Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Tập Ký Sự Văn Học: Một Nơi Rất Thật

Nguyễn Tấn Hưng



* * *

Mục Lục
01. Một Nơi Rất Thật 02. Từ Bắc Xuống Nam 03. Về Cali! 04. Bảy Ngày Bên Xứ Thần Tiên 05. Trở Lại Canada 06. Chỉ Là Ước Mơ Thôi 07. Giải Nghiệp 08. Miền Ðất Âm U 09. Ngây Thơ, Vô Số Tội 10. ***** 21. Phụ Lục 1: Tán Gẫu với nhà văn Nguyễn Tấn Hưng - Hồ Trường An thực hiện 22. Phụ Lục 2: Giới thiệu nhạc Nguyễn Tấn Hưng - Trường Kỳ thực hiện cho Tuyển Tập Nghệ Sĩ 3 23. Phụ Lục 3: Phỏng Vấn nhà văn Nguyễn Tấn Hưng - Triều Hoa Ðại thực hiện 24. *****
   back to top

01. MỘT NƠI RẤT THẬT

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Tôi có cái tật hay... hệ thống hóa các bài viết của mình. Giờ ngẫm nghĩ lại, không biết bị ảnh hưởng bởi thầy hay cô nào đây? Số là mỗi khi tôi đặt bút viết một bài gì là tự dưng trong đầu có câu hỏi, đại khái, bài này sẽ nằm ở đâu, cuốn sách nào sẽ in trong tương lai! Vì tánh tôi hay... thương bài (nhưng không phải thương bài xì phé như các thầy Nguyễn Anh Bổn, Trần Văn Dinh... đâu nghen). Viết là để lại, biết đâu đời này không có người đọc thì đợi đời sau, chớ không có vụ viết rồi bỏ. Vậy mà lần này như phá lệ, bởi tôi không biết bài này thuộc về loại gì để có thể đi chung hay nằm chung với các bài khác trong một cuốn sách. Thôi thì hà hồi phân giải vì có lẽ tôi đang "tùy bút," có phải?

     Mặc dù học giả Lâm Ngữ Ðường có phán, đại để, "làm người cầm bút mà không dám viết về cái tôi thì không thể nào thành nhà văn lớn," nhưng hầu hết ai ai có kinh nghiệm cầm bút đều rất sợ khi viết về cái tôi, cái đáng ghét của mình! Bởi, thứ nhứt, không ăn khách! Thứ đến, không phải dễ viết! Chỉ cần có chút chút tự đánh bóng, khoe khoang là "tiêu tán thòng" ngay. Tuy nhiên lâu lâu cũng phải làm gan. "Có phước làm quan, có gan làm giàu" mà lị, nhưng giàu đây cũng là giàu chữ giàu nghĩa mà thôi... Cũng vui đời...

     Nhìn đi nhìn lại những người cầm bút, nổi tiếng hoặc được độc giả biết đến chút chút (như tôi chẳng hạn), xuất thân từ hai trường Lê Ngọc Hân - Nguyễn Ðình Chiểu có thể kể từ lớn đến nhỏ là Xuân Vũ, Huỳnh Hữu Cửu, Hồ Trường An, Lê Tấn Lộc, Phạm Công Thiện, Kiệt Tấn, Ngô Văn Thọ, Phùng Nhân..., Nguyễn Nguyệt Ánh..., vân vân, tôi và bà xã Hồng Lan. Riêng đối với các anh, tôi là người nhỏ nhứt nhưng lại là người may mắn nhứt. May mắn nhứt ở điểm tôi được học suốt bảy năm liền từ đệ thất đến đệ nhứt, còn mấy vị kia thì mỗi người chỉ một, hai, hay vài ba năm...

     Ngoài hình ảnh khá đậm nét là... người lính tàu trên khắp nẻo đường đất nước quê hương (tôi là dân "hai quần" mà), thì người học trò trai cũng như gái của xứ Mỹ nói chung đều lấp lánh đó đây trong toàn bộ sáng tác văn, thơ, nhạc, họa của tôi. Tuy nhiên, mải cho đến khi khởi sự dựng bộ trường thiên Một Giấc Mơ Tiên thì tôi mới phác họa, dành nguyên cuốn đầu để đi sâu vào đời sống tâm tình của những người học sinh tỉnh lẻ ở thị xã Mỹ Tho nói riêng và vùng lân cận Long An, Bến Tre, Gò Công... nói chung. Ậy mà... "mưu sự tại nhơn nhưng thành sự tại thiên," cho nên cũng mong rằng không đến nỗi làm phiền lòng hay làm thất vọng những người thân thương đã xuất thân từ hai trường xưa yêu quý Lê Ngọc Hân - Nguyễn Ðình Chiểu, khi các bạn có dịp tình cờ đọc qua tác phẩm này...

     Ô hay, nãy giờ lòng vòng tuồng như chỉ là chuyện... mèo khen mèo dài đuôi? Well , thì đây, tôi sẽ kể bạn nghe những gì tôi đã sống qua với thầy cô, bạn cũ, trường xưa. Có lẽ nó sẽ rất khác với những lần tôi xây truyện ngắn dựng truyện dài, thi vị hóa, tiểu thuyết hóa hay trần tục hóa cuộc đời.

     Tôi theo chị hai Kim, chị ba Cúc, anh tư Tân lên tỉnh đi học vào năm tôi 11 tuổi, sau khi thi rớt đệ thất trường công. Tôi học lớp tiếp liên của thầy Truyền ở trường Nam Tiểu Học, xéo xéo bên kia trường Nguyễn Ðình Chiểu. Năm này mới thực sự chính là năm đã tạo nền tảng cho cuộc đời tôi, cuộc đời người học trò, rẽ qua một khúc quanh... lịch sử. Vì bỗng dưng tôi ham học hơn ham chơi! Phần thì ở chung với anh chị, tối tối cứ cơm nước xong xuôi thì ai nấy tự động lo việc sách đèn. Khác với khi ở dưới quê, mỗi khi chiều xuống, thường hay tụm năm tụm ba câu cá hay lặn hụp dưới sông hoặc đá banh hay thả diều trên ruộng. Bởi vậy, khi thi xong đệ thất lần hai tôi tin chắc là tôi sẽ thành học trò trung học.

     Lúc đó trường chưa mở rộng ra đại lộ Hùng Vương mà phía sau còn nằm trong bức vòng thành xi măng tô nhám, sơn màu xanh lục, có gắn miểng chai trên đỉnh và có cổng sắt giống như cổng trước. Bức tường thành chạy dọc theo đường Paulus Huỳnh Tịnh Của chỉ trơ đá đất từ bên xóm nhà ngói Phan Hiến Ðạo đâm qua. Bởi vậy, ngày theo chân chị ba Cúc đi dò kết quả ở cổng sau trường, là tôi hí hửng trong lòng không chút gì sợ trợt vỏ chuối. Tôi còn nhớ cả lớp thầy Truyền là 63 đứa mà có tới 54 đứa đậu. Lấp ló ngoài cổng sắt, phía sau tấm bảng đen dán kết quả, tôi nhìn sâu vào khuôn viên trường thấy dãy lầu Dơi với hàng cây cao, hình như là cây dái ngựa, lòng thèm thuồng mong ngày tháng chóng qua để đến ngày tựu trường làm học sinh trung học. Mặc đồng phục quần tây xanh đậm, áo trắng, mang giày mủ hay giày bata , miệng túi có gắn phù hiệu đàng hoàng thay vì quần đùi, áo sơ mi, mang dép lèng xèng như ở trường Nam Tiểu Học.

     Nói chung, hầu hết thầy cô đều không ít thì nhiều, ở khía cạnh này hay bình diện kia, là thần tượng của mình trong những năm trung học. Nhưng, những thầy cô sau đây có thể có nhiều ảnh hưởng và kỷ niệm trong tôi. Về môn Việt Văn, một trong những môn tôi có cái khiếu trời ban chớ chẳng giỏi dang hay tài cán gì.

     Năm đệ thất tôi học với cô Dung, không nhớ họ. Cô nhỏ người, trẻ đẹp, duyên dáng quá nên đã làm tôi mê mẩn tâm thần. Mỗi lần trả bài đứng kế bên cô nghe mùi thơm không biết từ da thịt hay áo quần mà tôi có cái cảm giác lâng lâng hạnh phúc. Muốn được gọi lên trả bài hoài và muốn thời gian trả bài như dài ra mãi. Nhứt là giọng nói của cô, ôi ngọt ngào làm sao ấy. Nguyên lũ con gái học ban C (có lẽ vì bên Lê Ngọc Hân thiếu lớp nên gởi tạm qua Nguyễn Ðình Chiểu trong những năm đầu), tôi đâu có thèm để ý đứa nào. Vì yêu trộm thương thầm cô mà tôi cảm thấy bực bội khi những thằng to con lớn xác, nhiều đứa đứng cao hơn cô cả cái đầu, luôn ồn ào ở dưới xóm nhà lá cuối lớp, thỉnh thoảng buông lời bóng gió chọc ghẹo cô. "Vô lễ, thất học" vừa vừa phải phải thôi, tôi hay thầm dạy đời bọn nó trong lòng vì ghen tức. Rồi tuồng như... "thiên bất dung gian," ông trời biết tôi đa tình đa cảm hay sao đó mà bắt tôi suốt sáu năm trời còn lại chỉ học toàn với thầy, làm mất hứng sạch trơn!

     Năm đệ lục tôi học Việt Văn với thầy Hy, Nguyễn Ngọc Hy thì phải. Ổng người Trung, trắng trẻo, đẹp trai. Giọng nói véo von cũng không thua gì mấy cô, có điều hơi lợ lợ... "em nói" thành "em nọi", "về ngoại" thành "về ngọi"... nghe riết cũng quen tai. Ðặc biệt ngoài những bài giảng thầy còn bắt cả lớp làm... tập đọc sách riêng để thầy cho thêm điểm theo kiểu... extra credit bây giờ. Tập đọc sách chẳng có gì khác hơn là tập tóm lược cốt truyện những sách mình đã đọc, giống như... book reports bên này. Lẽ dĩ nhiên đứa nào đọc nhiều thì được nhiều điểm, nếu mình chịu khó. Nhưng từ cái chịu khó rất tình cờ ở buổi ban đầu đó mà tôi mê đọc luôn. Tối ngày chỉ dọ hỏi bạn bè có sách nào mới để chuyền tay nhau đọc. Ðọc hết Tự Lực Văn Ðoàn đọc qua sách dịch của La Fontain, Hector Malot... Rồi bên cạnh mỗi bài tóm lược cốt truyện tôi còn vẽ vời đủ thứ tranh ảnh, làm thơ con cóc (sau này tôi thường xem và sửa lại gởi tặng bồ cũng hữu lý) để được nhận những lời ban thưởng, khen tặng của thầy... Giờ nhớ lại thấy hay hay...

     Năm đệ tứ tôi học với thầy Hồ Thế Viên, thi sĩ Thế Viên. Thầy giảng hay lắm, nghe mê luôn. Lúc thầy diễn tả Don Juan, trong Le Cid của Pierre Corneil, bị đâm, thầy banh ngực... lỡ tay bị bức nút áo luôn mới vui. Cả bọn bỗng cười rần rần, thầy lấy cục phấn chọi thằng nào cười lớn nhứt. Nhưng liền sau đó thầy giảng tiếp và cả bọn lại nhập vào mê hồn trận, im phăng phắc lắng nghe. Có điều hồi xưa tôi đọc thơ thầy tôi không cảm. Gì mà Budapest, Varsovie... tôi bảo thầm trong bụng là thầy vọng ngoại. Có lẽ tuổi trẻ Việt Nam vẫn dễ dàng nhập hồn vào thơ Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tản Ðà... hơn. Giờ có ra xứ người mở rộng tầm nhìn, mới thấy thầy buông xuôi cảm xúc cho người ngoài, nếu thầy có dịp xuất ngoại hiểu qua đời sống Tây phương, thì cũng đúng cũng hay thôi...

     Năm đệ nhứt tôi học triết với thầy Minh, Trần Quang Minh. Thầy hiền khô, dáng người trung trung, đặc biệt có bộ râu ít ai có. Tuy là môn học khó nhưng mà thầy giảng rất dễ hiểu nên bắt hấp dẫn từ đầu đến cuối. Cho những ai thích suy tư, như tôi là một. Ánh mắt nhìn đời bỗng dưng thay đổi hẳn, ngó học trò từ đệ nhị trở xuống sao mà non nớt, ngây thơ quá. Vì mình cứ tưởng mình là những triết gia không bằng. Trong đầu như muốn nghiệm ra một hệ thống triết mới nhằm thay thế những hệ thống triết của Aristotle, Plato, Descartes, Freud, Kant, Nietzsche, Kierkergaard... Bây giờ thì chắc chữ thầy đã trả cho thầy rồi nên chẳng hiểu triết gia khác với người thường ở chỗ nào, điểm nào... Song, ngoại trừ phần Ðạo Ðức Học, Tâm Lý Học những căn bản Luận Lý Học có lẽ giúp tôi nhiều nhứt. Ðể những năm lên đại học đi thi mướn Tú Tài I cho những ai cần hoãn dịch, lấy tiền bỏ túi xài chơi. Làm luận đề luân lý cho môn Việt Văn thì khỏi phải chê rồi. Còn các bài toán, vật lý, hóa học thì dân MPC ( Mathematics, Physics, Chemestry ) hay MG ( Mathematics General ) cũng vẫn còn đầy một bụng. Thi chơi chơi mà đậu toàn bình thứ trở lên, cho nó xứng danh với vai... ký giả, nhân viên Air Việt Nam như ghi trong thẻ thí sinh...

     Qua bên này gặp lại bạn bè, tụi nó hay thắc mắc... "mầy đi ban B mà cũng bày đặt viết lách, làm thơ..." Ý da, tại tụi nó hổng để ý nên không ngờ rằng trong 7 năm Nguyễn Ðình Chiểu tôi có 7 lần xướng danh về môn Việt Văn. Nhờ vậy mà cứ lãnh phần thưởng đều đều, hì hì. Cùng cấp, cùng lớp một thời với tôi mấy đứa giỏi có tiếng như Lâm Trí Minh, Quách Tinh Văn, Nguyễn Thành Châu (ba thằng này đi du học ở Pháp, Canada và Nhật sau khi đỗ phần hai), nhưng chỉ có Minh là giỏi về Việt Văn. Nó và tôi thay phiên nhau đứng nhứt hoặc nhì chớ hổng chịu đứng hàng thứ ba. Biết nó có tài nhưng xét kỹ ra tôi cũng lấy làm phiền hà mấy thầy dữ lắm, vì chữ viết của nó như cua bò còn chữ viết của tôi không đến nỗi tệ...

     Khoảng thời gian trung học tôi có dịp chơi thân với mấy đứa như Nguyễn Minh Ðức (thiếu tá tiểu đoàn trưởng, Sư Ðoàn 7, tử trận ở kinh xáng Long Ðịnh năm 74), Dương Văn Út (tiểu đoàn trưởng Biệt Cách Dù), Tô Kim Tiền (đại úy Không Quân), Nguyễn Gia Quyền (chuẩn úy mới ra trường tử trận ở Cai Lậy, sau Mậu Thân không lâu, năm 1969), Nguyễn Xuân Ðiệp (luật sư trực thuộc Bộ Kinh Tế Tài Chánh, Sài Gòn) và nhiều đứa nữa kể sao cho xiết... Nhưng tôi thân nhứt với hai thằng sau này, vì cả ba ngồi chung một bàn từ đệ thất đến đệ tam. Quyền bị đuổi vì vi phạm kỹ luật phải xin qua học bên Kiến Hòa, và Ðiệp di chuyển lên Sài Gòn, đổi tên Nguyễn Duy Tưởng đặng học nhảy. Ðiệp kể lại... "tới hồi vào lớp gặp lại thầy, Tôn Thất Trung Nghĩa, dạy Vạn Vật năm xưa." "Thôi, thầy bà gì, mình là anh em học cùng một lớp mà," thầy bảo vậy... Kể cũng vui...

     Ngoài việc ngồi chung bàn, bàn nhứt ngay dãy giữa, sở dĩ tôi thân với hai thằng Quyền và Ðiệp là vì tụi nó là dân ở tại thị xã Mỹ Tho, còn tôi ở dưới quê lên, từ làng Bình Phan quận Chợ Gạo. Gia đình Quyền thì có mấy mẫu vườn ở Gò Cát, xéo xéo chùa Vĩnh Tràng còn anh thứ ba của Ðiệp, Nguyễn Minh Tuấn, là chủ vựa lá Bến Tắm Ngựa, vựa lá lớn nhứt trong tỉnh. Giờ gẫm lại, dân dưới quê lên thành học thường có nhiều cơ hội để sống trong cảnh êm đềm xuôi chèo mát mái cũng như ngang trái lâm ly bi đát hơn là đám dân ở thành. Dân xa xứ trôi nổi thì dễ dàng thả tâm hồn lẫn thể xác đi hoang. Nhưng thường phải nhờ vào mấy thằng thổ công thổ địa mới có chỗ đóng đô ăn nhờ ở đậu, lập tổng hành dinh để bày binh bố trận. Và tôi may mắn có được mấy thằng bạn nối khố thật chí tình, biết mình con nhà nghèo lắm khi bọn nó cho mượn tiền mua vé xe về nhà mà trả hay hổng trả thì thôi chớ không bao giờ mở miệng đòi.

     Qua Quyền và Ðiệp, tôi chơi thân với đám bạn ở Chợ Cũ, như anh em Nguyễn Thành Kỉnh, Nguyễn Thành Năng (đại úy Không Quân, quê ở Tầm Vu, Long An), Quang đờn guitar tay trái (đại úy Bộ Binh)... cùng hai bà chị kết nghĩa Nguyễn Thị Thanh Dương, Nguyễn Thị Thanh Hoài..., đám bạn ở gần chùa Vĩnh Tràng như Trung (trung sĩ Hải Quân), Hiệp (trung úy Bộ Binh tiểu khu Vĩnh Long)... Còn tại địa phương tôi ở, khu Hàng Còng đổ lên Xóm Tre thì có Nguyễn Văn Châu (đại úy biên tập viên Cảnh Sát), Hồng, Lạc (đại úy Không Quân), Lữ (đại úy Bộ Binh), Háo Châu (đại úy Bộ Binh)... và một lô bạn của anh tư Tân (chuẩn úy mới ra trường chết trận ở Lấp Vò, Sa Ðéc), như Ðạt, Chữ, Ấu (chuẩn úy mới ra trường chết trận ở Sầm Giang, Ðịnh Tường), Lâm mập, vân vân... Nhìn lại, quả đúng là... "làm trai thời loạn," toàn đi lính. Cùng khóa 17 SQHQ Nha Trang với tôi, dân Nguyễn Ðình Chiểu, Mỹ Tho cũng có Thái Văn A, La Xú, Võ Quốc Trị, Nguyễn Văn Sáu (từ trần sau 75), nhưng học trước hoặc sau chớ không đứa nào cùng cấp, cùng lớp... Kết cuộc rồi kẻ mất người còn, lưu lạc, tứ tán khắp mọi nơi. Ðời là vậy...

     Còn một người nữa mà tôi cũng có nhiều kỷ niệm là cô giám thị Tốt, Nguyễn Thị Tốt, học trò hay gọi là bà bảy Tốt. Có lẽ tôi ít "đụng" ông tổng giám thị Vạng, Trần Văn Vạng, học trò hay gọi là Cò Vạng hoặc bác ba Vạng, vì tôi thấy ổng xa xa là tôi lo né. Lần đầu tiên tôi được bà bảy Tốt "chăm sóc" là bữa bị cồng sin đầu tiên trong đời học trò. Hổng biết bị trễ học vì bác Mười gác cổng đóng cửa sớm hơn thường lệ hay là cúp cua đi chơi bị điểm danh bất tử mà hai thằng tôi bị... mời đi học ngày chúa nhật. Thằng Nguyễn Minh Ðức (dân Long Phụng, Trúc Giang, Kiến Hòa), lúc đó ở chung xóm Giếng Nước bờ trên với tôi (giữa Hàng Còng với Ðất Thánh Tây), mới sáng sớm mà lại nhà hỏi chị Ba tôi, rủ tôi... đi chơi. Bà chị cũng dễ tánh bảo... "ừa, hai đứa đi chơi vòng vòng đây thôi, đừng đi đâu xa nghen," chớ đâu biết tụi tôi phải đi xuống tận trường. Tôi nhớ... hầu như cả lớp ba bốn chục đứa trai có gái có bị cồng sin đều phải chép phạt 500 câu, đại khái, từ nay tôi chừa tội lỗi đó... Bà bảy Tốt chịu khó đi tới đi lui kiểm soát từng đứa cho đến khi tất cả nộp bài, kể như bị cồng sin chung với lũ "học trò có bộ giò ăn cướp" quậy phá không thua gì quỷ quái.

     Nhưng lần thứ hai bị bà bảy "chăm sóc" tôi thì tôi hơi run. Số là bữa trưa hôm đó bọn tôi đi học thêm lớp ban chiều ở dãy lầu Dơi. Giữa lúc trời bất thình lình nổi cơn giông gió, mưa rơi vi vút ngoài sân. Chẳng biết vì mấy ly đậu đỏ bánh lọt hay nước đá bào chế xi rô hay sao ấy mà bụng tôi căng cứng, mắc tè quá cỡ. Xin phép thầy đi ra ngoài xong xuôi tôi chạy từ giữa lầu đến cuối lầu (phía Lê Ðại Hành và ngó ra cổng trước) để xuống cầu thang, tìm phòng vệ sinh. Nhưng trời bỗng dưng nổi cơn thịnh nộ, sấm chớp ì đùng làm tôi bắt sợ quá, cầm lòng chẳng đậu, vạch quần tè ngay góc cột sắt đầy rỉ sét. Ðang thoải mái quá chừng chừng mà đằng sau lưng bị ai hỏi nhột... "trò này, trò tên gì..." Tôi ngó ngoái lại, hết hồn, trời đất... bà bảy Tốt, và đành đứng im chịu trận hết chạy chối phương nào...

     Lần thứ ba là lúc tôi đã lớn rồi, học đệ nhứt rồi, sắp sửa rời trường rồi mà bị mấy thằng bạn xúi... nên cũng làm gan. Phần ngay giữa trưa mà nghe tiếng con gái chót chét phía bên trong, chẳng chịu đi ngủ mà làm phiền hàng xóm, nên tôi cũng muốn nhào lên coi mắt coi mặt mũi có sáng nước hay không. Bèn xăng tay áo, trèo tường, đánh đu qua mấy nhánh ổi phía sau nhà ông hiệu trưởng, thầy Lê Ngọc Toản. Bọn con gái còn nhỏ nhít nín khe nhìn trân trối. Tôi lặt mấy trái lớn thảy xuống cho đám bạn... Bỗng từ xa bà bảy Tốt bang bang tới... "trò kia, trò tên gì, hãy mau xuống đây..." Lại bị ghi tên, lại bị giảng moral , lại bị phạt... Suy đi nghĩ lại, thấy bà hiền. Toàn là những tội đáng bị đưa ra hội đồng kỹ luật, đáng bị đuổi, mà rồi tôi cũng chỉ bị "hành tội" qua loa...

     Lúc thầy hiệu trưởng Toản về thay thì thầy hiệu trưởng cũ, thầy Phạm Văn Lược đã đổi đi rồi. Sau một màn lật đổ lan ra từ Sài Gòn khi tổng thống Ngô Ðình Diệm bị đảo chánh. Năm đó bọn tôi học đệ nhị nên không dính líu vào ban chủ mưu, giựt dây, điều động nên phần lớn chỉ đứng nhìn mấy nhóm quá khích nổi loạn... "Nhất tự vi sư bán tự vi sư," gì gì cũng là thầy của mình mà sao lại có vụ... rượt chạy có cờ như vậy. Nhứt là khi tôi thấy thầy giám thị Hoàng (thầy cũ dạy tôi lớp nhứt ở trường quận Chợ Gạo), bị đánh lổ đầu chảy máu thì, thiệt tình, tôi bất nhẫn hết ý kiến... Cũng may, trang sử máu của học đường đã... bạo phát bạo tàn, không mấy chốc trật tự được vãn hồi...

     "Không thầy đố mầy làm nên," quả thật người xưa nói đúng. Tôi nắm vững được căn bản trung học là nhờ công ơn của các thầy sau đây, đại cương vì không nhớ hết: thầy Bùi Văn Chi dạy Toán, thầy Nguyễn Văn Kiến, dạy Vật Lý, thầy Phạm Nguyễn Chu dạy Hóa Học, thầy Tôn Thất Trung Nghĩa dạy Vạn Vật, thầy Nguyễn Anh Bổn dạy Pháp Văn, thầy Trần Ngọc Tế, thầy Lê Phú Thứ dạy Anh Văn, thầy Nguyễn An Ninh thầy Nguyễn Duy Tường dạy Nhạc, thầy Nguyễn Văn Dậu, thầy Nguyễn Nhật Tân dạy Vẽ (vẽ tượng Phật rất nhiều lần)... Các thầy Lê Văn Chí, Dương Văn Kính, Ðỗ Trung Ruyên, Phùng Văn Tài... cũng không còn nhớ dạy môn gì...

     Thêm một điều đáng nói là trong trường không có môn học và thầy dạy... viết văn. Mà tuồng như lúc ra đời chỉ phải tự mình đốt đuốt, tìm kiếm hướng đi riêng. Sau mấy quyển đầu gần như tự truyện, Một Chuyến Ra Khơi (phân nửa viết trước 75), Một Ðời Ðể Học, Một Thuở Làm "Trùm", Một Cảnh Hai Quê ..., tôi bắt đầu cạn đề tài bèn lại... "tầm sư học đạo," hỏi qua các bật đàn anh đi trước, và nghiệm ra... chân lý, viết tiếp Một Nổi Buồn Riêng , rồi phóng bút với hai bộ trường thiên Một Trời Một Biển (viết xong một quyển rưỡi, dự trù 3 quyển), Một Giấc Mơ Tiên (viết xong 4 quyển, dự trù 8 quyển)...

     Lạ lùng thay, trái đất này... không méo, cho nên trong chuyến về Montreal ra mắt sách vào năm 1992 cho cuốn Một Nỗi Buồn Riêng , do nhóm Nắng Mới của Vũ Ngọc Hiến và thân hữu bảo trợ, lại có người bất thình lình gọi phone cho tôi. Nhận phone từ Phan Thế Hậu, thằng bạn HQ 17 mà vợ chồng tôi đang tá túc tại nhà nó, tôi vẫn đinh ninh rằng người đầu dây bên kia có thể là một trong những độc giả "ế mộ" của tôi mà thôi. Ai dè... "phải mầy là Hưng ở Mỹ Tho hông, tao Ðiệp đây..." Trời đất, xa cách nhau đúng 30 năm, từ năm 1962, chưa một lần gặp lại mà tôi nghe tiếng nó với giọng cười hề hề là tôi nhận ra ngay... Ai dè... Vũ Ngọc Hiến bây giờ là em vợ nó... Ai dè... nó đưa gia đình đi vacation về thăm bên ngoại... Thật là bất ngờ, để rồi chẳng bao lâu sau đó dành cho thì giờ lái xe, hai đứa được dịp ôm nhau mừng mừng, tủi tủi... Nhắc lại chuyện xưa, thuở học trò...

     Tôi hỏi thăm anh Tuấn, một người anh có một không hai từ miền Trung, Ðà Nẵng, vào Nam lập nghiệp. Thương em, rồi thương luôn bạn em. Lo cho em, rồi lo luôn cho bạn em. Lo cho tôi từ Mỹ Tho tận đến Nha Trang. Vì sau khi sang lại vựa lá Bến Tắm Ngựa anh về Sài Gòn một thời gian, rồi ra Nha Trang lập nhà may Toàn Mới, đúng vào lúc tôi nhập trường Hải Quân. Anh gởi quà cáp vào trường và gần Tết, Tết 1967, còn cho tiền mua vé máy bay về Sài Gòn vì anh biết... "tiền lính tính liền..." Tôi hỏi thăm hai bà chị kết nghĩa Dương Châu và Hoài Hương... May quá, tất cả đã cùng gia đình nội ngoại vượt biên, vượt thoát được nanh vuốt cộng sản sau gần mười năm điêu đứng... Rồi từ đó, qua Ðiệp, tôi liên lạc được những bạn bè cũ như Nguyễn Thành Châu, Nguyễn Văn Sáng (đại úy Không Quân, biệt danh "Sáng ức cu" quê ở Ông Văn vì ngực nó không có bắp thịt mà chỉ nhô xương sườn ra ngay khoảng giữa)...

     Thêm một lần nữa, lần này trái đất... tròn, vừa mới xảy ra ở bên Cali cách đây không lâu... Nhân ngày lễ độc lập Mỹ, July 4th, bọn tôi hợp khóa, khóa 17 SQHQ Nha Trang, kỷ niệm 30 năm ra khơi... Ðêm tối thứ bảy, bọn tôi và gia đình có tiệc chung vui ở nhà hàng Paracel Sea Food. Ai dè... lúc đến nơi mới hay đêm nay không phải chỉ có riêng bọn tôi mà còn là đêm hội ngộ của liên đoàn Biệt Cách Dù. Ai dè... sau bao nhiêu năm trời, từ năm 1969, tôi gặp lại ông hạm trưởng cũ của tôi, cựu HQ trung tá Trần Ðức Cử, biệt danh "Cử ống cống" vì uống rượu lẹ như chớp không ai uống lẹ bằng. Ai dè... sau khi cụng ly với dân hải quân, ổng kêu tôi... "Hưng, theo anh qua bên này nhậu." Mới xà vô ngồi với đám rằn ri thì có người lên tiếng, chửi thề... "đù me, tao đọc mầy nhiều rồi, mầy nổi tiếng nhưng mà mầy có nhớ tao không." Trời đất, bỗng dưng có người không quen lại "mầy tao chi tớ." Tôi có hơi ngỡ ngàng ngó cái đầu tóc bạc trắng như bông, trên túi áo trận màu hoa dù có ghi 3 chữ lớn "Út Bạch Lan." Rồi tôi nhìn gương mặt hao hao giống..., à, tôi chợt nhớ ra liền... "đù me, phải mầy là Út không, Dương Văn Út." "Ðù me, mầy mà hổng nhận ra tao là tao giết mầy..." Hai đứa ôm nhau mừng quá trời, cười ra nước mắt trước sự ngẩn ngơ của mọi người, nhứt là ông hạm trưởng cũ của tôi. "Ủa, hai thằng mầy quen nhau hả? Thấy chưa Hưng, đi theo anh là có nhiều mục hấp dẫn." Một thời Nguyễn Ðình Chiểu, Mỹ Tho, một thời Khoa Học Ðại Học, Sài Gòn! Những khúc bánh mì thịt nguội ở vỉa hè đại lộ Hùng Vương được thay bằng những dĩa đu đủ ướp đá lạnh dưới chân cầu thang đại giảng đường MPC trong những bữa ăn sáng! Tình người Mỹ Tho, tình người học trò, tình người sinh viên được dịp bừng sống dậy trong nhau... Ðời là bể khổ mà đời cũng là bể hạnh phúc, với những cuộc hạnh ngộ vô chừng... Chẳng phải "tha hương ngộ cố tri" là một trong bốn hạnh phúc lớn? Qua Út, ở Houston, tôi được biết Tô Kim Tiền (đại úy Không Quân, bộ ba MPC cũ) đang ở Austin, cùng tiểu bang Texas. Gẫm lại, rất may, vì bạn bè tôi không một ai cầm súng theo phía bên kia...

     Mỗi người đều có đời sống riêng, cơ hội riêng, may mắn riêng, số phần riêng nhưng tôi và các bạn có cái chung là đã một thời cùng lớn lên trong một khoảng trời chung, Xứ Mỹ, cùng học một trường chung, Nguyễn Ðình Chiểu hay Lê Ngọc Hân, có những thầy cô chung... để cùng hưởng chung một gia tài văn hóa, và cũng cùng chung một phương trời lận đận với vận nước nổi trôi... Thôi thì hãy cùng tôi một lần nhìn chung về dĩ vãng xa xôi, nhưng là... một nơi rất thật, rất gần. Ðể như... một lần biết ơn các thầy cô dạy dỗ ở trường xưa, cũng như biết ơn bạn bè với những tấm chân tình...

   back to top

02. TỪ BẮC XUỐNG NAM

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Ði và viết cũng là một thú vui đáng kể của người cầm bút. Ðể, từ đó, những "văn kỳ thinh bất kiến kỳ hình" được thay thế bằng những "tay bắt mặt mừng." Hoặc giả, xa hơn một chút, gặp gỡ những người bạn mới quen chưa từng nghe tên tuổi, vì thiếu sót hay bỏ lỡ một cơ hội nào đó. Và, xa hơn một chút nữa, gặp gỡ ngay cả những người bạn ngoài làng, không nằm trong văn giới, mà lắm khi rất thắm thiết, thân tình.

     Tôi có được cái may mắn là, sau hơn hai mươi năm lưu lạc, bạn bè cùng khóa 17 SQHQ hiện giờ ở rải rác khắp năm châu, cho nên đi đâu một mình cũng thấy chẳng trở ngại mấy trong việc tìm chỗ ăn, chỗ ngủ. Thân nhau trong trường không nói làm gì, nhiều đứa không thân nhau lắm vẫn cứ mừng thầm khi có bạn đến thăm, ở lại qua đêm. Có ngại chăng là... mấy bà xã thôi, không ít thì nhiều đã ảnh hưởng đến hoặc thay đổi người bạn đường. Chớ còn bạn bè trong quân ngũ thì hầu hết vẫn trước sao, sau vậy. Tuy nhiên, người dưng nước lả kia mà họ còn nói "trước lạ sau quen," huống hồ gì tình cảm giữa những kẻ sinh cùng thời loạn đã từng chung sống, học tập, vui buồn có nhau? Lúc nào cũng vẫn như bát nước đầy, tôi nghĩ!

     Mùa hè năm nay, tôi bỗng nổi hứng muốn làm một chuyến... từ Bắc vô Nam. Không, ở xứ Mỹ này phải nói từ Bắc xuống Nam mới hợp lý hơn. Dọc theo duyên hải miền Tây, bờ biển Thái Bình Dương. Khởi đi từ Portland, tiểu bang Oregon, rồi mon men đến San Jose, Santa Ana, San Diego, tiểu bang California!

     Lần đầu tiên bay về hướng Tây Bắc, Washington State, Oregon State... Lúc sắp đến nơi, máy bay bay ngang sát núi, mới lấy làm lạ là thấy tuyết vẫn còn phủ đầy trên ngọn, mặc dầu đang giữa mùa hè nóng nực. Có thể là núi lửa Mount St. Helens mới hoạt động trở lại trong vòng vài năm qua, chớ còn Mount Rainier nổi tiếng dường như cách xa hơn về phương Bắc. Thì ra chỉ cần lên cao dăm bảy cây số mọi thứ hầu như đã đổi thay. Không khí loảng hơn, nhiệt độ lạnh hơn. Con người nhỏ bé hơn khi lơ lửng giữa mây mù dày đặc bao quanh và mặt đất như biến thành một tấm thảm thần bí muôn màu trải rộng ở bên dưới.

     Người ra đón tôi ở phi trường không ai khác hơn là Thu, Phạm Trọng Thu, gặp lại lần thứ hai sau hơn 25 năm tan hàng rả ngũ. Tôi chạy kịp và Thu bị đi tù. Mấy năm qua có nghe bạn bè nói Thu về đây lập nghiệp, khởi đầu với tiệm tạp hóa mang hiệu Trùng Dương. Một cách tỏ bày cho mọi người biết lòng nhớ biển, nhớ con tàu đây! Giữa Thu và tôi có một kỷ niệm khó quên, lúc Thu làm chỉ huy trưởng Tạm Trú Hạm, một pontoon không máy, nằm ụ một chỗ ngay góc đường Cường Ðể và Bạch Ðằng. Cách Câu Lạc Bộ nổi của BTL Hải Quân không xa. Dạo đó tôi từ Bình Thủy, Cần Thơ, về Sài Gòn thi Anh ngữ để hi vọng được tuyển đi học khóa chuyên môn trung cấp bên Mỹ. Ðang lơn tơn mò vào Hải Quân công xưởng tìm thăm bạn bè, vì biết chắc thế nào cũng gặp một vài thằng. Nếu không thuộc các chiến hạm về bến thì cũng là nhân viên của các phòng sửa chữa. Và một trong vài thằng kỳ đó là Thu, rồi Quảng... rủ nhau lại cái quán lộ thiên gần bên xưởng hàn, nhậu mấy chai Johny Wacker từ chiều cho tới nửa đêm. Trở về Tạm Trú Hạm im lìm không sóng gió mà đứa nào đứa nấy cũng thấy lắc lư con tàu đi mới khổ. Kể như "ăn bữa giỗ lỗ bữa cày," vì ngày sau lái xe lên trường sinh ngữ quân đội để thi ESL đầu vẫn còn nhức bưng bưng thì làm sao mà vượt mức ấn định 80-85 gì gì đó cho được.

     Từ từ tôi mới hiểu rõ hơn... vai trò của người hùng Trùng Dương. Không phải đi đón tôi bằng Mercedes mà là chiếc xe Van 2 chỗ ngồi đằng trước, đằng sau trống lổng trống trơn dùng làm chỗ để hàng. Dàn đồng bên ngoài có móp méo thì cũng thường thôi, đâu có hề gì trong mục đích, mục tiêu mà mình cần sử dụng nó. Tuy chiều rồi nhưng Thu phải ghé tiệm trước khi về nhà, vì đang... không phải trong giờ làm việc mà là trong giờ buôn bán. Người đầu tiên Thu giới thiệu không ai khác hơn là bà chủ tiệm.

     - Chào chị...

     - Chào anh Hưng...

     - Có phải đây là... Beo Gấm không? Cứ nghe Thu nói hoài mà bây giờ mới gặp!

     - Dạ phải...

     Kể cũng tức cười khi tôi hỏi Thu... "vậy chớ chuyện tình của mầy với bà Gấm ra sao?" Lẽ dĩ nhiên nếu câu trả lời có hay ho thì tôi sẽ dựa vào đó mà viết thành truyện. Nhưng câu trả lời vỏn vẹn chỉ là..."tao quen Gấm, tao yêu Gấm, tao cưới Gấm." Ðúng là một chuyện tình chỉ được ba câu. Tôi có nói với Thu, đại cương là, người ta không bao giờ viết về chiếc máy bay nếu chiếc máy bay đó không rớt, người ta cũng không bao giờ viết về một chuyện tình nếu chuyện tình đó không trắc trở, trái ngang.

     Chỉ cần "trình diện" sơ sơ bao nhiêu đó là đủ. Vả lại chị Gấm đang lu bu với thân chủ, khách hàng. Thu đưa tôi trở lại căn phòng ọp ẹp làm chỗ tính sổ sách, moi trong thùng lấy ra mấy chai Cordon Bleu. Hai đứa cặp nách mang ra xe và lẳng lặng vọt. Vòng tới vòng lui, lên đồi xuống trũng. Cứ theo đường quen mà đi chớ Thu không có chủ đích muốn cho tôi biết qua phong cảnh Portland, có lẽ đẹp hơn Ðà Lạt vì ngoài đồi thông chập chùng, xanh tươi còn có hoa hồng, hoa tulip. Bãi biển thì xa, gần cả trăm dặm về hướng Tây, mà cũng chỉ là những bãi hoang dành cho người địa phương rảnh rỗi chớ không phải cho du khách. Ðiểm hẹn rồi cũng đến, quán Tây Hồ.

     Từ cửa sau bước vô đã thấy mấy tay đến trước đang nhâm nhi mấy chai bia. Gì chớ bạn bè, nhứt là bạn nhậu, thì đúng là trước lạ sau quen. Ngoài anh chủ quán là Nguyễn Văn Dẹn, Dẹn dê Ð, còn có các anh Phạm Bá Thiện, cựu kỹ sư Nông Lâm Súc, Nguyễn Trường, cựu đại đội trưởng Công Binh..., và đàn em Huỳnh Ngọc Duẫn, khóa 18. Tôi nhận ra ngay vì tướng tá vẫn hơi đô con như dạo nào. Rất tiếc là Nguyễn Hữu Ðức, thằng bạn cùng khóa, lại đang về Việt Nam. Món nhậu thì thôi, khỏi chê rồi, vì chủ quán cũng là dân cụng ly, chạy vô nấu chạy ra uống. Uống ào ào là đằng khác, có lẽ vì trong bếp nếu không nực thì cũng phải nóng. Sơn hào hải vị đãi bạn phương xa, nào là sấu xào xã ớt, tôm hùm xào chua ngọt, dê cari...

     Tôi hỏi thăm Duẫn:

     - Anh có nhớ khóa anh hồi đó có một người sợ quá, trốn mất luôn trong thời gian huấn nhục không?

     - Sao lại hổng nhớ ông, thằng Huỳnh Kim Tỷ ấy mà! Sau này hình như nó thi vô Biên Tập Viên làm cảnh sát...

     Ðúng rồi, Huỳnh Kim Tỷ, vua chống đối! Mà ngẫm nghĩ lại nếu trong giai đoạn huấn nhục, nếu đàn em làm lì, không thi hành lệnh đàn anh sau... mỗi tiếng còi thì đàn anh phải làm gì? Một khi không có quyền sử dụng tay chân, đụng chạm đến thân xác? Cũng đành thúc thủ chịu thua thôi, tôi nghĩ. Nếu cả bọn không tìm ra diệu kế. Nhưng, với Trịnh Xuân Tiểu, thì khỏi chê. Chẳng những lắm diệu kế mà cũng lắm mưu đồ. Rớt từ khóa 14 xuống đến khóa 17 nên thuộc hàng ông cố, có coi ra gì các khóa làm bố, khóa 16, hay khóa làm ông nội, khóa 15. Khóa 17 có 17 đao phủ thủ. Tiếp theo, khóa 18 có 18 đao phủ thủ (những đàn anh phụ trách quây đàn em). Ðược bốc thăm và nếu tính từ dưới lên trên sẽ là "đệ nhứt thập bát đao phủ thủ", "đệ nhị thập thất đao phủ thủ," "đệ tam thập lục đao phủ thủ," v.v... Ðã mang danh là "đệ nhứt thập bát đao phủ thủ" của khóa 18, thế mà tôi cũng thấy sắp sửa chào thua ông vua chống đối này.

     Thời may, Trịnh Xuân Tiểu tới. Tuy không thuộc hàng đao phủ thủ nhưng Tiểu đụng đâu quây đó, quây còn hơn đao phủ thủ nữa. Trịnh Xuân Tiểu bảo... "anh để tôi, để tôi..." Tưởng là hò hét, nạt nộ gì thêm nhưng không, đi lấy một sợi dây thừng dài ngoằn, thắc một nút thòng lọng (một trong 21 nút thắc thông dụng của HQ) to tổ bố, tròng vào cổ Huỳnh Kim Tỷ. Ðầu kia kêu 5 đàn em sắp hàng dọc, dây lên vai, chuẩn bị sẵn sàng kéo... Lệnh truyền, sau khi nghe tiếng còi, các anh... chạy. Te... Năm đàn em hoảng quá, chỉ biết vụt... chạy. Vậy mà Huỳnh Kim Tỷ không chịu chạy theo, đứng sựng tại chỗ, để bị giựt té xấp xuống mặt cát và bị lôi đi xà lĩa như ngựa kéo cao bồi vậy. Mặc dầu Huỳnh Kim Tỷ cũng biết khôn, nắm sợi dây không cho xiết vào cổ nhưng tôi cũng sợ hắn mệt, buông tay bất tử là nghẹt thở ngay cho nên chạy lại cản... "Tiểu, Tiểu, hổng được Tiểu, chết nó Tiểu..." Vậy mà Tiểu khăng khăng, bực dọc gạt ngang... "cứ để cho hắn chết luôn..." Sáng hôm sau điểm danh, mất Huỳnh Kim Tỷ, và rốt cuộc không phải Tiểu mà là tôi lên trình diện HQ/TrTá Vũ Xuân An, lúc đó đang làm Giám Ðốc Quân Huấn:

     - Tôi không biết hắn bỏ trường trốn đi hay là hắn chết mất xác nơi nào, anh là người quây hắn sau cùng anh phải chịu trách nhiệm...

     Rồi, thì phải chịu trách nhiệm thôi... Cũng may là Huỳnh Kim Tỷ đã sớm học được bài học nhảy rào cho nên khóa 18 không ai bỏ mạng sa trường như khóa 17 của tôi, Vũ Thế Tiệp. Không phải bị quây nhiều nhưng vì đang mắc bệnh tiểu đường mà cố ráng quá sức... Tôi kể cho Duẫn nghe để cùng nhau ôn lại một thời nhớ mãi ở quân trường...

     Lúc tiệc tàn mọi người chia tay thì đã quá nửa đêm, có người đã chân đá băng xiêng chân đá băng nai. Vậy mà Thu đòi tiếp tục, bỏ xe, kêu Duẫn lái chạy qua nhà hàng Legin của ông Siêu. Nhà hàng Tàu nổi tiếng nhứt Portland. Chỉ còn một bàn, khách đang nhậu lai rai. Vì biết rõ Thu trong giới làm ăn với nhau nên ông Siêu lịch sự dọn bàn riêng, đãi những món ăn riêng, đem rượu riêng. Tuy đặc biệt và có tính cách gia đình đó, nhưng muộn rồi, sắp xỉn hết rồi... Rốt cuộc chính hai vợ chồng ông chủ nhà hàng Tàu lại phải đưa bọn tôi về. Ghé qua nhà thả Duẫn xuống trước, rồi mới ghé nhà Thu. Ổng còn bàn qua... vấn đề Thu sắp sang tiệm Trùng Dương, Phở 54 để kinh doanh lớn hơn với tiệm Pacific, nhà hàng Thái Bình:

     - Tôi nói cho Hưng nghe, Thu sẽ lên... Chỉ cần 2 năm thôi, Hưng trở lại đây ăn mừng, hề hề...

     Cứ hi vọng là ông Siêu đoán trúng đi và mừng thầm cho bạn...

     Sáng ngày sau, Thu đưa tôi ra tiệm Phở 54, sát vách tiệm Trùng Dương, uống cà phê ăn sáng... Tôi mới lấy làm lạ là tối hôm qua Thu lè nhè bao nhiêu thì sáng nay tỉnh bấy nhiêu, còn tôi thì tuồng như ngược lại. Chẳng lẽ ngủ cả đêm rồi bây giờ rượu mới thấm? Không xong, tôi kêu Thu đưa về nhà nằm nghỉ. Ðầu óc lửng lơ, choáng váng với khí trời lành lạnh, ẩm ướt vì những bụi mưa phùn... Mải đến xế chiều tôi mới hoàn hồn, hồi tỉnh lại. Gặp lúc Thu bỏ tiệm về nhà:

     - Mầy thức dậy rồi hả? Thôi để tao đưa mầy đi, bàn giao mầy cho mấy ông bạn văn nghệ sĩ!

     Tưởng đi đâu xa, ai dè cũng thẳng một đường chim bay vì nằm trên đường N.E. Sandy. Tòa soạn báo Sóng đây rồi. Ra tiếp tôi có các tay cầm cọ Huỳnh Lương Vinh (em của Huỳnh Lương Thiện bên Japan), Hoàng Phố Lê Văn Thẩn. Tưởng ai xa lạ, thì ra cũng đã quen biết, qua lại với Thu nhiều lần. Bèn hẹn nhau ra quán nhậu, quán Tây Hồ, ngay chiều đó. Có rủ thêm Lê Văn Hưởng, Nguyễn Văn Nhớ đều là những người cầm cọ. Hóa ra cái xứ Portland này dân cầm cọ làm chủ tình hình văn nghệ, báo chí, chữ nghĩa văn chương và có thành lập một hội riêng lấy tên là Hội họa sĩ trẻ Việt Nam vùng Tây Bắc.

     Lại được dịp tán gẫu với bạn bè, đủ thứ chuyện trên trời dưới biển. Cho đến tối tối thì có người đề nghị... đi coi triển lãm tranh khỏa thân sống. Ðúng là dân vẽ vời có khác. Nhưng, mới nghe qua, Thu tỏ vẻ không "mặn" với món này. Cũng dễ hiểu thôi, vì Thu là một trong những khuôn mặt cộng đồng, từng là gia trưởng gia đình HQ vùng Tây Bắc, từng tổ chức những ngày Quân Lực, những hội Tết đầu năm... chắc chắn không nên léo hánh đến những nơi không thanh nhã, xô bồ này. Cả bọn đề nghị đưa Thu về nhà trước, lúc đó cũng đã ngà ngà say, rồi mới tìm đến những khu vực dành riêng cho những ai muốn tìm người mẫu. Nói chung, những người mẫu này lắc lư, uốn éo nhiều quá nên không thấy "chiều sâu" so với khi nhìn người mẫu thật. Cũng vui thôi...

     Sáng ngày sau cả bọn lại kéo nhau đi xem tranh. Khỏa thân đàng hoàng mà chẵng ai chê bai, cấm cản. Tại Art Gallery của thành phố Gresham, khoảng 15 dặm về phía đông Portland. Cái hay của thành phố nhỏ này là có được một phòng triển lãm miễn phí cho các họa sĩ nào muốn trình bày tác phẩm của mình. Chỉ cần gọi điện thoại book schedule và mang tranh đến treo trong thời gian ấn định. Lẽ dĩ nhiên khi bán được tranh thì vui lòng gởi lại cho trung tâm điều hành khoảng 25 phần trăm vậy. Bên cạnh các họa sĩ ngoại quốc, phần lớn là dân bản xứ Mỹ, ngoài những tác phẩm ưng ý của các họa sĩ tôi vừa nêu còn thấy tranh của Rừng (đang dò đường di chuyển xuống Cali), Nguyễn Ðại Giang...

     Biết tôi có soạn nhạc nên sau khi ăn trưa sơ sài, Vinh có nhã ý muốn đưa tôi đi thăm nhạc sĩ Từ Công Phụng. Không xa lắm, độ mười lăm hai mươi phút là đến nơi. Anh Phụng có cơ sở in ấn mà khách hàng phần lớn là Mỹ nên anh thường xuyên có mặt tại nhà. Chỉ cần gọi điện thoại báo trước xong là đi. Lần đầu tiên gặp anh Phụng thấy anh cũng dễ dãi, xuề xòa. Xã giao về nhạc thì không gì khác hơn là... tự diễn những gì mình tự biên. Guitar thôi, với riêng tôi. Trước hết, tôi đàn hát cho anh nghe bản ruột... Hương Quê Tình Khúc mà có người ở Việt Nam ưa thích khi nghe đài VOA, chương trình Nhạc Việt Hải Ngoại do anh Dương Ngọc Hoán phụ trách. Anh gật gù khen... được lắm. Khoái chí, tôi đàn hát bản mới nhứt, bản thứ 44, Mưa Xuân Vừa Tới , anh nói thêm... bản này được hơn đó Hưng. Làm tôi cũng mừng, coi như có tiến bộ. Xong, anh đàn hát cho mọi người thưởng thức bản nhạc mới sáng tác của anh, chưa có tựa. Vừa nghe qua thì biết đúng là nhạc sĩ nhà nghề có khác. Tại vì tôi chỉ giữ mấy accord chính ở trên, còn anh rải đều từ trên xuống dưới, lúc bổng lúc trầm. Tức là ngoài tài sáng tác anh còn có tài trình diễn nữa. Theo tôi, tất cả nhiều khi chỉ do thiên phú, bẩm sinh chớ chưa hẳn tập tành nhiều mà thành tài...

     Chia tay anh Từ Công Phụng bọn tôi kéo về nhà Hoàng Phố nhậu món bò băm Thái Lan, ăn cặp với bánh tráng nướng, đậu đũa sống, bắp cải sống... do chính gia chủ làm đầu bếp. Không biết học sách của ai nhưng... ngon tuyệt. Trời lại đổ mưa lâm râm, hứng tình, Hoàng Phố lấy giấy, lấy cọ, lấy màu ra vẽ tặng tôi bức chân dung kỷ niệm... Cũng vui thôi...

     Sáng ngày, sau khi giã từ Beo Gấm và Thu, Vinh lãnh trách nhiệm đưa tôi ra phi trường. Vì còn dư thì giờ nên Vinh rủ cô bạn gái trẻ đang làm hãng kế toán bên kia đường S.W. Macadam đi ăn trưa. Tại một tiệm Nhật. Nhưng không phải ăn sushi mà ăn nhiều món soup . Tức cười ở một điểm là cô chiêu đãi viên người Nhật hiểu lầm, không phải với Vinh mà là với tôi, khi hỏi Hải Trân:

     - Is he your husband?

     Hải Trân giãy nảy:

     - No...

     Tôi cười:

     - You make me feel younger...

     Hải Trân nheo mắt, cằn nhằn:

     - You make me feel older...

     Cũng nhạy bén lắm với câu đối đáp và tôi không lấy gì làm phiền bởi tự biết mình đã... già, nhưng Vinh cười giả lả, phân bua:

     - We are all friends... Ok...

     Mải vui chuyện với nhau mà lúc Vinh ra xe, xả hết tốc lực vượt cầu băng qua sông Willamette, vòng ra highway chạy lên phi trường thì bị kẹt xe, tưởng đâu sẽ trễ nếu không biết chạy đường tắt. Chỉ còn vẫy tay và chạy ngay ra gate . May phước, chuyến bay Reno Air, như còn chần chờ để đợi người đi sau cùng. Ngủ gà ngủ gật được một hai tiếng thì khoảng xế chiều tôi đến San Jose, sau khi đổi chuyến bay ở khu bài bạc Reno, một Las Vegas thứ hai...

     Lại một thằng bạn thân, Ðỗ Văn Chiểu, ra phi trường đón tôi về nhà và giao cho tôi căn phòng... năm trước. Hợp lý thôi, tại vì năm trước đó tôi cũng đã ngủ ở phòng này khi đi dự Asian Conference hàng năm của nhân viên làm cho hãng AT&T. Cùng lúc có thằng bạn thân nối khố từ quân trường, Trương Thanh Việt, từ xứ Kangaroo sang chơi, và nó nằm phòng đối diện... Tối lại là tiệc họp mặt các bạn cùng khóa. Có Hà Ngọc Lưu, Ðặng Văn Ngải, Nguyễn Ðăng Cương, Dương Văn Trình, Ngô Ðức Tựu... Vắng Nguyễn Bá Lộc, Nguyễn Võ Hiệp (đang về Việt Nam)... Thiếu các niên trưởng khóa đàn anh gặp lần trước như, khóa 16 có Phạm Vũ Kim, Nguyễn Hoàng Nguyên, Lê Thức Quỳnh, khóa 15 có Lê Khuê Hào... Gì chớ nhà của Chiểu có điểm đặc biệt là luôn tươm tất, sạch sẽ từ trong ra ngoài... có lẽ nhờ bàn tay chăm sóc chu đáo của chị Mỹ và ba cô con gái. Món nhậu nữa, nêm nếm vừa ăn, ngon miệng...

     Chiểu lấy một ngày nghỉ đưa tôi đi chơi và thăm viếng các nơi cần thiết. Ghé lại quán sách Văn Uyển ở đường số 2, từng được nhắc nhở nhiều lần trên báo, cho biết. Gặp vợ chồng Trần Thị Bông Giấy - Trần Nghi Hoàng. Tưởng là bệ vệ lắm ai dè nhỏ con hơn tôi. Nhưng tóc tai thì để dài chấm vai, dợn sóng tự nhiên không khác gì mái tóc Trần Văn Trạch. Lên trên tầng hai, chỗ trông xuống mặt tiền làm phòng khách, uống tách trà lạt vì không đủ thì giờ để nhậu. Lại lên tuốt trên căn gác xếp, attic , xem qua chỗ để sách dùng vào việc nghiên cứu cũng như sáng tác... Vòng qua tiệm nhạc Thương Thương, định gặp Ngọc Hà, giám đốc trung tâm Quận Chúa, đệ bàn về vấn đề... vô dĩa mà xui quá không gặp, chủ nhà đi vắng. Ghé qua nhà sách Hồng Bàng, gặp Anh Hùng (anh ruột của Việt Dũng nên tình cờ gặp luôn một lúc), giám đốc nhà xuất bản Thế Giới, để thu mớ tiền sách còm cõi mà cũng không xong...

     Khoảng xế trưa Chiểu và tôi đi thăm khu rừng redwoods nhỏ gần San Jose, có tên là Big Basin Redwoods. Tuy không có những cây redwoods khổng lồ như ở Yosemite National Park, nhưng những cây lớn cỡ 5, 7 người ôm cũng hằng hà sa số. Ði xe lửa cà rịch cà tang một vòng, len lỏi trong tàn cây rợp bóng, lúc nhanh lúc chậm, và ghé vài trạm chính cho du khách dừng chân tản bộ, chụp hình kỷ niệm. Có khu bị cháy, không biết là do nhân tạo hay thiên tai nhưng có bảng đồng ghi rõ ngày giờ, năm tháng bị sét đánh, tạo thành những lỗ trống xuyên qua cây, rộng đến độ người ta có thể chạy xe đạp ra vào dễ dàng. Có cây bộng dưới gốc làm thành một cái phòng nho nhỏ, có thể giăng võng nằm đọc sách được. Nói chung, redwoods là một loại thông lớn, cao... có lá thưa (không dính thành chùm) dài và nhọn hơn loại thông thường...

     Qua ngày sau đến phiên Nguyễn Ðăng Cương nghỉ đưa tôi đi chơi biển, vùng Santa Cruz. Bãi biển nào của Mỹ thì cũng tương tợ nhau thôi. Ðẹp đẽ, sạch sẽ. Nhưng dưới bãi cũng như trên bờ lúc nào cũng đông nghẹt du khách. Chẳng có gì đặc biệt để cho tôi đáng ghi nhớ. Ngoại trừ lúc Cương chạy lên xem chiếc tàu bằng xi măng, cốt sắt. Cứ tưởng rằng trên thế giới này chỉ có mỗi HQ Việt Nam ta là biết chế ghe xi măng, cốt sắt. Thường gọi là ghe fibro-cement, lớn hơn ghe hải thuyền loại yabuta hay chủ lực một chút nhưng chạy chậm hơn. Ai dè Mỹ đã chế rồi từ hồi đệ nhị thế chiến. Mà không phải chỉ là chiếc ghe nhỏ, một chiếc tàu ngang ngửa với chiếc LST, Landing Ship Tank, trọng tải 3000-4000 tấn, mới là đáng nói. Chỉ đóng một chiếc làm thí nghiệm, dùng để chống lại mìn nam châm hay hoặc giả làm tàu rà mìn vì ít sắt. Nhưng có lẽ không hiệu quả mấy nên Mỹ phế thải, ủi bãi cạn, nằm một chỗ làm kiểng cho du khách đến xem. Hơn nửa thế kỷ qua nên chẳng còn nguyên vẹn, nhiều chỗ xi măng bể, tróc, để lòi... cốt sắt bên trong. Tất cả đống vụn vằn, lổm chổm chỉ còn là một chỗ trú ẩn rất tốt cho hàng ngàn cánh hải âu...

     Mặc dầu máy bay từ San Jose xuống Los Angeles rất rẻ, khoảng 5, 7 chục, nhưng tôi muốn đi xe đò một chuyến cho biết với người ta. Rất tiếc hôm đó xe buýt Việt Nam không chạy nên phải đi GreyHound. Tuy chạy lâu hơn, 8 tiếng so với 6 tiếng, nhưng chỗ ngồi thoải mái, rộng rải hơn nhiều. Xe đò men theo đường 101 vì có nhiều thành phố nhỏ, có nhiều khách quá giang. Ở nửa đoạn đầu, thấy núi non chập chùng ở thật xa bên phía tay phải. Gần lại là những ruộng khô trồng rau cải, nhiều nhứt là cà chua, cà rốt, bắp cải, củ dền tím... bạt ngàn một màu xanh chạy dài đến chân núi. Dân làm công đi hái trái bu quanh chiếc xe tải như những đàn kiến bu vào miếng thịt. Trạm dừng xe ở những nơi xa lạ chưa từng nghe qua như Salinas, King City, Paso Robles. Ở nửa đoạn sau lại thấy núi nằm bên phía tay trái, bên phải giờ là biển cả, nhà máy phát điện nguyên tử, và phố thị. Càng lúc càng tấp nập hơn. Trạm dừng xe nghe cũng quen quen như Santa Maria, Santa Barbara, Ventura, Berverly Hill, Santa Monica... Ðể rồi ngừng lại ở trạm cuối, cho riêng tôi, Santa Ana.

     Thêm một thằng bạn nối khố từ quân trường, Nguyễn Thành Phước, ra đón tôi tại nhà ga chung cho cả hai, xe buýt lẫn xe lửa. Về đến nhà là nhập tiệc luôn. Có các bạn gần gần nhà đến chung vui như Cmd Ðặng Kim Lê, Phan Ðình Bá, Ðồng Văn Dũng, Phạm Bá Khoát... Ôi thôi, nói chuyện đời chuyện đạo huyên thiên. Già cả hết rồi. Chuyện tù tội nữa. Có đứa hỏi tôi một câu cắc cớ:

     - Tao kể cho mầy nghe... rằng thì là hồi đó có đám tù coi một đàn bò cho cán bộ, hôm đó con bò cái đang rặn đẻ mà bọn nó hãi quá thầm khấn vái một câu... tao đố mầy bọn nó khấn vái câu gì?

     Suy nghĩ một hồi, tôi đáp gọn:

     - Chịu thua...

     - Bọn nó vái... lạy trời cho bò đẻ ra bò...

     Cả bọn cười ngặt nghẽo... Ðến khi đọc truyện ngắn Giải Quyết Cấp Thời của anh Lâm Chương, kể chuyện riêng của ngài cán bộ miền Bắc đang được đảng đề cử vào Nam, mới thấy... mấy chuyện thổi phồng này tuồng như có thật...

     Thông thường những người ở xa đến viếng Little Sàigòn, ngoài khu Phước Lộc Thọ, người ta hay đi chơi biển Long Beach, Huntington Beach, ghé Disneyland, hay lên miền Hollywood... Hollywood thì hơi xa, kiếm không ra tài xế và hướng dẫn viên, Disneyland thì tôi chê vì tôi có đi Disneyworld, vĩ đại hơn nhiều, ở Orlando, Florida, còn việc đi biển thì tôi đã đi nhiều lần rồi. Cho nên chỉ lẩn quẩn, lòng vòng thăm viếng bạn bè quen. Nhứt là những người trong văn giới. Ghé cơ sở Người Việt của anh chị Ðỗ Ngọc Yến - Loan là sẽ gặp rất nhiều người. Các anh chị Ðỗ Quý Toàn, Nguyễn Ðồng - Nguyễn Thị Hợp, Nguyễn Xuân Hoàng, Cao Xuân Huy..., có khi gặp luôn anh Nguyễn Mộng Giác đi lang thang, tán gẫu với mọi người nữa. Ghé cơ sở Thế Kỷ 21 thì gặp các anh chị Lê Ðình Ðiểu, Phạm Phú Minh, Phạm Mạnh Thu, Mỹ Sương, Hồng Nga... Ghé thăm bác Mai Thảo thì họa may gặp Khánh Trường, nghe nói đã dọn về ở tầng trên. Ghé tòa soạn tại gia của Ðông Phương Thời Báo thì gặp Tô Kiều Phương - Mộng Thu, Phạm Minh, Năm Trèm Trẹm..., có khi gặp Minh Ngôn, Lâm Tường Dũ, Hoài Thi, Nhất Phương, MGM Mã Gia Minh - Hoàng Oanh, Hoàng Châu, Phượng Mai... Cũng qua loa chào hỏi vậy thôi chớ chẳng đàm đạo, thảo luận chuyện gì lớn lao vì ai cũng đang bận công việc hằng ngày...

     Khoảng trưa hay chiều tôi hay ghé lại tiệm vàng của Phước mới mở trong khu Phước Lộc Thọ để rủ đi ăn trưa và bàn tính cử nhậu chiều. Một trong những buổi nhậu có nét độc đáo là chiều đó đám đệ tử học nghề thợ bạc của Phước đãi những món quốc hồn, quốc túy miền Trung, trong đó có món gỏi cá và nước chấm gia truyền. Lạ miệng và ngon...

     Thành phố sau cùng cho chuyến đi từ Bắc xuống Nam... tay cầm cái ly là San Diego. Vì bạn bè cùng khóa không ai rảnh rỗi nên lần này Bình, Ðàm Ðình Bình, chịu bỏ tiệm Mini Fabric đưa tôi đi chơi và luôn thể chỉ mánh làm ăn. Có lẽ vì biết tôi suốt đời chẳng màng chuyện nhảy ra cạnh tranh.

     Dạo đó hình như Bình không thành công lắm trong vấn đề mở tiệm ăn cũng như đầu tư vào ngành địa ốc nên sanh phương, tìm đường làm ăn khác. Sản xuất và bán trứng vịt lộn, trứng gà lộn, trứng ngỗng lộn, trứng cút lộn. Do tình cờ, sang lại cơ sở nhỏ... làm hột gà lộn của Mỹ chớ không phải của người Á Ðông, khi ông này muốn giải nghệ về hưu.

     Hai đứa theo đường I-15 trực chỉ về hướng Nam. Trước tiên, Bình đưa tôi đi thăm các trại nuôi vịt, gà, ngỗng, cút... nằm sâu trong các thung lũng tiếp cận với khu biệt lập của các bộ lạc da đỏ như Pala, Pechango, Mission Indian Reservations. Nói chung thì trại gà của Bình cũng không khác gì các trại gà ở Việt Nam mình ngày xưa ở các vùng Hóc Môn, Phú Lâm, Gò Vấp... Những dãy nhà dài vừng kẽm mắc cáo làm vách. Bên trong chia từng hộc riêng, ngăn riêng cho gà con, gà giò, gà mái đẻ. Nuôi trên vỉ kẽm và cho ăn thức ăn làm sẵn lẽ dĩ nhiên. Nuôi thúc cho gà mau lớn bằng cách bắt thức, không cho ngủ, với những ngọn đèn sáng choang cả đêm lẫn ngày. Quạt hút hơi nóng ở hai đầu quay không ngừng nghỉ. Tuy nhiên, những máy ấp trứng, xoay trứng thì có phần tối tân hơn... Ðại khái như vậy...

     Thứ đến, Bình đưa tôi đi mua cây trái bán mùa Tết, nhưng phải chuẩn bị từ mùa Hè. Khác với vùng Trung Mỹ (Midwest) với những chủ ruộng, ruộng bắp, ruộng đậu nành, ruộng lúa mì... phẳng phiu cò bay xoải cánh chó chạy cong đuôi, ở đây, chỉ có những chủ đồi. Chủ núi thì đúng hơn nếu làm chủ một ngọn đồi hơi cao lớn. Chủ đồi thường cất nhà trên đỉnh đồi, vì ngoài cái phong cảnh nên thơ còn cái nữa là dễ bề kiểm soát, trông nom vườn tượt, theo tôi nghĩ. Một đường mòn trôn ốc chạy từ tư gia chủ đồi đổ xuống chân đồi. Từng bậc một, dọc theo đường mòn này, người ta làm phẳng ra vài mẩu đất để ươn cây bón cây, nẩy mầm vươn tượt. Có lẽ nhờ sương núi mà mau lớn, tốt tươi lắm. Cam theo cam, quít theo quít, bưởi theo bưởi, hoa theo hoa... Rồi cây lớn cây nhỏ nữa, vào bồn nylon đen hay bồn cây ván ép mỏng loại 5, 10, 20, 40 gallons tùy theo mặt hàng. Tưới cây và vô phân (pha luôn trong nước) là cả một hệ thống bơm vĩ đại. Từ ống lớn sang ống nhỏ, ống nhỏ hơn, để sau cùng mỗi cây được nuôi dưỡng bởi một cái vòi bằng mút đũa. Nhân công người Mễ tính đến hằng trăm và dụng cụ thì đủ thứ xe cào, xe xúc, xe nâng, xe cày, xe chở nườm nượp tới lui như mắc cửi. Trông thấy Mỹ kinh doanh về nghề... nông lâm súc mà phát mê. Tân tiến về mặt khoa hoc, kỹ thuật hiển nhiên. Khách hàng là cha mẹ ở cái xứ này, nên chủ đồi tuyển một anh Cai đưa Bình và tôi đi vòng vòng xem cây cảnh, chọn mặt gởi vàng. Bình bảo tôi:

     - Thấy chưa Hưng, bây giờ chỉ có cành và lá nhưng 5, 7 tháng sau thì trái ra đặc cành như ở tầng dưới chân đồi, sắp sửa tải đi phân phối khắp các nơi. Cành và lá mua bây giờ chỉ 5, 7 đồng đến lúc bán thì 5, 7 chục, một lời mười còn đòi hỏi gì nữa. Ngày tư ngày Tết một cây bưởi cho cả chục trái no tròn, vàng tươi như vậy thì 5, 7 chục người ta vẫn bảo là rẻ nên không ai tiếc tiền mua sắm, chưng bày...

     Tôi không có câu đáp vì không thạo về vấn đề thương mại, nhưng kể ra cũng phục thằng bạn mình có tài... nhìn đâu cũng ra tiền. Vì lạ cảnh, lạ tình cho nên tâm hồn tôi có lẽ đang gởi vào những ngọn đồi trùng điệp, giữa đất trời bao la. Những cây ô liu, những cây khuynh diệp mọc đầy khắp mọi nơi như cây rừng mà tôi lấy làm thích thú nữa...

     Sau đó, Bình chạy thẳng xuống khu downtown San Diego. Vòng ra bến tàu, con đường Harbor Drive. Giống giống như bến Bạch Ðằng của mình. Ðầu này có căn cứ Hải Quân Mỹ, San Diego Naval Station, và dọc theo bờ sông có những nhà hàng nổi, du thuyền chở du khách đi chơi vòng vòng hải cảng, chiếc tàu buồm của Columbus đã có lần ghé qua đây (ăn cắp kiểu thôi) cho mọi người chiêm ngưỡng. Nhìn sang bên kia bờ còn thấy sừng sững các hàng không mẫu hạm đang cặp bến, sửa chữa... Làm nhớ lại một thời oai hùng trên sóng nước, mỗi độ mang tàu trở lại bến chính Sài Gòn, BTL Hải Quân...

     Bình tạt ngang khu Việt Nam trên đường El Cajon, mua mấy con cua rang muối trước khi ghé nhà Diễm Châu - ViVi. Gặp Diễm Châu, cô ca sĩ thân quen đã giúp tôi làm mấy băng nhạc đầu tay, lần đầu. Gặp lại bạn hiền ViVi trôi nổi từ Montreal qua đây, theo quê vợ mới, để lập nghiệp... Cùng tuổi nhau nhưng họa sĩ nhà ta coi bộ đào hoa quá cỡ. Hầu hết mọi người đều chỉ có... một cõi đi về mà chàng thì đã... đến ba. Lại cụng những ly cognac , nhắc lại một năm nào cùng nhau đi dự đại hội Văn Bút kỳ 3 ở Toronto. Ngày ấy sao mà rất thân tình trong giới văn nghệ sĩ, còn thời này sao lại lắm phong ba, chia tam xẻ tứ...

     Không mấy chốc lại chia tay, Bình và tôi lần về cố quận, thủ phủ của người Việt. Lúc bước chân vô nhà Phước thì trời đã quá khuya. Thả lưng nhẹ nhẹ xuống giường. Êm ái quá. Ðêm nằm bỗng nghe cơn mưa rớt hột. Giựt mình, hồi tưởng những đoạn đường đã đi qua. Thấy thương bạn, thương mình trong những lần gặp gỡ tạm bợ trên xứ người. Không biết bao giờ được làm một chuyến, không phải từ Bắc xuống Nam, mà là một chuyến từ Bắc vô Nam, hay từ Nam ra Bắc...

   back to top

03. VỀ CALI...

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Không phải hằng năm, mà thỉnh thoảng vài ba năm, hai vợ chồng tôi lại có dịp về thăm Little SaiGon. Giống giống như nhà quê lâu lâu đi lên tỉnh. Thông thường, cứ nhằm vào mùa lễ Ðộc Lập của Mỹ, 4th July. Tại vì bọn lính tàu khóa 17 của tôi cũng vẫn hay tổ chức họp khóa, navy-class-reunion , vào khoảng thời gian này.

     Năm nay có phần đặc biệt hơn mấy năm trước, kỷ niệm 30 năm gia nhập hải quân. Ngày bọn tôi được khóa đàn anh, khóa 16, long trọng đón tiếp. Vợ chồng tôi chuẩn bị mua vé máy bay sớm hơn, để rất có thể được nửa giá, 50 percent off , cũng không biết chừng.

     Song, xui xẻo quá, anh em bên đó đã bàn lại mà chẳng cho hay. Rằng thì là mỗi hai năm họp khóa hoài cũng nhàm, thôi thì bỏ bớt đi một lần, đợi thêm hai năm nữa làm luôn kỷ niệm 30 năm... ra khơi. Ra trường, thật sự làm quan, xây mộng hải hồ. Với riêng bọn tôi, kẹt dữ, phải đi "du hí" thôi chớ đâu có trả vé máy bay non-refund được. Ðể an ủi, ừa, biết đâu vì lẽ có mỗi một mình vợ chồng tôi về chơi mà các bạn cùng khóa sẽ săn sóc, lo lắng chu đáo hơn chăng?

     Từ ngày có Nguyễn Thành Phước, một trong bộ ba nối khố từ trường HQ nay thuộc thành phần HO 01, đã ngang nhiên đóng đô ở quận Cam thì vợ chồng tôi khỏi lo chỗ ăn chỗ ở mỗi khi về Cali. Ðược một điểm là hai bà xã cũng đã biết nhau từ Việt Nam nên đều là đồng minh phe ta, dễ cảm thông, dễ ăn dễ nói. Biết là làm phiền bạn bè trong những ngày tá túc đó, nhưng, nếu bỏ đi ở nơi khác thì nó lại... phiền thêm, thành thử đành phải "tự nhiên như người Hà Lội" thôi. Ðây rồi trong tháng tới, từ xứ Kangaroo, thêm một trong bộ ba nữa là Trương Thanh Việt, sẽ đến "tham quan" Little SaiGon lần đầu tiên và đương nhiên Phước lại phải lo lắng, lu bu đón tiếp bạn hiền.

     Nếu nói theo luật giang hồ không có trong sách vở hải quân thì, thật ra, đó chính là "bổn phận và trách nhiệm" của những đứa đang sống ở các trạm dừng chân hay tại hậu cứ. Cũng giống như ngày xưa, bạn tàu ta từ Vùng 4, Vùng 5 Duyên Hải, Phú Quốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cà Mau, Năm Căn, Bạc Liêu, Sóc Trăng... đều hay ghé lại Cần Thơ trước khi về Sài Gòn thì bọn tôi, dạo ấy có Lê Tam Hiệp, Dương Phát Lợi, Phan Ðình Bá, Ðỗ Ngọc Quảng, Trương Ngọc Phước, Phạm văn Cần... và tôi, cũng phải cố gắng sắp xếp lo liệu đầy đủ các mục ăn chơi cho bạn bè thôi.

     Lần này, lên phi trường Los Angeles đón vợ chồng tôi có Phước và Dũng, Ðồng văn Dũng, đang làm trưởng ban báo chí của khóa. Tuy có hơi xa, mất gần cả tiếng đồng hồ đường xa lộ, nhưng ba điều bốn chuyện tán gẫu với nhau trên xe nên cũng hóa ra gần. Không mấy chốc đã về đến nhà. Vừa bước vô, thấy tiệc nhậu đã bày sẵn. Nhiều món quá. Nhưng, biết rõ tánh nhau, Phước đã không thiếu món đặc biệt họp với khoái khẩu của tôi: cua rang muối. Tôi bèn moi trong vali quần áo lấy ra chai Courvoisier VSOP nhét lén ở bên dưới mà bà xã tôi không hay. Bả lườm tôi một cái nhưng tôi tỉnh bơ hỏi bạn:

     - Ê, nhà mầy có sẵn soda hôn Phước?

     Ðồng hội đồng thuyền, Phước bật cười ha hả:

     - Có chớ sao không mậy!

     Cả nhà cùng chung vui chè chén. Bà xã tôi cũng thích món cua rang muối và có lời tấm tắt khen ngon. Chị Phước cho ý kiến:

     - Cua này là cua Canada, thịt chắc và ngon hơn cua của mình nữa!

     Tôi góp ý:

     - Loại cua ở hang bên nầy cũng có hình dáng giống giống như cua biển Việt Nam. Tuy nhiên, chắc thì có chắc, ngon thì có ngon, nhưng có lẽ gạch không nhiều, không đỏ, và không béo như cua biển Năm Căn của mình...

     Ngẫm nghĩ lại, nếu không kể con còng, con rạm, con ba khía thì hình như xứ ta chỉ có ba loại cua là cua biển, cua đồng, và ghẹ. Còn bên này tuy thiếu cua đồng nhưng có nhiều loại cua khác hơn, nào là cua Canada (tức cua ở hang, dungeon crabs ), cua Alaska ( king crabs ), cua đá ( stone crabs ), và cua xanh ( blue crab s ) tức con ghẹ. À, thêm cua lột ( soft-shell crabs ), bên nhà thường gọi là cua cốm hay cua sữa. Ngon hết sẩy, nhưng mắc quá, 3 đô-la một con ghẹ lột bằng ba ngón tay như có lần bà xã tôi đã mua. Ăn chơi cho biết mùi vị với người ta chớ còn gặp dân nhậu hả, mỗi người một thúng, một bushel , chỉ cần... luộc chấm chanh muối tiêu thôi, ừm, thì chịu sao thấu...

     Rượu ngon lại có bạn hiền, phải công nhận tiệc nhậu sơ khởi rất ngon. Ðể rồi sau đó tan hàng đi ngủ, cũng ngon. Có lẽ vì các anh hùng đà... thấm mệt.

     Nói nào ngay, hai vợ chồng tôi phải đi Cali kỳ này cũng là... một công hai chuyện. Vì, luôn tiện, tôi cũng đã nhắn nhủ với bạn hiền Tô Kiều Phương, chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Ðông Phương Thời Báo, làm ơn gom góp họp mặt bạn bè, tổ chức một buổi ra mắt bỏ túi cho tập nhạc èo uột đầu tay của tôi: Một Lần Ði, Anh Yêu . Và hai băng nhạc Tình Muộn Chỉ Một Lần Trao . Không thể bỏ bê bạn bè được, lẽ dĩ nhiên, bạn hiền phải đồng ý lo liệu, sắp xếp thôi.

     Tôi không nhớ tôi quen Tô Kiều Phương vào năm nào. Chỉ nhớ là bạn đọc qua truyện tôi ở bên đảo và viết thư nhờ báo Làng Văn chuyển giùm. Tôi viết thư trả lời và có gởi chút ít tiền... cứu trợ, trong khi bạn hiền đang chờ đợi thanh lọc. Với sự can thiệp mạnh mẽ của Tổng hội báo chí và truyền thông hải ngoại, một nhà báo kỳ cựu như bạn, tuy trong bụng đánh lô-tô và run như thằn lằn đứt đuôi khi trả lời phỏng vấn, nhưng tôi đoán trước sau gì cũng sẽ được chấp thuận mà thôi. Quả nhiên, chẳng bao lâu đã thấy anh chàng có mặt ở quận Cam và lại tiếp tục nghề... làm báo. Hết báo bạn rồi lại đến báo ta và tờ Ðông Phương sắp vừa tròn một tuổi trong tháng 7-96 này. Kể ra cũng có cái "duyên văn nghệ" với nhau cho nên bọn tôi kết thân hồi nào không hay.

     Sáng ngày, tôi liên lạc với Tô Kiều Phương báo tin là chương trình không thay đổi và phe ta đã tới nơi an toàn. Tô Kiều Phương đề nghị:

     - Ăn sáng chưa? Hay là chạy ra Croissant Doré ăn sáng với tụi này đi! Sáng nào cũng vậy, nhà báo, ký giả, ký thiệt đều hay tụ tập ở đó để lấy tin tức, hì hì...

     Tôi phân trần:

     - Như vậy cũng được! Nhưng mà, ai đâu biết Croissant Doré nằm ở đâu! Chắc bạn phải nói chuyện với Phước, thằng bạn hải quân của mình đây...

     Tôi trao phone cho Phước. Chỉ cần trao đổi vài câu là hai "thổ công thổ địa" trong vùng nhận được tín hiệu và đường đi nước bước của nhau ngay. Bọn tôi liền sửa soạn, thay đồ, ra xe. Cũng chẳng xa xôi gì, chỉ độ năm mười phút là đến ngay khu thị tứ: Phước Lộc Thọ. Ai dè tiệm Croissant Doré nằm sát bên tiệm vải Mini Fabric của Bình, Ðàm Ðình Bình, một bạn cùng khóa 17. Có quyền đậu xe ở chỗ ưu tiên, hiển nhiên.

     Phước và bà xã tôi vào tiệm vải còn tôi băng qua Croissant Doré. Quây quần xung quanh mấy chiếc bàn con và những chiếc ghế xếp thấp lè tè, khách hàng ngồi chật hàng ba và đang ồn ào trong các câu chuyện bàn thảo. Tôi ngó dáo dác, tất cả đều xa lạ, chẳng quen một ai. Bỗng, có một người ốm yếu mảnh khảnh, mặc sơ-mi trắng quần tây xám đứng lên đi về phía tôi. Không khác gì trong ảnh, tôi buột miệng:

     - Phải Tô Kiều Phương hôn?

     Qua cái xiết tay thật chặt, Tô Kiều Phương thân mật xác nhận và làm một màn giới thiệu:

     - Phải! Tôi thấy hàm râu của bồ tôi cũng nhận ra ngay! Lại đây, lại đây... Nguyễn Tấn Hưng bạn tôi mới tới từ Chicago, còn đây là nhạc sĩ Nguyễn Hiền..., nhạc sĩ Nhật Ngân đây..., xướng ngôn viên Hà Huyền Thanh, ổng sẽ làm MC cho mình buổi tối hôm đó..., anh tám Mã Thất, cựu dân biểu Bến Tre..., ký giả Phạm Minh, tổng thơ ký Ðông Phương..., ký giả Năm Trèm Trẹm..., trung tá Thu hải quân nhà mình..., ủa, Ðỗ Ngọc Yến mới đó mà vọt đi đâu rồi à, bác sĩ...

     Tôi cứ "vâng, dạ" tuần tự bắt tay từng người vì hầu như ai cũng lớn tuổi hơn tôi. Kính lão đắc thọ vậy. Nhưng không thể nhớ tên nhớ mặt liền được, cứ phải từ từ. Sỡ dĩ các nhà báo, ký giả, ký thiệt tụ tập ở đây chỉ vì có một dãy bàn kê dọc theo hành lang bên ngoài. Luật lệ Cali bây giờ cấm hút thuốc bên trong tiệm, quán, chợ... cho nên đây là nơi giải tỏa thích hợp nhứt cho những tay ghiền. Vả lại, cũng tiện chỗ để ngắm ông đi qua bà đi lại.

     Ngồi chưa ấm mông và nhâm nhi nửa chừng ly trà nóng thì Tô Kiều Phương lên tiếng:

     - Kêu món gì không? À, hay là mình kéo nhau qua quán Thanh Xuân ăn hủ tíu Mỹ Tho đi.

     Ði..., đi..., vài ba người đồng ý ngay, có lẽ vì đã hết chuyện để bàn. Tôi phụ họa theo:

     - Sao cũng được.

     Cả bọn lại túa ra đường. Tôi ghé vào tiệm vải kéo Phước và bà xã tôi đi cùng. Chẳng biết xui xẻo cho mình hay cho Thanh Xuân vì Thanh Xuân đóng cửa. Cả bọn liền tấp vô phở Hòa. Mọi người tiếp tục đấu láo trong khi chờ đợi phở và luôn cả trong khi đớp phở. Vui vẻ như pháo nổ, như bắp rang. Mới hay anh Phạm Minh là chú ruột của bạn cùng khóa, thủ khoa Cơ Khí khóa 17, Phạm văn Cần. Mới biết anh Năm Trèm Trẹm cùng quê Chợ Gạo với tôi. Mới rõ anh Hà Huyền Thanh có tài ăn nói, pha trò, hèn gì đang giữ chức xướng ngôn viên đài radio Văn Nghệ Truyền Thanh của anh Lê Phú Bổn là phải. Còn riêng phần tôi thì, bỗng dưng, hình như trở nên ít nói hơn mọi ngày. Nói cho ngay, cũng ngại. Không phải rụt rè, sợ sệt gì nhưng những ấn tượng buổi ban đầu lắm khi dễ làm mất lòng người khác. Thương thì thôi chớ ghét thì hóa ra kẹt. Chưa biết nhau nhiều thì dễ bị lâm vào cảnh ở rộng người cười, ở hẹp người chê ...

     Chiều về, các bạn hải quân cùng khóa bọn tôi tụ tập tại nhà Phạm Bá Khoát tổ chức tiệc nhậu, đía dóc với nhau. Có mời thêm cựu đại đội trưởng của khóa, commandant Ðặng Kim Lê đến chung vui. Khoát và tôi là dân cựu trào phòng nhì hải quân. Nhưng, tội nghiệp Khoát, đã chạy vuột được rồi đến Guam mà lại quay trở về theo con tàu Việt Nam Thương Tín. Thành ra, Khoát là người ra tù sau cùng của khóa, với 13 năm cải tạo ở miền Bắc. Nghe nói dạo này đi tu, thấm nhuần đạo lý. Chẳng màng than vãn, có lần Khoát cho biết:

     - Con người ta ai ai cũng có số hết hà. Rồi cũng vậy thôi, cứ tà tà mà sống.

     - Mầy là dân phòng nhì mà phân tích tình hình dở quá, ước đoán trận địa sai bét hết.

     Tôi định "mắng vui" nó như vậy, nhưng thôi. Tại vì chính bản thân tôi cũng chẳng khá gì hơn, đã quyết định xách ghe chạy từ Phú Quốc về Rạch Giá chớ không thèm ra tàu lớn đi ngoại quốc. Nhưng có lẽ đúng như Khoát nói, con người ta ai ai cũng có số, cái số của tôi vì đi lạc mà hóa ra thành đi Mỹ. Thế thôi, chớ nào có tài cán gì đâu. Mưu sự tại nhơn mà thành sự tại thiên là vậy.

     Ðêm đó có Trần văn Siêng, Ðỗ Ngọc Quảng, Trần văn Toàn, Thềm Sơn Hà, Ðồng văn Dũng, Trần Trọng An Sơn (đang làm lớn, chủ tịch tổng hội Hải Quân và Hàng Hải Thương Thuyền Việt Nam)... Bạn bè lâu ngày gặp nhau, nhắc lại chuyện xưa kể cũng vui. Dầu gì cũng là oanh liệt một thời, vàng son tuổi trẻ. Những chiến trận oai hùng cũng nhiều mà những thành tích bất hảo cũng không thiếu.

     Bà xã tôi cũng được dịp làm quen với các chị bạn cùng khóa, theo kiểu bắt quàng. Tuy nhiên, qua bên Mỹ này mấy bà cũng phải văn minh hơn. Nghĩa là chỉ dư thì giờ... ngồi lê đôi mách chớ không phải dành thì giờ để cùng nhau làm bếp nữa. Vì đồ ăn, món nhậu ở ngoài chợ Bolsa không thiếu, có thể nói quá thừa. Món nào cũng ngon, vì không ngon thì sụp tiệm ngay. Rẻ nữa, bởi cạnh tranh sát ván. Mấy ông chồng hay nhậu bây giờ cứ phải đi chợ thay cho vợ mình mà tìm lấy những món đưa cay hợp với khẩu vị như cẳng gà, phá lấu, bê thui, thịt quay...

     Vào khoảng nửa đêm, tiệc tàn, vì ngày mai ai rồi cũng phải đi làm. Chung vui với bạn phương xa mới tới như vậy cũng là quá đủ. Nhưng, trước khi chia tay, Trần Trọng An Sơn còn nhắn nhủ một câu thòng:

     - Ê, mai ra phở Hòa An ăn sáng nghen tụi bây!

     Có người lên tiếng ngay:

     - Mầy định trả thay cho thằng Bình tháng này hả?

     - Nữa, đừng khi dễ tao mậy...

     Cứ y chang như nước chảy lục bình trôi, hình như các bạn hải quân của tôi không ai tính trước một việc gì hết. Vậy mà, biết đâu, lại chẳng vui hơn. Sắp đặt, tính toán trước đôi khi rơi vào gượng ép. Sáng đẩy qua chiều, chiều đưa về sáng. Ðêm nay, Toàn trách nhiệm đưa bọn tôi về vì vợ chồng Phước có việc đã về sớm. Ngoài bãi đậu xe, Toàn cũng nhắn thêm một câu thòng:

     - Chiều mai, tao mời riêng hai vợ chồng mầy đi ăn tối! Khoảng 5 giờ chiều nghen, chắc không gì trở ngại hả?

     - Không, tụi tao chẳng có chương trình gì cho trưa mai, chiều mai hết...

     Lại thêm một đêm ngon giấc. Sáng ra phe ta, phái đẹp, có quyền ngồi lâu hơn trước gương để... chăm sóc, sửa soạn. Vì khu phở Hòa An cách nhà Phước không xa. Ngọc Linh, con gái duy nhất của Phước, cũng được dự phần lần này. Sau một hai ngày mà coi bộ cô cháu "kết" với bác Hưng gái dữ quá.

     Bữa ăn sáng ở Hòa An, ngoài các bạn cũ còn có mấy anh chị chưa gặp như Phan Ðình Bá, vợ chồng Ðoàn Ngọc Lý, vợ chồng Trần Trọng Lộc, đang làm trưởng ban đại diện khóa. Bạn cũ gặp lại nhau ai cũng có chuyện nói, tha hồ đía vang rân, vui vẻ cả làng. Bà xã tôi cũng được dịp làm quen thêm mấy bà bạn cùng khóa nữa.

     Xong, mọi người trở về... nhiệm sở của mình: đi làm. Phước lái thẳng đến tiệm, giao xe cho hai vợ chồng tôi toàn quyền sử dụng, muốn lái đi đâu thì đi. Nhưng, tôi lại... lái về nhà. Phải nghỉ mệt và dò lại bản đồ, xem lại số điện thoại trước khi cần đi đâu, thăm ai.

     Ðang nằm thả thác lác trên sofa coi mấy tờ báo thì có điện thoại của Tô Kiều Phương gọi tới:

     - Sáng giờ ăn uống gì chưa? Sao hổng ra Croissant Doré chơi? Bạn bè nhắc bồ dữ lắm đó! À, trưa nay lại nhà ăn cơm và lai rai ba sợi chơi nghen. Có xe không hay là mình tới đó đón?

     - Có xe của thằng bạn đây, nhưng phải dò lại bản đồ mới dám đi.

     - Gần xịt hà, ra Westminster, quẹo trái, qua một stop light, gần đến stop light thứ hai là thấy đường Flower... Mà thôi, để mình kêu anh Năm Trèm Trẹm tới đón cho chắc. Khoảng 1 giờ nghen, nhớ đừng đi đâu hết à...

     Buổi cơm trưa và tiệc nhậu hôm đó anh chị Tô Kiều Phương đãi món quốc hồn quốc túy: mắm và rau. Hết xẩy, ăn kèm với bún. Ðưa cay không phải bằng "nước mắt quê hương" mà là Rémy Martin 4 chữ. Thực khách gồm có vợ chồng ca sĩ Phượng Mai và đứa cháu trai, vợ chồng ca sĩ Hoàng Oanh nhưng Hoàng Oanh chưa về kịp nên chỉ có mỗi một mình dược sĩ Mã Gia Minh, tức nhà thơ Mai Châu MGM, đến dự, ký giả Phạm Minh, anh Năm Trèm Trẹm... Mèn ơi, đủ thứ chuyện trên trời dưới biển, chuyện thế giới, chuyện cộng đồng... được đem ra bàn tán, mổ xẻ. Vui thôi. Chị Mộng Thu, bà xã Tô Kiều Phương, và bà xã tôi coi bộ cũng tâm đầu ý hợp lắm...

     Trước khi nhập tiệc, tôi có hỏi sơ sơ bạn hiền:

     - Rồi sao, cái vụ ra mắt, ra mũi của mình tới đâu rồi?

     - Xong rồi! Ðã lấy chỗ ở quán Tao Nhân, vào chiều chủ nhật này! Ðang làm quảng cáo cho số báo ra ngày mai. Lu bu quá trời, ừa, để cắt dán và fax qua mấy tờ báo bạn đặng nhờ mấy giả đi luôn giùm một chuyến...

     À, Tao Nhân quán, nghe quen quá. Và có lẽ, không xa lạ gì đối với dân Cali. Vì ở nơi đó, đã từng có sự ra mắt của các tên tuổi như Du Tử Lê, Phan Nhật Nam, Tô Thùy Yên, Trần Quán Niệm... Hừm, xét ra có phần nào trở ngại, tôi thăm dò:

     - Sao hổng làm chiều thứ bảy mà làm chiều chủ nhật?

     Tô Kiều Phương giải thích, tự tin:

     - Người ta book hết rồi... Mà không sao đâu, bạn bè mình ở đây đông, hú một tiếng mấy giả chạy tới chớ lo gì...

     Nhìn chung, tôi thấy ông thần Tô Kiều Phương của tôi coi bộ lình xình thiệt. Thông báo chuyến đi cả tháng trước mà cứ y như là... đợi nước tới trôn. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm tôi đã trải qua, chuyện thành công hay thất bại của một cuộc ra mắt sách đã không thành vấn đề cho lắm, miễn sao bạn bè "vui vẻ chia sẻ ngọt bùi" với nhau là quý.

     Với lại, cứ theo như lời đồn đãi, thì ở đất Cali này nhiều phe phái đối chọi, hay công kích chửi rủa lẫn nhau. Ðất... gió tanh mưa máu, khó biết ai bạn ai thù. Thành thử, theo thiển ý, tôi đã nhờ ai thì nên nhờ một người thôi và tùy theo "khổ chủ" lo liệu, quyết định. Tùy hỉ, muốn nhờ thêm ai đó thì nhờ, muốn mời thêm ai đó thì mời. Và "khổ chủ" của tôi lần này là người có tiếng "giao thiệp rộng" Tô Kiều Phương. Cho nên, ngoài chuyện cầu mong "phước chủ, may thầy" thì mình cần phải tin tưởng vào tài năng của bạn hiền chớ!

     Khoảng 4 giờ rưỡi, vợ chồng tôi phải xin phép rút lui trước vì còn phải đi rước Phước và đi ăn tối với Toàn. Anh Năm Trèm Trẹm vừa trờ xe qua khỏi hồ tắm chung cư thì tôi thấy Phước đã có mặt ở nhà, chẳng biết đã nhờ ai đưa về. Và Toàn cũng có mặt. Hai đứa láp giáp nói chuyện ngoài hành lang trong khi chờ đợi bọn tôi.

     Rồi, ra khỏi xe này thì lại chui vào xe khác đi tiếp. Toàn và vợ chồng tụi tôi có nhiều kỷ niệm hồi ở ngoài Phú Quốc. Lúc đó Toàn làm chỉ huy trưởng đài kiểm báo 402, hòn Nam Du Poulo Dama, và tôi làm trưởng phòng nhì bộ tư lệnh Vùng 4 Duyên Hải. Mỗi khi về Sài Gòn, Toàn đều ghé trạm Phú Quốc thăm tụi tôi. Sau 75, lúc mất nước, cũng vẫn còn liên lạc thường xuyên.

     Tạt vào bò bảy món Ánh Hồng. Kêu một vài món ăn cầm chừng: bò nướng vĩ, bò cuốn lá lốp... Ngon thì có ngon nhưng bụng đang no cũng không hấp dẫn lắm. Cứ phải cầm đũa gắp lai rai, nhấm nháp bia chai cho có bạn:

     - Sao, mấy thằng nhóc mầy có đứa nào ra trường chưa mậy?

     - Chưa! Một phần vì tụi tao đổi về Chicago nên tụi nó mất một năm, không đủ tiền đóng học phí out-state. Phải bung ra đi làm. Một phần vì tụi nó cũng làm biếng, ham chơi, học đôi ba courses một semester nên chậm. Con con gái mầy thì sao?

     - Nó đã ra trường 4 năm và đang tiếp tục học lên. Hiện thời đang ở với mẹ và mấy cậu nó ở bên South Carolina. Bà xã tao có business bên đó...

     - À, mấy đứa em vợ mầy cũng đã ra trường hết rồi phải không?

     - Lâu rồi, mậy. Bốn năm năm về trước mà... À, hay là tao với mầy làm suôi đi... Chị coi mấy đứa con trai của chị đó, đứa nào cũng được, kêu nó đi cưới con gái tôi cho rồi...

     Tôi cũng không ngạc nhiên lắm về những việc đề nghị cưới hỏi, gả bán công khai trong giới bạn bè. Ai cũng vậy, con cái lớn, cứ mong chúng nó lập gia đình với người Việt Nam. Dâu Mỹ, rể Mỹ coi bộ có điều gì không ổn. Bà xã tôi xen vào:

     - Thì cũng tùy tụi nó, có cảm tình và có thương nhau mới là điều quan trọng.

     - Nhưng mà mình cũng nên tạo điều kiện cho tụi nó liên lạc và gặp gỡ nhau đi chứ...

     Và ghi liền những địa chỉ, những số phone ra giấy phòng khi không còn dịp gặp lại nhau. Quay trở về nhà Phước cũng khoảng 10 giờ hơn, cả nhà đang sửa soạn đi ngủ. Hừ, lại được ngủ vùi một đêm vì mệt.

     Sáng ngày sau, như thường lệ, bọn tôi thức giấc trễ. Bà xã Phước đã đi làm và Phước đang pha cà phê. Như chợt nhớ ra, tôi nói:

     - Mầy biết hôn, Phước, hai ngày qua tụi tao không có một hột cơm trong bụng, an toàn gì đâu không.

     - Vậy à, thôi để tao chạy đây mua cơm tấm về ăn sáng. Cơm tấm ở tiệm Thành nầy cũng ngon lắm. Sẵn dịp, gọi mấy thằng bạn mình gần gần đây đến uống cà phê luôn...

     Bọn tôi không ăn trong nhà mà bày ra cái bàn tròn ở vườn sau. Phía bên này có cây apricot thật cao cho đầy trái chín màu cam hồng. Phía bên kia dựa bên bờ rào cũng vậy, có cây táo ta cho trái xanh cẩm thạch, dính chùm chùm với nhau như những chùm nho. Ngoài hai bạn Phạm Bá Khoát và Nguyễn văn Diệp có mời thêm đại niên trưởng Trương văn Giỏi, khóa 7. Chẳng biết do ai khơi mào mà, bỗng dưng, giữa cảnh thiên nhiên lại bàn chuyện đạo. Xen lẫn chuyện đời... "Bình thường tâm thị đạo," Khoát giải thích, bình là bình đẵng thường là thường hằng, cứ sống với cái tâm thường hằng bình đẵng là thấy đạo. Theo tôi, sống như vậy e rằng... bất bình thường. Người đàn ông sống bình thường thì phải biết tứ đổ tường, rượu chè, hút sách, cờ bạc, gái ghiếc. Niên trưởng Giỏi cũng phụ họa dặn dò thêm, "Phật pháp bất hí luận," nghĩa là Phật pháp không phải để đùa giỡn, nói chơi mà mang tội... Không hiểu vì sao, tôi bỗng thấy bạn cùng khóa hải quân của mình có nhiều đứa chăm lo tu học, thiền tịnh giữa chốn xô bồ Cali này dữ quá. Chẳng lẽ nơi đây, quận Cam, là đất Phật? Vì tôi cũng đã nghe bàn qua nhiều chuyện về ông Phật Tám và bà Vô Thượng Sư Thanh Hải!

     Lụi hụi đã đến giờ Phước đi làm, mọi người chào tạm biệt. Bọn tôi đưa Phước đến tiệm để lấy xe chạy nhong nhong chơi. Không sợ lạc đường vì có chở Ngọc Linh đi theo. Mà cũng chẳng đi đâu xa, vòng vòng khu Bolsa, Magnolia, Westminster, Brookhust... Trước tiên, ghé qua tòa soạn báo Người Việt, thế nào cũng gặp một vài người quen. Quả thật, mới bước vô đã thấy "đại ca râu rìa" đang bàn bạc công chuyện làm ăn với khách hàng. Khách kiếu từ và... Hoàng Khởi Phong quay sang hỏi tôi:

     - Xin lỗi, ông có cần chi không ạ?

     - Ðại ca quên thằng em rồi sao?

     - Ðể coi nào! Không, không nhớ ra!

     - Nguyễn Tấn Hưng đây...

     - Ồ, nhớ ra rồi, hồi nào cùng đi lên nhà ông Võ Phiến. Ăn mặc short rồi còn đội nón mỏ neo thì đâu làm sao tôi nhận ra được... Sao, dạo này có khỏe không? Hay là vào trong này chơi luôn đi! Mình đang bận phải viết bài...

     - Ði thì đi...

     Cơ sở Người Việt thay đổi rất nhiều sau bốn năm năm bọn tôi trở lại. Phòng ngoài che kín theo kiểu nhà băng, khách cần quảng cáo trên báo phải liên lạc với nhân viên tòa soạn qua một cửa sổ nhỏ. Bên trong khang trang hơn, ngăn chia từng phòng riêng, cubicle , theo kiểu Mỹ. Nhân viên cũng đông hơn và trang bị nhiều computer tối tân. Gặp ngay anh Nguyễn Xuân Hoàng vì anh ngồi cạnh Hoàng Khởi Phong. Tôi nói sơ qua về chuyến đi chơi và nhân tiện có nhờ Tô Kiều Phương lo giùm vụ ra mắt sách và băng nhạc, có đăng quảng cáo trên báo Ðông Phương. Anh Nguyễn Xuân Hoàng sốt sắn:

     - Quảng cáo như thế nào? Sao không nói Tô Kiều Phương chuyển qua đây người ta đi cho một số, 15 ngàn độc giả xem qua thì chẳng hay hơn à?

     - Ai biết đâu nà! Ừa, hay là để mình gọi cho Tô Kiều Phương biết vậy. Nhưng mà không nhớ số phone, mới chết!

     - Thì lật trong quyển niên giám điện thoại Người Việt, đây, để tôi tìm cho...

     Tìm mãi không thấy, Hoàng Khởi Phong có ý kiến:

     - Chỉ có cách liên lạc với mấy tay chơi thân với Tô Kiều Phương như Lâm Tường Dũ, Ngọc Hoài Phương, Minh Ngôn...

     Làm theo phương pháp này, hay thật, có kết quả ngay. Nhưng, xui, lúc tôi gọi về nhà thì gia chủ lại đi vắng. Cứ để message và, tốt hơn hết, là vọt về "đại bản doanh" của Ðông Phương. Ðang tính vọt đi thì tình cờ có anh Nguyễn Mộng Giác bước vô. Lang thang, làm như không có chuyện gì để làm. Tối ngày nhởn nhơ, dạo bước đi thăm các tòa soạn, báo quán. Giống như hai anh Hoàng Khởi Phong, Nguyễn Xuân Hoàng, anh Giác cũng vẫn vậy, không khác gì mấy. Sau khi bắt tay, chào hỏi qua loa, anh có nhận xét cho riêng tôi:

     - Anh là người làm lung tung, đủ hết mọi thứ.

     Tôi tình thiệt, phân trần:

     - Viết riết cũng cạn lời hết ý, anh. Thành thử, lâu lâu mình cũng nên thay đổi bầu không khí vậy mà.

     Ðịnh nói với anh "từ ngày những bàn tay lông lá biến Vặn Học thành tờ báo riêng của Bắc và Trung kỳ, dân Nam Kỳ từ lớn chí bé lọt sổ hết trơn, thì mình cũng rút lui có trật tự, nên từ lâu không rõ tăm hơi...," nhưng thôi. Tôi chỉ hỏi qua loa:

     - Mấy năm nay không có theo dõi Văn Học, chẳng biết có gì lạ không?

     - Cũng trầm trầm vậy thôi. Có số mới nhất đây này.

     Anh lấy cuốn Văn Học trên bàn viết Hoàng Khởi Phong đưa cho bọn tôi. Tôi liếc sơ trang bìa, mục lục, và các trang trong. Lấy làm lạ, thấy "truyện thật ngắn" của Phạm Chi Lan, rồi đến "thảo luận" về đề tài "Hiện Thực và Tưởng Tượng" của anh Nguyễn Xuân Hoàng, ủa, bài trên Văn-Học-Nghệ-Thuật-Internet sao lại xuất hiện ở đây cà? Góp ý của các cây bút Trần Hoài Thư, Bùi Thanh Liêm, Phùng Nguyễn, Nguyễn Phước Nguyên... thì nào có xa lạ gì đối với tôi. Tôi hỏi tiếp:

     - Anh nghĩ sao về văn học nghệ thuật trên Internet?

     - Trong tương lai, theo tôi nghĩ, báo chí hay truyền thông gì gì rồi cũng phải xuất hiện trên Internet. Ðó mới chính là môi trường chung cho tác giả lẫn độc giả...

     Anh rủ ghé lại nhà chơi, ghi vội bản đồ, tên đường. Bà xã tôi gởi lời thăm chị Diệu Chi và bọn tôi chuẩn bị rút lui. Dự trù sẽ ghé tạt qua thăm "sư phụ" Mai Thảo (bọn tôi hay gọi thế như một sự biết ơn đối với người viết tựa giới thiệu cho cuốn sách đầu tay). Nghe nhắc đến Mai Thảo, Hoàng Khởi Phong đề nghị:

     - Tôi nghĩ anh em mình đến thăm anh Mai Thảo vẫn hay mang theo rượu. Bây giờ, theo thiển ý của tôi, anh Mai Thảo chỉ cần rượu chớ không cần rượu ngon. Thay vì mua cho ảnh một chai VSOP, mình mua hai chai VS...

     Cũng có lý! Dạo này "sư phụ" đã dọn xuống tầng trệt cho khỏi lên xuống cầu thang. Cửa bỏ ngõ, ai muốn vào lúc nào thì vào. Khác với lúc xưa, muốn gặp phải gọi điện thoại trước để xem gia chủ có nhà hay không. Bọn tôi vào cùng lúc với anh Ðỗ Ðình Tuân, giám đốc nhà xuất bản và nhà sách cùng tên: Văn Khoa. Chẳng biết câu chuyện đưa đẩy ra sao mà "sư phụ" nhắc lại chuyện Chùa Hương, vào thời kháng chiến:

     - Muốn ăn rau sắng Chùa Hương Tiền đò ngại tốn con đường ngại xa... đó, thơ của Tản Ðà đó. Sắng là một loại rau muống, thế thôi. Chùa ngoài còn đẹp chớ chùa trong chỉ là một cái động, cái hang đá...

     "Sư phụ" bây giờ ốm quá. Như da bọc xương. Suốt ngày cứ ngồi trên giường, dựa lưng vào vách tường phì phà khói thuốc. Cơm nước, có mấy đứa em tôi lo, "sư phụ" cho biết như vậy. Một trà một rượu một đàn bà, ba cái lăng nhăng nó quấy ta , cụ Nguyễn Khuyến chừa rượu với chừa trà, nhưng "sư phụ" thì chỉ có thể chừa đàn bà với trà chớ không chừa rượu được:

     - Có rượu ngon đó Hưng. Muốn uống thì làm một cốc. Có đá trong tủ lạnh kia...

     Tôi thấy chai Hennessy VSOP cổ lùn còn lưng lửng nên cũng rót một ly, bỏ đá, nhâm nhi. Hỏi qua tình trạng tờ Văn như thế nào, "sư phụ" bảo:

     - Không làm sao được, đành phải khai tử nó thôi. Mới nhờ Du Tử Lê làm một số mà khắp nơi độc giả viết thư về than phiền...

     Rồi, chúc "sư phụ" sức khỏe vì phải đi ngay. Với lại, Ngọc Linh cũng không thích lắm mấy câu chuyện của người già, mặt mày đang nhăn nhó phụng phịu.

     Xong, chạy đến nhà Tô Kiều Phương để lo cái quảng cáo trên nhật báo Người Việt. Bạn hiền cho biết:

     - Có nhắc Ðỗ Ngọc Yến mấy lần rồi đó, mà giả quên, chẳng giao phó cho ai làm.

     Tôi đề nghị:

     - Bây giờ cứ lấy bài của mình cắt dán, fax qua anh Nguyễn Xuân Hoàng thì lẹ làng, chắc ăn hơn.

     - Ðã chuyển bản tin đến các đài radio rồi nghen. Nhớ đón nghe, khoảng 2, 3 giờ gì đó. Ðài nào cũng có hết, đài Little SaiGon với Anh Dũng, Thúy An, đài Sống Trên Ðất Mỹ với Vạn Võ, đài Văn Nghệ Truyền Thanh với Hà Huyền Thanh...

     À, hình như còn thiếu một đài, đài VNCR (Việt Nam California Radio)! Chẳng biết Tô Kiều Phương có xích mích gì không mà không thấy nhắc tới. Tôi cũng lờ luôn. Trên đường về, tôi định sẽ đến thăm tòa soạn Thế Kỷ 21 trong ngày để gặp các anh Lê Ðình Ðiểu, Phạm Phú Minh, Trần Ðại Lộc... những người có liên lạc nhưng chưa hề diện kiến (anh Vương Hữu Bột, Ðỗ Quý Toàn thì đã gặp rồi ở nhà cũ của ông Mai Thảo). Tuy nhiên, nghe nói ở xa trung tâm Bolsa nên tôi tấp vô nhà, trước là nghỉ xả hơi và sau xem lại bản đồ cho chắc.

     Vừa đặt lưng xuống sofa là có chuông reo... Bên đầu giây bên kia có giọng của anh Cất, Nguyễn văn Cất, chủ tịch hội Ái hữu đồng hương Bến Tre. Lại thêm một người tôi chỉ biết tiếng mà chưa hề gặp mặt. Anh than phiền:

     - Mèn ơi, mới nghe Tô Kiều Phương cho biết là có anh chị qua chơi. Trễ nãy quá nên tụi nầy không có chuẩn bị đón tiếp gì hết...

     - Dạ, trăm sự đều nhờ anh chị Tô Kiều Phương! Với lại, mình cũng đâu biết bà con mình ai ở đâu, ở đâu! Anh ở gần đây không?

     - Không xa lắm, độ khoảng nửa tiếng thôi. Tôi cũng mới liên lạc với anh Nguyễn văn Châu đặng cho ảnh hay, ảnh cũng muốn gặp anh chị. À, hình như nhà ông bạn hải quân của anh ở gần quán Phương thì phải, thôi để tụi tôi mời anh chị ra đó ăn hủ tíu Mỹ Tho cho biết. Ðể coi, khoảng chừng nửa tiếng, bốn mươi lăm phút là tụi tôi có mặt ở đó...

     Hủ tíu Mỹ Tho ở quán Phương nấu coi bộ không đúng cách cho lắm. Ðại khái, muốn nấu hủ tíu Mỹ Tho thì phải dùng bánh bột lọc, còn gọi là hủ tíu dai, một vắt nhỏ như vắt mì thôi. Trụn xong trút ra tô, bỏ lên đó một nhúm hành, hẹ xắt khúc độ hai lóng tay và giá sống. Xong, thêm một muỗng tôm khô chấy mỡ, hành phi, vài lát xá xíu phủ lên mặt và chế nước lèo xấp xấp, không được chế ngập tràn như nước phở. Tô hủ tíu nho nhỏ để ăn lấy hương vị. Những ai muốn ăn lấy no thì phải ăn hai, ba, bốn tô... Lúc đến quán Phương tình cờ gặp lại anh tám Mã Thất. Tất cả gom lại ngồi chung một bàn nói chuyện liên hội Tiền Giang, gồm ba tỉnh Bến Tre - Mỹ Tho - Gò Công. Câu chuyện về quê hương có lẽ còn kéo dài dài, nên khi ăn hủ tíu xong anh Cất đề nghị:

     - Hay là mình đi ra biển chơi, anh chị có ra biển lần nào chưa?

     - Dạ chưa! Ở ngoài đó có tàu hải quân không? Lâu lắm rồi tụi tôi không được nhìn các chiến hạm!

     - Cũng chẳng để ý nữa, đâu để ra ngoài ngoải coi coi...

     Tưởng là xa, ai dè độ hơn nửa tiếng bọn tôi đã đến Newport Beach. Và không ngờ, gió chiều từ ngoài khơi thổi vào lạnh quá. May là trong cốp xe của anh Châu có để mấy cái áo len (để giữ ấm khi anh hứng tình đi câu cá bất thình lình). Mặc dầu trời sắp tắt nắng nhưng du khách vẫn còn đông đảo. Bọn tôi tìm chỗ gởi xe và tản bộ lần theo cầu tàu, pier, bắc tuốt ra ngoài khơi. Xa xa, những dàn khoan dầu nhạt nhòa trong biển vắng. Không tàu hàng, không chiến hạm, không cả du thuyền.

     Duy nhất một chỗ có thể tìm các món ăn, thức giải khát là cái quán ở cuối cầu tàu, Newport Pier Restaurant. Bọn tôi kéo lên sân thượng để dễ nhìn toàn cảnh. Ngồi trong các cửa sổ kiếng chớ không dám ra ngoài vì lạnh. Anh Cất cho biết:

     - Ở Việt Nam mình bây giờ có phong trào sửa đình, sửa chùa. Ở hải ngoại nầy cũng hay làm danh sách mạnh thường quân gởi tiền cúng dường, lập công quả. Những người ăn nên làm ra họ gửi về bạc ngàn, bạc chục ngàn là thường.

     Anh Châu góp ý:

     - Tôi mới về thăm quê hồi năm rồi, thấy điêu tàn hoang lạnh lắm. Bởi vậy nhiều lúc mình nghĩ mình phải làm một cái gì...

     Gì chớ "nhiều lúc mình nghĩ mình phải làm một cái gì..." đó thì ai ai cũng đã nghĩ rồi, chỉ có điều làm được hay không mới là đáng nói, đáng bàn thôi. Nhất là những điều mình nghĩ kia lại rất dễ rơi vào quên lãng. Trên đường về, vì hơi trễ và sợ các nơi khác đã đóng cửa, nên anh Châu ghé vào khu Nguyễn Huệ tìm cái gì dằn bụng. Nhưng lại ghé qua ăn phở ở nhà hàng Ðồng Khánh. À, thì ra khu này dùng toàn tên vua chúa đặt cho quán ăn. Kể cũng lạ và lại là một trong những nơi thoải mái nhứt để chấm dứt một ngày dài.

     Sáng hôm sau cả khóa hiện diện tại chỗ tụ họp nhau đi ăn sáng ở phở Hòa. Ngoài một số các khuôn mặt cũ còn có thêm Nguyễn Trung Tâm, ở Lake Forest lên, Nguyễn Khắc Long, tức thầy địa lý Tư Long theo thời buổi bây giờ, từ Santa Ana tới. "Khổ chủ" Ðàm Ðình Bình có mặt lần này vì không bị "trở ngại tác xạ" cho việc mở cửa tiệm. Chỉ băng qua đường Bolsa, là tới.

     Không biết ai đề nghị mà khi tan hàng thì cả nhóm kéo về nhà Tư Long. Ðể xem nhà mới mua chăng? Hay để lấy số tử vi? Hoặc bày tiệc nhậu? Tất cả các đều vừa nêu đều trúng! Cả bọn lại quây quần, tụ tập ở căn phòng trống, đóng lưới và cửa kiếng, cất tiếp theo mái nhà sau.

     Không ngại ngùng gì về việc... đi coi mắt con gái của gia chủ, Tâm vắng tắt giáo đầu:

     - Ê, con gái lớn của mầy đâu Long, sao hổng kêu nó ra chào mấy bác mậy?

     Vừa bước vào trong lấy rượu, Long nói vọng ra:

     - Ngọc Thủy, ra chào mấy bác đi con!

     Ngọc Thủy bước ra nhà sau khoanh tay, cúi đầu, đon đã:

     - Dạ, chào mấy bác...

     Long tiếp:

     - Năm nay nó 22 tuổi rồi đó, đứa nào có con trai lớn tao gả cho!

     - Ba à...

     Ngọc Thủy vụt chạy vào nhà trong, nhưng bác Tâm vẫn không tha:

     - Ðể hôm nào tao dẫn thằng con trai tao lên. Nó lớn hơn con gái mầy một tuổi, nhứt gái lớn hơn hai nhì trai lớn hơn một nghen mậy...

     Tôi phụ họa theo:

     - Mầy dẫn nó lên sớm sớm, bằng không tao sẽ gởi máy bay cho thằng con tao qua ngay. Nó cũng lớn hơn con Ngọc Thủy một tuổi...

     Tâm nói tiếp:

     - Rồi, mới đó mà có sự "cạnh tranh bất chính" nữa rồi. Ê, mầy muốn làm suôi với thằng Hưng hay là làm suôi với tao mậy, Long?

     Chai Remy Martin VSOP cầm trên tay, Long bước ra trả lời:

     - Thằng nào cũng được, miễn con cái của mình tụi nó thương nhau là xong...

     Trong hàng con cháu, nhiều đứa đã đặt vấn đề là sao mấy bác già cả hết rồi mà cứ mầy mầy, tao tao làm mất đi cái vẻ trịnh trọng, đứng đắn, đàng hoàng trước bàng dân thiên hạ, bá quan văn võ, làng xã xóm giềng. Nhưng thử hỏi, còn cách nào hơn? Cùng là bạn thân, một thời từng sống chết với nhau, ngay cả "bạn và tôi" xài chung chung nghe cũng không ổn!

     Tiệc nhậu chuyển dần sang cơm trưa rồi vội tan hàng. Viện cớ là bọn tôi cần phải nghỉ ngơi để chuẩn bị cho đêm ra mắt sách. Tuy nhiên, vừa về đến nhà thì Ngọc Linh cho biết bác Tô Kiều Phương đã gọi hai ba lần. Bèn gọi lại liền. Bạn hiền trách:

     - Úi cha, bồ đi đâu dữ quá tìm hoài không ra. Nhớ ở nhà đặng một chút có gì mình chạy qua mình bốc đi ngay, lại gặp ông Trần Dũ. Mạnh thường quân thứ thiệt à nghen. Ổng dễ lắm, ai tới đây ra mắt ổng cũng ủng hộ, kể cả anh bạn Gia Du ở bên Úc mới đây nầy. Ðể mình beep ổng một cái rồi có gì mình gọi lại bồ.

     Tôi cũng hơi lưỡng lự về việc... xin ủng hộ một cách hơi trắng trợn này, định nói với Tô Kiều Phương nhưng thôi. Kệ, làm mặt dày, tới đâu hay tới đó. Với lại, đâu dễ gì có dịp diện kiến một nhân vật lừng danh, thành công trong cộng đồng. Ðến chừng gặp được ổng thì thấy ổng bình dân, cởi mở thiệt. Ngoài sự thân tình ủng hộ ổng còn đích thân ký tặng lại cho mình quyển Quảng Ðời Ði Qua của ổng. Tặng luôn cuốn sách Bí Quyết Thành Tỷ Phú Với Phương Pháp Ngũ Tự của Nguyễn Tấn Ðời, được ổng xem như là người anh em kết nghĩa. Kể cũng vui...

     Tôi có tật là không nhớ hết những lời ca do chính mình viết, cho nên lợi dụng lúc hơi rổi rãnh, tôi lấy đàn dợt lại mấy bản tôi thích. Ðể, rất có thể, tôi sẽ phải đảm đang cái màn "tự biên tự diễn" trong đêm này.

     Ngọc Linh hỏi:

     - Chiều nay ai hát nhạc của bác?

     - Chắc không ai hát hết! Bác phải hát nhạc của bác thôi!

     - Còn ban nhạc thì sao?

     - Có one-man-band Phượng Vũ!

     - Phượng Vũ là ba của bạn học cùng lớp với con!

     - Vậy à! Ừa, hay là con hát nhạc của bác đi. Có chú Phượng Vũ đánh đàn thì đâu có gì phải sợ. Bác đệm đàn cho con tập hát ngay bây giờ...

     Ngọc Linh dạn lắm, tập hát liền. Tuy chưa vững nhịp nhưng rất có giọng và ca đúng điệu. Tôi lựa mấy bản vui Bebop, Rumba, Paso, Fox... Vợ tôi xen vào:

     - Chiều nay con còn phải phụ bác bán sách nhạc, bán băng nhạc nữa nghen...

     Ngọc Linh gật đầu:

     - Con làm được hết mà...

     Con cái bên này nói được tiếng Việt đã mừng, bây giờ không những nói mà còn ca hát được nữa thì còn gì vui hơn. Và ở cái xứ tự do này, tuy rằng nam nữ bình quyền đó, nhưng có con gái lớn đầu lòng hình như cũng được nhờ. Tuy nhiên, nhìn chung, so với các thế hệ trước, thế hệ con cháu ở Mỹ đều như trưởng thành trước tuổi.

     Rồi... một buổi chiều đặc biệt, mong đợi cũng đã đến. Ðánh dấu bằng sự trùng hợp rất hi hữu, có một không hai: tam thất. Ngày 7 tháng 7 vào lúc 7 giờ. May là năm nay năm 1996 chớ không sẽ thành tứ thất. Biết là giờ giấc của Việt Nam ta là giờ dây thun, nhưng bọn tôi là những nhân vật chính, thành thử phải đi đúng giờ. Và, ơ kìa, Tao Nhân quán là đây. Ở mặt tiền xem như hai căn, song, bên trong nhập lại làm một, có thể chứa khoảng 100 người trở lại. Sách nhạc và băng nhạc nên để chỗ nào? Thôi cứ để gần sân khấu trình diễn trong một góc kia cho tiện vậy!

     Bước trở ra, tôi thấy vợ chồng Võ Mộng Thu - Tô Kiều Phương đến, ai nấy ăn mặc chải chuốt, tươm tất. Robe dạ hội, veston, cà vạt. Có hai bó hoa nữa chớ, chu đáo dữ ha. Kẹt quá, tôi chẳng đem theo cái áo lớn nào hết, toàn là đồ mặc mùa hè. Chắc phải mượn đỡ của mấy đứa bạn cùng cỡ. Nhìn ra ngoài kia, chợt thấy bác Nguyễn Hiền (tác giả bản Hải Quân Hành Khúc, hiện thời là chủ tịch Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ) và anh Trần Ngọc (tổng thơ ký Văn Bút Tây Nam Hoa Kỳ) cũng vậy. Thì ra dân Cali vẫn là sang trọng làm chuẩn, không lè phè như bọn tôi. Kế đến có bác Thu Hồ (tác giả Biệt Ðộng Quân Hành Khúc, Quê Mẹ...) và anh Xuân, học trò, đi kèm theo hộ tống. Rồi đến một lô nhà báo, chủ báo. Ngọc Hoài Phương, báo Hồn Việt, Lâm Tường Dũ, báo Tình Thương, Minh Ngôn, báo Khỏe Ðẹp, Năm Trèm Trẹm, ký giả báo Ðông Phương... Bạn bè hải quân cũng đến lai rai, đặc biệt lần này có thêm vợ chồng Vũ văn Tình mới gặp lại lần đầu sau hơn hai mươi năm. Ðại diện đồng hương liên hội Tiền Giang, Mỹ Tho - Gò Công - Bến Tre, nhất là Bến Tre, cũng có mặt đông đủ. Thấp thoáng có bóng dáng các nhà thơ Hoài Thi, Nhất Phương. Anh Hoàng Dũng, chồng Nhất Phương, đang kim chủ tịch hội Ái hữu Kiên Giang. Anh Tảng chị Nghĩa, tổng thư ký hội Ái hữu Bến Tre. Và đặc biệt, có thêm người đẹp độc thân tại chỗ Lệ Thanh, đồng hương Mỹ Tho, đã lặn lội tới chung vui từ Irvine! Rất có thể sẽ là đề tài nóng bỏng cho các ký giả, phóng viên bạn!

     Ô hay, còn ca sĩ đâu? Chẳng lẽ chỉ mỗi mình cô Thiên Hương, chủ quán Tao Nhân, ca thôi sao? Ồ, có Quốc Việt vừa đến! Hải Lý nữa, Tô Kiều Phương đang gấp rút nhắc nhở trên phone lưu động, cầm tay! Và ban nhạc thì thế nào? Chẳng thấy mặt mũi Phượng Vũ đâu hết, chắc phải gọi về nhà! Hẹn tới, hứa tới mà không tới là... chết! Chờ thêm một chút, hễ Phượng Vũ đến..., mình khai mạc là vừa!

     Rất khác với các buổi ra mắt ở thủ đô Washington D.C., Montreal, Canada, Orlando, Florida mà tôi đã có tham dự qua, ở Cali chỉ cần một ông MC ăn nói lưu loát, pha trò nhẹ nhàng, điều khiển chương trình thật khéo là xong. Không cần đặt vấn đề là phải có người nói về tác giả, phải có người nói về tác phẩm. Tùy theo sự sắp xếp và tùy hứng của ông MC mà quý vị có tiếng, nhưng chưa chắc đã có miếng, sẽ được lần lượt mời lên diễn đàn. Không có chuẩn bị giấy tờ trước, nên cứ phải xuất khẩu thành thơ và, lẽ dĩ nhiên, cuối cùng cũng nên làm một cử chỉ đẹp, là phải... ủng hộ. Lọt vào quỉ kế, mê hồn trận của ngài MC chăng? Cũng vui thôi! Vì tài ăn nói, tài trình diễn trên sân khấu của mỗi người, bỗng dưng, có lý do mà bộc phát ngút trời.

     Xen kẽ trong những màn giới thiệu người này, kẻ nọ là những màn ca hát tân nhạc, vọng cổ, ngâm thơ góp vui... Và sau hết, màn chót, là phần của... tác giả. Vài lời cảm ơn quan khách đã chẳng ngại đường xá xa xôi để rồi phùng mang trợn mắt hát tặng bà con bản Hương Quê Tình Khúc giờ như là bản ruột. Nào khác gì các nghệ sĩ chuyên nghiệp chuyên sống về đêm, sau khi vãn hát tan hàng đi ngủ còn phải ăn cháo khuya, đằng này... đi ăn phở khuya, phở Hòa An, do bạn hiền Nguyễn Thành Phước đãi.

     Những giây phút có hơi hồi hộp lo lắng đã qua, giờ đây, bọn tôi cứ tà tà rong chơi cho hết vài ngày vacation còn lại. Sáng này, đi ăn sáng riêng với Bình ở Croissant Doré và vì đi trễ nên không gặp người quen. Bò khô, cà phê phin, bánh kem trái cây tráng miệng. Xong, về tiệm Bình cho bà xã tôi lựa vải may áo dài, áo bà ba. Bạn hiền hứng tình bỏ tiệm, bỏ thì giờ quí báu, chở xe đưa lại tiệm may quen trong xóm giới thiệu luôn. Rồi quành về nhà cho biết nhà, nằm trong khu bình dân chớ không phải khu triệu phú. Nhưng bên trong thì đẹp vì khéo chưng bày, trang trí. Ðặc biệt có phòng hát karaoke thật là rộng lớn, chuyên nghiệp với màn ảnh đại vĩ tuyến. Là dân thích ca hát, Bình đã không ngần ngại bỏ ra 250.00 đô một bài để làm hòa âm background cho những bản mà mình ưa thích. Là một thành viên kỳ cựu, 17 năm trong ca đoàn Ngàn Thông thuộc họ đạo Westminster (khác với ca đoàn Ngàn Khơi của giáo sư Lê văn Khoa thuộc cơ sở Người Việt), Bình có giọng ca rất truyền cảm. Vào những ngày lễ lớn, ca đoàn cũng đã mời nhiều guest singer tên tuổi như Thái Thanh, Kim Tước, Mai Hương...

     Sau màn ca hát, Bình đưa bọn tôi đi uống nước mía tươi, rau má tươi ở tiệm, không phải Viễn Ðông như ngày xưa, mà là Hòa bình. Và còn đề nghị chở ra biển chơi. Ðể, luôn tiện, chỉ những căn phố mà Bình đang coi, đang... rất có thể mua. Hungtinton Beach có phần nào sạch sẽ, đẹp đẻ hơn Newport Beach. Với những cây cau kiểng, thốt nốt thật cao trồng ngay hàng thẳng lối. Những căn phố nho nhỏ ở mặt tiền trông ra biển, mới cất rất khang trang, mát mẻ nhưng không dưới vài ba trăm ngàn đô. Bình hỏi cắc cớ:

     - Sao, chừng nào hưu trí dưỡng già về nơi đây ở, ngày ngày nhìn sóng biển viết văn, làm thơ chắc thích lắm hở Hưng?

     Tôi buột miệng:

     - Lý tưởng quá rồi, còn gì bằng!

     Trời trong xanh ngăn ngắt. Nắng hanh vàng. Gió lùa vi vút. Bãi biển chật cả người. Hôm nay còn có học sinh của các trường trung tiểu học ra đây tập bơi. Từng đoàn mặc đồng phục vàng, đỏ, hoặc hường thay phiên nhau lội sải ra xa, vòng quanh chân cầu, rồi lội trở vào. Có mang phao, hiển nhiên. Ðứng bên trên nhìn xuống thấy không khác gì một bầy ếch đang cùng nhau bơi bì bõm...

     Chiều về, Bình dẫn hai đứa tôi đi ăn bánh xèo ở tiệm Vân Restaurant...

     Nguyên ngày sau, anh Cất đưa bọn tôi đi "công tác" ở thật xa, lên tuốt trên Ontario, Pomona Valley. Vợ chồng anh chị Hoàng thị Nghĩa và Ðỗ văn Tảng có nhã ý mời bọn tôi đến "tham quan" gia trang cất trên núi. Mới hay anh Tảng đang là chủ tịch Hội Nghiên Cứu Huyền Bí. Chẳng biết có căn duyên gì hay không nhưng tôi cũng rất thích nghe những gì anh nói, sơ qua về Tịnh Ðộ Tông, Thiền Tông và Mật Tông. Và thế nào là "huyền" của "bề trên," của "thiêng liêng" khi muốn thử lòng những người tìm học đạo. Dĩ nhiên đạo nào cũng vậy, có nhiều điều kiện đặt ra để người tu học cần giữ giới. Ðại khái, như anh có nói:

     - Người nào bất tín với chính mình là bất tín với thiêng liêng! Ở trên, thiêng liêng biết hết!

     Mặc dầu những gì anh nói rất thích hợp với khả năng hiểu biết, thâu nhận của tôi nhưng thoáng nghe qua câu nói này tôi sợ quá và tự thấy mình chưa tu được. Thử hỏi, có mấy ai trong cõi đời này đã... không bao giờ tự dối lòng mình một đôi điều? Thôi thì cứ hẵng từ từ, hãy để duyên căn, phước đức, nghiệp lực của mình tự dẫn dắt mình đi.

     Lụi hụi rồi ngày cuối cùng... cũng tới. Lần này, đến phiên bọn tôi, mời tất cả bạn bè, thân hữu đến quán cà phê Lily trong khu Sài Gòn Mới ăn sáng. Như một thông cảm, như một cám ơn. Trong dịp này, ngoài các bạn đã quen, bọn tôi còn hân hạnh được gặp thêm một đàn anh trong làng nhạc, nhạc sĩ Ðỗ Lễ, đi chung với nhạc sĩ Nhật Ngân tình cờ ghé ngang qua.

     Buổi chiều, tiệc tiễn đưa ở nhà Phước có Khoát, Long, Bá, Toàn và cựu đại đội trưởng Ðặng Kim Lê. Tán gẫu chuyện xa xưa, quân trường, sông rạch, biển hồ, và đàn ca xướng hát bỏ túi. Vui quá là vui. Kéo dài mãi cho đến mười giờ hơn, đến lúc Phước phải xách xe đưa bọn tôi ra phi trường mới thôi. Trên phi cơ, trong giấc ngủ gật gù, vẳng bên tai còn nghe tiếng bạn bè đấu láo và giọng ca trầm ấm của đàn anh Lê hát tặng riêng vợ chồng Hưng, Yêu ai, yêu cả một đời ... (bài Nỗi Lòng của Nguyễn văn Khánh).

     Về Cali! Về Cali! Về Cali! Một lần đi mà biết bao niềm luyến lưu nhung nhớ, thiệt, quả không sai!

   back to top

04. BẢY NGÀY BÊN XỨ THẦN TIÊN

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Xuân qua đi và hè lại đến. Nồng độ oi bức trong gió trưa của miền Trung Mỹ (Midwest) càng ngày càng tăng, làm người ta nghĩ đến những chuyến đi xa thay đổi bầu không khí. Về Cali, xuống Florida... nói chung những nơi có khí hậu không nghiệt ngã, có biển rộng bãi dài sóng vỗ và trời cao lồng lộng mây bay.

     Một cơ hội đã đến khi cô em Thúy Ái (bút hiệu Vũ Thi An) có nhã ý mời hai vợ chồng tôi đi chơi một chuyến. Ra mắt tập thơ thứ hai, Cuối Nẻo Ðường Hạnh Phúc , và tiền thu hoạch sẽ xung vào quỹ HOPE, một hội thiện nguyện nhỏ của các bạn trẻ chuyên lo giúp đỡ trẻ mồ côi ở bên nhà. Bà xã tôi vì bận công chuyện gia đình bên ngoại, nên rốt cuộc tôi được dịp... cất bước đi hoang, lang thang một mình nơi xứ lạ quê người. Có nên cả tin vào cô em một lần hay không khi cô nàng phấn khởi:

     - Anh khỏi lo chỗ ăn chỗ ngủ gì hết, biết bao nhiêu người "ế mộ," admire you , sẽ ra tiếp đón anh...

     Úi cha, có thiệt đẹp như mơ... hay là đem con bỏ chợ? Gì chớ chuyện... đem con bỏ chợ thì tôi không sợ, vì biết đâu, lại cho mình cái cơ hội xoay sở, nhập cuộc, dấn thân trên một phương diện nào đó. Với lại đây chỉ là một chuyến đi ngắn, có trục trặc trắc trở gì gì đi nữa thì chỉ trong một tuần lễ thôi rồi mọi thứ sẽ hoàn lại như cũ.

     Lúc lên phi cơ tôi mới sực nhớ ra là chưa dặn kỹ Thúy Ái rằng dẫu bận bịu cách nào cũng phải ra đón tôi ở phi trường, chớ không giao cho người lạ vì chẳng ai biết tôi là ai. Chẳng có dấu hiệu nào trên người, áo trắng, áo màu hay cầm trên tay một đóa hoa lạ lùng, đặc biệt. Nhưng lúc chưa ra khỏi cổng, còn tà tà trong hành lang đầy người, tôi thở phào nhẹ nhỏm khi thấy cô em trong cánh áo đỏ, jupe đen... Ðang ngơ ngác kiếm tìm và có phần sốt ruột bởi lẽ tôi là một trong những người đi sau rốt trong chuyến bay đầy ấp hơn hai trăm người. Ðến đứng trước mặt mà vẫn chưa hay:

     - Sao, chờ có lâu không?

     - Ủa, anh Hưng nè... làm nãy giờ Thúy Ái cứ sợ anh đi lạc...

     Trời đất, lại coi tôi như trẻ nít không bằng! Hay là già rồi lẩm cẩm? Chắc đúng cả hai. Thì ra ngoài Thúy Ái còn có bạn Vũ Thành, dân thổ công thổ địa vùng này, anh Trần Thành đến từ Houston và cô cháu gái. Sau màn giới thiệu cả bọn đề nghị đi thuê thêm xe và ghé qua văn phòng làm việc của bạn Nhất Linh, tên thật, để bàn tính sắp xếp cho buổi ra mắt vào chiều chủ nhật.

     Quanh quẩn một hồi vì lộn đường, sai exit , và còn bị cảnh sát chận lại vì chạy vào lane car-pool mà chỉ có hai người (đặc biệt đoạn đường này đòi hỏi tối thiểu phải 3 người hoặc hơn) nhưng may phước vì có tai nạn đâu đó nên anh chàng cảnh sát tha mạng, khỏi phải trả minimum $US 271.00 đồng). Lần hồi cũng mò đến khu Monterey Park. Khu chợ Việt Nam ở Los Angeles. Trời chiều đã nhạt nắng, vắng khách, lưa thưa. Từ bên này nhìn qua con đường Rosemead còn nhận ra tòa soạn của hai tờ báo Sàigòn Nhỏ của Hoàng Dược Thảo và Sàigòn Times của Ái Cầm - Thái Tú Hạp (đã gặp một lần trong tiệm Viễn Ðông, ăn chơi ngon hơn ăn thiệt). Lại tay bắt mặt mừng giữa những người chưa quen hoặc rất quen trên NET mà chưa từng hội ngộ lần nào. Cả bọn kéo đi ăn vì đang đói bụng. Tiệm ăn Việt Nam, lẽ dĩ nhiên, còn có cái tên dễ nhớ vì không dám nói theo tiếng Mỹ, hiệu Mỹ Dung. Giao cho Thúy Ái "đi chợ," có canh chua cá bông lau, cá lóc kho tộ, cá chim chiên dòn nước mắm gừng, tôm càng rim... toàn những món bắt mắt, ngon miệng...

     Sau khi giao trọng trách cho Nhất Linh lên phi trường đón tiếp những người đến sau, bạn Vũ Thành đưa bọn tôi xuống Little Sàigòn, ghé vào motel gần nơi ra mắt sách, West Garden. Ðường đi nước bước ở khu này xem như không gì trở ngại, nhưng cũng còn xui xẻo vì đã quá 6 giờ chiều, mọi reserve đều coi như không giá trị. Hủy bỏ. Ðược dịp cho chủ nhà trọ chém thẳng tay với giá gấp đôi, giá cuối tuần so với giá ngày thường. Ðành chịu, vì mọi người đã đồng ý, đã có hẹn trước nơi này... Xong xuôi đâu đó, tôi nhờ bạn Vũ Thành đưa tôi về nhà Tô Kiều Phương (trông coi tuần báo Ðông Phương Thời Báo ). Tưởng là xa xôi lắm ai dè cũng cách mấy block đường... Rồi dẫu khuya lơ khuya lắc nhưng chị Mộng Thu cũng nướng tạm vài món khô quốc hồn quốc túy, quà tặng của những người về Việt Nam, để bạn hiền và tôi lai rai vài chai trước khi đi ngủ...

     Sáng ngày sau, như thường lệ, Tô Kiều Phương kéo tôi ra quán Croissant Doré uống cà phê. Nơi tụ tập quen thuộc của các nhà báo cũng như các văn nghệ sĩ. Tôi đã có dịp gặp ở đây những Ðỗ Ngọc Yến (nhật báo Người Việt ), Nguyễn Hiền, Thu Hồ, Nhật Ngân, Minh Ngôn (tuần san Khỏe Ðẹp ), Trần Ngọc, Lâm Tường Dũ (tuần báo Tình Thương )... Lần này gặp thêm họa sĩ Hồ Thành Ðức, nhiếp ảnh gia Lý Kiến Trúc... Ba điều bốn chuyện với các anh bạn mới xong, tôi vọt qua bên kia hẻm vào tiệm Mini-Fabric thăm Bình, Ðàm Ðình Bình, bạn cùng khóa SQHQ 17 của tôi. Thấy mặt tôi Bình hỏi ngay:

     - Sao, tới hồi nào? Ðang ở đâu vậy?

     Trước khi đi đã gọi thông báo rồi nên tôi vắn tắt:

     - Tới chiều hôm qua. Ðang tá túc ở nhà Tô Kiều Phương, dân làm báo...

     Bình vọt miệng:

     - Tối nay đi ăn đám cưới không? À, tối mai nữa?

     Tôi tình thiệt:

     - Không quen biết làm sao đi được!

     - Quen chớ sao không quen, quen thân nữa là đằng khác. Này nhé, chiều nay có đám cưới con của Nguyễn Quốc Hưng, khóa 18, em ruột của Nguyễn Việt Dân, khóa mình.

     - Ủa, thằng Việt Dân chạy lạc qua Japan đó hả? Nó có qua không?

     - Có, qua rồi. Mới gọi tối hôm qua đây. Muốn gặp lại hết khóa 18 thì nên đi đám cưới này...

     Hầu hết anh em ở các tiểu bang xa tới, kể cả từ các nước ngoài, đều hay gọi cho Bình hay. Lý do dễ hiểu là Bình không bận đi làm ngày hai buổi như các bạn khác. Có thể du di, và vả lại, đầy đủ tiện nghi. Gì chớ việc đi đứng, đưa đón thì Bình bỏ thời giờ lo cho anh em đến nơi đến chốn. Rồi, hiển nhiên, có nhiều mục hấp dẫn mới lạ vì Bình cũng là một tay nghệ sĩ hát ca, lắm... creative trong các món ăn chơi, thăm thú. Không mấy thuở được dịp gặp các đàn em 18, cho nên tôi đồng ý ngay:

     - Vậy thì phải đi! Còn ngày mai thì đám cưới của ai?

     - Ðám cưới con Trần Trọng Lộc, khóa mình.

     - Vậy sao? Cũng phải đi thôi, cơ hội tốt gặp hết bọn mình mà không cần hẹn trước.

     - Như vầy đi nghen, sáu giờ rưởi trở lại đây tôi chở đi luôn. Khỏi cần veston gì cả, ăn mặc như thế kia là được rồi.

     - Okay ...

     Chỉ gãy gọn bao nhiêu đó thôi mà đã vẽ lên biết bao nhiêu điều hứa hẹn, với những gặp gỡ bất ngờ. Tôi trở qua quán cà phê với Tô Kiều Phương, trả Bình về với công việc thường nhật, hầu như bận rộn suốt ngày với khách. Mới ngồi vào bàn thì đã nghe tiếng người quen từ xa vọng tới:

     - Ủa, Nguyễn Tấn Hưng tới hồi nào vậy ta?

     Tôi vừa nói vừa kéo ghế:

     - À, anh Năm Trèm Trẹm, ngồi đây anh, ngồi đây... long time no see há? Mới tới chiều hôm qua! Mà, ý da, bộ Tô Kiều Phương hổng thông báo cho ai hay biết hết sao cà?

     - Hề hề, thì tới đâu tính tới đó. Nói qua mà biết có qua hay không.

     Ký giả Năm Trèm Trẹm đề nghị ngay:

     - Ê, vậy thì mình kéo về nhà xây tụ cho rồi, mấy thuở gặp lại bạn hiền. Ậy, còn ông Phước tiệm vàng bạn Hưng nữa, rủ đi luôn.

     - Nó dọn tiệm về Washington D.C. lâu rồi anh ơi!

     - Vậy là thiếu một tay nghen...

     Tưởng nói khơi khơi ai dè lại kéo nhau về nhà nhậu thiệt. Món lòng tươi, tim gan phèo phổi, và rau sống chấm nước mắm tỏi ớt đưa cay cũng bắt mồi quá chừng. Nghe anh Trần Minh Quang thuộc Quân Ðoàn 4 kể chuyện Cần Thơ, Bình Thủy, Trà Nóc một thời nào binh lửa. Lại nghe anh Năm Trèm Trẹm kể lại chuyện đời thường trên sông nước Gò Công.

     Làm tôi thèm sống lại một thuở thanh bình xa xưa. Nào là làng xã Ðồng Sơn, Chợ Dinh, quận Hòa Ðồng... quê hương bên ngoại của tôi. Với con đường mòn hai bên đầy bình bát dẫn về thánh thất Ðồng Sơn một thời là trụ sở của Thông Thiên Hội, một chi nhánh lớn của Cao Ðài. Tôi về đó không biết bao nhiêu lần và lần cuối cùng là đám tang ông ngoại tôi, phối sư Thượng Cẩn Thanh (Võ Văn Cẩn). Tôi còn nhớ cậu mười Hoanh, anh tư Tấn và tôi chạy bộ suốt buổi chiều mưa lâm râm từ trường tiểu học quận Chợ Gạo, dọc theo sông Tham Thu ra ngã tư giáp nước thuộc xã Bình Phan, men theo kinh Chợ Gạo qua xã Bình Phục Nhứt, băng qua ruộng đồng xã Bình Phục Nhì cho mải đến gần nửa đêm mới tới nơi. Còn một khoảng xa xa đã thấy ánh đèn điện, đèn măng-sông, đèn khí đá đốt sáng trưng một vùng. Và tiếng trống cơm, trống con, đàn kìm, đàn gáo, kèn Tây nghe rầu thúi ruột. Sau này ông ngoại tôi cũng đã một lần về cơ tại nơi này, vào khoảng 1959.

     Rồi, mèn ơi, đúng là nhậu từ sáng tới chiều... Vì kẹt cái đám cưới nên tôi phải xin rút lui trước, chui vào phòng nằm nghỉ một vài giờ lấy sức. Vậy mà lúc Tô Kiều Phương đưa tôi lại tiệm của Bình thì mấy anh còn kéo nhau đi nhậu nơi khác, mới hay ông nào tửu lượng cũng cao. Chắc là nhậu không xỉn lưu linh không vừa lòng hay sao hổng biết nữa.

     Trời chiều nhạt nắng, gió lộng từ biển khơi đưa vào mát rượi. Con đường hướng về phía Bắc có những cây to cho đầy bông màu xanh xanh tím tím, màu lavender , đẹp như mơ. Có phải đây là hoa Jacaranda mà có người gọi là hoa phượng tím chỉ có ở mỗi tiểu bang California? Tôi có hỏi Bình loài hoa lạ tên gì vậy mà Bình cũng chẳng biết luôn, nhưng lại còn diễn tả thêm là nhiều đoạn đường trồng loại này cả hai bên, lúc nở hoa che kín cả vòm trời. Những đoạn đường đó ở đâu chưa thấy, giờ chỉ thấy bà con cô bác ăn mặc rất sang trọng nhởn nhơ đi ăn cưới. Cả hai đám luôn, bên này và bên kia chung nhau một bức vách như một căn... duplex . Seafood Palace. Tiếng nhạc đã xập xình trổi giọng. Vì đến hơi trễ nên tìm chỗ đậu xe cũng không phải dễ, phải lần qua bãi đậu xe phụ phía đằng sau.

     Trong lúc người chào đón đầu tiên đang bắt tay với tôi, không rõ là bên đàng trai hay gái, thì Bình cất tiếng hỏi:

     - Biết ai đây không? Nguyễn Tấn Hưng khóa 17 đấy!

     - Ô, nhận ra niên trưởng rồi. Ông khác đi nhiều.

     Tôi cũng vừa nhận ra khóa đàn em Nguyễn Quốc Hưng:

     - Ừa, thì đã già rồi. Tôi gặp anh ngoài đường thì chắc cũng không nhận ra đâu nha...

     Xong xuôi, bước vào trong tôi ngó dáo dác tìm người quen. Thấy ngay cựu đại đội trưởng, Commandant (Cmd) Nguyễn Hải. Kế bên là Thềm Sơn Hà, Trần Vĩnh Tuấn, Nguyễn Ðăng Cương... Xéo xéo qua bên kia bàn có Ðồng Văn Dũng, Lê Kim Kình ... toàn là bạn cùng khóa. Chào hỏi Cmd và bắt tay các bạn xong thì có Nguyễn Việt Dân trờ đến. Không khác xưa bao nhiêu, cũng ốm ốm xương xương:

     - À, mầy là thằng duy nhứt trong khóa chạy lạc qua tận bên Nhật đây mà!

     - Ủa sao mầy tới được đây, tao nghe tụi nó nói mầy ở xa mà.

     - Thì tao ở xa, tuốt bên Chicago, nhưng tình cờ đi vacation qua bên này. Không hẹn mà gặp thế mới vui mậy. Sao, mầy thấy bên Mỹ với bên Nhật có khác gì không?

     - Khác nhiều chớ mậy... Bên đó toàn là đầu đen, hì hì...

     Tôi nhắc lại chuyện xưa, hồi nào còn ở Bình Thủy, coi như là trạm nghỉ chân của bạn bè từ Sài Gòn xuống Năm Căn, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Rạch Giá, Phú Quốc... và ngược lại. Dạo đó các bạn cùng khóa hầu hết đều nắm chỉ huy phó giang đoàn, Thủy Bộ, Trung Ương, Xung Phong, Tuần Thám, Trục Lôi... đầy đủ cả. Ðã mang thân là chỉ huy phó, vậy mà chẳng biết tại sao thằng bạn mình hụt tiền, bảo... "mầy đưa tao mượn 500 tì mua vé xe coi," thì kể ra cũng lạ lùng và bạt mạng thiệt. Tôi nói:

     - Bà xã tao hay nhắc đến mầy ở cái lần mầy hết tiền về xe... và rồi sau đó gặp lại nhau ở Cát Lái, mầy rủ tao đi nhậu một chầu chem chép mút mùa lệ thủy ở quán Jacqueline.

     - Ý da, mầy còn nhớ Jacqueline nữa hả, hì hì...

     Chưa hết câu chuyện thì Bình trở lại, kéo tôi đi vòng vòng gặp khóa đàn em mà Bình như rõ từng người. Nào là Mai Văn Bôn, Trần Ðình Can (bị hearing lost rất nặng, phải mang hearing aid mà cũng nghe lúc được lúc không), Phạm Thụy Ðiển, Nguyễn Mai (vẫn hào hoa, trẻ trung như ngày nào), Nguyễn Văn Minh, Ðặng Văn Mỹ, Nguyễn Từ Nam, Trần Kim Ngọc, Nguyễn Ðình Sở, Nguyễn Văn Tranh, Trần Vinh... Vắng bóng Lê Bá Chư, Trần Chấn Hải... Sau hơn 30 năm rồi chỉ còn mang máng một vài nét trên những khuôn mặt đã lên hàng cha chú với mái tóc điểm sương. Tuy nhiên, khi nhắc đến tên thì ký ức như chợt hiện về rõ mồn một. Ðàn em tả oán:

     - Ông nổi tiếng là vua treo giò. Bước vào phòng là... "tất cả treo giò lên." Có bữa cầm khúc bánh mì đi tới đi lui rồi đi mất tiêu luôn, tụi này lục tục tự động bỏ giò xuống mà còn run hổng biết ông có trở lại bất tử hay không, lỡ bắt ra quây riêng thì chết...

     - Nhưng ông thương phòng Omega 9, ông nhớ không? Tiểu đội trưởng hướng dẫn mà. Hễ thấy đàn anh tới đòi quây thì ông khoác tay bảo... "tụi mầy đi chỗ khác, chỗ này có tao..." Ðỡ quá...

     - Ông với ông Tiểu, Trịnh Xuân Tiểu, quây tôi tới một hai giờ sáng...

     Tôi ngạc nhiên:

     - Vậy sao? Hổng nhớ nữa! Nhưng chắc tại anh có tội... tội rất lớn là dám làm em ruột của đại quan Nguyễn Việt Dân chớ gì, hì hì... Thôi nè, cụng một ly cho các chuyện xưa đã rơi vào quên lãng, một trăm phần trăm nghen...

     Từ Nam đứng dậy:

     - Cả bàn này hổng thằng nào chịu uống hết ông ơi, để tôi đại diện uống theo ông...

     Cạn ly cognac tôi trở về bàn cũ. Trong đầu như vẫn còn lâng lâng với tình nghĩa anh em, tình nghĩa bố con, tình nghĩa khóa trước khóa sau. Quây chết sống đó mà rốt cuộc hóa ra lấy kính mến quí trọng thay cho hận thù hằn học mới là lạ. Dường như càng bị quây nhiều lại càng có nhiều kỷ niệm, càng có nhiều chuyện để nhắc. Cũng nên thương xót, tội nghiệp cho những ai đó ra trường mà không có một ngày tù, không biết khám tối là gì.

     Ðể ý thấy bạn Thềm Sơn Hà ngồi kế Cmd đại đội trưởng mà tuồng như bắt ổng ngồi im hoài, không ai tiếp chuyện đưa hơi gì hết trơn, nên tôi tới nói nhỏ... mời thằng bạn mình đi chỗ khác chơi. Thế chỗ, tôi khơi mào:

     - Cmd có tin vào số mệnh hay không, Cmd? Mình thấy sau cuộc đổi đời kẻ vào vòng lao lý, người vượt biển ra đi, sống chết không biết đâu mà lường, hình như mỗi người đều có số mệnh riêng, Cmd?

     - Có chớ! Tôi cũng tin con người ta có số mệnh!

     Lại khơi mào tiếp:

     - Mình thấy Cmd nói hay thì Cmd chắc viết phải hay, sao Cmd hổng viết lại những gì Cmd đã trải qua, vốn sống của Cmd nhiều quá mà?

     - Người ta đã viết hết rồi, tôi không muốn viết thêm nữa làm gì!

     - Nói cái này Cmd nghe nghen, hồi thi ra trường mình sợ rớt quá chừng...

     - Trong các anh, ai mà không sợ rớt lúc thi ra trường...

     - Nhưng mà Cmd ở trên Cmd thấy tình trạng của mình lúc đó ra sao?

     - Thì như ông Lương (nói có mồ ma cựu HQ Tr/Tá Hà Ngọc Lương, người đã tự tử sau ngày mất nước) phê bình anh đó... "thằng Hưng nó thông minh nhưng nó ba gai." Nhưng phần anh thì cũng không đến nỗi nào, những người khác kìa mới đáng nói, thí dụ như Phạm Sĩ Hậu (nói có mồ ma Hậu, đã vượt ngục và bị xử bắn trong tù)...

     - Tuổi trẻ mà Cmd, ai lại hổng ba gai... Cmd có nhớ Cmd phạt mình đứng thao diễn nghỉ ở ngã tư Trần Hưng Ðạo, đường vào câu lạc bộ sinh viên sĩ quan, từ mặt trời mọc tới mặt trời lặn không?

     - Nhớ chớ, tôi phạt anh mà sao tôi không nhớ cho được!

     - Cmd biết không, giữa trưa hai cô gái con bà chủ câu lạc bộ thay phiên nhau đem bánh trái, trà nước mà khóc lóc quá trời đó...

     - Thôi, bỏ qua cấp bậc, bỏ qua đại đội trưởng khóa sinh... cứ xem như anh em đi, để tôi nói mấy chuyện này cho anh nghe...

     Rồi, cứ lại phải nghe giảng... moral đây. Hầu như những người từng đứng trên bục giảng, những bậc làm thầy, có cái nhu cầu là cần người khác lắng nghe những gì mình muốn trình bày, diễn đạt. Tôi biết tôi phải lắng nghe thôi, nhưng tôi có cái tật, hễ tôi nghe nhiều quá thì từ lỗ tai này hay chạy thẳng sang lỗ tai kia mà không thấm vào đầu...

     Tiệc vãn. Chia tay. Tan hàng. Quá đủ cho một ngày. Lúc bước vào nhà trọ, thấy chị Mộng Thu đang cắt may áo quần, Tô Kiều Phương đang cắt dán những trang quảng cáo, sao mà có vẻ đầm ấm hạnh phúc quá. Con cái lớn rồi giờ sống lại cảnh hai vợ chồng son. Bên tai còn có giọng ca cải lương phát ra từ cái radio nhỏ trên đầu tủ nào khác gì không khí gia đình bên nhà dạo 60-70... Tôi thấm mệt nên xin kiếu, tìm vào phòng làm một giấc, không buồn nghĩ tới chuyện tắm mát trước khi đi ngủ.

     Sáng hôm sau thức dậy muộn mới hay mình có hai ba messages để lại trong máy. Trước tiên, rằng thì là vợ chồng thầy Minh, Trần Quang Minh (dạy tôi Triết năm đệ nhất trường Nguyễn Ðình Chiểu - Mỹ Tho) cô Hường, Huỳnh Hường (cũng cựu giáo sư trường Nguyễn Ðình Chiểu - Mỹ Tho) của tôi cho hay là bận việc riêng không thể lên đón và đưa tôi đến nhà cô Huỳnh Thị Ngọc Hường (cựu giáo sư trường nữ trung học Lê Ngọc Hân - Mỹ Tho) như chương trình đã dự trù. Thầy cô còn dặn thêm rằng nếu có thể được thì đi xuống San Diego bằng xe lửa cho biết với người ta. Thứ đến, cô Thúy Ái hẹn gặp tôi ở nhà sách Tự Lực để bàn thêm chi tiết chương trình ra mắt sách. Thôi thì cái gì đến trước tính trước, chuyện ra mắt sách và ăn đám cưới xảy ra trong ngày này, chuyện đến sau tính sau, chuyện đi San Diego vào ngày mai.

     Sau màn tắm sáng thoải mái xong xuôi Tô Kiều Phương lại rủ đi uống cà phê. Chẳng nơi nào khác hơn là Croissant Doré. Gặp lại anh Minh Ngôn, trông anh ốm hơn nhiều so với dạo trước. Nói dóc, tán gẫu một hồi thì đến giờ hẹn, Tô Kiều Phương đưa tôi lại nhà sách Tự Lực và giao khoán tôi cho đám trẻ. Gặp thêm vài thành viên hay thân hữu của HOPE như Lê Việt Ðiểu (làm báo trên San Jose, chắc là nhậu bí tỉ ở nhà nhạc sĩ Vô Thường chiều hôm qua nên quần áo còn xốc xếch, bèo nhèo), Trần Ðức Tín, Hà Trọng Ðược, Nhật An (làm đài phát thanh trên San Jose), An Khánh, Kim Chi Michigan... Cũng có hơi trùng hợp, vì hôm nay là ngày Tự Lực sẽ quảng cáo rầm rộ một ngành thương mại mới, đưa sách vở báo chí lên bán trên NET, định làm ăn lớn như một amazone .com của Việt Nam. Có nhóm Tùng Giang đang lo chương trình âm thanh, giống trống khua chiên, bán đại hạ giá trong ngày đầu. Tôi không muốn "thấy sang rồi bắt quàng," nhưng ngược lại, lại có người đến làm quen Thúy Ái và mời thâu vào máy vài lời để phát hành tập thơ Cuối Nẻo Ðường Hạnh Phúc . Bán liền tại chỗ dăm ba cuốn cho khách bên đường, ông đi qua bà đi lại. Còn muốn kéo tôi vào... mê hồn trận vì mấy dòng trích đăng ở bìa sau, réo gọi:

     - Ðó, người viết bạt cho Thúy Ái là anh Nguyễn Tấn Hưng đang đứng ở đằng đó đó...

     Làm tôi phải trờ tới tiếp chuyện và được dịp làm quen với vợ chồng anh Nguyên Chương, một người soạn nhạc, có mặt trong một CD nào đó của ca sĩ Thùy Dương. Anh chị cũng vui, bảo đã đọc tôi qua vài tác phẩm. Tuy nhiên, tôi thấy chuyện... thương mại thơ văn giữa chợ búa như vầy có vẽ kỳ kỳ nên rủ đám trẻ đi ăn trưa. Tiện thể, đi vòng vòng xem danh lam thắng cảnh của người Việt quanh thành phố. Ghé qua Ðền Thánh Tử Ðạo Việt Nam xem chưng bày bonsai và hoa lan. Bên ngoài nhìn vào cứ tưởng là một cảnh chùa vì nhiều tầng mái cong đỏ ối, không tưởng tượng được là một đền thánh công giáo bao giờ... Rồi chia tay, rồi tan hàng...

     Chiều về. Bổn cũ soạn lại, Tô Kiều Phương lấy xe đưa tôi ra tiệm của Bình. Tôi nói qua chương trình ra mắt sách và rủ Bình cùng đi. Ðịa điểm là quán cà phê Tao Nhân của ca sĩ Thiên Hương. Tôi có nhiệm vụ nói mấy lời mở đầu cho ra vẻ vậy thôi. Các bạn trong HOPE lăng xăng đủ thứ, ngoài việc bán thơ còn bán áo thun kỷ niệm để gây quỹ nữa. Thúy Ái ăn mặc rất khác mọi ngày, áo bà ba tím quần đen. Tôi có hơi ngạc nhiên bảo:

     - Ủa, sắp đến giờ ra mắt ra mũi mà sao chưa thay đồ?

     - Không anh, em mặc như vầy mà...

     À, thì ra muốn... chơi trội mà tôi nào hay! Ừa, cũng nên có cái gì đặc biệt, quê hương một tí!

     Và ở đâu cũng vậy, giờ Việt Nam vẫn là giờ dây thun. Bình bỏ tôi lại với nhóm bạn trẻ và sẽ quay lại đón tôi sau vì phải đến dự tiệc cưới cho đúng giờ để không thôi bạn bè trông. Vả lại ban tổ chức cũng muốn chờ thêm tí xíu nữa cho đông đủ mọi người, vì ngay cả các thành viên trong hội mà cũng còn vài người chưa đến. Song, chẳng bao lâu, phút khai mạc rồi cũng bắt đầu. MC Trần Ðức Tín nói vài lời cho nguyên nhân buổi hợp mặt, giới thiệu tân hội trưởng Vũ Thành nói vài điều to nhỏ, nhỏ to. Thứ đến là phiên tôi, đại khái, chuyện văn thơ chữ nghĩa của tác giả thì tôi đã viết ra trên giấy trắng mực đen rồi, giờ chỉ nói đến cái giao tình giữa Thúy Ái và tôi khởi đi từ đâu vậy thôi. Từ những quen biết thân thuộc với các anh chị em Thụy Vũ, Hồ Trường An, Trần Long Hồ... lẽ đương nhiên. Chỉ vắn tắt, gọn gàng vì tài xế Bình đã trở lại, đang chờ. Chúc mọi thứ thành công, HOPE càng ngày càng mở rộng vòng tay. Rất tiếc, phải đi ngay.

     Cũng là một nhà hàng sea-food, Seafood World. Khung cảnh đám cưới ở các nhà hàng hầu như giống nhau. Cũng hoa đèn sáng trưng. Cũng sân khấu, sàn nhảy. Cũng hội nghị bàn tròn, bàn tròn... Lại ngó dáo dác tìm người quen khi bước vô khỏi cửa. Ui chao, bạn bè cùng khóa đông quá. Ngoài khổ chủ Trần Trọng Lộc ra còn có Võ Văn Chiêu, Nguyễn Việt Dân, Nguyễn Văn Diệp, Ðồng Văn Dũng, Phạm Bá Khoát, Lê Kim Kình, Thềm Sơn Hà, Nguyễn Khắc Long, Ðoàn Ngọc Lý, Ðỗ Ngọc Quảng, Trần Văn Siêng, Vũ Trọng Sơn, Trần Trọng An Sơn, Nguyễn Văn Từ, Trần Vĩnh Tuấn... Có mấy đứa ở xa xa, trên San Jose như Nguyễn Ðăng Cương, Nguyễn Võ Hiệp hoặc giả từ San Diego như Vũ Văn Tình (cứ tưởng đang cư ngụ tại Santa Ana mới ly kỳ)... Thiếu mấy tên tại chỗ như Phan Ðình Bá, Trần Văn Minh, Nguyễn Trung Tâm (về Việt Nam), Trần Văn Toàn, La Xú... Tuy thấy bạn bè đó nhưng phải đến chào các cựu đại đội trưởng trước, Cmd Nguyễn Hải, Cmd Ðặng Kim Lê, không thôi sẽ bị la.

     Bạn quân ngũ gặp lại biết bao nhiêu là chuyện để nói. Ðứa nào cũng có những chuyện riêng, lúc về hải đội đi tàu lớn, lúc về làm thuyền trưởng PCF, lúc làm chỉ huy trưởng đài kiểm báo, thuyền trưởng Coast Guard, lúc làm chỉ huy phó giang đoàn, duyên đoàn, hạm phó tàu lớn, vân vân... Mỗi lần đi ra ngoài hút thuốc là ồn ào nhứt, vui vẻ nhứt. Ðược dịp mầy tao, ăn tục nói phét, chọc cười chọc tức, tâng bốc hạ bệ lẫn nhau. Giữa cuộc đùa giai đang ngon trớn như vậy mà, trước khi ra về, Cmd Nguyễn Hải nhảy vào tham gia nữa thì còn gì vui bằng:

     - Anh Hưng này, mai mốt có rảnh sang đây ở với tôi vài tháng, tôi sẽ kể chuyện cho mà viết... Nhiều lắm...

     Tôi tình thiệt:

     - Có lý đó Cmd...

     Thế mà, ấy chết, lúc ổng đi rồi Vũ Văn Tình chê tôi ngay một câu xanh dờn:

     - Sao mầy dở vậy, bộ mầy rét ổng hả? Mầy phải nói... như vầy, như vầy...

     Hừm, phải sợ cái nhạy bén của Tình về những suy nghĩ, những câu nói nghịch lý rất ư là châm biếm... Cả bọn cười khan... Cũng là vui đùa chẳng cố ý thôi. Phải nói ra để cười không thôi mai kia mốt nọ trở về với cát bụi thì không còn dịp để nói, để cười nữa...

     Rốt cuộc đi ăn hai cái đám cưới mà lần nào cũng vậy, ăn thì ít mà uống và nói thì nhiều. Ðể khi về nhà thì... đói. Vậy mà Vũ Trọng Sơn còn bày đặt lôi cả bọn về nhà, viện cớ không mấy khi gặp đông đủ anh em để bàn chuyện lớn. Ai dè, đã không đãi anh em ăn món gì lạ miệng ( oh well , có lẽ tại tất cả đều ăn đám cưới trọn vẹn chớ không nửa mùa như tôi), mà chỉ đãi nước trà đàm đạo khơi khơi. Ấy vậy mà kéo dài gần tới nửa đêm mới chịu tan hàng, thiệt khổ. Tôi nhờ ông bạn già Siêng đưa về nhà Tô Kiều Phương vì cùng đường. Lúc đến nơi mới tá hỏa tam tinh, đèn đuốc tối thui:

     - Thôi rồi, vợ chồng Tô Kiều Phương đi ăn đám cưới con ông trung tá An bên cảnh sát chưa về! Hổng lẽ chờ? Ê, ghé vào nhà bạn ngủ tạm qua đêm có được không?

     - Nhà tao chật lắm, con cái dâu rể mới về nữa. Ðể tao đưa mầy lại nhà thằng Khoát, rộng rãi hơn một chút...

     - Ừa, đi thì đi...

     Thấy nhà còn để đèn neon sáng trưng là mừng rồi, còn thức. Hổng chừng đang thức theo bà cụ, chăm sóc bà cụ trả hiếu đây mà. Bước vào cửa tôi thấy đám con cháu đang trải mền ra sàn nhà phòng khách làm chỗ đóng đô đêm nay. Siêng nói mấy câu giáo đầu và Khoát bảo:

     - Không có gì trở ngại hết. Vô đi, vô đi. À, hay là mầy vào đây ngủ chung với thằng Từ, em tao, hì hì...

     Tôi còn đang bán tín bán nghi... ủa sao có vụ ngủ chung với thằng em thằng này. Ðang đi tà tà về phòng thì có một cô mở cửa vọt đi ra. Khoát lên tiếng:

     - Vợ thằng Từ đó...

     Tôi không dằn được, hỏi:

     - Thằng Từ là thằng nào vậy mậy?

     - Thì thằng Từ khóa mình chớ thằng Từ nào!

     Chị Khoát cười, chỉ... vợ thằng Từ nói thêm:

     - Em gái mình đó...

     Tôi vỡ lẽ, thì ra hai thằng là cột chèo, Khoát chèo mũi Từ chèo lái. Có nghe nói qua nhưng chưa gặp mặt nên đâu biết ai là ai. Mệt thiệt. Tôi lột giày nhảy lên giường thả thác lác một giấc dài. Mới mờ mờ sáng lại có người không cho ngủ muộn nữa mới khổ. Bỗng dưng la toáng lên:

     - Ủa, sao mầy vô đây hồi nào mà tao không hay?

     Lòng mừng thầm là đêm hôm qua nó uống cũng ngà ngà say nên ngủ thẳng cẳng, chớ hổng thôi nửa đêm quay qua tưởng ôm vợ nó mà ôm nhằm tôi thì chắc bể ổ cả đám, dám có thằng bị đạp văng xuống sàn...

     - Ðể lát nữa đi uống cà phê rồi tao kể cho mầy nghe, hì hì...

     Không mấy chốc có Ðỗ Ngọc Quảng đến chơi và rủ đi ăn sáng. Ăn mì ở nhà hàng Thiên Phúc. Và ngay sau đó tôi nhờ Quảng đưa tôi về nhà Tô Kiều Phương để xem tình hình diễn biến ra sao. Chị Mộng Thu đang lo làm bếp cho tiệc nhậu sắp tới mặc dầu chưa có ai ló mặt. Người khách đầu tiên là chị Thức, kế đến là ca sĩ Phượng Mai. Tôi lui cui gọi phone liên lạc với Bình nhờ đưa ra trạm xe buýt con chó chồm, Grey Hound, ở Santa Ana. Bình cho biết có chuyến xe một giờ rưỡi, phải đi liền không thôi không kịp. Bình lại nhà xớt tôi đi như quạ xớt gà con rồi chỉ drop tôi tại bãi đậu xe mười phút. Tôi vào trong, đến quày mua vé. Chỉ một giờ mười lăm phút thôi mà ông bán vé bảo xe đã chạy rồi. Tôi nghĩ chắc là họ bán hết vé nên chạy sớm hơn thời khóa biểu. Bèn hỏi thăm chuyến kế tiếp. Câu trả lời là... "đến bốn giờ chiều và nếu cần đi ngay thì ghé qua trạm xe lửa, Amtrax." Quả là không tính trước nhưng rốt cuộc tôi cũng được đi xe lửa một lần cho biết như thầy cô tôi dặn.

     Nhưng mà, đi xe lửa sướng thiệt. Rộng rãi, vì hai bên hai dãy ghế hai chỗ ngồi mà chẳng ai chịu ngồi chung, trừ khi đi có cặp như vợ chồng. Mát mẻ, vì có máy lạnh hẳn hòi. Ông soát vé cũng đến bấm lỗ trên vé như ông soát vé xe lửa ngày xưa bên nhà. Ðặc biệt ông còn gắn thêm miếng giấy màu làm dấu là đã kiểm soát rồi và tùy màu giấy mà biết hành khách đi tới đâu. Cũng ghé lại nhiều ga nhỏ làm nhớ những ga Trung Lương, Tân Hiệp, Tân Hương, Bến Lức, Thủ Thừa, Tân An, Bình Chánh, Gò Ðen, Phú Lâm của thiết lộ Sài Gòn - Mỹ Tho vào thập niên 50-60. Nhất là khi có những hồi còi rít lên, làm nhớ quá những... "tiếng còi trong sương đêm" của những chuyến đi sáng sớm mờ mờ sương khói năm nào thời tôi còn ở tuổi 12, 13. Qua khỏi Irvine, xe lửa bắt đầu chạy dọc theo bãi biển, nhiều chỗ chạy sát tận nơi những người du khách đang trải khăn tắm nắng luôn. Mãn nhãn nhất là đoạn Oceanside, khỏi cần đi biển cũng... rửa mắt được. Còn gì thích thú cho bằng đi xuyên giữa một bên là biển khơi mênh mông, một bên là núi đồi trùng điệp. Tâm hồn khách lạ phương xa cũng thanh thoát, bay cao...

     Lúc gọi phone cho thầy Minh, có tiếng trả lời ở đầu giây kể cũng mừng. Thầy hỏi:

     - Hưng hả, đang ở đâu vậy?

     - Dạ, đang ở nhà ga.

     - Vậy à? Chờ đó nghen, chỉ cần mười lăm hai mươi phút là tôi sẽ ra đón. Cũng gần nhà thôi...

     Và rồi còn sớm chán nên thầy chở đi xem các thắng cảnh. Trước hết vòng ra La Jolla Beach xem mấy con hải cẩu, những con seal thật, thường thấy trên TV, đài Discovery. Chỉ độ khoảng một trăm con trở lại mà hấp dẫn hàng ngàn du khách xa gần, chen chút viếng thăm đen nghẹt. Trên đường về thầy ghé qua Mount Soladad, trên đỉnh cao có xây một thánh giá bằng gạch block , sơn trắng rất lớn. Một biểu tượng của công giáo và cũng là đề tài tranh chấp cho các tôn giáo khác. Từ đây du khách có thể nhìn khắp thành phố San Diego và xa hơn, bên kia biên giới về hướng Nam là xứ Mễ Tây Cơ. "Việt tục bất hiếu cổ," câu nói của Hàn Dũ, ngẫm nghĩ lại thấy đúng và buồn cho Việt Nam. Bao nhiêu di tích lịch sử cứ bị tàn phá, hủy hoại từ triều đại này sang triều đại khác, từ ý thức hệ này sang ý thức hệ khác. Rốt cuộc rồi mình chẳng còn gì để người ngoại quốc đến thăm viếng, chiêm ngưỡng, nghiên cứu cả...

     Chiều về, hẹn nhau ra tiệm Quốc Tế. Ngoài thầy cô còn có chị thủ quỹ hội Ái hữu trung học Lê Ngọc Hân và Nguyễn Ðình Chiễu - Mỹ Tho, chị Nguyễn Thị Trung, và ông xã, anh Ðức. Món ăn đạm bạc nhưng thoáng hiện cái ấm cúng của quê nhà, món canh, món kho mặn, món xào, món luộc. Cùng nhau nhắc lại thuở học trò trường xưa, bạn cũ. Hóa ra anh Ðức là bạn học cùng lớp với La Xú khóa tôi...

     Lúc trở về nhà, có hai đứa con thầy cô bước ra chào:

     - Chào bác... Chào chú...

     Liền có tiếng của thầy rầy:

     - Không được kêu bác chú, phải kêu bằng anh...

     Tôi có hơi ngạc nhiên, thì ra thầy vẫn coi tôi như đàn con cháu học trò của thầy ngày xưa cho dù tóc đã bạc. Nhưng rồi hai đứa vẫn gọi tôi bằng chú thôi, kể cũng vui. Biết tôi có soạn nhạc nên thầy moi ra cây đàn guitar. So dây xong xuôi thì cô tôi, mà tôi đã quen gọi bằng chị, chị Hường (cũng từng là học trò cưng của thầy Minh), có nhã ý muốn hát một vài bản. Hên quá, tôi có đem theo nguyên xấp nhạc gần 60 bài của tôi. Không ngờ chị Hường có trình độ thẩm âm rất cao, không cần tập, chỉ nhìn vào note nhạc và nghe qua vài dòng nhạc dạo là cất tiếng ca đúng y boong. Lại thêm có giọng ngân thiên phú nữa. Dìu dặt du dương quá. Cứ nghĩ chị chọn nghề giáo là lầm nghề, chọn nghề ca chắc bây giờ đã trở thành một Hoàng Oanh hay Hương Lan rồi. Ngoài ca sĩ Diễm Châu và các ca sĩ giải Tượng Vàng của trung tâm Diễm Châu, cùng chị Linh Phương... thì thật tình cờ, đêm nay tôi lại có thêm một "đồng minh" mới! Không kể một vài "đồng minh" ở Việt Nam mà tôi chưa hề quen biết, chỉ nghe qua đài VOA trong chương trình Nhạc Việt Hải Ngoại do anh Dương Ngọc Hoán phụ trách, đã viết thư tỏ lời cảm thông! Nhờ bản nhạc đồng quê Hương Quê Tình Khúc . Mải mê với "cung đàn muôn điệu" mà không mấy người thèm để mắt tới hay lắng nghe qua đó, đến lúc buông tay đàn ngưng tiếng hát thì trời đã vào khuya. Thầy tôi đã đi ngủ mất tiêu rồi nên cô tôi lật đật sắp xếp chỗ nằm đạc biệt cho tôi cho thả lưng. Còn thêm một câu thòng dễ dàng đưa tôi vào cõi mộng:

     - Mười lăm năm rồi, Hưng là người khách đầu tiên được ngủ trong nhà này đó nha...

     Qua ngày sau, thầy trốn việc nghỉ thêm một ngày đưa tôi đi choi. Buổi sáng đi thăm lòng vòng phố Việt Nam, trưa ghé tiệm Hoài Huế ăn bún bò Huế. Xong, thầy đưa tôi đến một chỗ mà thầy biết tôi thích, Old Point Loma, nơi có ngọn hải đăng xây vào thế kỷ thứ 16. Do nhà hàng hải Juan R. Cabrillo từng dong thuyền đến đây vào năm 1520, nên còn gọi là khu Cabrillo National Monument. Chiếc xe con con của thầy chạy trên xa lộ tuồng như cứ bị người ta ăn hiếp, vì dân Cali chạy xe cũng khiếp thiệt, vận tốc 80 miles một giờ là chuyện thường. Ðã vậy thầy lấy lộn exit nên phải vòng tới vòng lui. Trời vẫn ui ui và thỉnh thoảng rắc hột sương sương. Loạt soạt trên vai áo.

     Leo cầu thang trôn ốc lên tận tháp đèn cho biết. Phòng khách, phòng ăn, nhà bếp, phòng ngủ và tất cả vât dụng, bàn ghế, ly tách, áo quần, nồi niêu, giường chiếu... đều được giữ y nguyên theo từng tầng một. Thấp thoáng một nếp sống lặng lẽ cô đơn giữa biển rộng, trời cao của những người... lính thú hàng hải đời xưa.

     Dưới chân ngọn hải đăng, trông về hướng Ðông Bắc, là căn cứ Hải Quân Mỹ với cầu cặp và tàu bè lớn nhỏ đậu san sát với nhau. Có thủy xưởng và ụ nổi nữa... Bất chợt, một chiếc khu trục hạm, Destroyer, rẽ sóng ra khơi giữa hai hàng phao xanh đỏ ghi nhận lạch nước sâu. Trông giống chiếc HQ1, Trần Hưng Ðạo, hay HQ4, Trần Khánh Dư, của mình quá. Chỉ khác là tàu mình có súng lớn súng nhỏ lộ thiên, đằng này sân trước sân sau trống lổng trống trơn vì Hải Quân Mỹ ngày nay không cần trọng pháo mà chỉ xài hỏa tiễn. Tàu ra khơi bao giờ cũng buồn buồn vì là cảnh kẻ ở người đi. Nhất là đối với những người đi biển đã từng trải qua những... can qua. Mấy ai biết được tâm tình những người thủy thủ đang bâng khuâng, lừng lững đi vào đại dương muôn trùng sóng nước kia? Bỏ lại bên bờ người mẹ già như chuối ba hương, người vợ hiền bé bỏng chiều sương, đàn con ngây thơ non dại, hay những người bạn tình nghĩa thân thương? Nát lòng hơn là những chuyến... một đi không bao giờ trở lại của những người vượt biên, lìa xa cố quốc? Thấy hai con cá heo, dolphin , dễ mến, cùng với những cánh hải âu đã từng là bạn hải hành rất chung tình của người lính thủy, nên tôi mua làm quà kỷ niệm khi tạt qua gian hàng gift-shop ...

     Thầy thả tôi dọc theo lề đường Gold Coast, khoảng gần nhà hai bạn Diễm Châu - ViVi. Vì chung cư nào cũng vậy, apartment hay townhouse , phải luồn lách qua những lối quanh co, hiểm hóc mới tới nơi. Ai đến lần đầu cũng dễ bị lạc khơi khơi. Mở cửa rào bước vào thì có tiếng ViVi nói vọng vào trong:

     - Em ơi, có Nguyễn Tấn Hưng tới rồi nè. Ðúng hẹn đúng giờ đó nghen...

     Diễm Châu bước ra, giọng lè nhè thường lệ:

     - Chào anh Hưng, anh mạnh giỏi...

     - Mạnh thì mạnh nhưng giỏi thì chưa chắc đã giỏi...

     Diễm Châu đề nghị với ViVi:

     - Hay là mình đi chợ luôn đi anh, để xem nấu món gì đặc biệt đãi khách đây ha...

     - Ði thì đi. Luôn tiện anh mua thêm rượu, soda. Nguyễn Tấn Hưng đâu có uống sec hả?

     - Ừa, cognac thì phải pha soda cho nó dịu ngọt chớ...

     Chẳng phải đi đâu xa, tiệm Việt Nam tiệm Mỹ đều gần. Về nhà, Diễm Châu lo làm bếp. Diện cánh áo xường xám ngắn tay vào mà còn bảo cho nó giống con sen chạy bàn. ViVi lo gọi bạn bè đến chung vui. Chắc không mấy người rảnh rỗi vì là ngày thường, không phải cuối tuần. Rốt cuộc chỉ còn mấy ông bạn già. Tiếng thơ Linh Sắc, tức Võ Phục Hưng, người thơ BHT, tức Bùi Hữu Trí, và thầy cô tôi cũng ghé qua cho biết nhà (người thì đã biết nhiều rồi). Lai rai dĩa thịt nguội trước với đặc biệt có món nem của ViVi tự tay làm lấy, khá ngon. Sau đó Diễm Châu đãi món mì, có bánh giá chiên tôm đàng hoàng... Bỗng dưng, ViVi nổi hứng lo xa cho bạn bè:

     - Mai Nguyễn Tấn Hưng có đi đâu chơi không? Hay là ở nhà mình đắp cho cái tượng để đời. Ði chơi một mình về có cái tượng chắc bà Hồng Lan cũng chẳng thèm cằn nhằn...

     Úi chà, có đi chơi chắc cũng phải gác qua một bên quá, tôi nghĩ vậy trong tình huống này. Vì mấy thuở người nghệ sĩ bạn ta đang có hứng, có đề tài sáng tạo. Tôi khoái chí:

     - Có lý đó nha! Nhưng mà làm lâu không?

     - Người khác thì một tuần, còn Nguyễn Tấn Hưng thì chỉ cần một buổi là xong ngay.

     - Vậy thì mai làm...

     - Ừa, để mai mình chở đi mua dụng cụ rồi ghé shop kẻ bảng hiệu của thằng em, cũng là một họa sĩ trẻ, rồi mình đắp cho. Ở đây bề bộn, chật chội quá...

     Rồi mặc dầu chưa khuya nhưng tiệc tàn sớm, vì ai ai cũng bận rộn công việc ngày hôm sau. "Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về," chỉ có nghĩa là tôi xách vali đi rồi lại xách vali về nhà thầy cô trở lại. Nhà của Diễm Châu và ViVi bày biện ngổn ngang như cái tiệm hàng xén. Trải nệm xuống đất ngủ ở phòng khách cũng là việc khó, phải dời đổi dọn dẹp rất nhiều thứ...

     Sáng ngày, thầy cô tôi người đi dạy người đi lo chuyện học đường, các em cháu đi học, giao nhà cho tôi coi nguyên buổi sáng. Diễm Châu và ViVi ghé qua rước đi ăn nửa sáng nửa trưa ở tiệm Lương Hải Ký. Diễm Châu quảng cáo giùm chủ nhà hàng món... mì hoành thánh xủi cảo khô. Ðược lắm. Rồi chia tay, Diễm Châu đi lo công việc riêng còn ViVi và tôi đi lo chuyện... nghệ thuật. Tiệm kẻ bảng hiệu của Hải, người họa sĩ trẻ như ViVi giới thiệu, đây rồi. Góc đường El Cajon và đường 50th. Ngoài gian phòng nhỏ sạch sẽ, khang trang làm chỗ tiếp khách ở phía trước, phía sau là nơi làm việc với nhiều dãy bàn dài, ngắn dành cho cưa cắt, đục đẽo, mài dũa. Sau nữa là bãi đậu xe.

     Bây giờ bổn phận tôi là chỉ ngồi làm cảnh, hoặc đi tới đi lui hút thuốc xả hơi. Còn ViVi thì lúc ngó ngay lúc liếc xéo bên này bên kia, khi thì portrait khi thì profile . Pha chế fiber-glass , đắp thêm lên, mài dũa xuống. Kế đến đục mũi đục tai, khoét mắt khoét miệng, xén tóc, xén râu... bụi bay phủ lên người. Ôm cái đầu lâu lật qua lật lại, ngó trước ngó sau lắm lúc tuồng như nhập hồn, say sưa trong công việc. Ðiếu thuốc gắn trên môi tàn cháy dài thòng không hay.

     Trong khi anh Hải tà tà gắn bóng, chạy dây, thử điện chớp tắt. Lâu lâu soạn ra một miếng băng-đô-rôn lau chùi, cắt dán, ngắm nghía. Xem ra nhàn hạ lắm, chẳng có gì gấp rút, vậy mà thỉnh thoảng lại than:

     - Công việc gì mà làm hoài sao hổng hết vầy nè...

     Cũng là dịp để tôi học nghề, không phải hàm thụ, cũng không phải " hand on ," mà là... " eye on ." Về phần kỹ thuật thôi chớ còn việc... vẽ đâu giống đó, đắp đâu giống đó như ViVi thì còn phải xét lại. Phàm làm một tác phẩm nghệ thuật, vẽ tranh, đắp tượng, soạn một đoạn nhạc, làm một bài thơ, hoặc viết một truyện ngắn, truyện dài... cái hay của tác giả là biết dừng tay đúng lúc, đúng chỗ. Vì nhiều khi thêm một nét, một bệch, một note , một chữ... lại rất có thể làm xấu đi cái tác phẩm đang ưng ý của mình. Tôi không có kinh nghiệm về đắp tượng, vả lại thấy trời đã xế chiều rồi, nên hỏi:

     - Sắp xong chưa, ViVi?

     - Xong rồi, xong rồi nè... Bây giờ muốn màu gì, màu đồng đen, màu vàng rỉ, hay giữ màu... natural của fiber ...

     Ý dà, đã xong rồi mà mình không biết ha! Tôi dễ dãi:

     - Màu nào cũng được mà!

     Hải góp ý:

     - Có màu vàng kim nhũ kìa. Bảo đảm sơn lên nếu không giống tượng vàng Oscar thì sẽ giống tượng vàng 24 ca-ra.

     ViVi đem tượng ra phía sau hè sơn thử, buột miệng:

     - Giống vàng 24 ca-ra thiệt. Thôi, để từ từ ngày mai mình làm "teng" cho, chớ để vàng quách như vầy coi hổng giống ai. Mà tối rồi, đi về nhà kiếm gì nhậu cái đã...

     Hải đưa bọn tôi về nhưng bận chuyện riêng không ghé vào chung vui được. Nhưng có hai vợ chồng người bạn thơ trẻ thuộc dòng dõi Tôn Thất, Tôn Thất Thái, và cũng là người sành sõi về computer , đến chơi. Có mang theo sẳn đồ nhắm mua ở tiệm. Thêm món tôm rang muối của Diễm Châu làm, hương vị không thua gì các nhà hàng, là quá đủ mồi nhậu. Lai rai ba sợi nói chuyện đời, chuyện đời xưa rồi chuyện đời nay, kể cả chuyện tại San Diego nữa. Cũng vui...

     Sáng hôm sau là ngày tôi lên đường trở về Santa Ana. Diễm Châu và ViVi đến đón tôi lần cuối ở nhà thầy cô, định chở đi ăn trưa và đưa thẳng xuống nhà ga, nhưng cô tôi có nhã ý mời luôn tất cả. Bàn tới bàn lui rồi cũng quay về nhà hàng Quốc Tế vì ở đó có món "tỉm xấm" vừa tiện vừa gọn và hợp với khẩu vị nhiều người.

     Buổi chia tay với cô tôi có hơi vội vã, chỉ qua một cái... big hug thế thôi, vì quá giờ trở lại với công việc. Buổi chia tay của Diễm Châu và ViVi càng vội vã hơn, vì đã trễ giờ đi làm mà tìm không ra nhà ga. Thả rề rề bên vệ đường cho tôi xuống rồi vọt. Lọt vào khuôn viên bán vé tôi ngạc nhiên vì vắng vẻ quá. Rốt cuộc chỉ mỗi mình tôi tà tà tiến đến quày. Nhưng, ồ vỡ lẽ ra, khi ông bán vé vừa đưa vé vừa bảo:

     - Tàu sắp chạy, đi ngay đi cho kịp. Chỉ một đoàn tàu duy nhất đậu ngoài đó thôi.

     Xách vali chạy. Bước ra sân gặp ngay bà Mỹ mập, hối:

     - Ðưa đây tao xách cho, nhào lên đi! Giống mầy quá, ai làm vậy?

     À, thì ra bả còn đủ thì giờ để nhìn ra bức tượng giống người đang ôm. Tôi đáp gọn:

     - Bạn tao...

     Cũng vui khi có bạn đồng hành, mà là chính mình nữa, ngồi một bên. Kẻ tới người lui đều liếc mắt, trầm trồ, cười mỉm. Mấy đứa nhỏ nữa, bảo... it's cool! Lần hồi, tôi thấm mệt nên ngủ gà ngủ gật một giấc. Chỉ giựt mình khi bà soát vé đến thu tấm giấy màu làm dấu và nhắc nhở mọi người... "Santa Ana station in 5 minutes."

     An toàn xuống trạm. Ngẫm nghĩ "ăn cho trót ở cho tròn," dẫu sao tôi cũng đến với Tô Kiều Phương từ ngày đầu, nên tôi nhấc điện thoại gọi bạn hiền trước, nhờ ra đón. Nhưng nghe qua mấy tiếng than vãn mà... lòng tôi càng não nuột hơn:

     - Chết cha, đang bận quá trời đây rồi làm sao...

     Tôi chột dạ, không muốn hỏi thêm đang bận gì chỉ vắn tắt:

     - Vậy à, thôi để mình tìm người khác...

     Xui xẻo thiệt. Vì có 50 xu lẻ bỏ vào máy thì bị giựt mất tiêu luôn tiền thối (chỉ 35 xu gọi local ). Giờ phải đi đổi tiền lẻ thôi. Ghé lại mấy quày bán vé, ai cũng lắc đầu. Hỏi ông cảnh sát, ổng cũng lắc đầu luôn. Nhưng được một điểm là chỉ mánh... "go to the cafeteria." Sắp hàng theo khách hàng. Tiền xu lẻ thối ra thu vào ào ào đó mà đến lúc mình hỏi thì thằng Mễ tỉnh bơ, lắc đầu... "no changes, man." Ý da, cái xứ Santa Ana này coi vậy mà kém văn minh hơn San Diego nhiều. Chả bù khi tôi mới xuống đó, tàng tàng lại quày information tìm hỏi coi điện thoại công cộng nằm ở chỗ nào, thì bà Mỹ đưa luôn điện thoại cho gọi khi biết tôi chỉ gọi địa phương.

     Không đổi được tiền lẻ thì chỉ còn cách duy nhất là gọi collect , gọi Bình cho chắc ăn. Gặp chị Oanh, bà xã Bình. Chắc đã có kinh nghiệm nhiều về việc đón đưa này nên chị dặn kỹ:

     - Anh Hưng đó hả, tôi sẽ cho anh Bình hay. Anh cứ chờ hoài ở đó đi nghen. Lâu mấy cũng chờ vì lỡ anh Bình ra đó không có anh thì ảnh lại chờ anh.

     - Nghe rõ rồi. Thì phải chờ ở đây thôi chớ đâu có xe cộ gì đâu mà đi.

     Chờ mãi rồi Bình cũng tới. Hỏi thăm tôi chuyến đi San Diego và tôi tả sơ sơ, rằng thì là, vui thiệt là vui. Bỗng dưng, Bình rủ:

     - Hay là chiều nay về nhà mình chơi, ăn bữa cơm gia đình họp mặt.

     Tôi suy nghĩ, Tô Kiều Phương cho biết đang bận nếu mình trở về nhà vào lúc này chỉ sợ làm phiền thêm gia chủ, thôi thì sẵn dịp này:

     - Ừa, đi thì đi...

     Nhờ vậy tôi có dịp gặp đủ mặt anh em Bình. Hầu hết đều vượt biên nhưng cũng có người chờ bảo lãnh, mới qua được vài năm. Ðược ăn mấy món Bắc thuần túy, home made , do bà cụ thân sinh Bình nấu như ốc nấu đậu, bún vịt sáo măng, vịt luộc chấm nước mắm gừng... ngon tuyệt. Bà cụ chắc hạnh phúc lắm khi con cháu tụ họp đầy nhà, thuận trên hòa dưới, không trâu trắng trâu đen. Bà cô em của bố Bình, cũng vui lây. Tối lại, tôi theo gia đình Bình về căn nhà ngoài biển, vùng Hungtington Beach, ngủ qua đêm. Chỉ cách nhau vài dặm đường mà không khí nơi này tuồng như có khác. Trong lành hơn là cái chắc. Yên tỉnh, an ninh nữa thì còn đòi hỏi gì hơn.

     Sáng ngày, Bình rủ tôi exercise , đạp xe đạp lọc cọc dọc theo... walking trail có tráng nhựa ngay tại bờ biển. Một dặm đi một dặm về giữa gió lộng từ ngàn khơi, rì rào sóng vỗ. Làm nhớ lại một thời quân ngũ, sinh viên sĩ quan, ở Nha Trang. Giờ chắc đã thay đổi nhiều, biết có còn trống trải như xưa với dân số ngày một tăng, sống bon chen, chật đất...

     Trước khi Bình đưa tôi đi ăn sáng rồi thẳng ra phi trường, chị Oanh gọi tôi:

     - Anh Hưng, anh Hưng... lên đây tôi chỉ anh cái này...

     Tôi lót tót lên cầu thang lửng, nơi chị đứng, và nhìn theo ngón tay chị chỉ về phía cửa sổ lớn bên hông nhà. Chị nói:

     - Anh thấy gì không? Tôi thích nhìn những bóng nắng xuyên qua lá cành nhảy múa trên mặt suối lung linh phía sau hè!

     - Ừa, ngoạn mục nên thơ quá hả?

     - Tôi mua căn nhà này tại vì tôi thích cái... view đó!

     À, thì ra đừng tưởng tối ngày chị chỉ lo buôn bán với khách hàng mà không biết thưởng thức cảnh trí thiên nhiên. Cũng là tâm hồn đang muốn tìm về cái thanh tịnh, bình an đây.

     Quẳng hai cái xắc lên xe, Bình chở tôi ra tiệm La Kay ăn mì dằn bụng trước khi lên phi cơ. Vừa cầm cây tăm xỉa răng bang bang đi ra cửa lại đụng đầu Tô Kiều Phương mới là lạ. Bạn hiền vừa cười hề hề vừa trách:

     - Sao đi đâu tuốt luốt luôn vậy ông thần.

     Tôi cũng cười trừ:

     - Lỡ bị bắt cóc rồi ông ơi... Mà nè, để mình gởi lại tập thơ mới in Một Thoáng Hững Hờ , xách đi lòng vòng mà cứ quên hoài.

     Lại chia tay. Ðộ khoảng một giờ trên xa lộ là đến phi trường Los Angeles. Người vẫy tay lần cuối cùng là Bình, người bạn luôn lo lắng cho bạn. Ðã lo lắng cho riêng tôi rất nhiều lần. Và thêm lần này nữa... Trên phi cơ tôi lim dim hồi tưởng lại bảy ngày qua, sao mà đầy ấp những kỷ niệm thân thương...

     Chỉ cần Bảy Ngày Trong Ðồng Tháp Mười ông Nguyễn Hiến Lê đã viết thành một cuốn sách. Phần tôi, bảy ngày bên xứ thần tiên (có thể chỉ áp dụng cho những người ở xa thôi), chẳng lẽ không viết nổi một bài ký sự để hầu bạn hay sao? Cám ơn, cám ơn rất nhiều người đả cho tôi cơ hội sống bảy ngày qua. Ừa, mà người đầu tiên tôi phải cám ơn là bà xã tôi. Ðã thỉnh thoảng thả lỏng cho tôi đi chơi rong với bạn bè và người thân xa gần...

   back to top

05. TRỞ LẠI CANADA

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Tháng bảy lại về. Tháng của những ngày hè, đỏ lửa. Lại nghĩ đến những ngày xả hơi, đi thăm thú đó đây lấy lại tinh thần. Làm hoài ngày hai buổi sáng xách xe đi chiều xách về, một thời gian dài từ mùa đông, riết cũng ngán. Nhứt là đối với những ai nhận công việc mới, project mới, giai đoạn đầu học hỏi, nghiên cứu những gì gọi là mới đều không phải dễ dàng. Nhứt là đối với những ai đã qua tuổi trung niên, đầu óc không còn bén nhạy, nhanh nhẹn như xưa.

     Những kẻ đồng hội, đồng thuyền, đồng thời... đồng bệnh đều sẵn sàng cảm thông nhau. Ngẫm nghĩ lại rồi quanh mình còn những ai? Nếu chẳng phải là những người bạn cùng màu áo trận, áo trắng, năm xưa! Một thuở cùng nhau ôm mộng hải hồ, giữ gìn bờ cõi, xây dựng quê hương! Những đàn anh, đàn em của các khóa HQ... 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19..., những Bắc Giải, Hải Sư, Xử Nữ, Thiên Xứng! Những 20, 21, 22, 23, 24, 25... xuất thân từ trường Nha Trang, cánh hải âu tung bay khắp bốn phương trời! Nếu chẳng là những bạn văn một thời bên trời lận đận, làm thân viễn xứ, luôn vọng nhớ quê cha đất tổ ngày ngày đang cơ cực lầm than! Những tuy xa mà gần, tuy gần mà xa qua con đường nghệ thuật văn, thơ, nhạc, họa, ảnh..., đã âm thầm trải rộng lòng mình trên giấy mực, màu sắc cho những tâm hồn đồng điệu! Nếu chẳng là những người bạn nối khố, bao năm mài đũng quần trên ghế nhà trường trong những ngày niên thiếu! Những mày tao rong chơi, chạy nhảy với những bài học vỡ lòng cùng thầy cô kính mến.

     Chính vì những lý do đơn giản như vậy mà từ đầu tháng sáu tôi đã mớm hơi với Hoàng Như Hiền, thằng bạn cùng khóa 17 HQ:

     - Ê, hôm nào mầy với tao làm bậy một chuyến lên Toronto thăm thằng Hiếu (Mạc Công Hiếu) chơi mậy. Cũng đâu xa gì, khoảng 9, 10 tiếng lái xe, sáng đi chiều tới.

     Ðúng ra ngoài Hiền và tôi, quanh Chicago khóa 17 HQ còn có Nguyễn Ngọc cũng như vòng vòng Toronto còn có Trần Ngọc Ðiển, nhưng bạn bè thuộc loại cầm... ly vẫn thường nhắc nhau hơn và dễ kiếm cớ để đi chơi. Bởi thế, khi nghe tôi "đặt vấn đề" thì Hiền sốt sắng phụ họa ngay:

     - Ði thì đi.

     Tôi hỏi:

     - Vậy chừng nào? Ngày mai khởi hành nghen, mầy đừng làm tao mất hứng.

     - Vừa phải thôi mậy! Mầy thì dễ chớ tao còn phải sắp xếp, làm bù cho tụi nó vài ngày rồi thì tao mới nghỉ bù lại được chớ mậy!

     - Rồi, lại bàn trớt nữa rồi.

     Tưởng là chương trình bàn tính đã đi đong, ai dè cách vài tuần sau, sắp sửa July 1st là ngày lễ độc lập của Canada không cách xa July 4th của Mỹ bao nhiêu, Hiền lại gọi phone cho tôi:

     - Hê, thứ năm này đi Toronto mầy. Tao check với thằng Hiếu xong rồi, nó cũng lấy mấy ngày nghỉ đưa tụi mình đi chơi. Tụi mình sẽ chạy lên Montreal thăm thằng Hậu (Phan Thế Hậu) luôn. Mầy đến tao khoảng 9 giờ sáng rồi dồn vào chiếc Van của tao đi một xe cho tiện. Nhớ mang bà xã mầy đi theo cho có bạn với bà xã tao.

     - Xong, xong ngay.

     Chẳng còn mấy ngày nữa nên tôi liền email thông báo các bạn văn để có gì còn gặp nhau hàn huyên tâm sự. Kẹt cái, thời buổi văn nghệ nhiễu nhương, chỗ nào cũng chia tam xẻ tứ, bè phái, dị biệt nên cần phải xét lại! Tiếc quá một thời nào, năm 1991, đại hội Văn Bút hải ngoại kỳ 3, hơn 160 anh chị em tụ họp về và buổi tiệc tiếp tân ở nhà hàng South Việt Nam của cựu dân biểu Nguyễn Văn Tiết sao mà đầm ấm, thân tình với MC Trà Lũ Trần Trung Lương, đương kim chủ tịch văn bút Nguyễn Ngọc Ngạn! Và đêm họp mặt bỏ túi ở nhà Phan Ni Tấn, với vợ chồng Thủy Trang - Bá Dĩnh, Lê Quang Xuân, vợ chồng Luân Hoán, vợ chồng Nguyên Ngọc - Nguyễn Ðông Ngạc, Thụy Khanh (đến từ Paris), Vi Vi, Viên Linh... sau tiệc rượu lại ngã lăn ra sàn nhà ngủ! Còn nhớ tôi nằm kế anh Viên Linh, ngủ ngái khò khè kéo đờn cò quá cỡ! Giờ thì tôi chỉ dám nhắn Phan Ni Tấn và Nguyễn Ðạt (chủ báo Thời Báo Toronto) thôi. Còn trên Montreal thì gởi Hoàng Xuân Sơn, Luân Hoán, Nguyễn Vy Khanh, Võ Kỳ Ðiền.

     Hình như con người ta, có lẽ thời nay thôi, càng lớn tuổi càng tập sống giản dị. Ngay cả chuyện đi đứng, ăn uống. Không cầu kỳ, nhiêu khê như những ông đồ, cậu ấm ngày xưa. Vợ chồng tôi cũng vậy, quần áo đồ đạc cứ xếp vào một túi dết cho tiện việc. Không còn vali lớn nhỏ. Không còn giày, dép lỉnh kỉnh. Cứ giống như ngày nào đi lính, một túi quân trang, một sac-marin vác lên vai là lên đường. Chọn I-80 rồi vòng về hướng đông thay vì I 55, I 294 đang sửa chữa vì sợ trễ nãy. Lúc đến nhà bạn còn thấy Hiền đang thăm dò dầu nhớt, xem xét máy xe. Hiền lên tiếng:

     - Úi dà, đi đúng giờ giấc ha.

     - Ừa, đường xa mà mậy.

     - Bọn tao cũng sẵn sàng, xong hết cả rồi. Chờ bà xã mang thằng Vịt (Lucky Duck tên thiệt là Việt, con trai út của vợ chồng Hiền, nhưng cứ gọi cái nick name cho vui) là tụi mình khởi hành.

     Dặn dò Lăng, con trai lớn của vợ chồng Hiền, mấy điều cần thiết là cả bọn tà tà ra I 94. Nếu thẳng xông một đường thì sẽ đến Detroit, rồi thì cuối đường có hai lối binh, hoặc chun đường hầm hoặc leo cầu cao, băng qua bên kia biên giới, vùng Windsor. Nhưng sợ bị kẹt xe nên Hiền rẽ qua I 69 đi về Port Huron. Quang cảnh hai bên đường khu vực này cũng chẳng có gì khác lạ, chỉ được cái đường vắng, vận tốc giới hạn 70 mph thay vì 60 mph nên đi nhanh hơn. Qua khỏi London (thị trấn Ðiển đang ở) một chút thì giáp xa lộ 401 đi Toronto. Từ 401 vòng lên khu Brampton cũng không xa lắm nên tới nơi còn sớm chán, mặt trời mới vừa xế bóng về tây. Bấm chuông. Hiếu ra đón, mừng rỡ:

     - Nhà dễ tìm phải không tụi mầy? Chẳng đi lạc?

     Hiền vọt miệng:

     - Lạc mẹ gì! Ðến một lần là đường nằm trong bụng!

     Rồi bà xã Hiếu bước ra chào... quí khách! Bé Michelle (5 tuổi) tiếp Vịt, nắm tay kéo đi chơi game! Làm nhớ lại hai năm trước, cả khóa về họp mặt kỷ niệm 30 ra khơi, hai mẹ con bà xã Hiếu đi lạc ở Huntington Beach bên Cali, làm cả bọn gần 20 mạng già trẻ, kẻ đi lên người đi xuống tìm kiếm quá chừng chừng. Có người đưa đề nghị chắc phải kêu 911, thông báo cảnh sát. Ðể rốt cuộc gặp lại nhau ở bãi đậu xe. Nhắc lại mà cười, mà vui. Những kỷ niệm đến và đi thật bất chợt.

     Mấy bà xun xoe làm đồ nhậu, đại khái món lẩu chua cá lóc tươi bạc hà, cà chua đậu bắp và tôm rang muối. Thêm món chay, măng, đậu hủ, nấm rơm xào vì bà xã Hiếu trường chay đã hơn 10 năm và bà xã tôi cung được 4 năm qua. Trong khi chờ đợi, ba đứa bày rượu ra nhâm nhi với mấy con khô mực, cá chỉ vàng hăng say tán gẫu. Rằng thì là mầy chọn tàu nào khi ra trường... LST, LSM, PCE, PGM! Mầy đổi lên Duyên Ðoàn nào... Cửa Việt, Sa Huỳnh, Thuận An, Tiên Sa, Chu Lai, Deji, Qui Nhơn, Sông Cầu, Tuy Hòa, Hòn Khói, Bình Ba, Thanh Hải, Rạch Dừa, Ba Tri, Long Toàn, Rạch Sỏi, Hà Tiên, Phú Quốc... Ðổi lên Giang Ðoàn nào... Xung Phong, Ngăn Chận, Thủy Bộ, Tuần Thám... Thời nào đi PCF, Coast Guard... Thời nào làm chỉ huy trưởng Ðài Kiểm Báo... Thời nào đi học Tham Mưu trung cấp... Thời nào làm chỉ huy phó Duyên Ðoàn, Giang Ðoàn, Căn Cứ, Tiền Doanh Yểm Trợ... Làm hạm phó LST, LSM, PCE, Destroyer, Whech... Làm hạm trưởng PGM, hạm trưởng... tạm trú hạm, không chân vịt không bánh lái... Thằng nào chết, chết ở đâu... Hoàng Sa, Trường Sa, Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré, Côn Sơn, Phú Quốc, Sơn Rái, Nam Du... Trên vùng sông rạch Bến Cát, Bến Kéo, Bến Lức, Tuyên Nhơn, Trà Cú, Thủ Thừa, Chợ Gạo, Giao Hòa, Vĩnh Tế, Rạch Sỏi, Kiên An, Kiên Hưng, Vàm Lẽo - Cổ Cò, Ðầm Dơi, Năm Căn, Gành Hào, Ông Ðốc, Thới Bình, Xà No... Ðâu đâu cũng thấy bóng dáng bạn bè đã làm nên... một thời oanh liệt, nhưng rất tiếc, nay còn đâu.

     Lại gọi phone cho những người thân. Hiền gọi rủ Nham, Nguyễn Ðăng Nham, em bà con bạn dì ruột, con của giáo sư Nguyễn Ðăng Thục. Tôi gọi vợ chồng Phan Ni Tấn đến chung vui. Tiện thể tôi ngõ ý gọi thăm bà chị kết nghĩa. Hiền cười khan, tả oán với Hiếu:

     - Ðó, mầy thấy thằng Hưng không, đi đâu thì cũng lắm chị lắm em.

     Tôi phân trần:

     - Bậy mầy, chị tao thiệt mà. Bà xã tao biết mà. Hồi còn học đệ thất, đệ lục...

     Mà rồi tôi gọi thiệt. Một thời gian khá dài, có lẽ đã hơn 30 năm qua, giờ gặp lại chắc nhìn không ra. Khoảng đời học trò, 7 năm trung học Nguyễn Ðình Chiểu, Mỹ Tho, lại hiện về rõ nét, mồn một. Sau tiếng... hello, hello trong phone, tôi hỏi:

     - Phải chị Hoài hôn? Biết ai đây hôn?

     - Hưng hả? Ðang ở đâu vậy?

     Thì ra bà chị đã không quên giọng nói. Tôi cười:

     - Ở gần chị lắm, thành phố Brampton nè!

     - Thiệt à! Brampton cách Missisauga không xa, thôi ghé lại chơi nha! Giờ này thì anh Năng chưa về, đang đi làm phụ trội đến 10 giờ tối.

     Nghe bà chị gọi anh Năng làm tôi hơi mắc cười, vì tôi vẫn mầy tao với bạn. Gọi chị là chị thì hiển nhiên rồi nhưng chắc không thể nào gọi bạn là anh theo nghĩa đen của nó được, cho dầu nó có lớn hơn mình một tuổi, bằng bà chị, đi nữa! Tôi đưa phone cho Hiếu ghi đường đi nước bước do bà chị vẽ và hẹn... khi nào đến thì sẽ gọi lại.

     Chẳng bao lâu Nham tới. Có dịp cho Hiền ra điều kẻ cả anh anh, em em, xem chừng muốn giữ gìn nguyên tắc, gia phong. Chỉ lâu lâu ông em bất đồng ý kiến, kê tủ đứng ông anh nhè nhẹ thật là đúng điệu nghệ nhà nho. Cũng vui thôi. Rồi vợ chồng Phan Ni Tấn đến. Lâu ngày coi bộ bạn hiền mập mạp, phát tướng, phát tài, ăn nên làm ra. Nhưng tội một điểm là không cao thêm nên giờ này con, cu Lân, cao hơn bố. Chị Khiếm, vợ Phan Ni Tấn, thì tuồng như vẫn tươi trẻ như xưa, không mấy gì thay đổi. Có lẽ hãng tương Bồ Ðề ngày càng phát triển, mở mang bán lan sang cả xứ Cờ Hoa. Bà xã tôi lại có dịp học làm một vài món bánh ngọt, món mắm chay.

     Tôi nâng ly:

     - Mời... bà con...

     Phan Ni Tấn đáp lời:

     - Lâu nay bỏ rượu nhưng gặp bạn hiền thì vô lai rai. Lát nữa em lái xe nghen.

     - Ý, không được đâu. Em hổng dám chạy highway.

     Ðúng là một câu nhắc khéo. Nhưng rất hiệu nghiệm. Vì sau đó không lâu Nham lẫn Phan Ni Tấn đều kiếu từ ra về. Bọn ba tụi tôi vẫn tiếp tục nhậu tì tì. Ðến lúc xem lại đồng hồ đã gần 11 giờ đêm. Tôi nghĩ cứ đi thăm bà chị là hơn vì chương trình ngày mai đi Montreal không định trước ngày về, tùy tình hình vui ở buồn đi, nhiều khi không có dịp ghé lại. Bèn gọi điện thoại báo động và Hiếu sẵn lòng đưa vợ chồng tôi đi ngay. Tuy không xa nhưng muốn đến nơi phải quanh qua, quẹo lại nhiều bận rất dễ đi lạc khi dò tên đường, số nhà vào ban đêm. Ấy vậy mà đi đúng y boong. Ðèn mái hiên, garage mở sáng choang. Bóng bà chị, bóng bạn hiền rõ như ban ngày.

     - Mời vào, mời vào...

     Nhìn bên ngoài, nhà ở Canada hình như nhà nào trông cũng giống như nhà nào, vì cất theo kiểu day đầu song ra đường. Ðất rộng người thưa mà làm như thiếu đất. Tuy nhiên, bước vào trong thấy cách bày biện trang trí thì mới biết gia chủ, khu phố có sang trọng hay không. Khang trang, sạch sẽ. Chị Hoài cười, giọng trầm ấm, nhỏ nhẹ như ngày nào:

     - Hồi chiều nghe "anh chị" tới nên chạy xuống chợ mua trái cây về đãi khách. Mùa này, trái cây tươi và rẻ lắm.

     Tôi phân trần:

     - Xời, bà này còn bày đặt gọi "anh chị" nữa hả! Gọi Hưng bằng tên như ngày nào đi nha.

     - Lớn hết rồi, con cái sắp dựng vợ gả chồng hết rồi, gọi tên hoài coi sao được?

     Bà xã tôi mè nheo:

     - Thôi đi, chị cứ gọi em là em như xưa đi.

     Năng xách rượu lại, xen vào:

     - Làm một chai nghen.

     Tôi hỏi:

     - Sao hồi đó hổng chạy. Nghe nói Không Quân ở Cần Thơ, Trà Nóc đều di tản được hết mà.

     - Tại bả kìa, bả hổng chịu đi. Chớ là dân kỹ thuật, tụi tao đã dành riêng một chiếc trực thăng máy móc sửa chữa, tu bổ hoàn hão.

     Tôi quay sang hỏi:

     - Chị Hoài, chị Hoài... ông Năng nói tại chị hổng chịu đi nên gia đình kẹt ở lại kìa.

     - Ừa, tại tui chớ hổng phải tại ảnh. Lúc đó đâu biết Cộng Sản là gì, cứ nghĩ đất nước thanh bình, mạnh ai nấy sống.

     Hiếu nhắc lại thời 1967 ở Nha Trang, khi sinh viên sĩ quan hai trường Không Quân và Hải Quân choảng nhau. Thì ra khóa 66B của Năng, Chữ (bạn Hiếu) lại cùng thời với khóa 17 của tụi tôi. May mà mọi chuyện đều được giảng hòa tốt đẹp nên không có màn đập lộn lẫn nhau.

     Chuyện xưa thời đi học trung học đem ra kể nhau nghe như bắp rang. Những thú vui trốn học của học trò, nhưng đêm xây cơ, những buổi đi vườn ông Khánh, những lần vào chùa Vĩnh Tràng, những bận sang thăm Cồn Rồng rồi như nhớ mãi... Vãn tuồng thì trời cũng vào khuya. Trước khi từ giã chị Hoài dặn dò:

     - Tụi này mời trước hai ông bà đến ăn cơm chiều chúa nhựt nghen. Ði Montreal về nhớ gọi nghen. Còn gặp bà Dương, anh Kỉnh nữa chi.

     Bước vào nhà, bộ ba lại tiếp tục nhậu tiếp. Ðến 2, 3 giờ sáng mới chịu đi ngủ. Tôi mò vào phòng family room tìm cái sofa nghỉ lưng, làm một giấc ngon lành đến sáng vì kể ra anh hùng đã thấm mệt.

     Sáng ngày, việc đầu tiên là gọi phone cho Hậu, mục đích cho biết chương trình, giờ giấc. Khoảng 6 giờ chiều sẽ đến nơi. Hiếu trao phone cho tôi sau khi nói:

     - Thôi mầy nói chuyện với thằng Hưng đi nghen.

     Tôi... hello, hello vài tiếng trong khi còn nghe loáng thoáng tiếng Hiếu bàn với Hiền... "nó nói trưa nay nó sẽ đi bịnh viện scan gì gì đó độ một tiếng là xong, và nằm nhà chờ tụi mình..." Nhưng tiếng của Hậu trong phone thì dường như khác xa tiếng của Hậu ngày nào. Nói năng chậm rãi theo kiểu hết hơi:

     - Hưng đó hả Hưng! Tụi mầy xuống chơi là tao vui rồi, mầy nhớ đem theo cây đàn đặng hát cho tao nghe nghen...

     Tôi lại trao phone cho Hiền nói tiếp với Hậu, và quay sang Hiếu:

     - Kỳ vậy mậy! Bộ nó bịnh nặng lắm sao á, mà bịnh gì vậy?

     - Chả biết nữa! Nhưng dạo này nó tu rồi, từ ngày vợ nó mất coi bộ nó xuống dốc thê thảm.

     Nhớ hồi năm 1992, vợ chồng tôi có đến Montreal ra mắt cuốn Một Nỗi Buồn Riêng , suốt một tuần lễ tá túc ở nhà Hậu. Chị Ðược, vợ Hậu, rất hiếu khách. Chiều nào cũng có tiệc rượu cho mười mấy hai chục người trong nhà. Còn chỉ cho bà xã tôi làm món nem chua bằng thịt bò nữa. Ngày ra mắt sách, hai bà ngồi chung nhau một bàn bán sách cũng ra vẻ tâm đắc lắm. Ðùng một cái... hay tin mất. Thiệt là... chưng hững. Còn nhớ Phạm Trọng Thu ở Oregon (một trong những thằng thân với Hậu) và tôi có chung tiền mua vòng cườm gởi đến nhà quàn. Giờ nghe tin bạn bịnh nặng lại lo lắng thêm. Hổng chừng đi thăm bạn lại hóa ra là đi thăm bịnh.

     Thôi thì cứ đi, tới đâu hay tới đó. Cả bọn chui vào chiếc Van vòng xuống tiệm Phở 99 ăn sáng rồi mới lên đường. Chuyến đi này có thêm bé Michelle vì bà xã Hiếu còn bận đi làm ngày thứ sáu. Hiền làm tài xế. Chẳng biết bị dị ứng với ai hay đất trời Canada mà bỗng dưng ho quá chừng, ho đến tắt tiếng luôn. Mình không ho mà cảm như đau lồng ngực. Vừa bắt qua đường 401 thì bị kẹt xe, nhiều lúc đứng chựng không nhúc nhích. Ðúng là bumper-to-bumper, nhìn xa hằng chục dặm trước mặt. Hẹn bạn 6 giờ chiều thì trễ là cái chắc. Lúc thoát ra được rừng xe trời đã xế chiều. Dọc đường còn tà tà dừng lại bên đường ngắm cảnh vì nhà nước Canada bận... sửa đường. Nói chung thì không "Blame Canada" (đổ thừa Canada) như một bản nhạc Robin Williams đã ca trong giải Oscar Award, mà chắc phải "Blame American" thôi. Vì July 4th nào dân Mỹ cũng đổ xô đi nghỉ hè bên Toronto và Montreal.

     Ðường sá đã lên đèn từ lâu. Ghé vào chỗ nghỉ xả hơi lần chót trước khi vào thành phố. Lúc bắt qua xa lộ 40 thì trời chuyển cơn giông, trút cơn mưa rào như trút nước. Kẹt dữ, nhằm lúc mình phải dò đường, đọc mấy bảng hiệu. Dạo trước đi từ Mỹ qua nên tôi trực chỉ I 87 từ tiểu bang New York đi lên, ghé vào Longueuil rất dễ. Giờ thì phải băng qua sông St. Laurent trên một cây cầu nào đó mới xuống được nhà Hậu. Hiền đã vẽ sẵn bản đồ, cứ men theo đường 134... Vậy mà, chạy hoài không thấy ngã rẽ qua 134 hay bảng chỉ dẫn nào đi xuống Longueuil. Cơn mưa bắt đầu ngưng hột thì cảm thấy đã xa quá xa rồi, sợ mình mắt mờ tai lãng đi tuốt lên Quebec nên ghé vào cây xăng hỏi cho chắc ăn. Ðược chú Tây con bảo phải tiếp chạy về hướng đông vài block nữa thì chui vào đường hầm Hyptolithe la Fontain. Longueuil sẽ là bên kia dòng sông, cuối đường hầm. Cứ tưởng sau khi vượt qua đoạn cuối đường hầm thì mình sẽ tìm được con đường 134, dẫn đến Lafayette, nhưng lại mịt mù tăm hơi. Tôi buột miệng:

     - Ê, ngừng lại cây xăng nào đó gọi phone cho thằng Hậu ra đón là chắc ăn tụi mầy, chạy hoài như vầy tao sợ tụi mình về New York quá.

     Hiền ngừng xe ở trạm xăng. Hiếu bỏ vào máy mấy xu gọi phone, nhưng reng reng... hoài mà không thấy ai trả lời:

     - Chẳng lẽ nó ngủ say dữ vậy? Hay là nó vô bịnh viện rồi!

     Nguy hiểm... tốt hơn đừng nghĩ tới! Tôi bạo gan:

     - Ðể tao trổ tài nói tiếng Tây đi hỏi mấy con Ðầm chỉ đường cho lẹ mầy! Tới luôn ngay nhà cho thằng Hậu giựt mình!

     Bảo là nói tiếng Tây cho ngon nhưng rồi lúc mở miệng chỉ quen tiếng Mỹ thôi, cùng lắm là... Comment vous allez vous..., merci beaucoup... May phước, hai cô Ðầm nói tiếng Tây rôm rốp, bàn cãi nhau một hồi thì quay ra nói tiếng Mỹ rành rẽ với tôi. Ðại khái, cứ con đường Carre Portier trước mặt mà chạy thì sẽ đụng Lafayette, nhưng nhiều đèn xanh đèn đỏ. Vẫn tốt hơn là vòng ra xa lộ 20 lại sợ đi lạc tiếp. Hơi chới với khi qua hai đoạn trở thành đường 1 chiều, rồi may thay, cũng gặp Lafayette. Chậm chậm lại để dò số nhà... Hiền suýt vượt bảng "Arret" (Stop) mấy lần nếu không có bà xã la nhắc chừng. Tận cùng, cũng đến "La Mã" thôi. Nhưng khuôn viên nhà Hậu giờ trống trải quá, thấy lạ. Bấm chuông đôi ba lần mà chẳng thấy người ra. Kỳ nhỉ. Rồi chợt thấy cái note cài bên dưới tay nắm, vội gỡ ra đọc... "Anh Hậu đã được khẩn cấp đưa vào bịnh viện Notre Dame ở góc đường Papigneau và Sherwood, hiện chưa có số phòng. Cả nhà đang vào bịnh viện với anh Hậu..." Ngỡ ngàng, nguy hiểm thiệt. Phải bịnh nặng lắm mới đưa vào bịnh viện khẩn cấp. Mà bịnh gì, mổ tim chăng? Nào ai biết được!

     - Hê, bây giờ tụi mình tính sao đây?

     Hiếu hỏi. Tôi trả lời:

     - Bạn văn nghệ ở đây tao quen nhiều lắm, hay là phone cho bạn tao.

     Hiền phân trần:

     - Quen mầy chớ có quen tụi tao đâu! Ðang giữa khuya gọi dựng người ta dậy sao được! Tốt hơn hết là thuê phòng ngủ, nếu muốn ở lại. Bằng không quay trở về. Ê, thằng nào lái tiếp đi, tao mệt rồi.

     - Ðể tao.

     Tôi ngồi vô, cầm tay lái mà chẳng biết đi đâu. Lại chưa có quyết định chung là trở về hay ở lại nữa. Bụng đói mà nói tới chuyện ăn uống giờ này cũng khó, ai mở cửa? Mọi người im lặng, tôi lái ra xa lộ và trời bất dung gian đảng... lại đúng ngay vào đường dẫn lên cầu Pont de Champlain băng qua bên kia sông trở về down-town Montreal từ Longueuil. Thừa thắng xông lên, thẳng một đường tiến tới, thấy phố xá nhộn nhịp, đèn đuốc sáng trưng. Chỗ ăn chơi đây mà. Phải tìm gì ăn để không thôi hai đứa nhóc đói bụng. Quẹo đại một vòng lại gặp đường St. Catherine. Hiếu nhận ra khu phố mà Hậu có lần đã dẫn Hiếu đi chơi. Dập dìu tài tử, giai nhân. Ðầm con, Tây con cặp kè nhau chật cả vỉa hè như vỉa hè Sài Gòn vào dịp Tết, Giáng Sinh. Nhiều người đang sắp hàng để vào một tiệm ăn hay một cour de dance. Xập xí xập ngầu, gái đứng đường lợi dụng thời cơ cũng có.

     Sau khi mua mấy cái hot-dog, hamburger đem về cho mấy đứa nhóc thì bé Michelle thức dậy, khóc đòi mẹ... momy, momy... i wan to go home...

     - Ok, ok... we go home...

     Thiệt vậy, cả bọn quyết định đi về. Tiếc cho vợ chồng Hiền muốn thăm thú Montreal mà không lên được nhà thờ St. Joseph cất trên đồi cao hay ghé qua chợ Tàu, China Town... chỉ toàn thấy Montreal by night. Thôi rồi, good bye Hoàng Xuân Sơn, Luân Hoán, Nguyễn Vy Khanh, Võ Kỳ Ðiền... hẹn gặp lại vào dịp khác hi vọng là năm sau. Tôi thẳng đường St. Catherine xuôi về phía nam, sau khi băng qua đoạn đường hầm thì, may phước, lại bắt vào xa lộ 20...

     - Ði Toronto kìa...

     Hơn một người la lên cùng lúc sau khi nhìn bảng chỉ dẫn. Mừng quá. Không sợ lạc đường nữa rồi. Nhẹ nhõm. Cứ thế men theo, đi đến nơi về đến chốn. Một hai giờ sau, sắp đến Kingston, tôi nhướng mắt hết lên, tấp đại vô lề:

     - Ê, thằng nào lái tiếp đi bây, tao hết thấy đường.

     Hiếu thay tôi làm một lèo trong khi mọi người ngủ gà ngủ gật. Về đến nhà đã hơn 5 giờ sáng. Vợ chồng tôi chui vào giang sơn riêng, family room, đánh một giấc thẳng cẳng.

     Khoảng 10 giờ hơn, đang lúc còn muốn nướng tiếp, thì chuông điện thoại reo liên tục. Những 4, 5 lần... có lẽ không ai bắt hoặc bắt không kịp. Rồi người gọi cũng để lại message thôi. Sẽ gọi lại sau. Sẽ sắp xếp chương trình. Có hai nơi cần phải tới. Trưa đến nhà anh Lễ, Nguyễn Anh Lễ một phụ tá trong tờ Thời Báo, lai rai. Chiều ra nhà hàng Viễn Ðông, chủ báo Thời Báo, Nguyễn Ðạt, mời ăn tối. Chẳng ai xa lạ cả, cũng là bạn bè quen thân, từng ăn nhậu với Hiếu, người thường làm MC cho các buổi Ðêm Ðại Dương cho Hải Quân.

     Mới bước vô nhà, Lễ đã nhận ra ngay:

     - Anh chị Hưng cũng đâu có khác gì đâu.

     Ngạc nhiên hồi lâu tôi mới mường tượng nhớ... à, thì ra đã gặp nhau gần mười năm qua trong ngày đại hội Văn Bút. Dạo đó Thời Báo chưa nổi đình nổi đám như bây giờ, chỉ có tờ Làng Văn của Nguyên Hương - Nguyễn Hữu Nghĩa, tờ Sóng của Nguyễn Tăng Chương, tờ Lửa Việt của Bùi Bảo Sơn, Hải Triều... là tạo tiếng vang, gây bề thế. Giờ thì ngược lại, cuộc cờ đã đổi nước, thay ngôi. Ngồi vào. Mời vô. Hai con cá nướng của Nguyễn Ðức Quang, khóa 14 HQ, đi câu về, cuốn bánh tráng rau sống. Có thêm Nham. Có thêm Phát, Nguyễn Văn Phát, với hỗn danh Ðại Tướng vì không ai có tửu lượng cao hơn. Hết chai Remy, Phát tìm trong tủ rượu của Lễ moi ra chai Martel loại quí, uống ngọt như nước dừa Bến Tre. Các bà cũng được dịp làm quen với nhiều bạn mới.

     Tiếc phải ngưng ngang vì đến giờ đi ra Viễn Ðông. Khu parking phía sau tiệm cũng chật cứng. Bà chủ tiệm đành để "thượng khách" đậu sát vào vách tường, ngay cửa ra vào, treo bảng owner cho cảnh sát khỏi phạt. Gặp ngay Túy, Ðặng Công Túy khóa 24 HQ, một phụ tá của Thời Báo, tay bắt mặt mừng:

     - Ðây rồi, còn nhớ tôi hông?

     Tôi nhận ra ngay:

     - Nhớ mà, lần đó có chụp hình chung nữa mà! Chỉ khác là có da có thịt ra và mái tóc bạc màu, muối nhiều hơn tiêu.

     - Tới đây tôi giới thiệu ông Ðạt.

     Lại tay bắt mặt mừng, nhưng là lần đầu tiên vì... "văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình." Tròn trịa và tóc hói sương sương. Giao tình khởi đi từ cuối thập niên 80 khi tờ Văn Học của Nguyễn Mộng Giác đăng bài Làm Ðẹp Chữ Việt của tôi, sử dụng Troff processing của Bell Labs và PostScript printing của Adobe do tôi sáng chế, xài cho máy IBM. Nguyễn Ðạt và Ngô Ngọc Mỹ bên Canada cũng sáng chế bộ chữ Việt xài cho máy Mac của Apples. Ðáp lời cũng bằng một bài viết công phu trên báo Văn Học. Xa hơn, tuốt bên Nhật, Ðỗ Thông Minh cũng chế ra bộ chữ Việt riêng. Nhớ là còn nhắc Ðỗ Thông Minh xài những chữ i có dấu thì phải xài chữ i mất đầu, i cụt không có dấu chấm. Nhưng rốt cuộc rồi các hãng VNI, VN-Labs, nhóm Trichlor VISCII, hội chuyên gia VPS có cơ hội phát triển, phổ biến rộng rãi hơn.

     Ngồi cạnh nhau tâm tình, lần hồi tôi mới biết chủ báo chẳng hề đọc bài, chọn bài gì ráo. Trừ những bài đặc biệt liên hệ đến việc điều hành hoặc có tính cách cá nhân. Còn thì nhân viên dưới quyền lo lắng hết. Mỗi người phụ trách một phần riêng với những năng khiếu riêng. Có như vậy thì mới có cơ hội trở thành triệu phú được. Thì ra Nguyễn Ðạt cũng không khác gì Ðàm Ðình Bình, cùng khóa 17 HQ với bọn tôi, nhìn đâu cũng thấy tiền. Rồi tiền đẻ ra tiền, với nhiều cơ sở, ngành nghề kinh doanh khác nhau.

     Tiệc tùng ở các quán tiệm, thông thường, đều có giới hạn. Nhứt là thời gian, tùy hứng cũng không xong. Cho nên chẳng bao lâu tiệc tàn, chia tay. Muốn kéo dài thì phải về nhà. Vợ chồng Túy nhận lời và một tiệc rượu dã chiến lại bày ra đến 2, 3 giờ sáng. Rồi hẹn hò lần sau, chiều thứ hai, về nhà Túy.

     Sáng hôm sau bọn tôi thức dậy trễ, trưa trờ trưa trật. Tôi bỗng muốn gọi phone cho Hậu, thăm dò theo kiểu cầu may vì suốt ngày hôm qua Hiếu gọi hoài mà chẳng thấy ai trả lời. Mà rồi hên thiệt, có người lên tiếng ở đầu giây. Không ai khác hơn là người hàng xóm thuê nhà tầng trên:

     - Dạ, anh Hậu chỉ bị đứt một mạch máu nhỏ trong não, đã được các bác sĩ giải phẫu xong. Hiện thời ra khỏi phòng intensive care, tuy dây nhợ chằng chịt nhưng có thể nói chuyện với người thân...

     Mọi người thở phào, an tâm.

     Hiếu nhắc tôi gọi trả lời cho bà chị để xem chương trình chiều nay, chiều chúa nhựt có sắp xếp được như dụ trù không. Nghe reng reng hoài mà chẳng ai trả lời. Sao nữa đây, nguy hiểm à nha. Well, đoán chừng rất có thể đang họp mặt cuối tuần ở đâu đó vì gia đình nhiều anh chị em sang cùng lúc. Thôi thì dành một ngày cho chợ Tàu - Việt Nam, dọc theo đường Spadina. Bát phố Toronto trong mùa lễ lộc này cũng có cái thú của nó. Nhìn thiên hạ đi lên đi xuống mà ngộp. Phân nửa có lẽ là dân bên Mỹ qua chơi.

     Tuy nhiên, tìm món gì bỏ bụng trước cái đã. Hiếu quảng cáo, bún. Có hai tiệm, Sài Gòn và Quê Hương. Thực khách xếp hàng dài dài trên vỉa hè. Ghé vào Quê Hương xem hương vị quê hương trên xứ cờ Lá Cây Phong này ra sao. Bún riêu, bún ốc, bún vịt xáo măng, bún bung... món nào cũng hấp dẫn theo như những tấm hình chụp dán trước cửa. Bà xã Hiền và tôi chọn bún mắm nước lèo, bà xã tôi chọn phở chay. Ðể rồi chua cay phàn nàn, bún mắm mà chẳng nghe mùi mắm, phở chay chỉ có bánh phở và broccoli. Thôi thì chạy mặt, one shot deal, không dám ghé lại lần thứ hai.

     Vòng lên chợ trái cây. Bày bán đầy đường quả chẳng sai. Măng cụt, sầu riêng, bòn bon, lôm chôm, mãng cầu, mít, vải, xoài, nhãn, sa bô chê, thanh long, dừa xiêm... thiệt là không thiếu thứ gì. Còn tươi như mới hái ngoài vườn, chưa từng đông đá. Mua xong vô trong tính tiền. Xếp hàng, chưa đến đổi cả ngày, nhưng dài từ cửa trước đến cửa sau. Xỉu xỉu mà đã hơn 300 đồng. Cũng vui.

     Bàn tới bàn lui, lần này bà xã Hiền có quyền ưu tiên quyết định. Ði thăm chợ trời, khu North York. Vì có chị Hồng Châu là bạn nối khố từ trung học, rồi lên đại học. Sẽ mặc sức mầy tao. Mặc sức kể lại chuyện ngày xưa ông nào theo, ông nào tán, ông nào đón đưa. Cũng vui thôi.

     Chợ trời bán đủ thứ đồ, không hẳn là đồ lạc-son. Quần áo, vàng vòng, máy móc, quà kỷ niệm và cả tủ bàn ghế. Tùy theo gian hàng, dựa vào tường hay ngay giữa khoảng trống mà chỗ rộng chỗ hẹp, 3 thườc vuông đến 10 thước vuông. Chỉ giống nhau ở các tấm vách ngăn chia làm bằng những tấm đệm nylon màu xanh nước biển hay xanh lá cây, đóng nẹp để dễ cuốn tròn dựng một bên vách. Nhìn chung không khác gì những gánh hát tí hon, chỉ diễn tuồng vào 2 ngày cuối tuần. Hiền mua cái bóp da, Hiếu mua cái đồng hồ kỷ niệm (bị Hiền chôm luôn vì thích) so ra chỉ bằng nửa giá bên Mỹ.

     Khu ăn uống, giải khác là nhộn nhịp hơn cả. Anh chị Hồng Châu - Huỳnh Hát có gian hàng nước mía, sinh tố dường như không khi nào vắng khách. Chỉ cần một máy ép nước mía loại nhỏ gọn (vài ngàn đô la) và những bịch cà rốt, cam, xoài, mít... là lượm tiền như lượm lá vàng mùa thu. Nước mía nguyên chất mỗi ly 12 oz, ly foam uống cà phê loại nhỏ nhứt, là 2 đồng. Kể cả đá cục. Pha sinh tố vào thì là 3 đồng. Còn bán thêm dừa xiêm tươi Thái Lan, 3 đồng, Venezula, 4 đồng, mỗi trái. Bởi thế, anh chị chỉ làm 2 ngày thứ bảy, chúa nhựt mà bằng kỹ sư làm từ thứ hai đến thứ sáu. Tiền thuê gian hàng cũng rẻ rề 145 đồng 1 tuần vì thuê dài hạn, thuê hàng tuần thì chủ tính 200. Thế mà không mấy người chịu bỏ công khai thác kể cũng lạ. Chắc sợ róc mía. Nhìn anh Hát tay trái lớn hơn tay phải thì đủ biết.

     Lụi hụi đến giờ đóng cửa, 5 giờ chiều. Mạnh ai nấy dọn dẹp, làm sạch sẽ khu của mình rồi kéo màn che che lại vòng vòng là xong. Ðồ tươi để trong tủ lạnh, đồ khô chất vào thùng mang về nhà. Thong dong thơ túi rượu bầu, chẳng phải lo nghĩ viễn vông xa xôi về cái project đang làm có trở ngại gì không. Cuộc đời bán chợ trời kể cũng sướng chán...

     - Mời, mời... tui bây giờ cũng lai bà xã tui rồi, học sách mời.

     Anh Hát nâng ly. Nhiều món ăn làm hỏa tốc đã được bày ra. Bò lúc lắc, nem nướng, sò xúc bánh tráng, tôm rim và canh ngót cá thác lác vò viên, thìa là. Một thùng bia để sẵn do anh chị Ngãi, người hàng xóm mang sang. Lai rai, lai rai.

     Xong, đến màn karaoke. Dân chuyên nghiệp đây vì máy móc và cách thiết trí tân kỳ, có cả đèn màu quay quay, chớp chớp như trên sàn nhảy. Dân ghiền nữa thì đúng hơn. Vì ai cũng có bản tủ, bản ruột. Chị Hồng Châu hát nhạc Ngô Thụy Miên, Hoàng Thi Thơ hay đáo để. Giọng truyền cảm thiên phú không thua gì các ca sĩ thứ thiệt. Anh chị Ngãi cũng điêu luyện không kém tuy lâu lâu có hơi trật giọng. Lúc đưa micro sang bọn tôi thì, kẹt quá, tôi hỏi:

     - Anh Hát, nhà anh có cây đàn không?

     - Có, anh cần đàn gì? Ðàn thùng, đàn điện? Ðàn bà tui cũng có nữa... hì hì...

     Nói thì nói vậy chớ anh cũng moi đâu ra cây đàn điện. Giây lạc hết trơn có lẽ vì lâu lắm chẳng ai xài. Lên giây lại và bà xã tôi cùng tôi song ca. Cây nhà lá vườn, tự biên tự diễn bản Thà Xin Làm Ðá Cuội . Chẳng biết có hay không mà mọi người vỗ tay, tiếp nữa đi, tiếp nữa đi. Phần không thuộc lời vì nhiều quá đã hơn 60 bản, mặc dầu do chính mình viết, tôi trình bày đứt đoạn theo kiểu nhớ tới đâu hát tới đó một vài bản khác như Ðêm Cali, Khung Trời Thương Nhớ, Cất Bước Ði Hoang, Chiều San Diego ... Rồi phải vãn tuồng vì trời đã vào khuya,... "đã đến lúc nói câu giã từ." Về đến nhà cũng 2 giờ hơn...

     Sáng ngày sau, ngày cuối cùng, cả bọn đi chợ Tàu - Việt Nam ở Missisauga. Ðể chụp hình kỷ niệm vì đẹp đẽ, khang trang hơn so với chợ Tàu - Việt Nam ở Spadina. Kiến trúc có vẻ đông phương như khu Phước Lộc Thọ ở Bolsa, Cali. Vợ chồng Hiền mua bộ nhang đèn, lư hương. Vợ chồng Hiếu và vợ chồng tôi mua mấy bộ chén trà Tàu, tuy không đúng hiệu con nai vàng Ginseng, nhưng cũng thuộc loại mắc tiền. Ðô la Mỹ qua Canada xài được lời một phần ba, một thành một rưỡi, cũng đỡ. Tạt qua tiệm grocery xách về một bịch ghẹ, blue crab, luộc nhâm nhi với bia lạnh cũng đã.

     Chẳng bao lâu lại đến giờ đến nhà Túy dự tiệc chính. Tòa condominium 23 tầng. Cũng phải trả cả trăm ngàn mới được làm chủ 1 tầng 3 phòng ngủ. Không khác gì ở appartment, nhưng thêm mùi khách sạn. Vì bước vào lobby trông giống giống như Hilton Inn, Radison Inn, Holiday Inn. Ngoài những người bạn thân, tuy mới quen mấy ngày, còn có thêm vợ chồng Nguyễn Bạch Nhựt và commandant Trần Văn Ðáo, khóa 9 HQ. Món nhậu dự trù là tiết canh vịt nhưng nông trại Canada đóng cửa ngày chúa nhựt nên thay thế bằng hột gà lộn rau răm, gỏi tôm thịt xoài sống, lẩu thập cẩm có cá đuối con đầy sụn (cá đuối ở Việt Nam ngày xưa là loại cá rẻ tiền, bên này thì khác). Anh Nhựt thì có tài coi bói lẫn tài pha trò. Sửa lại lời ca bài Tiếng Hát Dân Chài ... ho dô ta, hò dô ta... chọc anh Huỳnh Hát bán mía vui ơi là vui. Còn anh Ðáo thì đã về hưu lo quyên tiền, độ khoảng 2 triệu, để cất chùa Việt Nam nên hay nói về đạo. Anh dặn dò ngày mai ghé Phở 99 đi ăn sáng với anh trước khi về lại Mỹ... Tan hàng từ nhà anh Túy, về đến nơi cũng đã hơn 1 giờ khuya. Vì là đêm cuối nên Hiếu, Hiền và tôi lai rai hết mấy chai rượu vang, chai nào ngon, chai nào đẹp đều cạn sạch đến gần 3 giờ sáng mới chịu đi ngủ...

     Buổi ăn sáng thành buổi ăn trưa, vì bọn tôi không tài nào thức dậy sớm được. Phở 99 ngày nào chắc cũng vậy, đông khách. Lại phải kê 2 bàn liền nhau, ngồi chung nhau dễ bề trò chuyện, chọn món ăn. Mì quảng, hủ tíu Mỹ Tho, phở gầu gân sách, mì vịt tiềm... Xong xuôi đâu đó bà xã tôi lục bóp moi ra một mớ tiền:

     - Anh Ðáo, tụi này còn 80 Canada gởi lại anh đóng góp cho chùa.

     - Ồ, cám ơn lòng hão tâm, nhưng để tôi lấy sổ sách ghi vào làm biên nhận đặng trừ thuế.

     Tôi mò trong túi còn 5 đồng cũng bỏ vô luôn. Vợ chồng Hiền hết tiền Canada nên đóng góp bằng đô la Mỹ. Ngẫm lại giờ lớn tuổi hết rồi, bon chen chuyện nhà cao cửa rộng, xe lớn xe đẹp thì càng mệt thêm. Nghĩ đến khuôn viên một cảnh chùa, "vườn thượng uyển" phía sau nhà Hiếu với những cây bạch dương, white pine, những hoa lá cành và những hòn đá nhỏ, to điểm tô cho phong cảnh mà hai vợ chồng ra công bồi đắp, tâm hồn hẳn phải thoải mái hơn.

     Những cái vẫy tay của anh Ðáo, vợ chồng Hiếu và bé Michelle tiễn đưa dân Mỹ về xứ Mỹ. Trễ quá rồi, không thể nào ghé London thăm vợ chồng Trần Ngọc Ðiển, không thể nào ghé Lansing, Michigan, thăm ông bà Khương Hữu Bá, khóa 3 HQ, được nữa. Chạy thẳng một mạch về nhà thôi. Ðể rồi lại tiếp tục ngày hai buổi đi cày.

     Chuyến... trở lại Cananda, trở lại Toronto và Montreal, tuy ngắn ngủi nhưng một lần nữa chứng minh câu "xứ lạnh tình nồng," với nhiều bạn văn, bạn nhậu cởi mở thân tình...

   back to top

06. CHỈ LÀ ƯỚC MƠ THÔI

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Chiều Paris lành lạnh. Nhiệt độ trên dưới 50 F, tức khoảng 10 C. Ðủ để khoác lên mình chiếc áo bành tô hay áo lạnh dầy sậm màu hầu giữ ấm. Một chút co ro, se sắt khi những cơn gió cuối đông hiu hắt thổi về. Bầu trời giăng mây xám, làm khách nhàn du thèm giải nắng xuân. Ríu rít trong khóm bạch dương, đôi chim én chuyền cành, dưới gốc xồi chú sóc con lông đuôi tha thướt mượt mà lăng xăng tìm hạt...

     Anh Maurice, nhân viên hãng Air France, đi làm dăm ba ngày cuối cùng trước khi nghỉ dài hạn, về hưu. Chị Nương, vợ anh Maurice, tạm thời đóng cửa gian hàng bán mỹ phẩm, quay trở về nhà đón hai đứa tôi đưa ra phi trường De Gaulle. Cũng may không xa mấy. Ðường xá thông suốt, không bị kẹt xe. Không mấy chốc đã gặp lại các khung tò vò hình oval , nhìn lại mấy chiếc Concord bé xíu đậu phía xa xa. Kẻ ở người đi, buồn buồn ôm nhau giã từ và hẹn gặp nhau trong một dịp khác. Không phải là... biệt ly, nhớ nhung từ đây ... như một lời ca của Doãn Mẫn.

     Lại một chuyến bay đêm, với chiếc Boeing 767 của hãng Hàng không Pháp. Khoảng 15 giờ bay. Sáng ngày mai sẽ đến phi trường Bangkok, Thái Lan. Sau khi bay qua các nước Ý Ðại Lợi, Thổ Nhĩ Kỳ, Nam Tư, Ấn Ðộ, Miến Ðiện... Dưới tốc độ trung bình từ 900 đến 1000 cây số giờ. Tên các thành phố lớn dọc theo đường bay, hầu hết là thủ đô, lần lượt hiện ra. Rome, Ankara, Tehran, New Delhi, Calcutta, Rangoon... Một đêm ngủ gà ngủ gật vì các cô cậu chiêu đãi viên liên tiếp phục vụ khách hàng, hết ăn thì tới uống...

     Ồ, phải công nhận phi trường Bangkok là một phi trường quốc tế, rộng lớn sạch sẽ không thua gì những phi trường lớn của nước Mỹ. Thảm cỏ xanh um hai bên đường bay, run-way . Dưới ánh nắng ban mai, ngời sáng như dâng tràn sức sống. Ðược bao quanh bởi các ụ sửa chữa, những hangar , đồ sộ kiên cố. Các hành lang điều khiển cập sát vào máy bay cũng là các sản phẩm, dụng cụ tân tiến đúng tiêu chuẩn. Bên trong, hàng quán dọc theo lối ra trạm chính, terminal , trông rất khang trang, mang nhãn hiệu của nhiều công ty danh tiếng về thời trang, bánh kẹo, rượu, thuốc. Có cả các gian hàng không bị thuế, free duty ...

     Tuy nhiên, trong thời gian chờ đợi chuyến bay nối tiếp về Việt Nam, quê hương yêu dấu, nhiều người phàn nàn khi phải điền đến ba bốn mẫu đơn kê khai lý lịch, đồ đạc và tiền bạc mang theo mình... Ðúng là xứ sở cộng sản lạc hậu có khác, mới mở mắt nhìn đời, nhìn thế giới tự do dân chủ, mà lúc nào cũng tưởng mình hay. Chỉ muốn làm khó dễ, tỏ vẻ quan liêu. Vào đất Gia Nã Ðại, Pháp, Thái Lan... dân Mỹ chỉ trình giấy thông hành, passport , là đủ. Không cần phải xin giấy chiếu khán, visa , nữa là. Vào đất Việt Nam xem ra nhiễu nhương hơn nhiều. Dân Việt chính tông còn thấy phiền, huống gì người ngoại quốc? Có người buộc miệng lên tiếng:

     - Just do it. It's one shot deal... (Cứ điền vậy. Chỉ mỗi một lần rồi thôi)...

     - Về thăm gia đình, cha mẹ ông bà mà làm gì phải khai lý lịch ba đời chớ?

     Phần vợ chồng tôi thì phân vân không biết có nên khai thiệt số tiền mình mang về làm quà cho thân nhân hai họ, hai bên gia đình hay không... Rốt cuộc rồi, thôi cứ ghi đại... hai phần, xem ra không ít cũng không nhiều. Mà chẳng lẽ quan thuế, "hải quan" theo tiếng bây giờ, lại cho người cởi quần áo mình ra khám xét? Và nghĩ quẩn, họ sẽ làm gì với số tiền dư ra? Chẳng lẽ làm biên bản, tịch thu?

     Chiếc Boeing 767 lại cất cánh. Nhưng trống lổng trống trơn, hơn ba trăm hành khách giờ chỉ còn hơn ba chục. Hơn nửa có lẽ là người Việt còn lại là người Tàu, Ðại Hàn, Mã Lai, Thái... dân làm thương mại... Chẳng biết tâm trạng của các thương gia ngoại quốc ra sao, nhưng tâm trạng chung của những người Việt về thăm quê hương là băn khoăn hồi hộp, nơm nớp lo âu chuyện chẳng lành có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Không lo âu sao được khi mọi người đều nghĩ rằng năm 75 mình may mắn chạy thoát khỏi nanh vuốt cộng sản... bây giờ bỗng dưng tự mình đem thân về nạp mạng, như cá nằm trên thớt?

     Từ Bangkok về Sài Gòn chỉ độ một giờ bay. Lúc phi cơ sắp đáp, mọi người tìm chỗ ngồi cạnh cửa sổ trông xuống. Tụi tôi cũng vậy... Giựt mình, thấp thỏm, ngậm ngùi vì quang cảnh tiêu điều dưới đất. Cỏ lát vàng cháy mọc cao như rừng, được bao bọc bởi những cuộn kẽm gai tròn, concertina , rỉ sét. Cơ sở sửa chữa, các hangar , là những dãy nhà mái tôn hình vòng cung bán nguyệt xưa cũ. Có nghĩa là phi trường Tân Sơn Nhất, một thời rầm rộ ở Á Châu, đã không phát triển gì hơn từ lúc chiếm cứ, mà lại xuống cấp thê thảm vì thiếu tu bổ, bảo trì.

     Lạc hậu hơn nữa là không có hành lang di chuyển để cập sát vào phi cơ. Mà, sau khi phi cơ vào bãi đậu, mọi người lục tục theo cầu thang bên hông bước xuống đất. Rồi lần lượt leo lên xe buýt cổ lổ sỉ thời tiền chiến đang chờ sẵn, để được đưa vào trạm chính, terminal , phi cảng Sài Gòn. Dưới cái nắng tháng ba như thiêu như đốt của khí hậu miền nhiệt đới. Là người Việt, ai nấy đều xót xa, len lén nhìn nhau khi thấy đất nước đi sụt lùi quá xa sau hai mươi năm dưới ách thống trị của những người tự tôn mình là tiên tiến, ưu việt. Thêm nữa, lần đầu tiên nhìn lá cờ máu phất phơ trên nóc phi cảng lại càng cảm thấy xa lạ, đau đớn hơn.

     Bước vào gian nhà kiểm soát của quan thuế đã thấy thiên hạ đang xếp hàng dài trước mặt. Mấy thương gia ngoại quốc là cái chắc vì họ mặc áo vét, cà vạt hẵn hòi. Trình giấy chiếu khán, giấy cho phép vào xứ Việt Nam... Bỗng dưng, nhân viên quan thuế mặc quân phục kaki xanh cứt ngựa, đội mũ lưỡi trai đàng hoàng đứng lên, ngoắc bọn tôi tới trước. Hơi ngạc nhiên và không tin là mình được ưu đãi như vậy, tôi chỉ tay vào ngực ra dấu... có phải anh gọi tôi, thì người nhân viên nói ngay:

     - Vâng, anh chị cứ lên thẳng đây!

     Mặc những cặp mắt dòm ngó, soi mói... hai đứa tôi khệ nệ mang hai sắc hành lý dềnh dàng, to lớn nặng 70 lbs, 30 kí đến trình diện. Chắc làm lâu nhiều kinh nghiệm, nhân viên quan thuế nhìn y phục có thể đoán biết Việt kiều từ Mỹ về, vì chúng tôi ăn mặc đơn giản: quần jean, áo T-shirt, mang giày tennis. Chẳng biết Việt kiều được tiếp đón niềm nỡ là do lệnh trung ương đảng hay chỉ là do thủ tục "đầu tiên" theo truyền thống. Bạn bè và thân nhân về trước đã dặn dò kỹ lưỡng, rằng thì là, muốn được việc, nên bỏ 5 đô vào giấy thông hành, và 10 hay 20 đô vào sổ kê khai hành lý. Ai không làm như vậy thì các vali, sắc tay mang về dễ bị tháo tung ra để khám xét hàng quốc cấm. Nhét lại, ràng rịt lại là cả một vấn đề.

     Ðến gần mới thấy... cách làm ăn cẩn thận của cơ quan... "hải quan." Bàn viết bằng gỗ đánh vẹc ni chớ không là bàn viết Mỹ, steel-case , như các văn phòng thường xài. Ðặc biệt là trên bàn gỗ đó được chồng lên một kệ gỗ, giống như kệ sách vậy. Hành khách đứng phía sau kệ này không thấy nhân viên "hải quan" làm gì trên giấy thông hành của họ. Có lẽ, nếu có chút trà nước thì lấy ngay cho vào túi hay ngăn kéo nào đó, để cuối ngày còn mang ra chia chát từ trên xuống dưới, từ lớn tới nhỏ. Muốn vào làm ở đây chắc chắn phải là con ông cháu cha, hoặc có lý lịch ba đời tốt, hồng nhiều hơn chuyên chẳng hạn.

     - Phần anh chị xong rồi.

     - Cám ơn...

     Tôi lên tiếng sau khi cầm lại giấy thông hành và bước sang khu kiểm soát hành lý. Thiệt tình mà nói, hai tiếng "cám ơn" là... thật lòng, vì khỏi phải dài dòng xếp hàng, chờ đợi lôi thôi. Quang cảnh khu kiểm soát hành lý càng mất trật tự, ồn ào, hổn độn. Các rương, tráp, vali, sắc lớn, sắc nhỏ, túi dết cũng chạy qua máy quang tuyến, x-ray , đàng hoàng, nhưng trên hệ thống trục lăn dây chuyền, ro re róc rách liên hồi, không im hơi lặng tiếng như hệ thống dây trân to bản hiện thời. Mặc dù bọn tôi đã kẹp 20 đô, 10 đô cho mỗi túi hai quay lớn, nhưng vẫn có người không hài lòng:

     - Trong vali của chị có cuộn băng hình video ...

     Vợ tôi nhanh nhẩu:

     - Ô, băng quay hình đám cưới chớ không phải băng ca nhạc đâu.

     - Vâng, chúng tôi muốn giữ lại để kiểm soát. Nếu là băng đám cưới thôi thì chúng tôi sẽ gởi đến tận nhà hoàn trả lại.

     Tôi biết cuốn băng đám cưới nằm bên trên nên rất dễ dàng lấy ra. Chỉ sợ bị moi móc "hàng quốc cấm," chính là bộ sách văn thơ và băng nhạc cassette của tôi sáng tác trong thời gian qua, được gói ghém kỹ trong mấy cái mền len, nên tôi nói ngay:

     - Ðược, không sao đâu. Các anh cứ giữ lại vậy...

     Tôi kéo fermature lấy cuộn video tape trao cho nhân viên kiểm soát mà lòng cảm thấy nhẹ nhõm, mừng thầm. Vừa thoát ra khu hành lý thì gặp ngay những người rước mối, taxi, xe lam ba bánh, honda ôm...

     - Chị về đâu, chị về đâu? Em tính giá rẻ cho...

     - Anh chị lên xe tôi đi! An toàn và rộng rãi...

     Lại có người giằn tay muốn kéo xắc của vợ tôi:

     - Chị để em vác ra xe giùm cho...

     Chẳng đặng đừng, tôi phân trần:

     - Tụi này có người nhà ra đón rồi chú em ơi!

     Mà người nhà ra đón thiệt... Em trai tôi, Hùng, và em trai bà xã, Tâm, cũng vừa lách khỏi đám đông len lỏi vào đến nơi.

     - Ðồ của mình đâu?

     - Ðây, đây, đây...

     Vợ tôi mừng quá chỉ mấy cái túi nằm ngổn ngang trên sàn xi măng. Hai đứa liền thầu hai cái túi lớn... Ra khỏi cổng trạn chính, nỗi vui mừng thật tràn đầy. Mặc dầu hơi ngờ ngợ phút ban đầu nhưng rồi cũng nhận ra ngay..., anh chị em, bạn bè, bà con thân thuộc!

     Tôi hỏi nhanh:

     - Còn má đâu? Má có đi không?

     Chị hai trả lời:

     - Má đứng kế chị ba mầy kìa, không nhận ra sao?

     - Ồ, má, con nè...

     Tôi chạy lại ôm má tôi vào lòng! Tóc má đã bạc phơ, hai gò má xương xẩu. Ðúng là biển người, chen chúc từng phân vuông tấc đất, nhưng má cũng lặn lội đến đây. Phần mấy chị tôi cũng không muốn má lại gần sát quá, sợ má xỉu bất tử, thôi cứ để... nhận diện từ từ... Má khóc, lấy chéo khăn đội đầu lau mắt, làm tôi cũng rơm rớm theo...

     - Ðể râu ria chi mà xấu quá nà...

     Tôi chỉ cười... Ðó là câu nói đầu tiên của má sau hai mươi năm trời xa cách. Thì ra tôi đã đổi khác rất nhiều mà tôi chẳng hay. Nhưng tôi lấy làm vui vui với câu mắng yêu này của má! Nhớ ngày nào còn làm quan tàu, muốn để râu cũng phải xin phép, bây giờ không còn chân quân chân lính, được tự do để râu, không phải để làm người hùng, thì cũng nên để cho ra vẻ đàn ông... Vợ tôi cũng xà vào ôm má, vui mừng đoàn tụ...

     Ðám đông từ từ dãn ra, hành khách phân chia đi tứ xứ. Ngoài xe nhà cho những người sang, chủ hãng chẳng hạn, taxi cho những kẻ giàu, mấy tay làm thương mại làm chuẩn, còn lại là xe honda ôm, xe lam ba bánh. Riêng gia đình tôi thì có thuê sẵn chiếc Van 12 chỗ. Mọi người dồn vào. Tôi bồng má đỡ lên xe, nhẹ tưng, và hai vợ chồng tôi ngồi bên cạnh. Xe có máy lạnh cũng đỡ. Hỏi han, chỉ trỏ, chuyện trò như bắp rang. Mấy đứa em trai chạy honda tà tà theo sau.

     Cảm nhận đầu tiên của tôi là dường như Sài Gòn nóng hơn năm xưa, nóng đổ lửa. Thứ đến là buị bậm, khói xe. Ngột ngạt, khó thở. Rồi dọc đường, không phải dập dìu tài tử giai nhân, mà người và người chen vai sát cánh, đông như kiến cỏ. Ðông đến nỗi tưởng chừng như đất Sài Gòn đã chật, không còn chỗ trống. Nhà cửa nhỏ nhít, đường xá hẹp té. Xe hơi, se gắn máy, xe đạp, và người đi bộ xuôi ngược không chỉ hai chiều mà là năm bảy chiều xuyên qua, lạng lại. Xe hơi, xe gắn máy chẳng đi nhanh hơn người đi bộ hay xe đạp là bao.

     Chẳng bao lâu, tôi lấy làm lạ hỏi:

     - Ủa, mới chạy đây mà đã tới đường Phan Ðình Phùng rồi à? Mình về Phú Nhuận chớ đâu phải Bàn Cờ?

     Chị hai tôi cười:

     - Phan Ðình Phùng là Trương Minh Giảng cũ đó em.

     - Vậy rồi Phan Ðình Phùng thì sao?

     - Ðổi thành Nguyễn Ðình Chiểu.

     À, thì ra vậy! Chuyện đời đổi chủ thay ngôi là thường, nhưng cũng thấy có cái gì mất mát, hụt hẫng trong lòng.

     Xe quẹo vô đường hẽm lớn và đậu trước căn nhà có hàng rào song sắt. Xa lạ, tuy đây là nhà của mình, mấy đứa em vợ, em dâu, con cháu đang tá túc. Hành lý, quà cáp chúng tôi mang về chia làm hai, gởi lại đây một nửa vì hầu hết bà con, người thân bên vợ tôi đều ở thủ đô. Xong, xe lại tiếp tục ra đường cái, xuôi về Mỹ Tho.

     Tôi mường tượng tài xế sẽ thẳng xuống Hiền Vương, một chiều ra bùng binh Lê Văn Duyệt, bắt qua Trần Quốc Toản có trường Quốc Gia Hành Chánh, có Việt Nam Quốc Tự, có chợ cá, có vách thành trường đua Phú Tho, rồi gặp mũi tàu Phú Lâm. Nhưng chẳng nhận ra đâu là đâu với những... Võ Thị Sáu, Cách Mạng Tháng 8, 3 tháng 2. Ðúng là... Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý, Ðồng Khởi vùng lên mất Tự Do như những câu vè, câu ca dao thời đại...

     Nhìn chung thì phố xá hai bên đường cũng rộn rịp như xưa, với nhiều quán cà phê, quán nhậu, tiệm phở, tiệm hủ tiếu, tiệm cơm bình dân, tiệm may, tiệm sửa xe... Những thứ cần thiết cho đời sống hằng ngày, cái ăn, cái mặc, cái làm chân đi đây đó. Thỉnh thoảng cũng thấy các gian hàng bán đồ điện tử, máy móc, bán mỹ phẩm, bán cây kiểng... Những thứ vui chơi, xa xí..., có cũng được mà không có cũng chẳng chết ai! Rồi sâu vào các hang cùng, ngỏ hẽm thì còn nhiều nơi buôn bán những thứ khác, đâu làm sao thấy hết được!

     Tôi buộc miệng:

     - Ậy da, coi bộ dân Sài Gòn bây giờ bung ra làm ăn dữ quá há.

     Chị ba đáp lời:

     - Ừa, bây giờ đỡ rồi em, chớ hồi 75, 78 dân mình sắp chết đói. Người ta ăn bo bo, củ chuối là chuyện thường. Lúa gạo là hàng quốc cấm, chuyên chở từ nơi này đến nơi khác không phải là chuyện dễ, phải đút lót giấu diếm...

     Hừm, như vậy thì... "không gì quý bằng độc lập và tự do" đè đầu, xiết cổ dân lành là đúng quá cở thợ mộc rồi, tôi thầm nghĩ!

     Một hồi lâu, xe chạy ngang Phú Lâm, tôi bỗng nhận ra cái tháp cầu nguyện "bất chiến tự nhiên thành" của ông Ðạo Dừa. Vẫn còn nguyên, nhưng nhà đất dưới chân tháp "hòa đồng tôn giáo" chắc chắn là bị tịch thu làm cơ sở bán buôn gì gì đó của nhà nước rồi. Ngay cả chiếc thuyền bát nhã đậu ở Cồn Phụng một thời cũng bị kéo về thành phố Bến Tre, làm nhà hàng nổi quốc doanh, như một lần nào tôi đọc qua tin tức trên các báo hải ngoại. Và ông Ðạo Dừa chết trong nhà tù Cần Thơ... Tuồng như tự do tôn giáo đối với bác và đảng cũng là hàng quốc cấm. Chỉ có mỗi "đạo cộng sản" là chính thức được phép rao giảng mà thôi.

     Xe lần lần mò ra quốc lộ 4, Bình Chánh, Bình Ðiền... những địa danh quen thuộc. Nhưng khác lạ với cảnh trí hiện tại. Quốc lộ xưa rộng rãi thênh thang giờ không khác gì con đường làng bên Mỹ. Lại thêm ổ gà và những đoạn sạt lở ven lộ. Những mảng nhựa đường vá víu trông loang lỗ như một vạt áo vá quàng. Ruộng đồng không thấy, chỉ thấy những ngôi nhà lụp xụp, đủ kiểu, đủ cách mọc san sát sát vệ đường che mất tầm mắt phía xa xa. Nhiều quán chè bưởi trống trơn xen kẽ với những tiệm vá bánh xe đông người lui tới. Lâu lâu lại thấy trạm bán xăng lậu với những chai lít chứa xăng đỏ lòm, tím ngắt.

     Có điểm lạ là từng khoảng, từng đoạn người ta trồng những hàng dài cây khuynh diệp, cành lá lao xao trong gió chiều... Vợ tôi hỏi:

     - Bộ dạo này người ta cần dầu "Khuynh Diệp Bác Sĩ Tín" lắm hay sao mà người ta trồng nhiều cây khuynh diệp dữ vậy chị ba?

     Chị cười, trả lời:

     - Cây khuynh diệp mau lớn, người ta trồng bán làm cột nhà đó em à.

     Lại một thay đổi, chẳng biết tiến bộ hay thụt lùi. Tôi phụ họa:

     - Ủa, có chắc không mà làm cột nhà? Vậy chớ cột dầu, thao lao, gáo vàng... hổng ai bán nữa sao?

     - Mấy thứ đó nhà nước dành độc quyền xuất khẩu! Vả lại mắc lắm dân mình mua hổng nổi đâu... Cây khuynh diệp nghe nói nhà nước lấy giống từ bên Úc lận đó...

     Vợ tôi xen vào:

     - Rồi có lấy giống con koala bear hay không? Con gấu xám không đuôi, nhỏ nhỏ con như con khỉ, chuyên môn ăn lá khuynh diệp để sống đó mà...

     - Chị chưa thấy ai nuôi con gấu đó hết! Chắc là nhà nước có nuôi trong sở thú.

     Tôi kể thêm:

     - Ở Việt Nam mình chắc không có những chương trình TiVi chiếu về đời sống các thú vật lạ, hiếm khắp năm châu! Ở bên Mỹ có mấy chương trình Discovery, National Geographic... xem đã lắm, học hỏi được nhiều. Bên Tàu có con panda bear , con gấu trắng đốm đen, to lớn như mấy con dã nhân, chuyên môn ăn lá tre, sống trong rừng tre...

     - Vậy sao? Nhưng nhà mình đâu có TiVi đâu mà coi! Radio, cassette còn không sắm nổi nữa nè!

     Câu nói của chị ba làm bọn tôi hơi ngỡ ngàng, vỡ lẽ. Thêm chua xót, ngậm ngùi. Radio, cassette thì hầu như trước 75 nhà nào cũng có chẳng nói làm gì, nhưng cái TiVi 19 inches tôi mua, sau khi bán chiếc xe Vespa cũ, đã đi đâu?

     Thì ra sau 75, như nhiều người nói, TiVi, máy lạnh, máy giặt, radio, cassette , đồng hồ... những tiện nghi tân thời nói chung, được vận tải ra bắc với hàng đoàn Molotova cho con cháu bác đảng quả không sai. Sau mấy lần đổi tiền giới hạn, ai giữ nhiều quá thì kể như vứt đi, nhân dân miền Nam kiệt quệ đã mang hết ra chợ trời bán lần bán hồi kiếm sống. Ngay cả đến tủ thờ, bàn ghế, áo quần... Với kế hoạch kiểm soát cái bao tử của dân chúng, không thua gì tù cải tạo, hoàn cảnh gia đình tôi chắc cũng không thoát khỏi các thông lệ này!

     Tôi không dám hỏi nhưng má tôi cười:

     - Tụi nó cầm bán hết lâu rồi con...

     Tôi miễn cưỡng cười theo...

     Xe chạy gần đến Bến Lức, tôi hơi ngạc nhiên thấy nhà máy chế nước lọc. Không phải nước suối, như nước suối Vĩnh Hảo ngày xưa, có nhiều khoáng chất thiên nhiên thường dành cho người bịnh. Cơ ngơi hãng nước lọc có phần đồ sộ, nhà lầu 4, 5 từng cất giữa ruộng đồng mênh mông, không bóng cây che mát, ngoài hàng rào kẽm gai thật cao. Tôi mỉa mai:

     - Trời đất, Việt Nam mình bây giờ cũng làm nước vô chai bán rồi nè, ai mua ha?

     Chị hai cho biết:

     - Bán cho Việt kiều và người ngoại quốc thôi! Tụi chị vẫn uống nước mưa, ngon hơn đó em...

     Không đến đổi chích ngừa trước khi về xứ, nhưng cũng tin lời những người đã có kinh nghiệm với đau bụng, kiết lỵ, thổ tả... khi hồi hương nên bọn tôi cũng kè kè mang theo mấy chai Evian. Tôi phân bua:

     - Lạ nước lạ cái một hai ngày đầu thôi, quen rồi em cũng uống nước mưa như chị chớ uống nước lọc chi cho tốn tiền. Mà bia, coca cola, xá xị bây giờ bán lềnh khênh há!

     - Bộ mầy hay nhậu lắm sao?

     - Lâu lâu... cuối tuần bạn bè tụ họp mới nhậu một lần cho vui...

     Xe qua cầu Bến Lức, rồi chẳng bao lâu qua cầu Long An! Những cây cầu xi măng cốt sắt hai chiều do Mỹ làm, thay thế cho những cây cầu sắt cũ kỹ một chiều và có đường rầy xe lửa ngay giữa, do Tây cất thời Pháp thuộc! Trước 75 coi bề thế bao nhiêu bây giờ coi khiêm nhường bấy nhiêu, so với các cây cầu sáu, tám chiều bên Mỹ, bên Tây lẽ dĩ nhiên!

     Tân Hương, Tân Hiệp lại lần đến. Không phải người xưa mà xem chừng cảnh cũ cũng không còn nữa. Mọi thứ tuồng như đã đổi thay, không ít thì nhiều. Ngay cả viện đại học Tiền giang, nếu không nhìn kỹ, chưa chắc đã nhận ra. Có lẽ vì thiếu chăm sóc, sửa sang nên tiêu điều với nước vôi nhạt màu, loang lỗ từng mảng lớn. Bị che khuất bởi mấy chòm nhà cất chắn nơi mặt tiền. Rải rác đó đây có nhiều "nghĩa trang liệt sĩ" với các mộ bia sơn trắng ngay hàng thẳng lối! Hình như bác đảng muốn "quảng cáo" với khách thập phương, chúng sanh qua đường nên bác đảng mới cho cất sát quốc lộ.

     Cầu đúc Bến Chùa và dòng sông Bảo Ðịnh uốn khúc miệt Trung An, bao bọc bởi những vườn cây ăn trái, vườn dừa là có phần nào giữ được nét quê xưa. Xuống tới ngã ba Trung Lương thì trở nên thị tứ hơn nhiều, với hàng hàng xe cộ nuối nhau ngừng nghỉ bên cạnh các quán ăn sang trọng cũng như bình dân. Vài tòa nhà lầu vượt lên cao.

     Rồi cổng tam quan dẫn vào thành phố Mỹ Tho, cái duy nhất mới thiết lập sau 75 nhìn thấy được! Với thế hệ trẻ thì sao không biết nhưng với bọn tôi thì có vẻ hơi quái đản, vì... không giống ai! Một đỗi nữa, chủng viện Chân Phúc Liêm khuất bóng trong chòm cây kẽ lá. Nơi ăn học, tu hành của các huynh, các cha không biết có còn giữ được phong cách ngày xưa hay đã bị trưng dụng từ lâu rồi.

     Ðến ngã ba xóm Tre, một bên cầu đúc một bên cầu sắt rất là quen thuộc vì thuở nhỏ bọn tôi làm ma, làm quỷ ở vùng này. Ánh nắng chiều xuống vội le lói trên chòm tre nhắc lại một thời rong chơi, hò hẹn. Kể cả những lần câu thời, câu vận bên con rạch đục nước phù sa.

     Gần quá rồi xóm giềng của tôi ơi, nhưng ruộng đồng đâu chẳng thấy. Những khóm mắc cở, những bụi lức, những vạt cỏ may, những bãi cỏ chỉ và đàn dê của thầy Tư Bộ đã về đâu? Con đường xe lửa, sau trở thành đường Lý Thường Kiệt trải đá đất dường như đã đi sâu vào dĩ vãng, tiềm thức? Thay vào đó những nhà nhà khít vách kề nhau. Vài nơi đã lên đèn leo lét... Rồi, bỗng dưng, xe ngừng lại...

     - Tới nhà rồi em, nhưng chắc tụi bây không nhận ra. Ðây là ngã ba sân bay Bình Ðức đó, bây giờ thành bến xe hàng.

     Toàn là phố xá xa lạ hoắc. Tôi đỡ má xuống xe, ngó dáo dác:

     - Nhà mình đâu?

     Chị ba buồn buồn:

     - Phía sau nhà bé Chút! Tụi nó hên lắm mới sang được miếng đất mặt tiền này nè...

     Tôi mường tượng đến miếng ruộng hình tam giác ngày xưa, một cạnh dựa vào đường, hai cạnh kia là hai bờ đê con con dẫn vào nhà. Ậy da, thì ra hai bờ đê con con đã thành hai con hẽm.

     - Ði vô nhà bé Chút luôn cho biết, mấy em.

     Ðấy là căn nhà hai gian, hàng tư lót gạch tàu, trong nhà lót gạch bông. Bề ngang độ 5, 6 thước mà nào là làm tiệm bán cây xẻ, tiệm sửa xe, tiệm bán xăng, bán thuốc lá. Chắc có nhiều người hùng hạp, vì không mấy ai tôi quen.

     Thay vì đi lối mòn bên hông nhà, bọn tôi xuyên qua phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp ra hè sau có mấy miếng ván bắc lên liếp đất nhỏ băng qua nhà chính. Căn nhà bọn tôi tự đấp nền, dựng cột, lợp lá để có chỗ ăn ở đi học suốt thời trung học. Sau này lót gạch bông, lợp ngói móc.

     Cây vú sửa và cây xoài tơ dạo nào đã lớn cành lá sum xuê, nhưng cây đậu săn gần gò mối đã tàn, bị san bằng. Cây mận hồng đào bên hông nhà tuồng như đã cỗi, lá cành khẳng khiu lưa thưa, bị mấy giây gấc chị ba trồng sau này bò lên tận ngọn như mạng nhện. Bước vào trong, bên này cửa, cái bàn học và cái divan vẫn còn đó. Bên kia, cạnh cửa sổ có thêm cái giá võng, chỗ má hay nằm.

     Bỏ mặc mấy đứa em bận bịu mang hành lý vào nhà, tôi lẵng lặng băng qua cửa buồng ra nhà sau, nhà bếp. Khoảng trống đoạn nhà cầu và hàng mái dú để dành hứng nước mưa vẫn nằm đây. Bồ hóng đóng dầy trên vách bếp, trần nhà giống như ngày nào. Vọt qua cửa nhà sau, mờ mờ trong ánh hoàng hôn, tôi thấy mấy bụi chuối vẫn tươi màu, nhảy con tùm lum. Hàng dừa dọc theo bờ mương lêu nghêu, đong đưa như dừa lão dù chưa cao lắm... Lạ một điểm là có cái nhà tắm xây rời bằng xi măng, chưa quét nước vôi. Chị ba cười cười:

     - Chị biết mấy em ở bên Mỹ tiện nghi, vệ sinh nên chị cho xây lại nhà tắm, nhà cầu để mấy em cảm thấy thoải mái hơn...

     Tôi đáp:

     - Mèn ơi, xây làm chi cho tốn tiền nè... Nhập gia tùy tục, ở Mỹ tắm theo kiểu Mỹ, ở Việt Nam tắm theo kiểu Việt Nam. Nhảy xuống mương, xuống sông tắm cũng không sao mà.

     - Em nói... làm như hồi còn trẻ! Thôi, mấy em đi đường suốt cả ngày chắc mệt rồi, lo tắm rửa, thay đồ nhẹ nghỉ ngơi. Rồi ăn cơm. Bữa nay có cá bống trứng kho tiêu, canh chua rau nhúc, đậu bắp luộc... mấy món em thích...

     Vợ tôi thay lời:

     - Ý da... rau nhúc, lá cách thì hình chưa nhập cảng vô Mỹ, chớ ở bên đó bây giờ rau gì cũng có đó chị, chỉ mắc thôi.

     Trở vào nhà, đèn điện đã bật lên rồi. Tuy không sáng choang nhưng cũng đỡ lù mù hơn đèn dầu lửa, đèn bong bóng. Lại nghe mùi nhang muỗi, những khoanh nhang màu xanh xoắn vòng trôn ốc. Thế nào cũng được ngủ mùng, thấp đèn cầy bắt muỗi như thuở xưa...

     Hai mươi năm trời xa cách và hơn hai mươi bốn tiếng đi đường, bọn tôi lấy làm hạnh phúc được về với quê hương, về mái nhà xưa... Không đến đỗi như Từ Thức bỏ cảnh tiên về trần, tụi tôi còn gặp lại má, anh chị em, cháu chắt trong gia đình... mà không phải những người xa lạ, cách nhau dăm ba thế hệ. Và ước gì mình sẽ được ở lại đây, cho dù sống nghèo sống khổ, không rời xa đất mẹ, nơi chôn nhau cắt rốn một lần nữa. Nhưng rồi, bọn tôi tự biết,... chỉ là ước mơ thôi...

   back to top

07. GIẢI NGHIỆP

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Chiều xuống bâng khuâng. Những tia nắng nhạt màu, không còn mang hơi ấm, lãng đãng rơi trên thảm lúa mì sắp gặt vàng hoe. Phản chiếu lên mặt nước mênh mông tạo nên đường chia cắt nhạt nhòa giữa đất và trời dọc theo bờ hồ xa xa phía trời Tây. Từng đợt sóng lăn tăn theo cơn gió nhẹ, làm rung rinh dáng dấp những cây sồi già, cây bạch dương đang chúc đầu soi bóng. Lả tả lá me bay, từ những cây me không bao giờ cho trái, cành nhánh khẳng khiu. Chìm khuất trong ráng mây tim tím, khói đèn, vầng thái dương ửng hồng màu má thơ ngây...

     Lần theo lối mòn xung quanh hồ Trúc Bạch, tự mình đặt tên, lão tư Duy, Khúc Duy, bắt đầu thả những bước thiền hành theo tiếng kêu rào rạo của sỏi đá dưới chân!

     Cõi ta bà thế giới này đã quá nhiều đổi thay. Nhanh chóng, chính trong mắt lão. Kể từ ngày lão làm thuyền nhân ở tuổi lên mười. Với mỗi một bộ đồ dính thân, đôi dép mũ và cái lược đồi mồi, tại một bãi biển hoang dã nào đó trong vịnh Rạch Giá.

     Chuyện lên cung trăng thăm chị Hằng đã là chuyện quá thường trong đời sống hiện tại, như một chuyến đi chơi, du lịch của người giàu có. Cứ tưởng tượng những chiếc xe hơi chỉ biết bay trong phim ảnh mà thôi, điển hình như Back to the future vào thập niên 80 xa lắc xa lơ, nhưng nào ngờ, nhờ khám phá của ngài bác vật họ Nguyễn, mọi thứ đã thành sự thật. Bây giờ người ta không còn gọi là xe hơi nữa mà là xe bay, fly vehicle .

     Nhân loại không cần phải nghiên cứu thêm về trọng lực, trọng lượng khi bí mật của "tam giác tử thần," vùng có tên gọi là Bermuda Triangle , được giải thích. Rồi dựa vào những định luật mới khám phá về Vật lý không liên tục, Quantum Physics , người ta chế ra những bộ óc, tuy chưa biết suy nghĩ như con người, nhưng biết tự cân bằng trong không gian. Dễ dàng như đứa con nít biết tự cân bằng khi nhảy lên chiếc xe đạp. Không những con người biết bay như chim chóc nhờ những ống phản lực cá nhân mang vào mình, mà người ta đã chế ra những chiếc xe bay nhiều chỗ ngồi để đi chung hay chở hàng hóa, vật liệu. Bây giờ người ta đề cập đến những tầng bay năm trăm bộ, một ngàn bộ, hai ngàn bộ... v.v., và vận tốc bay, mach (E. Mach) một, mach hai, mach ba... v.v. So chiếc Harrier Jump Jet của không quân Hoàng gia Anh, chiếc F22 của hãng Boeing, hay chiếc F32 của hãng Mac Douglas thuộc không quân Hoa Kỳ dạo nào với chiếc Ford Constellation thì cũng giống như đem so cái máy cộng với con chíp pentium xa xưa... Ðường xá giờ đây chỉ dành riêng cho những người tập thể dục, jogging , hay thiền hành, cho nên cây cối, cỏ lát mọc tùm lum, nhiều nơi bít lối...

     Tuy thả bước chậm rãi mà chẳng bao lâu lão tư Duy đã lần đến chân cầu Bán Nguyệt, cũng do chính lão tự đặt tên. Mà cũng đúng vì cầu có hình vòng cung, bắc qua con suối đầu nguồn, đổ nước vào hồ. Cây cầu làm bằng thép chẳng bao giờ sơn. Lan can và các song đứng mấy chục năm qua rồi vẫn vậy, chỉ có cây cỏ ngày càng lớn càng cao. Thép bị rỉ trổ màu nâu pha đỏ. Nổi bật hẵn lên giữa rừng hoa cúc dại, hoa cải trời màu vàng, màu trắng mà hằng năm các nhân viên lo cây cảnh vẫn rải thêm hột. Chim chóc hót vang, trong bụi rậm hay trên cành si, bồ đề, táo, đào... tưởng chừng đang đi vào sở thú, khu nuôi loài có lông, có cánh. Vài con cá lý ngư, chẳng muốn thành rồng, nổi lên ăn móng giữa vũng nước trong...

     Hình như cái tiến bộ, thành công nào cũng có kèm theo cái giá của nó. Và hình như có sự đối ngược giữa vật chất và tâm linh. Nếu luật... thành trụ hoại không vẫn đúng thì sự hồi đầu cũng sắp đến trong nay mai, lão tư Duy nghĩ vậy!

     Nền văn minh Lemuria và Atlantic từ những hai ba chục ngàn năm qua đã đi về đâu? Ðại Dương Châu đã chìm dưới đáy biển "tam giác tử thần?" Hay một nơi nào đó bên xứ Phù Tang? Vì lý do gì, nguyên nhân nào? Mấy ai giải thích được! Rồi gần hơn, khoảng bảy tám ngàn năm, nền văn minh cổ Incas và Maya ở Nam Mỹ cũng đã đi vào lịch sử, với những kim tự tháp khiêm nhường và những con đường đá còn tồn tại hằng ngàn năm qua như một nhắc nhở thầm gởi đến loài người. Chính vì vậy mà các nhà trưởng lão của dân tộc Kogi sống thuần nhất với thiên nhiên hằng chục ngàn năm trong núi rừng của rặng Sierra đã không ngừng gởi thông điệp cho nhân loại. Một lần công khai hơn nửa thế kỷ qua và nhiều bí mật qua các hội vô vi, huyền bí. Rồi gần hơn nữa, người ta đã học hỏi được gì ở các kim tự tháp khổng lồ của Ai Cập? Sao chẳng ai tìm ra phương cách gì người xưa đã tạo dựng lên những gò mối đó?

     Thi đua với tạo dựng, phá hoại cũng tăng trưởng không ngừng. Từ những đứa trẻ được khai sinh trong ống nghiệm, test tube babies , đến những sáng tác phẩm đồng chủng, clone , người ta đã tạo dựng ra... con người mà không cần mẹ, cha. Không khác gì người máy, robots . Họ có những suy nghĩ và hành động khác thường. Ðốm lửa phá hoại đã nhen nhúm, nhóm lên từ những cuộc tàn sát trong trường học, ở Mose Lake - Washington, Pearl - Mississippi, West Paducah - Kentucky, Jonesboro - Arkansas, Springfield - Oregon, Richmond - Virginia, Littleton - Colorado, Conyers - Georgia, Pontiac - Michigan... v.v. Rồi bùng cháy ở khắp các nơi trên thế giới, những nước văn minh như Nhật Bản, Anh, Pháp, Ðức, Ý... v.v. Ôi thôi, vô số kể! Sở làm của chính phủ, Bưu điện, Quan thuế... cho đến các hãng tư nhân, Cơ quan địa ốc, Ngân hàng... đâu đâu cũng có...

     Sau trường học thì đương nhiên dẫn đến trường đời! Những vụ tự sát tập thể như vụ Jonestown - Guyana, Tijuana - Mễ Tây Cơ, Cao Nguyên Trung Phần - Việt Nam, Waco - Texas, Solar Temple - Thụy Sĩ, Montreal - Gia Nã Ðại, Grenoble - Pháp, San Diego - California... v.v. Chỉ vì tin tưởng vào các giáo sĩ và giáo điều xa lạ. Trong khi đó hầu hết các tôn giáo lớn như Thiên chúa giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Ấn giáo, Do thái giáo... đều ngăn cấm việc tự tử! Tuy nhiên, có phải chăng càng ngăn cấm điều gì thì người ta, nhất là nhân loại thời nay, càng muốn thực hiện?

     Vầng thái dương đã khuất dạng dưới đường chân trời. Chỉ còn một vũng sáng mờ mờ đàng sau tàn cây, kẽ lá. Qua khỏi rặng cây đó, lối mòn sỏi đá sẽ uốn khúc bao quanh một cái đầm khá rộng, chiếm một phần tư hồ. Dạ Trạch đầm theo tiếng gọi của lão tư Duy. Sậy và lát mọc cao, che mất những con lạch nhỏ chia cắt mặt đầm thành nhiều cồn, đảo nhỏ. Ðó là nơi lót ổ, đẻ trứng của le le, vịt trời, cò, ngỗng... thỉnh thoảng dẫn cả bầy con bơi dọc theo bờ kiếm cá tôm, ếch nhái. Chim sẻ nữa, chốc chốc từng đàn bay lên, đáp xuống như đàn ong lớn, vỡ tổ đi tìm hoa hút mật... Mấy lúc này lão đi chậm lại tuồng như không muốn khuấy động thiên nhiên, làm sợ hãi hay quấy rầy cầm thú...

     Có lẽ không một luật định nào thành nếp mà không trải qua những thử thách, đấu tranh. Nhất là những thứ gọi là nếp sống, phong tục, tập quán... Tự tử cũng vậy! Khởi đi từ những trường hợp tự tử có bác sĩ giám sát dành cho những người bệnh không thuốc chữa, nan y. Những cái xác không hồn chỉ làm thân nhân thêm oằn oại, đau đớn... như là oan gia, nghiệp chướng! Bác sĩ Jack Kevorkian, còn gọi là bác sĩ của thần chết, the death doctor , đã là người tiên phong. Sau mấy lần ra tòa trắng án thì cuối cùng ông bị kết án... giết người bậc hai, second murder , trong vụ... giúp thân chủ tự tử ở Michigan.

     Nhưng rồi từ đó, nhờ những luật sư tôn thờ chủ nghĩa xét lại, ủng hộ bác sĩ của thần chết, tuy không mang ông ra khỏi nhà tù Michigan, nhưng biến tiểu bang của họ, tiểu bang Oregon, là tiểu bang đầu tiên hợp thức hóa việc tự tử có giám sát cho những người mang bệnh trầm kha. Xa hơn, phía trời Âu, nước Hòa Lan là nước đầu tiên tuyên bố theo chân dân chúng Oregon... Chuyện ngày xưa là thế, bây giờ không một nước nào chống báng lại "quyền tự tử" của công dân xứ mình. Lâu dần, đã mặc nhiên trở thành nề nếp, giáo điều... bất khả kháng của nhân loại!

     Sau đệ tam thế chiến, hàng triệu người bỗng chốc ra ma. Con người ta càng sống vội vã hơn, sau cơn thoát hiểm với bom nguyên tử, bom vi trùng, bom hóa học... Bởi vậy, đi xa hơn một bước nữa, tuy hiện thời chỉ mỗi nước Hoa Kỳ, thiên đàng của tự do... công khai hút chích, đàng điếm, mãi dâm... v.v., và công khai ngay cả việc tự do... tự tử mà không cần bịnh hoạn gì cả. "Không chủ định được chính mình, bạn không có cái gì hết," no self determination, you have nothing ... lời tuyên bố của bác sĩ Jack Kevorkian như là một định đề cho sự sống, cũng như tiền đề cho sự chết...

     Ðể một cái chết không lôi cuốn theo nhiều cái chết khác vì phẫn nộ, cuồng điên với súng máy, lựu đạn, hơi độc... rải rác khắp đó đây người ta lập ra những, không phải lò sát sinh, mà là những công ty lo về cái chết... Mà, thật ra, cũng không phải là lo về những cái chết bình thường, họ chỉ chuyên môn, chuyên trị về... tự tử! Với những tên công ty đượm vẻ mỹ miều, thần tiên. Tỉ như "Cổng Thiên đường," Paradise Gate , "Ðảo tuyệt vời," Perfect Island , "Ðỉnh thiên thần," Angel Sumit , "Lâu đài thần thánh," Divine Palace ... Nhiều lúc ế ẩm, không mấy người thèm tự tử nữa, có lẽ vì con tim bỗng yêu đời trở lại, người ta thấy nhan nhãn những quảng cáo của các công ty này trên làn sóng đài truyền hình toàn quốc như ABC, CBS, NBC, FOX...

     Cách đây hơn tuần, lão tư Duy có dịp đến chi nhánh Paradise Gate tại địa phương. Lý do đơn giản là cháu của một ông bạn già của lão, lão tư Tưởng, họ Văn, đã qua đời, bỗng dưng đòi... thôi sống. Lão không nghĩ là nó bị ai đó phụ tình, mà chỉ vì buồn gia đình... Khi chiếc xe bay của ba má nó, vợ chồng Văn Xương, đang bay cùng với hai đứa em gái của nó, ở tầng bay hai ngàn bộ đã xảy ra tai nạn vì bộ phận radar bất khiển dụng bất thình lình. Ðụng đầu, head-on collision , cả hai chiếc xe bay nổ tung trên không gian, tan tành mây khói. Nó sống lây lất trong diện giống giống như trẻ mồ côi, không cha không mẹ, minor children , như lão một thuở nào mới qua đất Mỹ... Chán đời là chuyện chẳng đặng đừng...

     Lần đầu tiên lão đi xe bay, chiếc Worm Express của nó. Tròng trành, nghiêng qua nghiêng lại, chóc lên chúi xuống như ghe thuyền cỡi sóng, vậy mà không đâm đầu xuống đất cũng lạ, cũng hay. Ðáp xuống bãi đáp trước mặt tiền công ty. Phải băng qua con đường sắt bỏ hoang của hãng Amtrack cũ, mới đến cổng gác có để cái thùng vuông vức che ba mặt cho người canh. Hắn hỏi nó mấy lần "mày có thật sự muốn chết hay không?" are you sure you want to die? Nó chỉ "vâng," yes , một tiếng là hắn mở cổng cho vào văn phòng bên trong làm giấy tờ. Và chận lão lại, không cho lão đi theo nó! Hắn lại chỉ gian nhà xéo xéo bên kia đường rầy bảo "ông qua bên đó chờ đợi!" you go there and wait! Lão sững sờ trông theo nó cho đến khi khuất bóng sau lần cửa kiếng! "Trời, chết một cách dễ dàng vậy sao?" lão tự hỏi. Nhìn vách tôn dựng đứng, sơn màu xám đậm của công ty, lão không hiểu trong đó họ đã trang bị những máy móc gì cho đại cuộc... tự tử? Sao lại nghe tiếng máy, tiếng dây trân chạy xình xịch như máy xay lúa vậy? Hãi hùng, quái đản chưa từng thấy, lão thầm nhủ!

     Chẳng làm gì khác hơn được, lão băng qua con đường sắt, lần đến gian nhà mà lão nghĩ là nhà chờ đợi. Ðến nơi, cánh cửa tự động bật mở ra. Ðằng sau bàn viết, là một người đàn bà da ngâm, quấn nhiều lần giải lụa the Ấn độ màu huyết dụ, trên giữa trán còn chấm một điểm son đỏ. Mụ chìa tay về phía dãy ghế cạnh cửa mời lão ngồi bằng một tiếng ngắn ngũn "làm ơn," please . Lão làm theo lời người đàn bà như cái máy và nói tiếng "cám ơn," thank you ...

     "Thấy đó rồi mất đó, lần cuối, vĩnh viễn chia tay"... có thể xảy ra trong phút chốc như thế sao? Nỗi xúc động vẫn còn chờn vờn, đè nặng lên tim lão! Hụt hẫng, khó thở! Mình là con người có tâm linh chớ đâu phải hoàn toàn là vật chất như người máy, robots ... Nhưng những xúc động đó bị dìm xuống ngay khi vách ngăn gian phòng bên cạnh được mở ra. Trên sàn gỗ giống như chiếc divan lớn, trải chiếu hồng điều, tấn tuồng trình diễn đang từ từ chuyển động. Trong tiếng nhạc xập xình, đôi khi ai oán, những hình người to bằng trái bí, trái bầu màu sắc sặc sở, mang đủ loại binh khí, nào thanh long dao, gươm, dáo, đoản kiếm, chùy, kích, côn... từ hai phía xông vào nhau say sưa chém giết! Là cô hồn, ác quỷ hiện hình? Hay những robots có gắn những con chíp thần tình? Tại sao chính mắt lão thấy rõ những giọt máu đào nhỏ xuống khi chiếc đầu rơi khỏi cổ, lăn lóc trên mảnh chiếu bông? Sao lại bày ra chi cảnh chiến trường, binh đao, ác đấu? Ý nghĩa gì đây? Nhưng rồi, màn hạ, khi kẻ chiến thắng cuối cùng rút gươm ngắn bên lưng đâm vào bụng tự sát như những chàng hiệp sĩ, samurai , bên Nhật...

     Ngay sau đó, người đàn bà mang đến cho lão một chiếc hũ sành, có lẽ đựng cốt thằng cháu, và cái biên lai ghi lệ phí một ngàn đồng. Thêm câu thòng vô thưởng vô phạt "thế là xong," that's it ... Lão ngỡ ngàng cầm hai món di vật, mở cửa bước ra ngoài, lần về bãi đậu xe bay. May quá, lão lại tìm ra di vật cuối cùng của nó, chiếc Worm Express , lui cui mở khóa, ngồi vào tay lái... Ðâu có khác gì chiếc xe hơi đâu nào, ngoài trừ cần bay, điều khiển lên xuống gắn ngay trước ghế ngồi. Không bay thì chạy, lão nghĩ vậy! Già rồi, hơn 80 rồi, đi đường đất vẫn hơn! Lão đề máy và men theo lộ đá dọc theo con đường sắt tìm ra xa lộ... Loay hoay mãi đến nửa đêm lão mới về đến nhà. Và thầm nghĩ một ngàn đồng cho một cái chết, một đám ma, một gì gì nữa... cũng rẻ chán...

     Qua khỏi cái đầm lầy là cây cầu ván bắc ngang đầu sông, Tiền Ðường như lão đặt, nước từ hồ chảy ra dẫn đi khắp ruộng đồng. Chiếc cầu Biên Giới như lão hay gọi. Vì làm bằng gỗ nên cứ năm bảy năm nhân viên lo cây cảnh chung quanh hồ lại phải thay các đà mới. Qua phía bên kia bờ sông là gốc đa già, tàn lá che rợp một góc trời. Cổ thụ, trên trăm năm là cái chắc, mỗi nhánh gie ra là một vòng ôm...

     Hoàng hôn đã xuống hẳn, lan tràn. Những bụi cây lá đỏ, lá nhọn như lá chùm ruột, trồng dọc theo lối mòn đã chìm trong màn đêm. Những khóm hoa tuyết hòn, snow balls , cũng vậy. Chỉ những ngọn tùng, bách nhô cao khỏi hàng rào vòng đai phía sau là còn in bóng dáng. Lập lòe trong vũng tối âm u đó, những con đôm đốm lác đác soi đường tìm nhau...

     Gần đến nhà, lão tư Duy bỗng giựt mình, chồn chân, chậm bước. Trước mắt lão, lòng thòng từ cành sồi già to lớn, hai bóng đen... lúc dang ra xa lúc xáp lại gần nhau. Ma hời xứ Mỹ là đây? Không một tiếng động, hai cái bóng chứ chập chờn đùa giỡn. Lão chợt nghĩ đến cây gậy cầm tay, lão thường đem theo phòng đám chó hoang mỗi bận thiền hành, mà lần này lão quên. Phải có nó thì đỡ biết mấy. Hít một hơi dài lấy tinh thần, lão bắt ấn Chuẩn Ðề, ngập ngừng tiến tới. Bụng bấm bụng, không nên chi phối trong lúc thiền hành... Bất ngờ, sau tiếng cười giòn giã, lảnh lót, hai bóng đen vút bay lên trời, để lại ánh lửa phi tiễn cá nhân xẹt xẹt dưới chân. Thì ra là cặp tình nhân trẻ đã thừa bóng đêm trốn ra đây hò hẹn...

     Mở cửa vào nhà, lão bước đến bàn hương án đặt bên vách gần cửa sổ, đốt một nén nhang! Hương trầm thơm thoang thoảng! Bài vị của Văn Gô, thằng cháu chán đời không muốn sống của bạn lão, có viết ràng ràng bằng chữ Nho: tái thế năm 2025, tạ thế năm 2050, hưởng dương 25 tuổi!

     Lão lại tủ lạnh lấy chai bia Trần, Tran Brewer Company , bật nấp, tu một ngụm... Ðã hơn một thế kỹ rồi, lão tần ngần, ngẫm nghĩ đến câu nói của Albert Camus trong "Huyền thoại về Sisyphe," The Myth of Sisyphe , mà lão đọc hồi còn nhỏ... "chỉ có mỗi một vấn đề triết học thực sự nghiêm chỉnh: tự tử!" Nhưng, nghiêm chỉnh theo phạm trù đây? Phải, nghiêm chỉnh trên bình diện nào mới được chớ? Bất chợt, lão nghiệm ra... dường như ai tự tử thì kiếp sau sẽ tự tử tiếp! Ðúng là, nghiệp chướng oan gia! Rồi, bằng vào cách nào thì ta... giải nghiệp... Mặc dù "chưa bước qua cầu," lão vẫn hi vọng những máy móc tối tân, thời đại của công ty "Cổng thiên đường," Paradise Gate , sẽ đáp ứng những gì lão đang mong đợi...

   back to top

08. MIỀN ÐẤT ÂM U

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Ngày xửa ngày xưa, năm 2001, các hãng điện tử nói chung, các hãng điện thoại nói riêng, đều từ từ sụp tiệm... Lucent Technologies (hậu thân của Bell Systems và rồi hãng AT&T) cũng nằm trong trường hợp này! Cắt giảm nhân viên là tiết kiệm được tiền nên bọn Giám Ðốc làm trước tiên: Offering package , một chương trình khuyến khích về hưu non!!! Thêm 5 năm vào số tuổi cho dễ hội đủ điều kiện và thêm 5 năm vào thời gian làm việc cho tiền hưu trí tăng lên chút đỉnh... Cộng thêm lời hứa sẽ trả hằng tháng chín mươi lăm phần trăm tiền bảo hiểm sức khỏe...* Kể ra chương trình về hưu non này cũng hấp dẫn quá đi chớ. Những ai hội đủ điều kiện mà không ký nhận phải nêu lý do tại sao, đặng hãng tiện bề đưa vào danh sách sa thải tạm thời... Do dự mãi rồi Hiếu cũng ký nhận trước hạn chót một vài ngày! Bạn bè làm chung hãng tổ chức tiệc tiễn đưa cho cả nhóm hơn mười người... ra đi đầu tiên! Ậy, coi như ai chết trước được mồ được mả, ai chết sau thì rả thi thây ấy mà!

     Một ngày sau khi giũ áo ra đi... nhân viên Lucent Technologies ùn ùn kéo nhau ra văn phòng tìm việc, Job-Services , để xin hưởng tiền thất nghiệp! Về hưu mà xin hưởng thất nghiệp cái nỗi gì? Ý da, cũng tùy theo chỗ mà mình xin thôi! Ở làng Bolingbrook thì cái đám làm văn phòng Job-Service ... họ nghĩ tình sao không biết, bảo rằng: "Tụi mày phải để lý do xin phụ cấp thất nghiệp là layoff chớ không phải retire , nghe chưa!" Và cũng khỏi phải điền đơn lại làm gì cho tốn giấy, chỉ cần gạch bỏ chữ về hưu, retire , và viết thêm bên trên chữ sa thải tạm, layoff , to tổ bố là xong. Rốt cuộc rồi tên nào cũng được hưởng một năm rưỡi tiền còm. Nhưng ở thành phố Naperville thì khác, gặp đám làm việc réc-lô, không du di gì ráo trọi, những người đi xin coi như lỡ dịp nhận tiền chùa!!!

     Vừa hết thời gian lãnh phụ cấp thất nghiệp thì có người kêu đi làm! Có lý quá nhỉ! Ðó là một thân hữu người Việt của nhóm Ái Hữu cựu chiến sĩ Hải Quân trong vùng Chicago, đang chung vui tiệc Tân Niên và hên là Hiếu tấp vô ngồi chung bàn, nhưng không phải để ăn tục nói phét như mọi khi. Ông ta là một vị giáo sư của một Ðại Học trong vùng, bỗng dưng nghỉ dạy đứng ra tổ chức một Văn phòng địa phương, Local Agency , quyết tâm làm lợi cho công ty Prudential. Công việc chính là bán bảo hiểm nhân mạng ( Life Insurance ); bảo hiểm xe cộ ( Car Insurance ), bảo hiểm sức khỏe ( Health Insurance ) là phụ thuộc; bán thị trường chứng khoán ( Bond Stock ) lại càng phụ thuộc hơn!

     Lúc chưa vô nghề, xem qua hồ sơ nhận việc cũng bắt mắt dữ lắm, nào là lương hướng cũng không đến đổi tệ, ba mươi lăm ngàn một năm, phòng làm việc theo kiểu nhiều ngăn chung vách, cubicle , cũng sáng sủa, máy vi tính để trên bàn, desk-top , và máy vi tính xách tay, lap-top , mới tinh, và một tuần nghỉ phép có lương trong năm đầu tiên, v.v... Quá đã. Nhưng đụng vô rồi thì thấy ê hề ngay!

     Chỉ trong vòng 3 tuần lễ đầu mà Hiếu phải tự học, tự thi một lô các khóa học về tài chánh, finance courses , thường gọi Series . Ðại khái nếu xong Series 6 thì ngoài việc bán bảo hiểm còn có thể bán thị trường chứng khoáng, Bond Stock . Xong Series 7 thì có quyền làm chương trình cố vấn về tài chánh, Finance Adviser . Học không dễ (vì nản chí anh hùng rồi) mà thi cử thì cũng không dễ luôn (phòng thi dành cho các courses Liên Bang và Tiểu Bang luôn luôn giới hạn, phải đóng tiền và làm lịch trình thi trước đó hai, ba tuần mới có chỗ trống). Lệ phí thi lần đầu thì hãng trả, nếu rớt qua lần hai thì tự mình lo lấy và hãng sẽ trả lại, refund , nếu đậu; qua lần thứ ba thì phải tự túc tự cường. Chỉ cần 70 trên 100 là đủ và chấm điểm bằng máy vi tính thì không sai chạy đi đâu được! Thiếu một phần ngàn cũng không ổn.

     Lấy một lô chứng chỉ cho các Series xong rồi thì giai đoạn kế tiếp lại còn gay go hơn nữa! Hằng ngày chạy đôn chạy đáo đi bán bảo hiểm mà không thua gì đi cải tạo, phải đủ chỉ tiêu, quota ! Cứ ba tháng thì hãng xét hồ sơ một lần, hai lần không đủ chỉ tiêu thì bị đuổi. Vị chi là sáu tháng tối đa. Ai bán được nhiều mối thì xếp cưng như trứng mỏng, còn bán không được thì xếp xì nẹt, lên lớp liên tục không khác gì quản giáo bắt tù cải tạo "ngồi đồng"! Xếp của Hiếu là một người Ðại hàn (thật ra cũng là saleman nhiều kinh nghiệm được thăng chức manager để trông coi và giúp đỡ năm, sáu saleman mới vô nghề), sáng thứ hai nào cũng kêu vô hỏi:

     - Tuần này mầy có bao nhiêu cái hẹn?

     - Khoảng 12, 15 cái gì đó tao không nhớ rõ.

     Vừa nói vừa lục trong cạc-táp lấy ra tấm lịch trình đi phỏng vấn, interview , khách hàng thảy xuống bàn cho nó xem. Ngó tới ngó lui xong xuôi hắn ta hay lấy cây viết đỏ, quành vòng tròn vào hai ba chỗ và bảo:

     - Tao có thì giờ đi chung với mầy để lo mấy vụ bán buôn này.

     Rồi, có chuyện làm rồi! Vì lịch trình các điểm hẹn đều là giả và bây giờ phải biến những cái giả này thành những cái thật! Vào khuôn phòng làm việc, cubicle , riêng của mình cầm sổ điện thoại lên và ngẫm nghĩ lại phải chọn khu nào, làng nào cho bữa nay đây, cũng sắp hết đến nơi rồi? Cứ bắt đầu từ Ðinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn rồi Ngô, Huỳnh, Phan, Phạm v.v mà gọi tới! Chuyện những cái hẹn bị hủy bỏ hay thay đổi giờ giấc cũng là chuyện thường tình mà thôi. Ðang lu bu sắp xếp lại mớ giấy tờ bừa bãi trong góc kẹt thì thằng bạn đồng môn gốc Ấn Ðộ, bên kia cubicle , lên tiếng:

     - Ê bạn hiền ( my friend ), tao vừa mới gọi một tên trong list và có đầu kia lên tiếng trả lời, mừng quá, tao đọc câu thiệu đầu môi... Hi , tao tên là blah blah blah đại diện cho hãng Prudential Life cái bị kia cúp cái cụp, beng mậy! Thiệt là thiếu lịch sự...

     - Ối, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ đó, tao bị hoài.

     Cả hai cười ha hả và bàn tính sang chuyện khác, chuyện trước khi nó đuổi mình thì mình đuổi nó! Chịu đựng khoảng năm tháng thì mình vứt cho xếp tấm giấy từ chức, resign , xin thôi việc! Nhảy qua hãng khác! Tụi nó sẽ lụm liền vì khỏi bỏ tiền ra huấn luyện, lấy mấy chứng chỉ Series 3, 4, 5, 6, 7 này nọ. Cũng vui và cũng lụi tàn sau năm tháng nữa mà thôi, bảo đảm không bao giờ lên đến chín tháng mười ngày.

     Ðối với dân bán bảo hiểm, ai mà thích ngồi nhiều trong văn phòng là chỉ từ chết đến bị thương, vì xếp lớn lẫn xếp nhỏ hay lui tới càm ràm. Nhiệm vụ chính là phải bung ra ngoài kiếm mối, bởi vậy Hiếu cũng phải lặn lội về nhà nghỉ xả hơi hay ra quán Cà phê, quán Phở nhâm nhi, tán gẫu với dân làng. Có đi sâu vào... quần chúng, cộng đồng Việt Nam, mới thấy hết tuồng đời ấm lạnh, trạng huống trái ngang. Nào là mẹ góa con thơ, vợ chồng mới chấp nối hay mới ly tan, cha mẹ già không ai nuôi dưỡng đến nỗi nhiều cái hẹn không được tươm tất xảy ra ở trong nhà mà là chụp giựt vội vã ở Burger King, Mac Donald hay thậm chí ở bãi đậu xe, parking lot , hoặc trong xe khi trời đổ mưa. Ðó là người mình chớ còn hẹn hò trong khu Mỹ đen, khu Harlem hay South Side Chicago, thì còn hãi hùng, tệ hại hơn nữa! Khu Mỹ trắng mà thuộc lãnh thổ cũ của các Trùm Mafia như Al Capone cũng chẳng yên lành gì, phải ngó trước dòm sau khi tìm một chỗ đậu. Lạng quạng ăn đạn lạc dễ như chơi!

     Lần hồi rồi Hiếu cũng khám phá ra là rất nhiều mối hàng, giả cũng như thiệt, đang sẵn sàng nằm chờ đợi tại các tiệm dũa móng tay, làm Nails cho Hiếu đến tiếp xúc. Chủ tiệm thường là một bà già hoặc một ông già "năm chịch hay sáu bó." Mà nếu là ông già thì thường thường có bà chủ ngầm hay bồ nhí ngầm đang làm trong tiệm đó. Chủ tiệm thì cần bảo hiểm cho tiệm, lửa củi hỏa hoạn hay tai nạn thương vong. Chỉ có đám thợ Nails là dân trẻ trung, đầy nhựa sống! Ðám này cần bảo hiểm sức khỏe, nhứt là bảo hiểm cho thai nhi và sanh đẻ. Nhiều đứa đợi có bầu mới hỏi mua bảo hiểm, "chu choa ôi, khôn chi mà khôn dữ rứa," ít ra ba tháng hay sáu tháng tùy theo hãng, tụi hãng nó đâu có ngu. Chẳng biết những trường hợp này phải xử sự ra sao ha, phải bỏ tiền túi ra mà trả tiền nhà thương chăng? Nào ai biết được!

     Hiếu cũng có một thời giao du với đám nam thanh nữ tú, chuyên viên làm Nails . Tụi nó thường hay mướn hai, ba cái chung cư, appartment , hay nhà rời nhưng phải ở gần nhau là điểm chính. Ðể dễ dàng tụm năm tụm bảy nấu nướng, ăn uống, nhậu nhẹt, đờn ca tưng bừng sau khi tiệm đóng cửa. Lúc nào trong xe của Hiếu cũng có cây guitar thùng và vài tập nhạc để tùy thời nhập cuộc, tập làm "người nghệ sĩ với cây đàn" bất đắc dĩ, vì hầu như đứa con gái nào cũng thích làm ca sĩ. Nhưng bắt qua màn bài bạc sát phạt nhau hay rủ nhau đi vào sòng bài, Casino , cúng tiền cho máy kéo, như là một mốt thời trang không thể thiếu trong đời làm Nails , thì Hiếu chê. Càng chê hơn nữa khi có đứa con gái ngang nhiên không sợ dư luận, dám mở miệng nói:

     - Chú làm ơn bảo trợ em gái của cháu qua đi. Tụi cháu sẽ trả cho chú ba chục ngàn và giấy tờ về quê lấy vợ tụi con sẽ lo hết cho. Dễ lắm chú, chỉ cần chú đồng ý là được thôi

     Rồi còn đòi xin địa chỉ, số phone riêng nữa chớ. May phước, Hiếu cũng đã rào trước ngăn sau, rằng thì là... the buck stop here , chỉ liên lạc tại địa chỉ và số phone của hãng mà thôi! Mười phương cũng phải chừa một phương, để thoát hiểm, âu quả là vậy!

     Từ Prudential nhảy qua Country-Life, rồi tiếp tục nhảy qua Western-Life dẫu biết mình không làm nên trò trống gì! Lý do chính là người Việt Nam mình không ai thèm mua bảo hiểm nhân mạng cả, có chết thì con cháu sẽ lo như phong tục ông bà tổ tiên để lại! Còn bảo hiểm sức khỏe thì quá mắc mỏ nên hầu hết xem như... thí mạng cùi. Mỗi ngày Hiếu cũng làm một, hai cái hẹn tới nói ba điều, bốn chuyện với bạn bè cũng có và kẻ xa lạ cũng có mà nào có bán được mối nào đâu. Năm khi mười họa mới "dớt" được một con nhạn lạc đàn hay một con nai ngơ ngác! Thằng xếp thấy bán hoài không được đồng teng nào cũng kỳ, nhiều lúc nó phải nhường mối bán của nó cho dân Mỹ, dân Ðại Hàn để cho Hiếu đứng tên trên sổ sách đặng đỡ mất mặt Nói chung chung thì ngoài Mỹ trắng, thường thì chỉ có dân Trung Ðông, Middle-East, là có nhu cầu về bảo hiểm nhân mạng cao nhứt...

     Có lẽ những ai có tánh thích "chịu chơi hay chơi chịu" mới thích hợp với cái nghề chạy rong "tiếp thị" này, chớ còn hiền lành vô số tội như Hiếu đây cũng thấy cảnh... "tình anh bán chiếu, ủa, bán bảo hiểm" chỉ toàn là những mối thương đau! Và chỉ những ai đã từng xem qua cuốn phim tài liệu Cái Chết Của Một Gã Buôn, "The Death of the Saleman" thì dường như mới cảm thông cho những người đi bán bảo hiểm nói riêng, hay những kẻ đi bán bất cứ cái gì nói chung. Ðúng là làm dâu trăm họ trên một... miền đất âm u...


     * Lời hứa này không bao lâu sau đó đã bị phản bội, khi tổng thống Bush ký sắc lệnh cho phép các công ty đang vỡ nợ, phá sản được quyền sử dụng quỹ dành riêng cho những nhân viên về hưu, để tìm mọi cách cứu vớt hãng, kể từ sau ngày biến cố 9-11 tại World Trade Center. Trong số đó có hãng United Airline lấy luôn về, cúp hết các trợ cấp không cho những người đang hưởng hưu trí một xu teng nào nữa...

   back to top

09. NGÂY THƠ, VÔ SỐ TỘI

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     \s18Ð\s0úng là một ngày đẹp trời, vì mặc dù chưa qua khỏi rặng cây Aspen bên kia nhà hàng xóm mà vầng thái dương đã chói lọi phía trời đông. Hiếu vươn vai tập thể dục, làm chim bay cò bay trong những tia nắng ban mai chan hòa phả xuống chốn bụi trần như tưới lên người những luồng năng lực thiên nhiên, thúc đẩy thân xác lẫn tinh thần thêm phần phấn khởi! Không phấn khởi sao được khi mà Hiếu quyết định vứt bỏ không thương tiếc các giấy phép bán buôn, licences , có được từ các khóa học Series 3, 4, 5, 6, 7 mà không thèm cập nhật, re-new , nó nữa...

     Những ngày lao đao lận đận, mất ăn mất ngủ (vì phải lo tìm người, làm những cái hẹn và xách xe không đi phỏng vấn, interview , năn nỉ dụ dỗ bà con cô bác mua bảo hiểm nhân mạng, xe cộ, và sức khỏe) rồi cũng chấm dứt, khi bà xã Hiếu thấy hãng Laidlaw đăng quảng cáo đang cần tài xế lái xe School-Bus , xe đưa rước học trò, khi trên đường về từ Siêu Thị, Shopping-Mall . Ậy, chỉ nghĩ đến ngày ngày vui chơi với đám ăn chưa no lo chưa tới và cái đám con nít con nôi miệng còn hôi sữa cũng thấy mình trẻ lại, chống lão hóa một cách thật hữu hiệu...

     Lúc đến văn phòng nộp đơn thì bà thơ ký hỏi ngay vài câu vớ vẩn, đại khái hồ sơ chạy xe, driving record , của mầy có tốt không; trong ba năm qua mầy có bị tai nạn, accident , không; mầy có bị phạt chạy quá tốc độ ấn định, speeding ticket , không? Sau khi trả lời yes, no, no ... thì bả lấy xấp đơn cho mình điền. Xong xuôi đâu đó bả dặn phải ghé văn phòng lo về thi bằng lái xe đóng cho nó mười tì đặng lấy cái driving record rõ ràng trên giấy trắng mực đen, chớ nói tốt, và tôi xin thề... ( good, under the oaks ) như mầy đi nữa cũng chưa đủ! Ðúng là dân Mỹ, làm ăn lúc nào cũng có giấy tờ, sổ sách chứng minh!

     Lớp học khởi sự ngay ngày đầu tuần kế tiếp, tuồng như hãng đang thiếu tài xế dữ lắm vậy (sau này mới biết bà xếp trước đi đầu quân qua hãng khác, kéo luôn theo với mình một lô tài xế có kinh nghiệm). Tổng cộng có khoảng mười tám học viên. Bà giáo giảng dạy, instructor , cũng là nhân viên của hãng, ôi thôi, bả nói thao thao bất tuyệt như sợ thiếu thì giờ, nhồi nhét đủ thứ vào những cái đầu hầu như chai sạn (vì hầu hết đã xấp sỉ trên dưới năm mươi). Bả còn hăm he sau hai tuần bắt buộc phải đậu phần thi viết để còn nhảy qua phần thi lái thật sự, tức là giai đoạn... ngồi sau tay lái, behind the wheel .

     Rất nhiều danh từ chuyên môn về máy móc, nhứt là bộ phận thắng hơi, air brake , Hiếu từng học qua máy dầu cặn Gray Marine trong Hải Quân, học sửa xe từ mấy quyển sách chỉ dẫn hiệu Chilton, mà nghe còn điếc con ráy, không biết mấy bà Mỹ sồn sồn, cốt-xi-tô thì làm sao hiểu nổi đây cà! Coi vậy mà không phải vậy, vì có một bà trong nhóm đậu phần thi viết sớm hơn Hiếu một ngày. Bài thi viết gồm 5 phần, Hiếu rớt một phần nên phải chờ ngày sau thi lại, ai rớt ba lần cho một phần thì kể như rớt luôn! Bất quá tam, không có lần thứ tư! Rốt cuộc rồi chỉ còn mười hai thí sinh qua được phần thi viết, sáu người kia phải về vườn đuổi gà và có một bà tức quá, khóc hu hu như mưa sa gió bấc!

     Ậy da phút ban đầu ngồi sau tay lái cũng ớn thiệt, vì chiếc School-Bus lớn quá, 40 feet chiều dài, chỉ thua chiếc tàu PCF ngày xưa chỉ có 10 feet thôi. Người huấn luyện viên, trainer , dặn kỹ là: "Mầy phải nghe theo tao, tao bảo gì mầy làm nấy không được sai trái." Cầm tấm bảng "Student Driver" có nam châm tấp vào phía sau xe cho mọi người chú ý, đề phòng xong thì làm theo lịnh: đề máy, check đồng hồ ( gauges ), đèn đuốc, áp lực máy gió, air pressure , rồi sang số, chạy thẳng, quẹo trái, quẹo phải, vòng vòng trong bãi đậu xe, cuối cùng... tạm ngừng trong góc vắng! Xuống xe, kiểm soát từng bộ phận và gọi tên lớn cho huấn luyện viên nghe xem có có đúng không, làm "DOT" (theo thể thức của Department of Transportation ), tức là làm lịch trình kiểm xe trước khi rời bến! Ba cái lẻ tẻ này cũng không thể làm khó được Hiếu, nhưng khi bước lên xe trở lại, huấn luyện viên cầm cây chổi ny-lông màu xanh cũ kỹ, giao cho Hiếu và vừa nói vừa cười như châm biếm:

     - Tới giờ quét dọn xe rồi, một phần công việc của tài xế...

     Hừm... cũng có hơi "sốc" một chút đó chớ, vì có bao giờ làm công việc có vẻ... "tồi tệ" này đâu, cũng giống giống như ngày xưa vô lính, đàn anh bàn giao cho mình sô nước, chổi chà đi dọn dẹp phòng vệ sinh vậy!

     Lúc rời bến ra đường lớn cũng hơi teo teo, cố gắng giữ xe ngay giữa làn xe, lane . Quẹo trái, phải đều phải trờ tới một chút, ăn gian đường để bánh sau khỏi leo lên lề! Vì lúc thi lái leo lên lề là rớt. Quên đeo dây an toàn cũng rớt, như là luật lệ bất thành văn. Trước tiên chạy ra vùng ngoại ô, ruộng đồng đất rộng người thưa, tập tành chuyện đón rước học trò trong giả tưởng, hoặc băng qua đường rầy xe lửa cho đúng luật giang hồ. Kế đến, lần mò vào thành phố, chen chúc đông người, dập dìu xe cộ, ba bốn làn xe sàng qua lách lại. Cuối cùng là sang số de, từ từ rà rà vào chỗ đậu, khoảng cách giữa hai xe chỉ độ 2 feet , cạ quẹt coi như là tai nạn, phải bị treo giò và gởi đi học bổ túc, re-training , điều mà không người tài xế nào mong muốn. Chỉ có de vào chỗ đậu là khó nhứt nên phải thực tập tại khu vực trống có kẽ đường biên, sau khi thành thục rồi huấn luyện viên mới dám cho tài xế tập sự... vào ụ thiệt.

     Ðộ một tuần làm đi làm lại mãi thì chuyện gì cũng trở thành tự nhiên, hai mắt thỉnh thoảng theo dõi kiếng chiếu hậu trái, phải và giữ khoảng cách xe trước độ sáu giây, một ngàn lẻ một, một ngàn lẻ hai... ( one thousand one, one thousand two ...) cứ mỗi lần đếm thầm là một giây! Úi chà... đã trở thành chuyên nghiệp hồi nào không hay, lái xe buýt không khác gì lái xe nhà. Cũng giống giống như ngày xưa lúc mới qua Mỹ, bước vào trường làm học trò trở lại, bỗng tự nhiên nghe được, hiểu được, nói được tiếng Mỹ hồi nào cũng không biết!

     Lụi hụi đến ngày giám định, evaluation , được ghi rõ ràng trên bảng thời khóa biểu cho các tài xế mới, new drivers ! Thì ra ngày này cũng lại xách xe không chạy vòng vòng đôi ba tiếng đồng hồ với một huấn luyện viên khác, không hơn không kém! Dễ dàng thôi, bổn cũ soạn lại, coi như ôn bài, những gì mà người huấn luyện viên riêng của mình đã chỉ dạy! Xong buổi giám định, người huấn luyện viên mới này mới tiết lộ: Chúc mừng, mầy đã đậu! Bằng lái xe buýt (CDL, commercial driver licence ) sẽ gởi về địa chỉ nhà trong nay mai! À, thì ra vậy! Một cuộc thi phần lái xe không báo trước! Mừng! Giờ chỉ còn cầm tấm giấy kết quả này đi gặp ông xếp, Ban Ðiều Hành, để nhận việc chính thức ngay trong ngày mà thôi! Thời gian đó... là vào khoảng một tháng sau ngày nhập học của niên khóa 2003-2004.

     Ông xếp ban điều hành cũng mừng không kém vì đang cần tài xế mà, và xếp Hiếu ngay vào vòng chạy 12 ( round 12 ) gồm trường trung học ( high-school ) Wabonsie 12, trường sơ học ( middle-school ) Granger 02, và trường tiểu học ( elementary school ) Brooks 02, hiện đang được một tài xế dự bị, stand-by driver , lo lắng hằng ngày. Xếp dặn dò, bắt đầu ngày mai phải dậy sớm có mặt lúc 5 giờ rưỡi sáng, và chạy thực tập với tài xế dự bị này!

     Ngày đầu tiên chạy thực tập thì tài xế dự bị vẫn lái nhưng đã báo động cho lũ học trò biết Hiếu sẽ là tài xế chính thức, regular driver , cho vòng chạy này và yêu cầu:

     - Tất cả mấy đứa bây phải giúp đỡ ông ta nghen!

     Lẽ dĩ nhiên lũ nó yes, yes, yes, bus driver (à, th