là
trúng mánh lớn, ai dè cũng làm mọi không công!
Nghĩa cười hề hề, châm biếm:
- Không những không ăn cái giải gì mà mình còn mệt ngất ngư
nữa mới chết. Năm bảy trăm, một ngàn đồng bạc đó ba
bốn năm sau ông mới lãnh được. Chắc gì ông còn ở đây.
Thủ tục dân chính của quan thuế mà chớ đâu phải thủ tục
nhà binh của hải quân mình đâu. Mình giữ tụi này tối đa
cũng một tuần trở lại. Mà chuyện ngay trước mắt rồi
ông sẽ thấy, con nhà Danh Un của mình bây giờ mới có công
việc làm. Nuôi bao nhiêu năm mới sử dụng được mấy
ngày. Chỉ mình nó có khả năng nói chuyện tào lao tâm đế
với tụi Thái. Nói không phải nói, nó sợ tàu mình bắt tàu
Thái Lan ông ơi. Một lát ông coi, mặt nó nhăn như khỉ.
Nhưng tôi lóe lên một sáng kiến:
- Ê, còn hầm cá ướp lạnh này thì mình tính sao đây Nghĩa?
- Giao cho mấy thằng em có trách nhiệm hộ tống tàu Thái Lan
qua Rạch Giá. Kiếm chút đỉnh tiền đường. Nhưng mà để
tôi cho tụi nó bưng lên nhà ông một mớ, ăn không hết thì
xẻ khô hoặc đem chia bớt cho bạn bè.
Ngừng một chút Nghĩa tiếp:
- À, ông chịu chơi súng Thái Lan hôn? Thằng thuyền trưởng
có cây súng nhỏ đẹp lắm. Chỉ có thuyền trưởng mới có
quyền giữ súng thôi, đó là thông lệ trên tàu cá Thái Lan.
- Ðể coi. Mình thiếu cha gì súng lớn súng nhỏ.
- Tùy ông hà, không xài thì ghi vô biên bản.
Khều thằng Thái coi tàu đậy mấy nắp hầm trở lại, tôi
và Nghĩa hai thầy trò lót tót trở lên phòng. Tấp vô nhà
tù coi mắt luôn cả đám. Một lũ người ngợm được thả
lỏng trong vòng rào kẽm gai giăng cao khỏi đầu, trông không
khác gì tù thứ thiệt, tù Việt Cộng. Ðứa thì quần đùi
áo thung, đứa thì quần tây áo sơ mi bỏ ngoài, đứa thì
vận mỗi cái xà-rông. Khăn rằn khăn màu quấn cổ đội
đầu. Chân dép chân trần. Phì phèo hút thuốc. Chỉ lạ
một điều là đứa nào cũng chịu khó dồi phấn thoa sải,
không phải trên mặt thôi mà khắp mình mẩy châu thân. Ðứa
nào càng đen càng nổi bật.
Ngày vui qua mau. Vui là trong lúc thẩm vấn tôi thấy tụi Thái
nhiều lúc cười sặc sụa, không vẻ gì sợ sệt. Lấy thù
làm bạn? Ông hạ sĩ nhất thông dịch viên Danh Un này chẳng
biết ăn nói với lũ đó ra sao? Có hỏi thì nó nói rằng chỉ
giải thích cho thủy thủ đoàn Thái Lan hiểu rõ thủ tục xứ
mình, cho tụi nó chuẩn bị tinh thần trong những ngày bị giam
giữ sắp tới. Qua mau là tại vì thằng Un phải làm việc
đêm ngày, hoàn tất cuộc thẩm vấn sớm chừng nào hay
chừng nấy, để lên đường đi Rạch Giá giải giao trước khi
hầm cá dưới tàu bị tan nước đá.
Chẳng biết đàn em liên lạc với ghe dân như thế nào để
bán cá. Chẳng biết đàn em thông đồng với thủy thủ đoàn
tàu PCF hộ tống ra sao để chuyến hải hành đặc biệt này
được biển êm sóng lặn.
Chuyện lãnh tiền thưởng về tàu cá Thái Lan chung qui chỉ là
chuyện xa vời. Năm bảy lần tôi có tên trong danh sách mà
suốt đời chẳng hưởng được một đồng xu. Lúc đó
thiệt tình tôi chẳng thèm quan tâm đến điều này cho lắm.
Tôi chỉ xem đó là trò chơi một chiều, cá ăn kiến mà không
có kiến ăn cá. Chuyện đáng để cho tôi quan tâm phải là
chuyện ghe buôn lậu xâm nhập hải phận Hà Tiên, Kiên
Lương. Và tôi đã tìm ra giải đáp cho bài toán...
lần
lần rồi ông cũng hiểu mà
, do trung úy Sơn, cựu phụ tá
của tôi đề ra trước đây.
Chiếc ghe buôn lậu đầu tiên tôi vớ được là một chiếc
ghe không phải nhỏ, do HQ 229 khám phá, chận bắt trong vùng
Bắc Ðảo. Hơn nửa ngày sau ghe mới được hộ tống về
đến nơi. Ghe và chiến hạm được lệnh cặp cầu bộ tư
lệnh. Lần này đích thân tôi xuống chiến hạm ký giấy bàn
giao với ông hạm phó, đại úy Nguyễn Khắc Hải, lại là
thằng bạn thân cùng khóa với tôi. Nó cũng như ông hạm
trưởng của nó chẳng thèm để ý trên ghe chở bao nhiêu
hàng. Có súng ống, ma túy, hoặc hàng quốc cấm hay không
thì cũng vậy. Biết để làm gì? Nó chỉ biết ký cho lẹ
đặng vọt đi bờ. Thời gian vài ngày cặp bến bao giờ cũng
ngắn ngủi và rất thần tiên. Phải tận hưởng. Tôi hỏi
thăm bạn qua loa rồi cùng Nghĩa va Un nhảy xuống coi mặt sơ sơ
thủy thủ đoàn và mớ hàng hóa.
Một người đứng tuổi mặc quần tây xám áo sơ mi trắng và
bốn người trai trẻ mặc áo quần đậm màu, đen hoặc nâu,
đứng sát vào nhau trong góc cabin. Tất cả khe ne khúm núm cúi
đầu chào, hai tay chấp lại như muốn xá dài. Lại bất
đồng ngôn ngữ.
- Un, hỏi thằng chủ ghe coi ghe này xuất phát từ đâu.
Sau một hồi "mặc cà răng chăng bon," Un lên tiếng:
- Tụi nó cho biết ghe này khởi hành từ Thái Lan, đại úy.
Nhưng thằng chủ gốc của nó thì nằm ở Nam Vang. Tàu.
Thằng chủ ghe này cũng người Tàu, nói tiếng Thái như các
chú nói tiếng Việt.
- Còn đâu là điểm đổ hàng?
Khỏi cần hỏi lại thủy thủ đoàn, Un trả lời luôn:
- Dạ, đi biên giới Hà Tiên, đại úy.
Mặc Un tiếp tục đàm đạo với đồng hương đồng chủng của
nó, tôi quay qua hỏi Nghĩa:
- Như cái vụ này, theo thủ tục của phòng Nhì thì mình phải
làm gì đây?
- Thì cũng tương tự như tàu cá Thái Lan thôi. Trước hết
là công điện báo cáo về Sài Gòn. Kế đến thẩm vấn,
điều tra lập biên bản. Sau cùng thì cũng đưa nó qua quan
thuế Rạch Giá.
- Sao cái gì cũng phải đưa qua quan thuế hết vậy?
- Tại tụi này là dân sự mà, đâu phải Việt Cộng.
Tôi lại quay qua Un:
- Hỏi mấy tên này coi trên ghe chở những gì, Un.
- Tụi nó mới nói ngoài mấy món linh tinh như tiêu tỏi, đậu
xanh, đường cát, dép nhật, dầu gió, đá hộp quẹt... hai
món chính là khoảng một trăm bành vải và một trăm ký đường
hóa học.
Nghĩa xen vào:
- Vậy là chuyến này mình trúng mánh lớn rồi đại úy
ơi...
Tôi phân vân chưa biết mánh lớn mánh nhỏ trúng như thế nào
thì tự nhiên như ruồi, Nghĩa lên mặt đàn anh:
- Un nè, cho một thằng ở lại coi ghe còn bốn thằng kia dẫn
đem nhốt nghe mậy. Nhớ không cho thằng nào đem món gì lên
hết nghen.
- Khỏi lo ông thầy, tui rành mà.
- Thôi, mình đi lên đi đại úy.
Kể như giao sứ mạng cho thằng Un, tôi và Nghĩa nhảy lên cầu
tàu, đi về phòng. Nghĩa kéo ghế ngồi bên tôi, trịnh
trọng nói:
- Tôi muốn bàn với ông chuyện này.
- Chuyện gì?
Nghĩa thong thả đặt vấn đề:
- Hồi giờ ông chưa biết, nhưng theo truyền thống xưa nay ở
đây là mình vẫn lập biên bản sụt hàng. Lấy thí dụ một
trăm bành vải chẳng hạn, mình ghi hai mươi lăm, năm chục là
tùy mình. Số dư ra đem bán, một phần ba cho hải quân,
một phần ba cho quan thuế và một phần ba cho lại thằng chủ.
Ðó là vừa ăn mà vừa tạo phước đức. Ông nghĩ coi, nếu
mình ghi chẵn chòi một trăm bành thì quan thuế bắt buộc
phải tịch thu một trăm bành. Thế thôi. Nhập kho một trăm
bành thì mình chẳng ăn cái giải gì, thằng quan thuế cũng
chẳng ăn cái giải gì mà tội cho thằng chủ. Hàng tịch thu
càng nhiều thì tiền phạt cũng càng nặng, lạng quạng nó phải
bán luôn chiếc ghe mới đủ đóng. Ông thấy hôn? Chiếc ghe
này tổng sản lượng ít lắm cũng cả chục triệu, ông phải
tìm cách giúp thằng chủ.
Rõ ràng là chân lý, chân tình. Không đánh cũng phải khai.
Ăn mà chỉ có ân không có oán? Chuyện gì lạ vậy? Tôi
ngẩn ngơ:
- Thiệt có chuyện này hả Nghĩa? Nhưng anh nghĩ coi, một
mình tôi tôi đâu dám quyết định làm chuyện ghê gớm táo
bạo như vậy.
- Thì đó là chuyện giữa ông và ông tư lệnh. Tôi đinh ninh
ông tư lệnh mới của mình cũng không rành đường đi nước
bước về truyền thống mờ mờ ảo ảo này đâu. Lẽ dĩ
nhiên ổng phải đồng ý, chấp nhận bật cái đèn xanh thì xe
mình mới chạy được. Mặc dù ủy ban khám xét kiểm kê có
ba thành phần, giấy trắng mực đen đồng ký tên vào là
mình, an ninh và cảnh sát nhưng tư lệnh vẫn phải khán và
đóng mộc. Ông chỉ lo phần ông tư lệnh thôi, còn hai thành
phần kia thì tôi đã mua đứt rồi. Ngựa quen đường cũ,
hễ tôi đưa giấy tờ là tụi nó ký thôi. Mỗi lần đi giải
giao ghe buôn lậu, mình phải cầm trong tay hai biên bản: một
cái ghi thẳng thừng, còn một cái để trống đặng du di.
- Anh nói rằng cái đám an ninh và cảnh sát cũng đồng ý ký
luôn trong cái biên bản để trống?
- Ông muốn vậy cũng được. Hoặc là ông bàn giao với quan
thuế xong xuôi rồi đem về cho tụi nó ký cũng không sao. Tụi
này dễ mà, ký lấy tiền ký đi nhậu thì đời nào thằng
nào lại không ký. Chỉ kẹt ông tư lệnh thôi. Ông phải lo
vụ này, tôi với không tới.
Lại một lần nữa tôi rơi vào cảnh... đã được tiên
liệu trước của đám đàn em. Như những cái bẫy đặt
sẵn, chờ khi nào đụng tới là nó sập. Chẳng trách những
chuyện tối mật này đàn em không nói cho mình nghe. Không ai
khơi khơi mà mở miệng ếch. Không ai khơi khơi mà vạch lưng
cho người xem thẹo. Tôi tức tốc trình diện đại tá Bá
trình bày tự sự, và kết thúc như sau:
- Ðó là tất cả những gì bí ẩn, mánh mung của phòng Nhì mà
tôi biết được. Trong lãnh vực này, nếu commandant tin
tưởng ở tôi thì commandant chỉ thị trực tiếp xuống tôi,
tôi làm. Còn nếu commandant không tin tưởng ở tôi thì
chuyện phòng Nhì kể như theo hệ thống quân giai, qua tư
lệnh phó, tham mưu phó hành quân.
- Ðược rồi. Trên phương diện này, phòng Nhì trực tiếp
thẳng lên tôi. Nhưng anh cũng phải biết khôn khéo, dè
dặt, tránh mọi đụng chạm...
Tôi hài lòng tuân lệnh:
- Dạ. Tôi biết, commandant.
Lúc tôi sắp mở cửa rời phòng thì đại tá Bá chỉ thị
thêm:
- Nè..., anh đem lên một bành vải tốt, xé cho sĩ quan mỗi
người một hai cái quần.
Tôi định phản đối, rồi không biết sao ú ớ:
- Dạ...
Trở về phòng mà lòng vẫn còn phân vân. Một hai cây vải
cho tư lệnh thì phải một hai cái quần cho sĩ quan? Ông này
chỉ vì thương sĩ quan mà hại trưởng phòng Nhì. Không khéo
có người chê vải tốt vải xấu, kỳ kèo chia ít chia nhiều
thì vỡ nợ. Và tai tiếng nữa, trưởng phòng Nhì tự tung
tự tác muốn làm gì thì làm. Bí mật này rồi làm sao mà
giữ được. Cả bộ tư lệnh biết bao nhiêu là sĩ quan, làm
sao mà bụm họng hết cho được. Và lòng dạ con người ai ai
cũng có sẵn mầm mống ích kỷ, ghen ghét. Trâu cột ghét
trâu ăn... Ðiều tiên đoán của tôi quả không sai, nhưng
chuyện lùm xùm không do mấy ông sĩ quan mà do mấy bà sĩ quan
phu nhân. May là tôi nhanh tay lẹ chân thỏa mãn mọi yêu cầu,
giải đáp mọi thắc mắc nên không có gì trầm trọng xảy ra.
Cuộc điều tra, thẩm vấn chấm dứt trong ba ngày. Chỉ
riêng một mình thằng chủ ghe người Tàu được rỉ tai kế
hoạch "cứu độ" của phòng Nhì. Nó mừng lắm, vui lòng ký
tên vào biên bản viết bằng ba thứ tiếng: Việt, Thái và
Tàu. Cũng còn vớt vát lại chút đỉnh nếu kế hoạch này
tiến hành trôi chảy.
Kỳ này tôi sẽ đích thân chỉ huy mặt trận tiền phương.
Tôi sẽ đích thân giải giao chiếc ghe buôn lậu này cho quan
thuế Rạch Giá. Vả lại, tôi cũng muốn diện kiến trưởng
ty quan thuế Kiên Giang, coi người bạn sẽ đồng hành với
mình trong tương lai là ai. Có phải ba đầu sáu tay hay không?
Tháp tùng theo tôi có Nghĩa và Un. Ðứa nào cũng lận colt 45
như là cận vệ đỡ đạn, làm tôi cứ tưởng mình là một
trùm CIA thứ thiệt không bằng.
- Chơi với tụi buôn lậu tốt hơn hết là phải đề phòng,
mình lơ mơ nó thịt mình như nhái.
Nghĩa tả oán với tôi như vậy.
Chiều hôm đó trời trong gió mát, nhưng tôi phải từ giã vợ
con lên đường. Xuống duyên tốc đĩnh, PCF. Chỉ cần một
đêm trăng sáng vườn chè, mây che đầu núi thì tàu và ghe
sẽ đến nơi. Nhưng ngay bây giờ đang đi ngang mũi ông
Ðội. Sóng ngược, gió ngược. Trồi lên hụp xuống,
mấy bận muốn chìm. Hai máy tiến full mà nhiều lần tàu
như đứng nguyên một chỗ, chờ ngọn sóng ụp lên. Gió từ
đâu tới, và nước chảy về đâu? Ðó, nguyên tắc nằm
lòng của hải quân. Nhưng, giữa trùng khơi mênh mông này thì
nước chảy chiều nào mà có sóng ở trong lòng? Sóng
ngược! Không phải dòng nước nóng Kuroshio trong Thái Bình
Dương, cũng không phải dòng nước lạnh Canaries trong Ðại Tây
Dương, vậy thì dòng nước nào chảy trong vịnh Thái Lan?
- Chỗ này lúc nào cũng vậy đại úy ơi. Nước chảy xiết
như trong sông.
Trung úy thuyền trưởng nói lớn, át luôn tiếng sóng cho tôi
nghe như vậy. Hèn chi. Tàu lớn của vua Gia Long còn xấc
bấc xang bang thì xá gì tàu con PCF của mình. Tại sao gọi là
mũi ông Ðội? Phải chăng một thầy đội nào đó đã cứu
vua Gia Long?
Qua cơn sóng ngược gió ngược, tôi ngất ngư chui xuống cabin
ngủ vùi một đêm, không thèm đếm xỉa gì đến chuyện sao
rơi trăng rụng trên hòn Nghệ, hòn Tre nữa.
Sáng ngày, PCF cặp vào ghe buôn lậu. Tôi nhảy sang. Nghĩa
cho ghe chạy theo xuồng gắn máy đuôi tôm mò đường vào
bến. PCF hết nhiệm vụ với phòng Nhì, thẳng đường đi
công tác, trực chỉ hòn Khoai. Vàm sông Kiên Giang, bên kia
là bến tàu đò và chợ Rạch Giá, bên này là ty quan thuế
tôi mới để ý nhìn kỹ lần đầu. Chiếc tàu cá Thái Lan to
lớn bị bắt mấy tháng trước vẫn còn nằm ụ. Chờ đám
đi buôn này cho có bạn. Mặc dù cảnh trùng phùng hội ngộ
có phần éo le, nhưng gặp lại đồng hương trên xứ lạ quê
người thì còn gì bằng. Hai bên chào mừng nhau chí chóe.
Chỉ cột một dây mũi, ghe nằm xuôi theo dòng nước. Cây
đòn dài bắc ngang, tôi phóng lên bờ thân hành tiến vào sào
huyệt của quan thuế. Nghĩa đi theo tôi, Un nằm lại dưới
ghe. Chỉ một ngôi nhà trệt? Bước qua dãy cửa rộng mới
biết đây là một nhà kho. Xung quanh mình toàn là bao chỉ
xanh: bao vải, bọc đường, chứa tỏi, đựng tiêu, nhốt
đậu xanh... Hàng lậu! Như vậy thì không riêng gì hải
quân mình tiếp tay làm giàu cho quan thuế, cho chính phủ. Qua
một lần cửa nữa tôi mới gặp vài ba nhân viên, vài ba bàn
giấy mất hút trong vựa chất hàng. Mùi ẩm mốc xông lên
ngập mũi. Nghĩa mở lời:
- Ðại bàng tôi cần gặp xếp lớn của mấy anh. Kỳ này đại
bàng tôi định trao cho xếp lớn mấy anh một món quà lớn
lắm đó.
- Vậy à. Mời hai ông thầy ngồi chơi, chờ tôi đi thông
báo.
Cái gì mà một điều đại bàng, hai điều đại bàng. Hải
quân đâu có xài danh từ này. Của bộ binh, dành riêng cho
bộ binh. Chắc có nhiều đại bàng Ðịa phương quân bắt
hàng lậu chuyển xuống đây bằng đường bộ nên Nghĩa mới
phát ngôn như vậy. Bề nào cũng có lợi, có lý. Lúc giáp
mặt ông trưởng ty, tôi liền bắt chước đám đệ tử của
ổng:
- Chào ông thầy. Tôi ở Phú Quốc mới tới.
- Chào đại úy, ông mạnh giỏi? Mình vào trong này bàn chuyện
đi.
Tay bắt mặt mừng. Tôi quay sang anh phó ty, tuổi tác có lẽ
cùng chạng với tôi:
- Chào anh.
- Chào đại úy. Ðại úy mạnh giỏi?
Cũng tay bắt mặt mừng. Tôi theo "ông thầy quan thuế" quanh
quanh quẹo quẹo mấy gian phòng nhỏ nữa mới tới văn phòng làm
việc riêng của ông. Ông mời tôi cà phê. Qua loa vài câu
chuyện về nơi ăn chốn ở, về vật giá leo thang rồi ông
dọ ý tôi:
- Bữa nay tôi rất bận với một lô hàng đang chuyển xuống
từ Kiên Lương. Hay là chiều nay khoảng bảy giờ, nếu đại
úy không chê thì tới đây dùng cơm với tôi, mình sẽ có
nhiều thì giờ để nói chuyện hơn.
- Dạ, được như vậy thì tiện quá. Thôi, để khỏi làm
mất thì giờ của ông thầy tôi xin kiếu.
- Cảm phiền nha.
- Dạ không có chi ông thầy...
Tôi và Nghĩa sau đó vọt ra phố mướn phòng ngủ, đặt bản
doanh. Khách sạn Phú Sĩ ngó ra góc chợ Rạch Giá.
Ðúng hẹn bảy giờ, tôi đến ăn bữa cơm chiều với vợ
chồng ông trưởng ty, ông Dũng. Bữa cơm ngoài trời, tại
miếng vườn con một nửa đã được tráng xi-măng nằm bên
hông nhà. Căn nhà trệt này coi vậy mà rộng. Bữa cơm
chiều thật là nhạt nhẽo. Không nhạt nhẽo sao được khi
tuổi hai ông bà đáng tuổi cô bác của tôi. Không nhạt nhẽo
sao được khi mấy để tử của tôi đang nóng lòng chờ tôi
đi nhậu. Lẹ lẹ lên... Trò bái kiến nhau coi như tạm
xong, truyền thống xưa đương nhiên được chính thức nối
lại. Một phần ba, một phần ba, và một phần ba.
Bữa tiệc tối hôm đó thiệt là vui. Món "sò huyết xào
dầu hào" của nhà hàng Kim Thành thật là tuyệt. Người bắt
và kẻ bị bắt cùng nhau nhậu thân tình như anh em. Không còn
coi nhau là ngoại quốc. Không có kỳ thị chủng tộc. Không
phân biệt Việt Nam, Thái Lan hay Tàu gì hết, vì tất cả
đang hướng về một mặt trận chung: tiền.
Nghĩa kề tai tôi nói nhỏ:
- Thằng chủ ghe xin ông thả nó ra đặng nó dông về Nam Vang
chạy tiền. Nó mượn mấy thằng Tàu ở đây được một
mớ nhưng không đủ đâu vào đâu hết.
Tôi suy nghĩ một hồi rồi tự cảnh giác: coi chừng ăn bữa
giỗ lỗ bữa cày, đừng mắc mưu tụi này. Tôi phản đối
ngay.
- Không được. Thả nó ra nó đi luôn thì bỏ mẹ. Biểu nó
tiếp tục chạy, bằng mọi giá phải chạy. Dứt khoát trong
vòng ba ngày. Bằng không tôi giao khoán cho thằng quan thuế.
Mình không thể ở đây chờ đợi mãi được. Còn phải báo
cáo, phúc trình, hồ sơ chuyển về bộ tư lệnh ở Sài Gòn
nữa...
Ba ngày sau, Nghĩa cho tôi biết thằng chủ ghe chạy tối đa
cũng chỉ được phân nữa. Tối hôm đó tôi ngủ không
yên, suy nghĩ vẫn vơ hoài. Không biết là tại thằng chủ ghe
chạy tiền không nổi hay là đám đệ tử của mình có gian ý,
muốn cù cưa. Thằng chủ ghe thì bắt buộc phải chạy tiền
hết sức mình rồi. Càng nhiều tiền càng có lợi. Càng
có lợi không những cho hải quân mà càng có lợi cho nó.
Biên bản trống với đầy đủ chữ ký tôi vẫn còn nắm trong
tay. Với thằng này, con dao tôi vẫn nắm bằng cán. Còn
đám để tử của tôi, thật sự tôi chưa hiểu nổi. Vì
phó ty quan thuế đã kín đáo phàn nàn:
- Tôi nói điều này cho đại úy biết để đại úy đề
phòng. Ðàn em của đại úy đêm nào cũng tẩu tán một mớ
hàng. Tụi tôi đã theo dõi và tụi tôi đã biết hết. Chỗ
làm ăn quen biết tôi không nỡ cho người phục kích, chụp tụi
nó thì kẹt cho đại úy. Ðại úy nên xét lại, cẩn thận là
hơn.
Rõ ràng vị thế của tôi bấy giờ trên đe dưới búa, trước
đạn sau tên, hai bên hông hai mũi dùi. Chuyện này có thật
hay là thằng phó ty đánh đòn tâm lý hù mình? Tôi nghĩ
chắc là phải có! Không có lửa thì làm sao có khói. Mà
xét cho cùng, ngọn lửa này bùng dậy cũng tại nhiều lý do.
Những bữa ăn thịnh soạn, những bữa nhậu linh đình, những
màn em út gái ghiếc thì tiền đâu mà tụi nó bỏ ra? Tôi hi
vọng đàn em mình chưa làm gì lớn chuyện. Tôi hi vọng một
trăm ký đường hóa học vẫn còn nguyên. Một bồn nước
mắm to như bồn nước của nhà máy nước mà chỉ cần một
nắm là đủ dịu. Nước mắm ngang thành nước mắm nhứt,
nước mắm nhứt thành nước mắm nhĩ. Mắc lắm. Ðàn em
mình mang ra vài ký thì đủ làm giàu. Mà đem ra một vài ký
thì quá dễ. Túi quần túi áo thợ may may ở đâu? Ðể
trống chi cho uổng. Trời. Vậy thì bỏ mẹ rồi. Tụi này
dám làm lắm chớ chẳng phải chơi.
- Nè Un, anh móc nối với cái lũ côn đồ này bán bớt bao
nhiêu hàng rồi, hả?
- Dạ, vài ba cái lẻ tẻ thôi đại úy. Lấy lại vốn mà.
- Anh nghĩ tôi có thể tin lời anh nói được hay sao?
- Chết sống có nhau mà đại úy...
Không, chỉ có sống mà không có chết. Cất hàng. Tức
tốc sáng ngày hôm sau. Tôi quyết định như vậy, mặc dù
mức thu theo kế hoạch chỉ được một nửa. Giận thằng
đàn em tại sao dám qua mặt mình. Nhưng nghĩ cho cùng, tình
cảnh vợ con nhà cửa của nó cũng nheo nhóc tồi tàn. Tội
nghiệp. Ðứng vai trò của mình chắc mình cũng làm vậy.
Cờ cầm trong tay ngại vì không phất. Rồi tôi thương lây
qua thằng chủ ghe người Tàu, ăn ở rất thật tình. Phải ra
tay cứu vớt nó được phần nào hay phần nấy, mặc dù nó
thuộc vào thành phần đáng chết, làm kiệt quệ nền kinh
tế nước nhà không thua gì bọn ác ôn côn đồ đầu cơ tích
trữ. Tôi đã chấp nhận bớt đi phân nửa cái một phần ba
của mình thì cũng nên thêm vào phân nửa cho cái một phần ba
của nó. Cho tròn một. Một nỗi ân oán giang hồ. Tôi bèn
ghi những con số du di vào những chỗ trống của hồ sơ bàn
giao. Xong. Bây giờ đến phiên quan thuế, chẳng biết
thằng chủ ghe có được thương tình nữa hay không? Hàng
nhập kho quan thuế, dù không nằm trong biên bản cũng khó lòng
lấy ra. Tội cho thằng Tàu, một lần nữa, như cá nằm
trên thớt.
Ngay chiều hôm đó ba thầy trò tôi xuống tàu đò Thuận Lợi
trở về Phú Quốc với ba cái samsonite lớn mới mua ngoài chợ
Rạch Giá. Ba cái samsonite đầy ấp những tiền. Giấy lớn
có mà giấy một đồng cũng có, chứng tỏ thằng chủ ghe đã
moi móc tận tình. Chưa bao giờ tôi thấy tiền nhiều như
vậy. Của này là của phi nghĩa hay của cúng dường?
Trưa hôm sau tôi vào văn phòng trình diện đại tá Bá vắn
tắt báo cáo kết quả. Ông nói như ra lệnh:
- Anh đưa tôi phân nửa, còn phân nửa chia nhau với anh em.
Tôi giựt mình chới với. Niềm kính mến vụt tiêu tan dù
biết rằng ổng còn chi lớp lớp ở bên trên. Cố nén lòng
giữ vững bình tĩnh, tôi điềm nhiên trả lời:
- Dạ. Tôi sẽ làm đúng theo lời commandant căn dặn.
Còn phân nửa chia nhau với anh em thì quá kẹt cho tôi và lũ
đàn em. Mỗi đứa rốt cuộc chỉ được lãnh vài ba tháng
lương phụ trội. Không tròn một. Một nỗi ân oán giang
hồ. Tôi không dự trù nổi một giải pháp phân chia như
vậy. Tôi thiệt tình sửng sốt trước sự thật hơi phũ
phàng, mặc dù tôi dư biết tôi đã đi nước tiên. Mười
phần nói bảy dấu ba, đưa hai giữ một mới ra... trưởng
phòng Nhì.
Tôi uể oải bước về phòng thì Nghĩa lại vui cười báo
động:
- Trung tâm hành quân mới cho biết, ghe căn cứ giải về một
chiếc ghe buôn lậu nữa. Ðang cập cầu.
- Nhỏ hay lớn?
Nghĩa nhăn nhó:
- Nhỏ thôi. Mà theo báo cáo, trên ghe này có một ông sư
mới là khổ.
- Cái gì mà khổ? Sư thì nhốt sư, cha thì nhốt cha! Sư
cha đi buôn lậu thì sư cha gì nữa?
- Tôi chỉ sợ tụi nó bắt nhằm ông sư cả chùa Lục Sơn thì
bỏ ăn cả đám. Nghe đồn ông sư này ổng có phép tàng hình
đó đại úy ơi...
Chùa Lục Sơn? Chùa Lục Sơn ở bên kia biên giới Hà Tiên thì
không gì xa lạ đối với tôi. Một thành phố nhà lá, một
chợ trời tấp nập khách thập phương. Hàng lậu thuế bày
ngổn ngang trong những gian nhà không có vách. Như những sạp
bán hàng được cất nối tiếp nhau. Thành đường ngang hẻm
dọc. Và Hà Tiên, nơi dấy nghiệp của giòng họ Mạc. Mạc
Cửu, Mạc Thiên Tứ. Mạc Thiên Tứ với Hà Tiên Thập Vịnh
Cảnh Khúc. Quê hương của thi sĩ Ðông Hồ Lâm Tấn Phác, có
rất nhiều danh lam thắng cảnh. Hòn Chông. Ðá dựng.
Thạch Ðộng. Phù Dung Tự, nơi quy y cửa Phật của người
đẹp Phù Cừ.
Nàng ái cơ trong chậu úp
của nữ sĩ
Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội. Và bến đò Tô Châu. Bến
đò mà ngày nào tôi say quá say, mềm nhũn như cọng bún.
Trở về tàu HQ 405 bằng cần trục theo lệnh của "hạm trưởng
lé" của tôi. Ðứng lên đã không nổi thì nói chi đến
chuyện leo thang giây...
Rốt cuộc bây giờ tôi phải đối diện trực tiếp với ông
sư cả chùa Lục Sơn, ông Công-Xà-Phanh. Vị sư nổi tiếng
không những bên Miên mà luôn cả bên Việt Nam. Trong vùng
biên giới Hà Tiên. Một vóc dáng to lớn như Mỹ, da dẻ
hồng hào mập mạp, đi đứng phương phi trông như một ông
tướng chớ nào phải một ông sư. Họa chăng chỉ giống sư
ở cái đầu trọc và cái áo tăng già màu vàng khoác một bên
vai. Nhưng tại làm sao mà ghe của ông chở toàn whisky và
thuốc lá ngoại quốc?
Ðể tránh đụng chạm, tôi cho người ra mời ông chủ hãng
nước mắm Phong Hưng, vốn là người Việt gốc Miên, vào
nhận "sư tổ" của ổng về. Một lần nữa, tôi lại chới
với, sửng sốt vì thái độ ân cần của ông Phong Hưng đối
với ông sư Công-Xà-Phanh. Hoa quả bánh trái đầy mâm, bảy
bước quỳ năm bước lạy, bái tạ cung nghinh, thỉnh ông sư
về nhà như thỉnh một ông Phật sống.
Giữa cơn giông tố của thời đại, thì than ôi, thử hỏi
một kẻ trần tục như tôi làm sao mà thấu hiểu nổi thế
giới tôn nghiêm? Và ôi than ôi, trong cái bến trầm luân
mê muội này chính tôn nghiêm cũng không làm sao vượt thoát
được!
Bóng mây nhân ảnh chập chùng
Thương người lỡ bước giữa vùng giao duyên
Riêng cho tôi, tôi kết luận rằng: đường vào bến mê
thật sự không quá xa như đường vào xứ Thục.
back to top
04. TÂM SỰ KẺ SANG MIÊN
NGUYỄN TẤN HƯNG
Giữa đảo Phú Quốc và nước Miên sẽ có một hải phận
quốc tế nho nhỏ, nếu hải phận một quốc gia được ấn định
bởi 12 hải lý từ bờ ra khơi. Nhưng, nếu hải phận một
quốc gia được tính bằng 100 hải lý từ bờ ra khơi thì hải
phận Việt Nam ở vùng bắc đảo Phú Quốc sẽ phủ trùm lên
đất Miên. Rồi với hải phận 100 hải lý tính từ bờ ra
khơi này, hải phận ăn gian cũng không đủ xa để bao gồm hai
đảo Hoàng Sa và Tây Sa mà Trung Cộng đã cưỡng chiếm. Bất
quá chỉ thêm được cái giếng dầu còn non, mang tên Bông
Hồng số 9, chẳng ai thèm khai thác mà thôi.
Dầu sao Miên và Việt Nam cũng là hai nước láng giềng môi
hở răng lạnh với nhau, cho nên hai bên đồng ý lấy đường
nằm giữa hai bờ biển làm ranh. Thiệt là công bằng,
thiệt là rõ ràng. Tuy nhiên công bằng và rõ ràng chỉ
được hiểu trên giấy tờ, trên bản đồ vớ vẩn mà thôi.
Trên thực tế lằn ranh vô hình này không nhứt thiết phải
nằm yên một chỗ. Mà chỉ là đường ranh du di được vạch
ra bởi kẻ mạnh. Mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá
bé. Ðiều này vẫn đúng từ ngàn xưa cho đến bây giờ.
Nhất là cho những ai dám lấy vùng biển này làm địa bàn
hoạt động của mình.
Mà ai vậy? Thiệt ra, căn bản cũng chỉ có năm thành phần:
ngư phủ Việt Nam, hải quân Việt Nam, ngư phủ Miên, hải quân
Miên, và dân buôn lậu. Bốn thành phần đầu xưa nay vẫn
sống đề huề. Chim trời cá nước ai bắt được nấy ăn.
Nhưng, kể từ khi thành phần thứ năm mập mờ xuất hiện,
sự tranh chấp về ranh giới của đôi bên cũng đã theo đó mà
sáng tỏ từ từ. Thành phần sau cùng này tuy nhỏ hơn hết
nhưng bao gồm đủ mọi sắc tộc: Tàu, Thái, Việt, Miên,
Lào...
Mãi đến lúc này tôi mới biết lý do tại sao "triều đại cũ"
sụp đổ một cách hết sức là tang thương. Thay vì xách tàu
chận bắt bọn buôn lậu, quan ta lại nhảy ra cạnh tranh với
bọn nó, xách tàu đi buôn kín. Ðậu xanh, đường cát,
hàng vải tơ lụa... Và đi đêm lẽ dĩ nhiên có ngày gặp
ma. Không sớm thì muộn rồi cũng bị ma hớp hồn.
Nhưng, nhờ bài học "bị ma hớp hồn" quá đắc giá đó cho
nên "triều đại mới" hoạt động đúng theo đường lối,
tiêu chuẩn của trung ương đề ra. Không những sát địch tại
chỗ mà còn diệt luôn đường dây kinh tài. Những đường
dây kinh tài không riêng gì của địch mà luôn cả của bạn.
Diệt kinh tài vừa có lợi cho nước nhà, cũng vừa có lợi
cho quan ta thì ai mà lại không làm chớ? Còn phải dồn hết
mọi nỗ lực nữa là khác. Chuyện đồng vô đồng ra mà.
Chuyện đồng vô đồng ra thì thiệt ra ở thời buổi này
cũng chỉ là chuyện thường tình thôi. Ở đâu lại không
có. Nhưng, chuyện thùng vô thùng ra mới là chuyện lạ bốn
phương. Nước mắm. Thùng 20 lít, thùng 10 lít, thùng 5
lít. Thùng thiếc có thùng nylon có, đủ thứ lộn xộn.
Tết. Quà Tết, đi Tết, lễ Tết. Bằng nước mắm?
Ðược chớ sao không! Phải biết của biếu luôn luôn là của
ngon. Một biểu tượng cho sự thiết tha với tình hữu
nghị. Vậy thì năm nay phải ăn Tết thiệt lớn, không phải
cho tôi mà cho mấy xếp lớn của tôi.
Admiral, Commodore,
Captain
. Bỏ ra khoảng năm ba tháng lương thôi. Mỗi ngài một
thùng nhĩ, một thùng nhứt, một thùng ngang. Hậu tạ.
Công ơn đã vì mình mà muốn đi đâu thì cho đi đó.
Xếp tưởng tôi chắc lãnh tiền thưởng hơi nhiều nên Tết
này xài sang. Bắt tàu đánh cá Thái Lan, ghe buôn lậu đều
đều mà. Chẳng ai ngờ đây chỉ là sự đóng góp của mấy
chủ nhà thùng, tôi không tốn một cắc. Nhưng của gió rồi
cũng trả cho mây, như một thông lệ một truyền thống.
Những thông lệ, truyền thống hết sức kỳ cục. Thanh
Bình, Thanh Hải, Phong Hưng, Phước Hưng, Phước Lộc, Mai
Hương, Nghĩa Thạnh..., tôi chỉ đoán vậy thôi vì tôi
không đích thân gõ cửa mấy nhà thùng. Ðàn em của tôi làm
hết.
Riêng gia đình tôi, nước nhĩ nước nhứt nước ngang thì có
nhằm nhò gì. Nước mắm ăn Tết phải là nước mắm đặc
biệt làm trong mái vú của ông sáu Bền, chủ hãng nước mắm
Thanh Bình, mới là đúng điệu thâm tình. Thơm...
Sau Tết không bao lâu thì sự tranh chấp về đường ranh vô
hình trên mặt biển giữa hai hải quân Miên Việt đến hồi
gay cấn. Vì trưa này tại trung tâm hành quân, đại tá
Khương Hữu Bá, tư lệnh Vùng 4 Duyên hải, đã run run môi
gằn giọng trong máy viễn liên:
- Tôi ra lệnh cho anh bằng mọi giá phải tức khắc triệt hạ
hai chiếc PCF của Miên đó cho tôi.
Lệnh. Phải biết đây là lệnh. Ngay giữa chiến trận mà
không thi hành lệnh, chống đối lệnh, phản lệnh là mang
tội phản dân phản quốc, đáng tru di tam tộc. Bởi vậy tôi
nghe tiếng của hạm trưởng HQ 330 trên máy nhận, dầu rè rè
khàn khàn cách mấy đi nữa cũng không che dấu được sự
hốt hoảng:
- Commandant, xin commandant suy nghĩ lại. Tôi triệt hạ nó thì
dễ rồi, chỉ cần vài quả 76 ly 2 hay một tràng bô-pho (40 ly)
thôi. Nhưng, đây là quan hệ giữa hai nước, không đơn
giản như bắn tàu Việt Cộng, xin commandant suy nghĩ lại. Hãy
từ từ hành động, commandant.
Lời giải bày này nghe cũng lọt lỗ tai, đại tá Bá như nguôi
bớt cơn giận, chỉ thị tiếp:
- Ðược rồi. Anh tiếp tục theo dõi, phúc trình mọi diễn
tiến và đặt chiến hạm ở nhiệm sở tác chiến 24 trên 24
cho tôi.
Ðại tá Bá bỏ vào phòng trung tâm trưởng trung tâm hành quân,
gọi điện thoại liên lạc với đô đốc Lâm Ngươn Tánh,
đương kim tư lệnh phó Hải quân ở Sài Gòn.
Một rừng không chứa hai cọp. Tôi biết trước sự đụng
chạm này thế nào cũng xảy ra. Nhưng không ngờ lại xảy ra
nhanh như vậy. Ðầu dây mối nhợ như tôi đã nói, cũng
tại đám buôn lậu. Ban đầu thì hải phận ai người đó
bắt, chung sống hòa bình. Nhưng lần hồi hải quân ta ỷ
mình có tàu lớn bắt luôn qua lãnh hải bạn. Hải quân Miên
thì chỉ có một hải đội PCF (patrol craft fast) thôi, không có
tàu lớn. Chiếc lớn nhất của hải quân Miên là chiếc PC
(patrol craft) cũ kỹ, chỉ dùng để làm kiểng. Lúc nào cũng
nằm vịnh cặp cầu, không dám ra khơi sợ nó rã bèng tan
biến luôn trong sóng. Vậy mà tụi nó dám cả gan ra chiêu trả
đũa mới là lạ.
Không được sự chấp thuận của Sài Gòn, đại tá Bá buồn
năm phút lên máy liên lạc với hạm trưởng HQ 330 lần nữa:
- Anh báo cáo cho tôi biết tình trạng hiện thời ở ngoài đó
như thế nào?
- Dạ, hai chiếc PCF Miên tiếp tục kéo ghe mình về xứ,
commandant.
- Bây giờ anh đang ở cách nó bao xa?
- Dạ, chỉ còn thấy mờ mờ thôi commandant. Tôi không đuổi
theo nó nữa vì tôi hiện đang nằm rất sâu trong hải phận
Miên.
- Ðược rồi, anh tiếp tục án ngữ khu vực đó và sẵn sàng
đợi lệnh.
Trả đũa? Rồi sẽ đến phiên mình. Nhưng lần này nói
không phải bênh, tụi Miên ra chiêu quả là hợp tình hợp
lý. Tại vì cách đây mấy ngày, chiến hạm đổi vùng cho HQ
330, HQ 609 đã bắt giải về phòng Nhì của tôi một đoàn ghe
Miên đến năm sáu chiếc. Chẳng phải ghe buôn lậu gì cả,
mà toàn là ghe đánh cá, ghe dân mới khổ. Một hạm đội
mang chài mang lưới, tồi tàn nghèo khó. Vị trí thật sự
lúc bị bắt nằm tại chỗ nào ai mà biết cho được: hải
phận Miên, hải phận quốc tế hay hải phận Việt Nam? Tọa
độ ghi nhận trên công điện phúc trình lúc nào cũng sát về
phía mình, thiếu điều nhảy lên đất liền vùng Bắc Ðảo,
vùng núi Khu Tượng.
Không hành động "cao bồi" như đại tá Bá, tư lệnh hải quân
Miên trong vùng kể ra cũng có lòng kiên nhẫn, nhịn nhục.
Nhưng hắn xảo quyệt mưu mô. Bằng chứng là có hội họp
quân sư, bàn thảo kế hoạch ra quân hẳn hòi. Bằng chứng
là quân ta lọt vào thế bất ngờ, không chuẩn bị trước.
Tuy nhiên mục đích của hải quân Miên, theo tôi nghĩ, chỉ là
bắt ghe của mình để làm con tin, rồi tính chuyện trao đổi
như trao đổi tù binh.
Kẹt một điều là bọn nó đã bắt lầm ghe của hải quân,
không phải ghe dân. Chiếc chủ lực, một loại ghe lớn của
hải quân, thuộc Duyên đoàn 42 mà đại úy Huỳnh Quang Hưng,
đàn anh của tôi đang làm chỉ huy trưởng. Nên chẳng trách
tại sao đại tá Bá ra lệnh cho hạm trưởng HQ 330 bằng mọi giá
phải đưa hai chiếc PCF của Miên xuống lòng biển lạnh.
Nhưng, thầy chùa ăn bắt thầy pháp chịu? Ðâu có được!
Hạm trưởng HQ 330 đời nào chịu ép mình làm thầy pháp khơi
khơi.
Mà tại sao ghe vũ trang của mình lại bị hải quân Miên bắt một
cách dễ dàng như vậy? Súng ống để đâu không khạc vô
đầu nó vài phát cho nó nể mặt xếp vè, ai lại đi khoanh tay
tự trói chờ kẻ thù đến xỏ mũi dẫn đi? Thiệt là vô lý
hết sức?
Nhưng đúng ra chẳng có gì gọi là vô lý, đối với những ai
hiểu rõ nội tình. Tại vì chiếc ghe này không có nhiệm vụ
đi tuần, mà chỉ có nhiệm vụ đi cào cá cào tôm thôi. Dẫy
đầy tội lỗi? Cho nên đại tá Bá tìm cách che dấu, giải
quyết nhanh chóng?
Cũng không phải như vậy đâu. Ði cào cá cào tôm kiểu này
đừng nói là có tội mà còn phải nói là có công. Dưới
nhiều cách nhìn khác nhau. Với cặp mắt của chỉ huy trưởng
Duyên đoàn thì hàng ngày có mớ cá tôm. Với cặp mắt của
phòng Nhì thì có mật báo viên nằm ngay trong lòng địch.
Biết đâu quân ta vô tình sẽ thu lượm được những tin tức
đáng giá về một vụ xâm nhập, một kế hoạch tấn công.
Một cuộc hành quân vào tận sào huyệt mật khu địch như
vậy mà không tốn một hột dầu một giọt nhớt thì còn gì
hay bằng. Quả là thiên hình vạn trạng. Bởi vậy công hay
tội biết sao mà luận với bàn.
Không ít thì nhiều, cuộc hành quân bí mật của chỉ huy
trưởng Duyên đoàn 42 đang làm đại tá Bá, vị tổng tư lệnh
tối cao trên đảo Phú Quốc, kẹt. Không phải kẹt vì đường
lối hành quân, mà kẹt vì thanh danh của kẻ mạnh. Ðịch đã
dùng kế hưỡn binh, lấy nhu chế cương, để rồi ra đòn
bất ngờ quật mình một cú sát ván. Và đã thành công.
Hơn ai hết, đại tá Bá thấy rõ điều đó, cho nên bây giờ
ông cũng đổi cương thành nhu, nghiên cứu một đường lối
hoạt động hết sức mềm dẽo: đường lối ngoại giao.
Bởi vậy mới có chuyện nói.
Sáng ngày sau, một ngày không mấy đẹp trời mây mù vần
vũ, tôi từ giã vợ con xuống chiếc PCF 09 để bất thần
thân hành đi Miên. PCF 09 là chiếc soái đĩnh của đại tá
Bá, chiếc tàu còn mới và nổi tiếng chạy nhanh nhất trong
đàn. So với các duyên tốc đĩnh khác của Hải đội 4 Duyên
phòng. Ra khỏi mũi Hanh, trực chỉ hướng bắc tây bắc xong
xuôi tôi mới tiết lộ với viên sĩ quan thuyền trưởng,
trung úy Chánh:
- Tôi có nhiệm vụ trình cái "ủy nhiệm thư" của tư lệnh mình
cho ông đại tá tư lệnh hải quân Miên ở căn cứ Ream, ông
Sam-Sa-Rây. Số phần của tôi cũng như của các anh trong
chuyến đi này chắc chắn may ít rủi nhiều. Chỉ biết trông
cậy vào khả năng khéo tùy cơ ứng biến của mình mà thôi.
Viên thuyền trưởng hơi ngạc nhiên hỏi lại:
- Mình đi Miên thiệt hả đại úy?
- Ừa. Anh nghĩ lúc mình lọt vô hải phận của tụi nó, tụi
nó sẽ làm gì? Dưới tàu này có anh nào đã qua Miên lần
nào chưa?
Anh trung sĩ nhất ngành vận chuyển đang cầm lái lắc đầu
trả lời:
- Chưa đại úy. Tôi biết chắc như vậy tại vì tôi ở tàu
này lâu nhứt.
Trung úy Chánh tiếp lời:
- Theo tôi nghĩ tụi nó không dám làm gì mình đâu. Nó thấy
mình nó sợ thấy mồ, đại úy.
- Tôi cũng mong được như lời anh nói. Tuy nhiên, mình vẫn
phải đề phòng. Mình mới bắt nó mấy chiếc ghe dân, nó
bắt lại mình chiếc ghe chủ lực của Duyên đoàn 42. Tình
trạng này cũng hơi có phần gay cấn.
- Vậy à? Hay là để tôi cho mấy thằng em ở nhiệm sở tác
chiến, đại úy.
- Ý, đừng làm vậy, không nên. Theo tôi nghĩ tất cả súng
ống cứ cho đạn lên nòng rồi trùm bao súng trở lại, ngụy
trang như không có gì quan trọng khẩn trương. Nhân viên của
mình cũng không ai áo giáp nón sắt gì hết, chờ xem phản
ứng của tụi nó như thế nào.
Vài tiếng đồng hồ sau chúng tôi lọt vào hải phận Miên.
Trong lòng tôi có phần hơi hồi hộp, lo âu. Chuyện gì
đến sẽ đến. Nhưng, chuyện nổ súng vào tàu của một hải
quân bạn, của một nước láng giềng, là một việc làm tối
ư quan trọng không thể không suy nghĩ được. Tôi mong rằng
đừng có thằng sĩ quan Miên nào khùng điên. Hay ít ra cũng
đừng quá nóng như đại tá Bá. Bằng không, bảo đảm trong
phút chốc chúng tôi sẽ là những con vật tế thần trong vùng
biển nặng mùi tranh chấp này.
Khỏi chờ lâu, như cá mập ngửi được mùi máu tươi, hai
chiếc PCF lạ từ hướng Miên tủa sóng đi ra. Rõ dần rõ
dần. Sĩ quan và hạ sĩ quan Miên mặc quân phục kaki vàng
thấp thoáng từ đàng xa. Hải quân Việt Nam đã đổi quân
phục làm việc từ kaki vàng qua màu lục, vì kaki vàng là tiểu
lể của bộ binh, không quân. Chỉ còn cái polo, cái mũ bánh
tiêu quốc tế dùng cho thủy thủ, là đồng dạng. Chỉ còn áo
xanh lợt quần jean đậm, cũng dành cho thủy thủ, là cùng
màu. Rồi trán chạm trán, mặt chạm mặt. Lá cờ Miên với
hình Ðế thiên Ðế thích phất phơ sau lái. Ô, thì ra tụi
này đang ở nhiệm sở tác chiến. Càng súng tựa vai, tay
kề cò bấm. Sẵn sàng "cáp duồng." Phải làm sao đây?
Tất cả thủy thủ đoàn Việt Nam như bất động, trân trối
nhìn quân thù. Tôi ra lệnh cho tàu không được giảm tốc
lực, cứ phom phom thẳng tiến, coi kẻ địch như pha. Chờ
xem phản ứng. Ngó chừng động tĩnh. Thời gian vẫn còn đi
hay đã đứng yên, chết lặng? Trong sai nhịp, sửng sốt?
Giờ phút cực kỳ nguy hiểm đã đến. Và chầm chậm, chầm
chậm trôi qua... Trời bỗng dưng trong sáng như gương,
những đám mây mù tự nhiên vụt tan biến mất. Tôi đã
thoát nạn? Tôi mỉm cười, nắm chặc hai tay vào thành ghế
đài chỉ huy duy nhất trên tàu, thở phào nhẹ nhõm.
Hai chiếc PCF Miên quay mũi trở lại chạy song song hai bên PCF
nhà. PCF Miên vừa được Mỹ bàn giao không lâu nên có vẻ
còn mới và có lẽ chạy nhanh hơn. Tôi đoán chắc tụi này
chỉ được lệnh ra đây tiếp đón, hộ tống tàu mình về
bến mà thôi. Trên tàu không ai nói được tiếng Miên, cho
nên thỉnh thoảng bên này chỉ biết đưa tay vẫy. Bên kia thủy
thủ Miên xí xô, xí xào không nghe rõ được mà cũng không
hiểu được. Tất cả tiếp tục chạy thẳng về hướng Ream.
Tôi bỗng mơ màng nhớ lại hải quy. Chiến hạm Việt Nam
được coi là lãnh thổ của Việt Nam. Lãnh thổ này dầu ở
Mỹ, ở Nhật hay ở chân trời góc biển nào cũng bị ràng
buộc bởi hiến pháp và luật pháp Việt Nam. Bổn phận và
trách nhiệm bảo vệ chủ quyền quốc gia chẳng hạn. Danh dự
của tổ quốc giống nòi chẳng hạn. Bây giờ mới thực sự
thấy nó lớn lao quan trọng làm sao. Tôi là tổng tư lệnh,
lãnh tụ tối cao trên lãnh thổ nhỏ bé này của Việt Nam. Tinh
thần quốc gia dân tộc tự nhiên rạo rực bốc lửa trong
tôi. Cái cảm giác hào hùng uy nghiêm chạy rần rần trong
huyết quản này, không thể có được nếu suốt đời tôi
chỉ đi tuần vòng, quanh quẩn bên bờ biển hình cong chữ S.
Một chút kiêu hùng, tự mãn trước ngoại bang... nhỏ hơn
mình.
Chẳng bao lâu tôi thấy cầu tàu dài ra khơi và một cơ
xưởng hạm trong vịnh Ream. Rồi thấy luôn chiếc chủ lực
nhỏ bé của Duyên đoàn 42 đang cột dây cặp cầu. Thủy thủ
đoàn bó gối trên ghe. Trên cầu lố nhố một nhóm quân
phục vàng lẫn lộn với đám thủy thủ áo xanh lợt quần jean
đậm. Tiếng còi "ò é" xé tan bầu không khí vang ra từ hai
chiếc PCF Miên. Một cách báo cáo nhiệm vụ đã hoàn tất.
Với tôi, tất cả đã trở về với thực tại, bổn phận và
trách nhiệm đang hiện ra ngay trước mặt. Tôi hỏi Chánh:
- Anh cặp cầu nghề hôn? Biểu diễn một cú ngon lành cho
tụi Miên lé con mắt coi.
- Làm một phát "cao bồi" nha đại úy.
- Ừa, mà có chắc ăn không cái đã.
- Cơm bữa mà.
Chánh đích thân cầm lái, cặp 45 độ rất gọn gàng ngoạn
mục. Tôi xách cái cạc-táp samsonite bước lên cầu. Chánh
nhảy lên theo rồi lần lượt một đám đàn em. Ðứng gần
mới thấy lon sĩ quan của hải quân Miên còn theo kiểu Tây,
bệt nhỏ như bệt phi tiêu hàng không Air Con Rồng. Viên trung
úy Miên có lẽ nhận ra lon lá của tôi, chào tôi trước. Tôi
chào lại và đưa tay cho hắn bắt. Hắn chộp cả hai tay,
vồn vã hỏi:
-
Bonjour monsieur, parlez vous francaise?
Chết cha, sao lại nói tiếng Tây? Sao lại nói sinh ngữ một
của tôi hồi còn ở trung học? Ôi thôi rồi sinh ngữ một
của tôi, nó đã đi vào lịch sử. Vì từ lúc gia nhập hải
quân, thường xuyên nói chuyện với đám cố vấn, tôi đã
quen tiếng Mỹ quên dần tiếng Pháp hồi nào không hay. Bây
giờ nghe đã là lõm bõm thì nói gì tới nói. Bắt nó phải
theo mình, bắt nó phải theo thiên mệnh, tôi trả lời ngay:
-
No, I speak English
.
Hắn liền chập chững đổi sang tiếng Anh, tên này cũng lém
lỉnh thiệt. Giọng nặng hơi Miên, rất khó nghe. Trao đổi
qua lại chỉ tên với họ thôi mà mấy lần tôi cứ "say it
again, please." Sơn Sanh, đánh vần từng chữ rõ ràng như
vậy, chẳng hiểu có bà con gì với Sơn Ngọc Thành hoặc
Thạch Sanh, Lý Thông hay không? Ðối với hắn tôi nghĩ tên
tôi rất dễ kêu, dễ nhớ. Mẫu tự ABC khắc đàng hoàng
rõ ràng trên bảng tên. Khác hẳn với những chữ bùa vẽ
trên túi áo của hắn. Tôi lập đi lập lại mục đích của
tôi, chỉ là cái thư:
-
I have a letter from my commanding officer to your boss. I need
to give it to him
.
Hắn hiểu ý. Tôi ghé ngang ghe Duyên đoàn bắt tay với ông
thượng sĩ thuyền trưởng và nói vài câu trấn an thủy thủ
đoàn. Rồi theo hắn đi thẳng lên doanh trại. Gần đến
tòa nhà lớn cất theo kiểu Tây mà tôi đoán có lẽ là tổng
hành dinh bộ tư lệnh, tôi gặp nhiều sĩ quan Miên đang
đứng lố nhố trước sân. Ðại úy trung úy trở xuống,
không thấy tá. Như được báo động trước, đám này
chào hỏi tôi bằng tiếng Anh:
-
Hello. How are you?
Tôi cũng hello, hello bắt tay vẫy tay qua loa chào hỏi lại.
Mọi người đều vui cười cởi mở. Tôi mừng thầm, thấy
mình rất thành công trong nhiệm vụ. Trung úy Sơn Sanh đưa
tôi đi vòng vòng mấy dãy hành lang phòng ốc, mới đến văn
phòng của chánh văn phòng. Một tên đại úy. Thì ra Sơn Sanh
chỉ là sĩ quan tùy viên. Ðại úy chánh văn phòng này không
nói được tiếng Anh mới tệ. Tôi bắt tay, lại chào hỏi
qua loa cho có lệ. Qua lời thông dịch của Sơn Sanh tôi biết
tôi phải chờ ông tư lệnh Miên ở đây.
Không bao lâu hắn đưa tôi vào trình diện đại tá Sam-Sa-Rây.
Tôi hơi ngạc nhiên vì ông này to con mập mạp như Tây, đã
vậy nước da không đen hù như tụi Miên, mơn mỡn vàng. Tôi
chào ông và làm nhiệm vụ trình "ủy nhiệm thư."
Tôi không biết trong thư đại tá Bá viết những gì, nhưng
tôi biết chắc một điều là lá thư này không được viết
bằng tiếng Việt. Mà có lẽ bằng tiếng Pháp. Tại vì đại
tá Bá cũng như phần lớn sĩ quan cựu trào của hải quân
Miên, như đại tá Sam-Sa-Rây đây chẳng hạn, đều chịu ảnh
hưởng rất nặng của chương trình hàng hải Pháp.
Nhưng ông Sam-Sa-Rây lại không nói tiếng Pháp với tôi, mà
nói bằng tiếng Miên. Và nhờ sĩ quan tùy viên thông dịch
lại. Vì thể diện quốc gia? Vì không rành tiếng Mỹ? Hay
vì tôi cù lần không biết nói tiếng Pháp? Mấy ai hiểu
được lòng người... ngoại quốc. Ðại khái tôi biết
rằng trong khi chờ đợi ông viết thư trả lời, người tùy
viên của ông có thể đưa chúng tôi đi thăm viếng thành phố
Ream. Vậy thì còn gì vui bằng. Tôi chào ông và không quên
câu nói đầu môi:
-
Thank you, Sir
.
Trung úy Chánh, thiếu úy Hiếu và ba bốn hạ sĩ quan cùng đi
theo tôi. Tất cả chất lên chiếc jeep lùn A-2 láng coóng có
lẽ của ông tư lệnh Miên. Ream là một thành phố tương
đối nhỏ, cỡ như Hà Tiên vậy thôi. Tuy nhiên có một bùng
binh ngã tư ngã năm gì đó khá lớn, ở giữa có tạc một
cặp sư tử, một đực một cái, trông cũng đồ sộ uy
nghi. Chẳng biết để kỷ niệm cái gì, biểu tượng cái gì
với hình hai con sư tử đó. Tôi tự hỏi bộ Miên không có
anh hùng dân tộc hay sao? Chớ Nặc Ông Non, Nặc Ông Già
để đâu?
Vòng một vòng đã trở về chốn cũ. Rồi không biết ai
đề nghị, trung úy Sơn Sanh lại xách xe chạy thẳng ra ngoại
ô. Chạy vô làng, vô bưng. Con đường đất cát từ từ
nhỏ lại, nhiều đoạn chỉ đủ để cho một chiếc jeep hoặc
một chiếc xe lam chạy thôi. Kế rẽ vô con đường vườn,
hai bên cây cối um tùm. Còn nhận ra dừa, chuối, thốt
nốt, sua đũa. Dây bìm bìm có hoa tím tím leo đầy trên
hàng rào nhà ai. Qua một đồng cỏ hoang thì đến một ngôi
nhà rất lớn nằm dưới tàn cây cổ thụ. Nhà sàn. Giống
y chang như nhà sàn miệt Châu Ðốc, Long Xuyên. Nhưng mái
lợp tranh. Trung úy Sơn Sanh cho xe đậu giữa sân, gà vịt
hoảng sợ vừa chạy vừa la hoang hoác dưới sàn cây, có
nhiều trụ chống cao đến cổ. Cả bọn xuống xe, xếp hàng
một leo lên mấy bực thang. Cởi giày bước vào trong mới
thấy cái sàn gỗ xài lâu ngày lên nước đen bóng.
Phòng khách thiệt rộng. Trên vách bổ kho có treo vài tấm
hình tài tử Miên, một tấm lịch giống như lịch Tam Tông
Miếu. Lại những hàng chữ bùa ngoằn nghoèo đọc không
được. Một bàn dài kê ngay giữa và hai dãy ghế hai bên.
Thêm một hàng ghế để phía sau tựa vào vách. Một bình
trà đựng trong cái vỏ dừa thiệt lớn sơn xanh đỏ. Và kế
bên một cái khay đựng nhiều ly tách nhỏ. Ðừng đợi ai
mời mọc, hãy cứ tự nhiên. Tự mình nghĩ vậy. Thế là
cả bọn tự động kéo ghế ngồi, tự động rót nước uống
giải khát. Ðất Miên nóng đâu thua gì Việt Nam. Ðó là
còn hên vì chung quanh đây có vườn cây bóng mát. Nhưng,
chủ nhà đâu? Bà con liên hệ gì với trung úy Sơn Sanh?
Không để khách chờ đợi lâu, bà chủ nhà sồn sồn bước
ra dẫn theo một đám tỳ nữ mơn mỡn đào tơ ân cần giới
thiệu. Ai cũng khuôn trăng đầy đặng, hồn nhiên vui vẻ
cười đùa. Trời, chẳng lẽ đây là Gò Vấp, Hạnh Thông
Tây của Miên? Chẳng lẽ xứ này còn công khai cấp giấy phép
hành nghề, cái nghề xưa nhất trong lịch sử văn minh nhân
loại. Chưa hết cơn ngạc nhiên thì rõ ràng tôi có nghe trung
úy Sơn Sanh tận tình nhắn nhủ:
-
Enjoy yourself, I will be back
.
Làm ra vẻ khách chơi sành điệu tôi khuyên hắn đừng bận
tâm, có muốn vọt về nhà với cha mẹ vợ con thì cứ đi
thiệt lâu đi:
-
Don't hurry, just take your time
.
Còn lại một bọn năm sáu tên Việt Nam tôi mới hơi ngại. Vì
tốt hay xấu, tôi đương nhiên vẫn phải làm cái đầu tàu.
Tôi ướm lời hỏi Chánh:
- Anh thấy sao? Có nên nếm thử một ngao hôn? Rủi có anh
nào lạng quạng, làm ăn không tử tế đàng hoàng, em giận em
bỏ bùa bỏ ngải hết biết đường về thì trễ tàu cả lũ!
Nói thì nói vậy chớ tôi biết đứa nào đứa nấy đều
cũng như mèo thấy mỡ, thèm thiếu điều nhỏ giải đâu làm
sao từ chối được. Chánh cương quyết, dứt khoát trả
lời:
- Của người ta đem dưng tới họng không ăn cũng uổng, đại
úy. Tôi chấm con nhỏ ngồi đầu bìa đó.
Chưa chi mà Chánh đã dành phần. Cô nào cũng như cô nấy
thôi, đều đều một cỡ. Mười bảy mười tám trở lại,
mặt mày còn non choẹt, búng ra sữa. Tôi ngoái lại ngó con
nhỏ mà Chánh chọn, định xem mặt mũi như thế nào. Tôi hơi
ngỡ ngàng, nhăn mặt hỏi:
- Anh khoái cái con nhỏ đen nhứt trong đám đó hả?
- Em càng đen càng thơm đại úy. Tôi bảo đảm cả đời ông,
ông không thế nào tìm được một thân thể đen thiệt đen,
bóng thiệt bóng, và êm êm mềm mềm như con nhỏ này đâu.
Không dễ gì...
Cũng có lý, nhưng tôi hỏi tiếp:
- Rồi tiền Miên moi đâu ra mà anh trả đây, hả?
- Hừ, bữa nay mình làm thượng khách mà đại úy. Tụi này
không dám còng đầu mình đâu, tụi nó còng đầu cái thằng
trung úy Miên đó thôi.
Tôi còn phân vân:
- Chắc ăn hôn đó? Ðây là xứ người, đây là ngoại quốc
anh biết hôn? Coi chừng, đừng làm nhục quốc thể, đừng
làm mất mặt con Rồng cháu Tiên.
Truyền thống hải quân được một điểm là đàn em lúc nào
cũng kính mến đàn anh. Không riêng gì các khóa sĩ quan mà
luôn cả các tầng lớp hạ sĩ quan, thủy thủ. Nhưng trong giờ
phút này, tôi nghĩ đừng nên lạm dụng ở chỗ vì đàn em nể
tình mà khư khư toàn quyền quyết định. Thiệt ra, chính
tôi tôi cũng thấy không ổn chút nào hết, tôi bèn tuyên
bố:
- Thôi thì mạnh anh nào nhắm thấy được, cứ nhào vô đánh
nhanh rút mạnh đi là vừa.
Cả bọn không sót một đứa liền túa vô đám con gái, kéo hoa
hậu chọn lựa sẵn trong đầu của mình vọt vô phía nhà sau.
Sự bất đồng ngôn ngữ bây giờ rõ ràng không còn là vấn
đề nan giải nữa.
Tôi ngồi lại một mình cũng thấy hơi kỳ cục. Abnormal?
Tình thiệt tôi cũng đâu phải thần thánh mà thấy gái không
mê. Giả dạng "bần tăng" chờ đám đàn em tản lạc cho đỡ
chướng mắt đó thôi. Tôi bèn đứng dậy ngoắc con nhỏ lai
Tàu nước da trắng bóc đi theo. Qua tấm màng the chắn cửa
ra nhà sau, tôi mới để ý cách thức xếp đặt phòng ốc
trong căn nhà này. Hình như có hai lối đi ra phía sau nằm hai
bên phải trái. Hai dãy phòng cá nhân nằm hai bên, mỗi bên
năm cái. Vị chi có đến hai chục phòng dành cho chốn Lầu
Xanh. Phòng tắm và nhà bếp nằm tuốt ra phía đằng sau.
Không thể nói với nhau bằng tiếng nói thì nói với nhau
bằng hành động. Bằng mắt, bằng môi, bằng tay, bằng
chân. Theo những đường cong lên núi xuống đồi, chập
chùng ẩn hiện. Cho bớt ngượng ngùn trong cảnh ban ngày ban
mặt như thế này. Mà trong đời người lính tàu, thử hỏi
có giấc mây mưa nào mà không có sấm chớp bão bùng? Ở
những bến bờ xa lạ?
Lúc tôi trở ra phòng khách thì trung úy Sơn Sanh đã có mặt.
Tôi mỉm cười chụm ngón trỏ vào ngón cái làm dấu OK, rồi
khoan thai móc túi lôi xấp tiền Việt Nam đưa cho hắn. Hắn
khoác tay từ chối, bảo không xài được ở xứ này. Nhưng
hắn lại đổi ý, lấy mỗi thứ một tấm làm kỷ niệm.
Còn bao nhiêu đưa lại tôi và không quên nhắc nhở rằng,
nếu có dịp nào hắn qua Phú Quốc, chừng đó tôi có đền
ơn trả nợ cũng không muộn. Nữa, lại tính chơi cửa cha,
chén sành mà đòi sánh vai chén kiểu? Thả con tép câu con
tôm? Thôi lỡ rồi, chừng nào tới đó hẵng hay. Lo chuyện
bây giờ thì hơn, tôi nghĩ vậy.
Tất cả lại chất lên xe jeep chạy ra phố. Ði nhậu. Ở
một cái bar nào đó không mấy sang trọng, không có màn tắm
hơi. Không có rượu mạnh, chỉ có bia trâu. Chai nào chai
nấy lớn gấp đôi gấp ba bia "đầu con cọp" hay bia 33 của
mình. Màu vàng của bia cũng không được tươi tốt mà hơi
ngã màu nâu như có pha chút xì dầu. Nặng nữa, uống nửa
chai đã muốn té ngửa.
Lúc trở về doanh trại thì gần đến giờ tan sở. Tôi và
trung úy Sơn Sanh chỉ còn đủ thì giờ tạt vô phòng chánh văn
phòng của đại tá Sam-Sa-Rây để nhận bức thư hồi âm rồi
vọt luôn xuống tàu. Tôi đại diện thủy thủ đoàn rối rít
cám ơn trung úy tùy viên, mới đó mà như đã thành tri kỹ.
Và hẹn ngày tái ngộ trên xứ Việt Nam. Hai chiếc PCF bạn
lại cặp kè hai bên, tiễn bạn hiền về cố quốc. Hiển
nhiên chẳng có "ôi cái cảnh biệt ly sao mà buồn vậy," nhưng
trong lòng tôi thật sự có đôi chút bâng khuâng. Ðường
vào xứ Chuà Tháp, đối với tôi, hình như luôn luôn vẫn
là đường vào lối mộng.
Tôi nêu ý kiến với đám đàn em:
- Mấy anh sao tôi không biết, chớ thiệt mà nói, tôi thấy
tụi Miên chơi còn sang hơn Tây một bực.
Trung úy Chánh phụ họa:
- Tôi chỉ sợ ít bữa thằng trung úy đó qua mình, mình không
có gì để đãi nó hết thì e mất mặt giòng giống Tiên
Rồng đại úy hả? Mình quả thực thiếu thằng "khứa" đó
một món quà quá lớn.
Tôi phân trần:
- Tụi nó có quỹ tiếp tân mà, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ
đó. Thằng Sơn Sanh gì đó, theo tôi nghĩ, nó cũng chẳng
có bỏ ra cho mình một đồng xu một cắc bạc nào đâu. Chỉ
phiền là bên hải quân mình không có một cái quỹ ăn nhậu,
đãi đằng như vậy.
Ðưa một đoạn ngắn, hai chiếc PCF Miên hụ còi quành trở
lại. Một hồi còi đáp lễ và những cái vẫy nón, khoác
tay. Sau đó trung úy Chánh hối hả xả máy chạy nổi sóng về
nhà...
Kết quả tốt đẹp của chuyến đi Miên là một "tần số đỏ"
đã được đặc biệt thiết lập giữa An Thới và Ream.
Tương tự như đường "điện thoại đỏ" giữa tòa Bạch Cung
và điện Cẩm Linh. Kết quả tốt đẹp của cuộc đàm phán
đầu tiên là ngày mai những con tin của hai bên sẽ được trả
tự do, tự động tìm đường về bến cũ. Ðám ngư phủ
Miên sẽ được tiếp tế đầy đủ lương thực và nhiên liệu
trong đêm nay. Số phần thủy thủ đoàn Việt Nam trên ghe chủ
lực của hải quân mình cũng sẽ được tươm tất như vậy.
Và kể từ nay lằn ranh vô hình trên vùng biển Bắc Ðảo
giữa hai quốc gia sẽ được vẽ lại đàng hoàng cẩn thận
hơn.
Tình hữu nghị giữa hai hải quân của hai nước môi hở răng
lạnh càng thêm khắn khít khi đại tá Bá chấp thuận lời mời
của đại tá Sam-Sa-Rây, đồng ý đi Miên thăm viếng căn cứ
Ream. Hai ông Tây được dịp nói tiếng Tây, mặt đối
mặt. Tháp tùng theo đại tá Bá có thiếu tá Tâm, tham mưu
phó Hành quân, thiếu tá Quý, trưởng phòng Tâm lý chiến,
tôi, trưởng phòng Nhì, và sĩ quan tùy viên.
Không xách tàu chạy lẹt đẹt như tôi, lần này đại tá Bá bay
qua bằng trực thăng. Không dẫn ra làng lụp xụp như trung úy
Sơn Sanh, đại tá Sam-Sa-Rây lấy trực thăng riêng đưa nguyên
phái đoàn của đại tá Bá đi Sihanoukville, thành phố chính
của tỉnh Kongpongsom. Không nhậu ở quán cóc bên đường mà
ăn tiệc trên sân thượng của một nhà hàng sang trọng như nhà
hàng Ðồng Khánh, Mã Nhật Tân. Cất tuốt trên đỉnh đồi
cao trông ra biển. Quang cảnh thiệt là huy hoàng, tráng lệ.
Không ai thèm nhậu bia trâu, chỉ cưa Martel, Hennessy. Và
không ai thèm nghĩ đến những cô gái Miên không chưng diện,
đen đúa...
Mặc dầu chuyến đi Miên cùng với đại tá Bá rất là lịch
sự và sang trọng, nhưng riêng tôi, tôi vẫn thích chuyến đi
Miên của tôi. Vì chuyến đi đó mới đúng là ân tình gói
trọn "tâm sự kẻ sang Miên."
back to top
05. ÐÔNG PHƯƠNG NGƯ NGHIỆP CÔNG TY
NGUYỄN TẤN HƯNG
Với những cố gắng không ngừng, "triều đại mới"
đã thật sự đưa thanh bình trở về trên đảo Phú Quốc.
Chỉ trong vòng không đầy một năm, một thời gian phải nói
là rất ngắn. Kỷ lục. Tình hình Phú Quốc bỗng trở nên
yên tĩnh lạ thường. Hoàn toàn không còn sôi động. Cái
sôi động nên hiểu không phải do chính qui Bắc Việt hay du
kích Miền Nam cố tình gây ra. Mà chỉ do tàu đánh cá Thái
Lan ồ ạt xâm nhập hải phận Việt Nam và do ghe buôn lậu
từng đoàn rầm rộ tiến về vùng biển Hà Tiên, Kiên Lương.
Tại sao yên tĩnh lạ thường? Tại vì quân ta toàn thắng hay tại
vì quân thù đang có kế hoạch mới? Theo tôi nghĩ, hai điều
này chắc phải đúng cả hai. Nhưng, điều đáng nói hơn nữa
là sự yên tĩnh này đã làm các quan ta lo âu. Chính tôi cũng
vậy. Mất phần. Ðồng vô đồng ra không còn nữa. Mặc
dầu nồi cơm chưa bị bể nhưng kể như đã rạn nứt khắp
nơi, từ trên xuống dưới, từ vành tới đáy. Vậy thì
phải làm sao đây? Chờ! Ðúng vậy, chẳng làm gì khác
hơn được. Kiến không bò tới miệng giếng thì làm gì có
cảnh cá ăn kiến. Cá phải chờ, thế thôi.
Ngày ngày cũng hai buổi đi làm, nhưng làm cái giống gì ở
cái xứ khỉ ho cò gáy này? Ði trễ về sớm là chuyện hiển
nhiên rồi. Xưa nay vẫn vậy. Ở nhà làm việc luôn cũng
không sao, vì nhà cách văn phòng bởi mỗi cái hàng rào,
bước mấy bước là tới. Cà phê, tán dóc với bạn bè
riết rồi cũng không còn chuyện gì để nói. Thụt bi-da ở
ngoài phố có lẽ là cách giết thì giờ hay nhứt.
Rồi để nâng cao tinh thần binh sĩ, tư lệnh Vùng 4 Duyên
hải, đại tá Khương Hữu Bá, cho phép chỉ huy trưởng căn
cứ hải quân An Thới tổ chức một đêm dạ vũ cho toàn thể
quân nhân các cấp. Anh em độc thân gửi thư mời
partner
tuốt từ trong đất liền. Bảo đảm chỉ một lần nhớ
mãi. Làm ơn nhín chút thì giờ ra ngoài cái đảo xa xôi này
vui chơi với những người anh tiền tuyến. Ðang nặng gánh
giữ nước ngăn thù. Thế là trạm tiếp liên hải quân ở
Rạch Giá lại có công việc làm, hăng hái tiếp tay, chuẩn bị
đón thân nhân và gia đình của các em gái hậu phương.
Người đẹp từ Sài Gòn, từ các tỉnh miền Tây đều có
mặt đông đủ. Ngay cả cô em bà con cô cậu với tôi từ Mỹ
Tho cũng khăn gói lên đường đi thăm vị hôn phu. Cũng vui.
Chỉ tội cho mỗi mình trung tá Hản, chỉ huy trưởng Hải đội
4 Duyên phòng. Vì bắt đầu từ đó ông bỗng nhiên có một
bà vợ mê nhảy đầm. Và cũng từ đó gia đình ông bắt
đầu lục đục. Dài dài cho đến khi chạy qua Mỹ cũng không
ngưng.
Phần tôi, tôi chỉ sợ cái cảnh
nhàn cư
dễ sanh ra
bất thiện
này nó sẽ lềnh bềnh trôi mãi với thời
gian. Mình sống sang đã quen, bây giờ bắt trở lại hèn
cũng khó. Mà hên, rốt cuộc rồi làm gì có chuyện đó.
Vì sau buổi dạ vũ không lâu, thời thế lại bắt đầu đổi
thay. Rõ ràng là theo một chiều hướng hoàn toàn khác, tuy
nhiên không hẳn là hoàn toàn bất lợi cho quan ta.
Khởi sự bằng một ngày rất đẹp. Bầu trời xanh, xanh lơ
không một bóng mây. Nắng sáng ban mai huy hoàng rực rỡ,
tưới mát khắp đó đây. Nhưng lại là ngày thứ hai, ngày
thứ hai duy nhất trong tuần có lễ chào cờ. Tất cả được
dịp nghe lại vài tiếng hô to: nghiêm, nghỉ. Tưởng chừng
như đã quên. Có người lính kèn thổi một bài quân hành
rất ngắn. Lá quốc kỳ cũng được vội vã kéo lên đỉnh
cột cờ. Và dĩ nhiên sau đó là màn thanh tra quân phục của
tư lệnh. Như một thông lệ. Tính theo cấp bậc lớn nhỏ
từ trái sang phải, sĩ quan đã xếp thành một hàng ngang tại
sân cờ, mặt hướng ra biển. Ai nấy áo quần chỉnh tề,
thẳng nếp, tươm tất. Rồi cũng đến phiên mình, chào tay
và ngẩng mặt lên kiêu hãnh. Chính lúc tôi làm xong nhiệm
vụ, chính lúc đại tá Bá bước sịt qua người kế bên,
chính lúc tôi vừa buông tay xuống, lại là lúc tình cờ tôi
phát hiện một đoàn tàu đánh cá Thái Lan bốn năm chiếc
ngang nhiên phom phom tiến vào vịnh. Lạ chưa? Tự nhiên cả
một lũ đem thân nạp mạng?
Phần thanh tra quân phục chấm dứt, ai nấy tự động tản lạc
về phòng. Tôi ghé qua trung tâm hành quân để check lại tình
hình. Và tôi rất đỗi ngạc nhiên là không có một ghi nhận
một báo cáo nào hết về mấy chiếc tàu đánh cá Thái Lan.
Chiến hạm tuần dương của mình ở đâu? Tại sao lại có sự
sơ hở tệ hại đến như vầy? Ðịch đã tiến vào tận thủ
phủ mà chẳng ai hay biết gì hết? Rời trung tâm hành quân,
tôi bước ra trước nhìn một lần nữa cho chắc, mới hay
mấy chiếc tàu Thái Lan không chút gì sợ sệt và cũng không
cần phải hốt hoảng bỏ chạy đi nơi khác, ung dung tự tiện
thả neo. Hừm.
Trở về phòng, thượng sĩ Nghĩa, đàn em thân tín của tôi,
hỏi ngay:
- Ông có tin tức gì về mấy chiếc tàu cá Thái Lan mới bắt
về nằm trong vịnh hôn đại úy?
- Ðâu có ai bắt bớ gì nó. Tự động nó mò tới, chui vô
rọ. Sao kỳ vậy hả?
- Vậy à? Hay là mình xách tàu ra ngoài đó xem sao?
- Ừa, chắc phải làm như vậy. Nhưng khoan đã, để tôi coi
lại.
Tôi vào phòng riêng, thảy cái nón kết-bi lên tủ hồ sơ
mật, ngồi vào ghế thừ người suy nghĩ. Hỏi ai đây? Gọi
điện thoại cho chánh văn phòng hoặc tùy viên của đại tá
Bá? Chẳng giúp ích được gì. Ðến trưởng phòng Nhì như
tôi còn không biết thì tụi đó biết gì hơn. Hay là gọi
thẳng nói chuyện với đại tá Bá? Chắc chỉ còn cách này.
Tôi còn đang phân vân thì ở phòng ngoài có tiếng xí xô xí
xào. Ðúng, tiếng xí xô xí xào thứ thiệt. Hình như có
ai nói tiếng Tàu, tiếng Quảng hoặc tiếng Tiều là hai thứ
tiếng thông dụng ở vùng này. Tôi lắng nghe. Rõ dần rõ
dần, rồi đột nhiên mặt đối mặt. Người trung sĩ cận
vệ của đại tá Bá chào tôi và giới thiệu những người tôi
chưa hề quen:
- Ðại úy, tư lệnh nói đại úy giúp đỡ hai ông này lo vụ
năm chiếc tàu Thái Lan.
Năm chiếc tàu Thái Lan? Thì ra vậy. Ðầu dây mối nhợ là
đây. Cứ nắm lấy mà phăng tới, ngọn ngành trước sau
rồi cũng sẽ phân minh. Tôi nói:
- Ðược rồi, không gì trở ngại. Anh về trình tư lệnh
rằng tôi sẽ đích thân lo việc nầy cho ổng an tâm.
- Dạ, chào đại úy.
Hắn chào tay rồi quay lưng vọt đi. Còn lại hai ông Tàu mặc
com-lê, vẻ ông lớn ra phết. Tôi trịnh trọng chìa tay:
- Mời ngồi.
Một người tiến tới bắt tay tôi, đường đột nói:
- Tao tên là Lý Bình. Còn ông này là Trần Phong, giám đốc
nhà băng Mékong Ngân Hàng. Ổng không biết nói tiếng Việt.
Còn mày tên gì?
Tôi hết sức ngạc nhiên với lời lẽ "mày tao" quá thân mật
kiểu này. Mới gặp tôi lần đầu, mới nhờ vả tôi lần
đầu mà dám coi tôi không ra một thể thống nào hết. Hay
là thằng này lại cũng không rành tiếng Việt? Tôi ngần
ngại vừa chỉ vào bảng tên vừa nói:
- Tôi tên Hoàng.
Rồi đến lượt quay qua bắt tay ông Trần Phong. Ông mỉm
cười gật đầu chào. Dáng người đạo mạo, có phong thái
của một kẻ làm lớn. Lớn con nữa. Mặt rộng, chưn mày
rậm và to. Mắt lạnh như tiền. Bây giờ để ý ngó lại
con người của Lý Bình mới thấy da mặt hắn ta hồng hào
bóng như thoa mỡ, môi mỏng như lá liễu. Có phải đó là
tướng của những con người miệng lưỡi điêu ngoa, chuyên
về ngoại giao xã giao bề ngoài?
Ông Trần Phong kéo ghế lại gần bàn ngồi cạnh tôi, trong khi
Lý Bình lôi trong cặp samsonite một lô giấy tờ để chồng
lên xấp hồ sơ trình ký của tôi. Giấy tờ gì nữa đây?
Ba cái tụi Thái Lan lỉnh kỉnh này xưa nay đâu có ai làm giấy
tờ, ngoài giấy tờ phòng Nhì của tôi. Rõ bày vẽ. Nhưng,
Lý Bình chợt nói:
- Cái này của ông già gân nghe mậy, của ông Trần Văn Hương
đó.
Trời, thiệt hôn? Vừa vừa thôi nghen, dám đem cả ông Phó
tổng thống đầu bạc ra hù mình nữa à? Tuy vậy, tôi cũng
nên nể mặt hai tên này một chút. Biết đâu một trong hai
thằng dám có thằng làm Bang chủ một Bang nào đó trong Chợ
Lớn? Biết đâu có ngày mình phải khom lưng cúi gối nhờ
cậy lại họ? Tôi lõ mắt nhìn Lý Bình. Hắn nói tiếp:
- Bây giờ mày phải ký vô chỗ này. Lẹ lẹ lên đặng cho
tụi nó đi đánh cá nữa chớ.
Tôi hơi bực mình. Thằng Lý Bình ấm ớ này đâu phải là
tư lệnh của tôi mà lúc nào cũng đòi ra lệnh. Ðâu có
được, tôi phản ứng ngay:
- Khoan đã. Trước khi ký tôi phải đọc kỹ mấy văn thư
này coi họ nói cái gì trong đó chớ. Ký bậy bạ đi tù sao
cha nội.
- Ừa, mày muốn đọc thì đọc đi. Ðọc lớn lên cho tao nghe
luôn. Nói cho mày hay, tao không biết coi chữ Việt, không
biết viết chữ Việt nhưng mà mày đọc trật một cái là tao
biết liền đó nghe mậy.
Vô lý. Cái thằng Tàu này sao mà lẽo mép gian hùng dữ vậy
cà? Tôi không làm theo lời hắn nói, không thèm đọc ra
tiếng. Chỉ tàng tàng coi một mình, cho bỏ ghét. Thế,
hắn mới chịu im lặng.
Ðông Phương Ngư Nghiệp Công Ty? Một cái tên xa lạ như mới
từ trên trời rơi xuống! Một công ty xuất cảng hải sản
của Việt Nam? Một cái gì quá mới mẻ chưa từng nghe qua ở
vùng trời tranh chấp về biên giới và hải phận này. Nhưng
nhìn xem, ôi thôi rồi, ai là người đã cam tâm chính thức
hợp thức hóa công việc đánh cá lậu trên hải phận Việt
Nam của tàu Thái Lan đây? Ông già đầu bạc? Cũng có thể
lắm, như thằng Lý Bình vừa nói! Hèn chi một thời gian qua
kể cũng lâu, kẻ thù chung của ta trên sóng nước tự nhiên
biệt tích giang hồ. Ðể lấy trớn. Một bước lùi đẩy
xuôi năm bước tiến?
Bây giờ tôi phải làm gì đây? Trên nguyên tắc năm chiếc
tàu cá to lớn này đã được bán cho Việt Nam, qua trung gian
một ngân hàng ở Bangkok (viết bằng tiếng Thái đọc không
được) và Mékong Ngân Hàng ở Sài Gòn. Năm chiếc tàu này
đáng lý ra phải nhập khẩu và kiểm soát bởi quan thuế
thương cảng Sài Gòn khi đưa về nước, vì bến đăng ký là
bến Sài Gòn. Nhưng, không ai có thì giờ đâu mà làm mấy
chuyện lẩm cẩm đó. Phải nhập bến Phú Quốc và lôi đầu
quan thuế Rạch Giá qua bên này làm thủ tục nhập xứ. Ðể
tụi nó còn đi đánh cá nữa chớ. Ðúng như thằng Lý Bình
vừa nói. Ôi thôi rồi, tôi chỉ sợ ngư dân mình rồi sẽ
không có cá mà đánh. Vì bảo đảm với năm chiếc tàu này
mỗi tháng sang đây quần tới quần lui, mấy loại cá lớn cá
ngon sẽ không con nào lọt lưới. Không sót một con.
Ngày giờ trên các văn kiện đều đã ghi sẵn, phải đi
ngược thời gian hằng mấy tháng trời. Phải ký. Bằng mọi
giá phải hợp thức hóa. Không những tôi mà còn ông trưởng
ty quan thuế Kiên Giang bên thị xã Rạch Giá nữa. Tôi nghĩ
tôi phải gọi điện thoại cho ông Dũng ngay bây giờ để tham
khảo ý kiến...
- Allo, chào ông thầy, ông thầy mạnh giỏi? Tôi gọi ông từ
Phú Quốc đây. Sao, ông có nghe rục rịch gì về mấy chiếc
tàu của Ðông Phương Ngư Nghiệp Công Ty hôn? Tụi nó đã tới
chỗ tôi rồi đây nè, đang nói chuyện với phái đoàn trung
ương.
- À, về vụ này tôi cũng có lệnh từ trên Tổng. Tôi có
cho người qua đó sáng hôm nay để làm thủ tục mà, hắn ta
chưa trình diện đại úy sao?
- Thiệt vậy hả? Tôi chưa gặp, chắc còn bận cà phê cà
pháo ở ngoài phố. Theo như giấy tờ tôi đang coi đây thì
mình bị đặt vào tình trạng đã rồi, chỉ phải đặt bút ký
tên thôi, không làm gì khác hơn được.
- Tôi cũng nghĩ vậy. Ở bên đó đại úy ký xong, trên
đường về tụi nó sẽ ghé tôi. Thôi, cứ coi theo đó mà
làm, chúc may mắn...
Gác ống điện thoại lên máy, đột nhiên tôi cảm thấy rất
bực bội. Hóa ra thiên hạ ai ai cũng biết trước hết, chỉ
có tôi bị dồn vào thế
nước tới trôn rồi mới
kêu... nhảy
. Tôi ngó Lý Bình gật gật đầu:
- Bây giờ tôi đã hiểu.
Hắn càng tỏ vẻ nản chí, thở dài:
- Hiểu thì mày ký lẹ lẹ lên đi chớ còn chần chờ gì nữa?
Tôi ký vội vào những chỗ trống dành cho tôi. Xong. Lý
Bình mỉm cười lấy ra trong cạt-táp một phong bì trao cho tôi.
Ðúng là tiền trao cháo múc. Tôi tĩnh khô vạch ra đếm sơ
sơ tại chỗ. Chưa được hai tháng lương? Tụi này rõ kẹo.
Ba điều bốn chuyện một hồi thì nhân viên quan thuế mò
vào. Tôi đích thân hướng dẫn nguyên phái đoàn đi kiểm
soát tàu Thái Lan. Tôi bảo Nghĩa tháp tùng theo tôi cho có
bạn. Ra đến nơi mới thấy tụi này ngụy trang thiệt là tệ.
Mấy tấm bảng đề tên tàu bằng tiếng Việt Nam, chữ "Ðông
Phương Ngư Nghiệp Công Ty" sơn màu đỏ chói như son, cũng
không đủ dài để che hết mấy chữ Thái Lan ngoằn nghoèo,
có lẽ là tên tàu chính gốc khắc sâu vô ván thuyền. Quả
như là trò hề, đùa giai. Bề gì lúc mang tàu trở về
xứ, chỉ cần gỡ mấy tấm bảng đó ra thì cốt khỉ lại hoàn
cốt khỉ, tàu Thái Lan cũng lại hoàn tàu Thái Lan. Chẳng hại
ai hết, chẳng chết thằng Tây nào. Tiện và lợi.
Lần đầu tiên đám ngư phủ Thái thấy quan ta mà không biết
sợ. Dám cười đùa làm quen với người ngoại quốc. Tôi
quay qua hỏi Nghĩa:
- Anh thấy trong cái đám này có thằng nào bị mình bắt
trước đây chưa?
Nghĩa cười hề hề:
- Tui thấy thằng nào cũng giống như thằng nấy. Hồi đó
tới giờ mình bắt cả ngàn thằng, làm sao mà nhớ hết cho
nổi, đại úy.
Trong khi đó Trần Phong và Lý Bình xí xô xí xào tiếng Tàu
với mấy tay anh chị bự có lẽ là đám thuyền trưởng và
thuyền phó. Thì ra ở đâu cũng có một thằng Tàu làm đầu
tàu. Mình không hiểu được tiếng nói của nó mới kẹt.
Trình bày mọi diễn tiến và thông báo kết quả, chắc chỉ
vậy thôi. Một lát sau, một tên Thái mặc áo sơ mi và vận
xà-rông màu mè, nước da đen thiệt là đen có lẽ là dân
nấu bếp, bưng lên một khay lớn đầy trái cây. Toàn là
thứ mắc tiền như nho, táo, lôm chôm, măng cụt. "
Mời,
ăn lấy thảo đi mấy ông thầy.
" Nó nói bằng tiếng Thái
Lan nghe điếc con ráy, nhưng tôi tạm hiểu ngầm như vậy.
Cứ tự nhiên, ăn giỗ đi trước...
Hải quân ta thiệt tình chỉ đứng ra làm chứng chớ chẳng có
làm gì động móng tay. Làm hay không phải nói là mỗi một
mình ông quan thuế mà thôi. Vì chính ông mới có thẩm
quyền. Cái quyền tháo những cục chì bấm vào các khoen nhỏ
niêm phong các khoang, hầm dưới tàu. Một dấu hiệu quốc
tế trong ngành hải quan. Tất cả chỉ là đóng kịch, diễu
dở vì không ai không biết ở dưới đó toàn là hầm trống
hoặc hầm chứa nước đá ướp trấu hay ướp mạt cưa.
Chắc chắn không có hàng quốc cấm, không có vũ khí đạn
dược.
Loay hoay một chút là xong. Chúng tôi xuống ghe nhỏ trở vô
bờ và các tàu Thái Lan hụ còi chia tay nhau, xả máy tủa ra
khơi đi đánh cá. Tôi nhắn nhủ với Nghĩa một câu:
- Cái nghề bắt tàu cá Thái Lan của hải quân mình bao nhiêu
năm nay coi như đã chết. Cái nghề đặc biệt dành riêng cho
những người đi biển này coi như đã đi vào lịch sử. Anh
có cảm thấy ngậm ngùi trong giờ phút mình chính thức khai
tử nó hay không?
- Cho nó chết cho rồi, ông ơi. Mệt thấy mồ mà ai ăn ai
hưởng chớ mình có chấm mút được chút gì đâu.
Câu trả lời của Nghĩa thiệt tình không hợp với tâm trạng
của tôi một mảy may nào hết. Mất đi cái kiêu hùng hãnh
diện của người hải quân trước nhiệm vụ bảo vệ đất
nước quê hương. So với tôi, Nghĩa vẫn còn một con mắt
thực tế...
Rồi ngày tháng tiếp tục trôi qua trong yên lặng, bình thản.
Không còn cảnh tàu cá Thái Lan cặp cầu bộ tư lệnh. Không còn
cảnh chia tôm, chia cá, xẻ cá làm khô. Những con tôm con cá
từ những chiếc tàu Thái Lan đánh trộm không may bị bắt.
Bây giờ có sóng gió bão bùng gì gì đi nữa thì chỉ ở trung
tâm hành quân mà thôi. Vì lúc nào chiến hạm ta cũng phát
hiện tàu Thái Lan xâm nhập hải phận. Vẫn đuổi theo, vẫn
bắn chận đầu. Vẫn làm nhiệm vụ. Nhưng tiếc thay, rốt
cuộc rồi chiếc nào cũng của hãng Ðông Phương Ngư Nghiệp
Công Ty. Như vậy thì thử hỏi ngoài khơi Việt Nam, trong
vùng biển thân thương này, hiện có bao nhiêu chiếc tàu Thái
Lan đã được hợp thức hóa? Tôi cũng xin chịu.
Ðiều tôi không ưa là thỉnh thoảng Lý Bình gởi lại nhà tôi
một tên trốn quân dịch. Hiển nhiên tên đó là người thân
trong gia đình hay ít ra cũng có bà con xa gần với Trương Minh
Hải, tên thiệt của Lý Bình xài trên giấy tờ. Chỉ ở tạm
thôi, chờ chuyến tàu để đi đánh cá chung với tụi Thái.
Dĩ nhiên tráng sĩ ra đi thề không bao giờ trở lại. Nhờ vụ
xuất ngoại lậu đổ bể ở Vũng Tàu trước đó không lâu
nên tôi nghiệm ra. Té ra đây cũng là một hình thức xuất
cảng người không giấy phép? Ðúng, nhưng chỉ có tính cách
cá nhân, lẻ tẻ mà thôi! Ðến nước này tôi nghĩ tôi không
làm cũng không được. Không làm người ta sẽ bứng mình đi
trong nháy mắt. Ðã trót lên lưng cọp thì phải cỡi. Ai
chẳng chịu tuân theo, người ấy không sớm thì muộn sẽ có
ngày nhận lãnh hậu quả. Ðó là trường hợp của đại tá
Bá sau này.
Tuy nhiên giữa Lý Bình và gia đình tôi cũng có nhiều cái
tình. Thấy vợ tôi mới sanh non ngày non tháng, lần nào từ
Sài Gòn ra hắn cũng mua theo mấy thang thuốc bổ. Ðặc biệt
nhứt là trái La hán quả, năm trăm đồng một trái thời
đó, tròn tròn như trái lựu màu nâu, dùng để nấu nước
uống thay trà cho mát mẻ trong mình thì dường như không khi nào
không có. Trái cây Thái Lan nữa, cũng đem lên biếu xén
đều đều mỗi lần tàu cá ghé Phú Quốc làm thủ tục nhập
khẩu. Tôi thích mấy trái táo ta, không biết bên Thái
trồng ra sao mà trái nào trái nấy lớn hơn trái cà na, trái
lê-qui-ma. Và mấy trái dưa gang Tây, tròn lớn như trái dưa
hấu. Thơm thiệt thơm, ngọt thiệt ngọt. Sau này qua Mỹ tôi
mới biết tên Mỹ của nó:
honey dew
. Giọt mật, trái
giọt mật?
Bổn phận của tôi đối với Ðông Phương Ngư Nghiệp Công Ty
chỉ có vậy. Việc làm quá dễ dàng, nhẹ nhàng như trở bàn
tay.
Khó khăn hay không đúng ra phải nói là việc đương đầu với
đám buôn lậu, với các ghe chở hàng lậu. Số là quân ta
toàn thắng trong thời gian kỷ lục, cho nên địch cũng biết
người biết ta, liền thay đổi chiến thuật chiến lược cho
hợp với tình thế mới. Bởi vậy đừng tưởng tình hình
không còn sôi động là tại vì địch không còn hơi sức hoạt
động. Những hoạt động chìm của địch so với những hoạt
động nổi đôi khi còn quỷ khốc thần sầu hơn gấp bội.
Ðầu dây mối nhợ là vào buổi trưa hôm đó lúc tôi về nhà
ăn cơm trưa thì có một người lạ mặt đến gõ cửa tìm
tôi. Vợ tôi lên tiếng trước:
- Xin lỗi bác muốn hỏi thăm ai?
- Dạ có đại úy ở nhà không bà chủ?
Là một người Tàu? Rõ ràng tôi nghe tiếng nói có hơi trọ
trẹ. Tôi bước ra. Một người đàn ông đứng tuổi
trước mắt tôi. Tóc muối tiêu, cọng to và cứng. Mặt
mày xương xẫu. Áo sơ mi trắng may bằng vải
nilfrance
giặt đã nhiều lần, mỏng thấy rõ áo lót bên trong. Quần
darcron
đen cũ, không ủi, phồng lên những nếp nhăn.
Sợi dây nịt màu nâu nhỏ bản đã bạc màu. Ðôi giày nâu
cũng lên màu mốc mốc. Ðây chỉ là một người tài-phú,
tài-phán của một công ty? Tôi đưa tay cho hắn bắt:
- Chào bác. Chắc bác muốn tìm tôi?
Hắn hơi khom lưng cúi xuống và xiết nhẹ tay tôi bằng cả hai
tay. Hắn vào đề ngay:
- Dạ chào đại úy. Nói không dấu gì đại úy, tôi đại
diện anh em buôn bán ở vùng biên giới đến đây có một
chút chuyện muốn bàn với đại úy.
Thấy đứng ngoài cửa không tiện, tôi nói:
- Mời bác vào trong này đã rồi chuyện gì ta hãy bàn sau.
Hắn bước vô nhà đảo mắt nhìn nhanh một vòng. Nhìn điệu
bộ của hắn tôi đoán chắc hắn đang ngạc nhiên dữ lắm vì
nhà tôi bên trong có vẻ nghèo xơ nghèo xác. Ở cư xá với
nhau đâu ai muốn bày biện chưng diện làm gì. Tôi kéo ghế
cho hắn rồi vòng qua phía bên kia bàn ngồi đối diện:
- Bác ngồi ghế đi bác. Em ơi, cho anh xin bình trà.
Hắn rụt rè làm theo lời tôi nói. Rồi chồm qua giải bày
tâm sự:
- Không dấu gì đại úy, lúc rày anh em bên đó làm ăn thất
bại, thua lỗ liên miên. Tại vì tàu hải quân của mình chận
bắt dữ quá. Cái điệu này nếu kéo dài hoài thì lần lần
ai cũng sạt nghiệp hết đại úy ơi. Bởi vậy anh em cử tôi
qua đây bàn chuyện hợp tác với đại úy.
Tôi vỡ lẽ. Thì ra hắn là sứ giả của cơ quan đầu não
đang chỉ huy lực lượng buôn lậu. Tôi hỏi gọn:
- Vậy bên đó muốn hợp tác như thế nào?
- Bây giờ như vầy. Có hai cách. Một là giống như chúng
tôi đang đề nghị với hải quân Miên, đóng theo chuyến,
mỗi chuyến nửa "tê." Ghe lớn hay ghe nhỏ không cần thiết,
chỉ cần biết điểm đổ và lộ trình phải được bảo vệ.
Hai là đóng theo số lượng hàng, lớn đóng lớn nhỏ đóng
nhỏ, mười đồng ăn một. Ðiểm đổ và lộ trình cũng
vậy, phải được bảo vệ.
Ðang đề nghị với hải quân Miên? Ðã được hải quân Miên
hợp tác thì có! Tàu PCF của Miên đã hộ tống ghe buôn lậu
từ lâu rồi, ai mà không biết. Chỉ kẹt một điểm là tàu
PCF Miên không thể tiếp tục hộ tống khách hàng của mình
trên chặng đường chót: vùng biển Hà Tiên, Rạch Giá. Cho
nên mặc dầu ghe buôn lậu không bị chiến hạm hải quân rượt
bắt ngoài khơi thì cũng bị ghe hải quân thuộc Duyên đoàn 44
nằm tại Hà Tiên của thiếu tá Ðào Vĩnh Tống hốt trọn ổ
tại điểm đổ hàng. Chỉ cần mua đứt hải quân Việt Nam
thì ghe buôn lậu coi như đi tàu suốt. Suốt lộ trình cũng
như điểm đến, tất cả hoàn toàn an toàn. Khỏi phải tốn
tiền chi cho hải quân Miên nữa. Nhất cử lưỡng tiện.
Dễ sợ chưa.
Hắn tưởng đâu đọc được ý tôi, tự động phát biểu ý
kiến một chiều:
- Mỗi tháng anh em sẽ cho đại úy bắt một hai chiếc nho nhỏ
để đại úy có lý do phúc trình báo cáo.
Hừ, tụi này tính kỹ thiệt. Ðối với tôi, chuyện phúc
trình báo cáo không mấy quan trọng. Lâu rồi không bắt
được chiếc nào thì đã sao đâu. Ðiều làm tôi suy nghĩ
là tôi biết chắc bên mình chẳng có ai dám làm cái chuyện
động trời cho tàu tuần đi hộ tống ghe buôn lậu như bên
hải quân Miên cả. Làm ngơ cho đi trót lọt đã là may
phước. Ðòi hỏi của bọn này cũng hơi quá lố. Nhưng
chuyện đó hạ hồi phân giải, tôi miên mang tính nhẫm coi
chọn cách nào có lợi. Ðóng theo số lượng hàng thấy ra hay
hơn nhiều. Tổng sản lượng mười triệu thì mình có một
triệu cầm chắc trong tay, mười ăn một mà. Ghe hàng lậu
trung bình chở mỗi chuyến trên dưới mười triệu là chuyện
thường... Thôi rồi, chẳng lẽ cái nghề bắt ghe buôn
lậu của hải quân trong mấy năm qua lại cũng bị khai tử kể
từ đây? Than ôi!
Vợ tôi đem ra bình trà. Tôi lấy tách rót mời hắn trước
rồi mới rót cho mình. Dầu gì hắn cũng là khách, thượng
khách không biết chừng. Châm một điếu thuốc hút lấy
hơi, suy nghĩ giây lát rồi tôi mới trả lời:
- Theo tôi nghĩ thì lời đề nghị này rất là sòng phẳng và
hợp lý. Nhưng thực ra tôi không có thẩm quyền gì hết,
tôi phải trình mọi việc lên ông tư lệnh của tôi. Chấp
thuận hay không là quyền của ổng.
- Tôi hiểu. Nhưng đại úy phải nói cho thiệt khéo để ông
tư lệnh biết rằng bằng mọi giá ổng phải chọn một trong hai
cách tôi đã đưa ra.
- Ðược rồi, để tôi lo. Chừng nào có kết quả tôi sẽ
cho bác biết ngay. Nhưng bây giờ bác đang ở đâu?
- Ðại úy khỏi cần biết tôi ở đâu. Nghề nghiệp mà.
Vài ngày nữa tôi sẽ trở lại đây gặp đại úy.
Hớp cạn tách nước trà, hắn đứng dậy kiếu từ ra về.
Tôi đứng dậy theo, tiễn hắn ra cửa, khoác tay tạm biệt
rồi trở vô một mình ngồi chống càm suy nghĩ.
Bứt mây riết rồi cũng có ngày động rừng. Những ngày
sắp tới rồi sẽ sóng gió ra sao? Làm dở bị chê thì không
nói gì, nhưng lắm khi làm hay lại cũng bị chửi. Như công
tác bắt buôn lậu này chẳng hạn. Ai biết được đầu não
của bọn buôn lậu là ai? Nếu là xếp lớn của xếp lớn của
mình thì rõ khổ.
Trở vào làm việc, tôi liền tức tốc đến trình diện đại
tá Bá. Sau khi nói rõ ngọn ngành, tôi còn nhấn mạnh một
điểm theo ý riêng của tôi:
- Tôi nghĩ nếu đại tá Sam-Sa-Rây bên Miên làm được thì bên
mình chắc cũng có cách, commandant.
- Ừa. Ðể tôi thảo luận với Sài Gòn đã rồi sẽ có
quyết định sau. Bảo nó chờ khoảng hai tuần.
Trong thời gian hai tuần đó người sứ giả của phe xưa nay
vẫn được coi là địch đã đến gặp tôi hai lần. Lần
thứ nhất tôi cho hắn biết chừng nào hắn có thể trở lại
gặp tôi. Và lần thứ hai tôi không khách sáo chút nào
hết:
- Xếp lớn của tôi không đồng ý làm việc đó. Rất
tiếc.
Hắn rất đỗi ngạc nhiên, ngỡ ngàng hỏi lại:
- Thiệt như vậy sao? Ổng thiệt không biết điều chút nào
hết sao?
- Ðó là quyền của ổng, tôi không làm gì khác hơn được.
Xin cảm phiền.
Biết sứ mạng của mình không thành, hắn buồn buồn từ giã
ra về.
Sau đó đúng như dự đoán của tôi, ghe buôn lậu do hải quân
Miên hộ tống ào ạt đổ về Hà Tiên. Số lượng ghe hải
quân của Duyên đoàn 44 cũng có hạn, không làm sao kiểm soát
hết được một vùng biển bao la. Vả lại cũng nên biết là
ghe buôn lậu thường chạy nhanh hơn ghe duyên đoàn. Nhưng
cũng lắm khi xui xẽo, nhiều chiếc không có con mắt, cứ
nhằm ngay vùng có ghe hải quân nằm chực sẵn mà lủi vào.
Chó ngáp phải ruồi. Nhìn chung, địch thiệt ra đã gặp
nhiều khó khăn và thiệt hại cũng leo đến mức độ cao lắm
lắm. Nhứt là khi đại tá Bá cho tăng cường tàu sắt, tàu
PCF, để cố tình phong tỏa khu vực này.
Bởi vậy chẳng bao lâu người bạn Tàu làm liên lạc viên
giữa đám buôn lậu và hải quân lại trở lại thăm tôi lần
nữa. Lần này hắn tươi cười vui vẽ hơn. Hắn mang theo
một đề nghị khác, hết sức táo bạo:
- Chuyện buôn bán ở biên giới coi như thông qua đi, bây giờ
mình làm ăn mốt mới. Làm một cái đáng một cái. Làm
lớn. Cỡ như vụ "có còi hụ" ở Long An vậy, đại úy biết
hôn? Tụi này chỉ cần điểm chuyển hàng từ tàu lớn xuống
tàu nhỏ được bảo đảm an ninh độ chừng hai tiếng đồng
hồ thôi. Ðồng ý chi mười "tê." Sau hai tiếng đồng hồ
thì mạnh ai chạy cứ chạy, mạnh ai bắt cứ bắt. Tha hồ,
không gì trở ngại hết. Hàng hóa cũng chẳng có gì ngoài ba
cái rượu Mỹ và thuốc lá Mỹ. Ðại úy tính sao?
Thiệt hôn? Bảo đảm không có bạch phiến, thuốc phiện,
cần sa? Tôi đặt những câu hỏi thầm trong bụng. Có kinh
nghiệm kỳ vừa rồi, tôi đáp ngay:
- Nhiệm vụ của tôi thì cũng như lần trước thôi: tôi phải
trình lên trên. Nhưng bác cứ yên tâm, lần này quyết không
để bác chờ đợi lâu đâu, tôi nghĩ chỉ trong vài ngày là
sẽ có kết quả.
- Ðại úy cố gắng nói cho suôn sẽ một lần coi. Làm ăn mà
trật vuột hoài thì còn làm ăn cái nông nỗi gì nữa.
Tôi làm đúng theo thủ tục. Và quả nhiên hắn không phải chờ
lâu, không cần phải gặp tôi đến hai lần. Vì đại tá Bá
vẫn khăng khăng cự tuyệt. Tôi chuyển lời:
- Tư lệnh của tôi cũng không đồng ý làm việc này. Xin bác
hãy đi nghiên cứu, hợp tác với các vùng khác vậy.
- Nữa, sao ổng không biết điều chút nào hết vậy?
- Tôi cũng đâu làm sao biết được. Bá nhơn bá bụng, mỗi
người mỗi ý...
Không đầy một tháng sau đại tá Bá được lệnh thuyên
chuyển đi nơi khác. Hình như chưa có một vị tư lệnh Vùng
4 Duyên hải kiêm đặc khu trưởng Ðặc khu Phú Quốc nào tại
chức dưới một năm? Tôi hỏi ông có biết vì lý do gì mà
ông ra đi sớm như vậy không, ông cũng chưng hững, lắc
đầu thở dài. Tuy ông không nói ra, nhưng riêng tôi tôi đã
hiểu. Ðại tá Bá không mất chức vì năm chiếc tàu Ðông
Phương Ngư Nghiệp Công Ty của Thái Lan mà rốt cuộc phải mất
chức vì bọn đầu xỏ buôn lậu đang nằm trong bóng tối.
Mới hay tự cổ chí kim phàm đã trót lên lưng cọp thì phải
biết cỡi cọp, nếu không biết cỡi cọp thì phải biết... bay.
back to top
06. NHỮNG KẺ CƯỚP CỦA GIẾT NGƯỜI
NGUYỄN TẤN HƯNG
Chuyện ở đời thông thường hễ có hợp thì có tan.
Bởi lẽ tuần hoàn của vũ trụ? Cũng như trong cái rủi có cái
may. Bởi lẽ âm dương tương hợp của trời đất? Vũ
trụ trời đất đối với tôi bao giờ cũng là những cái gì
quá lớn lao, khó hiểu. Vì vậy nếu có điều gì không
thể giải thích được thì tôi thường hay đổ lỗi cho ông
trời, cho thượng đế, cho đấng tạo hóa. Như số phần
của tôi chẳng hạn!
Ngày tư lệnh Vùng 4 Duyên hải, đại tá Khương Hữu Bá, có
lệnh thuyên chuyển đi nơi khác thì tôi biết, không chóng
thì chầy tôi cũng bị đổi đi theo. Lại một đơn vị mới,
không hẳn là cùng một đơn vị với ông. Tư lệnh xe giá ra
đi thì trưởng phòng Nhì phải chuẩn bị khăn gói lên đường.
Cùng chung một số phận, quân sư mà. Ðó là lẽ tự nhiên
của trời đất vũ trụ?
Mặc dầu thời gian làm việc dưới quyền ông không lâu và
chỗ làm ăn đôi khi tôi có phần bị đè đầu chèn ép, nhưng
rốt lại tôi cảm thấy kính trọng quí mến đại tá Bá vô cùng.
Ở ông còn có một cái gì gọi là đạo đức và lễ giáo của
người nho sĩ. Của một nhà tu thì đúng hơn, một người
còn biết thờ cúng, ăn chay niệm Phật. Một người hiền
lành, vị tha.
Với bà đại tá Bá nữa!
Khi tôi tâm sự rằng thằng con tôi bệnh nặng quá chừng,
chắc không qua khỏi ngày hôm nay, bà liền bảo tôi bằng mọi
giá phải tức tốc đem vô bệnh xá hải quân. Cho bác sĩ Thụy
điều trị. Tôi chỉ sợ phạm thuốc vì vợ tôi đang cho
thằng nhỏ uống thuốc bắc. Bà la tôi quá chừng. Bồng
thằng nhỏ đi ngay. Thằng nhỏ sắp chết thiệt. Con mắt
dường như đứng tròng, từ từ lượn qua rồi lượn lại.
Vậy mà trung úy y sĩ Lê Huy Thụy còn uống cà phê đâu đó ở
ngoài phố hay ở câu lạc bộ. Cho người chạy đi tìm, y tá
trực và cả mấy đứa đàn em. Và may quá, bác sĩ Thụy kịp
thời về đến nơi. Ðúng lúc. Bác sĩ Thụy cứu được con
tôi nhưng cũng cho nó một cái tật để đời. Hay nghẹt mũi
ban đêm, ngủ thở bằng miệng, và hay chảy máu cam. Có lẽ
tại cái ống hút nhớt đàm ở mũi và cuống phổi to quá cho
một đứa con nít mới vừa một tuổi rưỡi. Hay là tại vì
bác sĩ Thụy thọc vô sâu quá? Ðó, ơn cứu mạng thằng con
út của chúng tôi, vợ chồng tôi bao giờ dám quên. Và cho
đến ngay bây giờ kinh nghiệm cho biết, thuốc bắc chỉ tổ
làm cho bệnh sưng phổi thêm chóng phát.
Trở lại vấn đề kẻ ở người đi. Hạm trưởng khu trục
hạm Trần Hưng Ðạo HQ 1, khu trục hạm đầu tiên của hải quân
Việt Nam, Hải quân đại tá Nguyễn Văn Thiện, về thay thế
đại tá Bá. Một ngôi sao đang lên của Hải quân? Lễ bàn giao
trước tổng hành dinh bộ tư lệnh rất là đơn sơ. Không có
diễn hành, không có bắn súng. Ai nấy còn bàng hoàng vì
sự ra đi đột ngột của vị tư lệnh cũ. So với đại tá Bá
ốm và cao thì đại tá Thiện hơi mập và lùn hơn. Con
người của vị tân tư lệnh có vẻ cộc cằn, dữ tợn hơn.
Chỉ nhìn vào cặp mắt thôi, tôi đã sợ. Dường như lúc
nào cũng nổi gân máu, đỏ chạch một phía đuôi.
Mỗi lần thay ngôi đổi chủ là mỗi lần phải đắn đo, thăm
dò, tìm hiểu. Nhiều khi phải thay đổi luôn cả phương cách
làm việc. Có người bằng một quyết tâm muốn lấy điểm
ngay từ vòng đầu. Nhưng cũng có người ngược lại, càng
lè phè hơn trước, nước chảy lục bình trôi. Một "triều
đại mới" được dựng lên. Nhiều người không thể tiếp
tục xài được nữa rồi sẽ đồng loạt ra đi. Ðám đàn em
thân tín sẽ được kéo về.
Số phần của tôi thì trong dịp gặp gỡ mới đây ở trung tâm
hành quân, đại úy Lý Ngọc Ẩn, thủ khoa khóa đàn anh, đã
ân cần nhắn nhủ:
- Sớm muộn gì tôi cũng về làm cho đại tá Thiện, anh nên
tìm chỗ vọt đi là vừa. Tốt hơn hết anh nên xin hoán
chuyển với tôi. Qua Rạch Giá nắm toán sưu tập 5, dầu gì
cũng có quỹ mật phí, không đến nỗi tệ lắm.
Ðại úy Ẩn là cựu toán trưởng Toán sưu tập 4, lưới tình
báo của Hải quân ở quân khu 4. Một toán có bề thế nhứt
trong biệt đội, trong ngành. Sau vụ cơm không lành canh không
ngọt với đại tá trưởng phòng Nhì bộ tư lệnh Hải quân,
tưởng là bị tống trở về văn phòng làm tình báo tham mưu.
Suốt đời không bao giờ được đi nắm lưới nữa. Ai dè,
Hải quân thành lập Vùng 5 Duyên hải, cho nên Toán sưu tập 5
do đó mà cũng thành hình. Rồi vì nhiều kinh nghiệm trong
nghề, đại úy Ẩn lại được chỉ định đi nắm Toán 5.
Mặc dầu có hơi lép vế so với mấy Toán kia một chút,
nhưng cũng là Toán, có đồng ra đồng vô đàng hoàng.
Xưa nay Hải quân hay theo tổ chức của quân đoàn mà đặt ra
các Vùng duyên hải và Vùng sông ngòi của mình. Bốn quân
khu, bốn vùng chiến thuật thì có bốn Vùng duyên hải: 1,
2, 3 và 4. Vùng sông ngòi, tuy nhiên, chỉ có 2 mà thôi.
Vùng 3 và 4 sông ngòi ở quân khu 3 và 4. Không có Vùng sông
ngòi ở quân khu 1 và 2. Tại vì quân khu 1 và 2 không có sông
hoặc sông ngắn và hẹp quá cho nên hoạt động địch chẳng có
gì quan trọng? Có lẽ như vậy! Ngược lại, quân khu 4 bao
gồm nhiều sông rạch chảy ra biển hai bên hình chữ V của vựa
lúa miền Nam, cho nên việc thành lập Vùng 5 Duyên hải là
hợp lý. Nhưng không hợp lý chút nào hết đối với các
bạn ở các quân binh chủng khác. Ai cũng ngạc nhiên khi nghe
lính tàu nói rằng mình được thuyên chuyển về Vùng 5. Vô
lý. Về Vùng 5 mà không có đương nhiên thăng cấp và không
có ân thưởng anh dũng bội tinh với nhành dương liễu?
Tôi hiễu rõ thân phận của tôi, nên tôi trả lời khéo với
đại úy Ẩn:
- Từ từ chớ đại ca, tôi phải chạy chỗ nào cho nó sáng giá
một chút. Ðối đế nếu không còn chỗ nào khá hơn thì
chừng đó đại ca và tôi hoán chuyển với nhau cũng không
muộn mà.
- Ừa, thì nói cho anh biết trước. Ðừng để nước tới
trôn, tới hồi đó... muốn nhảy thì nhảy cũng không kịp.
- Cám ơn đại ca đã có lòng tốt với đàn em.
Sở dĩ tôi nói phân hai, nói hơi lên, không thèm chụp cơ
hội bằng vàng mà đại úy Ẩn đã mang đến, là tại vì tôi
còn tin tưởng đôi chút vào một cái phao chót: thằng Lý
Bình. Thằng Tàu Chợ Lớn đứng ra lo vụ 5 chiếc tàu cá
Thái Lan của hãng Ðông Phương Ngư Nghiệp Công Ty. Một công
ty trá hình nhằm xuất cảng lậu hải sản của Việt Nam. Lý
Bình có lần cam đoan với tôi rằng:
- Bảo đảm mầy không có đổi đi đâu hết, mầy phải ở
đây đặng lo mấy chiếc tàu cá cho ông già gân. Tao đã nói
với mầy rồi, không ai đụng tới mầy được. Ðừng có lo,
mầy hãy tin tưởng ở tao.
Chắc ăn hôn đây? Mình có thân, trước hết mình phải tự
lo lấy thân. Chớ có nên đặt hết tin tưởng vào người
khác thì mới mong thoát khỏi cái kiếp nô dịch, lệ thuộc.
Tôi nghĩ vậy và tôi tìm cách chạy thuốc. Nhưng lòng trời
đã định, nhơn chẳng được thắng thiên. Vì sự chạy
thuốc của tôi chưa đi tới đâu thì những ngày đầu của
tháng tư đen đã đến. Số mệnh người dân cũng đau
thương từ từ chìm theo số mệnh của đất nước. Phải
chăng vì Tổng Thống Thiệu quá tin tưởng, quá tùy thuộc
vào ngoại bang mà quân dân ta không còn sức chiến đấu khi bị
Mỹ bỏ rơi? Có lẽ đúng như vậy! Hay chỉ vì kém tài thiếu
đức? Hình như cũng chẳng sai! Bởi vậy bây giờ quân dân
Vùng 2 đang di tản chiến thuật. Tin tức nóng bỏng đã lan
tràn khắp mọi nơi. Thế địch mạnh như thế chẻ tre hay chỉ
tại ta chưa đánh đã chạy? Ðột nhiên tất cả mọi người
bỗng mất hết tin tưởng ở chính quyền, ở quân đội, và
ngay cả ở chính mình.
Ðể dân chúng thủ đô khỏi bị nao núng tinh thần trước tình
thế và để ngăn chận làn sóng quân dân chạy loạn đổ xô
về Sài Gòn từ Vũng Tàu, bộ tư lệnh Vùng 4 Duyên hải
được lệnh tiếp nhận khoảng trên dưới 40 ngàn dân quân tị
nạn. Một phần ba của tổng số hiện đang còn vùn vụt tăng
lên.
Sở dĩ đảo Phú Quốc được chọn làm nơi tạm cư cho đoàn
quân dân chạy loạn là vì hai lý do chính. Một là ở Phú
Quốc đang có trại tù bỏ trống kể từ ngày trao đổi tù binh
theo hiệp định Ba-Lê, có thể biến cải thành trại tị nạn
ngay lập tức mà khỏi tốn công xây cất. Hai là Phú Quốc
nằm xa đất liền. Phương tiện di chuyển khó khăn, độc
đạo chỉ có đường biển. Rất thuận tiện cho việc cô
lập, kiểm soát, và thanh lọc các phần tử bất hảo.
Ðứng trước cảnh máu chảy không ngừng như vậy thì ruột
nào lại không mềm. Quân dân cán chính ở An Thới phải nói
ai nấy đều hân hoan chuẩn bị đón tiếp đồng bào và chiến
sĩ ta. Với tất cả nhiệt tình. Nhưng kinh nghiệm chạy loạn
thì có nhiều người đã có. Trong thời 54, thời chia đôi
đất nước. Còn kinh nghiệm tiếp cư, dìu dắt người tị
nạn thì dường như chẳng có ai có hết. Tất cả bắt đầu
bằng số không. Bởi vậy những buổi họp thâu đêm bất
thần diễn ra. Ðể bàn thảo kế hoạch và đồng thời mừng
vui ghi nhận những bước tiến nhảy vọt.
Bên Hải quân, trung tá Hản, chỉ huy trưởng Hải đội 4 Duyên
phòng, được chỉ định làm chỉ huy trưởng toàn trại. Một
số lớn thiếu tá và đại úy thâm niên đã được cấp tốc
biệt phái ra đảo, để làm trưởng trại và phụ tá trưởng
trại. Ðó là những khóa sinh đang học các lớp tham mưu trung
và cao cấp ở Trung tâm huấn luyện Bổ túc của Hải quân tại
Hải quân công xưởng, Sài Gòn. Bên Quân vận, lệnh tăng
cường nhiều tàu đổ bộ và nhiều xe GMC đã được tức
khắc triệt để thi hành. Về phía cố vấn Mỹ, cầu không
vận thực phẩm cũng được thực hiện ngay. Liên tiếp
bằng nhiều phi vụ Caribou và C 123. Gạo, bột mì, dầu ăn,
thịt hộp, và lương khô. Chỉ sợ dư chớ không sợ thiếu.
Thiếu là thiếu chỗ ở. Mỗi trại chỉ có mỗi một căn nhà
tiền chế năm bảy gian, che nắng che mưa. Có nhét như nêm
đi nữa thì cao lắm cũng chỉ được phân nửa số người
nhập trại. Cảnh màn trời chiếu đất trong rừng, trong bụi
bắt buộc phải có. Thiếu là thiếu nước. Phải hạn chế
tối đa, một giọt nước là một giọt máu. Mỗi trại một
ngày chỉ được cung cấp một xe nước nhỏ thôi, bà con cô
bác hãy liệu nhường nhịn mà xài chung với nhau. Chỉ sợ
không bao lâu nữa tất cả các giếng nước trên đảo sẽ
cạn. Thiếu là thiếu nhà tắm. Tội cho mấy bà mấy cô,
giống như những con vật chỉ biết sống về đêm. Thiếu là
thiếu cầu tiêu. Cho người đi Rạch Giá, Cần Thơ mua ngay
3000 cái giá đào đất. Tự mình đào lỗ, làm xong sứ mạng
rồi lấp lại. Bất kể đàn ông hay đàn bà. Bất kể ngày
hay đêm. Thiếu là thiếu nồi niêu xoong chảo, bếp núc,
củi lửa. Cũng cho người đi mua xoong, chảo, bếp dầu hôi
mỗi thứ 3000. Dầu nấu bếp cứ lấy dầu chạy máy tàu của
Hải quân là xong... Và thiếu là thiếu quê cha đất tổ,
mới đó mà đã xa cách nghìn trùng.
- Phần anh, nhiệm vụ của phòng Nhì là phối họp với ban 2
đặc khu giải giáp quan, lính, cán bộ, công chức... vân
vân. Tịch thu hết súng lớn súng nhỏ cho tôi. Lập biên bản
giữ tiền bạc, vàng vòng, nữ trang quý giá. Mỗi người
được phép giữ tối đa một triệu tiền mặt mà thôi.
Càng giữ nhiều tiền trong mình càng gây lòng tham cho người
bên cạnh anh biết không?
- Dạ, không gì trở ngại, tư lệnh. Tôi sẽ đích thân lo
việc này.
Trở ngại hay không thiệt ra phải chờ cho đến lúc ra tận
ngoài bãi tiếp đón đồng bào thì mới biết được. Không
như thời 54, quân dân ta bây giờ tiến bộ hơn, không đi
tàu há mồm mà đi bằng tàu chở hàng loại cargo to lớn của
Mỹ. Mỗi chiếc chứa năm sáu ngàn người dễ như chơi.
Từ tàu lớn đi vào bờ cũng tân tiến hơn có tàu hạ cửa
tự động LCVP, LCM, LCU đảm trách. Vừa có trật tự cho
ông già bà cả, cho đàn bà con nít. Kẻ trước người sau.
Vừa tiện lợi cho việc kiểm soát theo dõi những thành phần
bất lương, cướp của giết người.
Việc tịch thu súng lớn súng nhỏ thì không có gì khó khăn
hết. Nghề dạy nghề. Chỉ cần làm qua, khám xét một vài
chuyến tàu tắc-xi đổ người vào bờ thì kinh nghiệm đầy
mình. Súng lớn thì đàn ông vác vai còn súng nhỏ thì đàn
bà dấu trong xắc tay. Bảo đảm không sai. Từng cây một
bất kể súng ngắn súng dài, băng cong băng chấp, súng colt
súng rouleau, nòng ngắn nòng dài, đầu đen đầu bạc...,
thậm chí đến súng ám sát nhỏ như bật lửa zippo cũng đều
cùng chung số phận: yên nghỉ muôn đời trong lòng conex.
Nói cho ngay, trở ngại lớn của tôi chính là một thành viên
trong "ủy ban giữ hộ tài sản dân chúng" của tôi không chịu ký
tên vào biên bản. Ông trung úy Hy, thuộc quân cảnh tư pháp
của quận Dương Ðông. Là người trong nghề, các thành viên
khác cũng như tôi ai cũng biết chữ ký của ông trung úy Hy có
giá trị như thế nào. Một dấu ấn miễn tố trước tòa án
quân sự mặt trận. Khỏi sợ lâm vào cảnh sa cơ thất thế,
nếu có gì đổ bể xảy ra. Ông Hy già đầu hai thứ tóc
không ký thì thôi, để đó tính sau, bây giờ căn bản sáu
thành phần còn lại cũng phải ký bừa vào. Phòng Nhì hải
quân, phòng An ninh hải quân, ban 2 đặc khu, ban An ninh đặc
khu, Quân cảnh và Cảnh sát.
Chẳng biết ở trên tàu Mỹ, thủy thủ đoàn cho đồng bào ta
ăn uống ra sao mà không một ai tươi cười tỉnh táo hết.
Kể cả những cặp uyên ương, những đôi tình nhân son trẻ.
Bèo nhèo, bệ rạc. Hốc hác, tiều tụy. Thậm chí nhiều
người đã ngáp ngáp, đi đứng xiêu vẹo. Ông già bà lão
phần lớn sắp chết, thở không ra hơi. Con nít đừ câm,
thoi thóp. Lều cứu thương của các cơ quan từ thiện, tôn
giáo được dựng lên tức thì. Cha và sư không biết từ
đâu tới cũng có mặt ngay từ giây phút đầu tiên. Thiếu
nước? Hèn chi! Thôi rồi, tàu tân tiến của Mỹ cũng
chẳng hơn gì tàu há mồm. Hóa ra không có một cuộc chạy
loạn tìm tự do nào được coi là vui sướng hết sao?
Chiều ngày tiếp cư đầu tiên, sau khi ủy ban của tôi giao
tiền bạc, vàng vòng, và hột xoàn cho tư lệnh, tôi có phàn
nàn về trường hợp của trung úy Hy. Ðại tá Thiện bảo tôi
để đó rồi ông sẽ tính. Không ngờ sau buổi họp chung với
tất cả sĩ quan tham mưu và các sĩ quan trưởng trại, ông
liền họp riêng với ủy ban của tôi, chửi trung úy Hy một
mách:
- Bộ anh tưởng anh là ông trời ở đây hay sao mà tôi bảo anh
ký vô biên bản anh lại không ký, hả?
- Thưa đại tá, công việc này có tầm vóc lớn lao, xin đại
tá cho tôi đứng ngoài. Ðại tá cũng biết, lỡ sau này có
gì không ổn, tôi có đứng ngoài thì tôi mới chạy chọt gỡ
gạt được.
- Tôi không cần anh nói lý lẽ với tôi, tôi ra lệnh cho anh
ký vào biên bản thì anh phải ký. Anh không ký được thì tôi
sẽ ký cho anh: tám củ. Thế thôi. Anh đi ra đi, tôi không
cần cái chữ ký của anh.
Thế mới biết đại tá Thiện tánh người không thiện, không
nguội chút nào hết.
Qua ngày sau, tiếp tục bốc chiếc thứ hai. Công việc của
mọi người hầu như không có gì thay đổi. Tôi và đám đệ
tử vẫn thường xuyên túc trực tại bãi ủi. Tại vì công
tác giải giáp khám xét là công tác đầu tiên, ngay khi đồng
bào ta bước chân lên bờ.
Mặc dầu biết chắc chắn bà con thân nhân của mình không có
trong đám tị nạn, nhưng lúc nào tôi cũng trong ngóng gặp
được người quen. Một thằng bạn hay một người tình
cũ, ai cũng làm tôi vui mừng sung sướng hết. Tôi bảo đảm
như vậy. Nhưng, người quen của tôi tôi gặp trước hết
không phải là một thằng bạn hay một người tình cũ, mà là
ông "hạm trưởng lé" của tôi. Ông hạm trưởng HQ 405 thuở
nào tôi mới ra trường, đổi xuống tàu. Ông "liếc xéo"
tôi một cái, từ ngữ anh em dưới tàu hay dùng cho ông, ra
mặt kẻ cả hất hàm hỏi:
- Anh làm gì ở đây?
Nữa, lại cũng làm trời!
Nhớ ngày nào ông cấm trại tôi cho đến khi có lệnh mới.
Suốt đời ở dưới tàu, không được đi bờ? Nhớ ngày
nào ông biệt phái tôi qua HQ 617 vì bên ấy thiếu sĩ quan đi
phiên. Quay tiếp cho đủ dose? Nhớ ngày nào tôi đại diện
tất cả sĩ quan dưới tàu nhảy ra uống đua lon bia với hạm
trưởng. Uống làm sao lẹ hơn "ống cống" được, cho nên
tôi phải bò ra cửa "ramp" (cửa đổ bộ) rồi bò vào. Thay
vì 7 ngày phép nếu tôi thắng cuộc. Cả tàu vỗ tay cổ võ
hạm trưởng hay cười chê thiếu úy đây? Nhớ ngày nào ông
cho sử dụng cần trục câu tôi lên tàu từ chiếc you-you (ghe
nhỏ dùng để đi bờ của tàu lớn), vì tôi say quá mạng ở
bến đò Tô Châu, Hà Tiên. Cho ngươi biết mặt? Và nhớ
đôi lần hẹn hò, dắt Ngọc, cháu của hạm trưởng, đi chơi
trong sở thú. Mười phương phải chừa một phương. Tại vì
ông nói vậy nên tôi cố tình phá lệ, thích chống đối
ông, cho ông biết tay?
Bao năm trôi qua, ông bây giờ trông sao mà tiều tụy! Áo bỏ
ngoài, đầu không mũ kết. Cặp lon trung tá còn mới có lẽ
mới vừa móc vội lên vai. Ðể phe ta dễ dàng nhận dạng.
Tại vì không ai điên khùng, vỗ ngực xưng tên ta đây làm
lớn trong cảnh loạn quân. Ngỡ ngàng trong cảnh ngộ, tôi
đưa tay chào ông cái "rụp," rồi vui vẽ bắt tay ông:
- Dạ, tôi đang làm trưởng phòng Nhì, commandant. Sao
commandant lại chạy tơi tả như vầy?
Nhưng ông không thèm trả lời tôi, quay qua anh binh nhứt thuộc
ban 2 đặc khu, đang lui cui làm thủ tục khám xét túi hành trang
của ông:
- Ðù me, anh có biết tôi là ai không mà anh dám lạng quạng
hả? Ði chỗ khác chơi, bằng không ông đá cho một cú bỏ
mạng bây giờ.
Nữa, lại cũng tính nào tật nấy!
Chửi người như tát nước vô mặt. Lính bộ binh không phân
biệt lon lá hải quân là chuyện thường mà. Tôi vội nói
chữa, giải thích cho người lính trẻ đang ngơ ngác nhìn tôi
trân trối:
- Ê, đây là xếp lớn của tôi. Anh qua xét đám bên kia đi.
- Dạ, đại úy.
Rồi ông quay qua hỏi tôi:
- Tư lệnh ở đây là ai?
- Dạ, đại tá Thiện, commandant. Nguyễn Văn Thiện,
commandant biết ổng hôn? Ổng cũng mới đổi về đây được
vài tháng.
Tiện tay, tôi xách luôn cái xắc cá nhân cho người hạm
trưởng cũ, chắc hẳn đang mệt mỏi rã rời. Hướng dẫn
ông đến gặp đương kim tư lệnh Vùng, tôi liền bàn giao
ông lớn cho ông lớn. Thoát nạn.
Mãi gần đến trưa tôi mới gặp được một thằng bạn cùng
khóa. Thằng Nhan Vân, một bộ đồ bốn túi dính thân.
Không lon lá nón nảy gì cả. Hai đứa vui mừng bắt tay, vỗ
vai nhau.
Ðó là lúc tôi nghe phong phanh rằng đã phát giác và bắt
được tên đầu xỏ, từng gây nhiều tội lỗi tày trời
trên tàu. Hảm hiếp. Hiếp vợ và con gái của một vị đại
tá. Giết người. Giết luôn ông đại tá rồi quăng xác
xuống biển. Cướp của. Cướp đoạt tất cả vòng vàng nữ
trang của đàn bà phụ nữ. Nhiều nạn nhân đã nhận dạng,
điềm chỉ, và quyết tâm truy tố hắn ra trước pháp luật.
Giết người đền mạng. Phải cho hắn lãnh án tử hình.
Tử hình tại chỗ? Ðể làm gương? Răn đe những ai còn
dám manh tâm làm loạn trên trại tù, trại tị nạn?
Không biết lệnh từ đâu tới. Từ Sài Gòn đưa xuống hay
từ cá nhân đại tá Thiện? Chỉ thấy thiếu úy Sơn, biệt
danh Sơn khùng thuộc Thủy xưởng An Thới, lôi một người
mặc đồ lính ra bãi cát trống sát bờ biển, ung dung kê
súng colt 45 vô đầu nhắm từ sau bắn tới. Bụp. Hắn té
xấp xuống mặt cát giãy giụa vài cái rồi nằm im bất
động. Một cái xác không hồn. Hai tay vẫn còn bị trói
thúc ké. Bản án tử hình xảy ra trong nháy mắt. Rùng rợn.
Rởn tóc gáy, nổi da gà. Cũng không thua gì cảnh thiếu
tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn thằng Việt Cộng. Nhưng màn
giết người này diễn ra có hơi xa nên không ai thấy máu văng
ra phía nào.
Tôi tự hỏi không biết hắn đã đi đường nào vô bờ và
tại sao hắn đã thoát khỏi màng lưới kiểm soát của tôi?
Tài sản hắn cướp đoạt của dân đâu phải nhỏ và như vậy
hắn cất dấu ở đâu?
Mới hay màng lưới của tôi thật sự chỉ là màng lưới
thưa. Lưới tám. Tám sải chớ đừng nói tám phân. Chỉ
để chận bắt mấy tên lòng tong lục chốt, ngu dốt khờ
khạo, dám để tiền và vàng trong xắc tay hay trong vali. Mà
cũng ngộ, trời sinh ra người ta đâu phải ai cũng khôn lanh
xảo quyệt hết. Nhờ vậy mà ủy ban của tôi mới có chút
việc để làm.
Thử hỏi nếu để vào những chỗ kín trong người đàn bà
thì ai mà phát giác được? Và hãy thách đám đàn em của
tôi đi. Ðố thằng nào dám làm anh hùng, dám sờ mó vào
những nơi cấm kỵ đó ngay giữa thanh thiên bạch nhật như
vầy. Coi tụi nó có dám làm hay không?
Nhiệm vụ khám xét đàn bà không phải của đàn ông trai tráng
như bọn tôi, mà là của mấy cô nữ quân nhân, y tá. Ðúng
y chang. Mới nghĩ ra thì đã có người bôn ba làm trước.
Và chẳng hiểu ai mau mách nước mà từ khuya toán nữ biệt
kích đã được thành hình. Ðể đối phó với đồng loại,
đồng giống. Thì ra trong cảnh loạn ly, công việc của mấy
bà mấy cô mới là quan trọng. Không riêng gì người khám
xét, mà luôn cả những kẻ dấu nhét, đút lót. Rồi, cái
ủy ban sáu thành phần của tôi coi to lớn như vậy mà rốt
cuộc chỉ là lẻ tẻ, chỉ là trò hề.
Trò hề hơn nữa là tôi cũng như nhiều sĩ quan ưu ái của
triều đại cũ bỗng trở thành những kẻ đứng bên lề. Tuy
nhiên, với riêng tôi thiệt mà nói, tôi rất mừng. Ðỡ
phải bận tâm với mấy cái lệnh quái đản như vầy:
- Còn mấy tên côn đồ, gian ác bắt được bữa nay thì giao
hết cho anh đó, Rê. Anh cứ đem ra bìa rừng "rê" láng cho
tôi.
Cái lệnh đặc biệt này dường như đêm nào cũng nghe lập
đi lập lại trong buổi họp tổng kết tình hình. Tội nghiệp
đại úy Rê, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn địa phương quân
thuộc đặc khu Phú Quốc, nhận lãnh cái nhiệm vụ "chém treo
ngành" chỉ vì cái tên. Toán xạ thủ đã được thành lập
hẳn hòi. Chiều nào tối nào cũng vậy, "rê" cả chục mạng.
Hơn một tuần lễ làm việc ngoài trời trôi qua. Dưới
nắng trưa đổ lửa, đốt người. Kết quả là tất cả
đồng bào gồm đủ mọi thành phần dân quân cán chính đều
được bốc lên trại tù. Nhiệm vụ coi như được hoàn thành
mỹ mãn. Nhưng, nếu kể như đây là một kế hoạch hành
quân thì lần đầu tiên tôi thấy "địch" chết nhiều quá mà
tôi thương. Ðành rằng trong số quả có nhiều tên đáng
chết thiệt nhưng không thể nhiều như vậy. Trên bốn
mươi. Bốn mươi ba nếu muốn nói chính xác hơn thì
phải? Chỉ một tên nằm tại bãi còn bao nhiêu phơi xác trong
rừng. "Ðịch" chết hết ta vô sự. Chiến lợi phẩm chất
đầy một dãy conex ngoài bãi hoang. Thêm một số nữ trang,
vàng vòng, kim cương và tiền mặt giao khoán cho tư lệnh.
Tôi cảm thấy rất đau xót cho số phận con người. Mạng
sống bỗng dưng bị coi thường. Chết! Nghẹn ngào tức
tưởi chết? Chết! Mà không ai có người bênh vực bào
chữa cho mình? Chết! Mà không ai có một bản án cho thân?
-
Tôi bị giết oan, tôi không làm gì hết... - Ai thù
oán tôi, ai điềm chỉ tôi, hãy cho tôi giải thích... - Nó
bắt tôi phải làm như vậy, không làm thì nó giết tôi, tôi
không có tội... - Cháu nhờ chú chuyển lời về mẹ cháu
rằng cháu vô tội, cháu chết oan
... Những lời nói trong
hãi hùng, uất ức trước khi nhắm mắt lìa đời. Những lời
nói trăn trối sau cùng là những tiếng kêu thương cầu cứu
hết sức bi ai. Mãi mãi khắc ghi sâu đậm trong lòng người
có mặt tại đó. Những người đã thay mặt đại tá Thiện
đi chứng kiến cái cảnh pháp trường, hành quyết. Một
lần rồi thôi, bảo đảm tới già tới chết không ai dám đi
nữa. Vì một khuôn mặt còn quá trẻ. Vì một vài người
không chịu chết ngay, giãy giụa hay trân mình chờ đợi phát
ân huệ cuối cùng. Dứt khoát kết liễu đời mình. Làm
sao khỏi sững sờ, rúng động?
Và hãy nhìn kỹ đại tá Thiện, con mắt lúc nào như cũng đỏ
lại ngầu thêm. Giết người cướp của? Ai? Ai làm thì
phải chết và ai làm thì được sống? Trong vinh hoa phú quý!
Chỉ vì đại tá Bá đã ra đi hơi quá sớm, tôi bồi hồi
tiếc than như vậy.
back to top
07. TRONG CẢNH SỐNG CÒN
NGUYỄN TẤN HƯNG
Kể từ khi tiếp nhận và thả lỏng gần bốn chục ngàn dân
tị nạn trong trại tù, tình hình an ninh trên đảo Phú Quốc coi
như bất ổn. Tại vì bằng mọi giá họ tìm cách trốn ra, vọt
về Sài Gòn. Và phòng Nhì của tôi bây giờ phải cáng đáng
thêm một nhiệm vụ mới: theo dõi và bắt giữ những người
đã dám cả gan vượt ngục. Cùng bọn đầu xỏ ăn hối lộ,
thiết lập đường dây đưa người đi công khai.
Tôi giao trách nhiệm này cho sĩ quan phụ tá của tôi, trung úy
Nguyễn Kỹ Lăng. Ðã có một thời làm sĩ quan phụ tá cho tôi,
hồi còn ở bộ tư lệnh Hành quân Sông. Lăng mới đổi về
đây trước ngày tiếp cư đồng bào di tản độ vài tuần lễ.
Chân ướt chân ráo, chưa nắm vững mọi thế ăn chịu, đấm
đá ở vùng này. Thiệt ra chẳng phải tôi kéo Lăng về đây,
hoàn toàn chỉ do cấp trên sắp xếp. Vì vậy giữa Lăng và tôi
có cái vui không hẹn mà thầy trò tình cờ gặp lại nhau. Trong
một hoàn cảnh đáng lý ra phải huy hoàng hơn cho Lăng nếu tháng
tư đen chưa đến vội.
Lăng làm việc rất đắc lực. Sau một tuần bố trí đã bắt
trọn ổ tổ chức đưa người xuống tàu đò lấy tiền. Tang
vật và đồng bọn lập tức được giải về bộ tư lệnh.
Thì ra chẳng phải ai khác hơn là đàn em của đại úy Minh,
trung úy Liêm, sĩ quan phụ tá trưởng ban 2 đặc khu Phú
Quốc. Chỉ có hắn mới dám làm việc tày trời này thôi.
Tất cả đưa vô trình diện tư lệnh Vùng 4 Duyên hải kiêm
đặc khu trưởng Ðặc khu, đại tá Nguyễn Văn Thiện. Tư
lệnh dằn mặt:
- Tôi không ngờ người chống lệnh lại là anh, người mà
tôi đang đặc nhiều tin tưởng nhất. Lệnh ban ra không thi
hành nghiêm chỉnh đã là có tội, vậy mà anh còn tìm cách
phá hoại nữa thì anh nghĩ sao đây? Tôi phạt anh tám trọng
cấm, anh hiểu chưa!
- Dạ...
Phải nói đây là một hình phạt rất nhẹ trong hoàn cảnh loạn
ly, kẻ sống người chết như thế này. Hơn bốn chục tên
cướp của giết người trên tàu Mỹ, thiệt cũng có mà oan
cũng có, đều bị ông xử bắn hết kia mà. Tên trung úy này
ít ra cũng phải cách chức, lột lon. Tôi hết sức ngạc
nhiên và Lăng càng thêm sững sờ:
- Thôi chết rồi đại ca ơi. Cái điệu này mình làm hay
không ai khen mà làm dở thiên hạ chê rồi. Nhè đệ tử của
ổng mà mình bắt thì rõ ràng chọc cứt không nên lỗ.
Tôi bình tĩnh đưa ý kiến:
- Mình biết vậy thì cũng đã hơi muộn rồi. Tình hình này
trước sau gì cũng sụp đổ, cũng chạy. Tôi nghĩ mình phải
lo lấy thân.
Lăng phụ họa:
- Mấy ngày nay theo sự điều tra của tôi, tôi biết thằng
hạ sĩ nhứt cận vệ của ông tư lệnh, thằng Thạch Sến, cứ
xách PCF đi Rạch Giá lia lịa. Bộ ổng sai nó qua bển mua vàng
hay sao đây? Số tiền giữ dùm của bốn chục ngàn dân đâu
phải nhỏ đại ca?
- Ối, ba cái của phi nghĩa đó để ý làm gì. Có chắc qua
nổi con trăng này hay không mà mong ngồi yên đặng hưởng?
Sống chết tới nơi rồi, tôi chỉ lo cái mạng của mình thôi.
Vài ngày qua tự nhiên mấy ông hạm trưởng nhà mình lên phòng
xin bản đồ khí tượng dữ quá. Ðiệu này chắc tới phiên
mình phải di tản chiến thuật rồi. Anh nên nhớ chỉ có bản
đồ khí tượng mới phủ trùm từ vịnh Thái Lan qua tuốt bên
Phi Luật Tân và xuống luôn quần đảo Nam Dương. Bản đồ
hải hành cận duyên, viễn duyên của mình có ra xa lắm cũng
không quá hai trăm hải lý. Vậy xin làm gì hả? Mấy chả bảo
phòng xa. Phòng xa cái gì? Chạy ra ngoại quốc thì nói chạy
ra ngoại quốc, phòng xa phòng xa... chán quá!
- Như vậy rồi đại ca có tính chạy hôn? Nếu chạy thì chạy
bằng cách nào đây? Chắc tôi phải vọt về nhà đem vợ con
ra đây cho chắc ăn đại ca ơi!
- Tôi sợ không còn kịp nữa. Anh về nhà là anh kẹt ở trong
đất liền luôn, không còn cơ hội đi. Nghe đâu tụi Việt
Cộng đánh vô tới Bình Tuy, Long Khánh rồi, quốc lộ 4 cũng
bị cắt đứt nhiều nơi. Vợ tôi về Mỹ Tho thăm gia đình
có lẽ lần cuối, khó khăn lắm mới ra được đây. Phi
trường Dương Ðông đã đóng cửa, con nhỏ em bà xã theo bả
đi ra thăm gia đình tôi cũng bị kẹt luôn. Nó đòi về quá
chừng mà không biết phải làm sao đưa nó về. Tùy anh hà,
anh tính sao thì tính. Nhưng phải cẩn thận, ông tư lệnh mà
ổng biết được ổng cũng dám đưa mình ra pháp trường lắm
chớ chẳng phải chuyện chơi.
- À, tôi có thằng bạn cùng khóa làm thuyền trưởng PCF 11,
đại ca. Có gì mình vọt xuống đó với nó.
Sẵn Lăng khơi mào về chuyện này, tôi nghĩ tôi cũng nên cho
Lăng biết luôn kế hoạch di tản của mình. Hạ sĩ quan thâm
niên nhứt trong phòng Nhì đúng ra là thượng sĩ nhứt Luân,
Phan Văn Luân. Rồi mới đến thượng sĩ Nghĩa, Lê Quang
Nghĩa, đàn em thân tín của tôi. Nghĩa làm lâu đời còn
Luân mới đổi tới khoảng năm sáu tháng. Trên bốn mươi
tuổi đầu mà Luân vẫn còn độc thân. Hồi mới về, để
tránh đụng chạm nghề nghiệp giữa hai đứa và để giúp Luân
thỏa mộng Sát Cộng như hai chữ đã xâm trên bả vai, tôi bèn
cắt Luân lo chiếc ghe "tình báo" của phòng Nhì. Ghe cào của
dân, một trăm phần trăm, khỏi cần ngụy trang. Chỉ cần
dấu súng ống đạn dược dưới khoang là có thể đi kích
Việt Cộng bất cứ lúc nào. Nói là đi kích Việt Cộng cho
dễ nghe, cho hợp với lỗ tai, chớ thiệt ra đi cào tôm cào
cá. Ý là tiền dầu tiền nhớt khỏi tốn, bơm thẳng tay
từ bồn dầu hải quân, vậy mà ông Luân của tôi đi đánh cá
mút mùa không đem về cho tôi được một cắc bạc nào hết.
Cào bao nhiêu nhậu bấy nhiêu, thỉnh thoảng còn về phòng hỏi
tôi tiền thuốc lá nữa... Tôi không dấu diếm gì Lăng:
- Tôi thấy PCF nhỏ quá, đi tàu lớn mới chắc ăn. Mình chỉ
cần một chiếc taxi để đi từ bờ ra chiến hạm, thế là
xong. Tôi sẽ xài chiếc ghe riêng của phòng Nhì mình. Tôi
đã gọi thượng sĩ Luân đem ghe về bến, neo tại bãi phía
bên ngoài vòng rào cư xá sĩ quan. Không cho đi đánh cá
nữa. Dầu mỡ máy móc phải sẵn sàng. Tôi đã dặn Luân,
nếu có gì động tĩnh, thì xách ghe vào cặp cầu bộ tư
lệnh ngay. Anh nghĩ sao, có nên họp tất cả nhân viên trong
phòng, cho họ biết kế hoạch này hôn? Ðể ai muốn đi thì
đi.
Tình trạng ở Phú Quốc càng ngày càng tệ. Chỉ tội cho
những người trên răng dưới bao tử, không một đồng teng
dính túi thì mới chịu thủ phận ăn đậu ở nhờ. Chớ ai
người ta cũng muốn đem hết của cải của mình ra để mua mạng
sống. Thậm chí có người dám đem xe honda đổi lấy vé tàu
đò đi về đất liền. Và ân hận thay cho những kẻ ham làm
giàu sớm, nhảy ra làm áp phe mua bán xe gắn máy ngay từ giờ
phút đầu tiên. Vì chẳng bao lâu không ai thèm bán, chỉ
cần cho không cho những ai có thể đưa mình ra khỏi cổng trại
tù. Giữ xe như giữ cái của nợ. Chỉ có giá trị đối
với người bản xứ biết rành rẽ đường đi nước bước mà
thôi. Vậy mà dân trên đảo nào đã ưa. Bằng chứng là
từ cổng trại tù chạy xuống chợ, xuống bến đò thỉnh
thoảng cũng có một hai chiếc hết xăng nằm lăn lóc bên lề
đường chẳng ai màng ngó ngàng tới. Chưa bao giờ tôi thấy
Phú Quốc có nhiều xe gắn máy như vậy. Loại máy lớn 90,
125 phân khối cũng chạy lềnh khênh. Hạ sĩ nhứt Thạch Sến,
cận vệ của ông tư lệnh cũng kiếm được một chiếc láng
coóng.
Tình hình Phú Quốc bắt đầu suy sụp kể từ khi có tin nhân
viên đài Mẹ Việt Nam được đưa ra đảo bằng phi cơ. Mẹ
Việt Nam còn phải chạy vắt giò lên cần cổ thì ai mà dám ở
lại? Rồi máy bay khu trục nữa, một vài chiếc vần vũ trên
không trung. MiG của Bắc Việt vào bỏ bom? Không phải đâu,
chiến đấu cơ của không quân Việt Nam! Coi kỹ lại đi.
Hừ, phi đạo của phi trường An Thới cụt ngẵn vậy mà đáp
được thì cũng hay. Và trên phi cơ leo xuống, ngoài hoa tiêu
chính hoa tiêu phụ còn có đàn bà và trẻ em nữa. Tại sao
không bay luôn qua Thái Lan? Chắc không đủ xăng!
Nhờ coi kỹ mà mấy chiếc máy bay đó không rớt. Vì từ lâu
nhiệm sở tác chiến, nhiệm sở phòng không trên các chiến
hạm đã được ban hành. Các họng súng bô-pho (Bofors, Sweden)
bốn mươi ly và o-e-li-cân (Oerlikon, Switzerland) hai mươi ly
đều chĩa lên trời. Quay qua quay lại đều chi. Tất cả các
chiến hạm đương nhiên trở thành chiến hạm trực. Bao nhiêu
chiếc tại bến? Không ít đâu, những bốn chiếc. Trợ
chiến hạm HQ 230 của thiếu tá Nguyễn Nguyên. Giang pháo hạm
HQ 330 của thiếu tá Nguyễn Văn Anh. Giang pháo hạm HQ 331 của
thiếu tá Phan Tấn Triệu. Tuần dương đĩnh HQ 616 của thiếu
tá Ngô Minh Dương. Với vũ lực của bốn chiếc này, hải
quân ta có thừa khả năng bảo vệ cả không phận lẫn hải
phận của đảo Phú Quốc.
Nhưng trước sau gì cũng chạy, nhứt là dân phòng Nhì như bọn
tôi, sống làm sao được với lũ cộng sản. Ưu tiên một
đi mò tôm. Mà chẳng lẽ với bao nhiêu binh hùng tướng mạnh
của mình lại chạy sớm như vầy sao? Tôi tự hỏi như vậy!
Chỉ vì tôi nghe phong phanh tư lệnh đã cho xe chở gạo, thực
phẩm xuống chiếc 230 của thiếu tá Nguyên, ông hạm trưởng
thâm niên nhứt trong số các hạm trưởng tại vùng. Tin tức
tình hình bây giờ rất khó thu thập. Ai làm gì cũng giữ bí
mật, không riêng gì tư lệnh.
Ngày 29 tháng Tư, tôi lại nghe phong phanh là nhân viên đài
Mẹ Việt Nam đã được đưa xuống tàu Mỹ. Chiếc Challenger,
một trong ba chiếc còn neo tại Phú Quốc. Chiếc Challenger
nằm ở phía tây mũi ông Ðội, còn hai chiếc kia nằm ở
phía tây hòn Lớn, mũi Hanh. Ðúng là tình thế càng ngày
càng nguy ngập. Ðó là theo đài BBC. Ðịch đã đánh gần
tới thủ đô. Còn đài Sài Gòn thì lúc nào cũng quân dân ta
đang chống trả mãnh liệt, bẻ gãy hầu hết các âm mưu tiến
quân của địch. Chẳng có phổ biến một tin tức gì mới
lạ.
Không ai ngờ đêm này lại là đêm rối loạn. Ngay giữa
khuya. Vì có người phát giác ra tư lệnh đã vọt rồi.
Bằng chứng là chiếc xe jeep của tư lệnh đang nằm trơ trọi
một mình trên cầu tàu. Không tài xế, không người trông
coi. Vậy thì còn chờ đợi gì nữa, hãy bồng bế nhau
đi. Thay phiên nhau xách xe tư lệnh chạy ra cư xá chở vợ con
vào cầu tàu. Ðể chuẩn bị đi ra tàu lớn. Tôi không dành
được xe, lội bộ trở ra nhà mới biết hành trang và tài
sản của gia đình vợ tôi và con nhỏ em còn đang lu bu thu dọn.
Cho vào bị vào xắc. Lại lội bộ trở vô cầu tàu như gà
mắc đẻ. Ðể xem chừng động tĩnh. Ðể mong ngóng coi
thằng Luân đem ghe riêng của mình vào chưa. Một vài gia
đình đã xuống ghe căn cứ tách bến chạy ra chiến hạm.
Vẫn còn đủ thì giờ cho nên mọi người phần lớn đều giữ
được bình tĩnh. Dân chúng chưa ai hay, đang còn say ngủ
trong canh khuya.
Nhưng "Thần Chết" bỗng dưng ở đâu lại hiện về. Chết,
tư lệnh chưa đi? PCF từ ngoài khơi rẽ sóng tiến vào, cặp
cầu. Tư lệnh đứng trên boong quát lớn:
- Các anh làm gì ở đây, hả? Làm loạn hả? Tôi còn đây
mà chưa chi mấy anh đã lo chạy, hả? Các anh muốn tôi xử
bắn các anh sao? Có đi về hết không?
Tất cả số người chưa đi được im lặng lót tót quay trở
lên bờ. Tôi vọt trước, không để tư lệnh thấy mặt.
Trở về nhà thấy vợ tôi vẫn còn tiếp tục gom góp đồ
đạc quần áo, giấy tờ, vật dụng cần thiết dồn vào mấy
cái xắc cá nhân và xắc marin. Cả cư xá nhốn nháo, tụm
năm tụm ba bàn tán. Vợ chồng đại úy Kha, chỉ huy phó căn
cứ ở cạnh nhà tôi, chắc đã đi được ra tàu lớn nên
chưa thấy về. Nghe phong phanh ông tư lệnh đã đưa hết gia
đình ra tàu Mỹ. Vậy mà không cho mình đi mới kẹt. Hại
bạn? Chơi như vậy thì chơi với ai? Ồn ào rồi cũng lắng
xuống, kết thúc bằng một giấc ngủ muộn màng. Trong hồi
hộp, phập phồng.
Ngày hôm sau, ngày 30 tháng Tư, chín mười giờ sáng tôi mới
thức dậy. Quên cả vấn đề đi làm. Thấy vợ chồng đại
úy Kha từ mé biển trước cư xá sĩ quan lội cát đi lên.
Coi vậy mà cũng sợ. Lỡ ông tư lệnh biết được thì tội
đâu phải nhỏ. Tội đào ngũ, rã ngũ. Có thể bị xử
bắn. Rất dễ dàng trong thời buổi loạn ly và tình thế
bất ổn này.
Nhưng chẳng bao lâu, định mệnh của đất nước và dân
tộc, định mệnh chung của tất cả mọi người, đã đến.
Tôi bàng hoàng nghe tướng Dương Văn Minh đọc thông điệp
"đầu hàng" trên đài phát thanh. Ðài Sài Gòn còn bắt
được ở Phú Quốc. Hãi hùng cho số phận của mình, lính
quýnh không biết phải làm gì. Tôi bảo vợ tôi:
- Anh vào bộ tư lệnh coi ông tư lệnh quyết định như thế
nào. Em và Bé Sáu lo con và chuẩn bị đồ đạc. Anh sẽ trở
về liền.
Vừa đến cổng tôi được anh thủy thủ đứng gác cho biết
tư lệnh đang họp tất cả sĩ quan ở hội trường. Tôi tạt
qua câu lạc bộ của căn cứ băng vào phòng họp. Sĩ quan đã
có mặt đầy đủ, tôi đứng phía sau nhón chân dòm vô.
Ðúng vào giai đoạn có người hỏi:
- Xin tư lệnh cho biết tư lệnh đi hay ở?
Tư lệnh chậm rãi trả lời:
- Riêng phần tôi, nếu các anh cần tôi ở lại để duy trì
trật tự cho kẻ đi người ở trong thứ tự đàng hoàng, tôi
sẽ ở lại. Nhưng, tới giờ phút cuối cùng tôi sẽ ra đi.
Dầu một chiếc thuyền con giữa biển khơi tôi cũng phải đi.
Tôi không thể sống chung với cộng sản được...
Thế thì còn đợi gì nữa? Tôi quay người vọt đi. Buổi họp
hình như cũng được chấm dứt ngay lúc đó vì tôi thấy nhiều
người túa ra chạy theo tôi. Gần đến cổng tôi thấy vợ
con tôi và con nhỏ em đã khệ nệ đem hết mấy cái va li,
mấy cái xắc marin vào bên trong vòng rào bộ tư lệnh. Vợ
tôi cằn nhằn:
- Anh đi đâu mất tiêu đi? Chờ anh lâu thấy mồ. Anh biết
hôn, có một con mẹ bới đầu tóc tới trước cửa nhà mình
hỏi thăm nhà anh chị Kha và nhà ông trung úy Tư. Không biết
có phải là Việt Cộng nằm vùng hay không, thấy sợ quá.
Con mẻ cứ ngó lom lom mấy cây súng hư của anh treo trên vách
tường...
- Rồi sao nữa?
- Em nói ai cũng chạy hết rồi, tôi phải chạy theo. Con mẻ
còn nói
hòa bình rồi, thái bình rồi phải ở lại mừng vui
chứ chạy làm chi
... Ghê quá.
Chẳng nói chẳng rằng tôi đỡ túi đồ có vẻ nặng nhứt
lên vai, tiện tay xách thêm một cái túi quân trang dài thòng
hướng dẫn cả gia đình xuống mé biển cạnh cầu tàu. Mấy
đứa nhỏ ngơ ngác không biết chuyện gì, nhìn thiên hạ qua
lại như đi chợ Tết. Tất cả nhân viên phòng Nhì và gia
đình đều có mặt đông đủ ở điểm hẹn. Gia đình sĩ quan
cũng như đoàn viên thuộc căn cứ hải quân Phú Quốc cũng
đứng chật trên cầu tàu. Ghe chủ lực và ghe yabuta từng
chuyến từng chuyến tách bến đưa người ra tàu chiến.
Không thấy chiếc ghe "tình báo" của phòng Nhì đâu hết. Cái
thằng Luân say này, giờ này nó ở đâu? Có tin tưởng nó
nổi hay không? Ðã dặn kỹ rồi mà!
Chờ một hồi chẳng thấy tăm hơi, tôi quyết định:
- Bây giờ tất cả cứ đợi ở đây. Nếu thằng Luân tới
thì cho mọi người lên ghe và chờ tôi trở lại. Tôi phải
chạy ra chỗ đậu ghe coi thằng Luân nó làm ăn như thế nào.
Tôi chạy ra cổng. Lúc đó không còn ai canh gác và dân chúng
bắt đầu tràn tới vòng đai lai rai. Tôi băng qua dãy cư xá
đã vắng tanh không một bóng người. Tôi chạy như điên qua
bãi cát cạnh cái giếng cạn. Ra đến bờ biển cạnh hàng rào
phòng thủ, tôi thấy chiếc ghe phòng Nhì vẫn còn bỏ neo tại
chỗ. Nửa mừng nửa giận. Mừng là mừng mình tìm được
mục tiêu, giận là giận thằng Luân bê bối không làm tròn
việc lớn. Tôi để nguyên quần áo giày vớ, bì bõm lội
ra ghe. Nước cao đến ống quyển rồi đến thắt lưng.
Chụp được thành ghe. Trời đất quỷ thần ơi, thằng Luân
còn đang ngủ. Ðiệu này nó mới say hồi tối đêm qua. Tôi
hét:
- Luân, Luân, Luân... thức dậy Luân. Chạy, Luân...
Nó sực tỉnh, lồm cồm bò ra kéo tôi lên ghe. Tôi tiếp tục
hét như muốn khạc ra lửa:
- Quay máy chạy chớ còn chần chờ gì nữa ông cố tổ. Dặn
anh có bao nhiêu đó việc mà làm cũng không xong. Thiệt
tình.
Thằng Luân nhào xuống hầm máy, quay ba tua liên tiếp không
nhúc nhích. Tôi bực mình, hỏi:
- Hồi đó giờ nó có hay kẹt cò như vầy hôn?
- Không. Nhạy lắm, chỉ quay một tua là nó nổ liền. Sao
nhè lúc này mà nó dở chứng vậy cà?
Chưa quay máy tàu lần nào nhưng thấy thằng Luân làm coi bộ
dễ chớ không khó. Mở sút-báp, quay cho có trớn rồi đóng
lại. Tôi vọt miệng:
- Anh để nó cho tôi.
Rồi nhảy xuống làm thử. Y chang như một người sành điệu
sành nghề. Nhưng chạy hay không còn phải hỏi lại ông trời.
Cái đầu máy Yanmar 10 mã lực một block khục khặc vài cái
rồi ngưng. Nhưng còn đỡ hơn thằng Luân, già ngắt hết
xí quách. Tôi làm lại lần nữa, quay lấy trớn thiệt
nhanh, nhanh nữa rồi mới đóng chốt. Trời bất dung nhơn
đảng, bạch bạch bạch... Tôi mừng quá sức, thiếu điều
muốn quỵ xuống bái tạ cùng ơn trên.
Lúc đem ghe vào đến điểm hẹn thì tôi biết tất cả đã quá
trễ. Dân chúng đã tràn ngập bộ tư lệnh. Băng phòng Nhì
của tôi bây giờ chỉ còn có Lăng, Nghĩa, Khương, Nhiều.
Thái và Un không có mặt. Tôi cho ghe đậu cách bờ một
khoảng, sẵn quần áo đang ướt nên tôi nhảy luôn xuống
nước đứng chỉ huy. Không quên móc khẩu colt 45 trong ngực
ra, lên đạn, cầm chặt trên tay. Người từng người đưa
ra. Lẽ dĩ nhiên đám quần thần của tôi trước, rồi mới
đến đám quân nhân và gia đình hải quân. Chỉ trong nháy
mắt là đầy ghe. Một ông lão không sợ chết vác thằng
nhỏ trên vai lội ra đến sát bên tôi nài nỉ:
- Ðại úy, đại úy cho ông cháu tôi đi tôi sẽ đưa đại úy
hai lượng vàng.
- Giờ này mà vàng với bạc gì ông ơi. Ghe đầy quá rồi,
chở thêm nữa ra ngoài kia sóng dập chết chìm cả lũ. Ông
ở lại chờ chuyến khác đi.
Nói xong, tôi liền đẩy mũi ghe ra ngoài vừa phóng theo leo
lên sàn, ra hiệu tách bến. Bạch bạch bạch..., tiếng nổ
mỗi lúc một dòn, một nhanh. Ai nấy lộ vẻ vui mừng, hân
hoan. Như đã hoàn toàn thoát nạn. Nhìn vào bờ thấy thiên
hạ lố nhố chật bãi, chật cầu mà sợ. Và càng sợ hơn
nữa khi súng đã bắt đầu nổ lai rai bên ngoài vòng đai.
Mấy chiếc tàu Mỹ đã xả máy ra khơi, những cuộn khói đen
chưa tan hết trong bầu không khí tạo thành những làn mây
thấp. Chiến hạm đã vào đội hình di chuyển từ từ.
Trợ chiến hạm HQ 230, chiếc cuối cùng còn lại cũng vừa kéo
neo xong. Chúng tôi chạy ra vừa kịp lúc. Cho ghe rà lại bên
hông, định cặp, thì than ôi... tạch tạch tạch... Tụi
tôi bị bắn? Tôi nhìn lên đài chỉ huy thấy ông hạm trưởng
đội kết-bi có rong rêu hoa lá cành, thiếu tá Nguyễn
Nguyên. Một Nguyễn Nguyên của ngày nào làm chỉ huy trưởng
căn cứ Tân Châu tôi đã từng gặp, từng ăn cơm chung.
Với đô đốc Ðinh Mạnh Hùng, tư lệnh Hành quân Sông, và
đô đốc Nghiêm Văn Phú, tư lệnh Lực Lượng Tuần Thám.
Và một Nguyễn Nguyên mới vài ngày qua đã đích thân lên xin
tôi bản đồ vùng Thái Bình Dương. Tôi tin tưởng ở mình,
đưa tay vẫy rồi che miệng kêu to:
- Commandant, commandant cho tụi tôi lên với. Toàn hải quân
mình không mà.
Một loạt M 16 trả lời tôi lũm chũm ngay trước mặt. Một
thủy thủ trên tàu bắt ống loa lập đi lập lại lời xua
đuổi:
- Tất cả các ghe nhỏ không được đến gần chiến hạm.
Tất cả các ghe nhỏ... không được đến gần chiến hạm.
Xui cho mình rồi, tôi bỗng nghĩ ra. Chiếc này chắc là
chiếc dành riêng cho tư lệnh. Thân phận tép riu của tôi
không được quyền bén mảng tới. Ði chỗ khác chơi. Tôi
bèn ra hiệu cho ghe chạy theo chiếc khác, chiếc 330. Nhưng
không còn kịp nữa, chiến hạm đã có trớn lướt đi vùn
vụt, nhanh như gió. Ghe xả hết máy mà khoảng cách cứ xa
dần xa dần. Biết không thể nào tiếp tục đi xa hơn, tôi
đau đớn ra lệnh cho Nghĩa, đang giữ bánh xe tài công:
- Anh đổi hướng chạy ra mũi Hanh cho tôi. May ra còn chiếc
tàu Mỹ nào chưa chạy, neo núp sóng bên kia hòn.
Nghĩa làm theo lệnh. Ðược một đỗi, trời bỗng nhiên
bừng bừng nổi cơn giông. Mây đen vần vũ và cơn mưa rào
bất thình lình đổ chụp xuống. Ào ào ào, rất là nặng
hột. Ai nấy ướt ngoi ngóp như chuột lột. Gió ngược,
sóng ngược ùn ùn nổi dậy tư bề, muốn nhận chìm xuống
biển chiếc ghe chở khẳm. Bề dài bảy tám thước bề ngang
một hai thước, với hơn hai mươi mạng lớn nhỏ, lúc nhúc
trên ghe. Tôi bỗng nghĩ đến vợ con tôi. Tôi không muốn
mình bị rơi vào tình trạng
"Anh Phải Sống."
Tôi ra lệnh
cho Nghĩa một lần nữa:
- Anh tốp ga, quay lại cặp cầu bộ tư lệnh cho tôi. Lấy
đầy dầu rồi sẽ tính sau. Không thể ra cửa ngay bây giờ
được, sẽ bị chết chìm.
Có lẽ cùng có một cái nhìn giống như tôi, Nghĩa làm theo
tức thì. Và không ai có một phản kháng hay ý kiến gì
hết. Lúc đó tôi biết, tôi vẫn còn đủ uy quyền với
đám nhân viên của tôi. Và luôn cả những người quá giang.
Chạy cho đã rồi cũng về bến cũ. Trên cầu tàu, bộ tư
lệnh đã thưa người qua lại. Chỉ còn đám đoàn viên và
binh sĩ hải quân. Dân chúng đã tản lạc đi các nơi khác,
không còn chiếm đóng bộ tư lệnh nữa vì phương tiện ra đi
đã không còn. Ngay chính gia đình tôi cũng vậy, phương
tiện đi ngoại quốc, đi Mỹ đã mất. Nhưng nhìn kia, chiếc
PCF 11 vẫn còn nằm tại cầu. Một hi vọng cỏn con vụt lóe
lên. Rồi lại tắt lịm ngay. Tưởng là số mình còn hên,
ai dè xui lại gặp rủi. Vì viên trung úy thuyền trưởng, bạn
của Lăng, lại trung thành với trung tá Hản, chỉ huy trưởng
Hải đội 4 Duyên phòng. Nhứt định không chịu đi, quyết
một lòng chờ đợi.
Biết số phận mình trời đất đã an bày! Bởi vậy sau khi
lấy dầu xong tôi quyết định trở về đất liền, trở về
quê hương. Không đi đâu hết. Một lần nữa, không ai
phản kháng, không ai có ý kiến. Tôi kiểm điểm lại người
trên ghe. Ngoài đám nhân viên và gia đình phòng Nhì, còn có
gia đình đại úy Nguyễn Ngọc, là bạn cùng khóa với tôi đang
giữ chức vụ chánh văn phòng tư lệnh. Gia đình đại úy
Phạm Vũ Kim, khóa đàn anh đang giữ chức vụ trưởng phòng 6.
Gia đình trung sĩ nhứt Lễ, Lê Quang Lễ, em ruột Nghĩa.
Thượng sĩ nhứt Võ Thành Liêm bên phòng truyền tin chạy một
mình. Và nhiều người trước đó tôi chưa quen như anh Hải,
anh Lộc... Thêm một bạn đồng hành nữa vừa mới nhảy
xuống ghe, thiếu tá Trần Hữu Tân, cũng thuộc khóa đàn
anh.
Lúc đó vào khoảng một hai giờ trưa. Lòng tôi bâng khuâng
trống vắng. Không biết nên trách trời hay trách ai. Mưu
sự tại nhơn mà thành sự tại thiên đúng là như vầy? Kế
hoạch của tôi không xong mà kế hoạch của trung úy Lăng,
người sĩ quan hai lần phụ tá cho tôi, cũng bị thất bại.
Bất ngờ. Không ai đoán được chữ ngờ.
Ðể bảo vệ lấy thân, Luân cho mấy thằng em chui xuống hầm
bê súng ống chất đầy trên sàn ghe. Ngoài vũ khí cá nhân,
năm bảy khẩu M 16, còn có một đại liên M 30, một phóng lựu
M 79, và một máy truyền tin PRC 25. Ðạn dược thì vì chưa
có dịp để xài nên hiển nhiên đầy đủ cấp số. Nhưng
tình trạng lau chùi dầu mỡ thì không biết có được kỹ
lưỡng, thường xuyên hay không? Hay là rỉ sét bám dầy bên
trong, bắn một viên bể nòng? Gió mặn và nước mặn của
biển dễ gây ra cớ sự này lắm.
Nhưng, hình như còn thiếu một món rất quan trọng, tôi hỏi:
- La bàn đâu Luân, sao chưa đem lên?
Luân chớp chớp mắt nhìn tôi, thều thào:
- Nói ông đừng giận, tôi cất nó trong hộc tủ hồ sơ của
phòng mình. Tôi chưa kịp lấy xuống, đại úy.
- Cái gì? Hải quân mà không có la bàn thì làm sao mà hải
hành đây? Như vầy là anh hại tôi rồi!
- Thì đại úy nghĩ coi, tôi đâu có cần la bàn la biếc gì
để đi vòng vòng cái đảo Phú quốc? Hơn nữa dân đánh cá
mà thấy được là tụi nó biết ngay. Ðồ của Hải quân,
của PCF, không thể ngụy trang được.
- Ngụy trang, ngụy trang, tối ngày cứ mãi ngụy trang! Dân đi
biển mua la bàn PCF xài thiếu cha gì ở đây mà ngụy trang với
không ngụy trang. Anh sao khéo nói. Rồi bây giờ tính sao
đây? Hừ..., từ đây về Rạch Giá phải nhắm hướng
đông mà đi, vậy thì chỉ còn có cách là để mặt trời sau
lái. Nghĩa, anh có nghe tôi nói gì hôn?
- Ðược rồi, đại úy. Ông để tôi lo. Tôi đi đường
này thường xuyên mà!
- Chắc ăn hôn đó? Hết ông Luân rồi bây giờ tới anh nữa
thì tôi cũng chịu thua luôn.
Giữa biển khơi mới thấy chiếc ghe cào này quá nhỏ. Hèn
chi thằng Luân đi cào suốt ngày này sang tháng khác mà không
dư được đồng nào cũng phải. Mọi người chen chúc nhau
trên sàn ghe, trong mui. Vợ tôi sợ mấy đứa nhỏ đói,
lấy đồ ăn ra cho tụi nó ăn. May hồn có mấy ổ bánh mì
thịt vợ tôi đã nhờ thằng Minh, em đại úy Kha, mới mua
hồi ban sáng trước khi chạy. Rồi mọi người bắt chước
làm theo, hình như ai cũng có dự trữ lương thực, thức ăn
khô. Nhưng không có nước. Giờ này mới thấy nước là
quí giá, quan trọng. Với nửa lu nhỏ còn lại để phía sau
lái thì phải hạn chế tối đa...
Trời đã về chiều. Mặt trời như lúc nào cũng từ sau
lưng chiếu tới đã xuống thật thấp, gần đụng đường
chân trời phía tây.
Trên là trời, dưới là nước,
giữa là ta?
Ðó, câu nói đầu môi của những người
lính biển. Ðã không còn một chút gì oai hùng hãnh diện
cả, mà sao chỉ thấy lẻ loi, nhỏ bé quá trong cảnh mênh
mông? Biển cả thật mênh mông. Bốn bề vắng ngắt.
Tiếng máy chạy hơn nửa ga nghe đều đều theo tiếng gió.
Vận tốc không hơn vận tốc sóng bao nhiêu. Cà rịch cà
tang. Ai nấy đều im lặng trong mệt mỏi rã rời, dù chỉ
mới bốn năm giờ bó gối trên ghe. Nhưng đã lâu lắm rồi
tại sao tôi không thấy bóng dáng hòn Nghệ đâu hết? Hay là
bọn tôi đã đi lạc? Ðiều này mới là điều đáng cho tôi
lo sợ. Cái khổ tâm hàng đầu của người hải hành vẫn
luôn luôn là vị trí của mình. Ta đang ở đâu? Sao chung
quanh chỉ thấy trùng trùng sóng nước?
Bổng nhiên... "bụp," một tiếng kêu hơi khác lạ dưới
hầm máy. Hình như chân vịt chém một vật gì thật cứng.
Một khúc cây hay một con cá mập nào đó. Cá mập? Tốt
hơn hết đừng nghĩ tới chuyện đó. Nhưng, chắc chắn
không phải lên cạn, leo cồn. Vì ghe vẫn tiếp tục chạy ngon
trớn. Mà trời ơi, nước. Từ đâu không biết, nước.
Ðã tràn vào, ngập cả chưn máy. Tôi hoảng hốt:
- Khương, nhảy xuống hầm tát bớt nước ra coi. Bộ bể
chỗ nào hay sao mà nước chảy vô lẹ dữ vầy nè?
Khương tức tốc làm theo lời tôi nói. Thêm một thằng trai
trẻ nữa, tuổi độ mười bảy mười tám, lạ quắc tôi chưa
hề gặp mặt bao giờ, cũng chịu khó nhảy xuống tiếp tay.
Một cái thùng thiếc có sẵn trong khoang, lấy thêm cái xoong
nhôm lớn của Luân thường dùng để nấu cơm hàng ngày là
đủ bộ. Luân tốc ván tìm chỗ lủng. Mới hay cái niềng
sắt chịu cây láp phía sau lái đã lỏng một bên, bù loong
đinh vít bắt vào ván thuyền lâu ngày đã rỉ sét, mục gãy.
Lấy nùi giẽ nhét vào kẽ hở và cho máy chạy chậm lại. Chạy
cầm hơi. Ðường về quê sao còn dài hun hút. Và có lẽ
còn nhiều hiễm nghèo gian nan. Ðầu này có người lâm râm
khấn vái, đằng kia có kẻ làm dấu thánh giá nguyện cầu.
Ðột nhiên bên tay trái có bóng dáng một chiếc tàu Thái Lan
mờ ảo xuất hiện trên nền trời. Tàu đánh cá của hãng
Ðông Phương Ngư Nghiệp Công Ty? Một công ty của Mékong Ngân
Hàng được đỡ đầu bởi phó tổng thống Trần Văn Hương?
Những chiếc tàu đánh cá lậu mà tôi đã được chỉ thị
hợp thức hóa? Ôi, nếu mà đúng như vậy thì rõ ràng bọn
tôi đã đi lạc. Xa lắc xa lơ. Vì tàu Thái Lan không bao
giờ hoạt động trong những vùng biển cạn.
Tôi không mơ mộng chuyện đuổi theo tàu Thái Lan. Chiến hạm
của mình kia, chỉ cách nhau có mấy sãi mà còn để vuột mất
thì chuyện rượt bắt tàu Thái Lan chẳng khác nào chuyện mò
kim dưới đáy biển. Vả lại, dưới nước khác xa với trên
đất liền ở một điểm: cách nhau một thước trên mặt
biển là cách nhau hàng hải lý. Nếu không có phương tiện di
chuyển hoặc không biết lội. Cho nên kinh nghiệm cho tôi
biết, nhiều lúc tưởng là đã quá gần nhưng thực sự lại
quá xa. Quá xa không những vì ba tấc nước mà còn quá xa vì
ba tấc lòng người.
Rồi không bao lâu, bên tay phải lại xuất hiện thêm một
chiếc tàu Thái Lan nữa, nhỏ hơn. Hai chiếc mũi đối mũi,
có lẽ muốn gặp nhau để trau đổi tin tức. Hình hai chiếc
tàu càng lúc càng rõ, càng lớn trên nền trời. Và dường
như điểm hẹn lại nằm ngay trên hướng đi của bọn tôi? Lạ
thiệt. Tôi ngoái lại, nhắc chừng:
- Nghĩa à, anh ráng canh chạy ngay giữa hai chiếc tàu Thái Lan
đó cho tôi. Tụi này ủi mình một cái là bảo đảm: đứt
tiện làm hai khúc.
Nghĩa làm theo lời tôi, đổi hướng chếch sang một bên.
Nhưng quả là trời xui đất khiến, vợ tôi lại chắc lưỡi
phàn nàn:
- Anh không cặp vô tàu Thái Lan sao?
Tôi bâng quơ, vô tình hỏi lại:
- Bộ em muốn đi ngoại quốc hả?
Vợ tôi cằn nhằn ra mặt:
- Thì cứ cặp vô đi, coi mình có xin được gì thì xin. Cơm
nước, lương thực, dầu mỡ... Anh sao không biết tính
gì hết vậy.
Cũng như các vị sĩ quan chỉ huy khác, tôi không thể thay đổi
quyết định của mình như chong chóng. Quân tử nhứt ngôn,
dám nói thì cũng dám làm. Vì mỗi lần quyết định là mỗi
lần đắn đo phải trái, suy tính thiệt hơn. Cho nên, phải
triệt để thi hành. Quyết định của tôi là trở về đất
liền kia mà. Ðâu có thể thay đổi dễ dàng như vậy
được? Nhưng, đột nhiên tôi thấy vợ tôi nói hết sức
có lý. Tôi tự hỏi nếu cặp vô tàu Thái Lan thì có lợi
gì, có hại gì? Có lợi là mình còn một cơ hội cuối cùng
để ra đi. Và có thể nhờ đó mình sẽ thoát chết giữa
biển khơi. Với chiếc ghe tàn tạ này. Hai thằng em vẫn
tiếp tục đều đều bơm nước. Có hại là chỉ sợ mình lại
vị bắn như tàu hải quân. Rồi vì bất đồng ngôn ngữ,
tụi nó sẽ ra tay thanh toán mình trước nếu tưởng lầm mình
cướp tàu của nó. Tuy nhiên, bề gì cũng phải thử, phải
làm liều mới biết được. Tôi nhảy ra khoang ra lệnh:
- Nghĩa, anh chuẩn bị cặp tàu Thái Lan cho tôi. Chạy nhanh
lên một chút mới kịp. Còn Luân, mau cho mấy thằng em đem
súng đạn dấu hết dưới hầm. Mau lên, mau lên đi...
- Dấu làm gì đại úy? Ông hãy để tôi thanh toán tụi này.
- Anh có điên hôn? Cứ đem ba cái vũ khí này xuống hầm cho
tôi. Phải bình tĩnh, từ từ mà hành động.
Luân có vẻ không bằng lòng, vùng vằng làm theo lệnh của
tôi. Mặc kệ nó. Tôi cởi bỏ áo ngoài. Rồi cởi lấy
áo thung để làm cờ hiệu. Màu trắng là màu dễ thấy,
dễ nhận dạng SOS. Xong, mặc lại áo ngoài. Ở trần trùi
trụi thấy ra cũng không ổn chút nào hết. Phải có lon lá cho
nó nể mặt mình một chút, tôi nghĩ vậy.
Hai chiếc tàu Thái Lan đã gặp nhau, ngừng máy nằm một
chỗ. Và ghe bọn tôi cũng không còn cách xa bao nhiêu. Tôi
cầm cái áo thung quơ qua quơ lại, trong khi Nghĩa ngang nhiên
đâm thẳng vô hông chiếc lớn. Nhìn lên đài chỉ huy tôi
mừng quá, vì thằng thuyền trưởng này hình như trông quen
quen. Lần nào làm giấy tờ nhập cảnh, xuất cảnh cũng đều
thấy mặt nó. Thằng Nghĩa nữa, nếu tôi không lầm, đã
có lần dẫn nó đi động Kim Thai trên đảo Phú Quốc. Tôi
mong là như vậy. Vì có nặng ân oán giang hồ thì họa may nó
mới chịu ra tay cứu vớt mình trong cảnh sa cơ, thất thế như
thế này.
Nhưng còn một khoảng độ vài chục thước, bỗng dưng máy ghe
nổ bạch bạch bạch... thiệt nhanh, xịt một luồn khói đen
rồi im bặt. Chết, tai nạn gì nữa đây? Ôi thôi rồi,
cây láp đã quậy một lỗ lớn đàng sau lái. Nước ào ào
tràn vào ghe, cuồn cuộn. Sợi dây ga bằng dây câu, dây
ny-lông trong suốt cũng đứt cùng một lúc. Hai thằng em phải
bơm nhanh hơn, nhanh hơn nữa. Không kịp nữa rồi. May quá,
có một người nhào xuống bịnh lại lỗ cống. Lẹ lên.
Ðưa áo quần, vải vụn nhét lại. Tất cả mọi người trên
ghe nhốn nháo, chộp bất cứ vật gì có thể cầm được
trên tay đưa lên vẫy. Tôi cũng vậy, máng cái áo thung lên
đầu súng M 16 quơ vùn vụt, quơ bất kể quơ. Tiếng khóc la
trong kinh hoàng của nhiều người đã đồng nhịp trổi dậy.
Tôi không còn lâm râm khấn vái nữa mà run run nguyện cầu
thành tiếng: trời ơi, lạy trời cứu con, lạy trời cứu
con...
Và trong những cái tíc-tắc lâu bằng thế kỷ đó, tôi thấy
rõ ràng người thuyền phó đã dành lấy tay lái từ tên
thuyền trưởng, rồ máy cho tàu quay ngang, từ từ tiến
tới. Ôi, còn nỗi mừng vui nào lớn lao hơn nỗi mừng vui
của những người đã chết đi đang sống lại. Trời đã
cứu.
Tàu Thái Lan cặp sát bên hông. Biển êm cũng thành động khi
hai chiếc xáp lại gần. Chiếc ghe cào trồi lên hụp xuống
như một khúc củi giữa dòng. Không chần chờ gì nữa, mọi
người như một tự động tìm cách leo lên tàu vì mạng
sống. Tôi cũng vậy. Ðỡ vợ con lên trước, đồ đạc
tính sau. Vài thủy thủ Thái phóng xuống ghe tát nước, trét
chai, lấp lỗ bể, cố tình sửa chữa chiếc ghe. Số còn
lại vui vẻ kéo người lên tàu.
Rồi trong khi những người khác lo dựng lều ở sân trước,
thiếu tá Tân hợp sức với tôi ra dấu, nói quàng nói xiêng
với hai thằng thuyền trưởng và thuyền phó. Hiển nhiên có
phụ đề Anh ngữ bằng giấy mực hẳn hòi. Cũng nhờ sự
giúp đỡ tận tình của một thông ngôn trình độ tiếng Anh
dưới mẫu giáo: anh đầu bếp. Người Tàu duy nhất trên
tàu. Vậy mà cũng hiểu được nhau. Ðại khái thằng
thuyền trưởng chỉ đồng ý cho chúng tôi tạm trú để mọi
người bớt say sóng, lấy lại sức trong khi nhân viên của nó
sẽ giúp chúng tôi qua sửa chiếc ghe. Sửa xong, nó buộc
lòng phải đuổi tụi tôi trở xuống đó. Tôi ngẫm nghĩ,
vậy thì cũng như không. Trước sau gì chiếc ghe bể cũng
trở về chiếc ghe nát. Ai dại gì xuống đó, bộ muốn tự
sát hay sao? Ðâu có được!
Ðám ngư phủ Thái tài thiệt. Mới đó mà đã bít được
lỗ bể, tác sạch hết nước làm cho chiếc ghe nổi hổng lên
cao. Tài hơn nữa là tụi nó đã tìm được bịnh, nối lại
sợi dây ga và giựt máy chạy rầm trời trở lại. Tôi chỉ
sợ tụi nó đuổi mình xuống ghe ngay lập tức thì nguy, nhưng
quái lạ, có người tìm đến tôi: xin. Bằng cách đưa ngón
tay chỉ chỉ vô ngực. Tôi gật đầu liền. Trong vui
sướng, bằng lòng. Hắn hân hoan cột dây mũi của ghe vào
lái tàu. Xong, tàu bắt đầu chạy. Mặc dầu trời đã
chạng vạng tối, nhưng tôi để ý tôi biết tàu đang chạy về
hướng nam. Tại sao không chạy về hướng tây? Bộ tụi này
còn muốn ở đây tiếp tục đánh cá hay sao? Bộ tụi này
chưa biết tình hình Việt Nam đang thay ngôi đổi chủ? Thây
kệ, nó cứ đi đâu thì đi. Miễn là nó cho mình ở trên
tàu của nó giờ nào là hay giờ đó.
Không bao lâu thì đến giờ ăn chiều. Tất cả dồn ra phía
sau nhà bếp. Dân tị nạn bây giờ được làm khách, ăn
trước. Khác với hải quân ta hay ăn cơm tay cầm bằng dĩa
lớn trong những lúc biển động, đằng này tụi Thái không
cần biết biển động hay biển êm, cứ phát cho mỗi người
một thau. Và một cái muỗng. Cơm canh, thịt cá trộn lộn
hết. Ớt đổ vô cố đống cay muốn xé họng và món dưa
tỏi, dưa kiệu hình như lúc nào cũng thừa thãi, dư giã.
Mà hễ đói bụng thì cái gì lại không ngon.
Chiếc ghe "tình báo" mang tiếng tặng cho một thủy thủ Thái
bây giờ đã chìm hơn phân nửa. Biết không thể xài của
đồ bỏ được và cũng không thể kéo theo cái của nợ này
lâu hơn nữa, một tên hầm hừ chạy lại dùng dao chặt đứt
sợi dây dòng. Chiếc ghe sựng lại, rồi từ từ trôi xa,
trôi xa như chiếc lá. Âm thầm trong biển tối mông mênh.
Tôi cảm thấy đau lòng, xót xa cho số phần của nó trước
giờ phút lâm chung. Như mất một người thân. Một người
đã tự nguyện phục vụ hết sức mình và bằng lòng ở lại.
Xuôi tay về với đại dương. Ôi, hai chữ vĩnh biệt sao mà
có thật. Bất giác tôi đưa tay lên chào. Ðứng lặng
người cho đến khi không còn trông thấy gì hết.
Số phần sống chết của bọn tôi coi như đã gắn chặt vào
chiếc tàu Thái Lan này. Chiếc
Manechai Sakhorn 10
. Vậy
mà nào đã xong đâu. Vì tiếp theo đó chẳng bao lâu,
trước mặt tôi lại mờ mờ hiện ra một hòn đảo lớn. Thấp
thoáng có ánh đèn dân. Thôi rồi, đúng là hòn Nam Du.
Poulo Dama. Vậy thì phe ta vẫn còn nằm sâu trong hải phận
Việt Nam. Thằng thuyền trưởng cho tàu chạy về đây với
mục đích gì? Câu trả lời được hiểu ngay tức khắc,
phần lớn phải nhờ vào tính phản xạ, trực giác:
- Tao không thể chở tụi mày về Thái Lan được, tao phải thả
tụi mầy xuống đây. Tao sẽ bị mất chức thuyền trưởng
nếu tao không làm như vậy. Vợ con tao sẽ đói, nhà cửa tao
sẽ tiêu tan. Tụi mày phải hiểu cho tao.
Bây giờ tôi mới giựt mình. May là chiếc ghe "tình báo" đã
chìm sâu trong lòng biển lạnh sớm hơn dự tính của thằng lõi
này. Vậy thì mình phải biết tương kế tựu kế, tìm mọi
cách để tiếp tục ở lại trên tàu. Và bằng thứ ngôn ngữ
đặc biệt của một người nửa câm điếc nửa mù chữ, tôi
cũng diễn tả cho nó hiểu được ý định của tôi:
- Trong đám tụi tao có nhiều người không biết lội. Ðàn
bà con nít không bộ mày không thấy sao? Bộ mày muốn giết
tụi tao sao? Từ đây vô bờ cả cây số làm gì lội nổi.
Ghe dân thì không có, ai người ta cũng chạy ra ngoại quốc
hết rồi.
Tôi biết chắc trong hoàn cảnh này nó cũng không làm gì khác
hơn được. Nhưng tôi phải tiếp tục đưa đề nghị:
- Tại sao mày không gọi máy liên lạc về Bangkok, hỏi thằng
chủ mày coi nó có đồng ý cho mày đem tụi tao về xứ hay
không? Nếu nó chấp thuận thì mày khỏe re, vô tội vạ.
Biết đâu mày còn được thưởng nữa là đằng khác. Mày
phải biết, cứu người lâm nạn giữa biển khơi là bổn
phận chung của những người đi biển mà!
- Phải đợi tới mười hai giờ đêm tụi tao mới liên lạc
được. Mỗi ngày liên lạc chỉ có hai lần thôi, giữa trưa
và nửa khuya.
À thì ra vậy. Tôi đánh liều, chỉ vào hải đồ:
- Hay là như thế này. Tụi tao cứ theo mày ra khơi đi về
hướng hòn Thổ Châu, Poulo Panjang. Chờ tới mười hai giờ
cho mày gọi về hãng. Nếu chủ hãng không bằng lòng, mày bỏ
tụi tao ở lại đảo đó cũng được.
- Ô-kê.
Bây giờ tôi thấy thằng Luân cũng có lý. Trong đầu nó lúc
nào cũng chờn vờn một đường lối bạo động: cướp tàu.
Cướp tàu? Vì mạng sống của gia đình vợ con và tất cả
mọi người trong nhóm, tôi cũng bắt đầu manh nha chủ nghĩa
xét lại. Tôi sẽ có kế hoạch, nhưng tôi hi vọng biện pháp
cuối cùng này đừng xảy ra. Kiểm điểm lại vũ khí nắm
trong tay tôi thấy hỏa lực của phe ta quá mạnh. Có thể
chiếm luôn cả hạm đội đánh cá Thái chớ đừng nói một
chiếc. Chẳng lẽ tụi trên tàu này không sợ đám mình làm
càng? Tức nước vỡ bờ. Ðụng chân tường phải cắn.
Hãy khoan, chờ cho đến nửa đêm cái đã.
Và bây giờ có người tự động khai thiệt. Thiết tha bày
tỏ nỗi lòng của mình. Sung sướng phơi trần cái cảnh cháy
nhà ra mặt chuột. Thằng Hiếu, Hà Thanh Hiếu. Thằng trai
trẻ lạ quắc tôi chưa hề gặp mặt lần nào đã giúp Khương
tát nước ghe. Ðâu có ngờ nó là đứa đơn thân độc mã
không họ hàng quyến thuộc với bất cứ ai trong đoàn của
tôi. Chỉ vì một chút khôn lanh ranh mãnh, ngay từ buổi ban
đầu đã dám tự động nhảy vô làm đầy tớ giả mạo cho
tất cả mọi người, đem đồ đạc từ bờ ra ghe. Thế mới
là vỡ lẽ. Thế mới là phòng Nhì ba búa của tôi. Mà tại
sao đến giờ này nó mới dám hở môi? Chắc có lẽ nó sợ
tôi nổi khùng quăng nó xuống biển? Tôi nghĩ tôi đâu có
ác đến đỗi như vậy!
Nhưng cũng tại thằng Hiếu và thằng Khương không làm tròn
bổn phận mà vợ tôi cứ cằn nhằn tôi hoài:
- Ông già và thằng nhỏ năn nỉ đưa vàng thì không cho đi,
đem theo chi cái thứ vô ơn bạc nghĩa. Tối ngày hễ chuyện
của thiên hạ thì anh giỏi, còn chuyện trong nhà thì không.
Thuở đời nay đồ của ai tụi nó cũng đem lên hết mà đồ
của mình thì nó bỏ lại để chìm theo ghe. Anh có thấy anh
càng làm ơn lại càng mắc oán hôn?
Cũng có lý. Vì kể từ lúc lên được tàu Thái Lan, nhiệm
vụ của tôi đối với bạn bè, đối với nhân viên và những
người vô tình đã đi quá giang coi như đã chấm dứt. Mặc
dầu có vất vả gian nan buổi ban đầu, nhưng đối với riêng
tôi, tôi vẫn coi đây là một thành công mỹ mãn, một công
trình vĩ đại. Giờ, trả lại uy quyền của người sĩ quan cho
quân đội đang trong tình trạng biến dạng, tan rã. Trả lại
uy quyền của người chủ ghe tạm bợ về với biển cả đại
dương. Vì hiện thời ai cũng như ai. Làm lại từ đầu.
Nhưng có điều làm cho tôi chua xót nhứt là không một ai
buồn nói với tôi một tiếng nói biết ơn. Họ chỉ nghĩ
tất cả đều từ trên trời rơi xuống. Chính vì vậy tôi
đã hoài nghi: hình như mọi giá trị vật chất lẫn tinh thần
đều bị đảo lộn hoặc giả không còn nữa... trong cảnh
sống còn.
Thời gian chầm chậm trôi qua và tất cả mọi người sốt
ruột chờ đợi cái nửa đêm. Cái nửa đêm về sáng lênh
đênh trên mặt biển có một không hai trong đời mình. Và
cái nửa đêm đó rồi cũng đã đến. Kết quả là một lần
nữa thiệt không còn nỗi vui mừng nào hơn. Thằng chủ hãng
không những chấp thuận cho phép thằng thuyền trưởng đem
những kẻ lâm nạn, sống sót trở về xứ Thái mà còn tuyên
dương hắn làm một người hùng. Thôi, kể từ đây phe ta
chỉ còn ăn no ngủ kỹ, thảnh thơi thơ túi rượu bầu.
Tôi âm thầm tặng thằng thuyền phó một món quà rất quí
giá đối với nó, khẩu colt 45 còn sót lại bên mình, để
tỏ lòng biết ơn người cứu mạng.
back to top
08. NGÀY QUA TRÊN XỨ LẠ
NGUYỄN TẤN HƯNG
Sau ba ngày ba đêm lênh đênh trên biển, chúng tôi đến
Thái Lan. Hải cảng Samut-Sakhorn. Lúc đó trời mới vừa hừng
sáng, hơi sương còn mơ màng phủ trùm cảnh vật, thế gian
còn man mác mùi thiền. Ði sâu vào đất liền, thành phố
đang trở mình thức dậy. Ðèn văn minh chói sáng khắp mọi
nơi, không thua gì cảnh bình minh trên bến tàu Sài Gòn. Chỉ
khác là hai bên bờ sông đều tấp nập, thiếu vẻ đồng quê
ruộng lúa bên kia bờ Thủ Thiêm. Và quá nhiều ghe tàu đánh
cá đồng dạng cùng kiểu, chạy ra vào cửa sông như mắc
cửi.
Ngoại quốc là đây? Phải rồi, ai nấy dụi mắt nhìn quanh
trong bỡ ngỡ, ngậm ngùi. Bỡ ngỡ vì đây là xứ lạ quê
người và ngậm ngùi vì quê hương mình giờ thật sự đã quá
xa. Biết chừng nào mới có ngày trở lại. Tôi bất chợt
cảm thấy bơ vơ, nỗi bơ vơ của một đứa bé vừa chợt rời
khỏi vòng tay mẹ. Cái vòng tay bao dung muôn đời sưởi ấm
con thơ. Còn đâu nữa bóng dáng thân yêu của những thành
phố cũ, những mái trường xưa, và biết bao nhiêu người
mến thương còn ở lại.
Tàu về bến, cặp cầu. Thiên hạ trên bờ chen chúc, đông
nghẹt. Long trọng đón tiếp chồng con vắng xa lâu ngày hay là
long trọng đón tiếp những kẻ lạc loài tha hương? Nhưng,
những người đầu tiên bước xuống tàu không ai khác hơn là
những người cảnh sát áo trắng nón xanh. Trong vui mừng chào
đón, chớ không hề có vẻ gì bắt bớ điều tra. Kiểm
soát hành lý là thủ tục phải làm, thế thôi. Súng ống phải
để lại tàu, có người lập biên bản kiểm kê và tiếp
nhận.
Rồi đến lượt dân chúng, mang quà tặng túa xuống ghe.
Bánh trái, thức ăn, áo quần, và vật dụng linh tinh. Nhưng
cũng có vài thứ rất cần thiết như băng vệ sinh, bình thủy
chứa nước nóng.
Của ít lòng nhiều, thương người như
thể thương thân
. Ðến lúc lên bờ cũng vậy, người
bồng giúp đứa nhỏ, kẻ xách dùm cái xắc tay, túi quân
trang. Những cử chỉ mộc mạc rất tình người thay thế cho
sự bất đồng ngôn ngữ.
Không quên cảm ơn công cứu mạng, chúng tôi tay trong tay bận
bịu giã từ thủy thủ đoàn Thái Lan. Và liền sau đó được
đưa lên xe Van chạy thẳng một mạch về câu lạc bộ của thị
xã. Một gian phòng khang trang sạch sẽ như là chỗ dành để
hội họp cho những người làm chính trị thường thấy trong
các nhà hàng lớn. Chủ hãng tàu và những người có chức
phận trong ban điều hành thành phố đều đã có mặt đông
đủ. Phóng viên báo chí và truyền hình nữa, cũng đã sẵn
sàng. Thì ra đây là một buổi trình diễn để lấy tiếng
và quảng cáo cho hãng.
Ðiều làm tôi hết sức ngạc nhiên là tôi nhận ra ông Trần
Phong, ông xếp lớn của Mékong Ngân Hàng, cũng có mặt nơi
này. Hình như tôi chỉ gặp ông một lần duy nhất ở Phú
Quốc thì phải? Xứ lạ quê xa, người mới quen cũng kể là
thân, tôi không ngần ngại gật đầu chào:
- Dạ, chào bác.
Ông gật đầu hỏi lại tôi:
- Còn Lý Bình đâu? Nó có chạy được không?
Ô hay, tại sao kỳ vầy nè? Tôi chưng hững, giựt mình. Vì
tôi nhớ rõ ràng hồi nào lo giấy tờ cho mấy chiếc tàu cá
của hãng Ðông Phương Ngư Nghiệp Công Ty, thằng Lý Bình đã
giới thiệu ông Trần Phong với tôi và quả quyết là ông ta
không biết nói tiếng Việt. Sao bây giờ ông ta lại nói
tiếng Việt còn muốn rành hơn nó nữa vậy? Thì ra thằng
chệt Trương Minh Hải, tên thật của Lý Bình trong căn cước,
từ lâu đã gạt tôi. Nhưng mà nó gạt tôi để làm gì chớ?
Khó mà hiểu nổi lòng người, nhất là lòng người sống
về nghề buôn bán bất hợp pháp. Tôi tình thiệt:
- Lý Bình không có chạy chung với tôi. Không biết ông ta có
chạy được hay không nữa? Lúc đó lộn xộn lắm, mạnh ai
nấy lo lấy thân.
Tôi muốn nói thêm là có lẽ nó chạy chung với trung tá Thọ,
nhưng thôi. Vì không chắc lắm. Tôi biết Lý Bình ngoài
tôi ra còn chơi thân với trung tá Thọ, để được ăn nhờ
ở đậu trong cái trailer dành cho khách của thủy xưởng An
Thới. Mà chỉ huy trưởng thủy xưởng như trung tá Thọ thì
thiếu gì tàu. Tàu lớn nữa là đằng khác. Mấy chiếc
LCM, LCU đi biển vững như bàn thạch.
Ông Trần Phong quay qua người bạn già, tóc cũng đã hoa râm
như ông, có lẽ là chủ hãng tàu Thái Lan:
- Chắc phải bay về Sài Gòn ngay bữa nay mới kịp. Còn phải
lo cho vợ con của Lý Bình nữa. Không biết tình hình ở Tân
Sơn Nhất như thế nào đây? Có đáp được không?
Giờ này mà đòi trở về Việt Nam? Bộ không sợ bị kẹt
luôn trong xứ hay sao? À mà đám này tiền của như núi, đi
bằng máy bay riêng thì chắc không đến nỗi nào. Không đáp
được ở Tân Sơn Nhất thì đáp xuống phi trường Biên Hòa,
Tây Ninh rồi vọt về Sài Gòn cũng được. Nhưng, tôi lại
nghe ông bạn của ông Trần Phong nói:
- Chỉ cần gọi điện thoại về bển cho tụi nó lo...
Rồi ông ta bắt đầu chuyển sang tiếng Tàu. Tôi mù tịt,
chẳng biết hai người bàn thảo kế hoạch gì. Giây lát sau,
bỗng dưng ông ta quay lại tôi vội vã bắt tay từ biệt:
- Chúc gia đình vợ con anh được may mắn.
- Cám ơn.
Hai người vừa đi khỏi thì đám phóng viên báo chí và truyền
hình xáp lại tôi. Những câu hỏi đại khái tại sao anh phải
bỏ xứ ra đi, tại sao anh được tàu đánh cá Thái Lan cứu
vớt? Tôi cũng trả lời vắn tắt thôi vì phải nói bằng
tiếng Anh. Tôi cũng không tài giỏi gì cho lắm. May là
chẳng ai hỏi câu nào liên quan đến kế hoạch công khai đánh
cá lậu ở hải phận Việt Nam của tàu Thái Lan hết. Chắc
chưa ai biết, tất cả còn nằm trong vòng bí mật. Ðể khỏi
gây phiền phức cho những người thân còn kẹt lại ở nhà,
tôi yêu cầu đừng đăng hình ảnh của gia đình tôi trên báo.
Các phóng viên hứa sẽ làm theo ý tôi.
Vợ tôi tươi cười kéo tôi lại nói:
- Anh nè, anh coi ông Thái Lan này đòi xin hai thằng lớn của
mình đó. Ổng nói mình đòi bao nhiêu tiền ổng cũng trả
hết. Ổng có nhiều tàu đánh cá lắm, ổng còn hứa khi
nào tụi nó lớn ổng cho mỗi đứa một chiếc làm chủ nữa.
Quái đản thiệt. Chẳng biết đám dân bản xứ này muốn dở
trò gì? Vì trung úy Lăng, sĩ quan phụ tá của tôi, cũng vừa
mới kề tai tôi nói nhỏ là có một thằng đòi mướn Lăng
làm thuyền trưởng, trở về xứ đi đánh cá cho nó. Lương
hướng tất nhiên là hậu. Ðâu dễ gì tìm được một
người biết rành hải phận Việt Nam, biết nói tiếng Việt
Nam? Tôi bèn gạt ngang:
- Xin xin cái gì, nó dụ khị mình ở lại đây làm mọi cho nó
đó. Mình còn đi nữa, đi Mỹ. Không ai dại gì chôn chân
ở cái xứ cằn cỗi đen tối này.
- Thì nói cho anh nghe chơi vậy mà. Con của mình mang nặng đẻ
đau, ai khi không mà đem cho khơi khơi, coi sao được.
Rồi bắt sang màn ăn sáng. Mỗi một món cháo thịt, thịt ba
rọi đầy mỡ nổi lềnh bềnh. Không biết ai nấu, bưng vô
một xoong nhôm thiệt lớn. Coi mòi còn dở hơn cháo trắng
hột vịt muối và cơm canh ngày ba bữa dưới tàu. Nhưng phải
ăn, không còn chọn lựa nữa.
Sau khi nhận thêm một mớ quà cáp lặt vặt từ đồng bào
Thái Lan phần lớn gốc Hoa, chúng tôi lại được bồng bế
mời lên xe Van chở ra bến tàu trở lại. Chắc tại nguyên
đám tụi tôi không một ai chịu chọn Samut-Sakhorn làm quê hương
thứ hai. Lần này không xuống tàu đánh cá loại lớn nữa,
mà là một chiếc ghe khác nhỏ hơn. Có vẻ như tàu đò địa
phương hơn. Lại nhấp nhô cỡi sóng ra khơi.
Tôi vẫn đinh ninh là cả nhóm sẽ được đưa về một căn cứ
của Mỹ, hải quân Mỹ. Nhưng, vào khoảng xế trưa thì tàu
đò cặp bến Sattahip, một hải cảng nhỏ thuộc tỉnh Chonburi.
Qua sự hướng dẫn của một duyên tốc đĩnh Thái Lan. Lần
đầu tiên mới gặp hải quân bạn. Mặc dầu tàu bè có phần
hơi cũ kỹ, nhưng hải quân hoàng gia Thái trông cũng sang lắm:
đồng phục vàng may bằng polyester như Mỹ, chớ không phải
bằng vải kaki như Việt Nam. Nhưng
tà-hãn
Thái, tức là
hải quân Thái nói theo tiếng Thái, không có hiếu khách chút
nào hết. Ðã không cho mình ăn nhờ ở đậu trong căn cứ
thì thôi, ai lại nỡ lòng nào giao hải quân bạn cho người
khác trông coi.
Sau khi lên bờ và tiếp nhận thêm một mớ tặng phẩm, đồ
dùng thực dụng hằng ngày như áo quần, mền mùng, chăn
chiếu từ những nhà hảo tâm địa phương, tụi tôi lại phải
khăn gói chất lên xe đi nữa, không biết về đâu. Bây
giờ ban ngày ban mặt mới thấy rõ cảnh vật Thái Lan trên
đất liền. Cũng không khác gì Việt Nam mấy. Chỉ có lái
xe chạy bên tay trái là hơi trật trờ, nhìn trước nhìn sau
cứ tưởng tụi này sẽ đụng nhau. Lại chạy vùn vụt nữa.
Chỗ tụi tôi đến bây giờ cũng không phải là một căn cứ
hải quân Mỹ, mà là một kho đạn Mỹ đã bỏ hoang. Với hai
dãy nhà gạch một ngang một dọc. Phía trước dãy ngang là
một hàng hiên rộng, để trống cất theo kiểu nhà tiền
chế. Và tiếp theo là cái sân hẹp bề ngang nhưng dài chiều
dài, chạy tuốt ra mặt lộ, có tráng nhựa hẳn hòi. Chung
quanh vòng đai có hàng rào kẽm gai, trụ xi măng cao đến cổ.
Với khoảng một đại đội thủy quân lục chiến Thái đang cởi
trần hoặc mặc áo thung, hùng hục đóng ván ép làm sàn để
dựng lều. Cái đầu tiên vừa làm xong nằm gần dãy ngang,
dãy mà đơn vị đồn trú có lẽ đang đặt bộ chỉ huy.
Những cái kia còn trong tình trạng dang dở, nửa chừng. Thì
ra đây là một trại tị nạn đang được thiết lập, thành
hình. Cái lều đầu tiên này hẳn nhiên dành riêng cho bọn
tôi. Mà như vầy thì biết chừng nào mình mới được tiếp
xúc với tụi Mỹ, được bốc đi Mỹ? Ðành chờ thôi!
Ðộ vài giờ sau, tụi Thái lại chở thêm một đám Việt Nam
tị nạn nữa, trên chiếc xe buýt loại lớn. Tưởng ai xa lạ,
ai dè nguyên một băng lãnh đạo chỉ huy của tỉnh Rạch Giá.
Thiếu tá Thao, trưởng ty Cảnh sát, và một lô đồ đệ.
Ông Luân, tỉnh đoàn trưởng tỉnh đoàn áo đen, xây dựng
nông thôn và một số tay chưn. Ðại úy Toại, đại úy Hy bên
Cảnh sát dã chiến. Và ngay cả ông trưởng ty quan thuế
nữa. Ông Dũng, người đã từng ăn chịu với tôi nhiều
mối, nhiều đòn cũng có mặt trong phái đoàn mới tới. Có
lẽ vì quen biết với tôi cho nên ông Dũng đã đem nguyên gia
đình chui vô lều ở chung với đám hải quân bọn tôi, còn
các gia đình kia đều dồn vô dãy nhà dọc.
Không cần nhiều thì giờ, mọi người sắp xếp chỗ ăn chỗ
ở xong xuôi trong khoảnh khắc. Lựa lúc vắng người, tôi
tình thiệt hỏi ông Dũng:
- Ông thầy chạy có đem theo được tài sản của cải gì hôn?
Hình như ổng cũng không dấu diếm:
- Ðem được cái mạng sống của gia đình vợ con mình là quý
rồi. Xe cộ nhà cửa tôi giao hết lại cho mấy anh em còn ở
lại. Cũng như những gia đình khác trên ghe, tôi đâu có
chuẩn bị gì đâu, tới hồi hô chạy là ba chân bốn cẳng
chạy.
Hỏi thì cho có hỏi vậy thôi, đèn nhà ai người nấy sáng.
Lần lần rồi cũng biết. Ổng không chuẩn bị thì bà vợ
ổng không tối ngày giữ kè kè mấy cái xắc tay, với vẻ
nghiêm trọng cẩn mật như vậy. Và có thể chỉ vì lý do đó
mà ông muốn ở riêng, xa lánh những người đã biết quá
nhiều về quá khứ của ông cũng không biết chừng.
Suy bụng người ta ra bụng mình, tôi cũng vậy. Tôi muốn dọn
đi lều khác, xa lánh đám đàn em hình như đã không còn là
đàn em của tôi nữa. Tụi nó thì chắc ngược lại, suy bụng
ta ra bụng người. Cũng nghĩ rằng tôi đem theo vàng vòng
tiền của nhiều dữ lắm, để dành ăn riêng xài riêng không
chia cho tụi nó, nên từ từ đâm ra nghi kỵ ghen ghét?
Ðâu đứa nào biết là vợ tôi đã về Mỹ Tho lấy tiền trong
băng ra mua vàng, giá hai trăm hai chục ngàn một lượng, rồi
giao khoán cho ba má tôi cất giữ ở nhà. Tình trạng gia đình
tụi tôi cũng không hơn gì hoàn cảnh của tụi nó. (Mãi sau này
tôi mới biết số phần của tôi cũng không hơn gì đại úy
Xe, người trưởng phòng Nhì tiền nhiệm của tôi. Tán gia
bại sản. Vì mấy lượng vàng vợ tôi để lại nhà chỉ tổ
làm cho hai đứa em tôi sớm bị bắt vì tội vượt biên. Của
thiên trả địa mà nào đã xong đâu. Phải bỏ thêm một mớ
tiền nữa để chạy cho khỏi ở tù dài hạn. Rõ ràng đất
Phú Quốc, như tôi đã nói trước đây, vẫn còn linh thiêng
huyền bí. Ai tới đảo cũng làm tiền vô như nước mà lúc
rời đảo không chóng thì chầy tay trắng cũng hoàn trắng
tay.)
Trưa ngày sau, nhóm thứ ba được đưa lên trại. Bằng
nhiều chuyến buýt vì nhiều ghe đã tới cùng một lúc.
Ðặc biệt trong nhóm mới lên này có gia đình của cựu
tướng Ðỗ Mậu, cũng dọn vào dãy dọc. Thời gian này vài
ba lều mới đã được hoàn thành cho nên người ít chỗ
nhiều, ai muốn ở lều nào cũng được. Rộng hẹp tùy ý
chủ gia đình. Có người thì chịu khó sống theo câu
khéo
ăn thì no khéo co thì ấm
, nhưng cũng có người đòi hỏi
cái gì cũng phải thoải mái thênh thang.
Sẵn dịp này tôi cũng dọn nhà luôn. Lại mò lên dãy dọc.
Ðầu bìa kia là căn của ông Mậu thì đầu bìa này là giang
sơn của tôi. (Sau này liên hệ giữa gia đình tôi và gia
đình ông tướng cũng thân mật đậm đà lắm. Có lẽ vì ở
chung một lều, ngày ngày thấy mặt nhau. Thiệt tình mà nói
ông tướng cũng đâu còn làm gì khác hơn ngoài việc sáng
sáng, tối tối uống trà nhìn đời. Họa chăng là hai
người con trai lớn, Ðỗ Hữu Dụng và Ðỗ Hữu Tài, rất
hoạt bát và giỏi về ngoại giao. Thông thạo hai thứ tiếng Anh
và Pháp. Nhưng, cũng chẳng ai giữ chức vụ gì quan trọng
trong trại. Chỉ ở ngoài đưa ý kiến, làm cố vấn thế
thôi. Nói cho vui, Một Thuở Làm "Trùm" của tôi đâu làm sao
so sánh với một đời làm trùm của ông tướng cho được.)
Sở dĩ tôi dọn nhà là vì hai lý do. Trước hết tôi phải
tính xa hơn một bước, ăn chắc mặc bền. Lỡ mình bị
bắt buộc phải đóng đô triền miên vĩnh viễn ở đây thì
sao? Có tin nổi tụi Thái, hễ Mỹ sai đâu thì làm đó,
không đây? Chỉ ăn ở tạm vài ngày thôi rồi tụi nó sẽ đưa
mình vô căn cứ không quân Utapao của Mỹ, cách đây khoảng hơn
mười cây số, để đi Mỹ. Thiệt hả? Ði thăm viếng phi
trường B 52? Nơi phát xuất các phi vụ pháo đài bay cung ứng
cho chiến trường Việt Nam? Ai muốn bán lúa giống thì cứ
ngồi đó mà tin đi. Tôi đương nhiên học sách của Tào
Tháo, dân phòng Nhì xưa nay vẫn vậy.
Ðám nhân viên cũ của tôi đã bắt đầu coi thường tôi rồi
chăng? Mình thật sự đã không còn một uy tín nào hết?
Chính vì những câu hỏi như vầy mà tôi cần phải dọn tiệm
càng sớm càng tốt. Ðó là lý do thứ hai.
Ở thêm ngày nào sẽ mang nhục ngày nấy. Nhục vì miếng ăn,
chung lẫn riêng, nhục vì món quà của hội Hồng thập tự chia
chát không đều..., vân vân. Vả lại nhóm của tôi bấy
giờ đã phân hóa trầm trọng lắm rồi. Ðám độc thân hùa
theo thiếu tá Trần Hữu Tân, khóa đàn anh của tôi, đã trở
thành một băng có bề thế nhứt. Băng vô gia đình tại
chỗ. Trung úy Lăng, người sĩ quan hai lần phụ tá cho tôi,
thì cứ trách tôi, đổ lỗi cho tôi ngày nào không cho phép
Lăng về Sài Gòn đem vợ con ra. Ðể bây giờ kẻ chân trời
người góc biển, đời đời cách biệt. Tôi cũng cúi đầu
chịu tội thôi, biết làm sao hơn.
Tôi cam tâm chấp nhận để đám đàn em và bạn đồng cảnh
đồng thuyền cười chê tôi là người xé lẻ. Vẫn còn đỡ
hơn cái hậu quả mà tôi đoán chắc sẽ tàn khốc hơn xảy ra
sau này. Do sự đoàn kết bề ngoài, mà bên trong thì hoàn
toàn chia rẻ, cơm chẳng lành canh chẳng ngọt. Tôi nghĩ vậy
và tôi quyết định tách rời khỏi nhóm. Lẽ dĩ nhiên sự ra
đi, gãy đổ nào lại không có cái đau thương riêng của nó.
Giữa những người một lần đã sống chết với nhau nay
bỗng nhiên phải làm mặt lạ. Thiệt chuyện đời có nhiều
cảnh trớ trêu, ngang trái.
Rồi mấy ai học được chữ ngờ. Bảo đảm nhiều người
như tôi, chẳng ai ngờ số phần của người tị nạn là phải
ăn dầm nằm dề dài người tại trại tị nạn.
Thời gian mới nhập trại thiệt là sung sướng, nhàn rỗi.
Chỉ có tản bộ tán dóc, ăn no ngủ kỹ là những việc chính
phải làm. Ăn uống có bồi bếp Thái Lan, lính thủy quân lục
chiến, dọn sẵn. Chẳng khác gì một quân trường, một
trung tâm huấn luyện bỏ túi. Nhà bàn được làm bằng