Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Tập Ký Sự Văn Học: Một Phen Lận Ðận

Nguyễn Tấn Hưng



* * *

Mục Lục
01. Một Phen Lận Ðận 02. Phê Với Bình 03. Cũng Còn Lận Ðận 04. Hoàn Cảnh Sáng Tác Ở Hải Ngoại 05. Xuôi Nam, Ngược Bắc 06. Toronto, Phó Hội Làng Văn 07. Xuân Về, Tình Riêng Lần Dở 08. Tiếng Vọng Từ Ghè-Tố Miệt Vườn 09. Nói Chuyện Với... "Chủ Báo" 10. Montreal, Xứ Lạnh Tình Nồng 11. Vượt Vũ Môn 12. Ði Tây 13. Một Chuyến Xuôi Nam 14. Phụ Lục 1: Nhân đọc bài Nói Chuyện Với... "Chủ Báo" 15. Phụ Lục 2: Những Con Cá Trong Dòng Nước
   back to top

01. MỘT PHEN LẬN ÐẬN

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Vào tiết trời trở lạnh của một năm nào và trong ngày cưới của một người bạn... Ngay lúc giáp mặt tôi tại hành lang dẫn đến phòng dạ vũ, bỗng dưng ông Triệu đặt điều hỏi tôi một câu hết sức vớ vẩn:

     - Một vũng nước trong năm bảy dòng nước đục... Sao, ai đục ai trong đây cậu?

     Lẽ dĩ nhiên tôi hơi giựt mình và rất ngạc nhiên với câu hỏi hơi thiếu chảng vừng đó. Ngạc nhiên là vì lâu lắm rồi ổng và tôi chẳng hề gặp nhau, cả năm hơn có thể, lẽ ra ổng nên dành câu nói đầu môi cho một sự thăm hỏi về cái sức khỏe càng lúc càng hao mòn của tôi mới phải! Ai lại đi cắn đắng chuyện... không đâu! Còn giựt mình là tại vì ổng đã vô tình lập lại một trong bốn câu ca dao mà tôi đã dùng làm kết luận cho một truyện ngắn. Truyện Người Về Từ Cõi Chết đăng trên tạp chí Văn . Với những câu:

     Một vũng nước trong năm bảy dòng nước đục
     Chín mười người tục không có một người thanh
     Biết ai tâm sự như mình
     Chọn tơ thêu lấy tượng Bình Nguyên Quân.
*

     Tôi nhớ mang máng là đã đọc được bốn câu này trong một bài tập đọc nào đó, từ hồi còn nhỏ. Vậy mà mãi đến ba bốn chục năm sau mới có chỗ xài. Ðể nói lên cái tệ trang chung của xã hội tị nạn bên này. Thiệt tôi không ngờ ngòi bút của mình lại có tác dụng mạnh đến là như vậy. Cũng dám thay đổi lập trường và tư tưởng của những người khác chớ chẳng phải chơi! Tôi định trả lời ông Triệu rằng: "Ai trong ai đục thì tự người đó biết lấy, anh hỏi cắc cớ đàn em làm chi cho thêm lắm chuyện." Nhưng thôi. Tôi hỏi lại:

     - Mà tại làm sao anh biết được những câu thơ đó?

     Ổng cười cười, không trả lời trả vốn gì hết...

     Tôi biết là câu hỏi của tôi có hơi thừa và có phần ngớ ngẩn. Nhưng, tình thiệt, tôi có lý do riêng... Số là trước đây, lúc tập tễnh vào nghề, tôi có đem khoe với một người bạn làm cùng sở mấy số báo có bài của mình. Với nhã ý mời đọc, thế thôi. Không dè bị anh bạn thẳng thừng cho biết ý kiến, theo kiểu rất ư là "mất gốc": "Thời buổi này ai ở không đâu mà đọc sách báo chữ Việt nữa."

     Trời đất! Không khuyến khích một "tài năng" mới nổi thì thôi, ai lại đi nhẫn tâm dìm sâu xuống đáy! Sự kiện này có thể làm tôi tịt ngòi luôn! Bắt đầu từ đó trở về sau, hết dám phổ biến chữ nghĩa văn chương cho những kẻ bàng quang nữa. Ai thích đọc cứ để họ tự tìm mua lấy mà đọc. Công sức đâu mà mang đàn đi khảy tai trâu, tôi nghĩ vậy.

     Rồi tôi tự hỏi, chẳng lẽ mọi người xung quanh đây bây giờ đã để tâm theo dõi báo chí còn tường tận hơn cả tôi nữa hay sao? Nếu đúng như vậy thì là điều rất đáng mừng cho sự sống còn của nền văn hóa hải ngoại! Nhưng, vì cớ sự nào mà có sự thay đổi lớn lao trong cộng đồng của tôi?

     Không tìm ra được câu trả lời, tôi ngang nhiên tiếp tục cuộc vui. Trong đêm đó, đêm tân hôn hỗn hợp Việt-Mỹ đầu tiên của dân tị nạn trong vùng, số phần tôi như cá nằm trên thớt mà tôi không hay. Tôi tỉnh bơ, tự nhiên trò chuyện cùng những người tìm đến với mình và thỉnh thoảng cũng dìu partner ra sàn nhảy.

     Tôi đâu có ngờ là có một nhóm người đang âm thầm đưa tên tuổi tôi lên cao tận chín từng mây. Bằng cách bỏ công bỏ của, đi photocopy bài viết của tôi và phát không cho tất cả mọi người. Như phân phối một mớ truyền đơn chống Cộng vậy. Nói chớ, làm gì có chuyện "quảng cáo không công," họ đang cố tình "hạ bệ" tôi thì đúng hơn. Họ định rút thang! Bởi, họ không phổ biến cho bà con xóm giềng tất cả những gì tôi viết, mà chỉ hạn chế những bài, theo ý riêng của họ, là có sự "xúc phạm" đến những tai to mặt lớn trong cộng đồng mà thôi. Hèn chi, tôi thấy thiên hạ lần lần dồn về một góc. Xì xào bàn tán. Bạn bè đang ngồi chung bàn với tôi, lần lượt kẻ trước người sau, đều bị rỉ tai móc nối kéo đi. Thì ra trong đêm đó thân phận tôi là cùi hủi, là kẻ tử thù mà tôi nào có biết.

     Lúc biết được mới tá hỏa tam tinh! Cũng may là còn có một ít thương tình, sẵn sàng làm đồng minh, đã âm thầm lặng lẽ cho tôi hay mọi việc sau buổi tiệc tàn. Không tá hỏa tam tinh sao được khi tôi là kẻ đứng ngoài ánh sáng, còn họ là những người đang núp trong bóng tối, đang tìm mọi cách để trả thù...

     - Tụi nó như vậy đã là hiền. Không đến nỗi đem búa rìu ra để trả lời với ngòi bút như những nơi khác đã làm. Kể cũng là có lòng tốt.

     Thôi thì nơi đây cho tôi xin thành thật cám ơn những cái lòng tốt đó vậy.

     Phàm làm một người cầm bút hễ biết viết thì phải biết lách. Tại vì nếu lách không khéo thì có ngày dám vác chiếu ra tòa vì tội công khai mạ lị một mặt lớn mặt nhỏ nào đó chớ chẳng phải chơi. Phần tôi, tôi nghĩ mình lách cũng đâu có đến nỗi tệ lắm mà tại sao lại xảy ra cớ sự như vầy?

     Nói gì thì nói, kể từ giờ phút đó tôi cảm thấy bơ vơ lạc lõng. Mất tiêu sự an toàn. Sống mà cũng như đi trốn, lẫn tránh... đồng hương. Tự mình phải tách rời khỏi đám đông vì chẳng biết ai xem mình là bạn, ai coi mình là thù. Thử hỏi có ai mà không khổ tâm với cái cảnh sống còn như vậy? Nhưng thôi, nếu phải thời thế thì thế thời phải thế. Tôi bỗng dưng sớm tìm thấy được cái cảnh tập tành ở ẩn cho tôi:

     Thú thôn ổ: ao nghiên, ruộng chữ;
     Màu giang sơn: cơm sử, áo kinh.
     Pha hòa hai chữ trọc, thanh;
     Ðổi màu lữ khách, thay hình hàn nho
**

     * * *

     Bẵng đi một thời gian khá lâu. Một thời gian dài, đủ để cho tôi quên đi những cú điện thoại quấy phá ngày đêm. Muốn ngủ yên phải gỡ hết chốt cắm. Một thời gian dài, đủ để cho tôi quên đi những bức thư nặc danh không chữ ký mà lần hồi tôi cũng biết rõ là của ai. Một thời gian dài, đủ để cho tôi quên đi cái khoái cảm lâng lâng khó tả mỗi khi tôi tìm ra được một kẻ vô danh, à không, đúng ra là một thủ phạm. Một thời gian dài, đủ để cho tôi sanh tật lộng ngôn. Người xưa thường nói: "Kẻ nào khen ta là bạn ta, kẻ nào nịnh ta là thù ta, và kẻ nào chê ta là thầy ta." Nhưng tôi buộc phải nói thêm: "Còn kẻ nào chửi ta thì sẽ không là gì của ta cả." Và một thời gian dài, đủ để cho "tiếng tăm lừng lẫy" của tôi chìm xuống thật sâu, tận cùng trong lòng biển lạnh... Sau một thời gian dài như vậy có người tới điều đình với tôi:

     - Ðể nối lại tình xưa, thiên hạ đặt điều kiện với anh là anh nên bỏ những bài có ảnh hưởng không tốt với những người xung quanh đây. Ðừng in thành sách. Anh thấy sao? Anh cũng nên nhượng bộ một chút đi chớ. Anh nói xấu người ta mà người ta không làm gì anh hết kia mà.

     Không làm gì tôi hết? Nói xấu hay là nói thật đây? Rõ ràng cho đến bây giờ tôi mới thắm thía cái câu: "Biết ai tâm sự như mình!" Xét cho cùng, tôi chỉ làm nhiệm vụ của một người cầm bút mà thôi. Tôi ghi lại những gì tôi đã sống qua, trải qua, mắt thấy tai nghe. Tôi chép lại những gì cuộc đời, lắm khi ô trọc, này đã mang lại cho tôi. Những cơ hội đặc biệt đã cho phép tôi quay cuồng, hội nhập vào xã hội chung quanh.

     Nói cách khác, tôi muốn để lại trong tác phẩm của mình những phản ảnh của xã hội và thời đại mà tôi đang sống. Mặc dù lối trình bày diễn đạt của tôi đôi khi không thoát khỏi cặp mắt chủ quan, nhưng cũng nên hiểu rằng chuyện đời chẳng ít thì nhiều, không dưng ai dễ đặt điều cho ai . Hiển nhiên viết là đã chấp nhận và tôi hoàn toàn chấp nhận những hậu quả xảy ra do những gì mình viết. Mặc dù đôi khi tôi chỉ làm phận sự của mỗi một cái máy ghi đi nữa. Tôi bèn mạnh dạn trả lời với người điều đình:

     - Anh phải biết nếu đặt điều kiện như vậy chẳng khác nào kêu tôi bẻ cong ngòi bút của mình. Ðiều này nghe dễ vậy chớ khó làm lắm anh biết không? Thà là tôi mất xóm giềng hơn là mất cái quyền được viết trong tự do. Nguyễn Công Hoan có nói: "Truyện là bịa, anh nào bịa giỏi anh đó hay." Nhưng tôi xin nói thêm: "Là người cầm bút, anh nào cũng giỏi bịa hết, nhưng chẳng có anh nào dám nói láo cả." Cho nên làm một người cầm bút, tôi không thể nào nói ngược lại những gì tôi cảm nhận.

     - Nhưng tại sao anh cảm nhận toàn những điều xấu xa của thiên hạ không mà chẳng thấy điều nào tốt lành hết vậy?

     Cũng là một câu hỏi rất chí lý! Tuy nhiên, với một tấm lòng cao cả hơn một chút tôi nghĩ người đọc có thể sẽ suy ra và cảm nhận những cái tốt từ những cái xấu mà tôi đã đưa ra. Chỉ có những ai "đem bụng tiểu nhân đo lòng quân tử" mới thấy cái xấu đó chỉ có một mặt thôi. Nhưng, biết rất khó mà giải bày với người đương cuộc, tôi nói:

     - À, cái đó thì tùy ai hiểu sao hiểu. Trong cái xấu nó có cái tốt, và ngược lại. Cái giá trị của một bài viết đôi khi là ở chỗ đó.

     - Tại sao anh không chĩa mũi dùi của anh vào cái đám Cộng sản đê tiện kia kìa? Nhằm nhò gì với những kẻ vô danh tiểu tốt ở đây mà anh phải mất công đưa vào truyện!

     Rõ ràng lại là một ý kiến hay! Nhưng, làm được hay không thì là một chuyện khác. Và tôi tự biết tôi không có cái khả năng để làm những việc cao cả đó. Tôi cứ nghĩ thiển cận hơn, nếu có ai đó lỡ bị (hay được?) tôi đưa vào truyện thì người đó phải cám ơn tôi mới phải chớ! Ðâu ai dễ gì đi vào văn học sử mà không tốn một giọt mồ hôi hay một giọt nước mắt đâu... Tới đây, tôi bắt đầu thấy cuộc điều đình đã trở thành cuộc chất vấn thì đúng hơn. Tôi bèn gạt ngang:

     - Anh cũng hiểu nếu tôi viết được những gì tôi muốn viết, một tác phẩm lớn chẳng hạn, thì tôi đã thành nhà văn lớn và nổi tiếng từ lâu rồi. Ðằng này tôi chỉ viết nổi những gì tôi tự xét mình có khả năng viết tới mà thôi. Thành thử, tôi là một cây bút tầm thường. Những bài viết của tôi cũng rất tầm thường, các anh không cần phải để ý tới...

     * * *

     Rồi bẵng đi một thời gian khá lâu, lâu quá lâu, quả nhiên không ai thèm để ý đến tôi nữa. Tôi rất mừng. Vì tôi đã tìm lại được sự bình an cho chính tôi và gia đình tôi.

     Cho đến nay cả chục tác phẩm của tôi đã được hoàn tất và tuần tự ra đời, lên đường đến tay độc giả bốn phương. Mỗi tác phẩm đã mang một chủ đề riêng. Thứ tự theo thời gian sáng tác, đại khái có: Một Ðời Ðể Học , 1988, cho đời học trò, Một Thuở Làm "Trùm" , 1989, cho đời tình báo, Một Chuyến Ra Khơi , 1990, cho đời hải hồ, Một Kỷ Niệm Ðẹp , 1991, cho đời làm bạn với máy điện toán, Một Thoáng Trong Mơ , 1991, cho đời mơ mộng cùng thơ, Một Lần Xuống Núi , 1992, cho đời giao du, làm bạn với bằng hữu của tôi, Một Nỗi Buồn Riêng , 1992, cho đời tha hương, Một Cảnh Hai Quê , 1993, cho đời tị nạn, Một Trời Một Biển , 1994, cho đời sinh viên sĩ quan hải quân, Một Lần Ði, Anh Yêu , 1995, cho đời ca nhạc, Một Ðời Mỏi Mòn Trông , 1996, cho đời hát xướng, Một Thoáng Trong Thơ , 1997, cho đời thơ thẩn, Một Thoáng Hững Hờ , 1998, cho đời mơ mộng... Và bây giờ, MộT Phen Lận Ðận cho đôi dòng tùy bút, ký sự văn học. Rồi còn nữa, Một Thời Lênh Ðênh , tức Một Trời Một Biển 2 , cho đời ôm mộng hải hồ, Một Áng Mây Trôi , tức Một Trời Một Biển 3 , cho đời xẩy nghé tan đàn, Một Giấc Mơ Tiên , cho đời học sinh tỉnh lẻ, Một Ngày Ðẹp Trời , tức Một Giấc Mơ Tiên 2 , cho đời sinh viên đại học, Một Vợ Một Chồng , tức Một Giấc Mơ Tiên 3 , cho đời làm thầy giáo, Một Kiếp Nổi Trôi , tức Một Giấc Mơ Tiên 4 , cho đời động viên, nhập ngũ tòng chinh, Một Ðời Tiếp Nối , tức Một Giấc Mơ Tiên 5 , cho đời sống chung với CS...

     Nói cho ngay, độ vài tháng sau khi trình làng, Một Thuở Làm "Trùm" đã làm tôi hoang mang về ngòi bút của mình không ít. Vì có lắm kẻ chê cũng như có nhiều người khen. Chê là đại khái tại sao không "tốt khoe xấu che," mà lại đi "vạch lưng cho người xem thẹo." Còn khen thì cũng là "chê." Chê viết chưa hết, chưa đúng mức. Phải viết nhiều hơn nữa, phải vạch trần rõ ràng và chi tiết hơn nữa. Nhiều điều "lớn lao" đâu đã được nói tới đâu. Tuy nhiên, những lời chê hay khen đều chỉ giới hạn trong nội bộ của một số người đồng hội, đồng thuyền với tôi mà thôi.

     Không bằng Một Cảnh Hai Quê , đã thêm một lần nữa làm tôi điêu đứng. Chỉ điêu đứng thôi chớ thật ra cũng không có gì hãi hùng, đáng sợ lắm đâu. Chẳng qua chỉ là chuyện cũ dở ra mới! Vả lại, tôi đã có kinh nghiệm chịu đựng một lần ở thời gian trước rồi.

     Ở hải ngoại, đại khái, Thế Uyên có Nhà văn các ông là đồ nhiễu sự . Nguyễn Mộng Giác có Lời cuối cho một bộ trường thiên . Và lẽ dĩ nhiên còn nhiều người cầm bút khác có thể còn gặp nhiều thứ dữ dằn hơn nữa mà có lẽ họ không buồn viết ra. Riêng tôi, thiệt tình tôi có... một phen lận đận. Chỉ khác với Thế Uyên, Nguyễn Mộng Giác và nhiều người cầm bút khác là trong trường hợp của tôi, những người coi tôi là... kẻ thù không phải ở xa, mà ở sát nách, gần kề trong gang tấc. Thiệt là nguy hiểm, đáng ngại. Một bài học đáng giá cho tôi. Tuy nhiên, tôi không muốn nói mãi cái bất hạnh của mình. Còn phải để tâm tận hưởng hương vị cuộc đời này nữa chớ. Tôi bèn tạm kết luận suông cho những người trong cuộc, rằng:

     Ai ơi chớ nghĩ mình hèn
     Nước kia dù đục lóng phèn cũng trong
.

     * * *

     Lại bẵng đi một thời gian khá lâu nữa. Cho đến mùa lạnh năm nay, tôi được hân hạnh viết lên những dòng chữ này. Trong thanh bình, thanh thản. Phải biết, ôi, thế nào là cái nhiệm mầu của thời gian. Nó huyền diệu như những giọt nước cam lồ từ bình bát tiên vậy. Cái kinh nghiệm "hơi đau thương" của tôi, cái một phen lận đận của tôi, đã trở thành đầu đề cho tác phẩm thứ tám. Thành thật cám ơn đời, cám ơn người, những người đã cho tôi cơ hội. Ðể viết lên đôi dòng tùy bút...

     ------------------------------

     * Bình Nguyên Quân: Ngày xưa, vua nước Triệu là Triệu Vũ Vương lúc về già nhường ngôi cho con là Thái tử Hà rồi lên làm Thái thượng hoàng. Thái tử Hà là con của Mạnh Diêu thuộc dòng thứ được lập lên ngôi lấy hiệu là Triệu Huệ Vương. Trong một buổi họp đông đủ bá quan văn võ triều đình, Thái thượng hoàng nhận thấy con dòng lớn là Thái tử Chương nay lại phải đê đầu thần phục em mình thì lấy làm thương xót lắm. Sau buổi họp này, Thái thượng hoàng ngỏ ý với công tử Thắng định cắt đất Ðại, phong cho An Việt Quân tức Thái tử Chương lên làm vua, ngang hàng với Triệu Huệ Vương. Công tử Thắng cản ngăn cho rằng ngôi thứ nay đã định phân nếu thay đổi ắt có loạn. Thái tử Chương biết được sự tình đem lòng oán giận, cấu kết với gian thần âm mưu giết vua dành ngôi nhưng thất bại. Vì có công tiêu diệt bè lũ phản loạn của Chương nên Triệu Huệ Vương phong cho công tử Thắng làm Tướng quốc. Và phong đất Bình Nguyên, cho nên người đời thường gọi công tử Thắng là Bình Nguyên Quân. Cũng như Mạnh Thường Quân bên nước Yên, Bình Nguyên Quân hay chiêu hiền đãi sĩ, hằng ngày có hàng ngàn thực khách ở trong nhà.

     ** Tự Tình Khúc của Cao Bá Nhạ, đoạn đem thân đi trốn quan lính triều đình của vua Tự Ðức.


   back to top

02. PHÊ VỚI BÌNH

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Phê bình là thiên vị! Vì nhà phê bình nào cũng đã chọn lọc rất kỹ những gì mình sẽ phê bình. Ðiểm sách là một hình thức phê bình. Phải chăng các nhà phê bình chỉ lựa toàn sách hay để nói?

     Nếu không thiên vị thì phải làm như vầy: mỗi tháng (hoặc mỗi tuần?) làm một kỳ. Tháng này có một cuốn sách xuất bản, bình một cuốn. Tháng sau có mười cuốn sách xuất bản, bình luôn mười cuốn. Tháng tới không có ma nào xuất bản, nghỉ xả hơi. Vậy mới công bằng. Hay khen hay. Dở chê dở. Dở quá, tối thiếu cũng phải phán một câu: không đáng đọc.

     Bảo đảm với lối phê bình kiểu này bầu không khí văn chương trong làng sẽ đổi khác ngay. Nâng cao trình độ văn hóa của các tác giả nữa cũng không biết chừng. Vì có nhiều người cầm bút sẽ không dám cam lòng viết dở hoặc viết dơ nữa.

     Ðàng này tốt khoe, xấu che. Chưa từng thấy ai phê bình những cuốn sách không đáng đọc. Những cuốn sách không đáng đọc của những khuôn mặt lớn đi nữa. Vậy thì hai chữ phê bình hóa ra đồng nghĩa với hai chữ tâng bốc hay sao? Nếu chỉ để tâng bốc nhau thì có gì là đáng đọc chớ?

     Với lối phê bình hiện thời, xét cho cùng, sở dĩ có sự tâng bốc ngợp trời lẫn nhau chỉ vì hai lẽ chính. Một là vì có những cuốn sách hay thiệt và hai là, phần lớn, vì muốn kết bè lập phái đưa bạn bè thân thích của mình lên. Vì một cuốn sách hay là cho những ai phê bình chuyên nghiệp. Còn vì nể tình, bốc thơm bạn bè thì ôi thôi nhiều lắm, không thể liệt kê hết những người chỉ muốn, hoặc giả bị bắt buộc, nhảy ra làm cò mồi một lần rồi thôi.

     Tâng bốc có khi có lợi mà cũng có khi có hại cho người được tâng bốc. Khen nhiều chúng ghét. Nhưng riêng người đứng ra tâng bốc thì rõ ràng có đôi chút cố tình khoe khoan cái trình độ cảm nhận khác biệt của mình đối với độc giả lẫn tác giả. Tác giả viết như vầy nhưng tôi cảm nhận như thế đó. Lạ thì có lạ, hay thì có hay, nhưng nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào . Vì nhiều khi chính tác giả cũng không thấy, cũng phải sững sờ với những "tài hoa bất chợt" của mình do người phê bình mới khám phá ra.

     Hình như chưa từng thấy ai làm chuyện phê bình một bài phê bình của một nhà phê bình nào đó nói về mình. Bảo đảm có nhiều tác giả rất muốn nói với người phê bình rằng tôi "mèo mù vớ cá rán" ông bà ơi. Ý tôi không phải vậy, tôi nào có phải là thần thánh như ông bà nói. Nhưng học sách hến, câm chặt cái miệng nó lại, vẫn là thượng sách trong những trường hợp này.

     Bởi vậy nhiều khi giá trị của một nền văn học bị kẹt hết sức nếu đem đặt dưới tầm mắt của một số ít người phê bình có những cái nhìn rất khác biệt đó. Những cái nhìn đôi khi rất bất bình thường nếu đem so với những người bình thường. Có người thích những tác phẩm dâm bôn dâm đảng, chất chứa nhiều "dục tính, dục tình" chẳng hạn. Không có giá trị văn học nếu không có những màn hâm hấp nóng được coi như một đường hướng sáng tác mới, một break-through, trong văn chương Việt Nam? Có người thích những tác phẩm thời thượng, làm dáng. Có người thích những tác phẩm nói chuyện trời ơi đất hỡi, đọc hết chẳng biết nói gì. Có người thích những tác phẩm có lửa..., vân vân và vân vân. Có người lại nhằm vào một hai tác giả mà bình riết. Làm như thấy sang bắt quàng làm họ không bằng.

     Nghề viết bài phê bình văn học thời buổi này chắc hẳn kiếm tiền dễ hơn nghề viết lách part-time. Chỉ cần năm chục đồng tiền nhuận bút thì cuốn sách được phê bình bán chạy gấp mấy lần cuốn sách không được những nhà phê bình sờ mó tới. Lẽ dĩ nhiên, nhà báo và nhà xuất bản rồi sẽ lấy lại rất nhiều lần năm chục đồng đó mà họ đã bỏ ra. Chính vì vậy có nhiều báo lắm khi dở ra thấy toàn là bài phê bình. Chán ngắt. Ðộc giả lắm khi muốn thét lên: tôi không muốn ai đọc dùm tôi hết!

     Báo chí không phải là chỗ dành để cho những người cầm bút ca tụng lẫn nhau. Nhiều người rất nổi tiếng trên văn đàn cũng như rất quen thuộc trong mọi tầng lớp văn giới là nhờ đánh bóng theo kiểu này. Thì ra còn rất nhiều người vẫn chuộng con đường thà một phút huy hoàng rồi vụt tắt, còn hơn le lói đến nghìn năm .

     Nhưng, nếu có thăm dò trong mọi tầng lớp độc giả thì mới rõ nguồn cơn. Phần lớn độc giả hình như chẳng biết hay chẳng nhớ đã đọc qua tác phẩm nào của những người nổi tiếng nhất thời ấy. Những tác phẩm có lẽ chỉ để dành riêng cho văn giới vì tính chất "bác học" của nó, chớ không phải để quảng bá trong quần chúng đại đồng theo lối "bình dân." Một bên là nhà văn và một bên là độc giả, ô hay, bên nào nặng hơn?

     Rồi như thấy ra sự đánh bóng bằng lối phê bình này chưa đủ láng, anh chị em ta lại đẻ ra thêm cái màn phỏng vấn các tác giả! Thì âu cũng là một sáng kiến hay. Nhằm mục đích đưa tác giả đến gần với độc giả hơn. Nhưng phiền nỗi, nhiều người không thấy được mục đích tốt đẹp đó, cứ như nhằm vào độc giả mà chửi cha luôn mới khổ. Thử hỏi nếu ai đó cứ huênh hoang mạnh mồm chửi đổng tưới hột sen lên trên giấy, hết trang này sang trang khác, thì là chửi ai đây? Nếu không là người đang cầm tờ báo trước tiên? Rõ chán!

     Có một loại bài phê bình kín đáo và thiết thực hơn một chút, đó là những bài Tựa hay Bạt.

     Công dụng của một bài Tựa, phần lớn, có thể nói là để giới thiệu một tác phẩm đầu tay. Tác giả chưa hề có sách, cần một nâng đỡ từ một người đi trước. Có nhiều bài Tựa viết rất hay. Hay đến độ không cần đọc sách. Hoặc giả, hay đến độ khi đọc hết cuốn sách thấy cuốn sách dở òm. Dở òm vì những điểm tâng bốc then chốt ở bài Tựa, cuốn sách đã không lột trần nổi. Nhưng, cũng có những cái Tựa viết nhập nhằng không dính dáng gì đến quyển sách hết mới chết. Như một bài tùy bút vậy thôi.

     Còn công dụng của Bạt thì, phần lớn, cũng là một giới thiệu tác phẩm thường không phải là đầu tay, do tác giả "có lòng" dành riêng cho một bạn hiền của mình viết về mình. Bạt, ngoài việc tâng bốc không thể tránh (ai lại đi chê bạn bè bao giờ?), còn có thân tình, kỷ niệm, đọc thoải mái hơn.

     Như vậy giá trị đích thực của cuốn sách không phải ở bài Tựa, bài Bạt, hay thậm chí ở bài phê bình rất đặc sắc, mà là chính ở nội dung của toàn bộ tác phẩm. Một cái Tựa hay, một cái Bạt hay, hay ngay cả ở một cái phê bình với lối viết bốc thơm thật khéo cũng không thể cứu vớt nổi một cuốn sách viết dở.

     Ðừng thấy một cuốn sách có bài phê bình, văn vẽ ra trò xôm tụ hấp dẫn, mà hối hả chạy ra nhà sách tìm mua cho được. Lắm khi lại là cuốn sách quảng cáo về sự đổi mới, cởi trói của xã hội chủ nghĩa và thiên đường cộng sản đang trên đường sụp đổ cũng không biết chừng. Ôi, phê với bình bây giờ đà quá muộn!

   back to top

03. CŨNG CÒN LẬN ÐẬN

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Trên bước đường văn nghệ nói chung, cầm bút nói riêng, nhiều người cho rằng, tối thiểu phải năm bảy năm mới thấy được thế nào là tài năng của một tên tuổi. Ðường dài mới biết ngựa hay. Rồi mới xếp cho một chỗ đứng hoặc chỗ ngồi. Trong nhà hoặc ngoài sân. Thiên hình vạn tướng, tuyệt đối, không ai giống ai cả.

     Người thì càng ngày càng thăng hoa chói lói, kẻ thì suốt đời vẫn cứ mờ mịt lu câm. Và, dĩ nhiên, cũng không thiếu gì những ồn ào chợt lóe lên rồi vụt tắt như sao băng! Những bỏ cuộc! Những giữa đường gãy gánh! Vì mất hết đam mê? Vì không còn can đảm? Vì tiêu tan chỗ nương tựa? Vì phải tìm kế mưu sinh? Ôi thôi, có rất nhiều lý do, nhưng tựu chung đó chính là bất hạnh của những người làm văn nghệ. Những bất hạnh này phần lớn có thể do chính mình tạo ra, nhưng đôi lúc, cũng có thể do những người bạn đồng hành của mình đã vô tình mang tới.

     Một trong những cách đo lường thành quả của một người làm văn nghệ là nhìn vào những gì thiên hạ bàn tán, gán ghép quanh người đó. Thầy khen trò. Chị hát em vỗ tay. Bạn đãi bạn. Mầy cò mồi tao... Lẽ dĩ nhiên phải có ít nhiều ràng buộc, thân tình cá nhân với nhau. Ðừng nghe nói "tôi chưa hề quen anh" mà lầm. Không mấy khi người ta hoàn toàn viết cho văn chương, vị văn chương đâu. Vì nếu viết như vậy, người ta sẽ để tâm viết về những nhà văn được giải Nobel cho sướng cái tay. Ngoại trừ những ai hay thấy sang bắt quàng làm họ. Có lợi cho chính bản thân.

     Thử hỏi, trong năm bảy năm, nếu không ai buồn "nhắc khéo" đến mình một lần thì mình sẽ là cái gì đây? Nếu không phải rõ ràng là một vô danh tiểu tốt? Ðến nỗi không ai thèm đếm xỉa gì đến những gì mình làm, mình viết nếu muốn nói riêng cho những người cầm bút, một lời!

     Phần tôi thì gần đây, tính ra cũng đã hơn năm năm xuất hiện trong làng, có cái hân hạnh được nhiều người nhắc tới. Thì ra, mình viết riết cũng có người để ý. Chớ không như dạo trước, nhiều bạn văn bạn đọc có thể chỉ liếc qua cái tựa bài của tôi một cái rồi bỏ trôi luôn cũng không biết chừng. Nhưng, than ôi, cũng đừng vì được nhiều người nhắc tới như vậy mà ham. Vì ông bà ơi, xin thưa, ngoài những người hay "cho ngọt cho bùi" thì cũng có nhiều kẻ chỉ thích "cho roi cho vọt!" Bộ quý vị không tin lời tôi nói hay sao? Thôi thì hãy để tôi kể những kinh nghiệm có hơi... đau thương của tôi cho mà nghe!

     Có lẽ không bài viết nào của tôi lại được đón nhận và đồn đãi mau lẹ và sâu rộng bằng bài tùy bút sóng gió Phê Với Bình đăng trên Sóng . Ngắn ngủi chỉ có mỗi một trang và một cột báo thôi. Vậy mà, ảnh hưởng của nó quả thật là lớn lao. Hơn cả... hàng chục truyện ngắn mà tôi đã viết trong những năm qua nữa!

     Ngặt một nỗi, toàn là những ảnh hưởng tai hại cho khổ chủ không mới chết!

     Trước hết, "chủ bếp" làng ta đang viết bài "cò mồi" trả nợ cho Một Chuyến Ra Khơi đã bị run tay, hãi quá, đành phải đang tâm xé liền cái rẹt. Sau đó, đến phiên sư phụ sư tôn, su huynh sư đệ, sư tỷ sư muội, sư... gì gì, chắc ai ai cũng giựt mình, xá dài Nguyễn Tấn Hưng này hết.

     Ðàn anh nhắn nhủ:

     - Bộ Trùm định mang tôi ra nói hành nói tỏi gì đó sao, đừng nghen!

     Ðàn em bàn ra:

     - Nhiều điểm tế nhị đáng lẽ mình không nên viết ra anh à. Hiểu ngầm với nhau được rồi. Dù sao cũng khen anh đã có đủ can đảm để viết ra một vài sự thật... lem luốc của giới văn thi sĩ. Lãnh vực nào cũng vậy, đều có mặt trái của nó, vào nghề thì phải chấp nhận một vài bất công hay những điều trái tai gai mắt...

     Ðàn chị tán vô:

     - Hưng viết phê bình cũng đâu có thua gì ai! Lâu lâu nên viết một bài như vậy!

     Bằng hữu nói:

     - Tôi thấy ông hiền quá mà sao bữa nay bỗng nhiên nổi hứng viết chi... dữ vậy!

     Well , ít ra cũng còn vài người rất thân rất gần với tôi đã hiểu rõ nguồn cơn là, trong thâm tâm tôi, tôi muốn nói điều gì và nhắn nhủ với những ai. Và tất cả đều nằm ở các câu cuối cùng, bottom lines .

     Trong Thông Ðiệp Hồng , đoạn phê bình bài thơ Nhân Danh của chị Trần Mộng Tú, anh Hồ Trường An có đưa ra một "kế hoạch làm thơ" (chữ của tôi) là phải làm sao "dồn nhiều chưởng lực" cho câu cuối thiệt "nổ," như "một phát súng" vậy, thì mới dễ dàng rung cảm được độc giả. Cũng có lý lắm! Nhưng "kế hoạch" này đem áp dụng vào văn xuôi, tùy bút... thấy ra coi bộ hơi trật đường rầy. Hay tại vì tôi cù lần quá, chưa nhuần tay viết mà làm cho nó trớt quớt đây hổng biết? Bởi, không ai nhận ra điểm "nổ" cho toàn bài của tôi hết trơn. Rằng thì là: Ðừng thấy một cuốn sách có bài phê bình, văn vẽ ra trò xôm tụ hấp dẫn, mà hối hả ra nhà sách tìm mua cho được. Lắm khi lại là cuốn sách quảng cáo về sự đổi mới, cởi trói của xã hội chủ nghĩa và thiên đường cộng sản đang trên đường sụp đổ cũng không biết chừng. Ôi, phê với bình bây giờ đà quá muộn . Cũng nên nhắc qua là lúc đó cao trào vỗ tay hoan hô "văn chương phản kháng... cứu đảng" đang lên!

     Mình muốn "nổ" ở chỗ này mà thiên hạ thấy "nổ" ở chỗ khác, thành thử tôi đành phải viết thư thanh minh, thanh nga... để rồi lãnh mấy lời chỉ giáo từ bà "chủ lò" làng ta, rằng: Ðúng là bút sa... Trùm chết! Lần sau ông Trùm nhớ cẩn thận, uýnh "thằng" nào thì vỗ thẳng vào mặt "nó," đừng có múa vào thinh không mà thiên hạ giật mình quay lại thủ thế với ông Trùm, hại lắm! Âu cũng là một bài học khôn. Thì ra số phần tôi như tôi đã nói từ tác phẩm đầu, rằng: học hoài, học cả một đời, học tới già tới chết cũng còn học là vậy. Giờ, có đem Phê Với Bình ra đọc lại, mới thấy mình nói năng quả có phần trống trải quá!

     Trước đó, lại có người "kê" tôi bên Thế Kỷ 21 mà tôi nào có hay. Một truyện ngắn của tôi trên Văn được đem lên bàn giải phẫu, mỗ xẻ tường tận. Với nhan đề Tiếng Mẹ Ðẻ Hay Tiếng Mẹ Ghẻ . Cũng hên là nhờ có một bạn hiền thông báo, cho nên tôi mới để ý tìm đọc. Ðược biết là có người đặt vấn đề "không nên chêm ngoại ngữ vào bài viết tiếng Việt" với tôi, nói riêng, và cho tất cả mọi người cầm bút ở hải ngoại, nói chung. Tôi cho đó là một ý kiến rất xây dựng, rất hay. Chỉ có dở một cái là tác giả không cho "khổ chủ," là kẻ hèn này, biết ất giáp gì hết trơn. Lỡ tôi không đọc được thì uổng lắm. Cũng nên nói qua là giữa tác giả và tôi cũng là chỗ thân tình, đã có hàn huyên và nhậu với nhau một đôi lần. Well , nói chớ anh cũng ngại, đâu đoán được phản ứng của tôi như thế nào!

     Rồi người lạnh cẳng hay không, lại không phải là tôi, mà chính là bạn hiền của tôi kia, mới vui. Bản thảo đưa cho tôi đọc thì thỉnh thoảng cũng có chêm tiếng tây tiếng u trong đó, nhưng đến lúc trình làng, đăng báo hay in sách thì dò lại, sửa từng chữ một. Cho hoàn toàn Việt Nam, cho hoàn toàn mẹ đẻ. Trong khi, can phạm chính là cái thằng người tôi thì chưa làm được một thay đổi lớn lao nào về mục này hết trơn!

     Lý do? Không phải là tánh tôi ngoan cố, ương ngạnh không chịu sửa đổi, mà là tại vì trong lòng tôi vẫn còn thích văn (nếu được gọi là văn), truyện của mình đi gần với sự thật. Tại vì tôi còn thích hòa mình vào nhân vật của tôi. Nhân vật của tôi sống ở Mỹ thì lâu lâu có một vài tiếng Mỹ cũng không sao mà. Ðừng nhiều quá thì thôi. Vì tôi biết, tuy không chắc chắn cho lắm, là hình như chưa bao giờ tôi chêm một tiếng ngoại ngữ nào vào những truyện mà tôi viết với bối cảnh ở Việt Nam và những nhân vật đang sống ở Việt Nam. Có lẽ cái khuyết điểm của lối viết để con tim đi trước cái đầu mà tôi đang theo là ở chỗ đó. Nói thì nói vậy, trên phương diện này, tôi cũng phải cố gắng sửa đổi từ từ thôi.

     Rồi vì thích trung thực nên tánh tôi không hợp với những nhân vật X. nhân vật Y., nhân vật Z. của nhiều bạn văn khác. Sao không biến X. thành Xui Xẻo, Y. thành Yên Hùng, Z. thành Zít Zắt chẳng hạn, cho dễ theo dõi hơn? Vì đọc một hồi tôi cứ lộn Z. qua X., X. qua Y. hoài, không biết ai là ai hết trơn. Lẽ dĩ nhiên, họ cũng có lý do của họ! Ai mà không biết mấy ông bà nhà văn đều có nhiều lý do! Như X., Y., Z. còn đang sống ở Việt Nam, cần tránh tiếng chẳng hạn! Như viết thì phải lách, chẳng hạn... Mà nói chớ tôi có lộn Y. qua Z., Z. qua X. thì cũng đã là may phước, chỉ sợ có người hiểu lầm X., Y., hoặc Z. với những nhân vật đang nằm sẵn trong đầu họ thì lại càng nguy hiểm hơn. Nãy giờ, quý vị có hình dung được những nhân vật Y., Z., và X. mà tôi bàn đến là những ai chưa? Có lần đó dở một tờ báo, tôi đọc lõm bõm thấy có người viết loáng thoáng về NTH. Trời đất, ai mà dám cả gan viết cái gì về tôi đây? Tâng bốc hay là đang hài tội? Bèn phải để ý, đọc kỹ! Ðọc mới vài đoạn đã thấy tá hỏa tam tinh! Mèn đét ơi, thì ra NTH là chữ viết tắt của đảng trưởng Việt Nam Quốc Dân Ðảng Nguyễn Thái Học chớ không phải một Nguyễn Tấn Hưng cà lơ phất phơ nào hết.

     Cũng vì thích trung thực nên tôi hay sống hết mình cho nhân vật của tôi. Mà tôi nghĩ cũng không riêng gì tôi, ai ai cầm bút đều phải sống như vậy, có phải? Hễ nhân vật của mình là "Bắc Kỳ cuốc" thì phải ăn rau muống, mắm tôm, rau đay, cà pháo... Sao nhiều món đặc biệt thế!. Cũng nên mở một cái dấu ngoặc ở chỗ này. Rằng có mấy ai biết món mắm tôm mà người Bắc hay ăn với bún riêu là do người Nam phát minh, chế biến! Ðó chính là món mắm tôm chà xuất phát từ Gò Công mà Ðức Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (mẹ vua Tự Ðức) đã đem dâng cho Hiến Tổ Chương Hoàng Ðế Thiệu Trị (theo Hồ Trường An trong Lúa Tiêu Ruộng Biền ). Mắm tôm chà làm cùng một phương pháp và chất liệu như mắm tôm chua (trộn đu đủ), nhưng mặn hơn, rồi lấy rỗ thưa chà lấy thịt bỏ vỏ... Trở lại vấn đề nêu trên, hễ nhân vật của mình là "Trung Kỳ cộc cạch lửa" thì phải ăn ớt chỉ thiên, mắm ruốc. Và hễ nhân vật của mình "Nam Kỳ cục" thì phải ăn giá sống, mắm chua. Ðại khái là như vậy. Và hiển nhiên tác giả những mong độc giả, nếu không sống hết mình với nhân vật như chính tác giả, thì ít ra cũng phải gần gũi, thân tình với những người đang được diễn tả tường tận trên trang sách đó.

     Chính vì sống hết mình với nhân vật mà lâu lâu Nam Kỳ cục tôi viết cũng còn... lòi ra cọng rau muống dài thòng. Dài đến nỗi anh Lê Nhật Thăng bắt gặp tại trận và mang ra làm bằng chứng. Là, ... anh "chồng" đi xa về tán tỉnh "vợ" rất đúng tâm lý. Không hiểu sao Nguyễn Tấn Hưng lại đùng chữ chăn, tiếng miền Bắc, thay vì mền ? (Ðoạn nói về truyện Thành Phố Và Quân Trường trong tập Một Chuyến Ra Khơi ). Quả anh thiệt là dứt khoát, không chịu châm chế cho tôi, không chịu tha thứ cho tôi ở điểm "rằng thì là bởi tại vì" nhân vật nữ dễ mến dễ thương của tôi là... cô em Bắc Kỳ nho nhỏ kia mà! Kể cũng vui!

     Sẵn nói chuyện Bắc Trung Nam ở đây, tôi cũng nên bàn qua chuyện ông Nguyễn Hoàng làm thơ "dũa" tôi một mách quá xá cỡ trên Sóng. Sau khi ổng đọc bài Tính Chất Chung Quyết Trong Văn Chương Miệt Vườn , đăng trên Sóng số Xuân trước đó.

     Lần này, điểm "nổ" hay "bottom lines" của tôi cũng y chang mấy lần trước, đều nằm ở đoạn cuối. Như vầy: Tóm lại, với tôi, chỉ riêng miền Nam mới có "Văn Chương Miệt Vườn." Và chất liệu chung quyết của văn chương miệt vườn có phải chăng chính là tình yêu quê hương? Tình yêu ấy đã phảng phất thể hiện qua một cuộc đặt trúm bắt lươn ở một làng gần Cái Răng, một chuyến quá giang trên phà Rạch Miễu, một lần làm rễ ở bên nhà vợ, một con sóng ở bãi biển Vũng Tàu, một trái bần chua bên cồn Rồng, một con rắn vú nàng trong gốc tre già, một tuồng hát bội ở Lăng Ông Bà Chiểu, một căn nhà bỏ lại sau lưng, một cô nhi viện ở Sa Ðéc, một đứa em xấu số trong gia đình, một giấc mơ trở thành văn sĩ, một đời làm bầu gánh cải lương, một tâm tình của bà mẹ già lo cho đứa con tật nguyền, một buổi hái cau hay một màn đánh đáo...

     Tựu chung, có phải điều tôi muốn nói chỉ là: Chất liệu chung quyết của văn chương miệt vườn chính là tình yêu quê hương! Không hơn không kém. Nhưng có lẽ tại tôi viết cù lần quá hay sao cho nên ông Nguyễn Hoàng không thấy điểm "nổ" đó, mà chỉ thấy những điểm "lớn" khác. Như hai chữ miệt vườn, để rồi trách móc tôi: "Sao lại miệt vườn anh, lại miệt vườn tôi?" Như gia phả ba đời dòng họ, để rồi trách mắng tôi: "Sao không là mười? Sao không là trăm?"

     Lần đầu tiên tôi dan díu với "miệt vườn" là buổi ra mắt sách Giai Thoại Hồng của bà già trầu Hồ Trường An, ở Washington D.C. Tôi đã "đăng đàn" nói đôi lời về đề tài "Văn Chương Miệt Vườn." "Văn Chương Miệt Vườn," bốn chữ này tuy là do anh Nguyễn Ngọc Bích đưa ra, bàn tới nhưng dần dần đã trở thành, nếu không cho là quá đáng,... cái trade mark của tôi. Vì năm bảy lần sau, tùy từng trường hợp và cơ hội đưa đẩy, chẳng biết vô tình hay hữu ý mà tôi hay cứ lập đi lập lại đề tài này. Cho vui cửa vui nhà với khán, thính, và độc giả vậy thôi. Vì tôi có chút thành công trong buổi "đăng đàn" nói chuyện văn học văn chương đầu đời. Chớ nào có mang cái ý nghĩa "kỳ thị Nam Trung Bắc" như ông Nguyễn Hoàng xét đoán.

     Tôi nghĩ, có lẽ ổng chưa biết tôi thôi! Chớ ổng biết qua rồi mà còn "dũa" tôi cái điệu đó thì ổng quả là "chúa kỳ thị," "thâm sân si còn nhiều" (chữ do một đàn anh khuyên bảo tôi dạo nào, giờ đem ra xài lại). Thiết tưởng ổng nên tìm đọc lại cuốn Văn Minh Miệt Vườn của nhà văn Sơn Nam, để hiểu thêm thế nào là miền Nam và tâm tình của những người miền Nam mà thương mến họ. Nói cho cùng, cũng chẳng cần đọc hết cuốn sách làm chi, chỉ mấy dòng ghi ở bìa sau là đủ. Tôi xin mạng phép trích dẫn luôn ra đây:

     Miệt Vườn là Ðồng bằng sông Cửu Long, theo tiếng nôm na của miền Nam phần, là nơi mà dân Việt ra sức khẩn hoang trong hoàn cảnh phức tạp và đã thành công. Miệt Vườn là đất mới hay đất cũ, giàu hay nghèo, có tánh chất phong kiến không? Miệt Vườn là lò sáng tạo ngành sân khấu cải lương, là nơi mỗi ngôi nhà là một cung điện bình dân, nơi kháng Pháp, nơi tung ra những người đi khẩn hoang ở tận mũi Cà mau. Ngày nay, Miệt Vườn là một chiến trường quan trọng về chính trị của Việt Nam, của Ðông Nam Á.

     Hiểu vài nét về Văn Minh Miệt Vườn tức là thấy nét đẹp đa diện của văn minh Việt, của cá tính Miền Nam để thấy rằng kỳ thị Bắc Nam là một thành kiến thấp hèn lỗi thời
.

     Nhưng nói gì thì nói, tôi cũng rất cám ơn ông Nguyễn Hoàng một điều là nhờ ổng "dũa" tôi một mách mà tôi tìm ra được cái tên có ý nghĩa cho nhà xuất bản của tôi: nhà xuất bản MIỆT VƯỜN.

     Tôi biết ổng "hận" tôi ở cái chỗ "gia phả ba đời miền Nam" của tôi lắm. Với tôi, đó chỉ là một cách nói, một cách nhấn mạnh, "nổ" như "một phát súng," thế thôi. Tỉ như chồng già vợ trẻ là duyên, vợ già chồng trẻ là tiên ba đời . Nếu ông Nguyễn mà hiểu rõ hơn một chút thì cần gì phải đến ba đời, chỉ một hoặc hai đời thôi, thì cội nguồn của một vài cây bút tên tuổi trong "Miệt vườn Văn đoàn" là từ miền Trung, miền Bắc và xa hơn một chút, tận bên Tàu. Vì Xuân Tước gốc Chợ Lớn, Nguyễn văn Sâm gốc cộc cạch lửa, Cao Bình Minh gốc Minh Hương, Nguyễn Ðức Lập thì gốc "Quảng đi rồi Quảng lại về..." Còn phần tôi hả, cũng dám lai Cu Mên Thằng Thổ lắm.

     Còn một điểm nữa, cao cả hơn, là ổng muốn nhắn nhủ tôi hãy lo "diệt thù" và "giải phóng" quê hương xứ sở. Ðiều đó thì khỏi cần ông nhắc nhở, bảo đảm, không một người cầm bút nào là không nghĩ tới. Nhưng nghĩ là một chuyện, có làm được hay không lại là chuyện khác. Thân phận tôi, vì biết mình tài hèn sức mọn nên phải biết "liệu cơm mà gắp mắm." Biết mình không thể "diệt thù" và "giải phóng" quê hương qua những bài viết... nhảm nhí, lập thân tối hạ thị văn chương có lẽ chính là trường hợp của tôi đây. Và cũng biết mình không thể bỏ cây viết mà cầm lấy cây súng như những vị anh hùng vì nước liều thân, cho nên tôi chỉ mong mình được làm một cây bút miệt vườn cho ra trò là mãn nguyện lắm rồi! Nếu chẳng may "không vượt khỏi lũy tre già" như ông nói thì lại càng hay! Xin kính nhường phần lớn hơn, cao cả hơn kia cho ông Nguyễn Hoàng vậy. Ðể xem coi ổng làm tới đâu! Hì hì hì..., hích hích hích... (xin đừng hiểu lầm tôi là Phù Ðổng Thiên Vương nghen).

     Bàn gì thì bàn, tôi phải công nhận là bài thơ ông làm gửi cho tôi rất hay, rất thắm thiết, thâm tình, và rất cao cả. Nhưng, thiển nghĩ, ông "quảng cáo" cho tôi và tôi "quảng cáo" cho ông bao nhiêu đó cũng đủ rồi. Có qua có lại mới toại lòng nhau. Không như trước đây, Tú Rua chỉ "quảng cáo" một chiều cho Nguyễn Mộng Giác và trường thiên Mùa Biển Ðộng . Có phải chăng "chê" là một hình thức "bốc thơm" ăn khách hơn "khen?" Nếu đúng như vậy thì tôi phải cám ơn ông Nguyễn Hoàng nhiều lắm mới phải! Tuy nhiên, tôi cũng không quên cám ơn hai bạn Bùi Thanh Liêm và Võ Ðình Tuyết, đã cùng lúc nhưng khác với ông Nguyễn Hoàng, thay vì "cho roi cho vọt" đã cho tôi "chút ngọt, chút bùi." Một bạn đã nhắc đến tôi trong một bài viết trên Văn và một bạn đã làm thơ tặng tôi trên Ðẹp .

     Viết lách, đối với tôi, chỉ như là nhảy vào một cuộc chơi. Và cuộc chơi nào cũng có khi được khi thua. Thua với được, đối với tôi không quan trọng. Cần nhất là phải chơi. Chơi cho đài các cho người biết tay . Không chơi thì đâu còn gì để nói nữa (nhưng, hãy làm ơn làm những gì tôi nói chớ đừng làm những gì tôi làm!). Cũng giống như cuộc sống này vậy. Cuộc sống nào lại không có những thành công và những thất bại của nó. Nhưng, thành công và thất bại chưa hẳn đã là quan trọng. Cần nhất là phải sống. Không sống thì không thể nào làm được những trò Hàn Tín, Việt Vương Câu Tiễn đã làm. Dám cả gan đâm đầu đi tự tử thì không còn gì để bàn cãi nữa. Tuy nhiên, nếu sống thì hãy sống cho ra hồn. Nếu không là tấm gương cho đời thì tối thiểu cũng phải là tấm gương cho mình. Tự soi mình trước đã. Và gắng làm sao không bị lệch lạc vì ảnh hưởng của khen chê. Bởi khen chê dễ làm con người ta bỗng dưng trở thành những con rồng lướt gió trên mây, quên đi chân tướng của mình chỉ là một con tép rong rêu. Con chim cú mà cứ tưởng mình là con phượng hoàng thì kẹt dữ. Ôi, những vì sao bắc đẩu không định hướng bởi chòm đại hùng!

     Hơn nữa, theo tôi, cuộc chơi văn chương là cuộc chơi không đối thủ. Khác với người chơi tennis, bên kia lưới lúc nào cũng có sẵn ít nhứt một đối thủ, nhà văn nhà thơ như là những người chơi golf, đối thủ của họ đích thị chính là sân cỏ văn chương. Một mình một cõi, với cây club trong tay. Rồi độc giả là kẻ thưởng ngoạn, có người theo những người đi trước ở lỗ mười bảy mười tám, nhưng cũng có người lẹt đẹt theo mình ở lỗ thứ ba, thứ tư, thứ năm. Ðể sau cùng, tác giả lẫn độc giả, sẽ qui về một điểm cuối. Vòng bao vòng, kết tụ lại thành một đóa hoa. Ðóa hoa văn học. Ðóa hoa đó không đẹp nếu nhìn quanh chỉ thấy toàn người chơi mà không có người hưởng ứng, cổ vỏ, vỗ tay, bài bác...

     Well, tôi đã có Một Phen Lận Ðận , giờ lại thêm Cũng Còn Lận Ðận , thôi thì tôi xin quý ông bà, cô bác, anh chị em hãy gợi ý cho tôi viết... Hết Lận Ðận , chớ đừng để tôi phải viết Lận Ðận Mãi mà thêm phiền nghen!

   back to top

04. HOÀN CẢNH SÁNG TÁC Ở HẢI NGOẠI *

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Trước hết tôi có đôi lời thành thật cảm tạ ban tổ chức đã có nhã ý dành cho tôi một chỗ... đứng, đứng chớ chưa được ngồi, không kém phần quan trọng trong buổi họp mặt văn chương văn học, văn nghệ văn gừng ngày hôm nay. Ai thì sao tôi không biết, chớ tôi mà được... đứng, cũng đứng chớ chưa được ngồi, sau lưng hai bậc đàn anh lớn của tôi là anh Duy Lam và anh Hà Huyền Chi đây là tôi vui rồi (rất tiếc là anh Duy Lam đã bị... trễ tàu, không đến được đêm nay). Thử nghĩ coi, coi vậy chớ việc nối đuôi theo hai anh ấy cũng đâu phải dễ, phải hôn quý bà con? Còn về phần chủ nhà, bác Thừa Phong, các anh Lê Nhật Thăng, Phạm Bội Ðiệp, Lê Bá Năng... cũng như các chị Linh Phương, Thanh Hiền... thì, xin lỗi, cho tôi miễn bàn tới đi. Tiên vi khách mà lị.

     Nói nào ngay, đây là lần đầu tiên tôi chính thức được tham dự một buổi họp bạn thuần túy văn học nghệ thuật có giấy mời đàng hoàng. Mặc dầu tôi được dặn kỹ là phải chạy bộ tới chớ không cho bay tàu bay như hai anh ở xa lơ xa lắc của tôi, một người đang ở tận bên Cali và một người thì ở tuốt luốt trên Washington State. Nói chớ, tại vì tôi ở gần, chỉ cách một hai tiểu bang thôi.

     Cũng xin nói qua là trước đây, trong mấy lần ra mắt sách của bạn bè và của chính tôi ở Hoa Thịnh Ðốn với trung tâm văn bút Miền Ðông (Orlando này sẽ là trung tâm văn bút miền Ðông Nam?), tuy tôi cũng có đăng đàn nói chuyện qua loa về các đề tài liên quan tới Văn chương miệt vườn , nhưng chỉ là những sắp xếp nội bộ, bổn phận ai nấy làm nấy lo, nói miệng riêng với nhau nghe chớ không ghi lên giấy trắng mực đen hay ngay trên thiệp mời.

     Lần này khác. Sau phần giới thiệu thì đến mục... các tác giả phát biểu ý kiến, có ghi rõ như vậy trong chương trình. Tôi tự hỏi: mình phải phát biểu cái gì đây? Chẳng lẽ nhảy lên bục gỗ nói dăm ba lời cám ơn trơ trẽn, rằng thì là quý vị đã bỏ thì giờ vàng ngọc dời gót đến đây, vân vân và vân vân, rồi tuột xuống?

     Thành thử để chắc ăn hơn, tôi gọi điện thoại bàn qua với anh Thăng cho nó đâu vào đó. Tôi có hỏi vậy chớ hai anh Duy Lam và Hà Huyền Chi sẽ nói về đề tài gì? Anh Thăng cho biết: một anh trình bày về Ðời sống các văn nghệ sĩ tại Việt Nam và một anh sẽ nói thơ, không phải thơ Sáu Trọng hay thơ Thầy Thông Chánh, mà là thơ... Mậu Binh.

     Phần tôi, tôi cũng đã chán ngán về vấn đề Văn chương miệt vườn miệt ruộng rồi, vì có người cho rằng tôi kỳ thị, cho nên tôi có hỏi anh Thăng vậy chớ anh muốn tôi nói qua về đề tài gì? Và anh Thăng đề nghị tôi nên nói sơ sơ về Hoàn cảnh sáng tác ở hải ngoại . Kể như buồn ngủ mà gặp chiếu manh, một người nói chuyện trong nước và một người nói chuyện hải ngoại, hợp tình hợp lý quá cho nên tôi đồng ý ngay. Bởi vậy, nếu có vị nào ngáp tới ngáp lui hay nghe lỗ tai này chạy tọt qua lỗ tai kia vì cái đề tài không mấy hấp dẫn này thì cứ nhằm anh Thăng mà quở chớ đừng trách tôi à nghen.

     Thật vậy, không có gì đáng nói đáng bàn về đề tài này hết trơn, có phải? Tôi có thể kết luận ngay đây để khỏi mất thì giờ của quý vị! Xin làm ơn "ừa" giùm một tiếng đi!

     Nói vậy chớ không phải vậy, bề gì tôi cũng nên ba hoa thiên địa (chữ của anh Võ Ðình) một đôi lời để khỏi phụ lòng anh Thăng, đã đặt hết tin tưởng ở nơi tôi. Mà nói là nói cho vui vậy thôi chớ chuyện này chính là chuyện đèn nhà ai người nấy sáng. Hoàn cảnh sáng tác của các nhà văn nhà thơ ở hải ngoại phải nói là thiên hình vạn trạng, đâu làm sao mà nắm bắt, gói ghém cho hết được. Nhưng, số là tôi cũng có quen biết nhiều người cầm bút khắp... năm châu, cho nên tôi cũng có một vài nhận xét chung chung mà tôi sẽ trình bày ra đây cho quý vị thấy qua. Chuyện đồng ý hay không đồng ý, đối với tôi, chẳng có gì quan trọng.

     Ðiểm trước tiên là ở hải ngoại này không ai sống về nghề cầm bút hết. Ngoại trừ một vài chủ báo, chủ bút đặt nặng vấn đề thương mại buôn bán hơn là chữ nghĩa văn chương (xin lỗi anh Trần Thái Khương, người đang chăm lo tờ báo Việt Nam). Viết lách ở hải ngoại phải nói là nghề tay trái, mặc dù nhiều người vẫn hăm he đặt tất cả sự nghiệp đời mình vào cái nghề tay trái đó. Có thể nói viết là vì đam mê, vì nghiệp dĩ có sẵn trong huyết quản, thế thôi. Bảo đảm, không ai viết văn làm thơ vì miếng cơm manh áo ở cái xứ tạm dung này hết.

     Ðiểm kế tiếp là ngoài cái đam mê, cái nghiệp dĩ có thừa đó, các cây bút ta còn phải tìm đâu ra một mớ thì giờ cần thiết. Cho cả hai, đọc và viết. Vì theo ý tôi, nếu không có thưởng thức thì cũng khó lòng mà sáng tác lắm. Kiếp tằm thì phải ăn dâu mới nhã được tơ... Vấn đề tìm đâu ra thì giờ này coi vậy chớ phải biết, rất là hệ trọng. Vì nếu không tìm được thì giờ thì dẫu có đam mê có nghiệp dĩ đến đâu đi nữa cũng không làm sao thực hiện được giấc mộng văn chương của mình. Rồi thử hỏi thì giờ tìm ở đâu mà có? Ðào ở đâu ra khi thượng đế chỉ cho mỗi người chúng ta đúng hai mươi bốn giờ mỗi ngày, không hơn không kém một sát-na?

     Nhìn chung, hầu hết trong chúng ta ai ai cũng có bổn phận sáng vác ô tô đi chiều vác ô tô về. Sau tám tiếng cày bừa phờ râu, tối tăm mặt mũi ở sở thì còn đâu tâm với trí để mà viết với lách chớ? Phải nghỉ xả hơi lấy lại sức cho ngày mai. Ðó là chưa nói đến chuyện vợ đẻ con đau, tang gia bối rối vẫn xảy ra thường xuyên như cơm bữa. Bởi vậy, theo tôi nghĩ, ngoại trừ một thiểu số chịu khó vượt bực thì không nói làm chi, phần lớn những người cầm bút hình như đều có những công ăn việc làm rất thích hợp với sở thích viết văn làm thơ của họ.

     Như nghề bác sĩ chẳng hạn, với rất nhiều bác sĩ đang cầm bút hiện nay. Như nghề viết chương trình cho máy điện toán chẳng hạn, với rất đông đồng nghiệp của kẻ hèn này. Như nghề bán bảo hiểm nhân mạng và tài sản chẳng hạn, với một số lớn kế toán viên mũi tẹt da vàng. Như các nghề làm ban đêm chẳng hạn, của rất nhiều bạn văn khác. Làm như đi làm ban đêm là không có ai dòm ngó hết vậy...

     Nói tóm lại, và xin nói nhỏ nhỏ nghe qua rồi bỏ, rằng không ít thì nhiều các văn thi tài của ta đã, tôi không nói là ăn cắp, mà là biết khéo léo sử dụng thì giờ của mình đang dành cho các hãng xưởng, các công ty. Làm gì thì làm miễn sao năng suất của mình không sút giảm thì thôi, phải không thưa quý vị?

     À, cũng nên mở cái ngoặc nhỏ chỗ này, là còn có một số ít sướng hơn nữa, thuỗng ở đâu đó được cái nghề "ăn không ngồi rồi" vì có vợ hay chồng nuôi, hoặc giả đang được ông Bush nuôi vì mất job và độc thân tại chỗ. Mấy vị này mới là hăng tiết vịt, sáng tác ào ào đây. Thân phận tôi, chỗ này nói nhỏ nghe thôi nghen bà con, rất tiếc, không được vợ nuôi mà ngược lại còn phải nuôi vợ nữa mới khổ. Nói chớ, nam nhi chi chí mà để vợ nuôi nghe nó yếu xìu làm sao hả! Ấy vậy mà cũng có người làm được, chán nhỉ!

     Ðại khái ở điểm tìm kiếm thì giờ này, tôi có thể kết luận là, hầu hết các nhà văn nhà thơ thường phải có nghề nghiệp vững chãi, bảo đảm đời sống áo cơm của mình trước khi bắt sang qua nghề tay trái. Vì có nhiều trường hợp đã xảy ra, như quý vị cũng từng biết, một số người cầm bút đã phải ngưng ngang nghề tay trái của mình, khi nghề tay phải đã mất hay đã thay đổi theo một chiều hướng bất thuận lợi.

     Hai điểm tôi trình bày trên chẳng qua chỉ là hai điểm về hình thức. Về nội dung, trước hết, người cầm bút ở hải ngoại phải nói là được viết tự do hơn. Tối thiểu so với những người cầm bút trong nước. Viết, mà không theo chỉ thị của ai. Viết, mà không chiều theo thị hiếu của một nhóm chính trị hay đảng phái nào. Viết, mà không sợ phải bị tù tội. Mặc dù, lại rất tiếc, đã có những người đã chết hoặc bị thương tích vì ngòi bút của mình. Nào là bị hành hung, bị đốt cháy, bị ám sát, bị bắn giết...

     Nhưng, thành tâm mà nói thì văn thi sĩ hải ngoại đã viết với tất cả tấm lòng. Chính vì vậy mà với một tỷ số rất khiêm nhường, phỏng chừng một triệu trên sáu mươi lăm triệu, người cầm bút trong cộng đồng một triệu ở hải ngoại đã để lại rất nhiều tác phẩm có giá trị, nếu không muốn nói hơn thì cũng phải gọi là bằng so với sáu mươi lăm triệu trong nước.

     Thứ đến, nền văn học hải ngoại là một nền văn học đa dạng vì ảnh hưởng bởi hoàn cảnh sáng tác của các văn nghệ sĩ đang sống trên khắp các thềm lục địa. Ngoài đề tài chung là viết về quê hương như chống cộng, tù tội, và những nỗi thương nhớ không nguôi, người ở Mỹ viết về đời sống giàu sang vững mạnh cũng như đất nước bao la hùng tráng của một dân tộc văn minh tột đỉnh, người ở các xứ bên trời Âu viết về một thời cổ kính xa xưa của một nơi mà hầu hết các người theo tân học thời trước đều đã trải qua, người sống bên Gia Nã Ðại viết về cành phong trong mùa đông xứ tuyết, người sống bên Úc viết về con đại thử, kangaroo , con gấu nhỏ ăn lá cây bạch đàn, koala bear . Ðại cương là như vậy. Những đề tài mà những người ở trong nước không thể nào viết trung thực được.

     Thêm một dấu ngoặc chỗ này, là có phải vì chịu ảnh hưởng đời sống tây phương, xem chuyện tính dục là chuyện thường tình, mà văn chương hải ngoại có nhiều sáng tác rất nóng bỏng? Nhớ hồi nào đọc Ðôi Bạn của Nhất Linh, suốt từ trang đầu đến trang cuối, hình như chưa bao giờ có một nụ hôn, có phải? Bây giờ có nhìn lại thì thử hỏi, viết truyện tình như vậy xem ra có lỗi thời lắm chăng? Tôi xin nhường phần trả lời những câu hỏi này cho quý độc giả vậy!

     Nói gì thì nói, chắc quý vị cũng đồng ý với tôi rằng, chính cái nội dung mới thực sự làm nên nhà văn nhà thơ, phải không thưa quý vị? Tuy nhiên, theo tôi, ngoài cái tài năng đích thực phải có của mình, vấn đề hoàn cảnh sáng tác bên ngoài coi vậy chờ cũng rất ư là thiết yếu.

     Có giỏi ba hoa cũng không qua nói thật, chi bằng lấy trường hợp của chính tôi đây mà đơn cử, dẫn chứng. Thực tài thì cho tới giờ phút này tôi cũng không biết tôi có hay không, nhưng cái may mắn đẩy đưa theo dòng đời để được... "thành danh" thì bảo đảm là tôi có. Nó phải đúng thời, đúng lúc, trùng hợp với... thiên thời địa lợi nhân hòa làm sao ấy. Bởi, tôi biết có nhiều người viết nhiều và viết hay hơn tôi mà họ chưa chắc đã... được khen quá xá , nói theo kiểu anh Lê Nhật Thăng, như tôi. Hồi tưởng lại ngày nào còn ở trong nước, trước năm 75, phải nói việc chen chưn vô làng văn ngày đó sao mà gay go thiệt. Tôi thất bại lia chia nên tôi hiểu điều này. Ðến lúc "bôn ba hải ngoại" thì thời may tôi được ông Mai Thảo, nhớ tình xưa ở tạp chí Văn , nên đã nâng đở hết lòng. Rồi tiếp theo đó, nhiều đàn anh đi trước dẫn dắt thêm, cho nên tôi mới được... rình rang như ngày hôm nay, đứng tại đây mà hầu chuyện cùng quý vị.

     Vì vậy để kết luận, hoàn cảnh sáng tác ở hải ngoại nói riêng, hoàn cảnh sáng tác ở bất cứ một nơi nào của một nhà văn nhà thơ nói chung, theo tôi, đều luôn luôn là hoàn cảnh sống chết của một người cầm bút.

     * Bài nói chuyện trong Ðêm Sinh Hoạt Văn Hóa ở Orlando, Florida, vào ngày 22-06-1991.

   back to top

05. XUÔI NAM, NGƯỢC BẮC

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Mặc dầu đã được anh Lê Nhật Thăng thông báo trước, tôi không khỏi ngạc nhiên khi nhận được thiệp mời đi xuống thành phố Orlando, Florida. Ðể tham gia "Ðêm Sinh Hoạt Văn Hóa" sẽ được tổ chức ngay sau đó vài tuần. Tôi ngạc nhiên vì trong đêm đó, tôi sẽ là một trong ba... "diễn giả," sau hai anh đàn anh lớn là Duy Lam và Hà Huyền Chi. Tôi ngạc nhiên cũng có thể vì, ngẫm nghĩ lại, nếu mình... chưa "vững tay chèo lái" thì chưa chắc đã nhận được cái hân hạnh này. Cho nên, tôi cảm thấy buổi họp mặt văn nghệ sắp tới sao mà nó trang trọng quá. Nhìn qua chương trình cũng như danh sách hội đoàn đứng ra bảo trợ cũng thấy khoái khoái làm sao.

     So với mấy lần sinh hoạt văn nghệ văn gừng trước đây, tôi thầm nhủ: "Lần này như có người lót ổ sẵn, mình chỉ tới đó... đẻ thôi, sướng thiệt." Và thầm nói một tiếng cám ơn riêng. Mà đúng như vậy, không một buổi họp mặt nào lại không có những khó khăn, trở ngại cho những người có nhiệm vụ đứng ra tổ chức. Nhất là những buổi họp mặt có tính cách thuần túy văn học nghệ thuật. Tôi cũng đã từng phụ trách nhiều lần rồi nên tôi hiểu.

     Ngày lên đường đúng vào ngày vợ chồng bọn tôi phải đưa đứa con gái vô tạm trú ở đại học UNC, University of North Carolina at Chappel Hill. Chỉ vỏn vẹn có một cuối tuần thôi, để cho những sinh viên mới tập tễnh này làm quen với không khí và đời sống nội trú đại học. Vậy mà bà xã tôi cũng lo lắng phân vân, không biết mọi việc rồi có suôn sẽ như ý mình hay không. Mặc dù tôi đã dặn kỹ hai thằng anh lớn của nó phải có bổn phận rước em về đàng hoàng, tử tế. Mẹ vẫn thường lo cho con gái hơn, một bước bước ra đường con mình có biết đâu đâu là nơi nguy hiểm. Chớ còn con trai hả, thả lêu bêu một thời là xong. Thành công hay thất bại, biết liền... Ðặc biệt trong chuyến đi này là thằng út lại muốn tháp tùng với bọn tôi, đi chơi cho biết đó biết đây và luôn thể làm một phó nhòm bất đắc dĩ.

     Từ chỗ chúng tôi ở, nếu xuôi Nam dọc theo bờ biển Ðại Tây Dương, theo đường I-95, thì chỉ còn có ba tiểu bang phải đặt chân tới mà thôi. Ðó là South Carolina, Georgia, và Florida. Nhưng ba tiểu bang này lại là ba tiểu bang tập trung hầu hết những bãi biển có thể tắm quanh năm trên toàn nước Mỹ. Vì lên cao hơn một chút, từ North Carolina, qua Virginia, Maryland và Delaware nước biển đã có phần nào lạnh lắm về mùa đông. Từ New Jersey, New York, lên các tiểu bang thuộc khu vực New England như Connecticut, Rhode Island, Massachusett, New Hampshire và Maine, thì thôi khỏi nói rồi, nước lạnh không thua gì nước đá. Nhưng điều đáng nêu là xui cho, không phải bên bờ Ðại Tây Dương này, mà là vùng duyên hải phía Tây bên chân trời Cali. Vì ảnh hưởng của dòng nước lạnh từ phương bắc đổ xuống, nước biển vẫn còn hơi quá lạnh đối với người Việt mình. Ngay cả về mùa hè. Bởi vậy, ở sát biển mà không đi tắm biển thoải mái được thì kể cũng buồn. Với tôi, biển là một người tình, không phải chỉ để ngắm mà thôi.

     Vùng nổi tiếng nhất của tiểu bang South Carolina có thể nói là bãi biển Myrtle Beach. Một bãi biển cát trắng, nước trong, ấm áp có một không hai trên toàn xứ Cờ Hoa. Dài hơn biển Nha Trang, đến hai ba chục dặm lận . Trên bờ dẫy đầy cây cao, bóng cả, ao hồ. Bãi cát lại rất lài, lội ra ngoài khơi cả cây số mà nhiều chỗ mực nước chỉ ngang đến ngực. Cho nên, rất thích hợp với những gia đình có trẻ con. Không sợ bị chết hụt, chết đuối. Và cũng có thể thích hợp với những bậc cha mẹ, ông già, bà cả nữa. Không sợ bị cá mập, cá nhà táng mon men vô sát bờ.

     Kế đến là thành phố du lịch cổ kính Charleston. Chỉ nổi tiếng mới đây thôi, qua sự tàn phá khủng khiếp của cơn bão mang tên một nhà văn lớn của nhân loại: Hugo. Thật ra Charleston hấp dẫn tôi ở hai điểm. Trước hết, đây là thành phố của Hải quân nằm tại vàm của ba con sông: Ashley, Cooper, và Wando. Nhiều chiến hạm loại lớn và hàng không mẫu hạm loại nhỏ vẫn lấy bến tại đây. Tôi muốn nhìn lại những chiếc tàu sơn màu xám đó, tuy không là của Việt Nam mình đi nữa. Vì lâu lâu thấy... nhớ tàu, nhớ một thời hải hồ, sóng nước lênh đênh.

     Thứ đến, tôi muốn tận mắt quan sát những "tàn cây có râu" mà tôi vẫn thường thấy trong những phim ma kể chuyện kho tàng dưới đáy biển và những tập hình ảnh nói về thành phố này. "Râu," tức moss theo tiếng Mỹ, là một loài chùm gửi, thế thôi. Nhưng loại râu này rất ít thấy ở Việt Nam. Lại gần, trông nó giống như một nùi rau câu, một loại rong biển dùng để nấu sương sa hột lựu, màu xám tro hoặc màu xanh lá cây. Thông thường, những sợi "râu" đó đan với nhau dầy đặc thành một nùi, ở xa trông như một tổ chim lớn. Lắm khi lại là những tổ chim dòng dọc, lòng thòng những sợi râu chưa đan. Thỉnh thoảng, một cây thông hay một cây sồi, cả thân lẫn cành phủ đầy những râu dài hơn râu lân ngày Tết, cứ tưởng như là một loài cây mới, vừa được phát hiện, khám phá ra trong vườn địa đàng trần gian. Tôi cầm những sợi râu ấy trong tay, bức đứt ra vài sợi coi trong ruột có gì. Thì cũng chỉ là những đường "nhựa nguyên" cùng "nhựa luyện" như mọi loài thảo mộc khác vậy thôi, dĩ nhiên. Nhưng tôi khoan khoái làm sao.

     Tiểu bang Georgia với thành phố nổi tiếng Atlanta tưởng đâu là nằm sâu trong đất liền, ai dè cũng có một vùng biển ngắn. Trong khoảng biển đó có thành phố Savannah, hay là "Sa Vân Thành," được Việt hóa theo kiểu của anh Lê Nhật Thăng. Nhà phê bình văn học và cũng là nhà thơ Hà Trung Yên, tác giả ba tập thơ Những Khối Vuông Tâm Tình, Niềm Xanh Hương Xa . Và cũng là người ký dưới nhiều bút hiệu khác như Nguyễn Ngọc Châu (tên thật), Viễn Chi, Nguyễn Ðức Phổ, Ngọc Dạ Lý Hương... Bây giờ, đối với bọn tôi, ngoài vai trò một bạn văn, anh còn đóng vai chủ nhân ông của một quán trọ bên đường, dành cho khách phương xa đến ngủ nhờ qua đêm nữa.

     Theo lời dặn của anh trong thư, đại khái: "Cứ theo đường I-95, rẽ trái vào đường 21, rồi rẽ trái vô đường Bay đi qua downtown, rẽ trái một lần nữa vào đường President chạy song song với đường xe lửa, tiếp tục rẽ trái vô đường Pensylvania, đi khoảng một dặm là gặp Savannah Gardens, đi thêm độ một trăm thước nữa là đường Wisconsin..., là tới nhà tôi." Tóm lại, chẳng có gì khó khăn cả, toàn là quẹo trái! Thông thường, muốn ghé nhà ai tôi chỉ cần cái địa chỉ và tấm bản đồ là xong ngay. Dẫu có đêm hôm tăm tối đi nữa, tôi cũng sẽ lần mò tìm tới được. Lần này khác, theo sự hướng dẫn như trên, thấy ra coi bộ dễ dàng quá, nên tôi chẳng màng xem lại bản đồ. Ðến chừng đi mút con đường 21, rồi vòng tới vòng lui, chẳng tìm thấy con đường Bay đâu hết, thì có mong gì quẹo trái vô đường President, song song với đường xe lửa. Mà tụi tôi cũng đi ngang qua downtown rồi mới kỳ. Vì đã quá giờ hẹn hơn một giờ, cho nên tôi bèn tấp vô trạm xăng có tiệm bán thực phẩm mang hiệu Circle K, gọi điện thoại nói anh ra đón cho chắc ăn. Ai dè anh Thăng cũng không rành đường phố Sa Vân Thành cho lắm, không nhận ra tiệm Circle K tôi đang đứng đợi là ở chỗ nào. Rốt cuộc, anh phải đi cùng với một người bạn ở đấy lâu hơn anh, từ năm 75, đi đón bọn tôi.

     Sa Vân Thành, với nhiều thắng cảnh như bãi biển Tybees và thành Pulaski vang bóng một thời qua lần duy nhất nội chiến Bắc-Nam của Mỹ Quốc, là nơi cư ngụ của khoảng một ngàn người Việt Nam. Trong số đó, bên cạnh đa số những gia đình ngư phủ, còn có nhiều gia đình cựu quân nhân và chuyên viên kỹ thuật Không quân. Vào mùa hè năm 90, Sa Vân Thành cũng đã được chọn làm địa điểm để tổ chức Ðêm Không Gian. Tại phòng hội của Câu lạc bộ sĩ quan trong căn cứ Không quân Mỹ, nơi mà phần lớn các hoa tiêu trực thăng của Không quân Việt Nam được gắn cánh bay tốt nghiệp. Lần tổ chức này có sự hiện diện của cựu chuẩn tướng Phan Phụng Tiên, cựu tư lệnh Sư đoàn 5 Không quân... Trong một bữa tiệc thân tình tại nhà anh Thăng, tôi có tiếp xúc qua với hai anh Huấn và Hùng (mới đoàn tụ gia đình theo diện H.O.) trong tình huynh đệ chi binh. Ðúng là một buổi họp mặt không hẹn trước của Hải Lục Không quân Việt Nam, vì anh Thăng cũng là một cựu quân nhân, một cựu trung tá thuộc khóa 5 trường bộ binh Thủ Ðức nếu muốn nói rõ ràng hơn. Nhưng với lối chỉ đường của anh, tôi cứ phân vân hoài, cứ cái điệu này thì hồi xưa làm sao anh biết đâu là đúng hướng, đúng đường để dẫn lính đi hành quân trong rừng đây chớ (điều này chắc anh Phạm Bội Ðiệp đồng ý với tôi)!

     Anh Thăng lớn hơn tôi tròm trèm một con giáp, vậy mà bà xã anh lại cùng tuổi với bà xã tôi mới là lạ. Hóa ra ngày ấy chàng "dê" nàng chắc là "tuổi của nàng đâu mới chỉ mười ba" thì phải? Ðể rồi suốt đời sau, anh Thăng nguyện chỉ thích ăn mỗi một thứ nước mắm thôi: nước mắm Phan Thiết! Anh chị Thăng chỉ có mỗi một mụn trai, còn rất đông con gái tuổi tác xấp xỉ với thằng út của tụi tôi. Ôi chao, thằng nhỏ coi bộ thấm mệt với một lô, mấy cô bạn mới.

     Sáng ngày sau, phái đoàn văn nghệ ta lại lên đường. Ðược tăng cường thêm ba người nữa, gồm hai vợ chồng anh Thăng và một trong hai cháu gái sinh đôi, áp úp. Trên hai chiếc Van, tiếp tục xuôi Nam. Xuyên qua tiểu bang Florida, tiểu bang... Hoa. Vì tĩnh từ florid có nghĩa chính là đầy hoa, covered with flowers . Nhưng, bông hoa đâu tôi không thấy, chỉ thấy rất nhiều chà là, palm trees . Hoặc giả là... cau kiểng, chớ không phải thốt nốt vì có trái rất nhỏ. Vừa qua khỏi Jacksonville, với dòng St. Johns rộng lớn chảy ngang qua thành phố, là có lác đác đây đó bóng dáng chà là. Nhứt là đoạn đường trên I-4, từ Daytona Beach về Orlando, có nhiều đám lớn vươn cao trông như những vườn dừa Bến Tre. Xem đã mắt thiệt.

     Xế chiều cùng ngày, một bữa tiệc thân hữu được tổ chức tại nhà chị Thanh Hiền. Ðây cũng là nơi mà phái đoàn bọn tôi sẽ tá túc qua đêm. Món ăn cũng chẳng có gì thịnh soạn hết, chỉ là hai món quen thuộc: bún bì rau thơm và bún bò Huế. Ngoài việc cầm cọ vẽ vời đôi chút, sở trường của chị Thanh Hiền là làm thơ. Một tiếng thơ đang lên, quê quán ở Bà Rịa.

     Cũng tại ngôi nhà xinh xắn này, tụi tôi đã được gặp nhà thơ Hà Huyền Chi, tác giả của những tập thơ Saut Ðêm, Còn Gì Cho Anh (giải văn học nghệ thuật năm 71), Cho Mặt Trời, Tên Nô Lệ Mới, Như Ðá Ngàn Năm, Cõi Buồn Trên Ta Thơ Ðen (ký dưới bút hiệu Mậu Binh). Anh cũng là tác giả của hằng chục truyện dài mà ít người biết đến, nhắc tới như Nghiêng Cánh Sắt (viết chung với Phạm Huấn), Rừng Ái Ân, Bước Ðam Mê ... Ðược diện kiến nhà thơ Thừa Phong (tên thật là Lê văn Cư, cựu Tham Tá Ðông Dương thời Pháp và Giám Ðốc Thuế Vụ thời Ðệ nhất Cộng hòa, tuổi đã gần 80). Là một trong những người xướng lập Nối Lửa Tao Ðàn và là tác giả của các tập thơ Như Cánh Nhạn Bay (thơ cổ điển), Ðường Thi (236 bài thơ dịch từ những bài thơ nổi tiếng của 89 thi sĩ thi bá Trung Hoa, trong số đó có Bạch Cư Dị, Ðỗ Phủ, Lý Bạch, Lý Thương Ẩn, Mạnh Hạo Nhiên, Trần Tử Ngang, Vương Bột, Vương Duy...), Những Áng Mây Chiều (thơ mới), Mùa Gió Loạn (thơ trào lộng) và Những Mảnh Tình Xuân (thơ xa luân). Sắp sửa cho in cuốn bút ký Tôi Làm Thơ nữa đây. Rồi nhà thơ Linh Quân Lê Bá Năng, cựu quân nhân, sinh ra và lớn lên ở thành phố Ðà Nẵng. Tác giả tập thơ đấu tranh, quay ronéo vào năm 83, mang tên Vùng Dậy . Anh cũng sẽ cho in tập Ngọn Hồng trong một ngày gần đây. Nữ nhạc sĩ dương cầm Linh Phương, vừa mới phát hành cuốn băng Mưa Tình (độc tấu). Nhiếp ảnh gia Nguyễn Xuân Tính. Nhà báo Trần Thái Khương...

     Khi bữa tiệc vừa chấm dứt, tất cả phải sửa soạn đi ngay ra nhà hàng Ðịa Ðàng Con Công, Peacock Paradise, cho kịp giờ trình diễn. Giờ dây thun, hiển nhiên. Bởi vậy, mặc dầu đi lạc đường, vòng tới vòng lui hơn nửa tiếng đồng hồ, phái đoàn ta vẫn đến nơi đến chốn trước những người khán thính giả tới đầu tiên. Trước luôn cả vợ chồng nhà thơ Trang Sinh Phạm Bội Ðiệp, tác giả tập thơ Ðổi Ðời in năm 81 (sẽ nhuận sắc và cho tái bản trong nay mai), vừa đáp xuống phi trường sau mấy tuần nghỉ hè, du hí bên Cali...

     Lại thấy lất phất mưa bay, tôi than thầm: "Ðiệu này thất bại." Nhưng bỗng dưng từ đâu không biết, thiên hạ già trẻ bé lớn ùn ùn kéo nhau đến như nước vỡ bờ. Mừng hết sức, thở phào nhẹ nhõm. Chẳng mấy chốc, bàn ghế chật hết trơn, chủ nhà hàng phải mang ra ghế xếp, để dọc theo vách... Xong, tới giờ ra quân, bổn phận ai người ấy lo. Ðờn ca, xướng hát, ngâm thơ, vũ múa..., ôi thôi, đủ mọi bài bản. Riêng phần tôi, tôi có ý làm chuyện "mua vui cũng được năm mười phút cười suông" vậy thôi. Nói tóm lại, buổi sinh hoạt văn nghệ, văn hóa rất là thành công. Ðủ mặt hầu hết mọi thành phần trong cộng đồng.

     Có một anh bạn Hải quân, cách tôi đâu năm bảy khóa gì lận, chẳng biết từ nơi nào bang tới, lớn tiếng:

     - Anh là nhà văn Nguyễn Tấn Hưng phải không? Trời đất, nghe tiếng anh quá xá mà bữa nay mới gặp!

     Tôi chưa kịp phản ứng gì hết thì anh Thăng... "suỵt, suỵt", tại vì bàn dành riêng cho các bạn văn nghệ sĩ kê gần sát bên bục sân khấu. Vả lại ca sĩ người đẹp đang ca ngon trớn mà, đâu có la lối om sòm như thế được. Thấy vậy, anh bạn trẻ nắm tay tôi lôi đi:

     - Anh em mình ra ngoài này nói chuyện một chút đi. Nói thiệt anh nghe, tôi đọc hết tất cả các bài của anh. Anh viết đọc đã lắm. Nhiều lúc tôi khoái quá, nói xin lỗi anh, tôi nói với mấy thằng bạn: "Hải quân mình có thằng cha Hưng làm coi được..." Tôi nghe anh tới là tôi phải tìm gặp anh ngay. Ðang gởi mấy thằng nhóc ở nhà anh Lương nhờ coi giùm đây...

     "Ðọc đã lắm," thiệt vậy sao? Tôi nói:

     - Vậy à! Nhưng xin lỗi anh tên gì, anh đi khóa mấy?

     - Tôi tên Trúc, thuộc hàng OCS anh ơi, sau anh xa lắc xa lơ mà. Anh đi khóa 17 phải vậy không? Ði lại đằng bàn này cụng với mấy thằng em một ly, rồi tôi sẽ đem anh trả lại chỗ cũ. Bữa nay anh là nhân vật quan trọng mà, anh là diễn giả...

     Diễn giả? Nghe sao mà lớn quá, tôi đâu dám! Mình chỉ vun vít đôi ba lời vụn vặt mà thôi! Nhưng, qua mấy lời chân tình, thốt ra từ miệng một độc giả... đàn em, thú thật, tinh thần tôi lúc đó quả là lên cao phơi phới. Mà hầu hết những người cầm bút... đã có chút chút thành công như tôi, theo tôi nghĩ, không sớm thì muộn trước sau gì cũng sẽ gặp những trường hợp khích lệ rất là vô tư từ phía độc giả mến chuộng những sáng tác phẩm của mình! Tương tự như lần đầu tiên này của tôi vậy!

     Ðó là nói về đàn em! Còn đàn anh của tôi thì có anh Nguyễn Duy Long, khóa 13, ngày xưa đã từng là Hải quân trung tá chánh văn phòng của đô đốc Lâm Ngươn Tánh. Có người anh cột chèo, chèo lái tại vì vai lớn hơn anh, và cũng là bạn cùng khóa: niên trưởng Dương văn Bang. Bạn đồng nghiệp tình báo với Chu Bá Yến, chủ báo Florida Việt Báo ở Miami, và tôi năm xưa. Vì anh Long là dân Võ Bị chuyển qua, khóa 16, cho nên đương thời anh được bầu làm chủ tịch hội cựu sĩ quan Võ Bị Ðà Lạt tại vùng Florida. Tàn đêm văn nghệ văn gừng rất là quê hương ấm cúng, mà chị Linh Phương đã bỏ rất nhiều công lao tập dợt và điều khiển, anh Long đã... thỉnh anh Hà Huyền Chi đi theo mình về nhà ở thành phố Largo cách Orlando khoảng 100 dặm về hướng tây nam. Cũng nên biết qua anh Hà Huyền Chi, tên thật là Ðặng Trí Hoàn, cũng là dân Ða Hiệu, thuộc khóa 13.

     Ngủ lại nhà chị Thanh Hiền một đêm để lấy sức, sáng ngày sau phái đoàn bọn tôi mới khăn gói lên đường đi xuống thành phố Tampa, kế bên Largo, nơi cư ngụ của ba tài thơ Thừa Phong, Phạm Bội Ðiệp và Lê Bá Năng. Nhìn chung, phải nói tiểu bang Florida là đất tạm dung cho những người làm thơ. Ngoài những tiếng thơ tôi đã kể, cần phải nhắc đến nhà thơ Triều Hoa Ðại, hiện đang sống ở vùng Jacksonville, tác giả các tập thơ Buồn Lên Ðôi Vai, Con Phố Ðiêu Tàn , và Những Bài Âu Ca (tập thơ nhạc in chung với Kim Tuấn, Dương Nghị, Anh Hoa, Hoàng Châu) trước năm 75, và sắp cho xuất bản tập đầu ở hải ngoại: Dấu Huệ Hồng . Rồi nhà thơ Thúy Trúc với tập Thơ Thúy Trúc hiện định cư ở Miami... Ngoại trừ chỉ có mỗi một cây bút nữ, Ái Khanh, ở Orlando, là chịu khó... ngồi xuống viết văn thôi.

     Thơ, đối với tôi, là nghề tay trái của một nghề tay trái. Thành thử, tôi thấy tôi yêu thơ chưa đúng mức. Nếu muốn yêu thơ đúng mức thì phải làm những gì các bạn thơ của tôi ở Florida đã làm. Hình như bao giờ đầu óc họ cũng tưởng nhớ đến thơ. Ngồi lại với nhau là bàn về thơ, có khi một câu, có khi một chữ. Sửa đi sửa lại, công phu lắm. Làm sao cho thơ... thiệt là thơ, đúng với ý thơ, tứ thơ, hồn thơ. Ngồi vô xe thì thay vì nghe băng nhạc như hầu hết mọi người thường nghe, không, lại đi nghe những cuộn băng ngâm Tao Ðàn. Của chính mình hay của các bạn thơ trao tặng. Nào là cuộn băng tao đàn chính thống Thơ Thừa Phong của bác Thừa Phong do Hồ Ðiệp và ban nhạc tao đàn trình bày, mang từ Việt Nam sang. Những ba cuộn băng Thơ Tuyển Hà Trung Yên do Tô Kiều Ngân, Ðoàn Yên Linh, Huyền Trân, Thu Hiền... diễn ngâm từ thơ của Hà Trung Yên, cũng là từ trong nước mang ra. Thêm cuộn băng Tình Thơ Florida , do Quang Minh và nhạc sĩ Trần Lãng Minh vừa mới thu tại hải ngoại cho thơ tổng hợp của Phạm Bội Ðiệp, Lê Khắc Anh Hào (tác giả tập thơ Sỏi Ðá Còn Hờn Cơn Quốc Biến ), Lê Bá Năng và Thanh Hiền. Kể cũng là một lâng lâng, thích thú với nàng thơ vì lâu lắm rồi tôi mới được nghe lại những giọng ngâm tao đàn vang bóng một thời của Sài Gòn xa xưa, trong đó có tiếng ngâm vang lừng muôn thuở Hồ Ðiệp, rồi cũng đã qua đời.

     Chiều ngày ấy, tội nghiệp bác gái đã lom khom làm đồ ăn sẵn hết mà tụi tôi không được dịp thưởng thức tài nghệ, vì cả bọn đến nhà bắt cóc bác Thừa Phong chở luôn về nhà anh Long. Bên kia vịnh Tampa Bay, vùng Largo và Nước Trong, Clearwater, băng qua cây cầu Kennedy dài sọc. Sóng nước tứ bề. Ở đây đang dọn tiệc lớn: tả-pín-lù. Cù lao thập cẩm, thịt bò và đủ thứ đồ biển món gì cũng tươi cũng ngon hết. Nhậu một mách. Lại bàn về thơ. Xung quanh tôi toàn là những nhà thơ với lại thi sĩ, đôi lúc thấy mình cũng hơi lẻ loi, cô đơn đó chớ... Tráng miệng bằng trái cây và chè bà ba.

     Rồi đến tuần trà, do đại ca Dương văn Bang của tôi (bây giờ còn kiêm thêm cái chức giáo sư Thái cực quyền, Tài chỉ chuẩn) đảm trách. Rất là cầu kỳ và điệu nghệ với bộ bình tách bằng đất nung đỏ ối, nho nhỏ như là đồ của con nít chơi. Thứ nhứt Thế Ðức gan gà, thứ hai Lưu Bội thứ ba Mạnh Thần , tôi không biết thứ đất nung này thuộc vào hàng thứ mấy. Nhưng, giống y chang với bộ bình tách của Trần Long Hồ đã đãi khách quý, trong số có hai vợ chồng tôi, dạo nào. Chỉ khác ở một điểm là lần này anh Bang pha trà Thiết Quan Âm, thay vì lần trước Trần Long Hồ dùng trà Ô Long. Uống trà, đối với tôi, chẳng qua chỉ có hai thứ cần và đủ để làm tôi có khoái cảm là hương và vị! Chớ còn cách uống, cách pha thì có nghĩa lý gì mà phải nhọc công! Mà thôi, nói như vậy thì mấy vị thuộc nằm lòng Trà Kinh họ cười chết. Chỉ biết giữa hai thứ trà nổi tiếng thường nghe, Ô Long và Thiết Quan Âm, tôi chịu hương lẫn vị của Ô Long hơn.

     Tối hôm đó hai anh Hà Huyền Chi và Hà Trung Yên ở lại với bác Thừa Phong để tiếp tục bàn tiếp về... thơ. Bọn tôi xin rút lui về nhà anh Lê Bá Năng. Ngoài việc nghỉ ngơi cho khỏe, vợ tôi và chị Lê Nhật Thăng còn có một tiết mục mới lạ nữa phải làm: đi chợ ma. Chợ ma? Ðúng vậy! Chợ ma là tên gọi của người Việt mình dành cho một chợ trời trái cây, chỉ bắt đầu nhóm chợ vào giữa... đêm khuya. Ở đó, những xe truck của những người hái trái cây, hầu hết là người Cu Ba nói tiếng Tây Ban Nha rành hơn tiếng Mỹ, chở tới những thứ mà họ vừa mới hái trong vườn, trong ruộng. Ðổ đống dưới đất và, lẽ dĩ nhiên, bán sĩ nhiều hơn lẻ. Ôi thôi, đủ thứ: cam, quít, chanh, bưởi, dưa, cà, khoai, ớt... Nhứt là dưa hấu, xoài, ổi... thì rẻ hơn nhiều so với những nơi khác. Ðã vậy còn có vụ cho trả giá, bargain, nữa. Rất phù hợp với tính nết đặc thù, riêng biệt như đã thấm nhuần trong huyết quản của hầu hết mọi người đàn bà. Vợ tôi làm mỗi thứ một thùng hoặc nửa thùng (giạ Mỹ, bushel, dung lượng 36 lít), bảo đảm vừa ăn vừa cho, mệt nghỉ.

     Sáng ngày sau, trước khi lên đường trở về quê cũ, chị Phạm Bội Ðiệp có đãi phái đoàn bọn tôi một bữa ăn sáng rất là cây nhà lá vườn: bánh cuốn Bắc do chị đổ lấy tại nhà (cũng có gửi bán lai rai khắp xứ). Ðây là lần đầu tiên tôi mới thấy tráng bánh cuốn. Hai nồi nước sôi, có dĩ ngăn phủ vải mùng và nắp đậy, đã làm hai tay chị Ðiệp không ngừng nghĩ. Hễ múc bột tráng xong bên này thì phải liền tay gỡ lớp bánh chín tới bên kia. Làm việc như máy...

     Tụi tôi, cũng như hầu hết mọi người tôi nghĩ, ăn bánh cuốn thì ăn với chả lụa xắt lát mỏng, giá sống lặt đầu trụn nước sôi, củ hành chấy, rau thơm... Nhưng, anh Hà Huyền Chi không ăn như vậy. Anh rót một chén nước mắm trong thiệt đầy, xong, khuấy vào đó một muỗng bột ngọt và một muỗng ớt bột. Anh từ từ thả từng cuốn bánh cuốn chìm lĩm trong chén nước mắm đó rồi gắp ra ăn không như vậy. Không cần thêm thắt rau thơm hay thịt cá gì cả. Hết dĩa bánh cuốn thì cũng vừa hết chén nước mắm. Ðó là cách ăn bánh cuốn đúng điệu của người Bắc xứ anh, đại khái, anh cho biết như thế. Tôi lại sợ cho những ai nếu bị bệnh tăng xông máu thì chắc phải... bỏ ăn thôi!

     Trên đường về, phái đoàn còn lại sáu người bọn tôi đã ghé vào Walt Disney World, một trung tâm du lịch có tính cách quốc tế ở thành phố Orlando. Vì không đủ thì giờ cho nên anh Lê Nhật Thăng đề nghị chỉ đi thăm khu Epcot Center mà thôi. Trong khi đứa con gái áp út của anh và thằng út tôi thì, hiển nhiên, lại thích đi qua khu The Magic Kingdom với những Mickey Mouse, Donald Duck..., nhưng không làm gì khác hơn được. Epcot Center, đại để, gồm nhiều tòa nhà xây bao quanh hai vòng tròn nối liền nhau như vòng số tám.

     Vòng đầu tiên, vòng ngoài, gồm có những Spaceship Earth, The Living Seas, The Land, Journey Into Imagination, World of Motion, Horizons, Wonders of Life, và Univere of Energy. Bên trong những tòa nhà này, hầu hết đều có những chuyến ride , có ghế ngồi đôi hoặc ba di chuyển theo những đường rầy đặt sẵn, do máy đưa đi vòng vo, lên xuống. Những hoạt cảnh hai bên đường đúng là kết quả của văn minh tân tiến cũng như đời sống trong xã hội computer. Hấp dẫn nhất có lẽ là trung tâm Spaceship Earth, do hãng AT&T phụ trách. Ghi lại lịch sử nhân loại. Từ thời cổ sơ ăn lông ở lỗ, qua thuở bán khai đá mài đá đẽo, cho đến lúc vệ tinh cùng hỏa tiễn bay đầy trời như ngày hôm nay. Kế đến là World of Motion, do hãng General Motor xây dựng. Ghi lại lịch sử di chuyển, đi đứng của loài người. Từ lúc bò lết, cho đến khi đi chân đất hay mang giày, rồi mới đến cỡi ngựa ngồi thuyền, chuyển lần tới đạp xe đạp ngồi xe hơi, để cuối cùng phóng lên phi cơ phi thuyền không gian. Thứ nữa là Journey into Imagination, tại vì ở nơi đây chúng tôi được xem phim ba chiều cực mạnh, thấy rõ cả hình con quỉ sứ từ trong màn ảnh lướt ra đứng ngay trước mặt mình với đầy nanh nhọn, móng vuốt.

     Vòng thứ hai, tức vòng trong, gồm có mười một tòa nhà xây chung quanh một cái hồ nhân tạo rộng lớn như hồ Than Thở. Ðặc biệt dành cho sự đóng góp của mười một xứ, gồm có: Gia Nã Ðại, Anh Quốc, Pháp, Ma Rốc, Nhựt Bản, Hoa Kỳ, Ý Ðại Lợi, Ðức Quốc, Trung Hoa, Na Uy, và Mễ Tây Cơ. Chúng tôi đã ghé qua từng khu vực riêng của những nước này. Bên trong, thường được xem phim giới thiệu quá trình dân tộc của họ, thế thôi. Nhưng, điểm đặc biệt là chiếu trên màn ảnh không phải là đại vĩ tuyến, mà tạm gọi là đại... xích đạo. Nghĩa là làm nguyên một vòng tròn, kết hợp bởi sáu hoặc tám màn ảnh đại vĩ tuyến. Ngước mắt nhìn vào hướng nào cũng có thể xem phim được hết. Ngựa chạy ngay trước mặt, rồi nếu cứ tiếp tục theo dõi, thì thấy nó vòng ra phía sau lưng, cũng còn chạy. Giống như ngựa vừa chạy ngang bên hông mình. Xe hơi, tàu bay cũng y chang cái mững này. Phim giới thiệu của Trung Hoa do thi bá Lý Bạch đảm trách như một MC, master ceremony, người điều khiển chương trình. Xem hấp dẫn lắm và được trình chiếu trong một tòa nhà tròn có mái cong như mái chùa, xây cất rập khuôn theo những cung điện đời nhà Minh. Ðặc biệt nhứt là người Na Uy, họ đã đưa khách thập phương đi thăm xứ sở của họ bằng thuyền con. Thứ thiệt. Những chiếc "xuồng rồng" năm sáu chỗ ngồi di chuyển trên một dòng sông có thác, có ghềnh, có lừ đừ nước chảy, và có cả cái cảnh lênh đênh qua cửa Thần Phù hẵn hòi. Ai mà lơ tơ mơ là bị ướt áo ướt quần dễ như chơi. Ðúng là một sự kết hợp tuyệt vời giữa dòng nước và máy móc vận chuyển của người dân ở xứ có nhiều sông và kinh đào...

     Nhìn chung, Epcot Center chỉ là một cái hội chợ. Nhưng, đây là một hội chợ quốc tế, vì những gian hàng được trình bày và quán xuyến bởi một nước. Chẳng biết đến chừng nào Việt Nam mình mới có một gian hàng đại diện ở đây cho nở mặt rỡ mày giòng giống con Rồng cháu Tiên? Ngẫm nghĩ lại mà buồn thay cho một Việt Nam càng ngày càng đi sụt lùi vì bọn lãnh đạo cộng sản ù lì, ngu dốt.

     Cần phải nói thêm là vẫn còn thiếu sót một điều quan trọng cho những ai chỉ được dịp đến thăm Walt Disney World vào ngày thường. Vì chỉ trong tuần lễ trước và sau ngày lễ Ðộc Lập, July 4th, của Mỹ thì mới được chứng kiến một hoạt cảnh ngoạn mục có một không hai trên quả địa cầu này: đốt pháo bông và biểu diễn ánh sáng có nhạc đệm. So với lần "đốt pháo bông và lửa dậy rừng thiêng" ở thành phố ăn chơi bài bạc Las Vegas, mà chúng tôi có dịp dự kiến, thì lần này bạn Mỹ ta chơi trội hơn nhiều. Khán giả, thay vì đứng dọc theo đường phố, bây giờ lại đứng vòng quanh bờ hồ nhân tạo. Giữa hồ là một đảo nhỏ có bốn chiếc tàu cặp vào ở bốn hướng đông, tây, nam, bắc. Chứa đầy những loại pháo bông lớn, nhỏ và một hệ thống đèn màu có thể ghép thành chữ viết. Tối thiểu cũng vẽ lên được tên của các nước có những tòa nhà đại diện xây cất chung quanh bờ hồ. Trên nóc những ngôi nhà đó cũng có những dĩa đèn cực quang, chiếu xéo xuống mặt hồ như những thanh gươm ánh sáng. Vô số bóng tròn gắn chung quanh tòa nhà thì khỏi nói rồi, sẽ tự động bừng sáng khi người điều khiển chương trình nhắc đến tên của quốc gia mình. Ðồng thời, được vẽ từng mẫu tự một trên hệ thống đèn của bốn chiếc tàu.

     Tóm lại, cả trăm ngàn Mỹ kim có thể đi đứt rất dễ dàng cho ba mươi phút pháo bông, đèn màu thắp sáng chốn địa đàng trần gian. Ðể ghi lại một kỷ niệm màu mè, rực rỡ, nhớ đời. Cho những người đang say sưa tham dự mà quên bẵng đi là lối về đêm nay sẽ bị chen chúc, vai bên vai, trong rừng người cùng lúc đổ xô ra cổng chính. Túa ra ngoài bãi đậu xe rộng lớn ba bốn mẫu tây, đen nghịch như đàn dơi rời hang động về đêm...

    

     Về đến nhà, vừa nghỉ ngơi một đôi ngày lấy lại sức, thì liền theo đó tụi tôi lại có dịp để ngược Bắc một lần nữa. Thăm Hoa Thịnh Ðốn một lần nữa. Vì nhiều lý do, nhưng quan trọng hơn hết là có buổi ra mắt bộ trường thiên Sông Côn Mùa Lũ của anh Nguyễn Mộng Giác. Bởi lẽ, trước đây, lúc anh ra mắt bộ trường thiên Mùa Biển Ðộng , chúng tôi vì bận công chuyện đã không đến tham dự được và nghe nói là không mấy thành công. Cho nên lần này, với ý định sẽ tới đó hỗ trợ một phen. Và thứ đến là ghé thăm bạn hiền Nguyễn thị Thanh Bình (tác giả tập truyện Ở Ðời Sống Này , truyện dài Giọt Lệ Xé Hai ...), lâu quá rồi chỉ nói chuyện hằng giờ với nhau trên điện thoại.

     Ðường xá từ North Carolina lên Washington D.C. như đã quá quen thuộc với bọn tôi, chạy riết thấy như gần lại. Cứ năm, sáu tiếng đồng hồ là tới. Khỏi cần bản đồ. Khỏi cần bảng chỉ dẫn, tên đường gì ráo trọi.

     Ăn uống buổi chiều xong xuôi, trời cũng đã tối hẳn, Thanh Bình đề nghị đi thăm một người bạn chung. Ừa, đi thì đi. Tôi cũng sốt sắng không kém! Nhưng, giống như anh Lê Nhật Thăng, Thanh Bình cũng không rành mấy đường xá xung quanh khu mình ở. Quành tới quành lui mới tìm được con đường chính dẫn vào khu... nhà mới cất, development. Ðèn xanh, tôi đang tà tà quẹo chiếc Toyota Van sang trái, thì bỗng nghe tiếng Thanh Bình, đang ngồi băng sau với vợ tôi, hốt hoảng la lên:

     - Xe tới, xe tới, anh Hưng... Thôi, chết...

     Rồi có tiếng xe thắng gấp, bánh cọ sát mặt đường... ét, ét... bên tai. Tôi vừa ngó ngoái lại thì thấy chiếc xe xám xịt, to lớn dềnh dàng đâm đầu vào ngang hông mình, giống như tàu Ai Cập của nữ hoàng Cléopâtre ủi vào tàu La Mã trong phim Benhur vậy. Bang..., một tiếng khô khan vang lên và mọi thứ nằm yên. Bất động, trong tít tắc. Giây an toàn vẫn chéo ngang ngực, tôi cảm thấy tấm thân mình không hề gì, quay lại hỏi phía sau:

     - Có ai sao không?

     Tôi thấy Thanh Bình, vì ngồi phía ngoài nên bị sức giựt kéo phăng ra khỏi ghế, đang lồm cồm ngồi dậy:

     - Không sao! Em bị va đầu vào tấm kiếng này, đau điếng... Anh chị có sao không?

     - Chị không sao, chị lo cho em! Ðau dữ hả?

     Tôi bung cửa vọt ra sau cố kéo cái cửa kéo, slide door. Một trái xoài (mang từ Florida) lăn ra, rơi tòm xuống đất và tôi nghe tiếng vợ tôi cằn nhằn. Thằng nhỏ đụng xe chạy lại xin lỗi tíu tít. Tôi bỗng nói:

     - Phải đi kêu cảnh sát.

     Bà xã tôi lượm trái xoài rồi cùng Thanh Bình, chắc đã bớt đau, nắm tay nhau thong thả đi vào cây xăng. Như đi dạo dưới trăng, xem ra cũng không hề hấn gì... Không đầy năm phút sau, ở đâu không biết, ba chiếc xe, một cứu hỏa, một hồng thập tự, và một cứu cấp (rescue squad) chạy tới cùng lúc, hụ còi in ỏi. Rồi vài phút nữa mới có hai xe hơi và một mô tô của cảnh sát. Thì ra đã có người gọi báo động 911, ngay sau khi tai nạn xảy ra. Ðèn flare bật cháy làm dấu tứ tung. Mỗi người một câu, hỏi tôi đủ thứ. Tôi bảo không sao, không sao. Chỉ hư xe thôi, xe thằng nhóc thun đầu chảy nước chảy xăng, còn xe của tôi hủng một lỗ lớn. Lúc tôi định bang đi tìm thì thời may Thanh Bình và bà xã tôi lội trở ra. Chẳng biết Thanh Bình nói năng với nhân viên cứu cấp ra sao mà họ tống hai người vào xe cứu thương. Chẫn mạch, cân đo, thoa dầu, xức thuốc gì gì trong đó một hồi họ thả ra và bảo:

     - Nếu không muốn chúng tôi chở đi nhà thương thì phải ký vào tờ giấy này.

     Thanh Bình đành chịu, phải ký vào tấm giấy từ chối sự giúp đỡ nhân đạo của những người Mỹ tình nguyện, giàu lòng nhân ái. Nhờ trời, ai nấy chỉ bị xây xác, va chạm sơ sài thôi. May phước là lần này vợ tôi bỗng nhiên không ngồi ghế trước, bằng không, cũng có thể nguy hiểm đến tính mạng. Cảnh sát phụ tôi đẩy xe chiếc Van vào lề cho khỏi gián đoạn lưu thông, rồi mới bắt đầu làm thủ tục. Cũng may là ban đêm, không mấy người qua lại nên không có vụ kẹt xe. Kết quả, xe thằng nhóc kể bỏ, phải có xe cần trục kéo đi, còn chiếc Van của tôi thì chỉ chờ người bạn mang ra cái búa tạ, vỗ cái vè cho bánh trước khỏi cạ, là có thể sử dụng được. Mọi người từ từ rút lui, tan hàng... Trong khi chờ đợi cái búa tạ, bọn tôi ngồi tạm trên bệ xi măng mới xây cù lao giữa đường, nhìn trăng. Ðẹp lắm, một vầng thênh thang hạc nội mây ngàn, tỏa xuống dương gian những ánh vàng tơ sợi mỏng. Không biết Thanh Bình đã làm được mấy bài thơ, chớ phần tôi thì chỉ có mấy câu:

     Ðêm trăng đi dạo chẳng coi ngày
     Tai nạn gây ra há chẳng sai
     Cảnh sát ngồi bên hay ngóng mũi
     Một chai, một kẹo gum, phải nhai
     Bạn hiền ta, nghĩ lại, lắm tài
...

     Trưa ngày sau, phái đoàn bộ ba gồm hai vợ chồng tôi và Thanh Bình (ông xã Thanh Bình bận phải ở nhà giữ con nhỏ) theo đường Belt-Way phía Tây, đến trường đại học Maryland, trễ mất vài phút. Chỉ tại với bị lựa chọn quần với áo mà thôi. Thanh Bình mặc chiếc jupe ngắn một mảnh, đan bằng chỉ len to sợi màu cam, còn vợ tôi mặc chiếc dress hoa hồng lá xanh, điểm trên nền nước biển. Chớ tôi không hề đi lạc. Kể ra anh Trương Hồng Sơn chỉ đường trên điện thoại cũng khá rành mạch. Ðành ngồi vào hàng ghế phía sau cùng, cách anh Nguyễn Ngọc Bích năm sáu dãy. Vậy mà một lát sau mới thấy người ở gần, vợ chồng Thúy Minh - Trần Long Hồ (tác giả tập truyện Ngày Quanh Quẩn, Niềm Vui Ung Thư , truyện dài Cõi Sa Mù ...), mò tới. Vợ anh Giác, chị Nguyễn Khoa Diệu Chi, nghĩ đến tình người phương xa bỏ công lặn lội tới tham gia, bèn mon men xuống ngồi chung, thì thầm đấu láo với tụi tôi...

     Buổi nói chuyện, nhìn chung, coi như thất bại. Uổng công anh Giác soạn bài và trình diễn trước một số khán thính giả tương đối khiêm nhường. Một phần có thể vì chỗ họp mặt quá mới, so với chỗ cũ thông thường là trường đại học George Mason? Và một phần có thể vì ban tổ chức cố tình hạn chế số người tham dự hay sao, tôi cũng không biết nữa? Chị Diệu Chi, trong phần trả lời những câu phỏng vấn của chị Hoàng Bắc (tác giả tập truyện Long Lanh Hạt Bụi ), đã tỏ ra xuất sắc và lấn át cả đấng phu quân, trong vấn đề về sự hình thành, cất giữ, và được mang ra nước ngoài của bộ trường thiên... Một khuôn mặt rất mới ở D.C. mà chúng tôi hân hạnh được gặp trong chuyến đi này là họa sĩ Ðinh Cường.

     Sau buổi họp mặt, nhiệm vụ của tôi là phải lái chiếc xe cà tàng, đang mang nặng thương tích bên hông, vòng xuống lò bánh. Ðể lấy món hàng mà Thanh Bình đã đặt, cho buổi tiệc về đêm tại nhà anh Trương Hồng Sơn. Vì ba chớp ba nháng, tôi lái ra Belt-Way về hướng Ðông. Rốt cuộc, trong nửa ngày, tôi phải đánh hai vòng cái Belt-Way vòng đai đó. Xa lắm chớ chẳng phải chơi, mỗi bận mất cũng khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ. Vì mỗi người mang đến một món, thức ăn tối hôm đó có vẻ linh đình, hết sẩy. Bọn tôi được dịp nói chuyện thoải mái với Bùi Bảo Trúc, Giang Hữu Tuyên, chị Hoàng Bắc, Ngô Vương Toại, Nguyễn Kỳ Phong, Nguyễn Ngọc Bích, Phó Ngọc Văn, anh chị Trương Anh Thụy...

     Bọn tôi còn ở lại Hoa Ðô thêm một ngày nữa, vì vợ chồng Thanh Bình đề nghị tối đêm sau đi câu cua. Vớt cua thì đúng hơn, vì bọn tôi phải chuẩn bị những chiếc vợt con, khoảng hai ba tấc đường kính và cái cần thiệt dài, năm bảy thước có. Cũng nên biết qua cua xanh (blue crab, con ghẹ) là đặc sản của D. C., với mức thu hoạch kỷ lục hằng năm so với các nơi khác, nhằm cung cấp cho thị trường toàn nước Mỹ.

     Không cần phải đi đâu xa, ra tuốt ngoài Point Lookout như thường khi chẳng hạn, bọn tôi tấp vào đảo Solomon. Ở đây, duy nhất chỉ có một cây cầu hình chữ T bắc thật xa ra ngoài vịnh. Hình như lúc nào cũng vậy, nước trôi một chiều lờ đờ dưới chân cầu. Cua thấy ánh đèn tự động trồi lên kiếm mồi, ăn mống. Khách buông cần, thả vợt, cứ thế mà vớt. Chim trời cá nước ai bắt được nấy ăn , phải dành nhau với bọn Mỹ nữa chớ!

     Sau vài lần vớt hụt, tôi có kinh nghiệm ngay. Phải vớt chận đầu chớ không thể nào vớt chạy theo con cua được. Chỉ động nước một chút là nó vọt liền. Lẹ lắm, chớ không phải chậm như rùa. Rồi phải mở mắt to hơn một chút nữa mới thấy được những con cua thích nổi lưng chừng. Ðó, chính là những con cua lớn! Chớ còn cua con thì, ôi thôi khỏi nói, bơi luôn cả bầy ngay trên mặt nước cũng chẳng ai thèm để ý tới. Vớt những con cua nổi lưng chừng ở dưới nước là cả một nghệ thuật. Phải có đôi tay ước lượng được chiều sâu đồng bộ với con mắt. Nhiều khi thấy sâu vậy mà thực ra cạn hễu. Chỉ cần xê xít một chút là con cua lòn qua, trên hay dưới vợt... Câu cua vui vậy mà có nhiều người ra đây không phải để câu cua, mà lại câu lén con cá đá (rockfish) rất hiếm, đang được chính phủ bảo vệ. Chẳng biết thịt con cá này ngon ngọt như thế nào, ăn vào mập béo ra sao, mà có nhiều người vẫn không ngán phải đóng phạt 500 đô nếu bị cảnh sát bắt... Nói gì thì nói, không biết đối với hai vợ chồng Thanh Bình thì sao, chớ câu cua đã cho hai vợ chồng tôi những giây phút rất thần tiên, như làm sống lại một thời niên thiếu. Nhất là giữa biển rộng trời trong, trăng thanh gió mát như đêm này.

     Rốt cuộc rồi, xuôi Nam, vui. Mà ngược Bắc, tuy có tì vết, cũng vui...

   back to top

06. TORONTO, PHÓ HỘI LÀNG VĂN

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Phàm làm người cầm bút, thiết tưởng, phải nên đi phó hội làng văn một lần cho biết với người ta. Ðể thấy cái cảnh gặp nhau trong mong đợi, ngỡ ngàng của những kẻ, nói chung, "văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình" nó ra làm sao. Hầu hết đều tay bắt mặt mừng thì hiển nhiên rồi, nhưng... nghinh nhau như trâu cổ, trâu cò thì chắc cũng không tránh khỏi. Cho những ai đã từng mang nhau ra vặt lông, làm thịt, tơi bời hoa lá trên các mặt báo.

     Trước đây, vào mùa thu năm 1989, bọn tôi định làm một chuyến phó hội làng ta ở Montréal nhưng mà xui xẻo quá, tình hình... xe cộ không cho phép, đành phải ở nhà. Báo hại, nhiều bạn bè quen biết qua thư từ và điện thoại với tôi đã la làng, rằng: Ông Trùm hứa lèo! Thiệt, khổ quá, chẳng biết nói làm sao cho bằng hữu hiểu rõ nỗi lòng đây!

     Và rồi thời gian thắm thoát thoi đưa, một nhiệm kỳ hai năm vừa như đã... sẽ đưa vèo, lụi hụi lại đến ngày phó hội nữa, phó hội Toronto. Bọn tôi nhứt quyết phen này phải chuẩn bị cho thiệt cẩn thận, kỹ càng. Trước hết, phải có xe mới để lái đường xa. Và hên quá, có cô em bà xã tôi mới sắm, Honda Accord. Cho đến bây giờ, nếu có dịp thuận tiện, tôi vẫn thích lái xe đi đó đi đây hơn là ngồi máy bay. Ðể còn thấy tận mặt những cái lạ mắt, những cảnh đẹp đẽ bên đường dẫy đầy khắp cùng đất nước Mỹ và Gia Nã Ðại. Cũng như để biết thêm những phong tục, tập quán của dân chúng sống quanh vùng mình đã và đang đi qua. Vì biết đâu trong một tương lai có thể... rất gần, tôi lại mang cái bịnh "mỏi gối chồn chân" giống như các bạn "già," mắt mờ tay yếu, không dám băng ngàn vượt suối, leo núi trèo đèo, lái xe đường trường nữa?

     Sau cái xe, thứ đến, phải lo cái nhà, để làm nơi tá túc. Rộng hẹp, sạch dơ không cần biết chỉ mong có được cái không khí thân tình. Mới hỏi cho có chừng bên phía Làng Văn thì Bếp Mập đã đưa ra cái thông cáo là các... quan viên lớn trong làng đã cuỗm mất cái quyền ưu tiên, giữ chỗ trước rồi. Thôi, kể như không có dịp đến "tham quan" nhà làng để coi có, không phải bù chét chó mà là... rận trong chăn, hay không?

     Nhưng thời may, liền theo đó, có nhiếp ảnh gia Lê Quang Xuân gạ gẫm:

     - Kỳ nầy Hưng đi Toronto định ở đâu? Hay là đám mình kéo nhau lại nhà Phan Ni Tấn ở chung cho vui! Dân cầm ly thì phải "cụng" với dân cầm ly chớ nhập bọn với đám uống nước trà ăn bánh ngọt coi sao được. À, mà nè, nghe nói rượu Tây ở bên Mỹ rẻ lắm phải hôn? Nhớ xách theo một hai chai uống chơi nghen...

     Có lý! Với ai khác thì còn ngại ngùng chớ còn với bạn hiền Phan Ni Tấn, đương kim chủ tịch Văn bút Ontario, thì qua lại đã nhiều. Dễ dàng lắm, chỉ cần nhấc cái te'léphone "hỏi thăm sức khỏe" một tiếng là xong ngay. Và nhờ chỉ đường, gửi cho tấm bản đồ thành phố Toronto nếu có thể được. Tuy nhiên, độ năm bảy ngày sau, tôi lại nhận trong thư không phải là cái bản đồ in sẵn mà là một cái bản đồ vẽ tay, ba bốn nhánh quanh qua quẹo lại như một cành cây khô héo. Trời đất, chắc ăn hay không đây?

     Sở dĩ tôi có hơi lo là tại vì tôi đã tính xong lộ trình, đường đi nước bước! Phải mất hai ngày đi, hai ngày về và trạm dừng chân qua đêm là thủ đô Hoa Thịnh Ðốn. Bận đi ghé nhà anh chị Phan văn Quang, hai người không cầm bút nhưng rất quen thuộc với giới cầm bút. Nhất là cư sĩ Từ Mẫn, bây giờ là anh năm Võ Thắng Tiết, vì lúc vượt biên đã ở chung trại, chung lều với nhau. Bởi còn là những con mọt sách cho nên, bây giờ, anh chị cũng là một trong những độc giả trung thành của nhà xuất bản Văn Nghệ . Hình như trong tủ sách không thấy thiếu một cuốn nào! Còn các bạn văn như Bùi Bảo Trúc, Nguyễn thị Hoàng Bắc, Trần Long Hồ, Võ Ðình... thì vẫn lui tới nơi này thường xuyên. Ngay cả anh Nguyễn Mộng Giác và đoàn tùy tùng của báo Văn Học cũng đã từng nhập tiệc tại đây. Với bọn tôi, có khác hơn một chút, ngoài cảm tình chữ nghĩa văn chương ra còn là người đồng hương. Vì anh chị Quang cũng là dân Mỹ Tho, vùng Ðạo Thạnh, cách ngã ba Trung Lương độ một cây số hướng về phía tỉnh lỵ. Ðó là bận đi, bận về thì ghé lại nhà bạn hiền Nguyễn thị Thanh Bình, bởi vì người đẹp Thanh Bình rất muốn nghe những chuyện bên lề cuộc phó hội, về giao tình giữa các văn nghệ sĩ của mình hơn. Cũng định tháp tùng với tụi tôi hoặc đi theo phái đoàn Văn bút miền Ðông làm một chuyến phó hội lắm, nhưng rồi cuối cùng cũng đành hoãn lại, chờ... chuyến sau.

     Từ thủ đô Hoa Thịnh Ðốn đến Toronto phải mất hơn mười giờ lái xe. Dầu có thức dậy thiệt sớm như công cấy, công cày thì cũng phải đến nơi vào buổi tối. Bởi vậy tôi không mấy yên lòng khi cầm trong tay cái bản đồ đẹp như... bức tranh hoạt họa của Phan Ni Tấn. Ban đêm mà, nhà ngói cũng như nhà lá, còn đường xá thì xa lộ trông cũng giống giống như lộ con. Chỉ cần sơ sót (miss) một cái ngõ ra (exit) là kể như đi tuốt luốt đến một chân trời góc biển nào đó ngay. Nhưng mà, nếu đã lỡ đến trễ, thì sẽ đến cho thiệt trễ luôn. Vì bọn tôi nhằm mục đích muốn xem cái thác Niagara trong một thời điểm rất khác so với mọi người, bởi lời nhắn nhủ của người ảnh Lê Quang Xuân:

     - Hưng phải coi thác Niagara vào ban đêm mới đẹp! Nhưng phải ghé vô đó trễ trễ một chút, chờ cho đến lúc nó bựt đèn màu xem mới đã, đâu khoảng chín mười giờ tối thì phải!

     Rồi, nếu muốn được bữa cày thì phải lỗ bữa giỗ, buổi tiệc sơ giao đầu tiên trên xứ người kia kể như mình phải đến hơi... muộn màng vậy. Vì Phan Ni Tấn đã có đôi lời dặn dò, đại khái như sau:

     - Kỳ phó hội nầy tôi có nhiệm vụ đón tiếp chị Thụy Khanh và phái đoàn của anh. Hay là như vầy, sẵn có buổi tiệc tiếp tân dành cho quan khách phương xa ở nhà Nguyễn Ngọc Ngạn, thôi thì anh chạy thẳng đến đó luôn thay vì chạy đến nhà tôi. Khoảng sáu giờ tối tôi phải đem xe ra phi trường rước chị Thụy Khanh và có lẽ sẽ đưa thẳng về nhà ông Ngạn cho tiện. Nguyên Hương và Nguyễn Hữu Nghĩa lo cho vợ chồng anh chị Vi Khuê và Chữ Bá Anh, ông Trà Lũ thì lo cho chị Linh Phương, tất cả đều dồn về đó...

     Ban tổ chức đại hội chuyến này chơi sang, không bắt các thành viên về tham dự đóng góp năm chục tì như lần trước, kỳ tổ chức ở Montréal. Sở dĩ có khoản tiền đãi đằng này là do công lao đóng góp của các nhà Mạnh thường quân và các cơ sở thương mại trong vùng đã vui lòng mua quảng cáo cho đặc san Diễn Ðàn Văn Bút . Nghe đâu người đáng được bằng hữu vỗ tay hoan hô nhứt cho sự thành công này là nhà văn Trà Lũ. Mong rằng, những người lo lắng cho đại sự sau này hãy noi theo gương tốt đó mà làm. Hay lắm thay!

     Ngày bọn tôi, gồm hai vợ chồng tôi và cô em của bà xã vẫn thường hay chịu khó tháp tùng trong những chuyến đi đây đó, lên đường là một ngày nắng ấm, đẹp trời. Nhưng, khoảng đường từ nhà lên Washington D.C. như chẳng có gì mới lạ, chẳng có gì để ngắm nữa. Chỉ làm một động tác mất thời gian, tàng tàng vó ngựa, đâu chừng năm sáu tiếng đồng hồ. Vì biết anh chị Quang thích trồng tỉa vườn tượt, hoa lá cành cho nên lần này đặc biệt hơn, bà xã tôi có đem theo hai cây phong lá đỏ (red leaf maples) để tặng cho vợ chồng gia chủ. Chuyến đi nào cũng vậy, vợ tôi hay cụ bị những quà cáp lỉnh kỉnh để cho người này biếu người kia, bao gồm cả người lớn lẫn đám con nít.

     Bước vô nhà mới thấy bữa tiệc thiệt rình rang! Có mặt vợ chồng Thúy Minh - Trần Long Hồ và chị Hoàng Bắc. Chị Hoàng Bắc đùa ngay:

     - Nhờ có vợ chồng ông Trùm đến mà bọn này mới được ăn ké bữa tiệc ngày hôm nay đó!

     Vừa thôi! Rau sống, bánh tráng cuốn cá chẻm nướng (whiting fish) chấm mắm nêm làm món lai rai, đưa cay. Rồi mới đến món chính: cơm, canh chua cá bông lau, tôm rim, cá bống kho tộ. Món nào cũng ngon, cũng hấp dẫn hết. Vừa ăn vừa bàn chuyện phó hội làng ta. Chị Hoàng Bắc nhứt định đi nhưng chưa biết sẽ đi với ai, đang phân vân lưỡng lự. Vì nhập bọn với "ông Trùm" thì khỏi tốn tiền, free of charge , nhưng phải thức dậy sáng sớm ngày mai. Còn tháp tùng theo phái đoàn Văn bút miền Ðông thì khỏi mất ngày làm, vì chiều tối mới khởi hành, đi đêm, nhưng phải phụ tiền thuê xe, xăng nhớt. Ðằng nào một ngày làm cũng đi đong. Còn vợ chồng Thúy Minh - Trần Long Hồ thì cũng nhứt quyết đi, đã mua vé máy bay rồi, từ D.C. đến Buffalo, New York, để từ đó quá giang xe bus về Toronto cho tiện hay là cho... rẻ tiền cũng không biết nữa. Nhưng, giờ chót phải hoãn lại vì nghe đâu "bà già trầu" ở bên Tây chưa chịu dời gót ngọc. Ý chà, đi dự phó hội mà làm như đi gặp người quen mới là mục đích chính! Và nhờ chuyển lời thăm hỏi nếu có dịp hội kiến với... những ai đó!

     Tiệc tàn vào lúc nửa đêm, phải đi tắm rửa và ngủ sớm để lấy sức cho ngày mai đường xa xứ lạ. Tờ mờ sáng đã phải lên đường. Cho chắc ăn, cho rộng rãi thì giờ để mình có thể nghỉ ngơi hay thăm viếng những nơi cần thăm viếng dọc đường. Kệ, cứ lấy con đường I-81 mình đã đi qua trong lần xuôi về Ottawa thăm cô dượng Tám, kỹ sư nguyên tử lực Trần Ðình Thám, cho dễ. Khỏi phải dò bản đồ tới lui. Ấy vậy mà lại xui, đến khoảng leo núi trèo đèo giữa tiểu bang Pennsylvania và New York thì trời dầy đặc sương mù, mây chùng xuống thật thấp chẳng khác nào vượt qua đèo Hải Vân. Càng về phương bắc trời càng lạnh, đến nỗi nhiều chỗ sương mù như đông lại thành chất lỏng, sữa tươi. Bèn phải chạy chậm lại vì trước sau gì cũng tới nhưng nên tới với một mảnh (one piece) thì vẫn hơn và không nên tới nhà thương bất tử.

     Từ thành phố Syracuse, bẻ góc 90 độ ngược về phía trời Tây, theo xa lộ I-90 về Buffalo, thị trấn Con Bò Mộng. Ðóng tiền mãi lộ, pay toll, mệt nghỉ. Ðoạn đường này có cái đặc điểm là cứ cách khoảng 20, 30 chục dặm thì có một trạm phục vụ, gồm có những cây xăng cùng những quán ăn đã được đấu thầu, ấn định sẵn. Khách bộ hành không có quyền chọn lựa hay muốn tấp vô đâu thì tấp. Kẹt dữ, vì không mấy thoải mái chút nào hết. Ở xứ tự do như Mỹ mà nào đã thấy... tự do muốn làm gì thì làm đâu? Kể cũng là một hình thức độc tài, độc quyền buôn bán! Một hình thức hợp tác xã, chậm tiến, của cộng sản? Tuy nhiên, khoảng đường này cũng có nhiều cảnh đáng nhìn, đáng lưu tâm. Ðó là những vườn cây ăn trái ngay hàng thẳng lối, táo (apples) và lê (pears), trông như những vườn cao su mới trồng ở Thủ Ðức, Long Thành. Ðó là những luống nho xanh (grapes) chạy dài xa tít vào trong đất ruộng trông như những luống thơm Bến Lức, những giồng khoai lang Cai Lậy, những bờ bắp Ban Mê Thuộc. Nhưng có vẻ khác biệt hơn vì, ở đây, những ngọn nho chi chít kia đã phải quấn vào những sợi dây nâng đỡ như những sợi dây phơi quần áo, tạo thành những mạng lưới trên không, trông... chẳng giống với bất cứ cảnh trí nào của Việt Nam ta hết.

     Rồi đến thác Niagara to lớn, hùng vĩ, hình cánh cung của thế giới! Vào đêm và... mưa rơi rỉ rả! Ðứng bên bờ Mỹ quốc trông ra, thấy ngay dưới chân mình là một dòng sông rộng, không lớn lắm đâu chỉ bằng dòng Bảo Ðịnh Giang khi chảy ngang chợ cá Mỹ Tho thôi, nước chảy lờ đờ trên những hòn đá cuội to lớn như nước suối Lồ Ồ, nhưng, đùng một cái... dòng sông kia bị cắt đứt bằng một nhát dao thẳng đứng và tất cả rơi vào vực sâu, sâu thẳm. Nhìn mút mắt mới thấy chân cầu thang, cái tháp của Lý Tịnh thì đúng hơn, dẫn xuống chiếc tàu đưa khách rong chơi dưới làn nước bạc. Ầm ầm tiếng dội, muôn đời không ngơi. Từ đó, lưu lượng nước sẽ đổ vào một biển hồ rộng thênh thang, hồ Ontario, một bắt đầu cho một dòng sông xuôi ra biển cả, dòng St. Laurent giữa Mỹ và Canada.

     Ô hay, đã mấy giờ rồi mà đèn màu chưa phựt? Ồ, chỉ mới sắp sửa chín giờ thôi! Nhưng, biết mình có can đảm ngồi ngộp thở trong xe mà chờ cái giây phút thần tiên đó không đây? Ðằng nào cũng có đèn, tuy bây giờ chỉ là đèn đom đóm khắp mọi nơi, đủ sáng để nhìn cảnh vật trời mây, thì cũng nên... cao chạy xa bay, rời bỏ chốn thiên cung ồn ào đó mà về với thế giới tục trần. Vượt qua cây cầu dài ngoằn bắc ngang sông Niagara để vào xứ Cờ Lá Cây Phong. Con đường không số không tên của Phan Ni Tấn vẽ từ Mỹ qua Gia Nã Ðại bây giờ là đường Queen Alizabeth Way. Một xa lộ liên bang, một interstate highway nếu đem so với bên xứ Cờ Hoa, chỉ khác một điểm là bên này thì dùng tên Nữ Hoàng còn bên kia thì dùng số. Vậy thì kể như đã đi đúng đường... Rồi lâu lắm mới thấy đường 427, đường 401 East. May thay!

     Ðem công tâm ra mà nói, rằng, dân Canadien lái xe ẩu hơn dân American. Tốc lực tối đa là 100 cây số giờ, khoảng 62 dặm giờ trở lại, nhưng hầu như xe nào chạy trung bình cũng 80 dặm một giờ, tức một giờ 130 cây số. Vậy thì mình cũng xả hết máy, máy xe mới mà, chớ ngán gì ai. Bởi thế cho nên, từ Buffalo qua Hamilton với cây cầu cao cất trông ra vịnh, và đến Toronto đâu chỉ độ một giờ hơn. Bắt qua đường 400 đi về hướng Barrie như Phan Ni Tấn đã dặn, thẳng về khu Downsview. Tuy nhiên, có lẽ vì học được sách chạy nhanh... quá đà của dân Canadien, nên đến lối ra đường Black Creek để quẹo vô nhà Nguyễn Ngọc Ngạn thì thắng không kịp, chạy trờ tới luôn lối ra đường Finch để tẽ về tệ xá của ông (N.D.). Quanh quẹo đôi ba lần không chủ ý, tôi lại đến ngay nhà mới lạ. Bèn bấm chuông tới tấp, nhưng xui quá, gia chủ vắng nhà! Chắc còn đang... gầy sòng ở nhà ông chủ tịch Văn bút Việt Nam Hải Ngoại. Thôi thì, khổ quá, ở đây chờ cho chắc ăn. Bây giờ mà quành trở ra để tìm đường đến nhà Nguyễn Ngọc Ngạn đặng ăn muộn tiệc tiếp tân thì chỉ có cơ may... đi lạc vào ngõ tối. Ðành gọi điện thoại nhắn bạn hiền về sớm sớm để khỏi bị đông lại thành khối nước đá bên lề. Bên kia đầu dây có người bảo:

     - Còn để dành phần đây, nhanh chân còn chậm tay hết!

     Ậy, xin tha giùm một phát đi! Giờ này mà còn ăn với uống gì nữa?

     Chẳng bao lâu, Phan Ni Tấn đèo người thơ Thụy Khanh về đến nơi. Tuôn vô nhà tìm hơi... ấm, lạnh quá chừng chừng. Tay bắt mặt mừng với người đẹp Paris, đang theo mốt mới ở Âu Châu, mặc áo xẻ vạt bầu rộng phùng phình và quần thun bó vào người, đùi mông, sát rạt. Dọn tiệc ngay, mở màn bằng món cháo đậu xanh ăn giải cảm! Rồi gỏi tôm càng, ngó sen, cà rốt, dưa leo! Thêm vịt quay, heo quay với nước sốt pha tương... Bồ Ðề (hãng tương của gia chủ)! Và không thiếu món cù lao thập cẩm, món tủ đặc biệt của chị Khiếm, bà xã Phan Ni Tấn! Cơm nước xong xuôi đâu đó thì chỉ còn đủ thì giờ để lo tắm rửa và chia phe... đi ngủ. Ai có đôi thì ngủ đôi, ai độc thân tại chỗ như chị Thụy Khanh và cô em bà xã thì cho ngủ chung với bạn. Hai vợ chồng tôi thủ cái giường kéo ra từ sofa phòng khách.

     Trưa ngày sau là ngày quan trọng, ngày thứ nhứt chính thức của đại hội. Bắt đầu từ hai giờ với mục ghi danh tại phòng hội để xem ai đến ai đi, ai thuộc trung tâm nào trên cõi năm châu bốn bể này. Cũng là dịp để các văn nhân thi sĩ gặp mặt, làm quen, tán gẫu với nhau. Ôi thôi, nhiều lắm kể sao cho hết. Ngoài những người tôi đã quen biết ở miền Ðông như Ngô Vương Toại, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn thị Hoàng Bắc, Trương Anh Thụy, Vi Khuê và Chử Bá Anh, miền Ðông Nam như Linh Phương (nhạc sĩ dương cầm cho kỳ đại hội này), tôi còn biết thêm những người mới gặp lần đầu như Khải Chính (Phạm Kim Thư), Nguyễn Ngọc Ngạn, Phạm Thế Trung (chủ nhân của những bức tượng điêu khắc đang được trình bày ở một bên cửa ra vào), Phương Nhật Nam, Trà Lũ (Trần Trung Lương, trưởng ban tổ chức) thuộc trung tâm Toronto, cụ bà Lê Bạch Lựu và các vị Lê Quang Xuân, Luân Hoán, Lưu Nguyễn, Võ Kỳ Ðiền, Vi Vi Võ Hùng Kiệt thuộc trung tâm Montréal, và Viên Linh (đại diện miền Tây, Nam Cali)...

     Nhìn chung, trong thời gian này, kẻ thì lo trang trí hội trường, người thì lo dợt nhạc (Thụy Khanh, Diễm Chi, Linh Phương...), còn hầu hết thì đấu láo hay lăng xăng tặng sách cho bằng hữu (Khải Chính, Phương Nhật Nam, Trà Lũ...). Ngoại trừ những ai có chức, có nhiệm vụ trong ban chấp hành cũ và mới (độc diễn nên khỏi phải bầu) của Văn Bút thì phải lo hội họp, thảo luận, bàn giao ở tầng dưới, basement.

     Bỗng, có anh bạn nói nhỏ vào tai với tôi rằng:

     - Có thấy hai câu thơ ai đó đề thơ cho đại hội không?

     Tôi nhìn lên sân khấu và trả lời ngay:

     - Thấy! Rằng thì là:

     Chào mừng văn hữu gần xa
     Quan san cách trở vẫn là anh em!


     - Có biết tác giả muốn ngụ ý cái gì không?

     - Bộ có ẩn ý thiệt hả? Không thấy!

     - Có gì đâu mà ẩn với lại không ẩn! Rõ như ban ngày, ý họ muốn nói là làng mình xưa nay không có anh em! Bây giờ tụ họp lại đây mới nói chuyện anh em còn hồi đó tới giờ chỉ có trâu trắng trâu đen thôi!

     - Thiệt vậy à?

     Ðộ năm sáu giờ chiều thì mọi người lũ lượt kéo nhau đến nhà hàng South Việt Nam của anh Nguyễn văn Tiết (cựu dân biểu Việt Nam Cộng Hòa thuộc tỉnh Long An). Tại đây bọn tôi lại gặp thêm một lô mới gặp lần đầu nữa như Hoàng Chính, Hoàng Kim Uyên và Trang Châu, Lê Tấn Lộc, Mặc Bích và Nguyễn Ðình Phùng, Nguyên Hương và Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyên Nghĩa, Nguyên Ngọc và Nguyễn Ðông Ngạc, Nguyễn Tăng Chương, Nguyễn Trung Tâm, Nguyễn văn Sâm, Phạm Nhuận, Thủy Trang và Bá Dĩnh, Trân Sa, Xuân Tước...

     Mọi người uống khai vị bằng Martell, Hennessy, Courvoisier, Remy Martin, toàn là cognac hạng sang và thiệt là tự do dân chủ hết sức, vì ai muốn gì có nấy và ai muốn uống bao nhiêu thì uống, rượu bất khả ép. Rất tiếc, không thấy mặt đệ tử lớn của Lưu Linh, nhà văn Mai Thảo, "sư phụ" của Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Nguyễn thị Thanh Bình... (ý nói viết tựa cho tác phẩm đầu tay). Rồi sau đó nhập bàn... tròn, mỗi bàn mười người, mười sáu bàn tất cả vị chị là 160 người. Bàn của bọn tôi, kể ngược chiều kim đồng hồ gồm có người ảnh Lê Quang Xuân, nhà thơ Thụy Khanh, cô em bà xã tôi, vợ chồng Phan Ni Tấn, vợ chồng Hoàng Chính, vợ chồng tôi và anh Viên Linh. Ông chủ nhà hàng chịu chơi này coi bộ cũng định đãi ăn mười món đây chắc, nào là soup cua, gỏi tôm ngó sen, chim cúc quay, bò bảy món, bò cuốn mở chài nướng, cua rang muối, tôm càng nướng, lẫu chua, cá kho tộ, cơm... cứ nhìn thực đơn thì rõ!

     Mở đầu chương trình văn nghệ bỏ túi giúp vui cho buổi tiệc, nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn có đôi lời chào mừng quan khách khắp mọi nơi về họp, nhất là hai trung tâm mới thành lập là Nam Hoa Kỳ và Bắc Ca-Li. Ðể rồi nhường micro lại cho nhà văn Trà Lũ, điều khiển chương trình. Thì cũng nhắm hướng vậy thôi, nhớ đến người nào thì chiếu cố đến người ấy, nắm áo... kéo, không, phải nói réo mới đúng, lên diễn đàn. Mọi bộ môn ca, vũ, nhạc, kịch, nói chuyện tiếu lâm, cúi đầu chào thua... đều được hoan hô, tán thưởng nhiệt liệt.

     Nổi bậc nhất có cô sinh viên trẻ vừa đờn và hát một mình, giọng ca tân lẫn cổ nhạc (kể cả cổ nhạc tiếng Mỹ) của ca sĩ Diễm Chi, có Trang Châu ngâm thơ, có giọng hát điêu luyện Ðoàn Chính, có cụ bà tóc bạc phơ Lê Bạch Lựu ngâm thơ, có giọng ca nồng ấm Kim Hồng, có chị Trương Anh Thụy ngâm Tao Ðàn, có giọng ca lã lướt Thụy Khanh, có anh Nguyễn Ngọc Bích ơi ới theo điệu ca trù (có cần thêm chữ... ẻo không đây!), rồi có đại diện trung tâm Bắc Ca-Li lên đọc vè gửi cho bác và đảng... Và hiển nhiên có "ông Trùm miệt vườn" biểu diễn tây ban cầm (nói cho ngon vậy mà) và đơn ca bài Biên Khu Chiều Gió Lộng (mới sáng tác) với ngón đệm dương cầm của nữ nhạc sĩ Linh Phương (cho Nguyễn Tấn Hưng khỏi trật nhịp). Nói chung, tình người văn nghệ sĩ trong đêm này mới thật là hồn nhiên, vui nhộn, ấm cúng. Chẳng mấy ai câu nệ một điều gì...

     Tàn tiệc, chị Thụy Khanh và anh Viên Linh tháp tùng theo xe vợ chồng Phan Ni Tấn về nhà trước, anh Lê Quang Xuân và bọn tôi phải tạt ngang qua nơi... làm cảnh, làm kiểu của Phạm Thế Trung để xem qua nghệ thuật điêu khắc trên tường và nghệ thuật hội họa trên giá vẽ. Trà nước lai rai và lại nhận quà văn nghệ. Ðêm hôm đó về đến nhà đã quá khuya nên chỉ còn lo chỗ ngủ. Nhưng cách sắp xếp lại khác đi rất nhiều, nam nữ thọ thọ bất thân. Hai anh Lê Quang Xuân, Viên Linh cùng tôi hạ thổ nằm lăn kềnh xuống sàn nhà phòng khách (lót thêm chăn, mền lên nền thảm dĩ nhiên), còn chị Thụy Khanh và hai chị em bà xã tôi đóng đô ở một chỗ khác kín đáo hơn.

     Sáng ngày sau, ngày thứ hai và cũng là ngày cuối cùng của đại hội, người ảnh Lê Quang Xuân đề nghị đi chụp ảnh... mùa thu ở các công viên đầy lá vàng vừa chín tới của xứ lạnh. Mặc dù có tiếng hối hả của anh chủ tịch Nguyễn Ngọc Ngạn trong phone khi nói chuyện với Phan Ni Tấn, đại để:

     - Trời đất, giờ này mà ông Xuân và ông Hưng còn ở đó thì làm ăn nên cái nông nổi gì được chứ!

     Anh Lê Quang Xuân nhắn nhủ Phan Ni Tấn trả lời thay rằng:

     - Ðược chớ sao không! Mình đâu có chức phận gì ở đó mà đến cho mệt cái thân! Ðể trưa trưa rồi hẵng tới cũng chẳng chết chóc gì ai mà!

     Và rồi, ngoại trừ chị Thụy Khanh, anh Viên Linh và Phan Ni Tấn vì có trách nhiệm với đại hội nên phải tách bầy, chớ phái đoàn còn lại gồm chị Khiếm và hai chị em bà xã tôi thì ai ai cũng cảm thấy đây là dịp may hiếm có để làm người mẫu trong ảnh nghệ thuật của Lê Quang Xuân, thành thử rất hăng hái tra áo dài đủ màu (mặc dù trời rất lạnh) đặng đi chụp hình. Phần tôi thì dễ quyết định quá, hễ vợ tôi đi đâu thì tôi đi theo đó cho được... yên thân. Vả lại, biết đâu người ảnh Lê Quang Xuân lại không muốn chụp từ sau lưng, chụp lén, một đôi tình nhân nào đó đang âu yếm đứng trông ra bờ hồ im bóng? Ðề tài mới à nghen!

     Nghĩ lại, dân Canadien chịu lạnh coi bộ giỏi! Trời lạnh căm căm như vậy mà công viên High Park trông ra hồ Ontario, nơi có lá cờ Lá Cây Phong trồng bằng hoa tươi thiệt lớn, vẫn chật người đi. Có lẽ ở những xứ văn minh tân tiến ngày nay, trong những ngày chớm lạnh, người ta không nỡ ngồi nhà quây quần bên lò sưởi cho một ngày cuối tuần hầu như luôn luôn hiếm muộn, thiếu hụt này. Mà thiệt, đẹp quá sức đi thôi, những cây phong vàng từ gốc, thân, đến chí ngọn trông như... dát vàng. Một cơn gió thoảng qua, rừng thu... vàng bay lả tả. Lớp từng lớp, phủ đầy lớp cỏ còn xanh. Một tà áo màu hồng anh đào, một tà áo màu áo xanh da trời, hay một tà áo màu tím hoa cà... điểm vào bức bình phong mùa thu vàng đó không phải là nên thơ, đẹp mắt lắm sao? Phải giử lại những giây phút tình cờ này cho mãi mãi thiên thu!

     Ðến hết cuồn phim cuối cùng, anh Lê Quang Xuân mới chịu đề nghị với tài xế Trần Chính, đại diện báo Nắng Mới tại Toronto, đưa về tham dự đại hội. Lại đúng ngay giờ ăn trưa.

     Anh Lê Quang Xuân vọt miệng:

     - À, bữa nay đại hội có đãi cơm chùa mà!

     Chị Khiếm phân trần:

     - Ờ, để tui hỏi lại mấy chị ngồi ở quầy tiếp tân nầy đây coi khẩu phần cơm tay cầm cho mình có còn hay không?

     Chị Khiếm chưa kịp hỏi thì đã có một người đẹp đẹp và hơi hơi tốt bụng ngồi sau bàn tiếp tân thông báo:

     - Phần ăn đã hết rồi! Nhưng có người đang đi lấy thêm, cũng sắp về tới rồi đó!

     Vậy thì kể ra mình cũng không đến nỗi nào phải... chết đói! Tuy nhiên, thiên bất dung gian, lại có một người... đẹp thì có đẹp hơn nhưng bụng thì chẳng tốt chút nào hết, cũng ngồi sau bàn tiếp tân, lại xẵng giọng:

     - Chị Khiếm, phần ăn này chỉ dành cho những người đến dự đại hội! Chúng tôi không biết những người này là ai, xin chị hãy dẫn họ đi nơi khác!

     Chị Khiếm điềm nhiên:

     - Ủa, thiệt vậy sao? Thôi thì mình kéo nhau đi ra ngoài kia ăn phở!

     Lại bồng bế nhau đi! Vừa ra cửa thì gặp anh Vi Vi và hai người bạn đi vào, Vi Vi hỏi bọn tôi:

     - Hai ông bà đi đâu đây?

     Bà xã tôi không dấu diếm:

     - Ði ăn phở, ở đây hết phần ăn rồi.

     Vi Vi chỉ túi xách trên tay hai người bạn, nói luôn:

     - Bánh mì mới mua về lủ khủ kia mà đi đâu?

     Chị Khiếm buông một câu cuối cùng:

     - Ở đây người ta làm mặt lạ. Thôi để tụi nầy đi ăn phở cho xong...

     Nhờ vậy mới có dịp bát phố Toronto! Ở đâu không biết chớ vòng vòng khu Cecil Community Centre này, phố xá thiệt không khác gì khu Chợ Cũ Sài Gòn. Xe hơi, xe gắn máy, xe đạp và người đi bộ lẫn lộn nhau trên đường như một dòng thác lũ. Nhích nhích từng chút một ở những cột đèn xanh đèn đỏ, lạng qua lách lại và chận đầu nhau như không có một luật lệ giang hồ, hè phố nào đã được đặt ra. Khác xa so với đường phố bên Mỹ, rộng rãi và ngăn nắp hơn. Tơ lụa, hàng hóa, phẩm vật, rau cải, thịt cá bày bán chật vỉa hè, kể cũng vui. Chun vào một tiệm phở không biết tên, vì có tấm tent che nắng trước mặt tiền. Thong thả đớp vì chẳng còn ai ra oai xua đuổi! Ăn xong, có lẽ vì nhớ lại cái cảnh hơi trái tai gai mắt, nên hai chị em bà xã tôi đề nghị với chị Khiếm đi về nhà, không cần phải tới đại hội làm chi. Có lẽ thấy không ổn cho nên anh Lê Quang Xuân bèn kéo tôi ở lại và nói chị Khiếm chỉ đưa hai chị em bà xã tôi về trước. Dọc đường cuốc bộ về hội trường, anh Lê Quang Xuân tiết lộ:

     - Hai người đó có hẹn sẽ mang theo áo dài đặng nhờ mình chụp hình bữa nay! Chưa gì đã gây ra phiền phức!

     Trời đất, có hẹn nhờ người ta chụp hình mà dám mở miệng bảo "chúng tôi không biết những người này là ai" thì láo lếu thật, ăn nói không có chảng vừng. Nhưng rồi chính họ cũng tự biết lỗi, lần lượt xin anh Lê Quang Xuân và tôi bỏ lỗi cho. Tôi nói "hổng có chi, chị" bởi vì chính tôi và ngay cả anh Lê Quang Xuân là những người không đáng để xin lỗi. Xin lỗi hay không là chị Khiếm và hai chị em bà xã của tôi kìa. Có nhờ nói lại theo cái kiểu này cũng chẳng thấm vào đâu. Bát nước đầy đã đổ xuống đất thì làm sao hốt lại cho đủ được! Nhưng thôi, ở đời mà, nếu được cái này thì mất cái kia, nhờ không dự đại hội làng văn ngày thứ hai mà bà xã tôi và cô em học được của chị Khiếm cách làm nhiều thứ bánh, trong đó có món bánh bò hấp, bánh bò nướng rễ tre thật tuyệt!

     Lúc bước chân vô hội trường, ngó sơ lên khán đài, ngoài anh Phạm Kim Thư làm điều khiển viên, trên bàn chủ tọa đoàn tôi thấy có lão hữu Xuân Tước, chị Thủy Trang và anh Nguyễn Hữu Nghĩa. Tôi than thầm cho anh Xuân Tước, mang cái thân già lên đó ngồi làm chi cho nó thêm đau lưng. Ở dưới này đi nhỏng nhỏng tới lui, tán gẫu với anh em có sướng hơn không! Phía trước hàng ghế đầu của khán thính giả, chị Nguyên Hương làng ta đang giữ micro và lớn tiếng chất vấn hay muốn trình bày một điều gì đó liên quan đến đề tài "ngoại ngữ trong văn chương hải ngoại" thì phải? Lại nghe lõm bõm anh Nguyễn Hữu Nghĩa đáp lời rằng "theo ý tôi như vầy, theo ý bà Nguyên Hương thế kia..." làm như hai người không phải là bà con hay chồng vợ gì với nhau hết! Tôi bỏ ra ngoài thì gặp lúc chị Vi Khuê đang đi xuống cầu thang basement, chị hỏi:

     - Có lắng nghe bài thuyết trình của tôi ban nãy không?

     Chết cha, ban nãy là ban nào? Mình mải mê rong chơi vui đùa với lá vàng mùa thu, với ghế đá công viên mà! Mùa thu? "Ðang mùa thu mà lại đi tìm mùa xuân trong thơ thì coi bộ lạc quẻ quá," ạ, có người than phiền về đề tài thuyết trình ban nãy của chị! Nhưng đâu dám lập lại, thôi thì thú thiệt:

     - Dạ, em bận đi theo nhiếp ảnh gia Lê Quang Xuân từ sáng, chị ơi! Vừa mới mò đến đây nên đâu có biết ất giáp gì đâu!

     Bà chị buồn tình bỏ đi một nước! Nghĩ mình cũng tệ thiệt! Mà cũng tại anh... phó nhòm hết trơn. Lại có người tìm đến tôi la lối:

     - Anh là nhà văn Nguyễn Tấn Hưng phải không? Mèn ơi, mấy ông anh Hải quân của mình tìm anh từ sáng đến giờ mà anh đi đâu mất tiêu đi? Bây giờ mấy ổng tản lạc mỗi người mỗi ngã rồi...

     Lại phải tìm lời nói chữa và nhờ nói lại: hẹn khi khác, lu bu quá với các bạn văn, bạn thơ, bạn ống kính! Ðại ca Trần văn Ðóa, bạn hiền Mạc Công Hiếu, huynh đệ chi binh thế nào cũng nghĩ tình, không dịp này thì cũng còn dịp tới nữa, chớ bạn văn nghệ lắm khi cả đời chỉ gặp một lần thôi. Chuyện gì cũng vậy, hễ đặt ưu tiên cao thì phải lo trước. Và tôi bèn tìm kiếm bạn bè quen chụp hình chung để kỷ niệm. Gặp ai chụp nấy, đâu cũng được vài người như Lê Hữu Mục, Nguyên Hương (người đẹp có mái tóc Tém Nhật bồng bồng hai bên còn đòi hỏi tôi áo vest để đâu, sao không mặc vào cho ra vẻ nữa, khổ quá), Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Ngọc Ngạn, Nguyễn văn Sâm, Trang Châu, Võ Kỳ Ðiền, Xuân Tước...

     Lụi hụi đến giờ cơm chiều trước khi mở màn trình diễn văn nghệ. Tôi bây giờ bỗng dưng thành độc thân tại chỗ nên nhập bầy với phái đoàn của anh Lê Quang Xuân luôn. Ði lấy phần ăn chiều, kỳ này cơm canh đàng hoàng đựng trong dĩa vuông plastic chớ không phải bánh mì thịt cầm tay như ban trưa. Ăn thì ăn nhưng không biết ngon vì lạo xạo cả ngày, mệt quá! Anh Lê Quang Xuân rỉ tai:

     - Tối nay, sau phần văn nghệ, Trân Sa có mời phái đoàn Montréal, phái đoàn miền Ðông và một số thân hữu chọn lọc đến dự tiệc riêng tại nhà hàng của Phạm Ðình Cường. Hưng cũng có tên trong danh sách được mời bên cánh miền Ðông nhưng cứ đi với đám mình cho tiện.

     - Ừa, anh đi đâu thì thằng em đi đó. Qua bên nầy sang lắm, đi đâu cũng có người đưa rước chớ không thèm làm tài xế nữa...

     Quan khách đã đến đông nghẹt hội trường và sau phần trình làng ban chấp hành mới thì buổi văn nghệ chính thức của đại hội bắt đầu. Nguyễn Ngọc Ngạn điều khiển chương trình, mạch lạc và dí dỏm lắm. Dưới tài đệm dương cầm của nữ nhạc sĩ Linh Phương và tây ban cầm của anh Trương văn Tuyên, những ngôi sao văn nghệ của Toronto, Montréal và từ phương xa lên sân khấu trình bày những nhạc bản mà mình ưa thích, chọn lọc hầu như không thiếu một người nào, như Diễm Chi, Kim Hồng, Hoàng Kim Uyên, Nguyên Ngọc, Ðoàn Chính, Thụy Khanh..., và các ban hợp ca.

     Cuối cùng, đại hội được bế mạc bằng bài hợp ca Chào Mừng Văn Bú t của học giả Lê Hữu Mục vừa mới viết trong ngày dưới sự vỗ tay, hoan hô rầm rộ. Có lẽ đã được dàn xếp trước cho nên buổi văn nghệ đại hội đành phải chấm dứt sớm, chưa đến 10 giờ đêm, để dành thời gian còn lại của đêm khuya cho những tiết mục cá nhân. Mọi người vui vẻ ra về nhưng tất cả các... "anh hùng hảo hán" thì lại đang hâm hở tiến đến cơ sở làm ăn của tiếng thơ Phạm Ðình Cường, quán nhậu có cái tên lấy từ một tựa phim độc đáo của Mỹ The Last Temptation .

     Ở đó, Trân Sa (người đẹp mỏng manh, nhẹ như gió bay) đã đặt bàn dành riêng cho bạn bè nguyên tầng dưới, basement. Ôi thôi đủ thứ món ăn, nào là cháo gà, cháo vịt, thịt quay, bánh hỏi, bì bún, gỏi sứa tôm thịt... chất đầy trên mặt bàn đến nỗi không có chỗ để ly cognac phải cầm riết trên tay. Hai dãy bàn, một ngắn một dài, và bọn tôi thủ cẳng đầu bàn ngắn cách xa xa bục sân khấu, bức tường quét vôi, cho dễ nhìn. Bên này có hai vợ chồng cụ Bồ Giang, đến tôi, Phạm Thế Trung..., bên kia có Nghiêm Phú Phúc, Trân Sa, Lê Quang Xuân, Võ Kỳ Ðiền, Nguyễn thị Hoàng Bắc... Tổng cộng cũng đến năm sáu chục người. Lại văn nghệ bỏ túi với Ngô Vương Toại điều khiển chương trình bất đắc dĩ. Vui đáo để vì không nặng phần trình diễn. Lần này đặc biệt hơn, có nhà thơ kiêm nhạc sĩ Phan Ni Tấn trình bày những bản nhạc do chính anh phổ từ thơ của Luân Hoán, Bắc Phong như Khiêng Nước, Bà Mẹ Quê ... u buồn, hùng dũng lắm.

     Nhưng lại phải đứng lên từ giã ngang xương, tại vì một số anh em thân tình muốn kéo về nhà Phan Ni Tấn, cụng ly suốt đêm. Nhóm tan hàng sớm gồm có chị Nguyên Ngọc và anh Nguyễn Ðông Ngạc, chị Thủy Trang và anh Bá Dĩnh, anh chị Luân Hoán, anh Lê Quang Xuân, chị Thụy Khanh, anh Vi Vi và tôi.

     Vì chị Khiếm và hai chị em bà xã tôi không đi dự đại hội nên lúc về nhà một màn đồ ăn, đồ nhậu, bánh trái lại được tươm tất bày ra. Cặp Courvoisier VSOP của tôi mang theo bây giờ mới có dịp khui. Tất cả quây quần ngay tại sàn phòng khách. Lai rai, lai rai nói chuyện đời. Rồi lại thơ với nhạc. Thơ Thụy Khanh, nhạc Phan Ni Tấn. Thơ nhạc Nguyễn Tấn Hưng. Thơ nhạc của mọi người... Tôi ca nhiều bài lắm, trong đó có bài Chờ tặng Hồng Lan mà chị Nguyên Ngọc bảo vừa ca vừa khóc, hỉ mũi rột rột (tại ăn ớt cay quá chừng chừng). Phần tôi thì phục chị ở tập nhạc riêng, ghi toàn lời mà không có nhạc, lại ca đúng bong từng nốt một mới là hay!

     Mệt quá, phải nói là ngất ngư, tôi leo lên cái sofa dài nằm thả thác lác. Trong mơ mơ màng màng, tôi nghe anh chị Thủy Trang và Bá Dĩnh cùng Vi Vi từ giã để đến một bàn tiệc khác ở nhà ai đó. Tôi nghe tiệc tàn. Tôi nghe mọi người dọn chỗ ngủ, trải thêm nệm gối xuống sàn nhà. Tôi nghe... chuột kêu rúc rích trong rương, phía sau bệ ghế sofa tôi đang nằm (sau này tôi mới biết là hai chị Luân Hoán và Nguyễn Ðông Ngạc đang tập thể dục trước khi đi ngủ)...

     Sáng ngày, mọi người phải thức dậy sớm để... chia tay, trở về nhiệm sở cũ. Nghe sao nản quá hả? Buồn não nuột? Thôi thì, hãy chụp thêm vài tấm ảnh nữa với gia chủ phía trước nhà, phía trước lò tương Bồ Ðề, để làm kỷ niệm đặng rồi mau mau khăn gói lên đường. Tôi phải chạy những 10, 12 tiếng đồng hồ về Hoa Thịnh Ðốn nên tôi... hối. Quà cáp, lợi quả xong chưa? Quần áo đem ra xe hết chưa? Rồi những cái bắt tay sau cùng, những cái ôm nhau sau cùng... tôi thấy hầu hết những người đàn bà, nhất là chị Khiếm và bà xã tôi, đều mủi lòng rưng rưng nước mắt trong giây phút bịn rịn kẻ ở người đi. Chỉ đôi ngày gặp nhau mà bỗng hóa ra thân thích như anh chị em trong nhà, đẹp thay cái tình văn nghệ sĩ!

     Bận về, qua khỏi thành phố Con Bò Mộng, tôi không thèm đi đường cũ nữa. Tôi men theo I-90 dọc theo bờ hồ Erie (một trong ngũ đại hồ: Superior, Michigan, Huron, Erie và Ontario) để đi về hướng Tây Nam, rồi tẽ qua I-79, I-70 vòng về hướng Ðông Nam thẳng vào thủ đô Hoa Thịnh Ðốn. Chà, con đường này xem ra nghịch lý như vậy (qua Tây rồi mới về Ðông) mà lại gần hơn mới kỳ (vòng cánh cung thay vì vuông góc, tôi nghĩ). Giảm được hai tiếng đi đường nên lúc ghé nhà Nguyễn thị Thanh Bình cũng còn sớm chán. Tôi biết hai chị em bà xã tôi và Thanh Bình sẽ bàn chuyện thâu đêm suốt sáng. Tôi biết sẽ không quên kể lại món phở trục trặc giữa đàng. Tôi biết, trong tương lai, Thanh Bình sẽ thắc mắc vì sao đi phó hội mà không thấy anh chị Trùm đứng ngồi ở đâu hết trong bức ảnh chụp chung. Phần tôi, tôi đi tắm rửa và ngủ sớm để lấy sức cho ngày mai lái tiếp về cố quận. Tuy nhiên, chỉ còn 5, 6 tiếng ngắn hạn thôi, kể như khỏe quá rồi...

     Một lần đi là biết bao nhiêu vui buồn lẫn lộn! Tôi phải ghi lại chuyến đi phó hội làng văn kỳ này là cái chắc, vì tánh tôi khoái viết ký sự, một hình thức viết, nôm na, văn học sử. Nhưng ít khi tôi viết liền, vì tự nhủ, hãy để cho thời gian làm công tác sàng sãi, lắng đọng, xóa nhòa đi những chi tiết không cần thiết. Bởi vậy mới chậm chân! Ðã có hai bài tường trình của anh Trà Lũ, Ðại Hội Văn Bút Kỳ III trên Văn Nghệ Tiền Phong và của anh Lê Tấn Lộc, Theo Chân Văn Bút Quebec trên Sóng rồi, nói nữa đâm nhàm! Vả lại, hai anh chỉ nêu lên những điểm tốt cho đại hội, còn tôi ghi luôn những điểm tốt lẫn những điểm không mấy tốt, thì chỉ sợ vô tình đâm chõi với... thiện ý của đàn anh. Thôi thì cứ viết để đây, không trình làng trên mặt báo làm chi, cứ để những ai muốn đọc thì tìm đọc vậy...

   back to top

07. XUÂN VỀ, TÌNH RIÊNG LẦN DỞ

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Cứ mỗi độ xuân về, mọi người không ít thì nhiều đều thấy thân tâm bỗng dưng đâm ra ung dung nhàn hạ. Cảo thơm lần dở, ôn lại chuyện đời đã qua. Hoặc gần hơn, xem xét lại những gì trong năm đã xảy ra. Phần tôi, phiền quá, không có cảo thơm. Cũng chẳng có gì quan trọng xảy ra trong năm, trong lãnh vực viết lách hết! Thôi thì đành lấy... tình riêng của mình ra mà lần dở với người ta. Tình riêng này, đặc biệt, dành riêng cho Ðẹp . Báo Ðẹp , tạp chí Ðẹp , bán nguyệt san Ðẹp ... ai muốn gọi sao cũng được. Nhưng chỉ Ðẹp thôi, chớ đừng gán vô nào là Phái Ðẹp, Phụ Nữ Ðẹp, Chơi Ðẹp... làm chi cho nó thêm rườm rà, rắc rối. Phải hôn người đẹp?

     Kể từ lúc tờ báo chào đời đến nay, Ðẹp đã trải qua những ba cái xuân xanh, hay 88 số nếu muốn nói chính xác. Một thời gian có thể nói là đủ dài để làm một cái nhìn lại. Mà ai chịu khó đứng ra nhìn lại đây? Chủ nhiệm thì không dám ngó ngoái lại rồi, sợ ngỗng rượt. Phải nhìn thẳng như những kẻ bị đụng xe, trật gân cổ, mang vòng "mút" nâng đỡ vậy. Chủ bút thì không tìm đâu ra thì giờ, tối ngày chỉ biết lo chạy mối. Ðặng tìm mồi nuôi Ðẹp như nuôi chim. Còn đàn anh, đàn chị, đàn em của tôi thì chẳng ai thèm ngó ngàng đến ba cái vụ lẩm cẩm này đâu. Thành thử, tôi ráng gồng mình, kê lưng vô gánh "món nợ tang bồng" một lần thử xem sao. Rồi thôi, nhường chỗ lại cho những tay nghề!

     Nói nào ngay, trong buổi ban đầu lúc mới hình thành tờ báo, vào khoảng tháng 10, 1988, đã thấy có sự cộng tác của các văn nghệ sĩ tên tuổi như Cao Ðồng Khánh, Kim Ðịnh, Lê Bá Kông, Lê Nhật Thăng, Nguyễn Ðình Tuyến, Nguyễn Vạn Lý, Như Chi, Thu Ngân, Trần Kim Vy... Trong khi đó, các anh Hồ Trường An, Lê văn Phúc, Võ Ðình Tuyết... cũng được nhắn nhủ trên mục thư tín, đang chờ bài gửi về. Ở 5 số đầu, nhìn chung, tờ báo còn mỏng lắm, đâu chỉ được 100 trang trở lại, khổ tạp chí. Trong đó, hơn phân nửa đã là quảng cáo. Rồi ngoài các quảng cáo thương mại phải có để nuôi sống tờ báo, còn có quảng cáo miễn phí sách vở, tác phẩm của các văn nghệ sĩ bồ nhà nữa: Một Ðoạn Ðường Bước Chân Non của Ðiệp Mỹ Linh, Thơ Hiền của Như Chi, Một Dặm Tương Thân của Hàn Song Tường và Ðặng Phùng Quân, và lẽ dĩ nhiên không thể thiếu Lỡ Một Chuyến Ði của chủ nhiệm Trần Kim Vy. Ðó là chưa kể quảng cáo chi nhánh Bảo hiểm Metropolitan Life của Nguyễn Ðình Tuyến, Hệ thống chăn nệm gối từ trường của Cao Ðồng Khánh, nhà xuất bản và nhà sách Văn Hóa của Nguyên Vũ. Thì ra hoạt động của tờ báo có phần nào dựa trên căn bản có qua có lại mới toại lòng nhau giữa người làm báo và những người viết cho báo. Trong giai đoạn này, có lẽ Cao Ðồng Khánh là người viết đều tay nhứt. Về thơ, mục Chạp Phô Giữa Ðời Sống .

     Từ số 6 đến số 10 tức số Xuân Kỷ Tỵ, tờ báo đã được tăng trang. Nhưng cũng còn giới hạn, chỉ độ 120 trang trở lại. Về hình thức, có nhiều điểm thay đổi thấy rõ. Chẳng hạn như bìa trước, bắt đầu đăng hình các cô gái tham gia cuộc tuyển lựa hoa hậu áo dài, do Ðẹp tổ chức. Phần tin tức thời sự có vẻ dồi dào hơn qua trung gian của cơ sở Ðại Nam Thông Tấn . Về sáng tác thì ngoài sự góp mặt của những cây bút thành danh như Khánh Trường, Hải Bằng, Nguyễn Tất Nhiên, Thập Lang..., còn có một Xuân Vũ-Lê Mỹ Hương, về sau, tham gia ráo riết ở đủ mọi mặt: truyện ngắn, truyện dài, thơ, bình luận chính trị, châm biếm xã hội cộng sản, nhất là loạt bài viết về Văn nghệ sĩ miền Bắc như tôi biết .

     Tiếp theo đó, từ số 11 Ðẹp lại bắt đầu tăng trang một lần nữa, từ 120 lên khoảng 170. Ngoài việc giới thiệu tập thơ Nổi Lửa của Nguyễn Mậu Lâm, song song với Sóng Ngầm (vừa mới xuất bản mùa hè vừa qua), truyện dịch Người Tù Trong Cấm Thành của Nguyễn Vạn Lý, kể lại cuộc đời của hoàng đế Phổ Nghi tức The Last Emperor , truyện dài Nốt Mi Trầm Trong Cung Nhạc Ðời của Nguyễn Minh Hoàng và mục "lịch sử từng ngày" trong giai đoạn cận đại trước 75, Ôn Cố Tri Tân , của Nguyễn Ðình Tuyến đã được đăng tải từng kỳ. Trần Kim Vy cũng bắt đầu phụ trách Trang Của Ðẹp bàn về cách chăm sóc tóc tai, mặt mũi, phấn son, áo quần, dù nón của phụ nữ.

     Mãi đến số 16, tức là 8 tháng sau số chào đời, mới có sự xuất hiện của Nguyễn Tấn Hưng, kẻ hèn và cũng là tác giả của bài viết này đây. Sao mà chậm lụt thế!

     Thiệt tình mà nói, dạo đó tôi thấy mình chỉ có khả năng vừa đủ để đọc và gửi bài cho bốn tờ báo thân quen là Văn, Làng Văn, Văn Học , và Lướt Sóng của Hải Quân mà thôi. Có nhiều tờ báo lớn, có tầm vóc quốc tế, như Văn Nghệ Tiền Phong, Phụ Nữ Diễn Ðàn ..., tôi nghe và biết tiếng nhưng cũng chưa tìm đọc, theo dõi một cách đều đặn, kỹ lưỡng. Thì nói gì đến Ðẹp , dầu sao cũng là tờ báo địa phương ở Houston, Texas! Bởi vậy lúc chủ bút Trần Minh Tâm liên lạc với tôi, mời cộng tác, tôi có hơi ngỡ ngàng! Suy nghĩ! Rồi tự hỏi, bộ dạo này mình viết xuống dốc, tệ hại dữ như vậy hay sao? Tại vì, có lẽ cái tâm lý chung của hầu hết các cây viết đang viết cho các tờ báo lớn là không muốn nhảy xuống các tờ báo nhỏ. Không muốn viết từ báo bán sang báo biếu! Không muốn viết từ báo văn học nghệ thuật thuần túy sang báo thương mại quảng cáo, nửa nạc nửa mỡ!

     Thôi thì dầu sao cũng là tình nghĩa trong một quân binh chủng, tôi gửi đến Ðẹp bản typesetting làm sẵn cho những truyện ngắn trong tập Một Ðời Ðể Học do Làng Văn xuất bản, để chủ bút có xài được thì xài. Theo kiểu như đem con bỏ chợ vậy thôi, chớ tôi cũng chẳng màng là người đẹp có xài hay không.

     Ai dè nhờ những truyện ngắn đăng lại từng kỳ đó mà tôi gây được... tiếng vang. Thì ra "thân thế và sự nghiệp văn chương" của mình bấy lâu nay vẫn... thưa rơ thưa rỉnh mà tôi nào có hay! Kịp đến khi tác phẩm Một Thuở Làm "Trùm" ra đời, sau đó không lâu, giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ là thầy Từ Mẫn có nói với tôi rằng: "Bỗng dưng độc giả ở Houston ủng hộ anh dữ." Tôi thầm hiểu cái lý do tại sao. Và tôi mới nghiệm ra rằng cái tâm lý chung của người cầm bút, coi trọng báo lớn xem thường báo nhỏ, là một tâm lý cần phải xét lại! Theo tôi, một cây viết đang lên ở địa phương, nếu muốn chứng minh thực tài của mình thì phải cố gắng viết cao thêm một bực, cho các tờ báo có tầm vóc quốc tế. Nhưng ngược lại, nếu đã thành công trên các tờ báo có tầm vóc quốc tế rồi thì phải chịu khó và đừng ngần ngại đi lần xuống từng địa phương. Ở những nơi đó, phải nói chưa chắc là đồng bào, quần chúng đã biết đến tên mình là ai, một tên vô danh tiểu tốt nào đây. Ngoại trừ một số độc giả, đôi khi rất khiêm nhường, nhỏ nhoi của các tờ báo lớn, hiển nhiên.

     Chính vì vậy mà bây giờ tôi mến mảnh đất dụng võ mang tên Ðẹp như tài danh tennis Boris Becker mến sân cỏ Wimbledon vậy. Và tôi tiếp tục đang trên đường đi tìm những sân chơi khác. Rất có thể sẽ không là một sân cỏ, mà là sân cát hay sân xi măng! Cho dù không mấy thành công mỹ mãn như lần đầu... trời xui đất khiến đi chăng nữa!

     Rồi không biết vì lý do gì, những người cộng tác vào buổi ban đầu cho tờ báo Ðẹp từ từ vắng bóng. Chỉ còn lại những cột trụ đếm trên đầu ngón tay như Lê Mỹ Hương, Lê Nhật Thăng, Nguyễn Ðình Tuyến, Nguyễn Vạn Lý, Xuân Vũ. Phần anh Hồ Trường An, không biết có phải vì ảnh hưởng của cái tâm lý chung lệch lạc tôi vừa nói bên trên hay không, mà mãi đến số 32 mới chịu gã bán truyện dài Tình Sen Ý Huệ , một tiểu thuyết lấy bối cảnh vùng trời Tây Ninh, thánh địa của giáo phái Cao Ðài. Ðăng song song với tiểu thuyết đồng quê Vàng Mơ Bông Lúa của anh Lê Mỹ Hương. Cùng một lúc với Một Cơn Gió Bụi tức Kiến Văn Lục của Lệ thần Trần Trọng Kim, kể lại tình trạng hỗn mang trăm mối của đất nước trong thời gian ông nhiếp chánh. Ngoài ra tờ báo cũng có mở thêm một mục mới, mục gỡ rối tơ lòng, Chuyện Chúng Mình , của chị Ánh Thảo.

     Với một nhận định rõ ràng là một tờ báo muốn đứng vững thì phải có sự góp mặt của các cây bút thời danh, một lần nữa, chủ bút Trần Minh Tâm lại ngỏ ý nhờ tôi đứng ra mời các văn nghệ sĩ tôi quen về cộng tác với Ðẹp . Qua kinh nghiệm bản thân, để xóa mờ đi phần nào cái tâm lý chung trật trờ trong đầu các bạn văn của tôi, mà tôi biết thế nào cũng có, tôi phải đặt điều kiện với chàng và nàng chủ bút, chủ nhiệm một điều: tiền nhuận bút. Rồi với một quyết tâm làm báo, chàng và nàng chấp thuận ngay. Cho đến nay, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, tôi đã đem về cho Ðẹp những khuôn mặt tên tuổi như Anh Vân, Cao Bình Minh, Hà Huyền Chi, Hoàng Du Thụy, Lê Bảo Trân, Lê Quang Xuân, Luân Hoán, Nguyễn Lê Hồng Hưng, Nguyễn Tư, Nguyễn thị Hoàng Bắc, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Nguyễn thị Thanh Bình, Nguyễn văn Ba, Phan Lạc Tiếp, Phan Ni Tấn, Thanh Vân, Thúy Trúc, Trần Long Hồ, Trần Mộng Tú, Trần văn Sanh, Võ Ðình, Võ Kỳ Ðiền, Vũ Nam, Xuân Tước...

     Phần tôi, việc mời bằng hữu cộng tác là việc dễ thôi. Việc khó khăn hơn, thật ra, chính là việc đối xử chu đáo của chủ báo đối với các bằng hữu đó. Và quả là chàng và nàng chủ bút và chủ nhiệm đã làm đúng theo lời dặn, không làm mất mặt "ông Trùm", người đứng ra giới thiệu. Ðẹp đối xử quá đẹp, đến nỗi, nhiều người viết thư cho tôi bảo nhỏ rằng... quên đi món tiền nhuận bút cho đỡ ngại ngùng, ái nái. Miễn có báo đọc dài dài là đủ vui rồi. Ủa, sao có chuyện lạ lùng như vậy? Ôi, hai chữ tình nghĩa của những người làm văn nghệ chân chính, đẹp thay!

     Với phần nội dung càng ngày càng phong phú, phần hình thức cũng có nhiều điểm thay đổi. Ảnh nghệ thuật của Văn Vũ bắt đầu xuất hiện ở trang bìa kể từ số 46 trở đi. Thỉnh thoảng lại có tranh của Võ Ðình, mới lẫn cũ. Dồn quảng cáo vào những trang giấy vàng, yellow page, từ số 53 đến số 62 (việc này không thành công lắm cho nên đành phải ngưng ngang).

     Nhưng, đùng một cái, có thêm một tờ báo mới nữa ra đời tại Houston. Nể tình bạn hiền và cũng là cây bút chủ chốt của tờ báo mới này, anh Lê văn Lân, tôi có cộng tác một thời gian theo nguyên tắc hễ đất lành thì chim đậu vậy thôi. Ai dè chuyện coi vậy mà không phải dễ giải quyết. Nó khó giải quyết cũng giống như tình trạng một anh chàng đã có vợ rồi mà còn xé lẻ đi đêm, hú hí với vợ bé vậy. Lập vườn thì phải khai mương, làm trai hai vợ phải thương cho đồng , mèn đét ơi, ý là thương chưa đồng kia mà tối ngày còn bị càm ràm, làm trận làm thượng. Thường, hễ được lòng người này thì mất lòng người nọ, ngay cả ông trời kia cũng không thể làm vừa lòng hết mọi người. Khổ quá, thân này ví xẻ làm đôi! Ðể rồi đến phút cuối cùng quyết liệt, bị "bà lớn" nạt một phát "trong hai anh phải chọn một...," thì bản thân tôi tuy đã làm "Trùm," cũng phát... run. Thôi thì đành lá rụng về cội chớ có chết ai đâu và từ nay xin hứa không dám bén mảng tới vùng đất đen coi như đã xa xưa đó nữa. Ngẫm nghĩ lại, mình đã ra công xây dựng một tờ báo, tuy không là của mình nhưng ảnh hưởng của mình cũng... rất lớn, rồi lại phụ giúp một tờ báo khác "cạnh tranh" với chính tờ báo của mình thì coi bộ cũng không ổn cho lắm. Cái lý đất lành chim đậu rốt cuộc rồi cũng chịu qui hàng, nhường bước trước cái lẽ một người không thể có hai trái tim (có nhiều ngăn thì không sao) vậy! Cạnh tranh nhau thấy rõ, làm như đang tính chuyện chẳng lành... một rừng khó dung hai sư tử hay sao đây không biết? Nhiều lần thi đua tăng trang! Chỉ trong vòng 2 tuần mà lo đến trên 200 trang báo thì quả nhiên không phải là chuyện dễ... Âu cũng là một kinh nghiệm sống đáng ghi nhớ trong làng văn nghệ, làng báo của tôi!

     Vừa xong Vàng Mơ Bông Lúa , anh Lê Mỹ Hương viết tiếp Dây Bầu Năm Ngọn và vừa hết Tình Sen Ý Huệ anh Hồ Trường An lại cũng viết tiếp Danh Kỹ . Tất cả đều là những truyện dài độc quyền dành riêng cho Ðẹp . Gần đây, chị Ðiệp Mỹ Linh cũng cho đăng truyện dài Cùng Một Dòng Sông . Và sau hết, đến phiên tôi, với Một Trời Một Biển . Rồi các cây bút nổi tiếng cư ngụ trong vùng như Hàn Song Tường, Hứa Hoành, Nguyên Vũ, Nguyễn Thế Giác, Như Chi, Song Hồ, Thập Lang... cũng gửi bài đóng góp đều đặn. Trong khi anh Lê Nhật Thăng đã bắt đầu có nét và có tiếng trong phần điểm sách và luận bàn về thơ, sau loạt bài viết về Xuân Diệu, Phan Bội Châu, Phạm Duy, Cao Thế Dung, Nguyễn Vạn Lý, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn Tấn Ðời, Trùng Quang, Luân Hoán... Thêm các mục ghi lại Ðiển Tích của Mộng Bình Sơn và Gìn Vàng Giữ Ngọc về phong tục tập quán ba miền của Toan Ánh cũng không kém phần bổ ích. Và mới đây, có đăng lại tuyệt tác Lộc Ðỉnh Ký của Kim Dung và Cái Chết Của Lâm Bưu của Nguyễn Vạn Lý cho những ai ghiền truyện kiếm hiệp và truyện bên Tàu nữa chớ... Nhìn chung tờ báo càng ngày càng đi lên, nhất là từ số 63 trở đi, đã phải tăng đến trên dưới 200 trang mới đủ chỗ chuyên chở hết các bài vở đang bị ứ đọng. Sau tháng 10, 1991, Ðẹp lại phải tăng trang và hiện đang giữ múc quân bình ở số 250 trang. Tuy nhiên, nói gì thì nói, những truyện ngắn đặc sắc và những dòng thơ nên thơ, êm đềm như nước chảy xuôi của các tác giả đã thành danh vẫn là món ăn tinh thần được nhiều bạn đọc ưa thích nhứt.

     Gần đây, sau khi xảy ra vụ "bầu bán phe ta," tình trạng đổi ngôi của những vì sao văn nghệ trên vòm trời Houston, lại một lần nữa, quay vù vù như chong chóng. Tôi không thích chuyện chia rẽ, chiến tranh lạnh hay bút chiến trong làng báo nhất là ở cùng một địa phương, nên đôi lần có thư từ can gián... chủ nhiệm, chủ bút Ðẹp ! Nhưng, đã không anh hưởng được ai hết mà lại còn bị... "rầy ngược" mới chết chớ. Rằng: "Anh chẳng ở gần nên anh không biết, anh Trùm ơi!" Thôi thì... chịu thua, trách nhiệm điều hành cũng như sự sống chết của tờ báo bao giờ cũng đặt nặng lên những người, không ai hơn là, chủ nhiệm chủ bút vậy!

     Sau hơn ba năm trời, từ số chào đời rồi qua những số Xuân Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, và đến số Xuân Nhâm Thân năm nay, như hiện quý độc giả đang cầm tờ báo trên tay, Ðẹp đã cải tiến không ngừng. Trong một thế giới, một xã hội cũng không ngừng thay đổi. Ðể, theo công tâm mà nói, tiến tới vị trí nếu không là hàng đầu thì không thể là hàng thứ, và là tờ báo được mến chuộng nếu không nhứt thì không thể là nhì tại thành phố Houston và vùng phụ cận. Tóm lại là một tờ báo có một không hai trong một cộng đồng Việt Nam đứng vào hàng thứ ba, sau Los Angeles-Little Sài Gòn và San Jose, trên đất Mỹ. Kể ra cũng là một thành công, một công trình lớn lao nếu không cho là quá đáng, cho những người chủ trương, chăm sóc, xây dựng và đóng góp cho tờ báo. Lẽ đương nhiên, thành công này sẽ không có được nếu không có sự ủng hộ của các cơ sở thương mại và bạn đọc bốn phương.

     Xuân này, tình riêng của tôi... lần dở ra chỉ có bấy nhiêu thôi. Thay mặt những người cộng tác với Ðẹp , xin kính chúc quý bạn đọc và gia đình một đêm xuân an bình và một năm mới thịnh vượng, ước một được mười. Riêng tôi, tôi nguyện sẽ không bao giờ quên tấm chân tình và sự nồng nhiệt ủng hộ mà bạn đọc đã đặc biệt dành cho tôi trong thời gian qua. Mong có một ngày không xa lắm, được gặp lại và vui vầy cùng quý vị trên quê hương đất nước Việt Nam tự do, ngàn đời mến yêu.

   back to top

08. TIẾNG VỌNG TỪ GHÈ-TỐ MIỆT VƯỜN

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Sao lại bàn mãi về Văn Chương Miệt Vườn? Có nhàm quá không?

     Nhàm thì có nhàm đó, nhưng "đụng chuyện" thì cứ phải bàn tiếp thôi! Ðể đáp lễ với bạn Trần Vũ qua bài Những Vòng Tường Ghetto đăng trên Hợp Lưu số 2 mà tình cờ tôi có đọc qua, do một bạn văn làm phóng ảnh gửi cho. Ðể vạch ra một vài điều lầm lẫn, lệch lạc, không xác thực!

     Như đã nói trước đây, tôi có nhiều lần "dan díu" với bốn chữ Văn Chương Miệt Vườn. Bỏ qua những phần trình bày trước khán thính giả, trên giấy trắng mực đen tôi có bài Ðôi Lời Về Văn Chương Miệt Vườn trên Văn Học số 43, sau buổi ra mắt Giai Thoại Hồng của anh Hồ Trường An một thời gian ngắn. Kế đến là bài Tính Chất Chung Quyết Trong Văn Chương Miệt Vườn đăng trên Sóng số 104, sau buổi ra mắt Tuyển Tập Những Cây Viết Miền Nam do Nguyễn văn Ba chủ biên cũng không lâu. Ðể rồi ngay sau đó, tôi liền bị ông Nguyễn Hoàng làm thơ "dũa" cho một mách đại khái bảo là Miệt Vườn kỳ thị chia rẽ Bắc Nam, Sóng số 106. Tôi bèn có bài đáp lễ Cũng Còn Lận Ðận , cũng trên Sóng , số 110. Chính trong bài này tôi có nói rằng ông Nguyễn Hoàng đã giúp tôi tìm được một cái tên hay hay cho nhà xuất bản của tôi: nhà xuất bản Miệt Vườn . Và tung ra quyển đầu tay: Một Dòng Ca Dao, Câu Hò, Câu Ðố Miền Nam (sưu tầm chung với Phan thị Hồng Lan). Mới đây lại thấy bài Ca Dao Miệt Vườn: Sản Phẩm Của Hoàn Cảnh Lịch Sử Ðặc Biệt của tác giả Ðoàn Xuân Kiên, trên Thế Kỷ 21 số 32, đọc khoái quá! Cái khoái còn đang lâng lâng thì lại bị Trần Vũ lộng ngôn cho một phát kể cũng đã đời! Mới có một, hai tác phẩm trình làng mà dám viết một bài như vậy thì còn chữ nào đúng hơn hai chữ lộng ngôn để dùng, thưa quý vị? Dám nói đến lúc Trần Vũ viết sang tác phẩm thứ mười, như tôi đang mon men viết Một Giấc Mơ Tiên đây, thì có lẽ Trần Vũ sẽ coi trời bằng hột tiêu! Có phải đây là kết quả của việc thần thánh hóa cá nhân của một nhóm người đã đưa Trần Vũ lên hàng "đỉnh cao trí tuệ" chẳng khác gì Cộng sản thần thánh hóa Hồ Chí Minh?

     Bài của Trần Vũ đề cập đến nhiều vấn đề, nhưng phận sự tôi ở đây chỉ bàn qua những gì liên quan đến Văn Chương Miệt Vườn mà thôi. Xin nhường những phần còn lại cho những ai tự thấy mình có trách nhiệm phải lên tiếng thì lên tiếng! Tôi không thích viết những bài nhận định, phê bình vì rất dễ gây nên hiểu lầm, đụng chạm nhưng xét kỹ ra thấy mình rồi cũng chẳng đặng đừng!

     Nhìn chung, nhận định của Trần Vũ về dòng Văn Chương Miệt Vườn đúng, nhưng không đúng lắm!

     Ðúng, là với cái nhìn thiển cận và ấu trỉ của anh. Văn Chương Miệt Vườn đối với Trần Vũ hình như chỉ là văn chương của Hồ Trường An, Kiệt Tấn..., hay rộng hơn một chút xíu, văn chương của những cây viết Miền Nam sống tại Âu Châu. Còn đám đông bên Mỹ này, bên Canada và bên Úc kia đều toàn là đồ bỏ hết! Mà ngay cả khi nhắc đến Hồ Trường An thì phải nhắc đến những tác phẩm Lớp Sóng Phế Hưng, Phấn Bướm, Hợp Lưu, Ðêm Chong Ðèn, Lúa Tiêu Ruộng Biền, Giai Thoại Hồng, Thông Ðiệp Hồng ..., mệt quá, chớ đâu phải vài ba truyện ngắn! Vì các truyện ngắn mà Trần Vũ đưa ra đã chưa vẽ lên một nét gì tiêu biểu cho toàn bộ văn chương Hồ Trường An hết! Và khi nhắc đến Kiệt Tấn thì phải nhắc đến những quyển Nụ Cười Tre Trúc, Thương Nàng Bấy Nhiêu, Nghe Mưa, Lớp Lớp Phù Sa ..., chớ đâu phải một hai truyện ngắn khác! Trước khi muốn nói đến một tác giả thì cần phải đọc, và phải đọc kỹ, tối thiểu dăm ba tác phẩm của họ cái đã. Ðằng này, một tác giả thôi, Trần Vũ đã làm chưa xong mà lại đem ra cả nhóm Miệt Vườn để nói thì tôi chỉ còn có nước kêu: than ôi, rất tiếc!

     Còn không đúng lắm là tại vì Trần Vũ quơ đũa cả nắm. Một chuyện không nên làm dù vô tình hay cố ý. Không biết gì nhiều về Miệt Vườn mà dám ba hoa thiên địa về Miệt Vườn thì thiệt tình, sự đời nghĩ cũng nực cười đó chớ... Ðây, nếu Trần Vũ muốn biết thêm về Văn Chương Miệt Vườn thì hãy để tôi nói cho mà nghe! Tôi không dám huênh hoang là tôi thông suốt hết mọi vấn đề liên quan đến nhóm Miệt Vườn, còn khuya, nhưng tôi biết chắc chắn một điều là tôi hiểu rõ nhóm Miệt Vườn hơn Trần Vũ. Tại vì tôi vẫn hay thường xuyên liên lạc và theo dõi các sáng tác của họ.

     Nếu căn cứ vào gốc gác, văn phong thì các tác giả sau đây, theo ý tôi, có thể xếp vào nhóm... Miệt Vườn: An Khê, Anh Vân, Cao Bình Minh, Hải Bằng, Hoàng Du Thụy (một Công Tằng Tôn Nữ sinh trưởng ở miền Nam), Hồ Trường An, Hồng Hoang, Huỳnh Hữu Cửu, Hứa Hoành, Kiệt Tấn, Lâm Hảo Dũng, Lê Bảo Trân, Lê Giang Trần, Lê Tấn Lộc, Lữ Mộc Sinh, Ngô Nguyên Dũng, Ngô văn Thọ, Nguyễn Ang Ca (vừa mới mất), Nguyễn Bạch Mai, Nguyễn Ðức Lập (ai dám nói không phải miệt vườn, chẳng những miệt vườn mà luôn cả miệt ruộng nữa cơ!), Nguyễn Hữu Chung, Nguyễn Lê Hồng Hưng, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn Tư (trường hợp truyện dài Cát Lở ), Nguyễn thị Long An, Nguyễn thị Ngọc Diễm, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Nguyễn văn Ba, Nguyễn văn Sâm, Phạm Công Thiện, Phạm Hoàng Hộ, Phạm Thăng, Phan Ni Tấn, Phan thị Trọng Tuyến, Phùng Nhân, Sĩ Liêm, Sĩ Trung, Song Thi, Thụy Khanh, Thừa Phong, Trần Kim Vy, Trần Long Hồ, Trần thị Kim Lan, Trần Trung Quân, Trần văn Sanh, Tú Hoa, Vĩnh Liêm, Võ Kỳ Ðiền, Vũ Nam, Xuân Tước, Xuân Vũ, Ý Ngôn... Ai mà "đụng chạm" đến Miệt Vườn là xúc phạm đến, hì hì..., ngần ấy những nhân vật tên tuổi!

     Rồi tùy theo đề tài, cách viết mà nhóm Miệt Vườn còn có thể chia thành nhiều nhóm nhỏ với từng khuynh hướng khác nhau:

     - Chống cộng dài, từ trang đầu đến trang cuối của nhiều tác phẩm: Xuân Vũ, Hải Bằng...

     - Chống cộng ngắn, lồng trong nhiều truyện ngắn có chủ đề: Xuân Vũ, Anh Vân, Nguyễn Ðức Lập, Võ Kỳ Ðiền...

     - Tập quán phong tục miền quê, qua cốt truyện hay đối thoại của nhân vật: Lê Bảo Trân, Phạm Thăng...

     - Truyện đồng quê: Hồ Trường An, Xuân Vũ Lê Mỹ Hương, Nguyễn Ðức Lập, Xuân Tước, Nguyễn văn Ba...

     - Tình hoài hương: Hầu hết các tác giả Miệt Vườn.

     - Hội nhập xã hội mới: Cũng hầu hết các tác giả Miệt Vườn, nhứt là các nhà văn nữ Nguyễn thị Ngọc Nhung, Phan thị Trọng Tuyến, Trần thị Kim Lan, Hoàng Du Thụy, Cao Bình Minh, Trần Kim Vy...

     - Giao lưu văn hóa, ký sự văn học: Hồ Trường An, Xuân Vũ, Nguyễn Tấn Hưng, Vũ Nam...

     - Hồi ký, tự truyện tiểu thuyết: An Khê, Kiệt Tấn, Nguyễn Tấn Hưng, Hoàng Du Thụy, Võ Kỳ Ðiền...

     - Tâm tình người đi biển: Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn Lê Hồng Hưng...

     - Xã thuyết, chính trị: Xuân Vũ, Nguyễn Hữu Chung...

     - Biên khảo và nghiên cứu về địa lý, nhân gian, dân tình miền Nam: Hứa Hoành...

     - Suy tư, triết lý: Phạm Công Thiện, Nguyễn văn Sâm, Hồ Trường An, Kiệt Tấn, Ngô Nguyên Dũng, Huỳnh Hữu Cửu, Trần Long Hồ...

     Với việc phân chia, sắp xếp tạm bợ rất hạn hẹp như trên cũng cho ta thấy rằng, cho dù trong cùng một khuynh hướng đi nữa, câu chuyện và cách viết của người này lại không giống với câu chuyện và cách viết của người kia. Vì kinh nghiệm sống của mỗi người một khác, văn phong của mỗi người một khác. Phải nói, mỗi người như có một vị trí riêng biệt.

     Rồi bây giờ trở lại điểm then chốt, căn cứ vào đâu mà Trần Vũ dám viết: "Nhưng hai năm sau cùng này chúng ta phải nén lòng mà nhìn nhận: Văn Chương Miệt Vườn đã trở thành một nhánh có nhiều sáo nhất. Sáo - có hai hình thức: Ðạo văn vô ý thức, vô tình chấm ngòi bút của mình vào bình mực của người khác, và sáo khởi đi từ sự lập lại của chính mình ." Với phần ghi chú, những chữ in nghiêng, hai từ "Văn Chương Miệt Vườn" và "nhánh" rút từ bài Nhìn Lại Sinh Hoạt Văn Học Hải Ngoại 365 Ngày Qua của Nguyễn Hữu Nghĩa đăng trên báo Làng Văn số 65 và câu cuối từ bài Cái Sáo Trong Thơ của Nguyễn Hưng Quốc đăng trên báo Ý Thức , số độc nhất, của Viên Linh.

     Ở chỗ này, đúng là Trần Vũ mượn đầu heo nấu cháo, dựa vào nhận xét về thơ của Nguyễn Hưng Quốc để đưa ra cái kết luận cho văn xuôi, áp đặt vô ý thức lên Văn Chương Miệt Vườn, của mình! Một nhận định nửa nạc nửa mỡ, nửa người nửa ta, mập mờ đánh lận con đen. Lần sau, khi viết một bài nhận định khác, tôi mong rằng Trần Vũ hãy nên moi tim óc của mình mà viết ra những nhận xét, ý kiến riêng tư. Ðể khỏi làm phiền lòng hàng xóm đang cần sự yên lặng nghỉ ngơi. Và cũng để khỏi mang tiếng là người ném đá dấu tay.

     Hơn thế nữa, nhận định trên đây của Trần Vũ chính là một chứng minh hùng hồn cho sự "đạo văn vô ý thức." Rõ ràng, gậy ông đập lưng... cụ non thôi! Và cũng đúng lắm như lời bà Thụy Khuê báo động: Cho đến nay, chúng ta chỉ mới có nhà văn sáng tác, chưa có sáng tạo (trong Cái Tiến Cái Mới Trong Sáng Tác , báo Thế Kỷ 21 số 12). Toàn là dựa vào với lại ăn cắp không thì làm sao có sáng tạo cho được chớ!

     Rồi, kể như "thầy chùa ăn bắt thầy pháp chịu" qua hành động lừa gió bẻ măng của ông bạn văn trẻ tuổi tài ba của chúng ta đi! Ðể sau đây tôi xin bàn tiếp một vài vấn đề..., trên căn bản là lời tuyên bố nêu trên hoàn toàn của Trần Vũ (không dính dáng gì với Nguyễn Hưng Quốc hết) cho văn xuôi (không dính dáng gì với thơ hết) Miệt Vườn!

     Ngẫm nghĩ lại Trần Vũ cũng ác, tự nhiên tuyên bố khơi khơi như vậy thì làm sao tránh khỏi có rất nhiều người cùng đặt lên một nghi vấn. Ðạo văn vô ý thức! Ở đâu? Ông nào, bà nào vậy? Vô tình chấm ngòi bút của mình vào bình mực của người khác! Chỗ nào? Thằng nào, con nào chấm mút bậy bạ vậy? Lập lại của chính mình! Ối giời ơi, đứa nào, tên nào, con mẹ nào con mén nào làm ăn bê bối vậy? Phải chi Trần Vũ đưa ra một vài dẫn chứng cụ thể thì hay biết mấy, đỡ khổ cho bà con cô bác mình biết mấy! Well , lại phải: than ôi, rất tiếc!

     Trước hết là vấn đề "đạo văn." Vấn đề này cũng không có gì mới lạ hết, hễ cầm cây bút lên thì đã là đạo văn rồi, như người đời thường hay nói! Nhưng tôi không tin rằng những cây bút thành danh trong nhóm Miệt Vườn nêu trên lại dám tự hủy hoại thanh danh của mình bằng cách đạo văn trắng trợn của người khác. Cũng cần nói thêm là, sự trùng ý giữa hai người cầm bút chưa hề liên lạc hoặc đọc tác phẩm của nhau cũng rất thường xảy ra. Như hai nhà phát minh ở hai phương trời xa lạ. Ở trường hợp này, cũng không nên gắt gõng mà gán ép cho người ta cái tội quá lớn, tày trời nói trên.

     Thứ đến là việc "chấm ngòi bút của mình vào bình mực của người khác." Sao mà khó khăn, rắc rối thế! Xét theo nghĩa đen, lúc mình hết mực, thì cứ chấm nhờ ngòi viết của mình vào bình mực của người bạn kế bên mà viết tỉnh đi chớ, có sao đâu? Vì cái màu mực xanh, tím hoặc đỏ của bạn mình khi viết lên giấy cũng đâu có làm nên tác phẩm của mình! Tác phẩm của mình bao giờ cũng xuất phát từ con tim, cái đầu của mình mà! Rồi bây giờ xét theo nghĩa bóng: mỗi bình mực được xem như là một khuynh hướng hoặc một loại thể tài riêng! Nếu bảo rằng đừng chấm ngòi viết của mình vào bình mực của người ta thì chẳng khác gì bảo kẻ hậu sinh đừng làm thơ nữa vì Nguyễn Du đã làm thơ rồi! Ðặt điều như vậy thì hại bạn, hại kẻ đi sau quá mức. Nếu những người đi trước chẳng ai dám chấm ngòi bút của mình vào bình mực thơ mới của Phan Khôi, Thế Lữ, Xuân Diệu... thì, kẹt quá, thơ mới chắc đã phải chết từ trong trứng nước!

     Rồi tỉ như gần đây, tôi đi tiên phuông viết một quyển nghiên cứu về xếp chữ Việt trên máy điện toán, Một Kỷ Niệm Ðẹp , thì sau này đừng ai bắt chước tôi nhảy vào lối đi đó hay sao? Tỉ như mới đây, tôi cặm cụi tự dịch hai quyển Một Ðời Ðể Học Một Thuở Làm "Trùm" ra tiếng Mỹ One Life Of Learning One Time As An Intelligence Officer thì sau này đừng ai bắt chước tôi đi vào con đường đó hay sao? Ðâu có được! Bình mực của tôi mở nắp sẵn rồi đó anh chị em, cứ chấm lia lịa, líp-ba-ga đi. Chấm càng nhiều, viết càng hăng tôi càng mừng cho các bạn đó. Tôi nấu phở, hủ tiếu được thì anh chị em cứ nấu phở, hủ tiếu đi, ngại gì. Càng nhiều thứ phở, hủ tiếu cho khách hàng chọn lựa, thưởng thức thì càng hay chớ sao. Bá nhơn bá bụng bá con tim mà. Và không nên bắt buộc độc giả phải ăn tô phở, hủ tiếu nấu riêng cho Trần Vũ... Mà nghĩ cho cùng, người nào đi trước thì vinh danh cho họ cái công khám phá, kẻ đi sau thì vinh danh cho họ cái công bồi đắp. Giữa cái công khám phá và cái công bồi đắp cũng chưa biết cái nào lớn hơn cái nào. Giờ đây, nhìn lại, cái công khám phá ra computer nào có đã lớn hơn cái công làm nhỏ gọn, đẹp đẽ, nhanh chóng cho computer như ở mức độ hiện nay. Giữa con gà và cái trứng kia cũng chưa biết cái nào quý hơn cái nào. Trần Vũ ơi, xin bạn đừng quá khắc khe, nhỏ mọn mà lắm khi làm chùn bước, tịt ngòi những kẻ đi sau.

     Sau cùng là vấn đề "sự lập lại của chính mình." Ðiều này có thể đúng trong trường hợp đặc biệt của Hồ Trường An. Vì quả tình, anh có "xào nấu, hâm đi hâm lại." Tuy vậy, trong những món "xào nấu, hâm đi hâm lại" đó cũng có nhiều... "bài nào ra bài nấy" lắm. Nhưng, cũng không thể trách anh được khi anh bắt đầu viết feuilleton để kiếm sống, không còn làm văn chương nữa mà chỉ còn làm kỹ nghệ sản xuất ra chữ nghĩa, bán lấy tiền. Còn đối với các người khác trong nhóm Miệt Vườn thì tôi thấy hình như chưa có "sự lập lại của chính mình" đâu. Thành thử, chỉ dựa vào trường hợp riêng biệt của Hồ Trường An mà đưa ra một kết luận chung cho tất cả nhóm Miệt Vườn như Trần Vũ đã phát biểu thì rõ ràng quơ đũa cả nắm, không đúng.

     Tuy nhiên, "sự bế tắc, bí đề tài" thì đúng là chuyện ắt phải xảy ra. Tỉ như anh Kiệt Tấn, ngoài chuyện "đào với đĩ" là đề tài chính đã khai thác đến tận cùng (cũng nên nhớ tuy "đào với đĩ" thôi nhưng đã chuyên chở lắm suy tư, triết lý), đã phải quay sang viết trường thiên đồng quê Lớp Lớp Phù Sa . Viết được mỗi một cuốn đầu thì đã thấy mỏi mòn, thiếu hẳn đam mê. Tỉ như anh Võ Kỳ Ðiền sau khi chống Cộng sâu sắc, thâm trầm trong Kẻ Ðưa Ðường đã phải đổi qua viết tự truyện, truyện dài Pulau Bidong, Miền Ðất Lạ ... Chỉ một vài người thôi, còn phần lớn vẫn đang hăng say, sáng tác mạnh kia mà. Trong các cây bút nữ cũng vậy, chỉ có Trần thị Kim Lan, Cao Bình Minh... gần như vắng bóng giang hồ, số còn lại vẫn tiếp tục viết đều tay, có tác phẩm mới sắp sửa trình làng như Phan thị Trọng Tuyến, Hoàng Du Thụy, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Nguyễn thị Long An... Ðó, một vài thí dụ về "sự bế tắc, bí đề tài."

     Trong số đó cũng có tôi nữa, gần như đã tịt ngòi, định gác bút cho rồi sau bốn tác phẩm tự truyện tiểu thuyết. Tự truyện nào viết hoài lại không hết, phải không quý vị? Nhưng sau khi vấn kế kẻ đi trước người đi sau, ông đi qua bà đi lại, Bắc Trung Nam đều có cả, chẳng hạn như... (mà thôi xin miễn kể tên), lần hồi tôi lại tìm ra một lối đi mới cho tôi, nhưng có lẽ rất cũ đối với mọi người cầm bút khác, đó là: tiểu thuyết. Nghe như nó quê mùa, xưa hơn trái đất làm sao ấy hả? Nhưng bạn văn nào muốn tôi truyền lại cho cái... bửu bối, thì đây, tôi rất sẵn lòng. Tôi có thể lập lại những gì các bạn văn đó đã nhắn nhủ với tôi, không theo một thứ tự nào, như sau: lấy râu ông này cặm cằm bà kia, hãy viết ra những gì mà mình cho là đúng là hay mà không sợ ai chê bai phỉ báng, chuyện gì lớn lao không thể gói ghém trong một truyện ngắn thì để dành viết truyện dài, truyện là bịa và ai giỏi bịa như thật thì người đó hay (Nguyễn Công Hoan), đóng chương này nhớ mở chương kia, viết là bay với lượn, thì cứ viết như bấy lâu nay anh đã viết vậy, chi tiết nhỏ làm nên điểm hay lớn, không ai biết tài năng của mình hơn mình thì đừng nghe lời ai cả... Hầu hết đều là những gì hình như mình đã làm qua, trải qua rồi nhưng không nắm chắc được sự tin tưởng cho đến khi có người nhắc nhở, nhấn mạnh. Ðể rồi, bỗng dưng, tôi tìm ra chân lý (lại chân lý, sao mà nhiều chân lý thế!), một thứ ánh sáng le lói ở cuối đường hầm. Và từ tập truyện Một Nỗi Buồn Riêng (khởi đi từ bài Tuyệt Lộ , coi như một khám phá của anh Viên Linh khi đăng lên Thời Tập , vì sau đó có một hai tờ báo khác xin đăng lại, vẽ lên một... sinh lộ mới cho tôi!) kéo sang qua truyện dài Một Trời Một Biển , tôi cảm thấy mình viết coi bộ dễ dàng hơn, nhẹ nhàng phơi phới hơn. Viết xong rồi tâm thần đâm ra mê mẩn những nhân vật do chính mình đã dựng lên. Quyến luyến như không muốn rời đi nữa bước. Ôi, khoan khoái làm sao! (Mèo khen mèo dài đuôi!)

     Nói như vậy để thấy sự tối kỵ của người cầm bút là "sự lập lại của chính mình," mà tôi biết chắc không ai dám cam lòng chịu rơi vào cảnh sa cơ, thất thế hết. Thà là họ chịu ngưng ngang, bẻ bút còn hơn là nhơi đi nhai lại. Ngoại trừ những trường hợp bất khả kháng vì miếng cơm, manh áo mà thôi!

     Ðến đây, tóm lại để kết luận, rằng, không nên nhìn vào dòng Văn Chương Miệt Vườn với một thái độ bi quan. Ðã không "sáo" lắm đâu, theo tôi nghĩ! Và sau hết tôi những mong những hoạt động âm thầm, những tìm kiếm lặng lẽ, những cặm cụi ngày đêm không ngừng nghỉ kia của các bạn văn, không riêng gì của nhóm Miệt Vườn mà cho tất cả mọi người cầm bút, được nâng đỡ chớ đừng bài bác, chê bai. Ðừng ai đứng ngoài mà thọc gậy vào bánh xe Miệt Vườn đang lăn ngon trớn!

     Thêm một vài điểm phụ nữa vì chính Trần Vũ có nêu lên: "Lâu nay chúng ta thấy nhan nhản những truyện ngắn truyện dài mà kết cấu, ý tứ đơn giản đến độ bần cùng, khó lòng tìm ra đời sống nội tâm nhân vật, ý nghĩa nhân sinh của câu chuyện, bởi tác giả của chúng chỉ chăm chút cố tình viết những câu văn sai chính tả, chen nhiều thổ ngữ, tìm một giọng văn khi chơn chất, lúc bạt mạng, kể nhiều chi tiết phong tục ruộng vườn là... ăn khách."

     Câu nói có vẻ ôm đồm nhiều thứ, nhưng phân tích cặn kẽ ra thì cũng chẳng có là bao. Trước hết là sở dĩ có "nhan nhản những truyện ngắn, truyện dài mà kết cấu, ý tứ đơn giản đến độ bần cùng" (không riêng gì bài Miệt Vườn, mới đúng) là cũng có thể do hậu quả của óc bè nhóm, phe phái! Chớ chẳng lẽ những ông những bà chủ bút, chủ nhiệm đã không đủ sáng suốt để thấy những sự... bần cùng mà Trần Vũ đã thấy hay sao? Còn "cố tình viết những câu văn sai chính tả" thì có chắc là Trần Vũ đã không cố tình viết những câu sai chính tả hay không đây? Dò hết lại coi! Ðừng có ngu dại mà làm con Thạch Sùng! Nhưng mà theo tôi, điều này không có gì đáng quan tâm cả, vì nhà văn chính là người đã từng làm ra văn phạm, đẻ ra chính tả cho riêng mình kia mà! Chẳng lẽ lại phải quay ngược về thời kỳ... tiền Sáng Tạo, tiền Mai Thảo? Rồi, chẳng ai phải đi "tìm giọng văn khi chơn chất, lúc bạt mạng" hết mà chính tự nó đã xuất phát từ đáy lòng ngay từ dòng chữ đầu tiên. Bây giờ nếu bảo Trần Vũ hãy đi "tìm giọng văn khi chơn chất, lúc bạt mạng" mà viết đi, thì thử hỏi Trần Vũ có tìm được hay không? Còn việc "kể nhiều chi tiết phong tục ruộng vườn," đối với tôi, đúng ra là một điều hay. Bởi, ngay cả tôi là dân Miệt Vườn rặc ròng đây mà đôi lúc vẫn còn phải ngỡ ngàng khi đọc hai anh Lê Bảo Trân và Phạm Thăng, để rồi phải thầm cảm ơn vì đã được học hỏi thêm, thông cảm với người xưa, thấy được những bể dâu, những đã qua đã mất ở thời trước. Có lẽ nó không hợp với Trần Vũ chỉ vì Trần Vũ đâu có "care" (màng) gì cái phong tục tập quán ở miền Nam, có phải?

     Well , xét ra mình cũng đã lắm lời, những lời riêng tư như một tiếng vọng chớ không dám đại diện cho một ai trong nhóm Miệt Vườn. Vậy thì, xin cho tôi mạng phép ngưng ngang ở đây đi. Và nếu có "đỉnh cao trí tuệ" nào u đầu, bể trán thì kẻ hèn này thành thật xin lỗi, xin lỗi, xin lỗi...

   back to top

09. NÓI CHUYỆN VỚI... "CHỦ BÁO" *

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Một năm hơn trước đây tôi có viết bài Nói Chuyện Với "Ðàn Em," trên báo Ðẹp ở Houston, mục đích giới thiệu sơ sơ với độc giả những cây viết... miệt vườn nhỏ tuổi hơn tôi. Nhiều người trong cuộc thích lắm, nhưng cũng có một vài vị không hài lòng. Có lẽ vì nghĩ rằng tài năng và tên tuổi của mình đã lên quá cao mà những đàn em này, dựa trên căn bản tuổi tác mà tôi đề ra, lại không chịu làm... đàn em. Ðòi làm ông nội! Ông nội... con nít! Tôi bèn viết thêm Nói Chuyện Với "Ðàn Anh," cũng trên Ðẹp , cũng với mục đích giới thiệu sơ sơ những đàn anh và, không quên, những đàn chị nữa, với độc giả. Ai cũng khoái hết và nhờ vậy mới có chuyện đề huề cả làng. Gần đây, nhân dịp xuân về, xuân Nhâm Thân 1992, anh Lê Bảo Trân lại có đôi dòng "muốn nói với... ai đó" trên Văn Nghệ Tiền Phong kể cũng vui đáo để!

     Nhưng bây giờ, kẹt quá, tôi muốn nói chuyện với... "chủ báo"!

     Chủ báo là ai? Là những người có tờ báo hoặc những người đang chăm sóc tờ báo với những chức vụ đặc biệt ăn trên ngồi trước như chủ nhiệm, chủ bút, tổng thơ ký... vân vân, theo ý tôi! Ðối với chủ báo, người cầm bút nói chung, nhà văn nhà thơ nói riêng chỉ là người viết mướn, không hơn không kém. Giống như một người đi làm thuê, dọn vườn, lên liếp, trồng cây, hái trái... cho một chủ vườn vậy thôi.

     Nhưng, nhiều chủ báo đối xử với người cầm bút không trên căn bản chủ vườn đối với người làm vườn. Họ biến miếng vườn của họ thành một cảnh chùa và biến người cầm bút thành những... bá tánh. Bởi vậy cho nên, ở buổi ban đầu, hầu hết bá tánh đều phải viết chùa cũng như làm công quả cho chùa mà thôi. Ðó là chưa nói đến nhiều người còn ở trong hoàn cảnh bệ rạc hơn, không những làm công quả mà còn phải cúng dường nhiều thứ cho chùa nữa, mới khổ. Than ôi, đời là bể khổ mà lại! Rồi lần lần đi đến chỗ làm thí công ăn quả nhà chùa, bằng những tờ báo tặng. Họa hoằn có thâm sâu, thượng thừa dữ lắm thì mới có chút chút đãi ngộ, nhẫm xà qua món tiền nhuận bút rất là khiêm nhường.

     Rồi mỗi một chủ báo một tánh, ông bà ơi! Ấy, nói chi hai chữ "cộng tác" nghe nó lớn lao, chớ tôi có bài đăng trên các báo Ái Hữu, Canh Tân, Chính Ngôn, Diễn Ðàn Tự Do, Ðẹp, Ðộc Lập, Florida Việt Báo, Kháng Chiến, Làng Văn, Lướt Sóng, Nắng Mới, Ngày Nay, Nhân Văn, Phụ Nữ Diễn Ðàn, Rạng Ðông, Sen Trắng, Sóng, Thế Kỷ 21, Thời Tập, Tin Ðiện, Tự Do, Văn, Văn Học, Viên Giác, Việt Nam Tự Do, Yêu ... và đương nhiên có liên lạc, quen biết với hầu hết các chủ báo vừa nêu trên nên tôi biết qua. Người thì chỉ thuần túy văn chương, người thì đòi văn dĩ tải đạo, người thì lại triệt để chống Cộng, người thì lấy thế trung dung làm mẫu mực (không thân phe nào hết), người thì dựa lối chàng hãng mà đi (phe nào cũng thân hết), người thì hô hào đừng chống Cộng nữa, người thì chỉ biết lấy thương mãi làm đầu, người thì khoái có chút chút tình ái tù ti...

     Ðể đáp lại tấm thịnh tình của các chủ báo, rất nhiều người có khả năng viết theo đơn đặt hàng (khác với lối đặt hoa hồng của Cộng sản, dĩ nhiên). Lắm khi còn chạy theo thời tiết, bốn mùa xuân hạ thu đông, Phật đản, Giáng sinh..., ra vẻ chàng ràng chộn rộn lắm. Phần tôi, tôi không viết như vậy được. Tùy theo cảm hứng mà viết thôi, xong, xem bài nào thích hợp với báo nào thì mình gửi tới. Mà nói chớ người nào viết ít như tôi thì chuyện sắp xếp này cũng dễ dàng thôi. Không cần phải làm sổ ghi bài nào đã gửi đi báo nào như nhiều người khác đã làm. Rồi chủ báo nào cũng đòi hỏi bài mới hết, mới chết! Nhưng, có nhiều vị chịu du di vì thiếu bài, vì quan niệm rằng thà đăng bài cũ cũ mà hay thì vẫn còn hơn bài mới toanh mà dở òm, hoặc giả vì đang làm một tờ báo biếu, chẳng màng hơn thua gì với báo bạn... Tóm lại, nói gì thì nói, người cầm bút thường vẫn hay chiều theo tánh ý của người chủ báo mà làm việc. Như một nhân viên chiều theo tánh ý của chủ nhân ông, boss đích thực, của mình mà thôi!

     Vậy mà, hôm nay, tôi dám đặt vấn đề nói chuyện với "chủ báo," tức là nói chuyện với mấy xếp lớn của mình, thì kể ra chắc cũng phải có điều gì bất ổn đây, có phải?

     Xin thưa ngay, đúng vậy! Ðã đến lúc tôi thấy cần phải nêu lên một vài trường hợp chủ báo đã lợi dụng quyền sinh sát trong tay đối với người cầm bút mà làm điều xằng bậy. Ở các xứ Âu Mỹ tân tiến ngày nay, việc làm của mọi người, dù là chủ nhân ông hay một nhân viên đều được thường xuyên lượng giá, appraisal , hoặc thăm dò, survey . Ngay cả đám học trò kia cũng còn có được cái cơ hội bình điểm thầy cô, thì tại sao người cầm bút chúng ta lại không lâu lâu làm một cuộc phê bình, thẩm định những chủ báo mà mình đã cộng tác chớ. Well , tinh thần làm việc cầu tiến, quang minh chính đại này chắc còn lâu mới thực hiện được trong giới văn nghệ sĩ của chúng ta!

     Mà thôi, để khỏi làm mất thì giờ của quý vị, tôi xin đi ngay vào những gì tôi muốn nói với chủ báo!

     Trước hết là bà chị chủ báo Vi Khuê, qua bài giới thiệu quyển truyện dài Giọt Lệ Xé Hai của Nguyễn thị Thanh Bình, ký dưới bút hiệu Ðoàn Văn trên báo Phụ Nữ Diễn Ðàn số 94. Sau khi giới thiệu sơ sơ bằng cách dựa vào những bài Bạt, lớn cũng như nhỏ, ở trong sách cũng như ở bìa sau, của Xuân Vũ, Nhã Ca, Mai Thảo, Hồ Trường An, chị có đưa ra những nhận xét riêng tư, có vẻ chủ quan của mình như sau:

     Duy có điều hơi tiếc là: Một tác phẩm được ưu ái ca ngợi bởi nhiều tên tuổi như vậy, lại lơ là phần sơ đẳng nhất! Ðó là những lỗi chính tả, lỗi văn phạm hơi nhiều. Ví dụ lỗi chính tả:

     1. "... Vừa phanh áo, vừa
chợt nhã trân tráo," đáng lẽ phải là " cợt nhả trâng tráo" (trang 3).

     2. "... Họ chả bảo
rán tiếp tục, " đáng lẽ phải là " ráng " (trang 5).

     3. "... Ðứa lớn
chồng ngồng cũng nỏ học được chử chi," đáng lẽ phải là " tồng ngồng " (trang 23).

     Lỗi văn phạm:

     1. "... Ða số muốn thoát ly quê tôi vì muốn được
giải thoát những gông xiềng cộng sản," đáng lẽ phải " giải thoát khỏi ".

     2. "... Cơn đói dâng lên cồn cào
vì nãy giờ hoạt động quá nhiều," đáng lẽ phải " tôi hoạt động quá nhiều (trang 9).

     3. "... Một loại giải trí cho phái nam thì cũng nên có một thứ tiêu khiển na ná như vậy cho phái nữ," đáng lẽ phải thêm: "
Ðã có một loại giải trí cho phái nam thì cũng... phái nữ" (trang 11).

     Ước mong nhà văn Nguyễn thị Thanh Bình chịu khó lưu ý các điểm sơ đẳng ấy, kẻo "con sâu làm rầu nồi canh" thì đáng tiếc lắm
.

     Có điều hơi tức cười, cái mà chị chỉ trích người ta lại là cái mà chị đang làm! Vì ở trang 3, trong sách ghi rõ "cợt nhã trân tráo" mà không biết sao chị lại ghi sai của người ta thành "chợt nhã trân tráo" rồi quay ra tự sửa lưng lấy mình, rằng, đáng lẽ "cợt nhả trâng tráo," với chữ trâng có g. Trong khi ý tác giả có thể muốn nói nhìn trân trân, không chớp mắt thì sao! Ðánh số trang lại sai, vì ở trang 23 không có câu có chữ "chồng ngồng" mà phải là trang 22. Ðã vậy trong sách ghi rõ là "... đứa lớn chồng ngồng cũng nỏ học được một chữ cái" thì chị lại chép trật của người ta thành "đứa lớn chồng ngồng cũng nỏ học được chử chi." Với chữ "chử" có dấu hỏi nữa mới khổ! Vậy mà chị dám làm tày khôn, đi sửa lỗi chính tả của người ta mới chết chửa!

     Tuy nhiên, khỏi cần nói nhiều, đọc lên phần này ai cũng thấy, trước tiên, thái độ "vạch lá tìm sâu, bới lông tìm vết" của chị. Ðến nỗi nhà ngữ học Phạm văn Hải trong bài Vài Cảm Nghĩ Khi Ðọc "Giọt Lệ Xé Hai" của Nguyễn thị Thanh Bình , trên Thế Kỷ 21 số 35, cũng đã lên tiếng: Những lời nhận xét, phê bình, dù khen hay chê, đều vô cùng quan trọng đối với tác phẩm và tác giả. Chê mà chê đúng, chê một cách xây dựng (nhận xét khách quan), tác giả có một dịp học hỏi thêm. Nếu "bới bèo ra bọ," dù chỉ là lỗi kỹ thuật nho nhỏ cũng "đập" lên đầu người viết. Dĩ nhiên, rất ít tác giả dám lên tiếng trả lời hay cải chính lỗi lầm kỹ thuật và phương tiện diễn tả. Sự thật, tác phẩm nào cũng có thể "bới bèo ra bọ" được. ("Ngọc nào chẳng có vết") ... Nhất là trong lúc chị làm công việc giới thiệu chớ không phải điểm sách. Mà cho dù điểm sách đi nữa cũng không ai nêu lên nhũng điểm nhỏ nhặt như vậy. Tác giả tặng sách, rất mong mỏi được chủ báo nâng niu, viết vài dòng êm đẹp cho một đứa con tinh thần mới chào đời, chớ biết bươi móc như vậy thì ai mà tặng sách để làm gì, hãy ra tiệm sách kia mà mua mà đọc mà bình!

     Sau đây, để tôi xin bàn sâu vào chi tiết về việc lỗi chính tả và lỗi văn phạm. Nhưng trước hết cũng nên xin hỏi lại chị Vi Khuê một điều: Chị có dám chắc trong tất cả các tác phẩm của chị không có lỗi chính tả và lỗi văn phạm hay không? Trước khi chị quan tâm đến sách của người ta thì chị cũng nên dòm ngó lại sách của chị, để không thôi lại lòi ra một con sâu nữa thì nồi canh đã rầu, theo ý chị, lại phải rầu thêm.

     Với tôi vấn đề trật lỗi văn phạm, theo ý riêng của chị, không có gì đáng nói. Tôi vẫn quan niệm rằng nhà văn là những người có quyền đẻ ra văn phạm cho chính mình. Cần nhất là thứ văn phạm đó được độc giả chấp nhận và thưởng thức tác phẩm một cách rất ư là bình thường như mọi thứ văn phạm khác là được. Ðiều này, chính ra, đã tạo nên bản sắc riêng biệt của từng tác giả và làm cho nền văn chương Việt Nam ta thêm phần phong phú, đa dạng. Ðó cũng chính là công lao và nỗ lực sáng tạo của người cầm bút. Còn như ai đó muốn quay về... đường xưa lối cũ như chị thì tùy, nhưng không nên bắt buộc người khác phải viết đúng theo cái mà mình cho là lề lối văn phạm của riêng mình. Ðiều này khỏi cần biện minh dẫn chứng ở đâu xa, chị cũng đã từng biết trong văn học Việt Nam mình có "con sâu thiệt lớn," là ông Mai Thảo đó, ổng đâu đã làm rầu nồi canh đâu nào? Ổng làm cho nồi canh ngọt thêm thì có!

     Rồi bây giờ bắt sang qua vấn đề chính tả. Nói đến chính tả thì ta phải dựa vào từ điển làm bằng. Tôi chỉ đưa ra một vài thí dụ để chị thấy là đủ. Như vầy, theo Từ Ðiển Tiếng Việt của Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, viện Ngôn Ngữ Học, xuất bản tại Hà Nội năm 1988 mà chúng tôi hiện có, ở trang 187, viết:

     - chồng ngồng t. (ph.) . Tồng ngồng. và ở trang 849, cũng có viết:

     - rán (1) đg. Làm cho chín trong dầu mở đun sôi. Ðậu phụ rán vàng. Cá rán. Rán mỡ (làm cho thành mỡ nước chín).

     - rán (2) đg. (cũ; id.). Ráng. Rán sức .

     Như vậy Thanh Bình đã không sai mà là chị Vi Khuê sai! Ðiều đáng nói thêm là nhà văn đang viết văn chớ không còn viết ám tả, chính tả hay làm luận văn như đang ngồi ở lớp học. Vả lại, việc sửa lỗi chính tả là công việc kỹ thuật của nhà xếp chữ và nhà xuất bản, không nên hoàn toàn chê trách một mình tác giả. Mà nếu không chê trách một mình tác giả thì phải chê trách thêm tôi và giáo sư Ðỗ Ðình Tuân. Vì "tiệm" H&L TypeSetter của tôi phụ trách việc đánh máy, layout, xếp chữ với mẫu chữ... đẹp nhất trần gian (xạo ke chút chút thôi) và nhà xuất bản Văn Khoa lo việc in ấn, phát hành. Chính vì vậy tôi thấy tôi càng có bổn phận phải lên tiếng vì tôi là một trong những người trong cuộc.

     Ðôi lúc, có thể vì hoàn cảnh bắt buộc đành phải buông trôi, chớ bảo đảm không một người cầm bút nào chịu đem đứa con tinh thần của mình mà... bỏ chợ hết. Họ nâng niu, chăm sóc từng ly từng tí. Có thể nói từng chữ, từng câu, từng dấu chấm, phẩy. Trường hợp Giọt Lệ Xé Hai , khi gửi qua ông Ðỗ Ðình Tuân, ổng lại sửa thêm một mách nữa về lỗi chính tả. Nhiều chữ hầu như xa lạ mà cả Thanh Bình lẫn tôi không đồng ý, nhưng vẫn phải theo! Quyết định của nhà xuất bản là trên hết mà! Vả lại giáo sư Ðỗ Ðình Tuân cũng cho biết ổng đã tra sửa rất kỹ bằng quyển từ điển lớn của Lê văn Ðức - Lê Ngọc Trụ. Như chữ "chín mùi" phải viết là "chín muồi," chẳng hạn! Như chữ "mùi mẫn" phải viết là "muồi mẫn," chẳng hạn! Như chữ "hất hủi" phải viết là "hắt hủi," chẳng hạn! Như chữ "ràn rụa" phải viết là "giàn giụa," chẳng hạn!

     Thử hỏi một "công trình" tim óc của ba người họp lại về chính tả, mà khi trình làng lại bị bài bác chê bai về... lỗi chính tả, thì người trong cuộc như Thanh Bình như tôi đây làm sao mà không sửng sốt! Ðáng tiếc thay! Cho đến giờ phút này, nếu ai đó ngồi không bỏ thì giờ ra mà dò lại từng chữ từng câu trong Giọt Lệ Xé Hai , thì cũng có thể cũng sẽ tìm ra một vài lỗi chính tả khác mà chúng tôi đã không ngờ tới. Nhưng, chẳng ai lại đi làm như vậy, một hành động nhỏ mọn, cỏn con không giúp ích được gì.

     Người ta thường học khôn từ những sự thất bại hơn là những cái thành công. Và theo tôi, đây là trường hợp học khôn của chị Vi Khuê. Vẫn không sao, bảy mươi chưa gọi là lành mà!

     Tiếp theo, đến ông bạn nhà báo Nguyễn Hữu Nghĩa, con người coi đạo mạo tươi tốt như vậy mà lại đi đạp cứt bà chị Vi Khuê, mới khổ. Qua phần giới thiệu sách mới One Time As An Intelligence Officer Một Dòng Ca Dao, Câu Hò, Câu Ðố Miền Nam , trên Làng Văn số 91. Cũng cứ cái mững này thì khi tặng sách bà con cầm bút của mình phải nên coi mặt ta ơi! Ðể tránh cái cảnh hơi đau lòng là mình bỏ công ra viết, bỏ của ra in, trịnh trọng dán tem cò gửi tặng để rồi người được tặng quay ra mạt sát trở lại mình!

     Ý là có bạn bè báo động trước vì tôi nhận báo rất trễ, mà chu mẹt ơi, tôi đọc qua mấy đoạn này thấy như bị ai đó tạt vô mặt mình một gáo nước thiệt lạnh, thiệt đầy. Ủa, sao có chuyện gì kỳ vậy ta, bộ hồi hôm gà mái không cho đạp hay sao mà sáng ngày đâm ra hận thù, hằn học với "ông Trùm" dữ vậy cà? Ðang giận cá rồi đòi chém thớt? Mà cũng được thôi, vì phen này "gà nhà" ta kể như có dịp "bôi mặt đá nhau" chơi! Gà tre đá với gà cồ, vì gà cồ có lẽ ghét gà tre ở... tiếng gáy, có phải? Thì đây, dẫu biết gà tre đá không lại gà cồ vì gà cồ có rất nhiều đao to búa lớn, nhưng cũng phải đá cho một đòn chí tử rồi... chạy làng luôn cũng được, còn hơn là bị mang tiếng là con gà nuốt dây thun!

     Mèn ơi, lại thêm cái giọng chanh chua, đanh đá của Nguyên Hương ở mục thư đi tin lại phía sau, đã hân hoan làm trò "chồng hát vợ vỗ tay" nữa chớ, rằng, đây là "trường hợp giảm khinh" cho "ông Trùm," thấy mà bắt... dễ thương hết sức!

     Ấy, tôi không bác ái như Chúa, nên không thể đưa má kia cho Nguyễn Hữu Nghĩa tát tiếp một cái nữa. Rồi cũng không từ bi như Phật, tham sân si trong mình còn nhiều, nên tôi phải, xin lỗi, tát lại. Tát cho ai đó, nếu không vỡ mồm thì phải đến... sứt mép mới thôi. Nói đùa cho vui chớ chuyện đâu còn có đó, để bình tâm ngồi đọc lại và suy luận hơn thiệt coi sao!

     Và đây, hãy xem "ông Trùm" ta ra chiêu đỡ đòn, "phục hận!"

     Trước hết là quyển One Time As An Intelligence Officer ! Bà con cô bác đứng ngoài dòm vô, cứ thử tưởng tượng như Nguyễn Hữu Nghĩa đang đứng trước mặt tôi, vui vẻ tay bắt mặt mừng, rồi vì một lý do nào đó chẳng nói chẳng rằng, bỗng quay một vòng 180 độ ra phía sau lưng và lụi tôi một dao... lút cán. Thử hỏi với hành động có vẻ hơi... cạn tàu ráo máng đó, bạn bè chơi như vậy thì chơi thế chó nào được chớ? Bộ tính trái đất này không tròn, không còn nhìn mặt nhau nữa chắc? Mà thiệt tình, hóa ra nẳm nay, từ ngày Một Thuở Làm "Trùm" chào đời, bạn ta đã và đang ngậm bồ hòn làm ngọt đây, tội nghiệp dữ hông!

     Tuy nhiên, bao nhiêu điều Nguyễn Hữu Nghĩa nói coi bộ già hàm như vậy chớ thật ra chỉ nhắm vào một điểm: binh vực người lính Cộng Hòa! Vì đối với Nguyễn Hữu Nghĩa, cái gì của người lính Cộng Hòa đều phải đẹp và cái gì của tên bộ đội Cộng Sản đều phải xấu hết. Ðúng, trong Một Thuở Làm "Trùm" tôi không đề cao, tuyên dương vai trò người lính Cộng Hòa. Tuy nhiên, tôi cũng chẳng hề hạ thấp, bôi bác một ai. Là một quyển sách mang nặng tính cách hồi ký, thì cái gì xấu tôi nói xấu, cái gì tốt tôi nói tốt. Có lẽ vì nóng giận mà Nguyễn Hữu Nghĩa đã "hời hợt và nông cạn," vô tình để lộ ra cái trình độ thưởng ngoạn, tôi không nói là thấp kém, mà là vui đâu chúc đó, của mình. Vì tôi viết Một Thuở Làm "Trùm" không dựa vào cái triết lý sống "làm lính" mà là với cái triết lý sống "làm người." Làm lính, tôi nói thiệt dễ lắm, chỉ cần làm theo lệnh là sẽ trở thành người lính tốt ngay, nhưng làm người cho ra người mới thật là khó. Làm người khổ lắm Nguyễn Hữu Nghĩa ơi! Và phải nói, mãi cho đến ngày nay, điểm căn bản mà chúng ta vẫn tự hào hơn bọn Cộng Sản là ở chỗ "làm người" đó! Rồi nếu muốn nói rộng hơn một chút, trên bình diện văn nghệ văn chương quốc tế, thì cũng chính vì biết "làm người" mà hầu như cả thế giới đã đứng ra lên tiếng bênh vực cho Dương Thu Hương. Trong khi, chỉ còn một mình Nguyễn Hữu Nghĩa và nhóm Làng Văn là không chịu xét lại, vẫn cứ khư khư ôm lấy cái sai lầm, chống đối khắp cả nhân loại như một Saddam Hussein thứ hai! Bởi vậy, Nguyễn Hữu Nghĩa cũng không nên mở miệng trách cứ bọn đầu sỏ cộng sản Việt Nam tại sao vẫn khư khư ôm cứng các giáo điều mà không chịu đổi mới làm chi! Vì nghe ra sao... mắc cở cái lỗ miệng quá! Không dám tự sửa sai mình thì nói chi ai!

     Cũng nên nói thêm, điều mà tôi đã lấy làm hài lòng là người ngoại quốc không có một cách nhìn trật trờ như Nguyễn Hữu Nghĩa. Dưới đây, tôi chỉ cần trích vài dòng trong bài giới thiệu của Dr. Sylvester Clifford, một giáo sư ngành Communication ở đại học South Dakota thì quý vị sẽ rõ:

     Badly, Hung depicts the actions of himself, fellow officers, Thai pirates, black marketeers, grafters, and others as they exist in a world demanding high standards of personal loyalty and patriotism, while simultaneously expecting, countenancing, and rewarding treachery, double-dealing, profiteering, and survival at all costs. With disarming directness the author shows us tenderness and selfishness, crudity and graciousness, heroism and cowardice. There is little adornment, little pretense of philosophical depth or grand principles. These people are trapped, almost powerless in the struggles that enmesh their world...

     Touching scences of family interlace with documentation of events preceding and following the fall of Saigon. Lyrical descriptions of the sea attest to sensibilities that seem overwhelmed in everyday dealings. Despite its surface blandness and simplicity this is a complex book; at least, it evokes complex thoughts and feelings...

     ONE TIME AS AN INTELLIGENCE OFFICER is recommended reading for all students of Vietnam War, and all students of the human condition
...

     Với lại theo tôi được biết, vừa qua, trong phiên họp bất thường của ban chấp hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và các vị cố vấn, gồm nhà thơ Trang Châu, học giả Lê Hữu Mục, dịch giả Trương Bảo Sơn, dịch giả Lâm Công Quận, thi sĩ Ðỗ Quý Toàn, nhà văn Võ Kỳ Ðiền..., tất cả mọi người có mặt đều đồng ý sẽ giới thiệu hai tác phẩm của tôi One Life Of Learning One Time As An Intelligence Officer trước Văn Bút Quốc Tế vào kỳ họp mặt ở thủ đô Barcelona, Tây Ban Nha, vào tháng tư năm nay! Quyết định này, thêm một lần nữa, cho thấy lời chê bai, buộc tội của Nguyễn Hữu Nghĩa càng không có điểm tựa làm căn bản.

     Rồi đến quyển Một Dòng Ca Dao, Câu Hò, Câu Ðố, Miền Nam ! Những chỉ trích, đề nghị của Nguyễn Hữu Nghĩa mới nghe qua cũng rất hợp tình hợp lý, nhưng suy đi nghĩ lại thì không đúng hẳn. Chúng tôi không đồng ý ở một vài điểm. Trước tiên, sở dĩ chúng tôi không chia làm ba phần Ca Dao, Câu Hò và Câu Ðố riêng biệt là vì có hai chữ Một Dòng dẫn đầu. Toàn bộ sưu tầm như là một bản trường thi. Ðó là quan điểm trình bày của chúng tôi. Và đúng như Nguyễn Hữu Nghĩa nói, không nên dùng quyển này để làm tài liệu tham khảo, vì chúng tôi chỉ nhắm vào sự thưởng ngoạn và phổ biến rộng rãi trong mọi tầng lớp độc giả mà thôi, không dám đem những gì của mình sưu tầm được ra làm khuôn vàng thước ngọc cho một ai hết.

     Còn vấn đề xen lẫn ca dao miền Bắc miền Trung vào là việc làm có chủ đích của chúng tôi. Tại sao chúng tôi chỉ chọn những câu, đại để, như Nguyễn Hữu Nghĩa đã trích ra:

     Tìm em như thể tìm chim
     Chim bay biển Bắc đi tìm biển Ðông


     (Ca dao miền Bắc)

     Thương em anh cũng muốn vô
     Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang


     (Ca dao miền Trung) mà không là những câu khác? Là tại vì những câu ca dao này đã được phổ biến sâu rộng trong dân gian miền Nam. Trên đầu môi chót lưỡi của những người đàn bà cấy lúa hay ngay cả trẻ mục đồng. Vì vậy chúng tôi vẫn tạm coi là của miền Nam! Rồi sao, so what! Bộ Nguyễn Hữu Nghĩa không sợ mang tiếng là người kỳ thị Bắc Nam hay sao mà khư khư đòi ôm lấy làm của riêng, hả?

     Cũng nên hiểu rằng ca dao miền Bắc, miền Trung khi xâm nhập vào miền Nam, trong nhiều trường hợp, câu văn đã không còn giữ nguyên bản nữa. Ngoài Bắc nói Bà già đi chợ cầu Ðông , nhưng người Sài Gòn, người miền Nam không nói vậy, họ chỉ nói và chỉ biết có cầu Bông thôi! Rồi sao, so what! Và cũng nên vừa phải một chút chớ ai lại không biết chữ "lợi" miền Bắc còn có nghĩa là "nướu răng" ở miền Nam! Xa hơn nữa, ngay trong tỉnh Gò Công, khi nói đến chợ Dinh thì họ hiểu rằng đó là chợ Dinh của quận Hòa Ðồng chớ không có nghĩa là chợ Dinh, Nam Phổ gì gì ở ngoài Huế hết, thành thử mới có những câu ca dao trọ trẹ:

     Ðố anh con rít mấy chưn
     Cầu Ô mấy nhịp chợ Dinh mấy người
     Mấy người bán áo con trai
     Chợ trong bán chỉ chợ ngoài bán kim


     Còn vấn đề có sự xen lẫn những câu thơ của các tác giả nổi tiếng hoặc từ sách giáo khoa thì, ở đây, ai dám nói không có những câu thơ nổi tiếng hoặc những vần giáo khoa đã mặc nhiên trở thành ca dao, câu hò? Ở miền Nam, nội chỉ một quyển Lục Vân Tiên của Nguyễn Ðình Chiểu thôi cũng đã đẻ ra vô số câu hò lẫn ca dao rồi mà chúng tôi chẳng thèm ghi ra chớ ở đó mà "vơ bèo, nhặt tép cho đầy sách!"

     Và còn nhiều điều nữa mà chẳng cần phải nói thêm cho lắm lời làm chi...

     Tóm lại, ca dao, câu hò, câu đố truyền khẩu trong dân gian là tài sản chung của tất cả mọi người, người sưu tầm chỉ làm công việc chọn lựa, sắp xếp theo quan điểm của mình. Và với quan điểm của chúng tôi là như vậy! Chớ còn việc "vạch lá tìm sâu, bới bèo ra bọ" thì cuốn sách nào lại không có những những khuyết điểm của nó? Nhưng cũng nên nhớ rằng không có sự tưởng thưởng cho bươi móc sơ hở lỗi lầm, there is no reward for finding fault (Arnold Glasow). Bởi vậy, để kết luận, những điều Nguyễn Hữu Nghĩa nêu lên chỉ đáng lưu tâm từ 1% đến 20% tùy theo quan niệm của người phán xét, phần còn lại nên để ngoài tai!

     Rồi tiếp đến là phần giới thiệu tập thơ, nhạc, và hòa âm (chị Linh Phương) Một Thoáng Trong Mơ của tôi, trên Làng Văn số 92. Vì vô tình tôi đã gửi tặng luôn một lèo trong lúc chưa nhận được báo tháng trước.

     Ðầu tiên, tôi xin mạng phép ghi vội ra đây một vài đoạn trích trong bài tựa của anh Hà Huyền Chi mà tôi cho in ở bìa sau như sau:

     ... Người viết văn nào cũng có lúc thử làm thơ. Nhưng số người nặng lòng với thơ hơn, lưu trữ in thành thi tập, vốn không nhiều. Trong giòng văn chương hải ngoại chúng ta có: Thơ Cao Tần (bút hiệu khác của Lê Tất Ðiều), Ðất Khách của Thanh Nam, Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Ðền của Mai Thảo, Thơ Tù, và Em, Tôi, Sài Gòn, Hà Nội của Duyên Anh... Và hôm nay, chúng ta có Một Thoáng Trong Mơ của Nguyễn Tấn Hưng...

     ... Nguyễn Tấn Hưng chưa tạo dựng được trong thơ anh sự cô đọng và chiều sâu cần thiết. Tuy nhiên, thơ anh quả nhiên là có nhiều chỗ khác người. Nơi những vần điệu mộc mạc, bình dị của anh, người đọc đã thấy những lấp lánh tỏa ra từ chữ nghĩa, cho những rung động, phản chiếu bất ngờ...

     ... Nguyễn Tấn Hưng viết văn, Nguyễn Tấn Hưng soạn nhạc, Nguyễn Tấn Hưng làm thơ, Nguyễn Tấn Hưng chọc cười..., người sĩ quan Hải Quân đã nửa đời giao duyên cùng biển cả, nửa đời gá nghĩa với văn chương. Tôi nghĩ rằng Một Thoáng Trong Mơ chỉ là một bến tạm trong hải trình tiến đến sự toàn bích ở cõi thơ đích thực mà thuyền trưởng Nguyễn Tấn Hưng đang giong buồm tìm gặp...


     Vậy mà ở đây, Nguyễn Hữu Nghĩa chỉ cần ra tay phán một câu thiếu đầu, mất đuôi: Thơ chưa đi đến toàn bích, mà "chỉ là một bến tạm để đi đến toàn bích ở cõi thơ đích thực" , đúng như thi sĩ Hà Huyền Chi nhận xét trong bài "Mở". Không cần nói nhiều, ai ai cũng thấy đây là một hành động hại bạn có chủ tâm, tôi không dám nói là đê hèn đốn mạt, mà chỉ nói có vẻ hơi khó coi thôi! Vẫn biết thơ mình, vợ người nhưng tôi không bao giờ cho rằng thơ tôi là hay là đẹp với tất cả mọi người. Với tôi, ngoài những cái hay cái đẹp, điểm cốt lõi của thơ là tâm tình riêng tư, thầm kín của tác giả gởi gấm trong đó! Ai hiểu được, cảm thông được thì gọi là hay. Còn những ai phàm phu tục tử, những tai trâu huấn nhạc, những mắt lợn thưởng tranh (xin lỗi thi sĩ Hữu Loan, tôi trích trong tập Thiên Ðường Máu do Quê Ngoại xuất bản năm 1991) như Nguyễn Hữu Nghĩa thì thơ tôi cũng có thể gọi là "vè." Mà cũng ngộ, hóa ra bao nhiêu bài thơ của tôi mà Làng Văn đã đăng bấy lâu nay đều là vè hết đấy phỏng? Ối mà thôi, thơ của Nguyễn Tấn Hưng là vè thì thơ của Cung Vũ còn vè quá tổ, nhạc của Nguyễn Tấn Hưng mà đơn điệu thì nhạc của Nguyễn Hữu Nghĩa còn đơn điệu quá tổ. Chỉ vì cái nhìn quá thiển cận, ấu trĩ, suy bụng ta ra bụng người của chính anh. Than ôi, tiếc thay!

     Có một điều tôi hơi ngạc nhiên là qua bao nhiêu lần mổ xẻ, chê bai, bài bác sách của tôi mà Nguyễn Hữu Nghĩa lại không công bằng, không hề mổ xẻ, chê bai, bài bác các phụ bản đi kèm trong sách. À, thì ra Nguyễn Hữu Nghĩa còn khá hơn Trường Chinh Ðặng Xuân Khu một chút, chưa dám mang nhạc gia của mình ra đấu tố!

     Người xưa có nói: "Kẻ nào khen ta là bạn ta, kẻ nào nịnh ta là thù ta, và kẻ nào chê ta là thầy ta." Nhưng, như trước đây, có lần tôi buộc phải nói rõ thêm: "Kẻ nào khen ta mà khen phải là bạn ta, kẻ nào khen ta mà khen không phải là kẻ thù ta, kẻ nào chê ta mà chê phải la thầy ta, còn kẻ nào chê ta mà chê không phải thì chỉ sẽ là... cái chi chi của ta mà thôi!" Bởi vậy, với những hành động có vẻ tán tận lương tâm nêu trên, cũng như tương tự ở rất nhiều nơi khác, Nguyễn Hữu Nghĩa bây giờ chỉ là... cái chi chi của rất nhiều người. Thôi thì cũng đành, tôi cần phải mau mau nối bước theo hàng hàng lớp lớp những người cầm bút thành danh, tên tuổi đã từ từ lặng lẽ... bỏ làng ra đi không kèn không trống. Và để cho nhiều bằng hữu còn mang mặc cảm, "xưa nay thấy ông thân thiện với nhóm Làng Văn quá mà không dám làm quen," sẽ không còn ngần ngại nữa. Well , nói cho cùng, cho dù ngay trên quê hương đất nước mình hay ở đây, hải ngoại, không một ai bỏ làng, bỏ lũy tre xanh mà không có một chút vương vấn, khổ tâm phải không?

     Sẵn đây nói bắt quàng sang "bà em" nhà báo Nguyên Hương một chút. Cũng là việc công chớ chẳng riêng tư ghét bỏ gì ai. Rằng, trong một cuộc thăm dò bằng điện thoại của tôi mới đây, với một câu hỏi duy nhất, anh (hoặc chị) nghĩ thế nào về lối trả lời thư tín của bà Nguyên Hương trên báo Làng Văn , có hỗn láo xấc xược lắm không, và kết quả là 100 phần trăm em ơi 100 phần trăm, mười người như một, trả lời: có. Tôi nói ra đây thì chắc bà Nguyên Hương bả không tin đâu, thôi thì để khi nào thuận tiện bà ấy cứ tự mình tổ chức lấy một cuộc thăm dò khác thì sẽ biết rõ thêm vậy. Với riêng tôi, tôi thấy bả coi văn nhơn thi sĩ không một ai ra cái thể thống gì hết? Lấp lánh trong đó, có cả những vị tiền bối như ông Võ Phiến, Mai Thảo nữa. Và độc hại hơn thịt vịt xiêm lai, luôn cả độc giả mua báo của bả đọc kia, bả cũng chẳng từ... bảo người ta là hàng tôm hàng cá! Mệt quá, ngậm máu phun người trước dơ miệng mình , ai lại không thấy hành động hàng tôm hàng cá đó của Nguyên Hương! Rồi còn thêm cái tật hay dựa vào thư riêng của những người viết về làng, lừa gió bẻ măng, đọc một đàng nói một nẻo và lắm khi dựng đứng câu chuyện, lời lẽ từ đâu đâu đổ trút trách nhiệm lên đầu người gửi. Ðây là một hành động, tôi không muốn nói là vô liêm sĩ, mà là hơi khó hiểu. Bởi thế cho nên, khi đọc phần thư tín của Nguyên Hương tôi nghĩ độc giả và người cầm bút chúng ta cần phải liên tưởng đến cái đài Việt Cộng năm xưa. Ðơn thuần, chỉ có "lượng" mà không có "phẩm" . Và đừng nghe những gì Nguyên Hương nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Nguyên Hương đã ném đá dấu tay...

     Có điều bả coi vậy chớ cũng biết khôn, coi mặt mà bắt hình dong. Bả toàn là hay đè đầu đè cổ mấy anh em cầm bút miệt vườn, vốn dễ tánh xuề xòa, mà mỉa mai châm biếm hết lời và đôi lúc có phần hơi quá trớn, thiếu tự trọng. Chớ bả không hề dám đá động đến mấy ông hay cãi hay co hoặc mấy bà tốc váy đái tưới hột sen lên đầu bả đâu! Mà thiệt tình, cũng chẳng ai thèm trả lời trả vốn làm chi cho mệt. Vả lại thân phận người cầm bút, vốn thấp cổ bé miệng, có muốn nói lên ý mình thì cũng chẳng có tờ báo trong tay. Thử viết như tôi đây rồi gửi về làng thì còn lâu Nguyên Hương mới dám đăng. Mà không dám đăng thì làm sao có chuyện tranh luận công bằng, khoáng đại cho được. Chỉ một chiều, cá ăn kiến mà không có kiến ăn cá. Mà nè, bánh ít mắc mưa kia có đi mà bánh qui thơm phức này không có lại thì lúc chết xuống âm phủ dám bị cưa hai nấu dầu lắm đó nghen! Well , kể ra đây cũng là "trường hợp giảm khinh" cho Nguyên Hương đây, vì còn rất nhiều sự thật không dám nói hết ra! Hơn nữa, "ông Trùm" không nỡ theo lệnh làng đem đóng trăng người đẹp đâu! Nhưng, cái nết ấy đánh một lần (không cần đợi đến chết) phải (chớ không được hổng) chừa! Ðừng đánh giá thấp, under-estimate , "ông Trùm" mà có ngày mang họa vào thân đấy, ha ha!

     Tóm lại, qua hai phần trên, nếu cứ chơi cái trò hễ thấy mụt măng nào lú lên cao thì đem dao ra khứa, tiện, đốn thì biết chừng nào mụt măng đó mới biến thành tre? Cô Thanh Bình, cho đến nay, vẫn còn than vắn thở dài với tôi: "Mỗi lần cầm cây bút lên là tâm tư phân tán, không viết được một chữ cả tháng trời." Tôi nhớ có lần tôi an ủi: "Ðừng buồn, đừng nản, hãy cứ mạnh dạn tiến lên! Một người cầm bút mà nếu không bị bạn đồng hành đồng nghiệp ganh tị, bươi móc, chê bai, chửi rủa, thù hằn thì chắc chắn đã không là nhà văn nhà thơ lớn!" Câu này bây giờ, hóa ra, tôi lại phải đem ra tự khuyên lấy tôi. Thật nhiều lần hơn, vì Thanh Bình chỉ mới bị đốn, tiện, khứa dăm bảy hàng chữ chớ riêng phần tôi không những đốn, tiện, khứa mà còn bị bằm, văm cho nhuyễn như cám như bèo từ trang này qua trang khác, từ số báo này qua số báo kia. Than ôi, có phải số phận người cầm bút rõ ràng là mỏng hơn cánh con chuồn chuồn, xin lỗi thi sĩ Hoàng Cầm (?).

     Và sau cùng là đến nhà báo Nguyễn Xuân Hoàng, qua bài Góp Ý Với Trần Vũ, Tiếng Vọng Từ Ghè-Tố Miệt Vườn của tôi đăng trên Thế Kỷ 21 , số 35, với lời thanh minh thanh nga: "Ðây là bài góp ý của Nguyễn Tấn Hưng, đương nhiên không phải của tòa soạn. Chúng tôi đăng tải như một ý kiến của một người cầm bút nhận định về một bài viết..."

     Tại sao phải thanh minh thanh nga chớ? Có thừa thải và vô tích sự lắm không? Bài viết có chữ ký của tôi mà, tôi đâu có chạy chối đi đâu mà tòa soạn phải sợ họa lây! À, đúng rồi, phải chăng đây là một hành động "làm bậy run tay?" Vì coi kỹ lại thì bài của tôi viết không phải như vậy, mà đã bị cắt đầu xén đuôi, mổ bụng, đục khoét và vứt bỏ lục phủ ngũ tạng. Thì ra, ở chỗ này, anh Nguyễn Xuân Hoàng đã tự mâu thuẫn với chính mình, nói là bài của Nguyễn Tấn Hưng chớ thật ra đó là bài của Thế Kỷ 21 ! Phiền quá, bây giờ những ai muốn đọc nguyên bản, nhất là bạn Trần Vũ, thì làm ơn xin tìm tờ báo thân tình Sóng , số 118 ra cùng ngày, của anh Nguyễn Tăng Chương ở Toronto, mà đọc. Ðể thấy rõ sự khác biệt giữa hai bài! Ðể thấy rõ thế nào là "Tiếng Vọng..." đã không còn là tiếng vọng nữa, vì cái kết luận, bottom lines , đã bị cắt phăng đi! Và để biết rằng... không chừng rồi đây sẽ có người hiểu lầm... thì là tôi đã đứng ra đại diện cho cả nhóm Miệt Vườn, mà thật tình tôi không hề dám đại diện cho một ai hết.

     Mới đây, Cộng Sản đã in lại sách của ông Mai Thảo, nhưng đổi tựa sách và tên tác giả, ông Mai Thảo có nói trong sổ tay của Văn số 116: Vừa bực mình, vừa tức cười! Bây giờ tôi mới thật sự hiểu tâm trạng của ông lúc đó và tôi cũng bắt chước muốn nói lên một lời: Bực thiệt, tức cười thiệt! Vì sách của ông Mai Thảo coi vậy chớ trong ruột vẫn còn giữ nguyên, còn nội dung bài của tôi đã bị bóp méo, vặn vẹo. Vẫn biết rằng thiện ý của anh Nguyễn Xuân Hoàng là có thái độ hòa hưỡn cho đôi bên, nhưng tốt hơn hết anh không nên làm như vậy! Tôi không hiểu phản ứng của anh sẽ như thế nào khi một chủ báo khác sửa chữa và đăng bài nhận định của anh mà không cần hỏi ý kiến của anh? Trật con "tán" bán con trâu, sai một ly đi một dặm, trật một chữ... hư cả bài, chắc anh phải đồng ý với tôi ở điểm này! Nhất là một bài nhận xét thảo luận, rất khác với truyện ngắn truyện dài! Thà là anh nói thẳng rằng không đăng như trường hợp của chị Trần thị Bông Giấy với bài viết về ông Như Hạnh Hoàng Thụy An, Văn Uyển bộ mới, số Mùa đông 1991, thì còn đỡ xót xa hơn.

     Tuy nhiên, nói gì thì nói, anh Nguyễn Xuân Hoàng cũng giống với Nguyên Hương ở một điểm, là coi mặt mà bắt hình dong! Bài của tôi thì ảnh an nhiên tự tại cắt bỏ, đục khoét chớ còn bài của Nguyễn Hưng Quốc, Thụy Khuê, Nguyễn thị Chân Quỳnh... thì trật một chữ so với bản thảo ảnh cũng phải đính chính! Chơi như vậy thì chơi với ai? Ðó, đời nó vậy đó, bể khổ là vậy đó!

     Qua các điểm vừa trình bày, để kết luận, bây giờ có lẽ đã đến lúc người cầm bút chúng ta cần đòi hỏi các chủ báo, vô tình hay cố ý tự đánh rơi... lương tâm chức nghiệp của mình, phải có thái độ tôn trọng người cầm bút và sáng tác của họ, phải không thưa quý vị không biết cầm... cày? Riêng tôi, tôi chỉ có ba trường hợp cần nêu trên! Mong rằng, trong tương lai sẽ có những ai đó góp tay, trình bày những trường hợp đặc biệt cần xây dựng khác của chính mình! Vẫn biết rằng một người cầm bút part time như tôi đây, mà đơn thương độc mã "đụng độ" với chủ báo thì chẳng khác nào châu chấu đá xe. Nhưng vẫn phải đá! Vì để lâu quá các chủ vườn hống hách kia sẽ có cơ hội trở thành cường hào ác bá!

     Văn chương hải ngoại bấy lâu nay đã trở thành văn chương "sanh giặc," là vì bởi có nhiều lý do... không tiện nói hết ra đây. Nhưng, một trong những lý do đó là sự lạm dụng quyền thế của một chủ báo để tuyên bố và viết bài vung vít bừa bãi, không những trên bình diện chính trị mà ngay cả trong lãnh vực văn học, nghệ thuật thuần túy! Thôi, xin hãy làm ơn tốp bớt lại cho độc giả, bà con nhờ. Và riêng phần tôi, xin hãy để tôi yên, đừng ai bươi móc, chửi bới, chèn ép gì tôi nữa mà thêm phiền. Ðừng biến tôi thành "một con chim thằng chài trước bầy lòng tong lục chốt, buồn buồn thấy ai gây sự ngứa cổ mổ chơi," xin lỗi thi sĩ Xuân Diệu!

     Rồi, kể như tôi bị mất ba miếng vườn to lớn Phụ Nữ Diễn Ðàn, Làng Văn Thế Kỷ 21 , vì chắc chắn các chủ vườn mà từ lâu tôi vẫn luôn luôn quý trọng này sẽ không ngần ngại đuổi cổ tôi ra khỏi vườn! Ðành chịu vậy! Tôi đang thất nghiệp và đang hưởng trợ cấp... vợ con đây, có ông bà chủ vườn, chủ đất, chủ ruộng, chủ bưng, chủ biền nào muốn mướn tôi không, làm ơn xin lên tiếng gấp! Trước khi tôi... tịt ngòi! Cũng lại đùa thôi!

     * Xem bài góp ý của Trần Nghi Hoàng (THÔNG BIỆN TIÊN SINH) trong phần Phụ Lục.

   back to top

10. MONTRÉAL, XỨ LẠNH TÌNH NỒNG

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Montréal, xứ lạnh tình nồng! Tôi chẳng biết câu nói bất hủ này xuất phát từ đâu, nhưng, có lẽ sau lần triển lãm tranh thành công vượt bực của anh Ðinh Cường, các văn nghệ sĩ phương xa mới thấy cộng đồng "xứ lạnh tình nồng" này là cộng đồng bao gồm rất nhiều người văn hóa, văn học đầy mình. Ðang dần dần thay thế vị trí hàng đầu từ bấy lâu nay dành cho cộng đồng Hoa Thịnh Ðốn với Văn bút miền Ðông.

     Anh em bằng hữu... nộp đơn xin về đây ra mắt sách, triển lãm tranh nườm nượp, cứ rà theo các bản tin văn nghệ của tờ Nắng Mới thì rõ. Trong thời gian gần đây, theo thứ tự thời gian: Thơ Hoa Sen của Nguyễn Hữu Nhật, Chân Dung Thơ Luân Hoán của nhiều tác giả, Tiếng Chim Bên Dòng Thác Champy của Hoàng Phong Linh (Võ Ðại Tôn), sau triển lãm Võ Ðình thì đến Thành Ðô Gió Bụi của Nguyễn văn Ba, Buồn Xưa Bây Giờ của Thụy Khanh, Một Nỗi Buồn Riêng của Nguyễn Tấn Hưng, và nghe đâu đã rục rịch đến phiên một tác phẩm mới của anh Phạm Thăng. Thật là đất lành chim đậu có khác.

     Chương trình, ngày giờ và địa điểm, đều do ban tổ chức "khổ chủ" sắp xếp, lẽ dĩ nhiên. Nhưng, cái số của tôi chắc hợp với mùa thu nên hai lần ra mắt sách riêng rẽ một mình, Một Thuở Làm "Trùm" trước đây và lần này Một Nỗi Buồn Riêng đều được tổ chức vào trung tuần tháng mười. Nếu đừng tính chuyện... lỗ lã thì mọi sự cũng đẹp đẽ tuy có chút man mác buồn như lá vàng đong đưa trên cành! Vả lại, nếu trời có lạnh lạnh thì bà con cô bác đồng hương ta mới tra thêm áo ấm, khăn len rực rỡ sắc màu phù hợp với cõi đất trời đang trở mình với muôn hồng nghìn tía! Chớ còn cái quan niệm của anh Võ Thắng Tiết, giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ , cho rằng tháng mười là... tháng bàng dân thiên hạ ăn xài sang, tiện cho việc bán sách, thì hình như không có một chứng minh cụ thể nào hết.

     Mọi việc tiến hành trôi chảy, thuận lợi như bạn bè đã bắn tin. Thiệp hồng và bích chương cũng đã phân phối đi khắp mọi nơi, cho nên bổn phận của bọn tôi là phải chăm lo một vài việc cần thiết trước khi lên đường. Như xe cộ cho đường xa xứ lạ và chỗ ở làm nơi tá túc qua ngày. Xe cộ thì may quá, bà xã tôi vừa mua xe mới, Toyota Corolla. Còn nơi tá túc thì bằng hữu cũng đã cho biết phải... tự lo lấy như trước đây Thụy Khanh, Nguyễn văn Ba, Võ Ðình và phái đoàn của anh đã làm. Well, để khỏi làm phiền bạn văn ta đang cần sự yên lặng nghỉ ngơi sau hồi "hậu Võ Ðình" với thơ rơi và cãi chính, tôi tìm đến bạn lính... tàu, vợ chồng Phan Thế Hậu, bạn cùng Khóa 17 Sĩ quan Hải quân Nha Trang của tôi. Nói nào ngay bạn hiền ta không phải mới tiếp đón văn nghệ sĩ lần đầu, vì trong kỳ du hành sang Mỹ quốc vừa qua, chị Nguyễn thị Vinh và cũng đã từng được gửi gấm, ăn nhờ ở đậu tại đây. Rồi, như một thông lệ, bà xã tôi mang theo quà cáp lỉnh kỉnh và tôi, cũng theo một thông lệ khi vượt biên giới phía Bắc, xách theo cặp cognac. Lần này không có cô em của bà xã đi theo vì đã bận đi Tây trong kỳ hè, xài hết vacation rồi. Thôi thì, kể như hai vợ chồng son đi hưởng tuần trăng mật vậy. Lộ trình kỳ này xem ra cũng dễ dàng hơn nhiều nếu đem so với lộ trình do Phan Ni Tấn chỉ vẽ kỳ trước, lúc đi phó hội làng văn ở Toronto. Nhìn chung, tất cả đều như xuôi chèo, mát mái...

     Làm y chang như kỳ đi phó hội, bọn tôi ghé lại nhà anh chị đồng hương Phan văn Quang. Tuy nhiên, lần này chỉ có vợ chồng Thúy Minh và Trần Long Hồ đến nhập tiệc thôi, không thấy bóng dáng chị Nguyễn thị Hoàng Bắc mặc dù đã được gia chủ cẩn thận mời (chắc đang ưu tư, phiền muộn vì nỗi thơ rơi!). Lại cá nướng, cá trào biển (sea trout) chớ không phải cá chẻm (whiting fish) như lần trước, cuốn bánh tráng rau sống để nhậu lai rai. Có điều đáng nói là lần này không cuốn bằng bánh tráng miền Nam mà lại dùng bán tráng miền Trung, bánh tráng của ông Võ Phiến đó, do Thúy Minh (dân múa roi đi quyền) mang lại. Theo tôi, bánh tráng này dầy gấp bốn gấp năm lần bánh tráng miền Nam, nếu nhúng nước sơ sơ thì ăn vừa giòn vừa dẻo, còn nếu nhúng kỹ quá thì nó dính ngoẹo, gỡ không ra. Cơm canh, cá chưng, thịt kho vẫn là món ăn dằn bụng sau cùng.

     Bỗng có người đề nghị đến nhà Trần Long Hồ uống trà, tiện thể xem cái villa mới cất. "Ừa, có lý đó," đi sớm về sớm đặng... ngủ sớm lấy sức cho 10, 12 tiếng lái xe đường trường ngày mai. Cũng không xa lắm, mới quanh quanh quẹo quẹo độ năm mười phút thì đã đến nơi rồi. Bên ngoài nhìn vào, ngôi nhà to lớn quá, tôi cứ tưởng như đó là một building của một trường đại học. Bước vào bên trong lại càng thấy to lớn, đồ sộ hơn với những cầu thang vòng quanh như trong điện Versailles, điện Cẩm Linh. À, hãy làm một màn "tham quan" lâu đài tình ái vậy. Từng trệt, từng trên, từng dưới basement, chỗ nào cũng rộng rãi, khang trang, ngăn nắp như để trưng bày làm cảnh chớ không phải để ở. Bước ra vườn sau lại nguy nga tráng lệ hơn với một cái patio rộng lớn, nối liền với một hành lang dài dẫn ra ngôi nhà hóng mát, ngắm trăng hình bát giác giống giống như lầu ngoạn cảnh... trong phim Thái Bình Công Chúa. Ðêm đêm ra nơi này ngồi viết văn làm thơ thì có lẽ ý, từ tuôn ra lai láng. Phải chi có "bà già trầu" Hồ Trường An ở đây để bả ngoáy bút ngọc, vọc bút vàng thêm vài cuốn tiểu thuyết đồng quê nữa!

     Phòng uống trà là một phòng trang trí theo lối Nhật. Nghĩa là trống lổng trống trơn, ngoại trừ một bàn trà cẩn xa cừ đặt ngay chính giữa và nhiều gối vuông màu trơn, xanh đỏ đen trắng, để kê đít ngồi xếp bằng xuống mặt sàn nhà. Như những kẻ tọa thiền. Thiết quan âm kỳ chưởng là tuần trà đầu tiên. Vị đậm, bùi nhưng thơm gắt. Trà xanh là tuần trà kế mà cũng là tuần trà chót. Vị ngọt, thanh và thoang thoảng hoa lài. Hình như cách pha càng cầu kỳ thì trà càng ngon, theo ý tôi. Nhưng tôi không đồng ý với Trần Long Hồ là những loại trà... mắc tiền kia, bốn năm trăm đồng một cân, không làm người uống mất ngủ. Với tôi, bất cứ trà nào cũng có mang chút chút chất vị "Thái Ðức" ở trong đó, nếu không mất ngủ vì chất càféin thì cũng mất ngủ vì bận đi tới đi lui xả bầu tâm sự.

     Bởi vậy sáng hôm sau, sau một đêm mơ mơ màng màng, vừa lái xe ra khỏi vòng đai thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, thẳng một mạch tới thành phố Baltimore, chun qua khỏi đường hầm vài ba dặm, Bay Tunnel, là tôi bắt đầu... ngủ gục. May phước là đoạn đường I-95 từ Baltimore lên Wilmington, Philadelphia dễ chạy, vắng xe nên tôi để bà xã lái thay. Chỉ cần một hai tiếng thôi là tôi sẽ tỉnh lại ngay. Ðặng lãnh phần dò đường vào New Jersey Turnpike và bắt qua Garden State Parkway để khỏi phải băng qua khu Newark, New York đông người và rắc rối. Mà lạ quá, vận tốc tối đa của những tiểu bang văn minh tân tiến nhứt nhì nước Mỹ, tiểu bang New Jersey và New York, mà vẫn còn ghi 55 dặm chậm như rùa bò. Kẹt quá! Nhưng chẳng sao, cứ núp bóng tử thần, ai chạy tới đâu thì mình chạy theo tới đó. Mà thử hỏi, có ai chạy dưới 70 dặm một giờ đâu? Ngay cả những đoạn ghi vận tốc tối đa là 45 dặm trên Garden State Parkway cũng vậy! À, mà dưới hai số 45 đó còn có ghi thêm hai chữ "Conditions Permitted" thì nghĩa là sao đây? Chưa từng thấy ở các tiểu bang khác? Ối, hơi sức đâu thắc mắc, cứ phải nối đuôi xe trước như vịt theo bầy, chớ chạy đúng theo vận tốc ghi trên bảng thì xe sau sẽ tông vào... lái của mình mất!

     Lúc lên đèo, bắt qua I-87 thì coi như đi được nửa đường, tìm chỗ nghỉ xả hơi ăn cơm tay cầm. Tội nghiệp chị Quang đã làm sẵn một mâm cơm canh bảo phải mang theo (không phải mâm son thếp vàng gì đâu mà chỉ là một mâm nhựa, plastic tray) và nhứt là mấy cái bánh tráng mè nướng gấp trong microwave giờ đây mới... "quí lắm" như chị nói. Ðoạn này xe cộ cũng thưa thớt, vắng vẻ và chỉ thẳng một lèo, không quanh quanh quẹo quẹo nên tôi lại để bà xã lái thay một đỗi khá xa lên gần đến tận thành phố Albany. Bả có cái tật lớn hễ mỗi khi cầm vô-lăng thì mở băng nhạc Việt Nam, nghe rầu thúi ruột. Nhứt là trời đang mưa rỉ rả bên ngoài, tôi than thầm trong bụng cho buổi ra mắt sách ngày mai. À, mà người Việt mình sao lại ưa chuộng và thích hát nhạc buồn ghê hả? Nhứt là những bản nhạc tình dang dở, lao đao lận đận! Lũ con tôi hình như chưa cảm nổi với nhạc Việt Nam cũng bởi cái đặc điểm hơi đau thương đó và cũng vì hằng ngày, những bản nhạc top ten của Mỹ mà chúng thường nghe, có bao giờ kết hợp bằng những nốt u trầm, réo rắt như vậy đâu. Toàn rock and roll với métallic... Âu cũng là một điều khác biệt rất lớn giữa hai nền văn hóa và giữa hai thế hệ trẻ già. Cho đến bây giờ, mỗi sáng đi làm, tôi vẫn không đủ can đảm để nghe những băng nhạc Việt Nam, những băng nhạc rên rỉ hình như chỉ thích hợp với cảnh về chiều.

     Khi tôi vượt qua biên giới thì trời đổ mưa tầm tã, nhân viên kiểm soát hỏi qua loa: đi đâu, làm gì, có chở thuốc lá và rượu Mỹ trên xe không... Thằng Tây con cười ngặt ngoẽo khi tôi phát âm tiếng Longueuil, tên thành phố sẽ đến, theo giọng North Carolina chớ không phải giọng "Québec... còi" của nó và khoát tay cho đi lẹ lẹ để khỏi cản đường phi lộ cho những chiếc xe đang tới tấp, ùn ùn chạy đến phía sau. Rồi, lại phải tàng tàng nối đuôi theo dân Canadien, trên 100 cây số giờ hiển nhiên, đến vùng nam Montréal dọc theo sông St. Laurent. Theo lời chỉ dẫn của bạn hiền Phan Thế Hậu: Cứ lấy đường 123 hướng về Québec, lấy sortie (exit của Mỹ) 15 vào Longueuil, và liền theo đó, lấy sortie đại lộ Lafayette, nhà tao gần đó...

     Làm đúng y bon như lời dặn, không trật một ngõ quẹo nào mặc dù đã vào đêm, 8 giờ tối, gõ cửa nhà đứng đợi. Và phút giây huynh đệ chi binh, hội ngộ trùng phùng của sau 24 năm, gần một phần tư thế kỷ, chợt đến:

     - Ô, mầy đó hả Hậu, sao tóc mầy bạc phơ hết vậy mậy?

     - Bây giờ tao mới nhận ra mầy! Mấy tấm hình in trên bìa sách trông mầy lạ hoắc! Ðồ đạc nhiều không, để tao ra xách phụ! Vô đi, vô nhà đi chị...

     Và hai bà xã gặp nhau, tay bắt mặt mừng, vì cũng là đồng hương, đồng khởi... chạy loạn, kẻ ở An Hóa người ở Ba Tri cùng thuộc tỉnh Bến Tre.

     - Nãy giờ thằng nào gọi tao tao cũng biểu tụi nó cúp hết, tao sợ mầy gọi tới bất tử! Ê, giang sơn của hai vợ chồng mầy bây giờ là nguyên căn gác xép đó!

     - Ngon lành ha, xong ngay!

     Tôi chưa kịp tắm rửa nghỉ ngơi thì độ mười, mười lăm phút sau thì bạn bè kéo tới, anh tám Lê Quang Xuân (nhìn bà con với bà xã tôi từ hồi phó hội làng văn ở Toronto), anh Lưu Nguyễn, chị Nguyên Ngọc và anh Nguyễn Ðông Ngạc, anh Vũ Ngọc Hiến... Bàn chuyện ngày mai, trong khi lai rai ba sợi với nem chua, chim cút quay, và món thịt khìa do các bạn mang tới. Rồi đến bún bò Huế. Một tô cho khách phương xa (thôi tội quá, hãy xem như người nhà) trước, còn ai muốn ăn thì phải lăn vào bếp... Vậy mà, chẳng mấy chốc đã đến nửa đêm, phải tan hàng. Thời gian qua mau tại vì mọi thứ đều quá thân tình, vui vẻ, ấm cúng.

     Sáng ngày sau, rõ ràng hoàng thiên đãi ngộ kẻ khù khờ, sau cơn mưa trời lại nắng. Một ngày đẹp trời, lạ quá! Tất cả bèn hẹn nhau ra Phở Hòa ăn điểm tâm. Gồm có anh tám Lê Quang Xuân, anh chị Luân Hoán, anh Lưu Nguyễn, anh Hồ Ðình Nghiêm tặng cho Tờ Mộng Rách Rồi chưa kịp vá, chị Khiếm và Phan Ni Tấn cùng với cu Lân, vợ chồng bạn hiền Phan Thế Hậu, chị Duyên và anh Võ Kỳ Ðiền... Chỉ có người viết trẻ (nhỏ hơn tôi tròn một con giáp) ít khi cười Hồ Ðình Nghiêm và chị Duyên mảnh mai hòa nhã đang nổi tiếng hơn cả hai anh Ðiền, Võ Bá Ðiền và Võ Kỳ Ðiền, là hai người bọn tôi mới gặp lần đầu tiên. Lại chào hỏi, vui vẻ chuyện trò.

     Xong xuôi đâu đó, nguyên phái đoàn kéo nhau qua tiệm sách Trung Việt của anh Trần Nhã Nguyên (Nguyễn thị Sông Hương). Ðược dịp thâu tiền, mấy quyển Một Dòng Ca Dao Câu Hò Câu Ðố Miền Nam đã gửi bán trước đây. Hết sạch! Cũng như hết sạch các tựa sách khác của Nguyễn Tấn Hưng, mà vẫn không chịu order thêm. Tội thiệt, định ém tài người viết mới... nổi hay sao đây? Anh tám Lê Quang Xuân gỡ tấm ảnh lớn treo trên tường tặng ngay tại chỗ, hình chụp dòng Tiền Giang từ Cầu Tàu ngó qua cồn Thới Sơn. Thỉnh liền, trước khi khổ chủ đổi ý!

     Rồi tất cả cùng vòng lên núi thăm nhà thờ có tiếng là linh thiêng, nhà thờ St. Joseph. Nếu đi ngã trước thì... mỗi bước mỗi quỳ và cầu nguyện cho đúng nguyên tắc, còn vô ngã hậu liêu như phái đoàn ta đang làm thì cứ theo một hành lang thiệt dài, sâu hun hút với dẫy đầy những kệ tam cấp nho nhỏ chứa hàng ngàn ngọn đèn cầy lung linh trong những lọ ve chai bông hoa màu đỏ... Tuy không linh thiêng đến nỗi "ước gì có nấy," nhưng, qua kinh nghiệm của nhiều người trong đó có cả anh tám Lê Quang Xuân, nếu như mình có lòng thành nguyện cầu thì trước sau gì cũng được toại nguyện. Tôi thắp ngọn nến của mình và thành tâm cầu nguyện nhiều điều, cho đất nước quê hương, cho gia đình thân tộc, và cho riêng tôi: buổi ra mắt sách kỳ này được thành công. Vợ tôi cũng làm tương tự như vậy nhưng tôi không biết là đang cầu nguyện những gì. Giờ, phải lên từng trên để đến xem trái tim không rữa, màu hồng nhạt, lồng trong khối thủy tinh vuông vức. Một trái tim bồ tát! Có khác gì với trái tim bồ tát Thích Quảng Ðức của Việt Nam? Tôi chưa thấy nên không biết! Lại lên từng trên, từng trên nữa bằng những đoạn thang máy, để ra bao lơn phía trước ngắm nhìn thành phố Montréal trong nắng mai lành lạnh chớm thu! Nên thơ? Và xa kia, cái building hình vỏ sò khép kín, một thời là trung tâm của Thế vận hội, đang rực rỡ khoe mình! Ðẹp đẽ? Rồi dòng St. Laurent lừ đừ trôi dưới những chiếc cầu bắc ngang đây đó! Tình tứ? Nào có ai hiểu được lòng mình!

     Chia tay nhau tại đây và trên đường về vợ chồng tôi ghé qua cư xá anh tám Lê Quang Xuân. Bước vô nhà của người ảnh thì đâu đâu cũng thấy... ảnh nghệ thuật. Trên tường, mặt bàn, và kệ sách. Rồi cây kiểng, bông hoa, quả trái dùng làm... mẫu. Gặp chị Tám lần đầu. Không nhởn nhơ phè phỡn như anh Tám, chị đang bận túi bụi: xỏ xâu mấy cái hột bẹt. Tánh chị xuề xòa, rộng rãi và có lẽ... sang hơn anh Tám mấy bực. Vì vừa mới gặp nhau mà chị không ngần ngại tặng luôn cô em là bà xã tôi một xâu chuỗi hột bẹt nước, thứ thiệt dĩ nhiên, đeo vào mát lạnh cả cổ.

     Chiều xuống, tất cả dồn về trung tâm De la Peltrie để chuẩn bị cho một đêm hợp mặt. Những người trong ban tổ chức chắc phải đến sớm hơn để căng biểu ngữ, xếp bàn ghế. Dụng cụ âm thanh, loa, đờn guitar, đờn violin, đờn kìm, đờn gáo, keyboard thì do nhân viên các ban nhạc lo. Ai cũng có nhiệm vụ nấy. Riêng gia tài của Nguyễn Tấn Hưng, hai thùng sách, thì hai vợ chồng tôi cụ bị tới... Sắp đến giờ khai mạc, tôi mừng thầm vì bạn bè và thân hữu đến chung vui có mặt đông đủ, như anh chị Bắc Phong, chị Ðỗ Quyên (Chân Huyền) và anh Ðỗ Quí Toàn, bác sĩ Nguyễn Minh Ðức (quay phim video), anh chị Hoàng Xuân Sơn, anh Hồ Ðình Nghiêm, anh tám Lê Quang Xuân, chị Phước và anh Lê Tấn Lộc, anh chị Luân Hoán, anh Lưu Nguyễn, anh chị Nguyễn Ðông Ngạc và cụ bà thân mẫu của anh, anh Nguyễn Hữu Chung, chị Anh Thơ đi riêng một mình vì anh Phạm Nhuận còn kẹt công việc ở bên Tây, chị Khiếm và anh Phan Ni Tấn, vợ chồng bạn hiền Phan Thế Hậu, chị Hoàng Kim Uyên và anh Trang Châu, cô dượng Trần Ðình Thám đến từ thành phố Ottawa, anh Trương Bảo Sơn, anh Song Thao, chị Duyên và anh Võ Kỳ Ðiền, anh Vũ Ngọc Hiến... Ðược biết thêm người vẽ và điêu khắc Phạm Thế Trung ở Toronto cũng định đến chơi nhưng sáng ngày đi thì bị trộm viếng gian phòng trưng bày, Art Master's studio, nên đình lại. Chị Hương ở Hamilton, chủ quán phở Ngy (người yêu viết tắt?) bên Bến Tre, em của anh tám Lê Quang Xuân, từng dự đám cưới hai đứa tôi hồi ở Việt Nam vừa mới liên lạc được, cũng hoãn lại vì tình hình không cho phép. Ðến bạn cùng khóa hải quân 17, Mạc Công Hiếu, cũng kẹt làm bù ngày thứ bảy... Tuy nhiên, điều đáng nêu là có lẽ nhờ ông Thánh Joseph phù hộ, cho nên đồng bào lần hồi đến khá đông, hết chỗ ngồi phải đứng dựa vào vách...

     Ðàn anh Lê Tấn Lộc là người điều khiển chương trình đêm nay, anh lần lượt mời Lưu Nguyễn nói đôi lời chào mừng quan khách và tác giả và Võ Kỳ Ðiền nói về tác phẩm. Trong phần nói về tác giả anh Lưu Nguyễn nhắc đến bà xã tôi bằng những từ ưu ái, "nhà văn nữ Hồng Lan," mặc dù mới viết được chỉ năm bảy truyện ngắn, làm bả ngại ngùng bấm tay tôi đau điếng. Trong phần nói về tác phẩm, với chủ đề Con người và Bút pháp của Nguyễn Tấn Hưng qua "Một Nỗi Buồn Riêng" , anh Võ Kỳ Ðiền nói hay lắm, nêu lên nhiều điểm mới lạ mà chính tôi cũng không ngờ tới. Một vài chỗ anh nói hăng quá, trung thực quá với những gì anh nghĩ đâm ra ... lạc đề (dò lại không thấy trong bài đã soạn sẵn), như: "... ông Trùm nói ông Trùm ăn hối lộ, ông Trùm đem tiền về cất đi phân nửa còn phân nửa đưa chỉ huy trưởng." "Báo hại," sau mấy lời cảm tạ của tôi và chuyển sang phần giải lao bán sách, mười cuốn Một Thuở Làm "Trùm" đi đong trong nháy mắt, nhiều người đến sau hỏi không có! Hóa ra anh Võ Thắng Tiết, giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ , không có hoa tay... quảng cáo, cần phải liên lạc và nhờ anh Võ Kỳ Ðiền chỉ vẽ cho! Và riêng tôi cứ tưởng là sau đôi ba năm ròng rã, mọi người chắc đã biết ít nhiều về tác phẩm này, chắc đâu còn ai ngó ngàng nữa mà phải đem theo đôi ba chục! Ai dè, trật con "tán" hụt mối bán được "con trâu!"

     Ðã vậy, anh Võ Kỳ Ðiền còn đề cập đến vấn đề "Nguyễn Tấn Hưng, trong tác phẩm, nói tiếng Mỹ trơn tru như nói tiếng Việt" nữa chớ! Chết cha, cái điệu này kẹt dữ! Tại vì, tự bản thân tôi tôi biết, mình hay nói chớ không phải nói hay. Nói trật dài dài, bạn bè lâu lâu cứ nhắc nhở hoài hoài đó chớ. Vừa rồi, hai anh Thông Biện Tiên Sinh và Nguyễn Tăng Chương có nhắc những chữ sai chính tả feeling thay vì fealing recommended thay vì recomended trong bài tựa của Dr. Clifford (quyển One Time As An Intelligence Officer ), và mới đây, anh Anh Vân cũng bảo tornado thay vì tonado gạt cần... air-conditioner chớ không phải gạt cần... air-conditioning trong truyện Một Nỗi Buồn Riêng . Trời đất, đã quên chạy các chương trình document work bench , kiểm soát đánh vần và cú pháp, của AT&T rồi. Ðó, nói nhỏ bà con nghe chơi chớ đừng nói lớn quá rủi có ai đó xấu mồm, ưa vạch lá tìm sâu, lại đưa Nguyễn Tấn Hưng lên bàn mỗ nữa thì thêm phiền. Chờ khi nào tái bản, chắc phải đến bão lụt năm Thìn lần thứ hai, thì tôi sẽ sửa lại vậy! Và, ở đây, không quên cám ơn các bằng hữu đã chỉ cho những điểm sai hơi trật trờ ấy!

     Mà thôi, hãy bỏ qua những chuyện trật trúng đó đi, bàn qua chuyện văn nghệ văn gừng coi bộ sướng hơn. Mở đầu chương trình tạp lục chị Tiểu Thu mới xuất hiện lần đầu ở Montréal do trưởng ban nhạc Trương văn Tuyên lăng-xê ca hai bản được khán giả vỗ tay quá xá! Kế đến, chị Nguyên Ngọc, vợ của anh Nguyễn Ðông Ngạc chớ không bà con gì gì với nhà văn bên kia chiến tuyến hết, trình bày bản Nắng Hạ Thu Về Trong Mắt Em . Anh Ðào Trọng Quyền, sau ca khúc chính, cũng đã hát tặng Nguyễn Tấn Hưng bài Thủy Thủ Và Biển Cả . Rồi đến phiên tôi đáp lễ, "tự biên tự diễn" bài Hè Nhớ viết theo điệu Boston . Chuyển qua phần cổ nhạc, anh Ba Trực ca một bài Xàng Xê có tựa đề là Ngũ Vân Thiệu Bị Vây (không phải Nguyễn văn Thiêu như anh muốn nói rõ hơn) và một bài Hoài Tình để tặng Nguyễn Tấn Hưng có nhan đề là Một Nỗi Buồn Riêng... Của Tôi . Ý cha, anh ba lại muốn chơi trội hơn đàn em nữa rồi! Bởi, sau màn "tự biên tự diễn" của tôi thì anh chạy theo... kết liền:

     - Chú em ca tân nhạc được thì phải ca cổ nhạc được (miệt vườn biện chứng có khác!). Một lát nữa lên ca nghen, bài gì cũng được, hổng lên tui giận à!

     Kẹt dữ ha! Ảnh lại lên dây thiều cho tôi bằng cách đổ dầu... với nửa lon bia Labatt, bia Canada. Ừa, lên thì lên, không thiện nghệ thì cũng cứ... cương ẩu vậy. Tôi bèn lấy sáu câu nhịp tám Sáu Lầu có nhan đề Quan Vân Trường Thọ Nạn viết trong truyện ngắn Ðưa Dĩ Vãng Vào Lãng Quên của tập Một Nỗi Buồn Riêng đem ra ca luôn! Tôi mới bắt giọng với bác trưởng ban nhạc, người đạp xông-lang hiển nhiên, một câu đầu ( Khi ba nước tranh... cường ) thì ổng nhận ra ngay: À, cái bài Năm Nghĩa ca đó mà! Nhưng tôi giao điều kiện trước, "nhạc phải chơi theo lời" ... ca mới được! Xong, chẳng biết có hay ho gì không mà nhiều người vỗ tay ủng hộ quá chừng. Làm cổ nhạc như đang được mùa, một người lính tàu ngày xưa, anh Ngọc Ẩn mới từ Ottawa xuống, lại tiếp tục đưa làn hơi ấm tặng Nguyễn Tấn Hưng (sao mà tặng nhiều thế!) bài Xuân Tình có tựa đề rất quen thuộc là Lương Sơn Bá, Chúc Anh Ðài và làm luôn sáu câu Thầy Tử Lộ Ðội Gạo ... Trở lại phần tân nhạc, chị Hoàng Kim Uyên, vợ của anh Trang Châu, trình bày hai bản Mắt Biếc Bài Không Tên Cuối Cùng . Tiếp theo, bạn thơ Hoàng Xuân Sơn nhà mình vừa đờn vừa hát bản ruột. Rồi sau đó là anh Nguyễn Hữu Phúc trình diễn để kết thúc chương trình.

     Mọi người ra về với vẻ lưu luyến vì những tưởng chương trình văn nghệ sẽ còn kéo dài hơn nữa, nhưng phe ta đã phải cho ngưng sớm, để còn cùng nhau kéo về quán La Vietnamiene của anh Trang, anh của anh Trang Châu, ăn tiệc hợp bạn. Bây giờ chỉ còn lại những người nặng lòng với (hoặc có bổn phận... ngó chừng) các ly cognac, gồm có anh Hồ Ðình Nghiêm, anh chị Lê Tấn Lộc, anh tám Lê Quang Xuân, anh Lưu Nguyễn, anh Nguyễn Hữu Chung, anh Nguyễn Ðông Ngạc, anh Ngô văn Nhàn mới nhìn đồng hương với bà xã (dân Tân Thạch, Cầu Cống số 3), anh chị Võ Hoàng Hiển (cũng là dân AT&T, nhưng bây giờ có hãng riêng), chị Anh Thơ thay mạng cho người thơ Phạm Nhuận, anh chị Khiếm và Phan Ni Tấn kể cả cu Lân, vợ chồng bạn hiền Phan Thế Hậu, anh Song Thao, anh chị Hoàng Kim Uyên và Trang Châu, anh chị Duyên và Võ Kỳ Ðiền... Món ăn lai rai gồm có soup cua, gỏi chua, chim cút quay, tôm hùm xào chua ngọt, cơm, canh chua, cá doré chiên... Bạn ta đấu láo chuyện làng văn, làng... võ đến gần ba giờ sáng, ngất ngư con tàu đi mới chịu về. Nhìn chung, đêm ra mắt sách lần này thành công, cám ơn ông Thánh Joseph đã hỗ trợ, đáp ứng lời nguyện cầu của tôi.

     Qua ngày sau, chúa nhật, có quyền ngủ dậy trễ. Vì đã "còm-măng" trước, cho nên đến trưa Phan Thế Hậu đưa vợ chồng tôi tới thăm anh chị Võ Kỳ Ðiền. Nhà anh chị cất theo lối split foyer , phân nửa basement chìm sâu dưới mặt đất, trông rất khang trang, bề thế nằm trong khu vực yên tĩnh có vẻ... nhà giàu. Nhất là cái phông vườn sau ngó ra cái sân vận động mênh mông, cỏ xanh mượt mà cắt sát mặt đất trông như trải thảm, mát mắt làm sao! Chiều chiều, bạn bè dăm ba người ra đó uống trà, ngắm trăng, làm thơ thì hết sẩy. Trong nhà ngăn nắp, sạch sẽ, kỹ lưỡng (nhất là khu... thư viện dưới basement) đúng theo điệu... ông Ðồ. Ðặc biệt đâu đâu cũng có những chậu kiểng, hoa lá cành. Bà xã tôi bắt mắt với những cánh hoa dáng như tim... chưa vỡ, mới rỉ máu thôi, bên Mỹ này gọi là bleeding heart . Thực ra, loại hoa này màu mè và rực rỡ hơn bleeding heart vì cao lớn và có bông kép xếp hàng ngang từ lớn tới nhỏ trên một ngọn, trong khi bleeding heart nhỏ như cây bông móng tay và ra bông chiếc. Chị Duyên cắt cho ba xã tôi mấy nhánh bảo ngâm nước cho ra rễ rồi đem trồng. Dễ lắm, như chị đã có kinh nghiệm lúc xin một nhánh từ nhà anh Nguyễn Hữu Chung. Sau khi chụp vài pô hình kỷ niệm, anh chị Ðiền dẫn ra nhà hàng tàu Tong Por đãi ăn trưa. Bà xã tôi phụ với chị Duyên "đi chợ" một bữa sao mà ngon miệng quá xá cỡ. Cũng chẳng cao lương mỹ vị gì ngoài soup cua, tôm hùm ram, cá doré (hay dô-rát mà Hồ Trường An thường gọi?) chiên xối nước sauce chua ngọt, cua lăn bột chiên, tàu hũ chiên dồn thịt, mồng tơi con (cọng nhỏ như giá alfalfa) xào dầu hào...

     Lúc trở về nhà thì lại có tin mừng. Thằng bạn nối khố thời trung học, Nguyễn Xuân Ðiệp, rời Mỹ Tho vào cuối năm đệ tam 1962 để lên Sài Gòn, vừa mới từ Houston qua Montréal thăm gia đình bên vợ, thấy bích chương quảng cáo ra mắt sách có đề tên Nguyễn Tấn Hưng, đoán chắc là tôi không còn ai khác nữa! Nhất là có phụ đề... cựu sĩ quan Hải quân khóa 17 Nha Trang. Bèn hỏi thăm người nhà, em vợ, lại không ai xa lạ mà chính là chủ bút tạp chí Nắng Mới Vũ Ngọc Hiến! Kể cũng hi hữu đó chớ! Ôi, 30 năm qua, giờ mầy tao gặp lại, biết bao nhiêu kỷ niệm thân thương trở về, thời thất lục ngũ tứ...

     - Tao đọc Duyên Tình Ðêm Trăng Tỏ đoạn mầy tả chùa Vĩnh Tràng bỗng rơi nước mắt, không đọc được nữa... Tao biết thế nào mầy cũng viết về tụi mình! Tao sẽ chạy lại đằng đó gặp mầy ngay!

     Viết về tụi mình, thiệt vậy à? Ðừng có tiết lộ bí mật nhiều quá! Ðoạn nào có mầy, đoạn nào có tao? Sao không nghĩ đó chỉ là hư cấu? Bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra ở chùa Vĩnh Tràng, bến Tắm Ngựa, chợ Cũ, cầu Quay... Hoặc ở các lớp trung học của trường Nguyễn Ðình Chiểu vào cuối thời Ðệ nhứt Cộng hòa, với những bạn đồng môn cùng trang lứa. Trong số những đứa tài hoa, đã từng được học bỗng du học ngoại quốc sau khi đậu Tú Tài phần hai như Lâm Trí Minh, Nguyễn Thành Châu, còn có một... Quách Tinh Văn mà tôi đã nhắc trong truyện ngắn Vào Lính , tập truyện Một Ðời Ðể Học , nghe đâu bây giờ thuộc thành phần thân Cộng, đã từng bị... bề hội đồng ngay ở chốn "xứ lạnh tình... chẳng nồng với bọn Việt gian nằm vùng" là Montréal đây. Cho đến non nước này mà vẫn chưa sáng mắt ra sao, bạn?

     Chiều đến, lại lai rai và văn nghệ bỏ túi tại nhà Phan Thế Hậu với Lê Quang Xuân, Lưu Nguyễn, anh chị Nguyên Ngọc và Nguyễn Ðông Ngạc, và Ngô văn Nhàn. Ðổi món, tả-pín-lù cuốn rau sống bánh tráng. Và thêm món mới, "lòng bò(tàng ong) xào... theo kiểu Tàu" mà bà xã tôi học của ai đó ở Winston-Salem giờ đem ra truyền lại (lần này bả lại học được cách làm nem chua của chị Hậu). Nhưng không thiếu món chim cúc quay, hình như đã được quay... cả rổ để dành ăn dần hay sao không biết nữa... Và lần đầu tiên nghe một giọng ca nữ tài danh, giọng ca Nguyên Ngọc, thích và hát nhạc của Nguyễn Tấn Hưng, bài Tiễn Anh Về Biên Khu làm lỗ mũi tôi nở bự như trái mận hồng đào!

     Ngày mai, nào ai biết được ngày mai? Nhưng bạn hiền đã nhắn nhủ:

     - Tụi mình còn nhiều chuyện để nói! Mai tao xin nghỉ một ngày, mầy phải ở lại chơi! Tao sẽ dẫn mầy đi viếng chợ Tàu...

     Phố Tàu ở đây tuy nhỏ nhưng cũng có một hai cái cổng đình, mái ngói sơn son thếp vàng... giả, một vài ngõ ngách lát gạch đỏ thay vì tráng nhựa. Ngoài ngôn ngữ chính là tiếng Pháp, phần lớn các thương chủ người Tàu đều biết nói tiếng Việt, tiếng Mỹ nên cũng đỡ. Trong lúc chị Hậu và bà xã tôi đi rửa hình đêm ra mắt sách và mua sắm lặt vặt, thì Hậu và tôi lang thang trên hè phố. Bỗng có tiếng chào:

     - Anh Hậu!

     - Ủa, em làm ở đây à?

     - Dạ, chỉ mới mấy tháng thôi!

     - Ðây là ông Trùm Nguyễn Tấn Hưng...

     - Ồ, ông Trùm hả, vậy vào đây chơi, em mời, để em chạy đi lấy cà phê trước nghen!

     - Rồi, cái thằng mới gặp ông Trùm thì đã quên hết anh em! Mầy làm tao quê xệ mậy! Mà chắc cái số của mầy chưa được ăn "tỉm sấm" Hưng ơi, thôi thì cứ vô đây ăn phở, ăn bún, ăn cái gì thì ăn...

     Hóa ra, trên cõi đời mênh mông này, tôi còn có một số độc giả rất thân tình... ái mộ! Thắng, Bùi Ngọc Thắng ở tiệm La Saigon Crystale, tôi biết được tên em khi ký những dòng lưu niệm trong sách. Nghĩ cũng nên mừng thầm và lấy đó làm niềm vui, niềm an ủi lớn lao cho người cầm bút nói chung mới đúng, khi đặt bút viết những gì mình muốn gửi theo cánh nhạn bốn phương...

     Sáng ngày, bạn hiền Phan Thế Hậu đã đi làm từ sớm, hãng máy bay Canadair. Bọn tôi lặng lẽ thu dọn hành trang rời căn gác xép lên đường về cố quốc. Chị Hậu không quên gửi theo một mớ bánh mì... Ba Lẹ mới nướng giòn rụm để ăn trên xe dọc đường. Trước khi vẫy tay giả từ, tôi nhìn lại căn nhà của bạn lần chót và nhủ thầm: "Ngôi nhà kia tuy hơi cũ, nhưng bên trong có chứa lắm Phật vàng."

     Cuối ngày, cuối đường ở phía bên này nước Mỹ, bạn văn người đẹp Nguyễn thị Thanh Bình và Hoàng cũng đang chờ đợi, đón tiếp bọn tôi. Bước vào nhà thì cũng lại... nhập tiệc ngay với món cháo thập cẩm (không thua gì cháo thập cẩm nổi tiếng ở chợ Thái Bình đâu nghen!) lấy sức cái đã, rồi mới lai rai với tôm thịt bò nướng vĩ tại bàn (không thua gì trong tiệm ăn Nhựt, Kobé, của Nguyễn Tấn Ðời!). Chà, chuyến này lại tính... làm sang đây chắc...

     Có lẽ không riêng gì những người trong cuộc trong chuyến đi này, mà luôn cả các bạn ở những phương trời xa khác, như Lê Bảo Trân, Lê văn Lân, Hoàng Du Thụy, Hồ Trường An (để không còn... mường tượng đến một thành phố nào nữa, bằng cách rời Troyes cất bước ra đi), Hứa Hoành, Phạm Bội Ðiệp, Phạm Thăng, Trần Quán Niệm, Sĩ Liêm, Xuân Vũ... có nhã ý muốn tôi viết lại một vài kỷ niệm để đọc chơi! Thì đây, hẵng đọc chơi cho vui vậy! Và những mong không ai trách phiền nếu đã bị Nguyễn Tấn Hưng "đụng chạm!" Mà nếu lỡ có ai đó hờn giận vì một điều gì thì làm ơn xin bỏ qua giùm cho, cám ơn lắm lắm...

   back to top

11. VƯỢT VŨ MÔN *

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Pascal nói: "Cái tôi là cái đáng ghét, le moi est haissable. "

     Nhưng học giả Lâm Ngữ Ðường cũng có nói: "Viết văn mà không dám viết về cái tôi của mình thì khó trở thành nhà văn lớn."

     Mới đây, trong một bài phỏng vấn, trả lời câu hỏi của Nguyễn Mạnh Trinh, "Có người nói tác phẩm đầu tay thường có nhiều chất cảm và có hồn tuy kỹ thuật chưa cao. Còn những tác phẩm sau, thường có nhiều tiến bộ về kỹ thuật nhưng chất cảm và hồn giảm đi. Theo anh, vấn đề này nên phân tích thế nào?", Nguyễn Mộng Giác có nói: "Tay nghề cầm bút ngày càng cao là chuyện bình thường. Còn xúc cảm, nhiệt tâm tác giả gửi gấm trong tác phẩm ngày càng giảm đi, thì theo tôi nghĩ, không phải ai cũng như ai. Cái mất đi theo tuổi tác là sự hồn nhiên, chứ không phải xúc cảm, nhiệt tâm. Thông thường, một người cầm bút lúc khởi nghiệp viết về mình, cho mình, nên dễ đạt được ước muốn. Hàn Mặc Tử từng ước muốn: Tôi muốn hồn trào ra đầu ngọn bút. Mỗi lời thơ đều dính não cân ta . Nhưng viết về mình một thời gian rồi cũng cạn, tác phẩm sau là bản sao của tác phẩm trước. Nhà văn đối diện với một thử thách lớn, từ viết về mình chuyển qua viết về người. Những ai không qua được thử thách này, giá trị tác phẩm của họ chứng minh được điều anh vừa đưa ra..." (thực hiện tại thành phố Westminster, California, USA ngày 15-12-1995).

     Trước đây, trong bài Dựng Bàn Viết Lữ Thứ , Nguyễn Ngọc Ngạn cũng có viết: "Nhà văn nào thì thường cũng bắt đầu bằng những nội dung có liên qua đến mình, đến những người chung quanh mình, rồi mới thoát hẳn ra cái tôi để tiến lên sáng tạo đích thực, như con thuyền bỏ sông lạch ra đại dương." Và, qua nhân vật chính, Nguyễn Ngọc Ngạn còn nêu ra thêm: "Nàng đòi chuyển sang truyện dài bởi nàng quan niệm rằng chưa có truyện dài thì chưa thành nhà văn chính thống." ( Làng Văn , số Xuân Tân Mùi, 1991).

     Như vậy thì, trước hết, đừng chê "cái tôi." "Cái tôi," đối với người cầm bút, sẽ không "đáng ghét" nếu mình biết lèo lái nó. Rất có thể sẽ trở thành "đáng thương" cũng không biết chừng. Và thứ đến, ngoại trừ những ai đó có thiên tài... a thần phù viết về người liền, chớ nếu mới bắt đầu viết thì viết về mình vẫn hay hơn, dễ hơn. Nhưng, lẽ dĩ nhiên, viết về mình hoài trước sau gì rồi cũng đi đến chỗ tịt ngòi. Nếu không, thì cũng chỉ là... nhơi lại.

     Ðể không phải đau khổ rơi vào cảnh... nhơi lại, thì tự mình phải khai phá, đốt đuốt, tìm đường mới mà đi. Tôi có cái kinh nghiệm "vượt thoát" cái chỗ đau thương này nên muốn trao đổi cùng các bạn...

     Số là sau bốn tác phẩm đầu Một Ðời Ðể Học, Một Thuở Làm "Trùm," Một Chuyến Ra Khơi, Một Cảnh Hai Quê ... thì tôi cảm thấy hết ý, cạn lời. Cạn luôn cả đề tài. Rồi vì không ưa chuyện nhơi lại nên tôi định gác bút dẹp nghề luôn..., nhưng có lẽ cái nghiệp dĩ chắc còn nặng, nên một hôm tôi buồn tình đích thân viết thư hoặc gọi điện thoại những người đi trước, nhiều lắm mà tôi không muốn kể ra đây, để vấn kế. Ðại khái: Làm sao viết truyện người? Hoặc giả: làm sao viết truyện dài? Hầu như mọi người đều có lên tiếng theo ý riêng của mình, chỉ bảo lối này, đường kia... vì thương tình cũng có, mà vì đãi bôi cũng có. Thử hỏi có bao nhiêu người thật lòng muốn đem hết ngón nghề, tuyệt kỷ của mình mà truyền lại cho lớp hậu sinh?

     Thành thử tôi phải tự suy nghĩ, nghiền ngẫm, đãi lọc lấy. Và trong số rất nhiều câu trả lời đó có 2 câu làm tôi sáng mắt ra. Cũng giống như các họa sĩ, tình cờ, được thầy "điểm nhãn" vậy. Một là, áp dụng vào chỗ viết truyện người, rằng thì là... Hưng có biết Nguyễn Công Hoan đã từng nói "truyện là bịa, anh nào bịa giỏi như thật là anh đó ăn tiền." Hai là, áp dụng vào chỗ viết truyện dài, rằng thì là... người xưa có nói "cái gì không thể gói ghém được trong một truyện ngắn thì để dành viết truyện dài, vậy chớ nẵm nay Hưng viết cái giống gì?"

     Ô hay, thì ra vậy, thì ra vậy...

     Từ bao lâu nay tôi cứ đinh ninh rằng, trên cương vị của mình là một người cầm bút mình phải sống thật với lương tâm và chức nghiệp của mình, "nhà văn không biết nói láo." Tôi không muốn rời xa sự thật, đọc truyện nào không trung thực tôi không ưa. Song, ngẫm nghĩ lại, "bịa" không phải là nói láo, mà có thể chỉ là "dựng đứng lên một câu chuyện tưởng tượng" chưa từng xảy ra. Cũng chẳng hề nhằm đặt điều để vu khống hay ám hại một ai. Ừa, vậy cũng được! Mình cũng nên thử từ từ rời bỏ nhưng sự thật trần trụi, đôi khi không đẹp đẽ gì cho lắm, trong dòng đời ô trọc này xem sao!

     Và tôi bắt đầu với Một Nỗi Buồn Riêng bằng cái ý tưởng rất là lớn lao, rất là hiện đại ở thời buổi bấy giờ... "quốc gia hưng vong thất phu hữu trách." Tôi sẽ viết 8 truyện ngắn với 8 nhân vật mang tên bằng 8 chữ bất hủ đó. Mải cho đến nay có nhiều người bình, bàn về tập truyện này nhưng họ vẫn không hề nhận ra cái ý đó, mặc dù tôi có nói bóng gió ở phần... thay lời tựa. Bởi, đặt vấn đề là một chuyện mà thực hành là một chuyện khác. Vì kết quả đã không đưa đến những gì tôi định liệu trước. Mà có phần nào trái ngược lại những điều tôi mong muốn nữa. Vì trong tuyển tập đó có một bài hơi hơi trật trờ là... Tuyệt Lộ , với nhân vật Vong, Vương Phóng Vong.

     Ấy, mà thấy ra cũng buồn cười thật, vì thất bại ở chỗ này đôi khi lại là thành công ở chỗ kia. Thất bại là không có gì dính líu đến việc "quốc gia hưng vong thất phu hữu trách" hết, mà toàn là chuyện... dâm bôn, dâm đảng. Nhưng thành công là, bỗng dưng, nhiều người lại thích bài này. Từ lúc anh Viên Linh dám cho đăng trên tờ Thời Tập , rồi tiếp theo, tôi lấy làm lạ là rất nhiều báo khác xin đăng lại. Kể cả các tờ báo nằm trong quỹ đạo Kháng Chiến. Ðặc biệt hơn, với tờ Ngày Nay ở Witchita, Kansas, chính anh chủ nhiệm kiêm chủ bút Lê Hồng Long đã liên lạc thẳng với tôi ngõ lời... xin đăng lại, nhưng rồi vẫn gởi trả nhẩm xà $US 50.00 tì nhuận bút. Còn đòi hỏi gì hơn nữa chớ!

     Nhưng, đúng ra, cái đó cũng không khoái bằng chuyện có một vài bạn văn thật thà bày tỏ: "tội nghiệp cho bà Hưng quá hả!" Trời đất, vừa thôi mấy cha! Ðâu phải thật, tội nghiệp cho tôi quá thì có! Thì ra, tôi nghĩ mình "bịa" cũng thuộc hạng khá!

     Rồi với đà đó tôi muốn quay ra làm một cái gì lớn hơn những cái tôi đã có: truyện ngắn, truyện dài, thơ, nhạc, họa... Tôi bèn viết... trường thiên. Ðộng cơ thúc đẩy chính chính là vì cái câu hỏi ngược đời của một anh bạn văn... "vậy chớ nẵm nay Hưng viết cái giống gì." Câu hỏi này làm tôi... bật ngửa, chưng hửng. À, hóa ra tôi đã có hai truyện dài rồi Một Ðời Ðể Học Một Thuở Làm "Trùm" mà tôi không hay? Chỉ tại vì tôi viết dưới dạng một chuỗi truyện ngắn nối kết theo thứ tự thời gian nên trong thâm tâm tôi, tôi không hiểu hai tác phẩm của mình đó có được người đời chấp nhận như là hai truyện dài thật sự, thuần túy hay không? Hay họ chỉ coi như là một tập truyện? Với sự xác nhận bằng câu hỏi hơi bất thần đó tôi đã nghiệm ra và tự tin với chính mình...

     Với những ai khác ra sao tôi không biết, nhưng với tôi, truyện dài là một chuỗi truyện ngắn. Trường thiên là một chuỗi truyện dài, tức là một chuỗi... thiệt dài các truyện ngắn. Chỉ có vậy thôi,