Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Tập Truyện Dài: Một Ngày Ðẹp Trời

(Tức: Một Giấc Mơ Tiên II)

Nguyễn Tấn Hưng



* * *

Mục Lục
01. Cũng Phải Qua Cầu 02. Như Giấc Chiêm Bao 03. Rực Rỡ Ðêm Xuân 04. Xuôi Ngược Miền Quê 05. Về Thăm Quê Cũ 06. Sầu Riêng Quê Ngoại 07. Nhắc Chuyện Ngày Xưa 08. Dễ Ðứng, Khó Ngồi... 09. Lời Cuối Cho Một Cuộc Tình 10. Ðà Lạt Chiều Buông 11. Một Ngày Ðẹp Trời 12. Bạt của Trần Quang Minh
   back to top

01. CŨNG PHẢI QUA CẦU

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Rốt cuộc rồi cũng có ngày Hiếu phải lên Sài Gòn trọ học. Kể cũng lạ vì ba má chàng tuy quê mùa chất phác, lam lũ làm ăn nhưng ông bà lại muốn đứa con trai duy nhứt, kẻ nối dõi tông đường cho dòng họ Văn, Văn Trung Hiếu, phải có chút ít học thức và chức phận với người ta. Thời buổi này không còn cái cảnh thi Hương, thi Hội, thi Ðình, cũng không còn ông Nghè, ông Cử... cứ hễ đỗ cao thì được làm quan lớn hoặc giả đôi khi còn được kén làm phò mã, vinh qui phú quí về làng. Cái học bây giờ như thể chỉ để khỏi phải đi lính mà thôi, nếu không trong ngành chuyên môn thì phải đậu hằng năm ở chương trình phổ thông, chớ còn việc vinh thân phì gia thì phải dựa vào câu "nhứt thế, nhì thân, tam ngân, tứ chế" mới đúng.

     Bây giờ là buổi giao thời của nền Ðệ nhứt và Ðệ nhị Cộng Hòa. Không còn quân chủ chuyên chế với Nguyễn triều của Gia Long tẩu quốc hay quân chủ lập hiến với Quốc trưởng và Thủ tướng nữa. Tất cả đã lùi vào dĩ vãng tuy mới ràng ràng mà đã hóa xa xôi. Kể từ ngày đất nước chia đôi và sau đó không lâu, chỉ hai năm thôi, miền Nam không chịu thi hành hiệp định Genève, không chịu tổ chức tổng tuyển cử xáp nhập hai miền. Mà ngược lại, sau khi tiêu diệt các lực lượng tôn giáo như Bình Xuyên, Hòa Hão, Cao Ðài, Thủ tướng Ngô Ðình Diệm đã thừa thắng xông lên, củng cố quyền hành bằng cách vận động việc truất phế, hạ bệ Quốc trưởng Bảo Ðại qua một cuộc mệnh danh là trưng cầu dân ý. Ðể rồi, mọi người như bị bắt buộc phải "suy tôn Ngô Tổng Thống," qua lời ca: Ai bao năm vì sông núi quên thân mình ...

     Nhưng với đầu óc độc tài và bè phái, muốn thay trời làm vua ngồi mãi trên ngai vàng, nên nền Ðệ nhứt Cộng Hòa đã lần lần dẫn đến chỗ gia đình trị để cuối cùng Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm ... trong phút chốc bỗng không còn nữa. Vì phải chết thảm qua cuộc "đảo chánh" mệnh danh là "cách mạng" yểm trợ Phật giáo xuống đường của một nhóm tướng lãnh bộ hạ tay chân. Ðại khái, người dân đen thấp cổ bé miệng chỉ hiểu bập bõm như vậy chớ nội bộ bên trong gút mắc đến thế nào thì làm sao mà biết được. Âu cũng là một bài học lịch sử cho những ai tham quyền cố vị, muốn để lại một vết máu thay vì vết son.

     Nhớ lại thời gian đó Hiếu thấy sao mà chẳng ra một cái thể thống gì hết! Do ảnh hưởng của các phong trào xuống đường biểu tình, như một làn sóng thần từ Sài Gòn đột nhiên lan tràn đi khắp các tỉnh, học sinh trung học đâu đâu cũng bị giựt dây đứng lên tổng nổi dậy chống đối, đòi hỏi, quyết tâm lật đổ... hiệu trưởng và ban giám đốc. Học trò rượt thầy cô chạy có cờ, đánh giám thị sặc máu mũi! Cái gì kỳ vậy? Cách mạng? Trời đất! Rõ ràng hiếp dâm, bóp méo chữ nghĩa! May hồn là dạo ấy Hiếu đang ngồi lớp đệ nhị trường Nguyễn Ðình Chiểu, nên chàng chỉ biết lõ mắt nhìn đàn anh ở các lớp đệ nhứt hành động mà chẳng dám tham gia! Nghiệp trả chữ... "đấm, đá" cho thầy cô chàng chưa phải gánh!

     Rồi tiếp theo cái hình như phi lý của "cách mạng," của "đảo chánh" lại có chỉnh lý, bắt nhốt và tiếp đến bầu cử, gian lận kèm theo sự triệt hạ, trả thù... coi như không có một luật lệ giang hồ nào được đặt ra cả. Cái gì chớ Việt Nam ta mà dính líu với chính trị, xôi thịt thì nội bộ xào xáo không khác chi một nồi cháo heo, một đống hổ lốn xà bần. Ðể rốt cùng, liên danh Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ coi bộ được lòng quan thầy Mỹ cho nên được phép đứng ra giữ lấy giềng mối quốc gia. Thử hỏi lãnh đạo thời cơ, bợ đỡ như vậy thì làm sao đưa đất nước thoát khỏi vòng nô lệ của ngoại bang? Những thời đại tự chủ tự trị, tự túc tự cường của Ðinh, Lê, Lý, Trần biết bao giờ mới có cơ hội tái sinh?

     Trong khi ấy, kể từ năm 1960, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của Cộng Sản đã được thành lập và càng ngày càng lớn mạnh. Tranh nhau với chính phủ Cộng Hòa trong nhiệm vụ bắt lính và thu thuế. Dân quê bỗng rơi vào đường cùng không ngõ thoát, buộc phải sống đời trâu ngựa một cổ hai tròng. Với đường lối rỉ tai, dụ dỗ không mấy thành công, Việt Cộng đã chuyển qua giai đoạn sắt máu, chặt đầu mổ bụng để trấn áp dân lành. Sợ? Ðúng, phải biết sợ chớ! Bởi vậy, những ai không có cơ hội, phương tiện di tản về thành đều hầu hết phải cam tâm ở lại làm tôi mọi cho bọn giết người không gớm tay, vì bắt buộc chớ không vì nghĩa cả, tự nguyện, yêu mến quê hương...

     Sài Gòn, dạo trước, đối với Hiếu quả quá mông mênh, xa lạ. Một lần đi thi vấn đáp, ở trọ nhà một người bà con của bạn, cô Hai của Trịnh Quyền Tài, nằm trên đường Cống Quỳnh đã không cho chàng một khái niệm gì hết về nếp sống đua chen, xô bồ của chốn thành đô. Những buổi đến trường thi thì có con gái lớn còn độc thân của gia chủ, chị Minh Nguyệt, đưa rước cho khỏi lạc đường. Một vài câu trao đổi qua lại, thế thôi. Gia đình này thuộc hàng giàu sang, nhà lầu xe hơi, nên chàng cũng biết thân phận nghèo khó của mình, chẳng dám làm thân.

     Nhưng sau đó không lâu, hên quá, trong một bữa giỗ tại nhà của thằng bạn cùng lớp, Trần Hưng Phát, quê ở Chợ Gạo, Hiếu tình cờ gặp được người chị bà còn bên ngoại xa lắc xa lơ có nhà ở Sài Gòn. Chị Thảo, Trần thị Phương Thảo, quê ở xã Ông Văn, cũng thuộc quận Chợ Gạo. Nếu tính kỹ ra thì chị Thảo và Hiếu bà con đầu ông sơ, vì má chị và má chàng có cùng một ông cố. Ðặc biệt một điểm, chị là trưởng nữ trong một gia đình Nho giáo. Ba chị, một ông đồ biết nhiều chữ nho, đã không dựa vào đế hệ thi "Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh, Bảo Quý Ðịnh Long Trường..." của mình để đặt tên con cháu như vua Minh Mạng, mà lại dựa theo bài thơ bốn mùa, tứ quí thi, như sau:

     Xuân du phương thảo địa
     Hạ thưởng lục hà trì
     Thu ẩm hoàng hoa tửu
     Ðông ngâm bạch tuyết thi


     Rồi cũng chính chị Thảo có lần đã kể tiếp cho Hiếu nghe rằng ba chị nói đó là một bài ca dao rất xưa của Tàu, xưa đến độ vào thời ấy bên Tàu chưa có hoa sen chỉ có mỗi bông súng thôi, nên chẳng đề thơ "lục hà" tức "hoa súng xanh," là gì? Có lẽ đến đời người đẹp Tây Thi của Phạm Lãi đã bị Việt Câu Tiễn đem cống hiến cho Ngô Phù Sai... thì hoa sen mới thật sự du nhập vào Trung Hoa! Ba chị còn nói thêm là những đóa hoa sen tinh khiết đã từng nở ra dưới chân Phật tổ đó sỡ dĩ được lan truyền vào Việt Nam là do các tu sĩ đi hành hương, thỉnh kinh cầu phước lộc, đem về từ bên xứ huyền bí Ấn Ðộ! Nghe vậy thì hay vậy chớ chị nào có biết ất giáp gì đến nơi sản xuất lắm rắn hổ mang hay cái xứ chế tạo nhiều xì dầu!

     Sau chị Phương Thảo, tức Cỏ Thơm, thì hiển nhiên có thêm Lục Hà, Hoàng Hoa và Bạch Tuyết. Chẳng biết trong thâm tâm ba chị có mộng ước được tứ nương công chúa hay không, nhưng nếu ông có chủ tâm như vậy thì kể như mộng ước đã không thành, vì hai trong bốn cái tên được coi là rất đẹp cho bốn kiều nữ kia lại được tròng lên đầu hai cậu con trai giữa, Trần Lục Hà và Trần Hoàng Hoa. Mà cũng còn hên cho ông bởi đứa thứ tư, Trần thị Bạch Tuyết là đứa con gái, chớ nếu lỡ như con trai mà dếnh cái tên Trần Bạch Tuyết thì nghe coi bộ không ổn chút nào hết. Nhất là từ khi có hãng làm băng vệ sinh Bạch Tuyết ra đời. Có điều hơi lạ là sau khi sanh Bạch Tuyết, không biết ông hay bà đã âm thầm tuyên bố đình chiến dài hạn, cho nên mãi đến bây giờ Bạch Tuyết cô nương vẫn ngang nhiên làm cô út.

     Tuy tên tuổi có vẻ bay bướm, văn chương chữ nghĩa như vậy nhưng chị Thảo là người chất phác hiền lành, bải buôi vui vẻ. Trước khi lấy chồng chị cũng đã từng biết lo vườn tượt ruộng nương, công cày công cấy. Rồi đừng nói gần mực thì đen gần đèn thì sáng , mặc dầu di chuyển lên chốn thị thành những mấy năm qua mà nước da bánh ích đường hũ của chị cũng chưa chịu nhả nắng. Bên ngoài cũng tóc dợn lăn tăn, quần hàng áo nhiễu, cũng chưng diện ra phết theo kiểu văn minh tân tiến như ai, nhưng bên trong con người nết na, thùy mị của chị hình như cũng không bao giờ thay đổi. Trên khuôn mặt xương xương của chị, chỉ có cặp mắt to lúc nào cũng long lanh ươn ướt là hai điểm nổi bật, dễ nhìn, luôn làm người khác để ý. Chị không đẹp nhưng có duyên ngầm, không những ăn ở được lòng chồng mà còn với bà con láng giềng, chòm xóm xung quanh nữa. Chồng của chị cũng vậy, anh Ngô Hữu Phúc, một chân thợ hàn của hãng Ba Son, quê ở Cần Giuộc, là người quê mùa cục mịch, chí thú làm ăn. Hai vợ chồng chị mới có hai đứa con trai, lên ba và năm tuổi, hiện cư ngụ trong một xóm lao động dọc theo đường Phạm Thế Hiển, thuộc Quận 8 Sài Gòn.

     Mấy bận đi thi ngành vào các phân khoa, kể cả trường Ðại học sư phạm mà chàng đã đậu, Hiếu đều lên tá túc tại ngôi nhà xập xệ, vách ván mái tôn, có căn gác lửng của anh chị Phương Thảo-Hữu Phúc. Trong các ngày lang thang, vất vưởng ấy nếu muốn đi đâu xa thì chàng phải dùng xe buýt, còn nếu đi gần gần quanh xóm thì chàng mượn xe của chị Thảo. Sài Gòn rộng lớn, trống trải quá không mấy thích hợp cho những người... cuốc bộ. Vả lại, chàng cảm thấy rất e ngại khi phải nhảy lên ngồi xích lô đạp, xích lô máy hoặc giả chun vô xe taxi.

     Bây giờ khác hơn nhiều, ý chàng muốn nói có cái gì đó làm chân, vì Hiếu đã đem được chiếc Mobilette bình vuông của mình lên tận chốn phồn hoa đô thị. Bằng cách chịu khó chạy tà tà thẳng một mạch từ Mỹ Tho lên, khỏi phải chất trên mui xe đò, cột ràng chằng chịt tứ phía. Cho dù không ngang tàng phách lối so với Vespa, Lambretta, Goebels, Sachs... nhưng cũng khá hơn mấy chiếc Ve'lo-Solex, còi cọc không khác gì xe đạp. Lần đầu tiên vượt khỏi cầu Tân An bắc qua sông Vàm Cỏ Tây, đi lên cầu Bến Lức bắc qua sông Vàm Cỏ Ðông, rồi cầu Bình Ðiền thuộc khu Bình Chánh-An Lạc, để vào mũi dùi Phú Lâm bằng đường bộ kể cũng vui vẻ, thích thú lắm. Một khám phá mới đối với chàng. Rất khác với đi xe lô, xe đò chỉ chạy ngang cái vù là hết. Ðằng này, chàng có quyền ngắm nghía trời mây trong ánh nắng ban mai huy hoàng rực rỡ, cùng hít thở hương thơm ngào ngạt của ruộng đồng bát ngát ngút ngàn. Những con sông uốn khúc, những xóm nhà cheo leo đã vẽ lên bức tranh bình dị, mộc mạc, thanh thản của miền Nam những nét chấm phá sống động.

     Hiếu như đã thuộc lòng những con đường dẫn về nhà chị Thảo! Từ ngã Phú Lâm men theo đường Hùng Vương, được một đỗi thì rẽ qua đường Nguyễn Trãi, chạy riết tới ngã tư Trần Bình Trọng xéo xéo đằng kia là nhà thờ Chợ Quán, quẹo phải và chạy thẳng một mạch xuống bến Hàm Tử, rồi quẹo trái thì đụng chân cầu Chữ Y. Qua bên kia cầu Chữ Y, nhớ đừng rẽ xuống ngã Chánh Hưng ở giữa cầu, là đường Phạm Thế Hiển. Ðầu này chạy xuyên qua các xóm bình dân lao động trải dài hai bên lề, còn đầu kia chỉ được một đỗi rồi vắng vẻ hơn, dẫn về miệt cầu Rạch Ông, nối tiếp theo đường Trần Xuân Soạn chạy dọc theo kinh Tẻ ra cầu Hàng.

     Tương tự như vậy, chàng cũng đã thuộc lòng lộ trình đi đến trường hàng ngày. Dễ lắm, băng qua cầu Chữ Y, thẳng tới theo đường Nguyễn Biểu với bên phải là chợ Nancy thì đụng đại lộ Trần Hưng Ðạo, quẹo phải và xích tới một chút thì gặp ngã ba đại lộ Cộng Hòa. Con đường có đến ba trường nổi tiếng: Viện đại học Sài Gòn, phân khoa Khoa Học, trường đại học Sư Phạm và trường trung học Pétrus Ký. Ðó là chưa kể Trung tâm Sinh ngữ chơ vơ một mình một góc, ở phía dưới kia ngã ba đường Thành Thái...

     - Bữa nay em có đi học không vậy, Hiếu?

     Nữa, chị Thảo lại hỏi chàng câu hỏi đó! Hình như sáng nào cũng vậy, với cùng một ý nghĩ trong đầu, chị muốn hỏi Hiếu một câu cho có chừng trước khi xách giỏ đi chợ! Chớ mỗi ngày như mọi ngày, chị đã biết quá rõ là bổn phận của anh Phúc thì từ sáng sớm đèn đường chưa tắt đã xách xe ra đường, chiếc Sachs bệnh hoạn cũ mèm, còn hai thằng nhóc, An và Bình, thì luôn luôn say sưa trong giấc ngủ muộn. Về phần chàng thì tuy có hơi trồi sụt, bữa thì dậy thiệt sớm để dò lại bài, bữa thì nằm nướng cho đã đến khi mặt trời mọc, nhưng không bữa nào chàng lại không đi đến lớp.

     Khác với sinh viên các phân khoa phổ thông như Văn Khoa, Luật Khoa, Khoa Học... giờ giấc thay đổi lia chia sáng trưa chiều tối, sinh viên trường sư phạm cứ như là học trò trung học, ngày hai buổi cắp sách đến trường. Chỉ khác ở chỗ ngày xưa thầy và cô giáo điểm danh, bây giờ tự tay mình ký vào sổ có mặt. Chuyện cúp cua đi chơi với bồ lại càng khó xảy ra, vì vừa sợ bị đuổi và vừa muốn giữ gìn thể diện mô phạm, nhà giáo của mình. Trong tương lai sẽ làm thầy làm cô lũ nhóc lớn đại mà, đâu có lôi thôi bê bối cho được. Còn chuyện gì chớ chuyện xuống đường, biểu tình thì xin miễn nói tới, nhường cho các tay muốn làm lãnh tụ chính trị. Ngẫm nghĩ lại, những kẻ tập tễnh làm nghề gõ đầu trẻ sao mà hiền ơi là hiền!

     Bà này kỳ, biết quá rồi mà còn hỏi, Hiếu nhủ thầm! Nhưng chàng cũng từ tốn đáp lại cho có lệ:

     - Ði chớ chị!

     Chị lại hỏi tiếp:

     - Trưa nay em có về ăn cơm không?

     Hiếu gãi đầu, tình thiệt:

     - Bữa nay có giờ thực tập, chắc em về trễ. Chị với An, Bình cứ việc ăn trước đi, đừng chờ. Chừng nào em về em sẽ xuống bếp em lục.

     - Thiệt hôn? Thực tập ở trường học hay là thực tập ở rạp hát Ðại Ðồng đây cậu?

     Cái gì, rạp chớp bóng Ðại Ðồng? Úi chà, bà này cũng rành dữ ha! Mà nói cho ngay, xung quanh khu Ðại học sư phạm cũng không có mấy rạp chớp bóng! Ở phía trên kia, góc Cao Thắng và Phan Thanh Giản, có rạp thường trực Ðại Ðồng, chiếu liên tục liền tù tì từ sáng đến khuya muốn vô coi lúc nào cũng được. Coi nửa đuôi rồi ráp lại nửa đầu cũng xong. Ở phía dưới này, góc Cống Quỳnh và Võ Tánh, có rạp Khải Hoàn đối diện bên kia đường là vòng thành Ô-Ma, thường chiếu phim theo xuất. Không kể gần đó có rạp hát Quốc Thanh quen thuộc, dành riêng cho những ai thích coi cải lương và đại nhạc hội. Hiện thời, đoàn Thanh Minh Thanh Nga đang đóng đô dài hạn ở đó. Tuy biết vị trí từng rạp một nhưng rất ít khi Hiếu đi coi hát hay xem phim. Rõ ràng chàng khai thiệt mà vô tình bị bà chị hiểu lầm!

     Chị Thảo lại không biết là trong những giờ thực tập các môn phụ như Vật Lý, Hóa Học và Toán, bọn chàng đều phải chạy sang trường Khoa Học, mượn đỡ phòng thí nghiệm của người ta xài tạm, cho nên việc đi tới đi lui cũng mất nhiều thì giờ, trễ nãy là chuyện thường. Rồi tuy trai gái cũng hay bắt cặp làm chung một nhóm, nhưng dĩ nhiên đó chỉ là chuyện học hành thi cử, tối tăm mặt mũi mà thôi. Sao chị đi nghỉ quấy cho em vậy chị? Em mà dám trốn học đi ciné hả chị? Nói vậy chớ, Hiếu nghĩ, có lẽ tại vì chị coi Hiếu như đứa em ruột trong nhà nên mới để tâm, thắc mắc mấy thứ lẩm cẩm đó. Chàng cười:

     - Chị nói, tụi em đâu có rảnh rỗi mà lo mấy chuyện tào lao đó! Nếu có dư thì giờ thì cùng lắm là hẹn nhau vào thư viện, trao đổi ý kiến, bài vở vậy thôi!

     Chị Thảo cười theo:

     - Thôi mà cậu Ba, đừng có làm bộ! Ở Sài Gòn nầy mấy cô mấy cậu đời nay tự do, tân tiến, văn minh lắm. Vậy chớ tuần rồi cô, cô... gì đó, tới thăm cậu và định rủ cậu đi Lái Thiêu chơi cho biết với cổ nữa, rồi sao? Bộ tính dấu chị hả? Sợ chị mét dì dượng Bảy hả?

     Trời đất, bà này làm như có linh tính, giác quan thứ sáu không bằng! Tại sao mấy cô bạn Hiếu ghé thăm trước đây bả không nhắc mà lại nhắc cô mới ghé tuần rồi? Hóa ra hễ ai có tịch thì hình như thường hay rục rịch để rồi cử chỉ và lời nói tuy dấu diếm nhưng chẳng thiếu thân mật kia đã không lọt khỏi đôi mắt dòm ngó của bà chị thì phải? À, mà có thể chàng cũng đã thật sự dành chút chút cảm tình riêng tư hướng về cô bạn gái ngồi trên mình một bàn? Nhà nàng ở gần bót Hoàng Hùng, bên kia đường Võ Tánh ngó xéo qua cửa thành Ô-Ma, như chàng vừa mới điều tra ra gia phả, tông tích. Còn mảnh vườn cây ăn trái trên Lái Thiêu chỉ là quê ngoại của người đẹp. Hiếu giả lả:

     - Mèn ơi, tưởng ai đâu xa lạ, chị định nói tới con nhỏ Mỹ Hạnh bạn học của em đó hả? Dân nhà giàu đó chị ơi, tụi nó chỉ ngó mình bằng nửa con mắt. Cổ mời cho có mời vậy thôi, mời lơi chớ không phải mời thiệt nên em hổng ham!

     Chị Thảo lại hiểu lầm một lần nữa:

     - Nói giỡn chớ chị biết tánh em ham học, biết lo trước tính sau! Có như vậy thì dì dượng Bảy ở dưới quê mới chịu khó làm lụng kiếm tiền, gởi sấp gởi ngửa lên đây cho em ăn học! Thôi thì ráng vài ba năm nữa đi rồi ra trường đi làm thầy thông ông phán, thầy giáo cô ký với người ta.

     Hiếu thở phào nhẹ nhỏm! Rồi tự hỏi, kể cũng lạ, mình đã tròm trèm hai mươi tuổi đầu rồi chớ bộ nhỏ nhít gì đâu mà sao cứ còn e dè, rụt rè khi có người đặt vấn đề gái trai với mình chớ? Có phải những ai đã sống qua cuộc đời tỉnh lẻ thì vẫn hay ngập ngừng, nhút nhát khi lên chốn thành đô? Dưới mắt chàng thì bọn con gái Sài Gòn có phần nào dạn dĩ và đanh đá hơn, nhưng bọn con trai thì nhiều đứa cũng bơ phờ ngơ ngác như Hiếu, những con vịt hãng lạc bầy, chớ có tài giỏi gì hơn ai?

     Nhún mình như thể nhún đu , Hiếu nhỏ nhẹ, khiêm nhường:

     - Dạ, chị đừng có khen em quá có ngày nó... té hen! Chừng nào mình cầm chắc trong tay hẵng hay chớ đừng nói trước sợ bước hổng qua, chị ơi!

     Bước hổng qua? Ở đây, ý của Hiếu muốn nói đến chuyện tình cảm hơn là chuyện học hành! Quả vậy, chuyện học hành đối với chàng như là chuyện chắc chắn đang nằm trong tầm tay, cứ với ra là nắm được. Tất cả mọi thứ đều đặt dưới sự kiểm soát của chính mình, không chóng thì chầy chàng sẽ đi lần đến đích. Còn chuyện yêu thương, nhung nhớ, tương tư thì lại là chuyện rất khác. Không mấy khi mình làm chủ được tình hình và cũng chẳng mấy lúc mình làm chủ được cả chính mình nữa. Tất cả mọi thứ đều như đặt dưới sự cảm thông, chia xẻ với tha nhân. Ðể rồi những người đa tình, đa cảm, đa sầu như chàng thường bị rơi vào hoàn cảnh lệ thuộc hơn là chủ động. Sống thì hay sống cho "người dưng" và vui thì lại vui theo niềm vui của những "kẻ khác họ." Ngày nào với Hồ Ðiệp, Tường Vi, Hoài Hương, Lệ Thủy ở quê nhà và bây giờ, nơi đây, cùng với những bạn mới Mỹ Hạnh, Thúy Nga...

     Hiếu đang mơ màng nghĩ đến chuyện đâu đâu thì tiếng giục giã của chị Thảo đã vô tình lôi chàng trở về với thực tại:

     - Thôi, để chị đi chợ kẻo trưa. Chừng nào em đi học nhớ đóng cửa, khóa hờ lại đó giùm cho chị nghen. Hai thằng nhỏ chắc còn say ngủ, chị sẽ đảo một vòng rồi lẹ lẹ về liền để không thôi tụi nó thức dậy bất tử.

     - Ừa, chị cứ đi đi, để đó em lo cho.

     Chị Thảo vội vã bước ra ngõ hẻm và Hiếu khép lại cánh cửa hàng rào cây bao quanh hàng ba trước nhà, tráng xi-măng sạch sẽ. Một vài người đi chợ sớm đã bươn bả xách giỏ trở về.

     Mặt trời vừa chồm qua mái lá của căn nhà cuối xóm, chiếu những tia nắng ngọc ngà rạng rỡ đầu ngày. Một mùi nửa ngay ngáy, nửa thơm tho xông lên từ lòng đất. Lắng đọng dưới màn sương mỏng chưa tan hết, con hẻm cụt như cũng vừa vượt qua những cơn ngáp dài và bắt đầu vươn vai trổi dậy. Có tiếng con nít khóc đâu đây hòa lẫn với tiếng chào thưa, từ giã cha mẹ của lũ trẻ trước khi đi đến trường. Ngoài kia, trên đường cái, tiếng máy nổ và còi xe xuôi ngược, tranh giành chen lấn nhau qua lại đã ồn ào, in ỏi từ lâu.

     Trong hân hoan chào đón bình mình, Hiếu hít thở một hơi dài cho căng đầy hai buồng phổi cái không khí trong lành, tươi mát như nước suối cam lồ chưa bị bụi trần làm vẫn đục mấy. Chàng khoan khoái tập một vài động tác thể dục thể thao, chim bay cò bay, ưỡn ẹo vặn người sang trái sang phải. Xương vai, xương sống và xương sườn trở mình nghe rôm rốp, răn rắc. Sướng thiệt!

     Chẳng mấy chốc đã đến giờ đi học. Hiếu bước vào trong thay đồ, gom mớ sách vở ràng vô bọt-ba-ga, đẩy chiếc Mobilette phóng ra đường. Không quên khóa trái cửa như chị Thảo đã dặn. Bữa nay thế nào An và Bình cũng sẽ thức dậy trước khi chị đi chợ về. Hiếu đoán chắc như vậy vì hồi hôm tụi nó đi ngủ sớm hơn thường lệ. Bảo đảm hai đứa sẽ bắc ghế ngồi cạnh cửa sổ dòm ra như mọi khi, những lúc phải ở nhà một mình. Tội nghiệp, qua chấn song, trông như hai tên tù tí hon. Chàng đã gặp nhiều lần như vậy. Ít khi tụi nó dám mở cửa đi ra ngoài, có lẽ vì rất sợ người lạ mặt nhất là mẹ mìn lẻn vô, nên cứ phải làm y theo lời hăm he, dọa nạt rất cẩn thận của người lớn.

     Vượt qua hàng hàng lớp lớp những khách bộ hành, xe đạp, xích lô đạp, xe Lam chạy chậm hơn, Hiếu vặn thêm tay ga, lạng qua lạng lại tiến lên dốc cầu. Một vài tiếng xẵng giọng ra tuồng phản đối. Mọi người như đang gấp rút, hối hả. Dưới ánh hào quang tỏa rạng của nắng ấm ban mai, hình như chưa khi nào chàng cảm thấy quang cảnh đoạn giữa cầu Chữ Y rộn rịp, náo nhiệt như hôm nay. Trên bộ, xe cộ như được phép chạy hết ga, ầm ĩ, rần rần. Dưới nước, đủ ba mặt giáp công từ sông Bến Nghé, kinh Tàu Hũ, kinh Ngang gì gì đó, ghe tàu như được phép xả máy, chạy nổi sóng trắng xóa trên màn nước xanh rêu, xẹt qua xẹt lại dưới dạ cầu như mắc cửi. Kèn xe lẫn còi tàu rộn rã vang lên tứ phía. Từ mạn Chánh Hưng đi lên, từng đoàn xe ba-gát tiếp tục nối đuôi nhau, chất đầy những thân heo sống cạo lông sạch sẽ, chẻ đôi gọn gàng để kịp thời phân phối cho các chợ thịt. Thỉnh thoảng có thêm dăm ba chiếc xích lô đạp hoặc xích lô máy, bỏ mui lột nệm cho khỏi dính máu, cũng được trưng dụng để chở heo thay người tranh thủ thời gian cho các mối ở xa.

     Ô hay, trong bất chợt Hiếu thiển nghĩ, có lẽ không riêng gì những vật vô tri vô giác như xe cộ, ghe tàu, không riêng gì những loài cầm thú, súc vật dù đã chết hay còn sống, không riêng gì những người chung quanh Hiếu bao gồm đủ thứ hạng như thầy thông thầy ký, cô giáo cô hầu, cha huynh sư sãi, dì phước bà vãi, du đảng cao bồi, đĩ điếm ma cô, công nhân tư chức, bác sĩ kỹ sư, vua chúa quần thần, tướng tá quan lính, chú thiếm cô dì, bác cậu dượng mợ, ông bà cháu chắt, cha mẹ con cái, anh em chị em..., vân vân và vân vân, mà ngay chính cả chàng cũng vậy, cho dù có "đoạn trường" hay "không đoạn trường" đi chăng nữa cũng không cần thiết, ai ai rồi... cũng phải qua cầu! Phải di chuyển không ngừng, phải sống với những phút giây mà cuộc đời này đã đem lại. Không ai có quyền, cũng không ai được phép dừng lại trên cầu. Trừ phi có những người thực tâm muốn đi tìm cái chết, vì đứng lại là đồng nghĩa với tự sát.

     Nhưng, qua cầu rồi để phải làm gì và đi về đâu? Tại sao mình không "Xuân du phương thảo địa, Hạ thưởng lục hà trì, Thu ẩm hoàng hoa tửu, Ðông ngâm bạch tuyết thi" như người xưa đã làm mà lại chui vô trường Ðại học sư phạm? Hiếu đổ dốc cầu men theo đường Nguyễn Biểu. Bên hông mình, chợ Nancy đã đông đúc kẻ bán người mua, tiếng chọn hàng, trả giá bén gót đuổi theo đinh tai, nhức óc...

   back to top

02. NHƯ GIẤC CHIÊM BAO

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Chỉ cách nhau một con sông, một cây cầu mà đời sống đôi bên xem chừng rất khác biệt. Một đàng là ngoại ô đèn vàng còn một đàng là phú quý giàu sang. Một bên là đường Phạm Thế Hiển và một bên là đại lộ Trần Hưng Ðạo, đoạn có nhà thờ Chợ Quán với chợ Nancy. Hiếu không hiểu tại sao thiên hạ lại cứ phải chen lấn, giành giựt với nhau từng tấc đất ở bên đó làm chi trong khi bên này đồng rộng nhà thưa, vậy mà chẳng mấy ai chịu khó bỏ công dòm ngó tới! Vì theo chàng, rõ ràng không có gì trở ngại hết nếu đem so với con đò Thủ Thiêm, ở đây, chỉ cần năm phút băng qua cầu Chữ Y là người ta đã đặt chân ngay đến chốn thị thành.

     Ừa thì ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người đến chốn lao xao , Hiếu vẫn hay mượn lời của ngài Trạng Trình để tự biện hộ, bào chữa cho mình khi tìm đến ngôi nhà lèng xèng, xập xệ của anh chị Phương Thảo-Hữu Phúc ở trọ và tiếp tục việc học. Cũng được thôi, chàng kết luận như vậy và rất hài lòng với hoàn cảnh hiện tại. Bởi lẽ chàng đã quen sống với cảnh ruộng đồng, vườn tượt rồi. Còn gì sung sướng cho bằng khi chỉ cần năm phút ngược đường về phía dưới, phía cầu Nhị Thiên Ðường và ngã tư Cần Giuộc, thì chàng sẽ bắt gặp lại cảnh đồng không mông quạnh, bao la thanh vắng của đất trời. Chỉ thiếu sót có mỗi một điều là ở nơi phồn hoa đô hội này chàng không mấy khi rủ được bạn bè, gái cũng như trai, có chung một sở thích với mình để cùng tìm vui trong thú điền viên thôn dã.

     Giờ này, trước mặt chàng là cảnh đồng xanh trải rộng, chạy dài ra tuốt miệt Tôn Ðản, Cầu Hàng, cầu Tân Thuận, và thẳng tới vùng... Nhà Bè nước chảy chia hai , với những bồn xăng trắng ẩn hiện sau rặng cây cao. Từng cơn gió thổi qua, cuốn lên những lượn sóng phản chiếu ánh chiều tà trông như những con rắn vàng uốn mình ngoằn ngoèo trên mặt biển sẫm màu. Trên giữa từng không đầy mây trắng lửng lờ trôi, nhiều cánh chim đen chao đảo tìm mồi. Hòa lẫn với tiếng sáo diều vi vu trầm bổng quanh đây, thỉnh thoảng một hồi còi tàu êm ả vang lên, từ xa vọng lại. Qua cái mát mẻ trong lành, lòng người dẫu có đang trong cơn dầu sôi lửa bỏng rồi cũng sẽ chùng xuống, nguội lạnh, nguôi ngoai. Như một liều thuốc an thần. Bằng khung cảnh êm đềm ngàn đời của đất nước quê hương, nếu như chiến tranh đã không còn cơ hội xảy đến.

     Làm bạn với Hiếu bây giờ là một vài bóng đen nhấp nhô trong cánh đồng ngập nước, những người làm ruộng lom khom đi thăm đồng hoặc các em bé mải mê lo đặt vó bắt cá tôm. Chàng chưa có dịp chứng kiến cảnh công cấy công cày quảy gánh, dắt trâu ra đồng vào buổi sớm mai ở nơi này. Cũng như nghe tiếng tù và và những câu hò cấy lúa. Nhưng, có lẽ không riêng gì chàng, những ai đã sống ở vùng quê chắc sẽ ngạc nhiên không ít khi nhìn lại hoạt cảnh thân thương đó diễn ra ngay sát cạnh thủ đô Sài Gòn, đang nằm chình ình sau lưng kia, nếu như chàng không buồn ngó ngoái lại.

     Ồ, mà không biết những cô bác nhà nông lam lũ ấy đã từ đâu đến để canh tác các thửa ruộng này, chàng tự hỏi? Dám chắc họ không phải là đoàn người đến từ những nhà lầu, xe hơi phía bên kia sông! Với những áo nhiễu, quần hàng và những trang sức đắc tiền! À, đúng rồi, chiếc xe đò đang lẳng lặng trườn mình trên bóng mạ màu xanh mởn, như một khúc củi trôi dạt giữa dòng là bầu trời quang đãng ấy, đã nhắc nhở với chàng rằng những kẻ chân lấm tay bùn đó rất có thể đến từ miền quê, miệt Cần Ðước, Cần Giờ hay Cần Giuộc gì gì lắm!

     Tiếng rột rẹt của những con chim sẻ chuyền cành trên ngọn gừa già, đơn độc dọc theo đường lộ đá, đã lôi Hiếu về với thực tại. Giang sơn của chàng hiện giờ là vũng nước đục, lờ lợ màu đất sét. Nằm bên cạnh gốc gừa và luôn luôn bị che khuất ánh mặt trời bởi tàn lá xum xuê, dang rộng tứ phía như những cánh tay lông lá bao phủ một vòm trời bé bỏng. Nền đất trơn láng, không thấy một cọng cỏ mọc vì hình như có người lên xuống rửa ráy, giặt giũ hằng ngày. Rất có thể là khách qua đường hay là bọn ma quỉ, chăn trâu. Dưới nước, xen kẽ với lác và cỏ ống, một vài bụi lúa còn sót lại trong vũng có lẽ vì phần lớn đã chết bởi trôi gốc hay ngập đọt. Rau dừa dài cọng bò ngễnh ngãng khắp mọi nơi. Ðó đây, thỉnh thoảng vọt lên một vài ngọn màng màng xanh tươi màu cẩm thạch. Xa hơn, men theo các bờ ruộng dọc ngang, những khóm mắm, những nhánh đước lạc loài từ Rừng Sát lộn về, bị đốn liên miên đã trở nên còm cõi như những cành kiểng Nhật, bonsai, đang cố gắng khoe mình trong nắng, góp mặt với đời. "Chủm," hình như tiếng của một con nhái bù tọt vừa phóng mình xuống nước...

     Khác với tuồng tích Phong Thần, Khương Tử Nha câu thời câu vận, Hiếu dốc tâm ra đây bắt mớ cá rô đồng về cho chị Thảo chiên vàng giầm nước mắm tỏi ớt. Chắc chắn sẽ là món ăn hấp dẫn, đặc biệt nhứt trong bữa cơm chiều này. Từ mấy ngày qua, chàng đã cẩn thận vót nhánh, lột vỏ cây bình linh đốn bên miệt Rạch Ông làm sẵn cây cần câu màu trắng ngà. Nhằm mục đích giúp cho đám máy bay bay lượn trên trời dễ dàng nhận diện, không nghĩ đó là cần ăn-ten của các cán bộ Việt Cộng nằm vùng đang liên lạc với bọn giao liên thành. Ðừng nói cứ ở Sài Gòn là phải mua cần câu làm bằng chất nhựa dẻo, có máy quấn giống như các cố vấn Mỹ vừa mới đem qua và thường hay làm quà cho các lãnh tụ, tay tổ của một xứ kém văn minh hơn mình.

     Nhưng hôm nay coi bộ xui xẻo quá, có thể vì xuất hành chẳng chịu coi ngày, cho nên gần cả tiếng đồng hồ trôi qua Hiếu chưa giựt được một mống nào hết! Có phải vì chàng câu bằng mồi bắp hột trong lon của Mỹ chăng? Cá rô Việt Nam không có tinh thần vọng ngoại nên không thích mồi nhập cảng? Có thể! Bọn nó chỉ thích mồi nội địa, trứng kiến vàng chiên với sáp, loại sáp bọc bên ngoài các viên thuốc cao đơn hườn tán. Tuy nhiên, đâu dễ gì tìm ổ kiến vàng ở chốn thành đô hoa lệ. Ngay cả trên những nhánh gừa đầy lá này, nếu kiếm được một con chắc cũng dám mòn con mắt. Phải là cây ăn trái như xoài cát, mận hồng đào, cam quít, bưởi ổi kia kìa. Vậy thì biết lục lọi ở phương trời nào?

     Mặc dù Mỹ Tho chỉ cách Sài Gòn độ bảy mươi cây số ngàn thôi, nhưng nhiều lúc Hiếu thật sự cảm thấy bơ vơ, lẻ loi, cô độc trong kiếp sống xa nhà. Chàng hay ví mình như cây vú sữa hồng hào ở miền lục tỉnh hoa màu mà bị bứng đem trồng trên miền đất đỏ, sỏi đá khô cằn thì làm sao mạnh mẻ tốt tươi cho được. Nhưng chàng cũng gắng gượng tạm làm vui, qua những người bạn mới quen. Trong đó có Mỹ Hạnh, đã trở nên gần gũi, thân thương hơn hết. Mà chính con nhỏ bắt bồ, gợi chuyện với chàng trước trong buổi học đầu tiên mới là lạ. Con gái thị thành có khác! Dạn dĩ đến nỗi hóa ra hơi sỗ sàng:

     - Anh tên gì? Tôi tên Mỹ Hạnh!

     Trong phút giây ngỡ ngàng, chàng đã phải vội vàng bắt tay cô gái đang chìa ra trước mặt và lúng túng khai cả tên họ:

     - Tôi là Hiếu, Văn Trung Hiếu. Hân hạnh được biết cô...

     - Anh ở khu nào vậy?

     Trời đất, chưa gì mà đã ngang nhiên ra tay thẩm vấn chàng như công an khai thác tội tù! Chẳng biết có nên tiết lộ cho cô nàng rõ là mình đang ở chỗ không đáng cho mọi người lui tới, thăm viếng hay không? Tuy nhiên, sau một chút ngần ngừ chàng cũng từ tốn đáp lời:

     - Tôi ở trọ bên kia cầu Chữ Y, thuộc bến Phạm Thế Hiển! Còn cô, xin lỗi, cô ở đâu?

     Chưa chi cô nàng đã mỉm cười, ra mặt nhí nhảnh, đùa giai:

     - Nhà tôi ở đường Hồng Bàng, khoảng gần nhà thờ Cha Tam. Như vậy là anh và tôi không cùng chung một hướng về, thôi thì kể từ đây đường anh anh bước, đường tôi tôi đi và đường đời... đôi ngã chia ly!

     Chia ly? Làm gì vội thế, cô em! Chàng bèn đưa hơi:

     - Thiệt vậy sao? Tuy nhiên, mặc dù... chúng mình không cùng một hướng đi, nhưng xin cô hãy nhớ cho một điều, nếu cô muốn tôi đưa cô về thì bất cứ lúc nào tôi cũng sẽ sẵn sàng tình nguyện hết!

     Mỹ Hạnh gạt ngang:

     - Á, tôi muốn hỏi anh cho biết là nếu anh ở gần nhà thì mấy lúc kẹt bài vở có người chạy qua cho mượn xem đỡ vậy thôi, chớ tôi nào có muốn anh đưa tôi về đâu mà anh nói nghe phát ham quá vậy.

     Ghê chưa, miệng lưỡi và môi mép của đàn bà, con gái! Mới đó mà đã quanh co, lươn lẹo! Mà thôi, để làm vừa lòng cô bạn nhỏ mới quen, chàng vội nói xuôi theo chiều:

     - Ồ, thì ra tôi hiểu lầm ý của cô, xin lỗi nghen...

     Cô bạn nhỏ? Ừa, kể ra cũng đúng vì Mỹ Hạnh nhỏ con thiệt! Nếu đứng gần nhau có lẽ nàng sẽ thấp hơn chàng một cái đầu. Dáng dấp có vẻ búp-bê lắm với mái tóc cắt ngắn ngang vai, uốn dợn lô-lô úp vào trong, cuốn tròn theo gáy nõn. Khuôn mặt xương xương, hơi hơi chữ điền cân xứng với đôi gò má đầy đặn và cánh mũi thẳng cao. Ðôi mắt sáng long lanh dưới hàng mi rậm, cong vòng nguyệt và dài tới đuôi mí mắt. Cái gì trông cũng đậm nét và dễ gây ấn tượng với người đối diện, kể cả đôi môi chúm chím hình dấu ấ, mỗi khi cười thấp thoáng cái răng khễnh làm duyên. Ðẹp thì không đẹp lắm, dưới mắt Hiếu, nhưng cũng dễ coi, dễ mến. So với những người tình hờ tỉnh lẻ của chàng như Hồ Ðiệp, Tường Vi, Lệ Thủy... thì phải nói còn kém xa. Có lẽ vì buổi e ấp dậy thì, đào tơ mơn mởn trong lứa tuổi học trò trung học đã qua! Giờ thì người ta đã là sinh viên, biết nghĩ suy tính toán, cho nên tâm hồn cũng như thân xác đã từ đó dần dần lộ hẳn ra những góc cạnh của cuộc đời.

     Rồi những ngày kế tiếp trong lớp học, thỉnh thoảng Hiếu cũng hay ngó mông về hướng Mỹ Hạnh với không một chủ đích gì trong đầu vì đó cũng là hướng trông ra cửa sổ. Nhưng cô nàng lại hiểu lầm là chàng "để ý" hoặc giả "trồng cây si" cho nên đôi khi đã làm những cử chỉ xem ra hơi thừa thãi. Như tối ngày có cái tật hay kéo lông mi cho dài thêm. Hoặc lâu lâu cúi đầu xuống, đưa tay túm lấy tóc rồi ngả ngửa, thả bung ra sau. Không quên uốn éo, vặn vẹo chiếc lưng thon. Ra tuồng mỏi mệt, thèm được ai nắn bóp dữ lắm.

     Có điều là người bạn gái ngồi kế bên, tên Thúy Nga như chàng biết sau này, cũng đôi lần bắt gặp ánh mắt ngó mông đó của chàng nên cũng tưởng mình đang bị "công tử miệt vườn" chiếu cố, theo đuổi ráo riết và đã không ngần ngại thi đua với bạn diễn trò làm dáng, đôi lúc chẳng mấy giống ai. Như để khoe mái tóc dài quắn quíu, uốn dợn lăn tăn đợt sống mới chẳng hạn, Thúy Nga hay dùng ngón trỏ quấn lấy những sợi tóc lẻ bạn phất phơ bên mang tai theo điệu vô tình quấn chỉ tơ vào chiếc đũa nhỏ. Ra vẻ đăm chiêu, nai vàng ngơ ngác một cách khó hiểu, Hiếu nghĩ thầm.

     Giữa hai người bạn khác phái, phải nói là chàng thích Mỹ Hạnh hơn. Vì ngoài cái miệng hay véo von, châm biếm, trả treo, pha trò... chàng còn "chịu" ở cái dáng dấp nho nhỏ "bắc kỳ con" của nàng lắm. Có lẽ giống như mọi đứa con trai đương thời mới lớn, mỗi khi đứng trước mặt một người con gái chàng thường nảy sinh ra cái ý che chở, bảo bọc cho người mình đang đối diện. Có nho nhỏ thì người ta mới đứng ra làm "anh hùng" để mà che chở và bảo bọc cho, chớ còn to con lớn xác, tấm lưng ngang ngửa tấm thớt đình thì tốt hơn hết hãy tự lo lấy thân bồ tượng của mình, cần gì đến bọn mày râu. So với Mỹ Hạnh, tuy Thúy Nga có mông nở ngực vung, trông sexy hơn là cái chắc, nhưng nếu nghĩ xa hơn một chút, lỡ có cơ hội nhập cuộc bất tử, nội chuyện bồng em lên giường chắc phải cống rống, lòi cả xương sống lẫn xương sườn, té lên té xuống đôi ba bận quá.

     Ðó chỉ là mới nói qua về thể xác, chớ còn vấn đề tâm linh, trình độ, kiến thức thì lại là một chuyện khác. Có bao giờ đám con trai lại thèm đi nhìn ngang hoặc hay nhìn lên như bọn con gái đâu? Toàn là nhìn xuống, nhắm vào những cô em học dưới mình đôi ba lớp, nhỏ hơn năm bảy tuổi hoặc giả càng nhiều càng tốt. Nếu được năm anh hai mươi em mới sinh ra đời thì quả là thần tiên, ngàn năm một thuở. Nói gì đến bạn cùng lớp, đầu óc gái cũng như trai đều có sạn như nhau, chuyện đùm bọc nâng đỡ coi bộ không hợp thời trang chút nào hết.

     Ðiểm làm Hiếu ngạc nhiên không ít là rất khác với Mỹ Hạnh, đi theo Chúa, cô bạn thân Thúy Nga của nàng lại hay đi vô chùa. Có lẽ vì nhà cô ả ở gần Kỳ Viên Tự trên đường Phan Ðình Phùng, trong vùng Bàn Cờ chăng? Khi nói đến đạo thì hầu hết dân ở thành phố đều thuộc loại "đạo dòng," không phải "đạo vòng vòng" cà lơ phất phơ theo kiểu "thờ cúng ông bà" của dân miệt vườn, miệt ruộng. Ở đây, con chiên cũng như thiện nam tín nữ đều đến nhà thờ, chùa chiền với tấm lòng thành. Không giống như bọn lâu la của Hiếu, ngủ quỉ hoặc tứ quí tùy theo lúc, men đến nhà nhờ Chánh Tòa hoặc chùa Vĩnh Tràng ở Mỹ Tho chỉ với dụng ý là bắt bồ hay nhìn gái mà thôi. Chuyện tu hành đương nhiên cần phải xét lại. Mà kể ra dân thờ cúng ông bà chơi với dân thờ Chúa, thờ Phật cũng có nhiều cái hay, ở chỗ có thể được bù đắp thêm những thiếu sót tâm linh của chính bản thân mình. Và biết đâu nhờ vậy mà chàng tìm được câu lý giải cho huyền thoại "tam giáo đồng nguyên?"

     Có điều là quang cảnh chùa miễu ở nơi phố thị đông người qua lại xem ra chẳng có gì gọi là trang nghiêm, thiền viện cả. Nó ta bà quá đi thôi, Hiếu nghĩ. Bên trong tụng niệm, nhang đèn mà bên ngoài kèn xe inh ỏi thì có Phật nào chứng giám mà không khỏi phân tâm? Xung quanh chùa cũng không có một bóng mát cổ thụ làm thuốc, hóa ra chẳng giống dinh thự hay tư gia của một ông lớn là gì? Kể ra trong thời gian Phật Giáo xuống đường lật đổ chính quyền vừa qua, Kỳ Viên Tự thuộc phái Nam Tông hay Tăng Già gì đó, hình như không dính dáng gì hết thì phải? Chỉ nghe những trung tâm lãnh đạo, những đầu não chỉ huy nằm ở Việt Nam Quốc Tự, phe Viện Hóa Ðạo, hoặc chùa Xá Lợi, phái Ấn Quang mà thôi.

     Mỹ Hạnh và Hiếu có đến chùa Kỳ Viên một lần qua lời rủ rê, mời mọc của Thúy Nga. Dạo ấy cả ba đã thân tình với nhau cho nên mượn vai chủ, Thúy Nga không ngại ngùng phân trần với khách:

     - Anh Hiếu ngồi đây chờ, để Nga mượn con Hạnh một chút nghen. Bảo đảm không lâu đâu. Ði bà...

     Trời đất, làm như Mỹ Hạnh là của riêng chàng! Nhưng "con bé" đã vùng vằng ngay, có lẽ vì có đạo:

     - Ði đâu? Thôi đi bà! Bà muốn làm gì thì làm một mình đi chớ tôi đâu có trách nhiệm, bổn phận gì ở đây mà biểu đi với lại không đi! Tôi chỉ muốn tới chơi cho biết thôi!

     Nữa, sao đi đâu chàng cũng gặp cảnh xung khắc giữa Phật với Chúa! Tình trạng giằn co này làm Hiếu nhớ đến hai chị kết nghĩa Dương Châu và Hoài Hương. Cũng là "đạo dòng" đó nhưng chùa cũng đi, miễu cũng đến, tin quỉ ma cũng như thánh thần và hay đòi xây cơ như giặc. Chưa chắc Mỹ Hạnh đã có cùng một ý nghĩ, một tâm tư với hai bà chị. Nhưng mà, tới đây không hát thì hò , chớ bằng lòng chịu đi với người ta ở buổi ban đầu rồi giữa đường đứng lại, dậm chân tại chỗ như con lừa khó tính thì coi sao được. Hiếu xen vào:

     - Thì mình cứ đi chung với nhau cho vui chớ làm gì phải tách bầy, kẻ nọ người kia, cho thêm phiền phức.

     Thúy Nga giẫy nẩy:

     - Ậy, đâu có được...

     Vừa nói xong Thúy Nga lại kề tai Mỹ Hạnh nói nhỏ thêm điều gì bí mật nữa, chàng không nghe được nhưng đoán thầm là cô nàng đang ra chiêu dụ dỗ cô bạn đi vào trong xin xăm, cầu tình duyên gia đạo là cái chắc. Thấy vẻ mặt Mỹ Hạnh có vẻ xuôi lòng, chàng liền nói vô:

     - Ừa, hay là Hạnh cứ thử một lần với Nga đi cho biết. Nếu có điều gì không ổn thì để chúa nhựt nầy anh đi nhà thờ xưng tội thế giùm cho.

     Mỹ Hạnh đấm nhẹ vào vai Hiếu:

     - Anh thì chỉ có giỏi ở cái hay làm tài khôn, xúi dại bạn bè. Trong trường hợp của anh, chưa chắc anh đã dám làm. À, mà nhớ nghen, chúa nhật nầy anh phải đi nhà thờ xưng tội với Hạnh đó!

     Hiếu chép miệng:

     - Dễ mà. Thôi đi đi...

     Chàng đưa tay ấn nhẹ sau lưng Hạnh rồi bước vội ra sân tìm chỗ vắng bên hông chùa đốt thuốc hút. Xuyên qua những căn nhà lầu bên kia đường, ánh nắng chiều vàng vọt hắt lên nền xi măng những tia hào quang mát dịu. Một vài chiếc lá bàng con buông mình nương theo hướng gió. Chàng ngồi xuống ghế đá giống như ghế đá công viên và phà khói thuốc vào khoảng không... hư không. Tâm hồn chàng bỗng dưng chìm lắng xuống cho dù bên ngoài vòng rào xi măng cốt sắt trước mặt, xe cộ và khách bộ hành vẫn ồn ào tranh hơn tranh thua, tiếp tục dun rủi cuộc hành trình của mình. Ðó là lần đầu tiên chàng đến viếng một ngôi chùa mà không biết ở bên trong chánh điện tượng Phật lớn nhỏ, đỏ vàng ra làm sao...

     "Bõm," tiếng con cá lóc "trọng cải" nhảy lên táp mồi rơi xuống nước đã một lần nữa lôi Hiếu về với thực tại không phải một mai, một cuốc ... mà là "một đồng, một ruộng, một cần câu, thơ thẩn cùng mây vui thú này" của mình. Nhưng tệ quá, một cần câu xúi quẩy, vì đã từ lâu chàng không thấy một con cá nào... đớp động dưới chân bèo hết trơn. Chỉ thấy từng cơn gió hiu hiu thổi qua làm lao xao cành lá. Xa xa, những gợn sóng thi đua nhau trườn lên trên ngọn lúa, phơ phất từng phiến mỏng lả lướt nõn nà. Một con cò trắng đang bay bỗng dưng ngừng lại, dang hai cánh rộng quạt chầm chậm, rồi từ từ duỗi đôi chân khẳng khiu đáp xuống lũng sâu tìm mồi. Bất giác, trong cảnh cá nước chim trời, Hiếu buông tiếng thở dài vì thấy mình vô lý quá khi bỏ công dẫn thân đến chốn này để câu gió câu mây. Mà, thực ra, chàng nào muốn ra đây để tìm cái tĩnh khi biết rõ tâm mình vẫn động, nhục cảm và chấp ngã tràn đầy. Ngay cả tiếng lách chách của bầy cá rô băng mình qua mạng cỏ dầy ở đằng kia vừa đập nhẹ vào tai chàng cũng đã ngạo mạn dội lên một thách thức: bằng mọi cách chàng phải làm sao cho cá... cắn câu. Không chiều nay thì cũng sẽ chiều mai! Lại cứ phải tạo thêm nhiều nghiệp chướng?

     Nói gì thì nói, đất nước đang hồi nghiêng ngửa vì bọn Việt Cộng tức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ngày một lớn mạnh, đánh phá khắp mọi nơi vậy mà bổn phận làm trai hai vai nặng gánh, không đi lính giết giặc cứu nước, lại chui vô trường Sư Phạm học đòi làm thầy con nít thì xem ra có vẻ yếu hèn, Hiếu tự nhận như thế. Rồi tuy đang sống ung dung trong cảnh "trai thiếu gái thừa" vì nhìn đi nhìn lại thử hỏi có lớp Sư Phạm nào mà sỉ số con gái lại không nhiều hơn con trai, nhưng không vì thế mà bất cứ anh chàng nào cũng mặc sức tung hoành, buông bắt theo ý mình. Bởi ý trung nhân của các nàng đều đang được nhào nặn hoặc đã đúc sẵn ở chốn... ba quân. Những Võ Bị, Không Quân, Hải Quân, Thủ Ðức đang xông pha trên lằn tên mũi đạn kia mới là những người hùng mà các cô giáo hậu phương sắp sửa ra trường đáng gửi trọn niềm tin. Có lẽ chính vì vậy mà hầu hết bạn bè cùng lứa với chàng đã lần lượt khoác áo chiến binh, tùng chinh nhập ngũ, nếm mùi "thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu."

     Riêng phần Hiếu, tuy may mắn có Mỹ Hạnh và Thúy Nga kết bạn tâm tình, nhưng chàng vẫn không sao quên được những gì đã đi qua nơi tỉnh lẻ. Trong những đêm mưa dầm gió dạt, đều đều gõ nhịp trên mái tôn nhà trọ, biết bao nhiêu kỷ niệm thân yêu đã lần lượt trôi về cùng với cảnh cũ quê xưa. Ở đó, một thời đã có hai chị Dương Châu và Hoài Hương, có Hồ Ðiệp, Tường Vi, Lệ Thủy và lũ "đầu trâu mặt ngựa" gồm Hòa, Khúc, Tài, Thịnh của chàng. Giờ này, tất cả hầu như phân tán mỏng, mỗi đứa một nẻo đường. Chỉ mới đôi ba năm qua mà mọi thứ đã đổi thay. Nghe đâu chị Dương Châu đã tốt nghiệp Cán Sự Y Tế và sắp lấy chồng về xứ lạ, chị Hoài Hương đã đậu vào Sư Phạm Vĩnh Long. Hòa và Tài đều đã ra trường Thủ Ðức, một đứa đổi về Sa Ðéc và một đứa đồn trú tại Hà Tiên. Thịnh, sau một thời gian ôm kiếp cầm ca tài tử ở Mỹ Tho, cũng đã chán ngán nghiệp dư của mình và vừa nhập khóa hạ sĩ quan Quân Cảnh ở Vũng Tàu. Riêng Khúc thì từ mùa hè năm trước đã bay lên Ðà Lạt học trường Chính Trị Kinh Doanh.

     Lâu lắm rồi chàng không hề gặp lại một ai. Ngay cả những cô em mà chàng biết chắc vẫn đang còn ngồi học bậc trung học. Trong số đó, đặc biệt có Hồ Ðiệp. Kể từ khi anh nàng, Lê Phú An Hòa, đi lính, chẳng biết tại sao chàng tự nhiên cảm thấy sự gần gũi, gắn bó với em gái của bạn mình như là một tội lỗi. Mặc dù chàng vẫn da diết mến thương. Xuyên qua những bài thơ lạc vận mà chàng thường hay ghi lại trong những khoảng trống cuối bài trong từng tập ghi "cua" của chàng. Bằng những nét họa thiếu màu sắc cho một khuôn mặt dịu hiền, dáng dấp tự nhiên rất quen thuộc của một người thôn nữ miền quê. Ngày nào đó, có thể chàng sẽ tìm cách trao cho nàng một trong những cuốn ghi "cua" kia, để biết đâu, hai đứa sẽ đi đến một quyết định nào chăng? Nào ai biết được chuyện tương lai của mình!

     Bỗng, tay chàng như bị điện giựt, ô, một con cá cắn câu! Do phản xạ, chàng giựt mạnh đến nỗi cả cá lẫn dây cước cùng cần câu văng ra giữa lộ đá! Hừm, con cá này nếu không đeo mắt kiếng thì chắc cũng mù, Hiếu cười thầm. Úi chà, con cá rô mề lớn đại đó chớ! Gan lì thiệt nghen, dám chờ đến gần tắt nắng mới chịu ăn mồi. May mà chàng cũng đã kiên nhẫn không kém. Cầm cần câu đã mỏi và tê cả tay chớ bộ tưởng bở sao!

     - Hà hà, buồn ngủ mà gặp chiếu manh...

     Hiếu chợt nói thành tiếng trong khi chạy lại bắt con cá đang giãy đành đạch trên mặt đất đá lổm chổm. Chàng cẩn thận gỡ lưỡi câu mắc sâu bên mép rồi bỏ vào cái đục nhỏ và ngâm lại trong nước ruộng để cho nó sống sót cho đến lúc trở về nhà. Lẽ dĩ nhiên chàng không phải chỉ bắt một con này thôi mà còn phải bắt nguyên bầy cho chị Thảo làm vảy mệt nghỉ. Xong đâu đấy, chàng móc vài hột bắp vàng như nghệ vào lưỡi câu và tiếp tục thả nhẹ xuống vũng. Chàng sực nhớ là đã đến lúc phải cùng với cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm thực hiện ước vọng cuối cùng, rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp, nhìn xem phú quí tựa chiêm bao trước khi ngày sắp hết. Ðâu, bầu hồ trường của mình đang để quên ở đâu nè? Chàng vứt vội cây cần câu qua một bên và đưa hai tay mò mẫm khắp mặt đất, bò lần tới gốc gừa già...

    

     Ðột nhiên Hiếu giựt mình thức dậy, mình mẩy mồ hôi mồ kê vã ra như tắm. Rõ ràng hai tay chàng còn đang rà theo mép chiếu trên sàn gác trọ để tìm một vật gì rất là quý giá và bất thần đụng nhằm không phải... bầu rượu mà là cái gối ôm. À, thì ra chàng đang nằm mơ. Ô hay, mộng và thực! Làm sao chàng phân biệt được đây? Phải chăng, theo thuyết bất nhị của nhà Phật, mộng và thực chỉ là một? Trong thực đã có mộng và trong mộng đã có thực? Có lý lắm chớ! Trong giây phút hoàn hồn, bất chợt chàng tự hỏi, sao, mình đã "ngộ" được điều gì chưa?

     Hình như chưa! Ừa, tuyệt nhiên là chưa! Vì chàng đã nhớ ra rằng trên con lộ đá từ nhà đi về cầu Nhị Thiên Ðường không có một cây gừa cành lá xum xuê nào hết! Hai bên lộ cũng chẳng có ruộng lúa xanh màu mà chỉ là đầm lầy lau sậy, cỏ lác mọc đầy. Hừ, bậy quá, chuyện biển dâu tang hải thương điền mà, sao chàng không nghĩ là mình đang sống hằng trăm năm về trước, ở một kiếp nào đó, có phải sẽ phù hợp hơn không?

     Nhưng, thôi đi, nếu chàng không chấp, không bằng lòng chịu sống ở kiếp này thì làm sao chàng có thể ấp ủ những tình cảm rạo rực, dâng đầy với những hình bóng Hoài Hương, Hồ Ðiệp, Tường Vi, Mỹ Hạnh... mà chàng hằng thương mến. Rồi, đúng là cái nghiệp tiền khiên của mình chưa dứt cho nên không làm sao thoát khỏi được cái vòng oan nghiệt luân hồi. Kệ, hãy cứ để mặc ai đó muốn thành Bồ Tát thì thành, Hiếu vẫn muốn mình tiếp tục ngụp lặn trong chốn u mê, ít ra cũng đến hết kiếp này. Ðể năm lại sang năm, chàng còn tiếp tục thưởng thức, nếm mùi thu ăn măng trúc đông ăn giá, xuân tắm hồ sen hạ tắm ao . Ôi, nhàn nhã và sung sướng làm sao cho những ai dám ngang nhiên, hùng dũng bước qua vòng bon chen, danh lợi!

     Ngoài trời, từng loạt gió thổi tạt vào hiên. Dường như cơn mưa ngâu tháng bảy của mùa Vu Lan, mùa xá tội vong nhân, cô hồn các đảng, đang sắp sửa trở về. Hiếu xoay người nhụi đầu vào chiếc gối ôm, tiếc hùi hụi nỗi niềm lâng lâng trong cõi mộng, tuy rất hạ giới tục trần, vừa vuột khỏi tầm tay. Có lẽ không riêng gì "giàu sang phú quý," mọi diễn biến trên cõi đời này lắm lúc nhìn lại, thiệt tình, chẳng khác nào như giấc chiêm bao...

   back to top

03. RỰC RỠ ÐÊM XUÂN

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Ở một góc vườn vòng đai quanh nhà, chếch bóng phía trời tây, ánh mặt trời cơ hồ đong đưa, khuất lấp sau rặng cây xum xuê cành lá, vượt hẳn lên cao. Những tia nắng cuối ngày đã không còn chói chang, gay gắt nữa mà đã trở nên vàng vọt, nhẹ nhàng. Như bao cơn gió thoảng chiều hôm, đều luôn luôn mang đến cái mơn man, dìu dịu cho mọi thứ trên cõi đời này, kể cả lòng người và cảnh vật. Chiều xuống dần. Với chim muông tìm đường về tổ ấm. Cùng không thiếu những bầy le le, vịt nước thường thấy thả trôi từng đàn trên dòng Cửu Long Giang, đang oang oác giữa trời, xoãi cánh tung bay về nơi chốn cũ. Và chiều lại xuống dần. Với tắm rửa, cơm nước xong xuôi đâu vào đấy. Cùng chẳng hề thiếu bóng dáng các cô gái đảm đang, quán xuyến mọi việc trong nhà, lặng lẽ mang mớ áo quần cần giặt giũ ra ao, thò chân khuấy động mấy cụm bèo xanh...

     Dưới tàn me râm mát bên cạnh sàn nước bắc xa ra ngoài, Hồ Ðiệp thong thả đưa tay vò nhẹ từng chiếc áo dài học trò trắng bóc, ngâm trong thau nước có pha eau de javel bay mùi ngay ngáy. Ðôi bàn tay ngòi viết lá tre, mềm mại, thon dài. Ðôi bàn tay đẹp, nàng tự biết như vậy, vì chính Hiếu đã từng có lời khen khi nâng lấy tay nàng. Tình yêu, riêng với Hồ Ðiệp, nàng cảm thấy hình như không phải chỉ qua ánh mắt, nụ cười mà còn thực sự thể hiện qua đụng chạm. Tay trong tay, chẳng hạn. Cái cảm giác bất chợt đó nàng đã vụt nhận ra trong lần "đi vườn" về nhà chị em Hiếu, cùng nhau thưởng thức món xoài tượng chấm nước mắm đường. Ðể rồi nhớ mãi không quên.

     Có lẽ hầu hết mọi người đàn bà đều có và sống ít nhiều với linh tính. Chỉ cần một phút giây tao phùng hội ngộ đúng thời đúng lúc nào đó, hai chữ "định mệnh" dường như cầm chắc, sẽ xảy ra. Trường hợp Hồ Ðiệp cũng vậy, trong lần gặp gỡ đầu tiên với Hiếu và Kim Yến nhân ngày tựu trường dạo ấy, thuở nàng còn thơ lúc mới vào học lớp đệ thất trường công, nhưng nàng đã tự nhiên cảm thấy như có điềm gì khác lạ. Và rồi tiếp theo đó, mặc dù do tình thế đẩy đưa, qua sự sắp đặt thầm lén của Kim Yến, tình cảm giữa Hiếu và nàng đã vô tình nẩy nở, khắn khít hồi nào không hay.

     Cũng với những ngón tay thon dài này, từ e ấp rụt rè đi dần đến ấm áp thân quen, nàng đã cùng Hiếu tay nắm tay dung dăng dung dẻ trong đêm Hội Chợ ngày nào. Thì cũng do tình thế đẩy đưa, qua sự níu kéo của chàng để rồi trong im lìm, lẳng lặng hai đứa đã cùng rủ nhau "đi lạc" trong cảnh rừng người, chớ nàng nào đã có chủ động điều gì. Vậy mà, ngay sau đó trên đường về, nàng bị anh Hòa la cho một trận nên thân:

     - Tại sao mầy không đi chung với cả đám mà lại bày đặt tách bầy đi riêng với thằng Hiếu? Bộ mầy với nó đã có tình ý gì rồi hả? Mầy có thấy con Yến với bọn thằng Chiêu thằng Thuận không? Sao con người ta khôn quá!

     Bộ mầy với nó đã có tình ý gì rồi hả? Trời đất, cái anh này kỳ, hỏi chi cái câu hỏi sao mà khó trả lời quá vậy cà! Thì cũng là chuyện trắng đen, rõ ràng giữa thanh thiên bạch nhật chớ nàng có che đậy, dấu diếm hay làm điều gì mờ ám, lén lút đâu. Chỉ tại anh nàng, con người e dè khó khăn đến độ xấp xỉ hai mươi tuổi đầu mà chưa hề có một người bạn gái đúng nghĩa, đã không có con mắt đó thôi. Mà có lẽ ảnh chỉ muốn nhắc chừng cho mình đừng đi quá trớn chớ không có ý cấm đoán gì đâu, nàng nghĩ. Tuy nhiên, ngay lúc ấy, nàng cũng đã viện cớ để tự bào chữa cho mình:

     - Thì cũng tại anh với mấy anh kia đi lẹ quá chớ bộ...

     Dưới mắt Hồ Ðiệp, cái vẻ điển trai hào phóng bên ngoài của người con trai đối diện lắm khi không mấy cần thiết! Nàng có thể bằng lòng với dáng dấp nho nhã thư sinh của cậu học trò trung học có mái tóc bồng bềnh, mềm mại như khói như mây. Thêm một chút bụng thon, ngực nở khi ở trần trùi trụi là được rồi. Và ở Hiếu, chàng đã đáp lại những gì nàng không chê, không phiền. Nhưng, đối tượng của nàng bắt buộc trước hết phải thông minh, lanh lẹ. Làm thân con trai mà vướng phải cái tính cù lần, ù ù cạc cạc, chậm lụt rụt rè thì kể như uổng đời, không một đứa con gái nào thèm để tâm tới, có phải? Và ở Hiếu, chàng cũng đã đáp ứng với nàng điều đó. Bằng những câu nói rất tình ý, tế nhị thêm một chút pha trò rất nhẹ nhàng, dí dỏm đã luôn làm nàng đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Qua ánh mắt rực sáng như ánh sao băng dưới đôi hàng lông mày dài và rậm kia, tâm hồn nàng như được ân cần chiếu rọi, bao che. Lại còn cái cánh mũi thẳng và cao, cân xứng với khuôn mặt hơi hơi chữ điền hay điểm một nụ cười tươi mát trên môi..., ngần ấn đã gây cho nàng một... ấn tượng.

     Vậy mà đã có một thời "người" bỗng đi xa, khắp bốn phương trời, biền biệt tăm hơi. Không một lời nhắn, không một tờ thư... đã làm nàng xao xuyến, phân vân không ít! Chẳng biết sau đêm Hội Chợ tưng bừng ấy, anh Hòa đã nói riêng gì với Hiếu? Có làm điều gì để chàng phật lòng hoặc nghi kỵ hay không? Sao bỗng dưng từ sum họp đi đến cách chia? Sao bỗng dưng từ vui vầy đi đến buồn thương? Âm thầm như con nước triều lên đến giờ phải xuống! Như trăng tròn lại khuyết, như tuyết đóng rồi tan, như hoa nở lại tàn, như bèo gom rồi rã! Ôi, chuyện đời nghe sao mà luân hồi, lẩn quẩn quá? Biết bao giờ mới thoát khỏi cái vòng nhân quả, oan nghiệp, tai ương đây?

     Nàng chợt thở dài theo cơn gió sắp Tết hiu hiu thổi nhẹ bên hè. Mùi hoa sứ, hoa "mộc lan" trắng ngần từng cánh búp, như thoang thoảng quanh đây...

     - Hù, chị Ðiệp...

     - Á..., quỷ nà! Chiêu làm chị giựt mình, mất hồn, thiếu điều muốn đứng tim luôn thôi hà! Ác thiệt!

     - Nói chị nghe, Chiêu mới nhảy qua vườn kế bên hái trộm cho chị cái bông sứ cùi này để dành ép vô tập nè, thơm lắm...

     Chiêu đưa đóa hoa nõn nà vào gần mũi cho Hồ Ðiệp ngửi mùi, trong giây lát lại rút tay về, kê lên mũi mình hít một hơi dài cho đã rồi nói tiếp:

     - Thơm quá hả chị Ðiệp? Mà hỏi thiệt chị nghen, bộ chị đang tơ tưởng anh chàng nào hay sao mà ra tuồng thẫn thờ, mộng mơ quá vậy? Thấy chị giặt mấy cái áo mà làm như... tay vò cũng chẳng muốn vò?

     Hồ Ðiệp phản ứng liền:

     - Trời đất quỷ thần ơi, thôi đi nghen Chiêu, đừng có nói bậy! Chị có quen với ai đâu mà ở đó tơ với tưởng? Chớ bộ Chiêu không thấy hằng ngày chị sống ra sao hay sao mà còn làm bộ hỏi chận đầu?

     À, hóa ra nãy giờ thằng lõi Chiêu này đang ngó lén mình đây, Hồ Ðiệp nghĩ. Rồi còn giả bộ "hù" mình nữa chớ. Cái thằng, thiệt tình, cứ hay để ý chuyện của người khác. Nhưng kể ra tánh tình nó cũng hiền. Con người chỉ thích bải buôi, cợt đùa và như lúc nào cũng tìm cách làm cho người đối diện vui lây. Ðối với nàng, còn một điểm đáng nói hơn nữa là có người cùng làng cùng xóm, cùng ở trọ chung một nhà kể ra cũng... đỡ buồn. Mà cũng lạ, kể từ ngày quen với Kim Yến nhân dịp nàng rủ bạn về Phú An Hòa chơi, dường như Chiêu đã ra vẻ không thiết tha gì với bọn con gái xứ dừa nữa. Cái thằng coi vậy mà vun trồng và bón phân cây "si" rất lẹ. Ðể rồi sau đó không lâu, viện cớ làm biếng đạp xe đạp đến trường, đi và về mỗi ngày, anh chàng đã nhờ Hồ Ðiệp hỏi giùm cô Tám Sương, xin phép cho ở nhờ. Hết Chiêu đến Thuận, rồi hết Thuận đến Hiển, nguyên bộ ba Trúc Giang-Phú An Hòa lục tục kéo nhau về ở chung một chỗ với Hồ Ðiệp. Nhứt là từ khi anh Hòa của nàng tình nguyện đăng đi Thủ Ðức sau khi thi rớt phần hai, có thêm chỗ trống. Ðối với cô Tám Sương thì lại cũng dễ dàng thôi, vì không ngoài cái ý nghĩ "ăn thì nhiều chớ ở bao nhiêu." Kệ, mặc cho đám con cháu tụi bây sắp xếp phòng ốc, chung đụng với nhau sao cho ổn thỏa là xong. Miễn hằng tháng đóng góp cho cô một mớ tiền còm đủ chi dụng, trang trải lặt vặt trong nhà thì mọi thứ cô sẽ sẵn sàng bằng lòng ngay...

     Chiêu không đồng ý với Hồ Ðiệp:

     - Chị nói vậy thì hay vậy chớ ai mà biết được trong lòng chị đang nghĩ những gì? Hằng ngày tuy chị có vẻ cấm cung ở nhà, nhưng mấy lúc đi học hay mọi khi bước chưn ra đường thì bọn con trai đã không theo tán tỉnh chị hàng hàng lớp lớp à? Vả lại, còn anh Hiếu dạo trước nữa chi, giao tình giữa ảnh với chị hiện giờ đã đi đến đâu rồi nào?

     Hồ Ðiệp chợt nghe nhói trong tim mình khi Chiêu nhắc đến Hiếu, vì cả năm hơn, hình như không ai màng để ý chàng. Tuy nhiên, nàng lại giả bộ tảng lờ, đánh trống lãng:

     - Ối, xa mặt dễ cách lòng mà Chiêu! Với lại đã lâu lắm rồi chị đâu có liên lạc, tin tức gì về anh ấy nên chẳng biết... "chàng" vẫn ở vậy hay đã vui vầy duyên mới? Ý, mà nói đùa với Chiêu cho vui vậy thôi chớ giữa chị với anh Hiếu cũng đâu có gì xa hơn là tình bạn...

     Thực ra, những gì Hồ Ðiệp vừa nói đều rất đúng với tâm sự của nàng cách đây không lâu. Chính nàng là người trong cuộc mà cũng không biết vì lý do gì, Hiếu bỗng nhiên dửng dưng đi ra khỏi cuộc đời nàng. Không một lời giã biệt! Không một tiếng trối trăn! Ðể từ lâu nàng vẫn âm thầm chờ đợi và cố tìm... một câu trả lời. Tại sao? Rồi sau ngần ấy thời gian trôi qua với biết bao nhiêu đổi thay nơi tỉnh lẻ nhỏ nhoi này, thì gần đây, nàng vừa hồi hộp vừa vui mừng vì rất có thể nàng sẽ tìm được... một câu trả lời khá xác đáng! Rồi mặc dầu chỉ mới... rất có thể thôi, nhưng nàng cũng lấy làm mãn nguyện phần nào cho sự hy sinh, ừa, phải gọi đó là hy sinh chớ, của nàng. Chính vì vậy, nàng càng để tâm dấu kín niềm vui của mình với đám em út Chiêu, Thuận và Hiển...

     Nhưng, Chiêu nào có để nàng yên:

     - Chị nói giỡn hoài! Vậy chớ hôm đó có anh bạn nào của ảnh đã đem đến cho chị một "món quà" gì gì đó từ Sài Gòn gửi về rồi sao? Chẳng liên hệ với nhau thì ai lại đi tặng quà?

     Úi chà, làm sao thằng lõi Chiêu biết được chuyện này cà? Chẳng lẽ cô Tám lại đem chuyện bí mật đó đi nói với nó? Ðiều đó chắc chắn không thể xảy ra, nàng quả quyết! Hay là nó có mặt ở nhà trong lúc anh bạn của Hiếu, anh Phát, trao "món quà" cho cô Tám? Ối, mặc kệ, dầu sao đi nữa nó cũng không biết "món quà" đó là gì, quý giá ra làm sao! Nàng bèn nói giả lả:

     - Thôi đi Chiêu ơi, sá gì món quà nhỏ mọn đó! Còn thua một lời thăm hỏi hay một câu đón chào, chẳng có gì quan trọng hết. Chẳng qua ảnh muốn chị giữ giùm một ít kỷ niệm của anh ấy mà thôi!

     Trời đất, sao lại "giữ giùm một ít kỷ niệm" của người ta? Nàng cảm thấy như mình đã lỡ lời, tiết lộ ít nhiều cái bí mật về "món quà" mà Chiêu đang đề cập tới! Ơ..., hay là mình đã có ý đem khoe? Nàng bỗng thấy nhột nhạt, mắc cở cho chính mình với ý nghĩ riêng tư thầm kín đó. Vì "món quà" kia gần như là quyển nhật ký của Hiếu, đã ghi lại bằng thơ, xen kẽ trong những bài ghi cua ở lớp học. Nàng đã đọc đi đọc lại và suy nghĩ rất nhiều về "món quà" tinh thần đến độ đã thuộc lòng nhiều bài thơ "không tên, không tựa, không đề" nhưng có nhiều ẩn ý, ngầm nhắn nhủ với riêng nàng. Chẳng hạn như bài đầu tiên:

     Thương em biển rộng sông dài
     Cành lan cánh bướm đậu ngoài giậu thưa
     Nhớ em biết nói sao vừa
     Ngẩn ngơ sớm tối chiều trưa một mình
     Hỡi người em nhỏ xinh xinh
     Biết anh ngày ấy khối tình nặng mang?
     Ðêm khuya gác vắng trăng vàng
     Cớ sao lỗi nhịp cung đàn năm xưa!


     Làm sao mà nàng không nhận ra được rằng "người em nhỏ xinh xinh" kia chính là nàng chớ? Tín hiệu riêng biệt đã nằm gọn trong ba chữ "lan cánh bướm" hờ hững, vô tình kia! Vì tên của anh em nàng đúng ra là tên ba chữ đi liền. Ai gọi nàng là Hồ Ðiệp hay Ðiệp không là sai, phải gọi nàng là Lan Hồ Ðiệp, Lê... Lan Hồ Ðiệp! Cũng như anh nàng Lê... Phú An Hòa! Không thể gọi An Hòa hay Hòa không thôi mà nghe được vì Phú An Hòa là nơi chôn nhau cắt rốn, làng xã của gia đình nàng. Và trong những người thân quen với nàng, duy chỉ có Hiếu mới bận tâm để ý đến những ý nghĩ thầm kín đó của ba má nàng lúc đặt tên cho con! Có lần, chàng còn nói thêm rằng loài "Lan Hồ Ðiệp" là một loài lan rất hiếm, rất quý, có sắc tím pha hồng điểm lấm tấm những nốt tròn đen chung quanh nhụy. Dưới ánh nắng ban mai và trong cơn gió nhẹ thoảng qua, những cánh "lan" kia sẽ lấp lánh, lung linh như muôn ngàn "cánh bướm" đùa bay! Ôi, không "lỗi nhịp cung đàn" đâu anh Trung Hiếu, Văn... Trung Hiếu của em! Chẳng qua vì tình thế bắt buộc mà mình phải sống trong cảnh xa cách vậy thôi!

     Rồi còn có bốn câu nhắc lại một thời đã qua nữa chớ:

     Ngày nao đi học cùng đường
     Nhìn đâu cũng thấy người thương bên mình
     Ðóa lan, giấc điệp, chữ tình
     Quẩn quanh, ôi, bóng với hình, đôi ta


     Tuy là bị những dấu phẩy ngắt đoạn, chia cắt nhưng nàng cũng thấy ra ba chữ "lan giấc điệp," nào khác gì với "lan cánh bướm" hay Lan Hồ Ðiệp. Vả lại, phải chăng cả ba thứ "đóa lan", "giấc điệp", và "chữ tình" đối với chàng chỉ là một? Ôi, anh đúng là "thi sĩ của lòng em!" Và rồi đặc biệt hơn nữa, người thi sĩ kia tuy có đa sầu đa cảm nhưng lại rất chung tình với cảnh cũ người xưa, biểu hiện qua mấy vần thơ:

     Ở đây xe cộ dập dìu
     Càng trông càng thấy đìu hiu phận mình
     Ở đây chẳng có bạn tình
     Dắt nhau hái mận bên đình một phen
     Ở đây lắm kẻ bon chen
     Bảo sao không kiếm ma men giải sầu
     Ở đây dài lắm canh thâu
     Hướng về quê cũ nhạt màu thời gian
     Ở đây ngày bạc đêm vàng
     Tìm đâu thuở ấy bên nàng tôi yêu


     Nhớ hồi đọc tới bài này Hồ Ðiệp bỗng ghen thầm với "con mén" nào đó đã từng "dắt nhau hái mận bên đình" với chàng! Vì nàng tự biết quá rõ là Hiếu chưa từng làm chuyện gì bên đình, bên miễu với nàng hết. Ðã vậy còn bày đặt đi "kiếm ma men giải sầu" nữa chớ! Anh thiệt là quá lắm rồi, Hiếu ơi! Nhưng "thuở ấy bên nàng tôi yêu" thì chắc chắn là phải dành riêng cho nàng thôi, vì "con mén" kia còn nhỏ lắm, làm gì biết chuyện yêu đương? Em tạm tha tội cho anh, cái tội bằng trời đã dám san sẽ tình yêu đó, hỡi người "thi sĩ của lòng em!" Thi sĩ thứ thiệt chớ không phải "thi sĩ con cóc" đâu nghen! Ừa, mà chính tác giả bài "con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi" cũng không hẳn là "thi sĩ con cóc," theo ý nàng! Tại vì người đọc không chịu khó tìm hiểu cái tâm trạng và hoàn cảnh sáng tác của tác giả đó thôi. Nếu như "bài thơ con cóc" kia được viết ra để kỷ niệm với người tình của mình trong một buổi chiều về êm đềm như buổi chiều hôm nay, tay trong tay bên một bờ ao nào đó, há không phải là "tuyệt tác" hay sao? Sở dĩ độc giả chê là tại vì độc giả không tìm ra tâm tình gửi gấm, ẩn ý sâu đậm của tác giả ấy mà...

     Dòng suy tư, thơ thẩn với mấy vần thơ của nàng bỗng bị cắt ngang bởi lời phân bày của Chiêu:

     - Kể ra chị cũng là kẻ chung tình! Cái anh Hiếu tệ bạc kia từ bấy lâu nay đã hững hờ với chị, vậy mà chị vẫn không hề đổi thay, tiếp tục xem nhẹ những mời mọc, tán tỉnh của hàng tá các anh chàng dốc tâm theo đuổi, cố tìm mọi cách để xin chị ban phát cho một nụ cười, một ánh mắt, một lời nói, một câu chào...

     Hồ Ðiệp vội vã xen vào:

     - Ồ, Chiêu đừng có nói vậy! Giữa anh Hiếu với chị đâu là gì của nhau! Ảnh có nếp sống riêng tư của ảnh và chị có cuộc đời của chị. Ðâu phải tại vì ảnh mà chị không ngó ngàng tới các người khác. Với lại, như Chiêu đã biết, tánh chị không thích làm cao, chẳng qua là mọi chuyện đều xảy ra không đúng thời điểm của nó mà thôi!

     Mà thật vậy, Hồ Ðiệp không hề có tánh làm cao, mặc dầu nàng tự biết mình có chút nhan sắc. Làm con gái đẹp thì bắt buộc phải để cho "người ta" trêu ghẹo, theo quan niệm của nàng, nhưng còn đáp ứng lại hay không là quyền của mình. Rồi không phải những chàng trai đang dòm ngó, theo đuổi nàng là những kẻ sinh ra và lớn lên trong những gia đình nghèo khó, kém hèn. Nhiều đứa bảnh bao ra phết ở cái mã chưng diện bề ngoài và nhiều đứa thật sự trông khôi ngô tuấn tú, hào hoa phong nhã một cách bẩm sinh. Nhưng chẳng hiểu sao, tất cả dưới mắt nàng đều bỗng trở nên vô duyên tệ! Nhứt là lúc phát ra những lời nói ngô nghê, ngớ ngẩn chẳng ăn nhập vào đâu! Tội nghiệp! Ðúng, tội nghiệp, nàng chỉ biết ban phát cho họ sự thương hại vì đã bỏ công gieo cầu không đúng chỗ. Tình yêu không thể đến bằng con đường một chiều, phải có qua có lại, có đi có về. Và lắm lúc còn cần phải chiến đấu với chính mình để vượt qua biết bao chướng ngại vật đầy dẫy trên đường hầu tiến nhanh đến đích.

     Như ngay trong trường hợp của Hồ Ðiệp cũng vậy, nếu nàng vì tự ái, không thèm đếm xỉa gì đến cái địa chỉ mà Hiếu, chẳng hiểu vô tình hay cố ý, ghi ở trang cuối của "món quà" đặc biệt và không thèm viết thư thăm hỏi chàng thì chưa chắc hai đứa đã nối lại nhịp cầu, lấp đầy được hố sâu ngăn cách trong khoảng thời gian im lặng giữa đôi bên. Mãi cho đến bây giờ nàng vẫn không tin rằng, qua lời Hiếu giải thích trong thư, chàng mặc nhiên xa nàng chỉ vì muốn xóa bỏ cái "mặc cảm tội lỗi" với bạn, với anh Hòa, khi đã âm thầm đi "dê" hoặc "dụ dỗ" em gái bạn. Ô hay, trong chuyện yêu đương, tình ái thì có biết mèo nào cắn mĩu nào? Ai "dụ dỗ" ai? Tại sao lại có chuyện vô lý, trớ trêu như vậy được chớ? Ðiều này đã làm nàng thấy rằng tình yêu quả là một cái gì rất đẹp đẽ, trân quý nhưng quá mong manh! Nó có thể vỡ tan từng mảnh vụn trong phút chốc chỉ vì một lời nói vô tình, một sự hiểu lầm cỏn con chưa hẳn đã dính dáng gì với những người trong cuộc. Nàng vẫn đinh ninh rằng anh Hòa của nàng đã "phát ngôn bừa bãi" hay "hành động thô lỗ" gì gì đó ghê gớm lắm, đến nỗi làm Hiếu lặng tiếng, im hơi lâu đến như vậy! Riêng với phận nàng là gái, cột chẳng tìm trâu, thì nàng đâu có thể làm điều gì khác hơn được. Cũng may, "hiệp phố châu về," sau cơn mưa trời lại nắng...

     Rồi chẳng biết có hiểu lầm ý nghĩa câu nói của Hồ Ðiệp hay không, đột nhiên, Chiêu đưa ra đề nghị mới:

     - À, hay là để Chiêu giới thiệu với chị một anh bạn mới quen, sĩ quan không quân mới ra trường. Bảo đảm cao ráo sạch sẽ và ăn nói nhẹ nhàng dịu dàng như gió như mây!

     Hồ Ðiệp liền giẫy nẩy:

     - Nữa, thôi đi Chiêu à! Chị sợ mấy ông lính lắm, nhiều ông nói dai như đỉa đói, giẻ rách... Chà, bữa nay Chiêu định lên lớp, đòi làm người "gỡ rối tơ lòng" cho chị đó hả? Còn chuyện của "hai cô cậu" Yến và Chiêu thì đã đi đến đâu rồi nè? Coi chừng "chuyện người ta thì sáng mà chuyện của mình thì quáng" đó nghen!

     Hồ Ðiệp đứng dậy, bưng thau nước dơ đem đi đổ trên vạt đất trống. Chiêu tươi cười, vui vẻ nói vói theo:

     - Lúc nào cũng xuôi chèo mát mái, thuận gió xuôi buồm chị ơi! Ối, mà nếu lỡ có điều chi trục trặc, Chiêu chỉ cần cầu cứu đến chị thì mọi chuyện sẽ đâu vào đấy ngay chớ gì phải sợ!

     - Ý, đừng có ỷ y nghen! Con Yến nó cũng hay hờn giận, lẫy đương lắm à! Ðừng làm quá mà có ngày nó cho đi tàu suốt đó!

     Nói thì nói vậy chớ Hồ Ðiệp cũng thừa biết chuyện "cơm vẫn lành, canh vẫn ngọt" giữa Kim Yến và Chiêu vì con nhỏ có tật hay khoe. Ðại để, những gì Chiêu đã làm để lấy lòng người bạn gái của mình, con nhỏ đều kể vanh vách cho nàng nghe. Ngay cả những lần tặng quà. Những món quà tuy không mấy gì quý giá, đắc tiền nhưng rất ý nghĩa đối với người con gái, như một chiếc áo dài, một cái nón lá, hay một vòng đeo tay bằng đồi mồi. Ồ, mà đúng rồi, phải chăng tình yêu sẽ dễ dàng tìm đến hơn khi có sự bù đắp, chia xẻ những dư thừa, thiếu hụt của nhau? So với Chiêu, vẫn hay rộng rãi và xài sang vì gia đình tuy không giàu nhưng cũng thuộc thành phần khá giả, xem ra Kim Yến có phần nào chật vật hơn trong cuộc sống hằng ngày! Về với Chiêu, có thể nói Kim Yến bước một bước... đi lên. Và ngược lại, phần nàng về với Hiếu, rõ ràng là nàng đang đi xuống! "Môn đăng hộ đối" vẫn mãi mãi tồn tại từ đời này qua đời khác và có phải vì nhận ra sự cách biệt đó mà, từ lâu, Hiếu đã muốn xa nàng? Có thể lắm vì nàng biết tánh Hiếu không chịu lòn cúi, bợ đỡ, hoặc nhờ vả ai! Chàng có tinh thần tự lập và ý chí phấn đấu, luôn tìm cách vươn lên trong nghịch cảnh, khó khăn...

     Chiêu lại quay về chuyện cũ:

     - Kể ra chị đặt tin tưởng và hướng nhiều về anh Hiếu cũng đúng, Chiêu nghĩ. Thời buổi nầy lính tráng, cho dù Võ Bị, Thủ Ðức hay Không Quân, Hải Quân, làm sao có thể so sánh với giáo sư Ðại học Sư phạm được chớ! Một đàng thì sống nay chết mai trong cảnh rày đây mai đó, còn một đàng thì an cư lạc nghiệp, yên ổn mọi bề, vững như bàn thạch. Ðúng là một cách chọn lựa hết sức hợp lý, hợp tình đó chị!

     Hồ Ðiệp đặt thau đồ xuống đất, múc nước lóng phèn chứa đầy trong vại nhỏ đặt cạnh gốc me già đổ ra thau đặng xả xà bông. Nàng giải bày tâm sự:

     - Chị không nghĩ như Chiêu nghĩ! Với chị, tình yêu không đến bằng một sự so sánh và chọn lựa. Nó đến vì con tim và theo lý lẽ của con tim. Mà nói đến lý lẽ của con tim thì, ôi thôi,... khó nói lắm! Chỉ khi nào, bỗng nhiên, ngàn dặm xa cách người mình yêu thì Chiêu mới cảm nhận và chiêm nghiệm ra. Mới thực sự thấy mình thiếu những gì rất cần cho cuộc sống, như hơi thở, như máu hồng... Ậy, mà chị không có ý trù ẻo gì đâu nghen Chiêu...

     Bóng tà dương đã khuất dạng từ lâu và trời đang nhá nhem tối. Mọi vật chung quanh bắt đầu nhạt nhòa, hòa lẫn trong nhau. Qua song cửa ngôi nhà bên kia vườn, ánh đèn đêm le lói, thoi thóp như từ một hải đăng xa tít mù khơi. Tiếng côn trùng lúc tắt, lúc hiện phát ra từng đợt ngắn từ những bụi rậm quanh bờ ao như từng cơn uấc ức nghẹn ngào, nỉ non ai oán. Gió hiu hiu Tết vẫn còn mơn man cành lá nhưng đã dần dần trở nên hơi se da, thấm lạnh làm Hồ Ðiệp bắt dùng mình. "Tõm," một con cá trồi lên ăn mống, động đậy mấy cụm bèo không chân, nổi trôi trên mặt nước...

     Chợt có tiếng nói giòn tan, rộn rã sau lưng:

     - Mèn ơi, chị Ðiệp ở ngoài nầy mà nãy giờ Thuận đi kiếm quá trời! Thêm thằng Chiêu nữa, ở đây giữ ma cho chị Ðiệp hả?

     Hồ Ðiệp quay lại, từ tốn:

     - Vừa vừa thôi, Thuận. Có chuyện gì mà phải đi kiếm chị... quá trời?

     - Ðể báo cho chị một tin mừng!

     - Nữa, lại muốn đưa chị lên chín từng mây rồi lẳng lặng rút thang như Chiêu phải không?

     - Thiệt mà! Có anh Hiếu tới nhà thăm chị!

     - Cái gì?

     Hồ Ðiệp kêu lên trong rất đỗi ngạc nhiên, thiếu điều đánh rơi thau đồ xuống đất! Chiêu cười giả lả, chêm vào:

     - Thằng Thuận nó nói có anh Hiếu đến thăm chị! Chị đã run tay và nổi da gà chưa?

     Chưa thực sự hoàn hồn, Hồ Ðiệp còn hỏi lại cho chắc:

     - Thiệt hôn đó, quỷ?

     Thuận giải thích thêm:

     - Ảnh cho biết ảnh mới về từ Sài Gòn! Ðang nói ba điều bốn chuyện gì đó với cô Tám ở nhà trên!

     Hồ Ðiệp nôn nóng:

     - Thiệt vậy hả? Thôi thì hai đứa đi tiếp ảnh giùm chị một chút đi, chị bận đi lấy bươm bướm đặng máng mấy cái áo nầy trong buồng rồi chị sẽ lên sau...

     Nhìn bóng Chiêu và Thuận quay bước đi vào nhà, Hồ Ðiệp bỗng e ấp, cười nhẹ một mình. Nàng đã không còn che đậy được nữa. Nỗi vui mừng như đã rõ ràng thể hiện trên khuôn mặt, trên lời ăn tiếng nói, trên cử chỉ hốt hoảng, lúng túng của nàng trước mặt Chiêu và Thuận, nhất là với Chiêu. Nàng thực sự đang rơi xuống từ cung trăng. Vì từ lúc nàng nhận được "món quà" đặc biệt của Hiếu cho đến nay vỏn vẹn đã chưa tròn... một tháng.

     Rồi nàng cảm thấy bâng khuâng, thương hại cho cả hai, Chiêu lẫn Kim Yến. Với một mối tình quá vuông tròn đầy đặn, tình cảm dành cho nhau như chưa bao giờ vơi cạn hay qua một lần hụt hẫng, thì làm sao hai đứa nó có thể có được những đêm xuân rực rỡ như nàng và Hiếu đang trên đường tìm gặp trong đêm nay...

   back to top

04. XUÔI NGƯỢC MIỀN QUÊ

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Ánh nắng ban mai tươi hồng tỏa rạng phía trời đông. Qua màn sương lửng lơ mờ nhạt, bóng mặt trời tròn trịa, ửng đỏ trên cao như báo hiệu một ngày chan hòa nắng ấm rồi sẽ đến với cõi nhân gian. Ven mí vườn Tân Mỹ Chánh, lấp lánh trong những ngọn cau già khẳng khiu đong đưa theo gió, một vài tia nắng rực sáng, phản chiếu từ một phiến lá hay một giọt sương còn đọng trên tàu, thỉnh thoảng lóe lên, chói chang đập vào mắt Hiếu làm chàng giựt mình, cầm chặt lấy gui-đông. Ðằng sau chiếc bọt-ba-ga bọc nệm, có tiếng trách nhẹ của Hồ Ðiệp:

     - Cái gì vậy, Hiếu?

     Chàng chẳng buồn trả lời người yêu, lẳng lặng giữ gìn mối yên cương cho con "ngựa sắt," chiếc Mobilette bình vuông. Ðã lâu lắm rồi, vài ba năm qua có lẽ, chàng chưa từng trở lại con đường này, liên tỉnh lộ 31 nối liền Mỹ Tho với Gò Công. Mọi thứ, đối với chàng, giờ đây hầu như đã hoàn toàn đổi thay, xa lạ.

     Kể từ ngày mất đi đường xe lửa, hình như Mỹ Tho cũng đã dần dần mất luôn vị trí quan trọng hàng đầu của mình đối với các tỉnh láng giềng lân cận. Hàng hóa từ Sài Gòn không còn phân phối đi khắp các miền quê Gò Công, Bến Tre, Vĩnh Long bằng đường thủy qua nhà ga Mỹ Tho nữa. Và ngược lại, rau cải, cây trái, lúa gạo tìm về Sài Gòn cũng vậy, hầu hết đều được tập trung trên các tuyến đường bộ, với các hãng xe đò càng ngày càng lớn mạnh như Á Ðông, Nhan Nhựt, Thuận Thành...

     Sự phát triển của thành phố Mỹ Tho nói riêng, các tỉnh miền Ðông nói chung, do đó mà cũng chỉ ở mức độ cầm chừng so với các tỉnh tân lập hoặc các tỉnh miền Tây người thưa đất rộng đến... chó chạy cong đuôi cò bay thẳng cánh. Nói theo sách vở, các vùng "đất thuộc," đất tốt đã nhả phèn, bao giờ cũng không hấp dẫn, mời mọc bằng các vùng đất tân bồi hay vừa mới khai phá. Vì ở những nơi chốn cũ đó luôn luôn có sự chen chúc, tranh giành, lấn chiếm theo lối "một con cá lội mấy chục người buông câu." Ðã vậy, có lẽ cũng không thích hợp mấy với cái thói đời chỉ ưa "làm chơi mà ăn thiệt" của người miền Nam, cho nên sau khi chấm dứt cuộc Nam tiến thì bà con mình lại bắt đầu cuộc Tây tiến. Tiến về miền Tây! Từ những giồng đất cao ráo ở Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre, Vĩnh Long, Sa Ðéc họ đã ngang nhiên mạnh dạn tiến thẳng về miệt dưới, vùng Bạc Liêu, Cần Thơ, Cà Mau, Rạch Giá, Long Xuyên, Châu Ðốc...

     Mà nói tới việc khẩn hoang, lập ấp thì ngoài số người được tuyển mộ chính thức bởi các tướng lãnh, quan lại triều đình còn có một số không nhỏ thuộc thành phần tù tội bất hảo, trốn xâu lậu thuế, tự động kiếm đường ra đi, tìm cách sống ngoài vòng pháp luật. Hoặc giả, gần đây hơn, đám tá điền muôn đời đói rách, muốn thực hiện giấc mơ duy nhứt của đời mình là bằng mọi giá phải thoát ly ra khỏi sự kiềm kẹp, bóc lột của địa chủ, cho nên đành phải lánh mặt đổi tên, lìa xa nơi chôn nhau cắt rốn để qua vùng khác lập nghiệp, kiếm ăn.

     Có thể nói trong cuộc Nam tiến và Tây tiến đó, không ít thì nhiều, đều có sự đóng góp đắc lực của những tay "anh hùng hảo hán" bất đắc dĩ kia. Những người mà trong một thời gian cách đây không lâu lắm, độ chừng nửa thế kỷ hoặc nửa đời người nếu tính từ thập niên 1910, đã từng chịu đựng đêm ngày với muỗi mòng đỉa vắt, sống chết với rắn rít hùm beo, vật lộn cùng cù to sấu lớn. Những người tuy đôi khi thuộc thành phần thất học nhưng luôn luôn biết sống với hai chữ "điệu nghệ," tức "đạo nghĩa" nói trại ra. Những "điệu nghệ" theo kiểu "tứ hải giai huynh đệ," "kiến nghĩa bất vi vô dõng giả," "lâm nguy bất cứu mạc anh hùng," "bần tiện bất giao mạc khả vong..." hình như chỉ có thể áp dụng và xảy ra ở phần đất sinh sau đẻ muộn của một Việt Nam thuần nhất mà thôi.

     Rồi năm đi tháng lại, dâu bể can qua, Hiếu có cảm nghĩ Mỹ Tho bây giờ dường như đã đi lùi vào lịch sử, đã trở thành một thành phố trầm lặng cổ kính, không còn mấy sôi động bon chen nữa. Con lộ đá nối liền hai thị xã Gò Công và Mỹ Tho, xuyên qua quận lỵ Chợ Gạo, một thời là con lộ huyết mạch vì thực dân Pháp đã dự trù một kế hoạch lớn nhằm biến Gò Công thành một hải cảng quan trọng nhưng không thành, bây giờ cũng vậy, vẫn giữ mức hoạt động ở nhịp độ trung bình. Với những chuyến xe đò hạng trung mang bảng hiệu Tân Hưng, Thuận Hiệp, Ðông Thành... cà rịch cà tang mỗi sáng đi, mỗi chiều về hầu như không bao giờ thay đổi. Số lượng hành khách và hàng hóa cũng chừng ấy thôi, có thể vì dân số không còn tăng trưởng nữa, bởi lẽ bà con xa gần đã tuần tự tứ tán đi khắp mọi nơi từ mấy mươi đời. Không có nạn nhân mãn mặc dù gia đình nào cũng sanh năm đẻ bảy đều đều. Nhất là ở vùng quê, miệt bưng biền rẫy bái...

     Bỏ lại sau lưng trường trung học Nông Lâm Súc, đài Viễn Thông Tiền Giang, những mảnh đất giồng trồng dưa hấu, dưa hoàng kim, những luống hoa vạn thọ, bông cúc, thược dược... đã được thu mua và chuyên chở đi các chợ Tết, không mấy chốc Hồ Ðiệp và Hiếu đã trờ tới Song Bình. Mặt trời đã lên cao và làn sương sớm, từ lâu, cũng đã tan biến đâu mất. Hai bên đường ruộng lúa đã được gặt hái xong xuôi, chỉ còn trơ gốc rạ trông như một thảm cỏ sẫm vàng, lem luốc từng mảng bởi những vũng nước trâu nằm hay một ao cá cạn. Một chiếc xe bò chở đầy lúa ngả nghiêng, chậm chạp trườn ra lộ cái dọc theo con đê rộng lớn nằm cạnh đồn bót địa phương quân. Từ phía dưới kia, chiếc xe Lam mang đầy hành khách chạy ngược chiều, vụt qua như tên bắn làm tà áo của Hồ Ðiệp thêm phất phới, phần phật tung bay. Mặc dù có chiếc áo len hở nách màu hột gà khoác bên ngoài nàng cũng cảm thấy se da, lành lạnh...

     Nhéo nhẹ vào bắp vế non của người thương một cái, Hồ Ðiệp gợi chuyện:

     - Nãy giờ mơ tưởng gì đó mà im hơi lặng tiếng vậy, Hiếu?

     Mơ tưởng? Trời đất! Ði với "bồ," không, "vợ chưa cưới" thì đúng hơn, mà mơ với tưởng cái nông nổi gì, Hiếu nhủ thầm! Tuy nhiên, chàng cũng nên thừa dịp này để "trả treo" với Hồ Ðiệp một đôi lời. Chàng nói lớn:

     - Sao em biết anh đang mơ tưởng chớ? Ðừng có suy bụng ta ra bụng mình à nghen!

     Khi "cua" chưa được "bồ" thì hầu hết những thằng con trai đều bị bắt buộc phải trở thành "hay nói," mặc dù tự biết mình chưa chắc đã "nói hay!" Mỗi khi đi với "bồ" thì như lúc nào cũng rơi vào tình trạng bị động, cố moi óc lựa lời, nói liên tục những câu gợi ý, đưa tình... lắm lúc chỉ muốn làm vui lòng người đối diện. Bởi vì, lẽ dĩ nhiên, không thể nào lẳng lặng làm thinh để vô tình đào sâu thêm hố ngăn cách đã có sẵn từ thuở ban đầu. Tuy nhiên, đến lúc "cua" được "bồ" rồi thì phần lớn những thằng con trai kia lại bỗng trở nên ít nói lạ thường. Ít nói đây cũng không phải tại vì đã "hết thương," nên chẳng màng đến ga-lăng, săn sóc. Mà, thật ra, chính vì các anh chàng ta lúc nào cũng mãi bận tâm suy nghĩ đến tương lai, một mai hai đứa "nên vợ nên chồng." Và hiển nhiên Hiếu hiện đang ở trong trường hợp này, chàng thầm nhủ! Thì cũng chẳng có gì quan trọng, đại khái, chuyện gì rồi sẽ đến khi hai đứa sống bên nhau? Trong thời buổi chiến tranh, giặc giã nổi lên khắp nơi này? Ừa, mà có lẽ chàng đang mơ tưởng rất nhiều điều và một trong những điều đó là một ngày không xa lắm đất nước mình sẽ thanh bình trở lại, không còn Nam Bắc cùng một màu da cùng một dòng máu mà lại đi chém giết lẫn nhau...

     Nhưng, niềm mơ ước của Hiếu đã bị cắt ngang vì Hồ Ðiệp hỏi tiếp:

     - Anh có biết chắc là có anh Phát ở nhà bữa nay hay không vậy?

     À, thì ra nãy giờ cô nàng đã nghĩ đến thật xa, luôn cả nơi đi chốn ở! Vậy mà chàng còn đang thong đong, lững thững bên đường! Ðột nhiên, Hiếu ra vẻ ta đây, cả quyết:

     - Sao lại không? Ðã nó đôi ba lần dặn anh đi xuống nhà nó ăn giỗ mà nó lại bỏ đi chơi chỗ khác thì coi sao được nà?

     Hồ Ðiệp phân trần:

     - Không quen biết gì ảnh nhiều, bỗng dưng đi tới nhà người ta ăn uống đãi đằng, sao em ngại quá!

     - Ối, thì ai cũng vậy, trước lạ sau quen! Với lại, em mà xa lạ gì với thằng Phát chớ? Chính nó đã không là người giúp em... xích lại gần anh thêm tí nữa... hay sao? Ái da..., coi chừng té à nha...

     Lần này Hiếu bị Hồ Ðiệp nhéo cho thiệt đau! Không ngại sao được khi nàng chưa từng gặp Phát, bạn cùng lớp của Hiếu, một lần nào. Nàng chỉ nghe nói sơ sơ về một anh chàng quê ở Chợ Gạo, tuy con nhà không mấy khá giả nhưng học hành rất giỏi, năm nào cũng lãnh phần thưởng, với không dưới năm bảy lần xướng danh. Gần đây hơn, nàng có nghe cô Tám Sương kể thêm rằng có một người mặc đồ Hải Quân trắng bóc đến nhà, tự xưng là bạn của Hiếu, tên Phát, gửi lại món quà mà Hiếu đã nhờ trao cho riêng nàng. Thế thôi! Nàng không biết mặt mũi Phát ra sao, tướng người gầy cao hay vừa mập vừa lùn, dáng điệu thư sinh nho nhã hay là con nhà cộc cằn thô lỗ. Vậy mà bây giờ Hiếu lại đưa nàng đến nhà của người ta để ăn giỗ thì thử nghĩ có phải khó khổ cho nàng hay không chớ? Mà nói gì thì nói, đối với nàng, Phát luôn luôn vẫn là người ơn! Và có lẽ là người ơn của Hiếu nữa, nàng thầm nhủ. Như chợt nghiệm ra một điều rất là quan trọng, Hồ Ðiệp trách yêu:

     - Sao anh không đợi trưa trưa một chút hãy đi, mình xuống đó sớm quá sợ là chàng ràng chộn rộn, chỉ tổ làm phiền cho người ta!

     Hiếu nạt ngang, nói luôn một lèo:

     - Mèn ơi, sao em chậm... tiêu quá vậy! Ði ăn đám giỗ chớ đâu phải đi cày đi cấy mà em lại chần chờ! Ăn giỗ đi trước lội nước đi sau , không nhớ ra à? Nói vậy chớ chàng ràng chộn rộn sao được, em phải tập tành xuống bếp phụ giúp với người ta một tay. Mình chẳng có mang theo quà cáp bánh trái gì hết, nếu không làm như vậy thì lúc về ai mà thèm... lợi quả cho em, phải hôn?

     Biết là Hiếu nói đùa, nhưng Hồ Ðiệp cũng phản ứng lại:

     - Trời đất, thôi đi ông ơi! Ông có bà con xa gần, cật ruột gì với người ta hay không mà đòi lợi quả, lợi tráp? Chỉ là bạn bè cùng lớp, cùng trường thôi mà nói sao quá, hổng sợ... thiên bất dung gian hà! Vả lại, em có rành gì đâu nấu với nướng mà đòi xuống bếp, hả ông thần?

     - Úi chà, nếu không rành không biết thì đây quả là dịp tốt để cho em học hỏi và trau dồi công dung ngôn hạnh, đặng mai sau... chồng con em nhờ! Ái da..., đừng có dở trò bàn tay năm ngón đau thương đó nữa có được không...

     - Vừa thôi nghen...

     Hàng me già dọc theo lộ Ông Văn đã từ từ xuất hiện trong tầm mắt. Màu xanh nõn của những đọt non phết lên vài nét chấm phá, nổi bật trên nền thẫm xanh của tàn rộng xun xoe. Từ đó, nhìn về phía trời xa tấp bên trái kia là quê quán của các anh chị Phương Thảo, Lục Hà, Hoàng Hoa, và Bạch Tuyết. Hai bên con lộ đá đỏ này giờ cũng chỉ mênh mông đồng không mông quạnh, gốc rạ nối bờ đê. Khuất bóng sau hàng me, thấp thoáng vươn lên một vài rặng trâm bầu lưa thưa cành lá. Dăm ba bầy cưởng, nhồng, sáo thay cho những cánh én mùa xuân, bay lên đáp xuống tìm mồi. Không làm động đậy, rung rinh nổi một nhánh rạ khô nào, cơn gió sắp Tết hắt hiu, man mác thổi đến từ miền xa tưởng chừng như cố mang lại cái không khí êm đềm, thanh thản cho những ngày trống vắng rong chơi, hội hè đình đám sau mùa gặt hái, ví bồ hằng năm của những người nông dân lam lũ. Một ông bác đứng tuổi trong bộ bà ba trắng đang cỡi chiếc xe máy đòn vông không vè không thắng vừa chạy trờ ra đường cái, vội vàng đưa chiếc guốc vông còn mới cạ vào vỏ xe trước để tốp bớt lại. Sâu vô một đỗi khá xa, bóng dáng một người đàn bà quần đen áo trắng ung dung kẽo kẹt đôi gióng gánh về nhà với hai đứa bé con lửng cửng chạy theo đuôi. Bất giác, Hiếu thở dài vì chạnh nghĩ đến quê hương mình, xóm Bến Chùa, cũng ruộng vườn rẫy bái như ở đây. Cha mẹ chàng rồi cũng âm thầm sống đời nông dân, thôn dã không mấy khi ra chốn thị thành để nhìn thấy ánh sáng văn minh!

     Qua khỏi ngã ba Ông Văn một khoảng ngắn hai bên đường bỗng trở nên um tùm, trùng điệp với những vườn cây ăn trái. Bóng cau, dừa lả ngọn trên cao; thân chuối, mận chen nhau đầy mặt đất. Xen kẽ trong đó nào cam, quít, bưởi, ổi, khế, xoài, vú sửa, chùm ruột, sa bô chê... không vườn nào không có. Một màu xanh tươi tốt quanh năm, che đầy bóng mát! Nhất là ở những giồng đất cũ lâu năm dọc theo dòng Tiền Giang, danh trấn một thời kể từ ngày mới mở mang giang sơn bờ cõi về phía Nam. Bây giờ, ngoài những nhà máy xay lúa đồ sộ dọc theo sông có từ đời cố hỉ cố lai nào rồi, một chiều hướng công nghiệp khác được thịnh hành và phát triển không ngừng, đó là sự thành lập nhiều hãng nước mắm như Hồng Lan, Hồng Thắm, Hồng Duyên, Hồng Ðại... Phụ vào số cá nước mặn chở từ Gò Công lên, những nhà thùng trong sông này còn tiêu thụ một số không ít cá nước ngọt quanh vùng...

     Quẹo qua, quẹo lại hai ba bận thiệt gắt, hai đứa đã đến bắc Chợ Gạo, nơi mà ngày xửa ngày xưa khách thương hồ thường hay ghé lại chỗ nhóm chợ lộ thiên để mua mớ gạo ngon chở từ Gò Công lên, rồi lần lần chết tên. Bây giờ đã rất khác, vì hành khách rảo bước dập dìu, xe cộ tới lui nườm nượp. Hai bên bến, phải cũng như trái, lúc nào cũng rần rần, inh ỏi, ồn ào náo nhiệt. Ðó là chưa kể đến hàng quán, nhà làng, đồn canh và trường học cất thụt vào trong. Nhìn chung, kể cũng phồn thịnh, thị tứ lắm. Nhưng, Hồ Ðiệp có phần hơi ngạc nhiên:

     - Ồ, cứ tưởng là xa lắm ai dè chưa đầy nửa tiếng đã tới rồi!

     Hiếu giải thích thêm:

     - So với Bến Tre của em thì từ Mỹ Tho xuống Chợ Gạo chỉ độ nửa đường thôi. Mười một mười hai cây số là cao chớ có xa xôi, vạn lý gì đâu. Tại em chưa đi tới đây lần nào nên cứ nghĩ là... tít mù san dã hả?

     Với một ý nghĩ so sánh vừa nãy ra trong đầu, Hồ Ðiệp mỉm cười:

     - Lại cũng loại bắc kéo tay chẳng khác nào bắc An Hóa! Bao nhiêu năm qua rồi mà cứ vẫn vậy!

     Hiếu phụ họa theo:

     - Ừa, đúng đó...

     Quả thật, từ lâu lắm, có thể từ lúc Bảo Ðại còn ở truồng cho đến bây giờ, hình như chỉ có chiếc bắc kéo tay dọc theo sợi dây cáp giăng ngang qua sông rất ư cổ lỗ sĩ này là chẳng hề đổi thay. Mặc dù văn minh ở xứ người ngày một tân tiến, sắp sửa phóng phi thuyền lên mặt trăng, và giặc giã ở xứ mình ngày một lan tràn, không nơi nào không có đạn bom. Trên trời dẫy đầy trực thăng, dưới nước lềnh bềnh tàu chiến! Ðại bác, xe tăng rền vang mặt đất đến nỗi tưởng chừng tương lai sơn hà xã tắc rồi chẳng biết sẽ về đâu!

     Tuy nhiên, nếu xét trên bình diện vận tải đường thủy thì con kinh Chợ Gạo, huyết mạch của ghe tàu từ khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long dẫn về Sài Gòn, là mỗi ngày một thêm tấp nập. Cho dù trước đây, với dụng ý nhằm khai thác tài nguyên quốc gia của ta theo kiểu ăn cướp cạn, nhưng có thể nói một trong những công trình quan trọng của Tây trong thời Pháp thuộc còn để lại là sự hình thành những con kinh quan trọng trong vùng châu thổ sông Cửu Long. Từ miệt dưới xa xôi ngàn dặm như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Vị Thanh, Rạch Giá dẫn ra sông cái Hậu Giang có các kinh Ðại Ngãi, Hộ Phòng, Vĩnh Lợi, Phụng Hiệp, Xà No, Cái Sắn... Rồi tiếp theo, từ Hậu Giang bắt qua Cổ Chiên và Tiền Giang thì có các kinh Láng Thé, Ba Càng, Nha Mân, Lấp Vò, Tam Bình-Trà Ôn, Chệt Sậy, Giao Hòa, An Hóa, Sơn Ðốc, Giồng Trôm, Mỏ Cày-Cái Quau... Ðể sau cùng, từ Tiền Giang đổ lên Sài Gòn thì chỉ còn có mỗi... con kinh Chợ Gạo. Bởi vậy mà bảo sao không mỗi ngày một tấp nập cho được! Nhứt là từ khi cầu đường thường xuyên bị Việt Cộng giựt mìn, đấp mô, phá hoại ngày đêm. Cộng thêm, dân số nước mình mỗi ngày một tăng, Hiếu nghĩ! Nhanh hơn hết vẫn là ở miền Nam với khí hậu ôn hòa, lắm người ưa chuộng. Chỉ có đến mà không hề đi, ví như... tới đây thì ở lại đây, bao giờ bén rễ xanh cây, tức là đến chết, hãy về , chính là vậy...

     Nhưng xui xẻo cho Hồ Ðiệp và Hiếu, chiếc bắc còn đang kẹt bên kia bờ! Ðã vậy còn có tiếng súp-lê của tàu lớn vang vọng liên hồi từ đằng xa, cho nên không bao lâu, người phụ trách quay máy lại phải xả dây cáp chìm sâu xuống lòng sông. Mấy chiếc ghe bậc trung hay lớn cỡ không chun lòn qua dây cáp được bây giờ nhân dịp xả cảng này đã cùng nhau tháo dây, kẻ chèo người chống hoặc hè nhau dựng cột trương buồm. Cảnh chạy đua của tàu bè dưới nước trông cũng gấp rút không kém gì cảnh tranh hơn tranh thua của xe cộ trên cạn. Trong tít tắt, mấy chiếc đò máy chở hành khách, hàng hóa về chợ Mỹ tiến lên dẫn đầu...

     Hồ Ðiệp rời hẳn yên sau cho người yêu đỡ mỏi. Tiện thể, Hiếu gài chân chống, dựng chiếc Mobilette dựa bên lề đường. Chàng nhẹ nhàng nhắn nhủ với nàng một câu:

     - Ðó, bây giờ em có dư thì giờ để tản bộ một vòng cho dãn gân dãn cốt trước khi lên bắc qua sông. Thấy chưa, hai đứa mình rồi có lẽ sẽ không tới nhà thằng Phát sớm như em dự tưởng đâu!

     Chẳng thèm trả lời trả vốn gì đến Hiếu, Hồ Ðiệp nguýt chàng một cái thiệt dài rồi mơ màng ngó mông ra mặt sông trải rộng... Uốn mình qua một cái cua hơi lơi vòng cung, lấp ló bên kia bờ, dòng nước trên nguồn đạp mạnh lên hàng rào lau lách, rạt rào tuôn chảy ra khơi, phăng phăng cuốn theo những cụm lục bình vô gia cư không bến đỗ, chốc chốc lại phải quay mòng mòng trong cơn xoáy xoay vần.

     Trong khoảnh khắc, một đoàn tàu buôn ngoại quốc, hầu hết của Nhựt thì phải vì đều tận cùng bằng chữ Maru, chợt lừng lững tiến lên như những tấm phong đen trắng vĩ đại chắn ngang tầm nhìn, không thấy bờ bến bên kia. Những cột ống khói và dàn ra-đa to lớn sừng sững khoe mình trên không như biểu lộ sự sang giàu của một xứ sở hùng mạnh, văn minh đang trên đà tiến bước. Mỗi chiếc tàu là một căn nhà nổi thì đúng hơn, nàng nghĩ, vì ở đó có đầy đủ nơi ăn chốn ở, tắm rửa giặt giũ cho nhiều người... Liền ngay khi ấy, những con sóng lớn đầu tiên đã chạy vội vô đến bờ, vỗ ì ầm, óc ách vào bãi bùn, vách đất...

     Nhưng hoạt cảnh trước mắt nàng đã không tồn tại mãi, mà lần lượt đổi thay. Tiếng xình xịch, xình xịch... của chiếc tàu dòng nhỏ xíu kéo theo đoàn công voa dài ngoằn nghe mỗi lúc như một rã rời, quả như đã muốn nói lên sự khó khăn, khổ nhọc của những kẻ ngược dòng tìm về bến cũ. Một đoạn thừng trôi qua, một chiếc ghe bầu hay một chiếc cà-dom tiếp nối, dắt díu và đùm bọc lẫn nhau trong số kiếp bềnh bồng. Những con mắt mở to sơn màu trắng đỏ lần lượt ngước nhìn nàng rồi từ từ khuất dạng sau mô đất lúp xúp cao cùng lùm cây rậm rạp dọc theo bờ. Ối chao, sao mà dài hằng cả cây số vậy, Hồ Ðiệp than thầm!

     Hiếu chợt đề nghị:

     - Sau khi ăn giỗ em có muốn đi Gò Công tắm biển Tân Thành với anh không? Em đã xuống đó lần nào chưa?

     Hồ Ðiệp lưỡng lự:

     - Chưa! Nhưng mà..., thôi đi, để dịp khác hẵng hay! Chiều về em bận đủ thứ công chuyện ở nhà, đăng đăng đê đê như dê nằm miễu, không rảnh rỗi như anh tưởng đâu!

     Nàng không nghĩ là Hiếu có ý dụ dỗ mình dấn thân vào con đường... tội lỗi. Tội lỗi? Không, thật sự đối với nàng, chuyện dâng hết cho nhau của hai kẻ đang thật lòng thương yêu nhau, kể ra, cũng không có gì là tội lỗi, quá đáng hết. Nhưng mà nếu đi xuống đó thì rồi đêm nay hai đứa sẽ ăn đâu, ngủ đâu? Chẳng lẽ lại phải ôm nhau mang bụng đói và màn trời chiếu cát ngoài bãi biển ì đùng sóng vỗ? Rõ lẩm cẩm quá! Bởi, thương anh em cũng đánh liều, cầm bằng như thể thả diều... đứt dây , nàng thì thầm và những mong được như vậy! Nhưng giấc mơ ngắn ngủi của nàng rồi cũng vụt tắt vì Hiếu đã vội kề tai nàng nói nhỏ:

     - Chớ không phải em sợ anh... làm ẩu à?

     - Quỉ nà! Nói tầm bậy không hà!

     Rất tiếc là mùa hè vừa rồi Hồ Ðiệp không chịu ghi tên đi cắm trại do trường tổ chức với bạn bè cùng lớp, trong số đó có cả Kim Yến, em của Hiếu. Con nhỏ về kể lại đủ điều làm nàng thêm tiếc hùi hụi. Những đêm đốt lửa trại, ăn thịt nướng và đờn ca xướng hát ngoài bãi khuya như bập bùng chợt bừng lên trong trí tưởng tượng của nàng! Bao lần ngả lưng ngủ vùi trong những căn lều dựng tạm trên đám rau muống biển tốt tươi, hoang dã. Dĩ nhiên trai theo trai, gái theo gái, nam nữ thọ thọ bất thân. Trách nhiệm của thầy và cô mà! Rồi hít thở cái không khí trong lành của chốn biển rộng trời cao! Những đêm xuống chiều lên hay bình minh nắng gội ắt hẳn sẽ làm tuổi trẻ thêm yêu đời, tuổi già vơi đi phiền muộn! Nhưng mà, nàng thiết nghĩ, cũng chẳng có gì vui khi không có Hiếu đi cùng? Còn con nhỏ Yến hâm hở ra đi là phải, vì có Chiêu kề cận bên mình! Một chuyến đi chắc chắn sẽ viết lên trang tình sử biết bao nhiêu là kỷ niệm khó quên! Ngẫm nghĩ lại, làm học trò trung học tỉnh lẻ mà có người yêu đang là sinh viên đại học ở thủ đô thì cũng không mấy hứng thú gì cho lắm! Vì không riêng gì chàng, chính nàng cũng đã bao lần từng nếm mùi... chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ nhớ đến tên ai ...

     Con nhỏ Kim Yến còn bày đặt đem biếu nàng một mớ sản phẩm đặc biệt của xứ biển mặn Gò Công, một thời là nơi hùng cứ của Trương Công Ðịnh với đám lá tối trời, nữa chớ! Những trái mãng cầu dai mập ú tròn ủm, những trái sê-ri nho nhỏ, đỏ đỏ hồng hồng... sao mà ngon, mà ngọt...

     Tiếng lắc cắc của con chó sắt nhảy trên trục quay đã mang nàng về với thực tại. Hồ Ðiệp quay lại hỏi chừng:

     - Ðã hết tàu rồi hả anh?

     Hiếu hững hờ:

     - Chắc là vậy!

     Rồi như chợt nhớ ra là Hồ Ðiệp không rành địa thế, phong thổ vùng này, Hiếu liền nhướng mắt, đùa giai:

     - Mà nếu có còn đi nữa thì cũng phải tuốt luốt ở dưới Ngã Tư Giáp Nước, Quơn Long, Bình Phục Nhứt, Ðồng Sơn, Cầu Nổi, kinh Nước Mặn... em biết hôn?

     Hồ Ðiệp nũng nịu:

     - Nữa, anh làm như đây là xứ sở quê hương của em không bằng!

     - Nói giỡn chớ công voa đi Nam Vang, Châu Ðốc thì lâu lâu mới có một chuyến! Nó mà chạy hà rầm mỗi bữa như vầy thì xe trên bờ kẹt ngày kẹt đêm, chịu sao thấu! Em hên lắm đó mới thấy những chuyến công voa có nhiều tàu lớn và dài thòng như vậy.

     Hồ Ðiệp giẫy nẩy:

     - Thôi đi ông ơi, mỏi chưn thấy mồ!

     Không đầy mười, mười lăm phút sau, sợi dây cáp đã được căng thẳng ngang sông. Nước chưa rỏ xuống hết mà đã có một bầy chim sẻ tưởng lầm là "sợi dây thép" thông thường, dây "ăn-ten" của các đài viễn liên xưa cũ, liền đáp xuống đậu thành hàng trông ngang nhiên như những anh chàng "điếc không sợ súng." Bên bến kia sông, phu bắc đã gắn được dây cáp vào trục lăn thẳng đứng và lần lượt ra hiệu cho xe đò và hành khách lục tục kéo nhau xuống bắc. Ðến một giai đoạn nào đó thì phải ngưng lại chờ chuyến sau, không thôi chết chìm cả lũ. Vậy mà vẫn có nhiều người đã chen chúc đứng trên sàn cửa sập chỉ lé đé cao hơn mặt nước độ vài tấc. May là không có công voa nhà binh nên dân chúng mới được ưu tiên.

     Rồi có lẽ vì chờ lâu, trễ nãy giờ giấc cho nên nhiều người quá giang liền nhào vô sẵn sàng phụ với phu kéo một tay. Tay không thôi chớ không cần cây ngáng. Nhanh như chạy máy, không mấy chốc đã phom phom ra đến giữa dòng. Dưới sức tống của nước, chiếc bắc nghiêng triền một bên và sợi dây cáp cong vòng như một cây cung căng cứng, sắp sửa buông tên. Chợt thấy vật lạ bon bon tiến thẳng về mình, đàn chim sẻ chíp chíp gọi bầy, nhớn nhác vụt bay lên, đảo lượn một vòng rồi bay thẳng lên tàn cây điệp rộng lớn bên kia sông, cái trụ cột thiên nhiên dùng để buộc dây cáp.

     Bắc đã vào sát bờ. Những người muốn đi gấp đã mon men lần ra sàn cửa sập, nhúng lên nhúng xuống đôi ba bận, và... rầm, xả cảng, mạnh ai nấy vọt lẹ như tù vượt ngục chạy thoát lấy thân, ùn ùn túa lên trên bến. Xe đò, xe Lam, xe gắn máy đua nhau nổ bạch bạch, bình bình. Cảnh lên và xuống bắc bao giờ cũng hỗn loạn, nhốn nháo, thiếu trật tự...

     Ðợi cho những người buôn gánh bán bưng và những ai cần đi trước xuống hết rồi Hiếu mới từ tốn bảo Hồ Ðiệp:

     - Bây giờ tới phiên mình, đi em!

     Hồ Ðiệp không quên vén gọn tà áo cầm chắc một bên hông cho khỏi văng bùn, dính sình rồi vịn vào yên sau, lót tót đi theo chàng như một đứa bé con đang hồi sợ lạc mẹ. Thêm độ chín mười người nữa thì bắc đã đầy và một lần nữa những tay kéo phụ hợ lại đông hơn so với số phu bắc chính thức. Vùn vụt tẻ nước ra khơi. Tiếng róc rách của dòng sông chảy xiết vỗ nhẹ vào mạn lườn nghe rõ mồn một. Binh..., một khúc củi khô trôi nổi đã va mạnh vào sườn...

     Nhìn về phía thượng dòng, ngang cua quẹo dẫn lên vàm Kỳ Hôn, hai bên sông toàn là dừa nước và bần xanh mọc dầy hơn hàng rào ấp chiến lược. Bên trong, những vườn cây ăn trái nối tiếp, đan vào nhau tạo thành một màn lưới rậm ri, che khuất bóng người đi. Xa thật xa, chịu khó nhìn kỹ một chút mới thấy một căn nhà, cất cạnh con rạch nhỏ trổ ra sông lớn. Có lẽ con kinh Chợ Gạo được khởi đào từ đây, đâu vào năm 1875 thì phải, vì nếu quay về hướng hạ dòng chỉ thấy thẳng tấp một đường lấp lánh, sáng ngời như thanh kiếm bạc, ngút ngàn đụng tới chân mây. Hai bên bờ không thấy cây cối um tùm có lẽ vì vẫn còn tiếp tục bị sạt, lở do sóng đánh ngày đêm. Xịch vô bên trong một chút, hai con đê đắp cao như sẵn sàng biến thành trục lộ giao thông chính. Nhưng công trình ấy đã không thành mặc dù, một thời, Tây đã từng đem đá xanh, đá trắng, đá ong đổ đống hai bên đường. Từng đoạn, có chỗ đã được trải ra, có chỗ đã bị dân chúng trong vùng tẩu tán, lén lút đắp nền cất nhà riêng. Xuyên qua lớp bụi thời gian, nhìn chung, tất cả rồi cũng dần dần chìm sâu dưới lòng đất lạnh, cỏ mọc lan tràn phủ trùm vết tích thuộc địa phong kiến ngày xưa. Hiếu biết được như vậy vì trước đây chàng đã từng theo bạn bè, thằng Phát, thằng Trí, thằng Quốc..., có dịp ghé qua các làng mạc, thôn ấp xa xôi đó...

     Ðể tránh tiếng thở dài, chàng quay sang nói nhỏ với Hồ Ðiệp:

     - Qua bên kia bờ mình còn phải đi độ một cây số nữa thì tới quận lỵ Chợ Gạo, nằm ngay hai bên đường đi xuống Gò Công. Xong, thêm một cây số nữa mình sẽ tới Cầu Sắt, bắc ngang sông Tham Thu. Men theo lối mòn dọc theo con sông đó độ một đỗi xa xa thì tới nhà của thằng Phát. Anh nghĩ nếu không phải cúng kiến ông bà, tổ tiên thì mười thằng Phát cũng không dám về vùng xôi đậu đó để ăn giỗ. Bây giờ nó là lính, lính tàu! Ha ha, còn mình, nói chớ học sinh với sinh viên thì cũng chưa đến nỗi nào bị Việt Cộng thù ghét đến mức đang tâm chặt cổ mổ bụng phải không em?

     Chẳng biết dụng ý của Hiếu có phải nhằm trấn an nàng hay không, nhưng Hồ Ðiệp đã không đồng ý:

     - Anh nói, coi vậy chớ không phải vậy đâu nghen! Chắc tại chỗ mấy anh ở dân dã còn hiền chớ bên Bến Tre... đồng khởi của em thì Việt Cộng chẳng hề từ ai hết. Già trẻ bé lớn, đàn bà con nít gì gì tụi nó cũng giết láng! "Thà là giết lầm chớ không tha lầm," bọn nó đã từng hô hào như vậy anh không biết à!

     Con đò ngang chuyển bến, làm xong cái gạch nối đôi bờ. Quảy gánh tang bồng nặng nhẹ trên vai, mọi người lần lượt ra đi! Biết có mấy ai chịu khó đoái hoài, nhìn lại lần cuối mảnh hình hài đã giúp họ sang sông? Mặt trời đã lên cao gần tới đỉnh đầu! Cái nắng hanh vàng hây hây bao phủ khắp mọi nơi, đem lại cho lòng người niềm hân hoan thư thái. Mới hay cái không khí trong lành, mát mẻ lúc xuân về, mặc dù ở nơi này vắng bóng những "con én thoi đưa," cũng đã hững hờ báo hiệu với mọi người là ba ngày Tết thiêng liêng hiện đang trên đường đi tới...

     Chờ cho Hồ Ðiệp ngồi vững vàng trên yên sau, Hiếu nhổm mông ra sức ấn mạnh lên pê-đanh đạp xe lấy trớn, tiếp tục cuộc hành trình. Bỏ lại bên bờ bến bắc vừa qua... Hai bên đường, ở đoạn này, cũng toàn là vườn tượt sum xuê, tươi tốt. Ðặc biệt hơn, có lẽ vú sửa và xoài thanh ca hơi nhiều, rộng tàn lớn bóng, che mát khắp vùng. Dựa theo con mương cạnh lộ, có một cây quau to lớn dềnh dàng trông không khác gì cây đa đầu làng, trên cành treo đầy trái xanh, giống giống như những trái ô môi còn non.

     Chỉ trong khoảnh khắc, hai đứa đã đi gần đến quận lỵ, phố xá bắt đầu có vẻ tấp nập nhộn nhịp hơn, nào là trường học, nhà bảo sanh, tiệm bán gạch cát, nhà thuốc tây. Băng qua cây cầu sắt nhỏ, khoảng hai ba chục thước, là đến nhà lồng chợ, cột gạch vuông một người ôm không hết, mái lợp fibro-cement. Tiệm lớn và quán xá cất thành hai dãy dài, mái ngói đỏ au. Một vài căn lên lầu hai, lầu ba, xây theo lối hiện đại xi măng, cốt sắt, tường sơn màu xanh lá cây. Rồi đình làng, dinh quận, nhà đèn, sân đá banh tiếp nối nhau chạy tuốt xuống đến "bờ lộ ma." Một bên là chùa chiền, mồ mã với nhiều bụi chà là mọc rậm như rừng, còn một bên là bao la bát ngát ruộng đồng. Ngay bên vệ đường, một thân dái ngựa cao to như cây sao trên ngàn, chĩa thẳng lên trời tưởng chừng sắp đụng mây xanh.

     Thêm một khúc đường khá xa, rồi quẹo phải một vòng cung chín mươi độ, hai đứa liền mặc nhiên thong dong trên cây cầu sắt, lót đà bằng ván dầu vuông. Chỉ rộng bằng nửa con con kinh Chợ Gạo thôi, nhưng sức nước chảy mạnh thì không thua kém một chút nào hết. Len lỏi trong chòm cây, bóng mát dọc theo bờ sông dưới, độ mươi mười lăm phút, Hiếu đã an toàn đưa Hồ Ðiệp đến chốn, đến nơi...

     Chợt thấy bóng bạn hiện ra ngoài đầu ngõ, từ trong nhà Phát đã phóng vội ra sân:

     - Trời đất, sao xuống trễ vậy mậy! Làm tao cứ tưởng là mầy đi lạc đường hay bị Việt Cộng đấp mô rồi chớ... Ô, còn ai nữa đây? À, hân hạnh chào cô Ðiệp, bấy lâu nay chỉ nghe tiếng mà không hề được gặp mặt. Mời vào chơi! Cứ dựng đại chiếc xe xập lết của mầy vô gốc gòn đó cũng được mậy, Hiếu!

     Ậy..., thì ra anh này là anh Phát! Hồ Ðiệp nhớ mang máng là hình như nàng đã gặp ở đâu đó một lần. Vì tướng người dong dỏng cao, nước da ngâm ngâm bánh mật, tiếng nói ồ ề chậm rãi kia đều cũng... quen quen. Bẽn lẽn vịn vào tay Hiếu, Hồ Ðiệp định nói với Phát một vài lời, nhưng chưa kịp thốt lên tiếng nào thì một ngạc nhiên khác lại tới tấp đập vào mắt nàng. Coi ai vậy cà? Ðúng là con bạn học cùng lớp của mình mà! Chẳng lẽ con Cẩm Vân này, Trần thị Cẩm Vân, lại là em ruột của anh Phát, Trần Hưng Phát? Cả chủ lẫn khách đều khựng lại một vài giây! Cẩm Vân lên tiếng trước:

     - Mèn ơi, vô chơi bà! Mấy thuở mà rồng đến nhà tôm!

     Hồ Ðiệp nhìn bạn mình châm bẩm từ đầu xuống chân. Hơn hai năm qua, kể từ ngày chia tay chọn ban sinh ngữ Anh-Pháp, dường như hai đứa chưa hề đối diện với nhau một lần nào thì phải? Cho dù trước đó, tuy rằng hai đứa không thân, nhưng lại là hai hoa khôi có tiếng đẹp nhất nhì trong lớp. Giờ gặp lại đây, dưới lớp áo bà ba màu tím hoa cà, cái vóc dáng gầy guộc khẳng khiu của con nhỏ cộng thêm với nước da màu tai tái, như vẫn còn đượm nét liêu trai chí dị... mà dạo nào chúng bạn cùng lớp thường hay đặt để và gán ghép cho. Ừa, đúng rồi, chắc mẻm rồi! Hèn chi trong lúc tán gẫu với bạn bè, một đôi lần nàng còn nghe những câu hò xa gần bóng gió, chắc hẳn là của anh chàng công tử miệt vườn nào đó đã muốn nhắn nhủ với con nhỏ nầy đây! Rằng thì là:

     Hò ớ...
     Gái nào hiền cho bằng gái Chợ Gạo
     Trai nào xạo cho bằng trai Gò Công
     Nếu em muốn vẹn chữ tòng
     Hãy mau mau thẳng xông xứ Mỹ... ờ...
     Hò ớ...
     Hãy mau mau thẳng xông xứ Mỹ
     Cho anh khỏi uổng công... ơ... đợi chờ...


     Trong ngỡ ngàng, Hồ Ðiệp vội vàng ôm vai bạn, thân mật tâm tình:

     - Trời ơi, tui đâu có dè bà là em ruột của anh Phát, bạn của anh Hiếu! Coi như xa mà lại hóa ra gần à nghen! Thiệt, không ngờ trời đất đã sắp đặt cho hai đứa mình một cuộc gặp gỡ hết sức là lạ lùng, hi hữu hả?

     Ở bên trong, tiếng ăn uống cười đùa của bà con chòm xóm vang lên từng hồi một. Cẩm Vân mừng rỡ lôi bạn vào nhà, đi tìm ba má nàng để giới thiệu. Phát và Hiếu cũng nhanh nhẹn không kém, bén gót theo sau. Bên ngoài, ánh nắng ban trưa như vừa vượt ra khỏi áng mây che, vụt bừng lên ngời sáng, điểm tô thêm sắc thắm cho một lần trở bước, xuôi ngược miền quê, ăn giỗ ngày xuân...

   back to top

05. VỀ THĂM QUÊ CŨ

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Chiến tranh Việt Nam mỗi ngày một thêm trưởng thành, song song với sự viện trợ hùng hậu của đôi bên Nga và Mỹ, và theo đó, mức độ điêu linh tàn khốc mỗi ngày cũng một lên cao! Từ du kích chiến, Cộng sản Bắc Việt và tay sai là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã đẩy lần sang trận địa chiến. Với đại pháo và xe tăng! Từ những vụ "công đồn đả viện" lẻ tẻ, bây giờ, bọn chúng đã chuyển sang những cuộc tấn công cấp trung và sư đoàn. Nhằm vào các đơn vị đồn trú bảo vệ lãnh thổ khắp bốn quân khu! Rồi những cuộc hành quân truy lùng và tảo thanh địch ngay trong chiến khu và vùng hậu cần cũng đã bắt đầu diễn ra hằng ngày! Tin chiến sự luôn luôn là những "tít lớn" trên đầu các trang nhựt báo thủ đô!

     Chính vì vậy mà một mùa xuân hiu hắt buồn rồi sẽ đến với Hồ Ðiệp, nàng đã dư biết là mình đang cầm chắc trong tay! Bởi lẽ, cũng giống như năm rồi, anh Hòa của nàng đã không được phép về thăm nhà. Mọi thứ đã đổi thay! Mà không riêng gì những anh lính chiến, đời sống của người dân, thành thị cũng như thôn quê, cùng những truyền thống thiêng liêng của dân tộc đã dần dần bị ảnh hưởng, lung lay đến tận gốc rễ. Tưởng chừng như hằng năm cứ vào cuối đông, khí trời se se lạnh ngoài đường, là nàng cứ nghe ra rả trên radio cái điệp khúc em ơi, em ơi chiều nay một trăm phần trăm ... Thiệt tình, chẳng biết có đúng là cắm trại một trăm phần trăm hay không, hay là mấy ông anh có trách nhiệm cầm súng giết giặc kia chỉ muốn mượn cớ để ở lại với "bồ," một cô gái sắc nước hương trời nào đó nơi tiền đồn heo hút gió. Tại vì ai cũng muốn diễn tả lòng mình qua hình ảnh chiều xuân với lời nhạc... đồn anh, đóng nơi rừng sâu, nếu mai không nở anh đâu biết xuân về hay chưa ..., coi chừng nghen, xạo ke hết chỗ nói đó! Ngẫm nghĩ lại, anh Hòa cũng kín miệng lắm, chưa hề "bật mí" với nàng một điều gì về "người tình trăm năm" của ảnh! Cho dù một tấm hình chụp chung cũng không!

     Hồ Ðiệp ngó mông ra cửa sổ bên hè, bất chợt, buông tiếng thở dài. Ngoài kia, ngọn gió Tết hiu hiu thổi làm đong đưa mấy cành lôm chôm tróc, làm nàng tưởng nhớ đến dạo nào nàng rủ Kim Yến, em của Hiếu, về chơi. Tiếc rằng, phải chi lần đó có Hiếu đi cùng thì vui biết mấy, nàng nhủ thầm. Làm như giữa hai đứa chỉ có duyên mà không có nợ, để bây giờ, ngàn dặm cách chia. Có lẽ nàng đã đánh mất một cơ hội bằng vàng khi từ chối lời mời mọc bâng quơ của Hiếu, lúc chàng đề nghị hãy thẳng đường đi xuống Gò Công tắm biển Tân Thành với chàng trong lần về ăn giỗ ở Chợ Gạo vừa qua. Có thể lắm! Nhưng nàng vẫn chưa dám buông thả, cho dù trong trí tưởng đi nữa, theo nếp sống thác loạn của đám bạn trường tỉnh của mình, luôn thay người tình như thay xiêm đổi áo.

     Lấp ló phía sau mấy cây lôm chôm tróc kia là chòm dâu xanh miền dưới, dăm ba cây dụm lại bên một góc vườn. Rồi tiếp đến, hàng mận trắng thân thương trồng dọc theo bờ mương, chỗ mà nàng đã trèo lên hái cho cô bạn nhỏ mấy trái chín cây, vàng lườm. Không cần phải đợi tới "vang vang trời vào xuân" mà hình như lúc nào cũng vậy, ẩn mình trong những tàn cây rậm lá, bầy chim sẻ chim sâu luôn luôn đua nhau ríu rít, líu lo gọi bầy, nhẩn nha tấu lên khúc nhạc miệt vườn trìu mến, thiết tha.

     Như chợt nhớ ra phía bên kia liếp mận có một cội mai già, Hồ Ðiệp nghĩ là mình phải thay anh Hòa đi ra đó tìm chặt mấy nhánh đặng cắm vào bình bông, cho trong nhà có vẻ Tết với người ta. Dĩ nhiên, nàng chỉ có thể làm thế cho anh nàng những công việc nhẹ nhàng đó thôi, chớ còn như treo màn có tua có tụi ở nhà trên, đánh bóng mấy bộ lư đồng ở các bàn thờ, lau chùi bộ liểng và mấy chưn chò đỡ mâm ngũ quả thì chắc... còn lâu, nếu không có anh Hòa thì hãy để dành đó cho ông già hay hơn. Mà kể ra cũng tội nghiệp cho ổng, lu bu đủ thứ công chuyện trong khoảng thời gian năm tàn tháng tận này! Việc trước mắt phải làm là lo kêu người tháo đập, dở chà, bắt một mớ tôm cá đặng để dành ăn cho đến ra giêng. Cá lóc, cá trê vàng, cá trê lét thì rộng trong những lu lớn, còn tôm càng thì tha hồ thả vô đục, ngâm lại dưới mương. Không kể mớ cá rô mề, cá sặc rằn, cá sặc bướm, tép bạc đất, tôm lò rèn, tôm cục, tôm lóng... mỗi thứ đều có công dụng và cách thức nấu nướng, pha chế riêng. Rồi đến vét mương, thả chà mới cho năm sau.

     Không quên việc cắt mai, Hồ Ðiệp lơn tơn đi xuống nhà dưới và lại gần sóng dao lấy theo cái mác nhỏ! Má nàng đang lui cui củi lửa, dọn dẹp trong bếp mà cũng không hề bỏ lỡ cơ hội "hễ thấy mặt là đặt tên:"

     - Bộ mầy tính chạy đi đâu đó nữa hả Ðiệp? Làm gì thì làm, bữa nay con phải nhớ rọc cho má một mớ lá chuối hột nghen!

     Chẳng thèm ngó ngoái lại, Hồ Ðiệp trả treo:

     - Bà định làm gì mà đòi cắt lá chuối hột?

     - Thì gói bánh chớ làm cái gì, con nhỏ nầy hỏi kỳ hôn? Không còn mấy ngày nữa thì phải lo cúng kiến, đón rước ông bà...

     Ừa, đúng rồi, sau khi tống tiễn ông táo về trời thì giao thừa lại tới, thời gian thấm thoát thoi đưa! Cũng như ông già, tội nghiệp cho bà già quá, trong mấy ngày này còn biết bao nhiêu thứ phải lo! Nào thịt kho, dưa giá làm sao cho đầy niêu đầy nồi. Nào bánh tét, bánh ích làm sao cho đầy trả đầy xoong. Nào thịt kho, lạp xưỡng làm sao cho đầy bếp đầy giàn! Cũng tại vì chẳng mấy ai muốn động dao động thớt trong ba ngày thiêng liêng sắp đến! Tuy mệt thì có mệt nhưng nghĩ lại cũng vui! Ít ra đây là dịp tốt để cho bà con chòm xóm xúm xít quây quần, bàn chuyện trên trời dưới biển. Nàng hỏi tiếp:

     - Tết năm nay có ai tới gói bánh phụ với má không vậy?

     - Mọi năm thì có mấy cô mấy dì của bây, bây giờ tụi nó đã dọn về thành hết rồi thì thử hỏi... còn ai trồng khoai đất nầy?

     Về thành? Ôi, khổ quá! Nhưng vì sao mà dân quê phải bỏ làng lên tỉnh chớ? Thiệt tình, nếu không có cái nạn Việt Cộng nổi lên thì đâu xảy ra cớ sự như vầy! Nhứt là những ngày gần đây, khắp ruộng vườn Bến Tre nói chung, Phú An Hòa nói riêng, đã liên miên chịu đựng những trận đánh lớn, càn quét thẳng vào mật khu, căn cứ địa. Vườn dừa bị bom đạn tàn phá, ngả nghiêng bốc cháy, nhiều chỗ nằm la liệt như người ta vừa ra công phá rừng làm rẫy. Cũng còn đỡ hơn là những nơi bỗng chốc bị san bằng thành bình địa, hoang vắng như những bãi tha ma. Những đổ vỡ, tang thương mới cứ tiếp tục phủ trùm lên quê hương yêu dấu, gây khó khăn cho người ở lại lẫn kẻ ra đi. Vì đã lâu lắm rồi, từ ngày những cây cầu đúc làm bằng xi-măng cốt sắt dẫn vô làng bị giựt sập hết và thay vào đó bằng những cây cầu dừa rong rêu sần sùi, những cây cầu ván đóng đinh, những cây cầu tre gập ghềnh lắc lẻo... thì năm khi mười họa nàng mới có dịp về thăm nhà. Hẳn nhiên là phải chờ cho đến ngày cúng giỗ ông bà hoặc là những ngày lễ lớn.

     Mà thật ra cũng không vui sướng gì trong những lần về quê đó! Vì không riêng gì Hồ Ðiệp mà cả ba má nàng nữa, ai ai cũng cảm thấy hồi hộp, sợ sệt tưởng chừng như tai bay họa gió đang rình rập xung quanh, có thể đổ trút lên đầu mình bất cứ lúc nào. Vì bọn du kích địa phương, những thằng nhãi con chăn trâu giữ bò trước đây, bây giờ đã lộng hành, tự tung tự tác đến mức độ hễ muốn bắn giết ai thì cứ ra tay thẳng cánh. Ðã nhiều lần đám tiểu yêu đó đã nhắn nhủ với ba má nàng rằng, "bác phải đem anh Hòa và chị Ðiệp về đây trông chừng vườn ruộng cho bác, bằng không thì cách mạng sẽ đem chia cho người khác." Cách mạng? Cách mạng cái kiểu gì mà như cha ăn cướp vậy? Ờ, phải rồi, đâu phải của ông bà ông vải gì nó mà nó màng! Ngoài miệng thì ba má nàng cứ khất lần khất hồi, chớ trong bụng thì rõ ràng, còn khuya mới có chuyện đó. Nhứt là trường hợp chân quân chân lính của anh Hòa. Riêng phần nàng thì cũng không khá gì hơn. "Ðưa con Ðiệp về đây thì chỉ cần bữa trước qua bữa sau thế nào tụi nó cũng xúi bắt đi theo giao liên bộ đội," ba nàng cả quyết như thế! "Ối, đồ cái thứ con nít đẻn, hỉ mũi chưa sạch mà đã học thói trù ông hại bà, đấu mẹ tố cha, nói có trời, tao ỉa cục cứt tao còn dòm chớ còn ba cái lũ bá vơ đó hả, cho vàng tao cũng không thèm ngó," má nàng cứ hay rủa xả như vậy.

     Tuy thả hồn đi mông lung nhưng Hồ Ðiệp vẫn không quên chuyện sắp sửa phải làm nên nàng hỏi thêm:

     - À, mà hổm rày có ai lặt lá mai hông má?

     Rõ tánh bà già như cái chuông, cái mõ hễ có ai gõ thì kêu:

     - Ba mầy có sai thằng Bé Tám coi trâu lo chuyện đó mà không biết nó có làm nên trò, nên trống gì hay không! Ðồ cái thằng làm biếng nhớt thây, nó mà tuốt cho được vài nhánh cũng là phước đức ông bà để lại!

     Hỏi thì hỏi cho có như vậy chớ Hồ Ðiệp vẫn biết cây mai già đó không cần lặt lá cũng ra bông, dầy đặt những nụ vàng cánh lớn. Với lại, chỉ cần vài ba cành cho vui cửa vui nhà ba bữa này với thiên hạ, có bán chát gì cho ai đâu mà phải ra công tuốt lá? Cây mai già tàn rộng như cây vú sữa hột gà, muốn lặt hết lá cũng phải mất đến cả ngày!

     Cặp cái rổ quảu rộng vành trẹt đáy một bên nách, tay kia xách cái mác lưỡi nhỏ cán dài, Hồ Ðiệp lần theo cửa hông nhà dưới đi ra ngoài. Con đường cát mịn vẽ một lối ngoằn ngoèo trên thảm cỏ xanh, rợp bóng đầu cành. Ánh nắng ban trưa dịu dàng phản chiếu từ những tàu lá chuối lớn, thỉnh thoảng ánh lên sáng ngời như đượm chút hào quang. Một đàn bướm màu mè sặc sỡ nhởn nhơ bay lượn bên khóm chuối nước, bông bụp mọc man dại như rừng dọc hai bên sàn nước, cho đầy hoa đỏ thắm. Bên kia bờ mương, một con chim thằng chài mặc áo xanh màu ngọc thạch đang đậu trên cành chăm chú theo dõi cá tôm, chợt thấy động vội vàng đập cánh bay xa, buông ra từng tiếng kêu dài sợ hãi. Làm bạn với nàng, giờ đây, chỉ có đất trời và ngần ấy thôi.

     Khung cảnh miệt vườn luôn luôn quạnh vắng đìu hìu, ai ở không quen, nhứt là những người ở thành mới về, sẽ thấy lòng buồn rả rít. Ðó là chưa nói đến những lúc mưa dầm, lâm râm thúi đất, không gian trở nên u tối, mờ mịt, thâm trầm. Vậy mà những người ở lâu, như Hồ Ðiệp chẳng hạn, lại thấy thanh thản êm đềm, đi xa lại luôn nhung nhớ, vấn vương! Thèm được trở về cố hương sống với chuỗi ngày xanh. Những ngày thân ái xa xưa của một thời thái bình thịnh vượng, dân quê thường đêm đêm đốt đuốc đi nghe giàn hát máy với sáu câu vọng cổ cải lương mùi mẫn đến rụng rún, rùng mình sao mà hạnh phúc tràn đầy. Gia đình đầm ấm yên vui, ông bà con cháu ngày ngày sum vầy đoàn tụ. Giờ thì kẻ mất người còn, con khóc cha vợ khóc chồng, cô bác dì dượng cậu mợ chú thím tản lạc khắp mọi nơi. Tết nhứt cũng như ngày thường, tiếng súng luôn luôn thay cho tiếng pháo.

     Hồi tưởng lại, cách đây không lâu lắm, không mùa Tết nào là không có quết bánh phồng, chày đôi chày ba. Khuya nào cũng vậy, đúng là những "tiếng chày trong sương đêm," dưới "ánh trăng mờ thổn thức," vì đầu làng đến cuối thôn, đâu đâu cũng nghe tiếng... cắc cum vọng về. Bánh phồng nếp thì phải nấu xôi trước với nếp mù u vùng An Hóa, Giao Hòa, còn bánh phồng mì thì dễ hơn nhiều, chỉ cần lột sạch mấy củ mì nhiều bột vùng Vũng Luông, Thừa Ðức rồi thả vô nồi luộc. Xong, nếp cũng như mì, vớt ra cối và thay phiên nhau ra tay... quết. Muốn cho khỏi dính thì lâu lâu phải thoa dầu dừa vô đầu chày, đáy cối, và luôn cả khối bột nữa. Phải cẩn thận vì bột còn nóng, lơ-tơ-mơ phỏng tay. Còn muốn thơm ngon thì thỉnh thoảng chế thêm sữa con chim, sữa đầu bò, những loại sữa đặc có đường. Giã riết cho nhuyễn, cho nhừ rồi mới đổ trút lên bàn có lót sẵn lá chuối và thi nhau... cán. Kế, đặt từng cái một trên những xề đan mắt cáo bằng lá dừa nước để còn đem phơi nắng.

     Nếu ai làm biếng thì thay vì quết bánh phồng họ đổ bánh tráng. Bột gạo trộn với nước cốt dừa, mè đen hoặc mè trắng, rồi thắng một chút nước đường đổ vô. Chỉ cần một trả nước sôi có phủ vải mùng và đậy nắp vung thật kín thì có thể hấp hằng trăm cái trong vòng một hai tiếng đồng hồ. Nói chung, bánh phồng và bánh tráng là hai thứ dùng để nướng ăn cho vui miệng trong ba ngày xuân.

     Ủa, còn quết cốm dẹp nữa chớ, cũng... cắc cum đều trời. Nhưng mùa này không có, chỉ xảy ra trong thời lúa mới trổ đồng đồng, nếp đang ngậm sữa mà thôi. Những gié nếp con gái mới cắt về, tuốt hột, cho vô mẻ rang, rang cho vừa chín vừa mùi, tức là lúc hột nếp còn nổ tí tách và nhảy soi sói như tôm tươi. Ôi, thơm phức cả bầu trời! Xong, đổ ngay ra cối, quết! Nhẹ tay thôi, nhưng phải quết cho nhanh cho đều khi nếp còn nóng, nó mới dính lại với nhau, chớ đừng để nguội hột nếp sẽ dễ bể ra và tán thành bột. Rồi sàng sãi, đãi vỏ. Muốn ăn liền thì chiết ra tô, bằng không thì cho vô ve keo lớn để dành. Sang hơn một chút thì thay vì hâm nước nóng mình hâm nước dừa tươi đổ vào, một lúc sau, cốm dẹp từ từ nở ra, mềm mại. Trộn thêm dừa nạo, nước cốt dừa, rắt thêm chút đường cát mỡ gà, muối mè..., mèn ơi, thơm nức mũi, cứ nhâm nhi đớp hoài mệt nghỉ!

     Mà nhắc đến cốm dẹp thì Hồ Ðiệp lại nhớ đến kẹo mạch nha, món ăn duy nhứt làm bằng mộng nếp. Thuở ông bà nội còn sanh tiền, trong nhà nàng lúc nào cũng có một hai tĩn đầy. Cứ thò muỗng vô múc một muỗng, đưa lên miệng liếm gọn một cái, chép chép miệng cho chất ngọt đọng trên đầu lưỡi tan dần, thấm sâu vào tế bào vị giác, bắt phải chu mõ ém nhẹ xuống bụng, ôi, đã làm sao. Hoặc giả, cắt một cọng lá dừa thiệt cứng, quấn lên đó một cục tròn, để dành lâu lâu mút một cái cũng ngon. Nhưng bảo đảm không gì bằng cuộn mạch nha vào miếng bánh phồng dẻo, rắc thêm chút dừa nạo, muối mè. Mỗi lần đưa cho con nhỏ bạn cắn một cái thì mười lần như một, lần nào nó cũng cắn thiếu điều muốn cụt ngón tay...

     Những bước chân không định hướng, thả lần theo mối suy tư hờ hững trong đầu, đã vô tình dẫn dắt Hồ Ðiệp dẫm lên những lối mòn quen thuộc rợp bóng quanh năm, mà trong phút chốc chợt nhìn lại, nàng thấy mình đã vượt qua khỏi liếp vườn có cây mai lão hồi nào không hay! Nhớ ai con mắt lim dim, chân đi thất thiểu như chim tha mồi , hừm, vừa thôi! Vì, rõ ràng, nàng đâu có nhớ ai đâu, kể cả Hiếu! Kệ, đi lỡ thì đi luôn xuống dưới lùm chuối hột, rọc cho bà già một mớ lá cái đã, rồi hẵng hay, nàng nhủ thầm! À, tại sao lại phải gói bánh bằng lá chuối hột chớ? Mà không là lá chuối xiêm, chuối lá, chuối tiêu, chuối tả quạ? Chắc là lá chuối hột dẻo dai, không giòn không rách, lại thêm dầy và rộng bản hơn lá chuối thường, nàng đoán như vậy! Ùa, đúng rồi, trước khi gói còn phải phơi cho héo héo nữa chớ!

     Nhớ hồi nàng còn nhỏ, còn học tiểu học trường làng, mỗi lần trong nhà có gói bánh nàng hay xề xề lại ngồi gần với người lớn. Liền bị la! "Con nhỏ này không biết gói, không biết cột gì hết thì đi chỗ khác chơi, chỗ cho người lớn người ta làm," má nàng hay rầy như vầy. Nhưng mà dì Năm và dì Bảy của nàng lại hay can: "Kệ nó mà, chị! Ðể nó ngồi chơi! Nè, con có muốn học gói bánh ích hôn, để dì chỉ cho!" Nhờ vậy mà bây giờ, lớn lên, nàng cũng biết gói bánh ích, bánh ú kiểu "vung nóc chùa" đàng hoàng đó nghen! Ôi, đã lâu lắm rồi nàng chưa được ăn những đòn bánh tét, những chiếc bánh ú có màu xanh cẩm thạch làm tại nhà! Loại bánh đặc biệt mà má nàng thường hay ngâm nếp với nước mưa có pha nước cốt lá dứa hoặc lá mướp hương, hai thứ này làm cho hạt nếp thêm dẻo và có mùi thơm rất hấp dẫn.

     Nói đúng ra những ai ở vườn, thông thường, hễ "muốn ăn thì phải lăn vào bếp," vì hoàn cảnh chợ búa đường xá xa xôi, tiệm quán quan san cách trở. Bởi vậy ngay chính như Hồ Ðiệp và lũ bạn nhỏ quanh vùng cùng lứa khi xưa, như bọn con Lài, con Lý, con Hương, con Lan... cũng hay tụm năm tụm ba làm bánh ăn vặt mỗi buổi trưa. Chỉ làm những loại bánh dể làm như bánh lá, bánh lọt, bánh đúc, bánh cục, bánh hòn..., chỉ toàn nắn bằng bột gạo rồi đem hấp. Ý mà quên, tụi bạn nàng cũng nghề nghiệp lắm chớ, vì đã từng biết vò lá thúi địt, tức là lá mơ nói cho có vẻ thanh tao hơn, rồi pha vào bột để có mùi thơm! Úi chà, đã gọi là thúi địt thì sao lại thơm? Chắc cũng phải tùy người thôi! Người nào không ưa thì gọi rằng thúi, còn người nào thích thì gọi rằng thơm! Mà nói cho ngay, thơm thì cũng không đúng lắm, chỉ là mùi hăng hăng tiết ra từ những chiếc lá dài dài hình lá liễu nhưng có phần to bản hơn kia thôi. Có điều, tuy là nước lá vò màu xanh nhưng lúc bánh làm xong thì lại biến ra màu xám xám.

     Rồi thêm một món giải khát đặc biệt, vì nếu ăn mấy thứ bánh "cây nhà lá vườn" nầy mà không có được một thao nước lá xâm để uống thì kể như thiếu, giống như ăn hủ tíu mà không có nước lèo. Loại lá xâm này kể cũng lạ, chỉ vò lấy nước khơi khơi mà để yên một hồi lại đặc cứng như xương xa xương xáo. Uống nước lá xâm phải trộn với nước đá và đường cát thì mới mát xuống tới ruột tới gan.

     Còn hai món nữa mà vào dịp Tết nhà nào cũng hay trổ tài là xên mứt và làm cơm rượu. Mứt thì có mứt gừng, mứt bí đao, mứt dừa... cứ lấy kim xâm cho mềm, ngâm nước vôi, rồi đem ngào đường. Khéo hay vụng là ở chỗ miếng mứt của mình có trắng, có trong hay không. Còn làm cơm rượu thì cũng dễ thôi, vì chỉ nấu cơm nếp rồi trộn với men rượu, xong vò viên, xấp đầy vô thố để lâu ngày chầy tháng thì nước rượu tự động tươm ra. Mứt thì ăn với thèo lèo, cứt chuột còn cơm rượu thì phải ăn với xôi vò.

     Chỉ nhà nào dư công dư của thì mới làm thêm bánh men, bánh gai, hoặc mứt chuối. Làm mứt chuối coi vậy chớ mà cực. Trước hết phải thắng nước đường cho tới rồi lựa chuối xiêm phơi khô tốt trái thả vào. Tiếp tục "xên" đến khi nào kẹo kẹo mới lấy dừa nạo xắt lát mỏng đổ vô, trộn đều. Pha một chút thạch cao cho đường khỏi chảy. Xong, lấy lá chuối cao lót dưới xửng, tráng thêm một lớp dầu dừa rồi rắt lên một lớp mè, đâu vào đấy mới đổ mứt ra, trải đều mặt xửng. Sau cùng, rắt thêm một lớp mè nữa lên trên mặt là xong. Chờ nguội, lấy dao cắt ra từng viên nhỏ kiểu con cờ...

     Băng qua hai cây cầu dừa cũ mục, tróc lớp vỏ bên trên lòi thịt nhẵn thín, Hồ Ðiệp đã đặt chân lên một liếp vườn chi chít đầy cỏ tranh, vươn thẳng lên cao trông như những ngọn giáo mác. Rải rác đó đây còn có những bụi bù ngót, rau dền không kém phần tươi tốt, um tùm. Cạnh mé mương có cây lá cách cao lớn như cây mãng cầu xiêm, cung cấp loại lá thơm kỳ diệu dùng trong nhiều món ăn khó quên, như để xào thịt ếch, xác đậu, để nướng thịt bò, thịt nai, nấm mối, cá bống kèo, um lươn, luộc ốc quắn. Xa xa một chút, ở đầu đằng kia cuối liếp vườn trước khi đụng đám lá tối trời, cũng là những ngọn giáo mác nhưng to lớn và dài hơn bội phần, thì toàn là chuối hột mọc loạn xạ như rừng, chuối mẹ xen lẫn với chuối con. Còn gọi là chuối ma, như người ta thường hay gán ghép, nên phải trồng xa nhà và không bao giờ được cúng. Nghe đồn rằng loại chuối này chỉ trổ quài vào lúc nửa đêm, vặn mình trèo trẹo, và mấy ông thầy pháp thường hay hứng nước buồng đem về luyện phép trừ tà. Nghĩ tới quỉ ma nàng cũng hơi sợ sợ vì nơi đây có phần hoang vắng, quạnh hiu.

     Hồ Ðiệp ung dung đặt chiếc rổ thưa xuống đất rồi quơ mác cắt từng tàu một, từ dưới cắt lên, bắt đầu là những tàu lá là xà mặt đất. Xong, nàng gom lại thành đống rồi mới ngồi xuống lựa những lá còn nguyên không bị rách nhiều để rọc ra từ phiến một, xếp ngay ngắn vào rổ con. Nàng cố ý làm lẹ lẹ đặng đi về vì, mặc dù đang giữa ban ngày ban mặt, nhưng thân gái một mình nơi cõi âm u này kể cũng hơi ngán...

     Vậy mà, bỗng, có tiếng nói ở sau lưng:

     - Mới về hả chị Ðiệp?

     Hồ Ðiệp giật nẩy mình, quơ ngang một vòng ngọn mác, ngó ngoái lại:

     - Hú hồn! Mèn đét ơi, Niểng đó hả? Ði đâu mà... êm ru bà rù vậy?

     Niểng ngó nàng chầm chập từ đầu đến đít một lúc lâu rồi thong thả trả lời:

     - Dạ, định đi vòng vòng mấy nhà quen trong xóm, thăm hỏi tình hình cũng như hoàn cảnh làm ăn của bà con vậy mà! Sao, chị mạnh giỏi? Lâu ngày không gặp lại chị, thấy chị cũng trắng trẻo, mịn màng chẳng mấy gì thay đổi...

     Cám ơn! Lâu ngày không gặp? Ðúng đó! Nhưng chẳng mấy gì thay đổi thì có lẽ sai vì chính Hồ Ðiệp đã thấy rõ sự khác biệt trong cử chỉ và cách ăn nói của Niểng. Nó là thằng em của cặp song sinh Xiểng-Niểng, con của chú mười Xứng. Anh nó, thằng Xiểng, thì ở đợ cho ông thầy giáo Dân, còn nó là thằng chăn trâu cho ba nàng trước đây mà nàng không rành nó sao được chớ! Tuổi nó cũng tròm trèm tuổi nàng, hoặc giả lớn hơn cũng không biết chừng, nhưng vẫn quen kêu nàng bằng chị cho phù hợp với vai chủ tớ. Chẳng biết bây giờ nó đã có vợ con gì chưa vì dân ở ruộng ở vườn thường hay lập gia đình sớm lắm. Ừa, mà ai dám lấy nó! Làm dân quân du kích, nếu nàng đoán không lầm, thì có khác gì lính nghĩa quân, cũng chết nay sống mai không biết đường đâu mà mò. Không hiểu nó giử chức vụ gì trong xã, trong ấp mà không thấy súng ống gì hết. Hay là nó lận khéo trong mình, dưới bộ đồng phục bà ba đen, cổ quấn khăn rằn, vai mang túi dết kia? Rõ ràng "cái áo không làm được thầy tu," vì tuy bề ngoài thằng Niểng có thay đổi đó nhưng khuôn mặt cụt ngẵn, có vẻ, nói xin lỗi, hơi ngu đần ngốc nghếch của nó vẫn cứ y chang như cũ. Nhưng mà, úi chà, sao nó mở mắt ngó lom lom vào người mình vậy cà? Có khi nào nó dám xán xả, tấn công nàng hay không? Nó vẫn kêu nàng bằng chị mà, đâu có thể hỗn hào như vậy được! Ở chỗ này mà nàng có la cả buổi thì chắc cũng chẳng ai nghe, kể cũng nguy hiểm quá! Cần phải sẵn sàng thủ thế, với cái mác nhọn trong tay này! Nhằm lấy tinh thần, nàng ngưng lại, không dám tiếp tục công việc của mình, và tìm lời dò xét:

     - Sao, dạo nầy chú thiếm Mười ra sao hả Niểng? Năm nay mần mùa có trúng không vậy?

     Chẳng màng trả lời những câu hỏi của Hồ Ðiệp, Niểng bỗng dưng đưa ra một đề nghị khác:

     - Ðể Niểng làm phụ chị một tay!

     Hồ Ðiệp giựt mình, từ chối ngay:

     - Ý thôi đi, chị làm một mình được mà, đâu có bao nhiêu mà Niểng phải giúp.

     Cũng chẳng thèm để ý đến những gì Hồ Ðiệp nói, Niểng cứ tự nhiên đặt đít xuống đất ngồi đối diện với nàng, rút ra trong túi dết mang ở sau lưng một cái mả tấu dài thòng, sáng giới rồi cầm lên một tàu chuối gần mình rọc một đường ngọt xớt. Chết, cái mác con của mình làm sao mà chống cự lại nổi với cái mả tấu lớn kia, Hồ Ðiệp run sợ thầm! Ánh thép xanh dờn pha sắc tím, vì rất có thể đã nhuốm máu nhiều người, chứng tỏ rằng cái mả tấu này bén lắm! Chém sắt như chém bùn thì còn gì cái mác của nàng khi đem ra chống đỡ! Thôi thì nàng cứ ngồi yên chờ xem động tỉnh...

     Thời gian chầm chậm trôi qua! Trong giây lát, thời may, tình thế lại xuôi theo một chiều hướng khác! Vì Niểng đã lên tiếng:

     - Nghe ba Niểng nói thì cũng không đến nỗi thất bại như năm rồi, nhưng năm nay bên ông Cả lại đòi tăng lúa ruộng nên chẳng biết có đủ đóng hay không nữa. Thời nào cũng vậy, tá điền làm ruộng mướn cho địa chủ bao giờ cũng khổ. Nhưng chắc không bao lâu nữa thì ủy ban nhân dân xã của mình sẽ phân chia lại, hi vọng là ba má Niểng sẽ có năm mười công, tự túc tự cường với người ta.

     Trời đất, còn chưa phân chia lại cái gì nữa đây, Hồ Ðiệp thầm hỏi? Thời buổi này tuy mang tiếng là làm ruộng mướn, coi vườn mướn như ba má của Niểng nhưng thật sự họ đong lúa ruộng hay trả tiền vườn bao nhiêu thì tùy ý. Ai lại không biết điều đó, nhất là những gia đình có con cháu đi bộ đội, du kích. Có ai dám đòi hỏi gì đâu? Trường hợp của ba má nàng là một thí dụ! Càng đòi hỏi thì mất ruộng, mất vườn càng sớm. Vì mặc dù không thành văn tự, nhưng trên danh nghĩa thì chính những người làm công đã làm chủ những gì họ thuê, họ mướn từ lâu rồi. Thử hỏi có chủ ruộng, chủ vườn nào dám mở miệng đòi lại chớ? Láng cháng nếu không ăn mả tấu thì cũng lọt hầm chông có ngày! Mà nói chớ không riêng gì những phần vườn phần ruộng cho mướn, ngay cả phần vườn phần ruộng mình đang làm đây cũng dẫy đầy nguy hiểm! Nếu bọn du kích, giao liên không thương tình chỉ cho những chỗ gài mìn, những nơi đặt lựu đạn thì không chóng thì chầy, trước sau gì mình cũng chết banh thây, không kịp ngáp!

     Bỗng, có tiếng con gái phụ họa ở sau lưng:

     - Ồ, không mấy thuở gặp lại mầy ở dưới nầy, Ðiệp! Sao mầy không về đây sinh sống, làm ăn với đồng bào chòm xóm cho vui, mậy?

     Hồ Ðiệp rất đỗi ngạc nhiên, ngước nhìn con bạn tiểu học cùng lớp ngày nào, cũng trong bộ đồ du kích chiến giống như Niểng! Da dẻ con nhỏ dạo này tuy trắng thì có trắng nhưng có vẻ mét xanh chẳng khác gì cỏ non thiếu ánh nắng! Ðể tránh những phiền phức có thể xảy đến, Hồ Ðiệp nói giả lả:

     - Mèn ơi, mầy đó hả Lan? Không ngờ dạo nầy mầy làm lớn nghen, đi đâu cũng có người hộ tống, đưa đón, dò đường...

     Chắc con nhỏ còn nhớ "chuyện tình Lan và Ðiệp" giữa hai đứa mà chúng bạn tí hon thường hay gán ghép ngày nào, cho dù Ðiệp này... là gái và không có chuyện đồng tính luyến ái! Nhưng hiện thời có lẽ Lan xưa đã gặp được người tâm đầu ý hiệp khác, Hồ Ðiệp nhủ thầm, vì nó quay nhìn Niểng cười cười. Chợt con nhỏ hỏi nàng mấy câu có hơi lãng nhách:

     - Cắt lá chuối chi vậy Ðiệp? Có muốn tao phụ với mầy một tay không?

     - Ối, phụ gì mầy, tao chỉ cắt một rổ nhỏ nầy cho bà già gói bánh tét, bánh ích thôi. Năm nay trong nhà không có mấy người được phép về quê nghỉ ngơi ăn Tết...

     Hồ Ðiệp cảm thấy mình nói hớ khi nghĩ tới anh Hòa, một sĩ quan đang chống giặc giữ đồn ngoài trận tuyến, bèn nói chữa ngay:

     - Ai ai cũng lu bu, bận rộn với công ăn việc làm... À, hai bác Chín cũng mạnh hả Lan?

     Cô bạn nàng trả lời bâng quơ:

     - Ờ, ổng bả lúc nào cũng vậy...

     Rồi như có điều gì quan trọng cần phải giải quyết gấp, Lan liếc mắt hướng qua Niểng:

     - Thôi mình đi đi, kẽo trễ! Nay mai sẽ gặp lại mầy sau, Ðiệp!

     Lan rảo bước dẫn đầu, Niểng cất gọn mả tấu vào túi dết rồi đứng phắc dậy phóng bước đuổi theo không buông một lời từ giã. Trong phút chốc hai cái bóng đã vòng qua ngả rẽ, khuất dạng sau đám lá tối trời. Hồ Ðiệp ngẩn ngơ ngồi lại một mình với rổ lá chuối đã đầy, nghĩ ngợi mông lung. Bạn bè, người thân bỗng dưng dàn trận, đứng vào hai bên chiến tuyến: Quốc Gia và Cộng Sản! Nhớ ngày nào cả lũ vẫn hay đổ bánh cục bánh hòn, chơi nhà chòi, nhảy cờ địa, đánh đũa, tạt lon với nhau, giờ thì hình như... mạng ai nấy giữ. Một lần tha mạng cho mầy và, bây giờ, bọn tao không cần phải dấu diếm hành vi, tung tích nữa! Một lần thì tởn tới già, đừng đi nước mặn cho hà ăn chân , đừng có tưởng bở mà đánh đổi cuộc đời mình với phường giả nhơn, giả nghĩa. Nàng càng không thể ỷ y, ngu dại tin vào lời nói cởi mở, nhẹ nhàng của bạn bè quen. Ðã trót đi đêm với loài chối bỏ linh hồn thì bọn chúng sẽ không ngần ngại trở mặt, thay lòng còn nhanh hơn trở bánh phồng, bánh tráng! Ô hay, đúng là hú ba hồn chín vía!

     Nỗi chết hụt vẫn còn ám ảnh trong đầu, Hồ Ðiệp thấy không thể ở đây thêm giây phút nào được nữa, nàng liền lật đật gom hết mọi thứ rồi bươn bả băng qua cây cầu dừa, chạy một mạch không kịp thở về nhà. Bỏ luôn cả việc cắt những nhánh mai gầy cho ông già chưng bàn thờ nhà trên. Chắc không đợi đến ngày mai ngày mốt, hoặc ra giêng hay sau ba ngày Tết năm nay, cái Tết mậu hầu mậu khỉ này, mà ngay bây giờ, nàng sẽ tìm thưa cùng ba má rằng con sẽ từ giã quê hương, để đi luôn về thành, vì con đã không còn đường trở lại.

     Nàng nghĩ đến Hiếu, không biết rồi chàng sẽ đứng bên chiến tuyến nào? Có phải những ai làm nghề giáo thì thường hay đứng giữa, theo thế trung lập? Gia đình chàng chẳng biết đã có kinh nghiệm gì với Cộng Sản hay chưa, chớ như dân chúng trong vùng Ðồng Khởi nói chung, gia đình nàng nói riêng, thì mười nhà như một, không ít thì nhiều đều cũng tì vết, với ít nhứt là một người đã bị bức tử. Như trường hợp của ông nội nàng đã bị cắt gân cắt nhượng, tùng xẻo từng miếng thịt trước khi gài mắm dưới mương là một điển hình. Chỉ những ai còn tiếc ruộng vườn, của cải, mồ mả của ông bà để lại mới còn núm níu tại đây, như ba má nàng chẳng hạn, chớ hầu hết những ai có phương tiện, họ đã di chuyển qua Mỹ Tho hay về Bến Tre lập nghiệp, tạo dựng cuộc đời mới từ lâu. Và lần về thăm quê cũ này, đối với nàng, biết đâu, sẽ là lần chót! Trong bâng khuâng, nàng cảm thấy buồn thương cho số kiếp long đong, xa nhà, xa quê cha đất tổ của mình...

   back to top

06. SẦU RIÊNG QUÊ NGOẠI

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Kể từ khi đổi được chiếc Mobilette bình vuông qua chiếc Vespa thùng tròn đít bầu, đời EA..., bằng số tiền dạy kèm dành dụm được cả năm qua, Hiếu cảm thấy cuộc đời lên hương chút chút. Quả thật, lái chiếc xe Vespa xem nó sang trọng hơn nhiều. Nhứt là khi chàng mới tập tễnh làm thầy giáo thôi chớ chưa phải là thầy giáo thật sự. Nói cho ngay, không sang trọng sao được khi rất nhiều thầy giáo thứ thiệt vẫn còn đạp xe đạp hay đi bộ dài dài. Riêng cái đám đi xế hộp thì chắc phải đếm trên đầu ngón tay, kể cả giáo sư đại học chớ nói gì đến giáo sư trung học.

     Rồi tuy không vọt bằng những chiếc xe Honda đỏ đời 67, 68 vừa mới nhập cảng đôi ba năm qua, nhưng đám thầy giáo trẻ như Hiếu vẫn ưa chuộng xe của Ý hơn, nếu muốn đem so với xe Nhựt. Vì cái tệ của đi xe Nhựt là người lái bị bắt buộc phải bỏ giò ngồi chèn bẹt hai bên, trông không có vẻ thẫm mỹ, mô phạm hoặc trí thức chút nào hết. Ðặc biệt với con gái, nếu đem so với Honda Dame, những cô lái chiếc Vespa mini, 50 phân khối, trông có vẻ con nhà lành, đàng hoàng tử tế hơn nhiều. Mấy cô học cùng lớp với chàng cũng đã từng tuyên bố với chúng bạn: Tao thà đạp xe đạp mini còn hơn là chạy xe Honda! Chẳng biết có phải vì thiếu tiền không mua nổi xe gắn máy mà mấy cô nói lẫy đó chăng? Nhưng, cũng có lý đôi phần! Vì dưới mắt Hiếu, đôi tà áo dài úp mở vẫn có vẻ gì thanh tao, trang nhã hơn ở những cô gái đi xe đạp mini!

     Nói gì thì nói, xe nào cũng vậy, của Ý, Pháp, Ðức, Nhật hay ngay cả của Chợ Lớn mặc lòng, xe nào đi đủ đôi vẫn trông đẹp mắt hơn là những chiếc xe... đơn thân độc mã, một ngựa một người! Phải đèo nhau chung đường, chung lối mới thấy đời tươi đẹp hẳn lên! Như ngay bây giờ, trường hợp của Mỹ Hạnh và Hiếu! Chính vì vậy mà hôm nay chàng cảm thấy đại lộ Phan Thanh Giản, con đường nối liền Ngã Bảy thẳng ra ngã tư Hàng Xanh, rực rỡ hơn nhiều! Người người qua lại trên đường, dưới tàn cây râm mát hay dưới nắng trưa lồng lộng, đều như hớn hở, tươi cười cho dù xung quanh mình cát bụi vẫn tung bay!

     Tưởng tượng đến hình ảnh duyên dáng của Mỹ Hạnh trong chiếc áo dài soie màu hoàng yến, quần lụa trắng tinh, đang ôm mớ sách vở ngồi phía sau mình, như nàng Mỵ Châu sống chết với chàng Trọng Thủy, Hiếu gợi ý:

     - Có khi nào Hạnh trốn học và đi chơi xa thiệt xa như lần nầy không?

     Mỹ Hạnh ngập ngừng:

     - Chỉ với anh thì Hạnh mới "liều" như vậy chớ hồi nào tới giờ Hạnh có ra khỏi Sài Gòn nầy với ai đâu? Anh dư biết mà còn làm bộ hỏi hả?

     Liều? Kể ra cũng năm bảy đường liều! Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân của Cộng Sản vừa qua là một! Ngẫm nghĩ lại, "cái gì cũng vậy, hễ bạo phát thì phải bạo tàn!" Âu cũng là một bài học đáng suy gẫm cho những chiến lược gia chỉ biết sử dụng chiến thuật biển người, thí quân không tiếc máu xương! Sở trường của Cộng Sản mà! Ðồng thời cũng là cơ hội tốt để đánh giá thế nào là lòng hy sinh dũng cảm và sự chiến đấu can cường của những người lính miền Nam.

     Tuy nhiên, mặc dù Cộng Sản thất bại về mặt quân sự, nhưng ảnh hưởng về mặt tâm lý đối với quần chúng quả là một nguy hiểm trầm trọng. Các tướng Mỹ giựt mình về khả năng vận chuyển tác chiến của Việt Cộng, và hiển nhiên, người dân Mỹ vì chán ghét chiến tranh nên ủng hộ và đẩy mạnh phong trào phản chiến ngày một lên cao. Tình hình ở ngoại quốc thì như vậy, còn trong nước thì nhạc tình Trịnh Công Sơn cũng đã bắt đầu đi sâu vào lòng quần chúng, tràn ngập các quán cà phê đèn mờ. Ðể rồi một lối sống mới, không hẳn là tôn thờ chủ nghĩa hiện sinh như thời Yêu, Loạn ... của Chu Tử, mà chỉ là tà tà buông thả theo dòng đời vì nào ai biết được ngày mai rồi sẽ ra sao một khi Cộng Sản đã tiến về tận thành phố! Lối sống mới đó đã từ từ len lỏi, mọc rễ và ăn sâu vào tâm hồn của mọi tầng lớp thanh niên thiếu nữ!

     Có phải chính vì vậy mà Mỹ Hạnh đã dám nói lên tiếng "liều?" Và phần Hiếu, vì phải "chiều" ý người đẹp nên cũng đành "liều" một phen, dám xông pha tiến thẳng vào vùng... địch, khi chiến tích Mậu Thân còn dẫy đầy máu lửa khắp mọi nơi!

     Chàng hỏi tiếp:

     - Từ đây về nhà ngoại Hạnh bao xa?

     Mỹ Hạnh đoán chừng:

     - Ðộ mười mấy, hai mươi cây số thì phải! Hạnh cũng không rành! Mọi khi đi thăm ngoại thì cứ hay nhảy lên xe đò...

     Lẽ ra Hiếu nên từ chối chuyến đi này nhưng chàng lại sợ Mỹ Hạnh giận mình và rồi... nghỉ chơi luôn! Người con gái nào cũng vậy, dễ mặc cảm và nhớ dai như giẻ rách những vết thương lòng. Mặc dù quen nhau đã lâu nhưng giữa Mỹ Hạnh và Hiếu vẫn chỉ là tình bạn. Ðã nhiều lần hai đứa đi chơi chung với nhau, có bạn bè cùng lớp đi kèm lẽ dĩ nhiên, nhưng đây là lần đầu tiên hai đứa mới có dịp hè nhau tách bầy đi riêng.

     "Lấp lửng con cá vàng, xìu xìu ễnh ễnh cho qua ngày tháng," tình trạng này có lẽ không áp dụng riêng cho mỗi một mình Hiếu, vì bọn con trai cùng lớp với chàng cũng đối xử với bọn con gái đồng môn y chang như vậy. Không đứa nào chịu cắm sào, bỏ neo hết trơn! Bởi trở ngại rất lớn là tuổi đời tròm trèm nhau! Nếu như Mỹ Hạnh hay Thúy Nga mà không là gái thì chàng có thể cũng đã "mầy tao, mi tớ" như các bạn con trai khác rồi. Chẳng biết bên phe con gái thì sao, chớ bọn con trai ít có đứa nào nghĩ đến chuyện yêu đương dan díu thật sự, hoặc giả đi xa hơn một chút, lập gia đình với một người bạn gái cùng lớp, cùng cấp với mình.

     Nhứt gái lớn hơn hai nhì trai lớn hơn một , câu nói này không biết phải đem áp dụng ở vào thời đại nào? Hầu hết thanh thiếu niên thời nay đều mang cùng một tâm trạng, rằng vợ chồng đồng tuổi nhau, sau khi hạ sanh một hai đứa con thì vợ mình sẽ hóa thành "chị cả" ngay! Rồi tuy người đời có ca tụng những cặp vợ chồng không tương xứng, tỉ như tốt duyên lấy được vợ già, vừa sạch cửa nhà vừa ngọt cơm canh, còn hơn là lấy trẻ ranh, ăn vụng xó bếp ỉa quanh đầu hè , nhưng bảo đảm mười thằng con trai như một đều thích lấy vợ trẻ ranh, nhỏ hơn mình năm mười tuổi! Vừa tròn một con giáp, cọp đực cọp cái chẳng hạn, thì càng được phước!

     Gần tới nghĩa trang Mạc Ðỉnh Chi, Hiếu muốn thử phản ứng của Mỹ Hạnh, bèn... thắng gấp một phát. Nàng hốt hoảng la lên:

     - Cái gì vậy, anh?

     Ðôi gò ngực Mỹ Hạnh áp sát vào lưng chàng, ôi, sao mà nhức nhối, rồi lại dang ra tức thì, chu choa, uổng thiệt. Nhưng nhờ vậy mà cô nàng không ngần ngại bỏ tay ôm ngang eo ếch chàng. Hiếu cười nhẹ, giả lả:

     - Thử thắng!

     Mỹ Hạnh nhéo nhẹ vào hông chàng:

     - Quỷ nà!

     Hiếu cười lớn hơn:

     - Nói đùa chớ có thằng nhỏ bụi đời không sợ xe cán, bạt mạng băng qua đường! Nó chạy vuột qua phía sau lưng nên Hạnh không thấy! Ừa, mà để cho chắc ăn Hạnh cứ ôm chặt lấy anh như vậy đi nghen!

     Mỹ Hạnh giựt mình, e thẹn rút tay về:

     - Ấy chết, xin lỗi...

     Hiếu tả oán thêm:

     - Thôi mà, lỗi phải gì, thiếu điều muốn lấy thẹo bên hông anh mà còn... chưa vừa lòng hay sao! Cứ tự nhiên đi, anh không phản đối gì đâu!

     Mỹ Hạnh thăm dò:

     - Nói thiệt hén?

     - Không, nói đùa thôi! Tùy ở Hạnh à...

     Mỹ Hạnh vuốt ve:

     - Xí, chớ không phải muốn "người ta" ôm lưng cho ấm mà còn làm bộ! Ðó, chịu chưa?

     Mỹ Hạnh lại "liều" thêm một bước thật xa nữa bằng cách ngả đầu, áp mình vào lưng Hiếu! Úi chà, chẳng biết hai cái gò áo sú-cheng, cái giả, hay hai đôi núm vú, thứ thiệt, đã làm chàng đê mê! Ừa, phải "dấn thân" như vậy chớ cô em có dáng dấp "bắc kỳ con nho nhỏ" chắc vì... thiếu ăn của Hiếu này, bấy lâu nay em cứ "ỡm ờ" hoài thì chỉ tổ làm cho anh có nước... bỏ ăn thôi, chàng nhủ thầm!

     Không mấy chốc, Hiếu đã qua khỏi ngã tư Hàng Xanh và đang gập ghềnh băng qua cầu Bình Triệu để thẳng đường hướng về quốc lộ 1, miệt Thủ Ðức, Lái Thiêu, Bình Dương tức Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Vũng Tàu! Mở đường mới, chàng muốn vậy, vì đường cũ rẽ qua cầu Bông, Ða Kao, dẫn về cầu Bình Lợi thì chàng đã đi rồi. Cây cầu nổi tiếng, đặc biệt đó có kiến trúc giống y hệt như cầu Bến Lức và cầu Tân An mà chàng đã từng biết qua. Ngay cả việc có đường xe lửa chạy ngay chính giữa cũng chẳng có gì khác lạ.

     Sở dĩ Hiếu có dịp mon men trên lộ trình đó nhiều lần là tại vì anh Lục Hà, em của chị Phương Thảo chủ nhà trọ, đang làm ăn ngon lành bỗng nổi sùng đăng đi lính địa phương quân, thuộc tiểu khu Gia Ðịnh. Rồi đúng là phước đức ông bà còn để lại nên ngay sau đó ảnh lại được biệt phái về giữ đồn Bình Lợi ở bên này cầu. Chẳng biết có phải vì bị tình phụ hay không mà đùng một cái, anh Ba thợ điện ta, chuyên viên quấn dây đồng vào các bô-bin tiền vô như nước, lại đành đoạn bỏ nghề bỏ ngỗng đi theo tiếng gọi của non sông. Sau đúng hai năm trời kể từ ngày anh rời xứ Ông Văn để lên Sài Gòn kiếm ăn. Có người còn đồn đại thêm rằng ảnh coi vậy chớ không giàu, lương làm không đủ chi cho mấy thằng cha chuyên lo vấn đề trốn quân dịch.

     Qua phía bên kia sông Sài Gòn, xe cộ và khách bộ hành dần dần trở nên thưa thớt đi. Càng xa thành phố, mức sinh hoạt cũng như cảnh bon chen càng giảm sút. Một vài căn nhà lá tồi tàn, xập xệ đã bắt đầu hiện ra bên vệ đường, xen lẫn với những ngôi nhà xi-măng cốt sắt, lợp ngói khang trang. Ở đâu cũng vậy, luôn luôn có kẻ giàu người nghèo. Chẳng biết ai là người được phước kiếp này chỉ vì kiếp trước khéo tu.

     Một chiếc xe đò chở đầy khách từ miền Trung chạy vụt qua cái vù làm tóc tai, áo quần của Mỹ Hạnh tung bay phất phới, nàng vội hỏi Hiếu như muốn nhắc chừng:

     - Anh đã đi về phía nầy lần nào chưa, Hiếu?

     Hiếu trả lời bâng quơ:

     - Chưa, nhưng chắc không đi lạc đâu! Dọc theo đường thỉnh thoảng cũng có bảng chỉ dẫn mà! Kia kìa, có ngã rẽ về suối Lồ Ồ và làng Ðại Học Thủ Ðức nữa kìa!

     Mỹ Hạnh muốn nói rõ hơn:

     - Anh nên chạy chậm chậm lại một chút, đường nầy có nhiều xe be, xe hàng chạy ẩu lắm! Anh không thấy dọc bên đường lâu lâu có mọc lên một cái miễu sao?

     - Thiệt vậy à? Anh chạy chưa tới một trăm cây số giờ, Hạnh còn nghe anh nói chuyện rất là dễ dàng mà lo gì!

     Kể ra chuyến đi xa này là ý kiến rất hay của Mỹ Hạnh, Hiếu nghĩ, vì vòng vòng Sài Gòn không có chỗ đi chơi. Tối ngày cứ bước ra đường là ngựa xe vi vút, đường dọc phố ngang, đêm cũng như ngày làm người... hành giả tưởng chừng như lạc vào mê hồn trận, ai mà yếu bóng vía lạng quạng không tìm được lối ra. Rồi nếu quen nước quen cái thì cũng chỉ những công viên trốn nắng, những quán ăn rộn rịp vỉa hè, những cao lâu sang trọng, những rạp xi-nê mờ ảo đêm đen..., những cái gọi là tiện nghi của chốn văn minh mà hễ đụng tới là phải có tiền nhiều nhiều trong túi, để không thôi bất thình lình sẽ gặp phải cảnh đạp bánh tráng chẳng có tiền đền.

     Với lại đi đâu chớ về thăm xứ sầu riêng, măng cụt của "người đẹp Bình Dương," hay xứ bưởi ổi, bưởi Thanh Trà của "người đẹp Biên Hòa," thì Hiếu sẵn sàng nhận lời ngay. Vì biết đâu chừng chàng chẳng tìm được những dấu vết còn sót lại của cuộc Nam tiến mà chàng đã từng nghe nói và biết sơ qua ít nhiều trong sách vở? Một thực tập tại chỗ cho bài học lịch sử về việc Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh chiêu mộ dân quân từ miền Ngũ Quảng, tức Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ðức (lãnh thổ Thừa Thiên bây giờ), Quảng Nam và Quảng Ngãi để thành lập hai huyện trù phú, Phước Long và Tân Bình, ở miền Nam vào cuối thế kỷ 17. Rồi nếu không gì trở ngại và thì giờ cho phép, chàng còn phải viếng thăm cù lao Phố, nơi nổi tiếng một thời là Nông Nại Ðại Phố của tướng Trần Thắng Tài, một trung thần của nhà Minh không chịu đầu hàng nhà Thanh, nữa chớ!

     Ðối với Hiếu, phong cảnh trước mặt có phần lạ mắt, khác thường. Không giống như về miền Tây, hai bên đường mênh mông ruộng đồng cò bay thẳng cánh, ở đây thấp thoáng có đồi núi và lũng sâu. Không thấy màu mạ xanh hay lúa vàng mà từ ven vệ đường trải ra xa tận ngút ngàn, toàn là bụi rậm và cây cỏ dại mọc lan tràn trên nền đất đỏ, khi sẫm màu huyết dụ khi tươi hồng như pha chút gạch tôm. Nhìn chung, khô cằn sỏi đá, với những nét da nhăn trên mặt người già, những đường nước soi mòn, lồi lõm của những trận mưa giông, thác đổ. Ðất đai bỏ hoang không ai canh tác trở thành vắng vẻ, âm u. Chim chóc, quạ diều tha hồ làm ổ trên những ngọn cây cao, thỉnh thoảng vươn vai, nhịp nhàng tung cánh rộng đua bay tìm mồi...

     Hiếu phân trần:

     - Ðã được nửa đường chưa, Hạnh? Nãy giờ mình đi cũng khá lâu rồi đó!

     - Chưa đâu. Bao giờ gần tới Hạnh sẽ nói cho anh biết...

     Bỏ ngọn đồi trọc khá lớn một đỗi xa xa, cảnh sắc hai bên đường lại bắt đầu thay đổi hẳn. Vì nơi đây không còn núi đồi nữa mà là đồng bằng, có thể nằm trong lưu vực của sông Ðồng Nai? Ừa, mà sông Sài Gòn hay sông Bé, Là Ngà, Ða Dung, Ða Nhim gì gì cũng được xem là một phụ lưu của sông Ðồng Nai mà thôi. Người ta thường nói đồng bằng sông Ðồng Nai, sông Cửu Long chớ có ai nói đồng bằng sông Sài Gòn bao giờ!

     Dọc theo lộ tráng nhựa, vườn cây ăn trái ở đây cũng xanh tươi, rậm rạp không kém gì miệt vườn Mỹ Tho, Bến Tre, Vĩnh Long, Sa Ðéc... êm đềm soi bóng bên dòng Tiền Giang. Một khu vực trù phú khác cũng được thành lập vào cuối thế kỷ 17, nhưng không do quan lính triều đình mà do công khai sơn phá thạch của đám di thần nhà Minh, thuộc phe cánh của tướng Dương Ngạn Ðịch! Ngẫm nghĩ lại nhờ vào tài khéo ngoại giao và dàn xếp, không ngờ người Minh Hương, tức con cháu nhà Minh xin chấp nhận vùng đất mới này làm quê hương, lại đã giúp chúa Nguyễn rất nhiều trong việc mở mang bờ cõi về phía Nam...

     Mỹ Hạnh lên tiếng:

     - Sao, anh thấy quê ngoại của Hạnh như thế nào?

     Hiếu ướm lời, nói bóng nói gió một công hai chuyện như để thử lòng Mỹ Hạnh:

     - Không khác gì quê ngoại của anh hết!

     Mỹ Hạnh lấy làm vui, nhưng vẫn còn muốn khoe thêm:

     - Tại anh chưa biết chớ trong vườn ngoại của Hạnh trồng đủ thứ không thiếu một món trái cây nào hết! Nào là măng cụt, sầu riêng, lôm chôm, bòn bon, mận, bưởi, ổi, cam, quít, xoài... muốn ăn gì có nấy, mùa nào cây trái cũng đặt cành...

     Mới nghe qua như có điều gì chẳng lọt lỗ tai, Hiếu thử chêm vào:

     - Nếu đúng như Hạnh kể thì dường như vườn của ngoại Hạnh thiếu hai món rất cần thiết là... dừa với chuối!

     Mỹ Hạnh nhéo Hiếu một cái hơi mạnh tay làm chàng cong người, đau điếng:

     - Hứ, hai món đó thì vườn nào lại không có? Anh sao, cứ bắt bẻ Hạnh hoài! Lát nữa không thèm chỉ anh những cây ngon trái ngọt trong vườn ngoại Hạnh đâu nghen...

     Suy nghĩ trong giây lát, Hiếu bật cười khan trong bụng một mình. Rõ ràng người xưa đã phán:

     Rồng chầu ngoài Huế
     Ngựa tế Ðồng Nai
     Nước sông trong chảy lộn sông ngoài
     Thương người lỡ bước lạc loài tới đây


     Thì ra, từ bao nhiêu đời, người con gái Ðồng Nai vốn dạn dĩ thiệt, dám lẳng lơ tỏ tình trước với người con trai xứ Huế trên bước đường đi làm xâu nơi xứ lạ quê xa, Hiếu chợt hiểu nôm na như thế! Ðã dám mạnh miệng nói "thương" người ta! Rồi ngay trường hợp Mỹ Hạnh đối với Hiếu cũng vậy, nhớ ngày nào chính nàng đã dám ngang nhiên bước tới làm quen với chàng trước, trong buổi tựu trường năm thứ nhứt! Nhưng, ở thời buổi hiện đại này, chàng đã không còn đến từ xứ Huế nữa mà chỉ "lạc loài tới đây" từ miệt vườn Mỹ Tho, thì liệu người con gái Ðồng Nai có cảm thương hay không? Mà thử hỏi có ai bì được với Hiếu chớ, một khi chàng đang sắp sửa hội đủ các điều kiện cần thiết:

     Làm trai cho đáng nên trai
     Mỹ Tho cũng trải Ðồng Nai cũng tường!


     Với những cử chỉ trìu mến, âu yếm kia của Mỹ Hạnh, chưa chắc cô nàng đã thật sự... "tình trong như đã," Hiếu vẫn còn phân vân. Làm sao chàng biết được cuộc sống riêng tư, vườn xuân ong bướm của cô bạn mình! Có cô sinh viên đại học sư phạm nào mà đầu óc chưa có sạn, nhứt là những cô sinh trưởng và lớn lên ở chốn thị thành? Biết đâu chừng chuyến đi chơi xa này chỉ là một cuộc xé lẻ, thay đổi bầu không khí?

     Tuy nhiên, những lời nói dịu ngọt kia của Mỹ Hạnh đã vô tình làm Hiếu nghĩ đến Hồ Ðiệp nhiều hơn và chợt thấy như mình đang làm điều gì không phải! Chỉ vì cách đây không lâu, trước độ xuân về thôi, chàng và Hồ Ðiệp đã tay trong tay dắt nhau đi phố Tết, rồi sau đó còn đèo nhau đi ăn giỗ ở nhà Phát, vùng Chợ Gạo sông sâu nước chảy, nữa. Cũng là một chuyến đi chơi xa! Mới ân cần thiết tha cùng nhau đó mà giờ này chàng lại gắn bó với một người con gái khác thì kể cũng hơi kỳ kỳ!

     Ðừng nói hễ làm đàn ông, con trai thì phải "năm thê bảy thiếp," "bồ trong bịch ngoài," vì đối với Hiếu, chàng không quan niệm như vậy! Bắt cá hai tay? Chàng cũng không hề nghĩ thế, chẳng qua vì tình cảnh bắt buộc, thời cuộc đưa đẩy mà thôi! Nói đúng ra rơm gần lửa thì có ngày cũng bén, nhưng chưa hẳn đã có chuyện xa mặt cách lòng! Tuy xa mà gần và tuy gần mà xa, chuyện đời coi vậy mà lắm nỗi trớ trêu. Nếu không có những mục du hí bất chợt như vầy, chưa chắc chàng đã để tâm đến Mỹ Hạnh, xem cô nàng chưng diện, phấn son, mập ốm ra làm sao. Ai cũng vậy, cứ gặp mặt nhau hằng ngày nếu không chán thì cũng phải ngấy. Mà bữa nay con nhỏ này đã điên mất rồi, chàng nghĩ! Và chính chàng nữa, hiện đang khùng tới cũng không biết chừng!

     Làm gì thì làm, hãy vui đùa với những mời mọc đón đưa trước mặt, chàng không muốn Mỹ Hạnh hiểu qua nội tâm của mình nên đặt điều hỏi lại:

     - Nè, vườn của ngoại Hạnh rộng bao lớn mà trồng đủ thứ các loại trái cây?

     Mỹ Hạnh thân tình thố lộ luôn một hơi:

     - Năm bảy mẫu lận! Bây giờ ngoại già, chăm sóc không xuể nên chia cho mấy cậu mấy dì. Má Hạnh cũng được một phần mặc dù ba có đời sống công chức vững vàng trong ngành Thuế vụ ở Sài Gòn. Bởi vậy má giao lại cho cậu Sáu trông chừng luôn, hễ tới mùa thì cậu nhắn má lên rồi coi được giá chỗ nào thì má bán mão cho người ta hái trái. Huê lợi chính vẫn là sầu riêng và măng cụt. Cũng may là vườn nằm cách xa chợ quận Lái Thiêu nên không bị hề hấn gì trong cuộc tàn phá, chém giết vừa qua.

     Nhớ đến những đau thương ở quê nhà mà chàng đã chứng kiến, Hiếu thở dài:

     - Thời buổi nầy, thiệt, nhiều khi chỉ biết trời kêu ai nấy dạ...

     Bỗng, Mỹ Hạnh báo động:

     - Sắp tới rồi đó anh, chầm chậm lại, coi chừng quẹo vào cây cầu đúc bên tay trái!

     Hiếu làm đúng theo lời dặn, từ từ băng qua cây cầu vòng bằng xi-măng cốt sắt, đủ rộng và vững chắc cho xe hơi chạy vào. "Con đường cái quan" đó của xóm làng nhỏ dần, nhỏ dần, rồi theo hướng chỉ dẫn của Mỹ Hạnh, quanh quanh quẹo quẹo một hồi, Hiếu làm gan rẽ vô một cây cầu ván bắc giữa cái đập nước đắp qua mương khá rộng. Tiếp đến là một khoảng vườn thưa trồng cam quít xen lẫn với những cụm bông trang vàng tươi, những cây hoa sứ cùi trắng nõn, và những bụi bông bụp đỏ thắm. Phía bên trái có hàng liễu rũ thả những sợi dài đong đưa theo gió. Chỉ bao nhiêu đó đủ biết chủ nhà không phải hạng thường. Biết chơi cây cảnh. Rồi đến một vuông sân nhỏ sạch bóng với hàng chậu sứ, tráng men trắng và vẻ bông xanh đậm, trồng kiểng uốn hình long lân qui phụng ở trước mái hiên. Ở giữa có bậc tam cấp đi lên bao lơn nền đúc bằng đá ong lưng chừng không cao lắm, trên đó lót gạch tàu đỏ au.

     Hiếu ngại ngùng đậu xe cạnh gốc thiên tế già nua ở một bìa sân. Mỹ Hạnh bước xuống đất, nắm tay Hiếu thân mật:

     - Ði anh, vô nhà chào ngoại.

     Hiếu dựng xe ngay ngắn đâu đó rồi lẳng lặng đi theo... người tình nhỏ! Ngôi nhà ba gian hai chái, lợp ngói âm dương, vách bổ kho ngăn từng phòng rộng rải mênh mông mà hình như không một bóng người qua lại, ra vào. Mỹ Hạnh tiếp tục dẫn Hiếu đi xuyên qua phòng khách đầy bàn ghế bằng gỗ cẩm lai đen bóng, men theo một hành lang dài và hẹp thẳng ra nhà sau. Cạnh chiếc bàn con kê gần nhà bếp, một bà lão tuổi trạc sáu mươi ngoài, tóc muối nhiều hơn tiêu, miệng mồm móm xọm, đang ngồi lựa mớ trầu ngon, cau ngon xếp vào ô. Nàng vui mừng chạy lại cầm tay:

     - Thưa ngoại.

     Bà cụ ngước lên, nhoẻn miệng tươi cười đưa toàn là nướu:

     - Hạnh đó hả con? Bây về với ai vậy?

     - Dạ, con về với bạn con, đây, anh Hiếu...

     Hiếu bắt chước, cúi đầu:

     - Dạ thưa ngoại.

     - Ừa, thẳng đó hả?

     Mỹ Hạnh liền kề tai ngoại nàng dặn nhỏ:

     - Nhưng ngoại nhớ đừng nói gì với ba má con hết nghen...

     Ðúng là "con hư tại mẹ cháu hư tại bà," vì bà cụ không nói không rằng cứ ngó Hiếu lom lom từ đầu xuống chân ra chiều dò xét, xem giò xem cẳng coi ra thế nào! Rồi không ừ không hử, không có ý kiến tức là đồng ý, không chê? Hiếu kết luận khơi khơi như vậy!

     Mỹ Hạnh hỏi tiếp:

     - Ông ngoại đâu, ngoại.

     - Ổng mới ở đằng trước đó mà! Hay là cuốc bộ xuống nhà cậu Sáu mầy nữa rồi. Bữa nay ở dưới đó có mướn người làm cỏ, vét mương. Chắc ổng muốn kiếm người nói chuyện...

     - Thôi để con đi thay đồ ngắn đặng dẫn anh Hiếu ra vườn sau nhà chơi. Ði anh, lên đây Hạnh chỉ cho anh xem cái này...

     Mỹ Hạnh cầm tay kéo nhẹ, Hiếu ngoan ngoản... vâng lời! Ngoại nàng hỏi vói theo:

     - Chừng nào tụi bây về đặng tao lo cơm nước?

     - Khỏi cần, ngoại! Chiều chiều tụi con về, sẵn có xe của anh Hiếu đang đậu ở trước sân!

     Trở lại cái hành lang nhỏ, vòng lên phòng khách, Mỹ Hạnh mở cánh cửa bên phía trái bước vào một căn buồng tranh sáng tranh tối, nhờ ánh sáng từ kẽ hở của cái cửa sổ nhỏ đóng kín một bên hông. Trong phòng bày biện đủ thứ, nào giường ngủ, bàn học và cả tủ đứng máng áo quần toàn bằng gỗ thao lao đánh vẹc-ni bóng láng. Mỹ Hạnh hỏi:

     - Sao, anh thấy căn phòng nầy thế nào? Có thích không? Ngoại vẫn còn để dành cho riêng Hạnh đó!

     Hiếu ngó dáo dác thấy không khác gì những gian phòng thường thấy ở chốn thị thành, buộc miệng khen:

     - Trông cũng ngăn nấp, tiện nghi lắm!

     Mỹ Hạnh mỉm cười, e ấp đưa cái răng khễnh làm duyên, rồi làm bộ đuổi khéo:

     - Mà thôi, anh ra ngoài đi cho Hạnh thay đồ...

     Bóng tối vẫn hay mang tội đồng lõa với yêu đương, nàng muốn thử xem phản ứng của Hiếu ra sao? Nếu chàng trở gót quay lui thì rõ ràng nhát còn hơn thỏ đế, bỏ mất cơ hội bằng vàng, nghìn năm một thuở! Phút giây im lìm lặng lẽ trôi qua, trong lòng nàng đang hồi hộp mong chờ. Nhưng chàng làm nàng thất vọng vì chưa gì đã vội vã xoay lưng. Ôi, mỡ đã đem đến tận miệng mèo mà mèo không dám cắn! Lớn chồng ngồng như nàng rồi, như má nàng thường rầy la, thôi thì coi bến nào đó ghé đại cho xong, nàng cứ hay nghĩ vậy! Trong nhờ đục chịu còn hơn là cứ mãi chần chờ, hoang phí tuổi xuân! Ồ, không, chàng đã rụt rè quay trở lại, dám bước thêm bước nữa để đối diện với cuộc đời, với nàng, rồi vòng tay ôm nhẹ bờ vai, khẽ gọi:

     - Hạnh!

     Như chỉ chờ có thế, Mỹ Hạnh sung sướng ôm lưng người tình, ngả đầu vào vai chàng:

     - Em thương quí anh, Hiếu!

     Xiết chặt vòng ôm, Hiếu ngọt ngào đáp lại:

     - Anh cũng vậy, vẫn để ý và mến thương em nhưng chưa có dịp mở lời!

     Mỹ Hạnh ngước lên, chớp mắt nhìn người yêu và Hiếu đặt lên môi nàng nụ hôn nồng nàn, nóng bỏng. Làm lỗi nhịp con tim, hơi thở trở nên đứt khoảng vô chừng. Biết không thể dừng lại nơi đây, chàng đưa chân khép nhẹ cánh cửa và vòng tay gài chốt ngang. Cửa đóng then gài! Chàng luồn tay xuống vế định nhấc bổng bồng nàng trên tay, đặt gọn lên giường... Nhưng nàng đã hốt hoảng, phản ứng lại:

     - Ðừng anh, nhăn áo dài của em hết.

     Ðược lời như mở tấm lòng, Hiếu thì thào:

     - Không sao đâu để anh cởi giúp giùm cho.

     Miệng nói tay làm, Hiếu lần theo bên hông cởi khuy móc rồi bật từng nút bóp chạy dọc lên nách, cổ... Mỹ Hạnh đành ưng chịu, cong tay lại cho chàng dễ kéo ra. Một tay nữa, xong, chàng thảy nhẹ chiếc áo dài lên bệ đầu giường. Chàng lại cúi xuống định bế nàng lên lần nữa nhưng bị nàng vùng vằng, loạng choạng làm hai đứa cùng ngả ngang. Càng hay, chàng chỉ nhấc nhẹ cặp đùi thon, nàng đã nguyên con trên giường. Rồi trườn lên người nàng hôn lấy hôn để lên má, lên môi, lên phần ngực trần không che dấu bởi lần áo sú-cheng. Nàng đã chết điếng, đã mê man, không màng giãy giụa nữa. Chàng không mấy khó khăn tháo gỡ những thứ lỉnh kỉnh ở phần dưới của thân nàng và của chính mình rồi ra công lục lọi, tìm kiếm, mân mê. Ðể sau cùng... "ái..., anh... ơi...," nàng khẽ kêu lên rồi lịm vào cơn khoái lạc tột cùng của nhục cảm giao hoan...

    

     Ánh nắng xế trưa vàng hanh lụa bóng, lấp lánh đầu cành. Con rạch nhỏ chảy ngang cây cầu ván dẫn vào nhà, quành trở lại bao bọc liếp vườn có hàng sầu riêng cao lớn như đang vẻ lên một vòng cung tráng bạc. Dưới tàn che râm mát, con nước tháng năm xem chừng mát mẻ, trong trẻo hơn ngày thường, tuyệt nhiên không vẩn đục phù sa như những lúc mưa tuôn. Bên chòm lau lách, một con cá ăn rong vụng về gợn lên những vòng tròn lan rộng, lăn tăn trải ra trên mặt nước. Xuyên qua những cành khô chắn lối, một vài chiếc lá ngập ngừng trôi...

     Rón rén lại đứng gần bên Mỹ Hạnh, âu yếm choàng tay ôm vai nàng, Hiếu đẩy nhẹ cánh cửa sổ còn lại ra ngoài, nhẹ nhàng buông tiếng:

     - Ði em, đi ra ngoài để không thôi ngoại hỏi!

     Trong hoang mang chẳng biết ruột gan, tim phổi mình rồi sẽ có bịnh hoạn gì nữa hay không, Mỹ Hạnh nói lẫy:

     - Anh làm em... thân thể như thế nầy, em không đi ra đâu, em ở luôn trong nầy thôi!

     Qua cuộc ái ân chớp nhoáng vừa rồi, quả không biết thế nào là hiến dâng thế nào là chiếm đoạt! Mà thử hỏi, Hiếu nghĩ, nếu người con gái không chấp thuận thì chắc hẳn người con trai có làm mọi cách đi nữa cũng bằng thừa. Trường hợp của Mỹ Hạnh, chỉ cần một tiếng... "ngoại ơi...," thì chàng sẽ đương nhiên bỏ cuộc, chạy làng ngay. Nhưng dù thế nào đi nữa chàng cũng vẫn phải hoàn toàn gánh chịu mọi tội lỗi của một cuộc trao thân, gần gũi. Cố tìm cách làm cho Mỹ Hạnh giải khuây, chàng chỉ tay lên cành cây xanh lá, nói đùa:

     - Ơ kìa, em có thấy trái sầu riêng muộn màng, đương chín cây ửng vàng trên cành đó không?

     Mùa nầy thì còn sầu riêng chín cây cái nông nổi gì nữa, vậy mà Mỹ Hạnh cũng đưa mắt ngó theo, hờn dỗi:

     - Ừa, đó chính là trái sầu... sắp rớt rụng của riêng em!

     Ðể chọc Mỹ Hạnh cười, Hiếu pha trò:

     - Giỡn hoài! Ðể anh chạy ra đó hái luôn trái sầu... của riêng em, không, của chung của hai đứa mình, mà cùng ăn cho đã! Ði em, mau lên...

     Hiếu nắm lấy tay lay nhẹ Mỹ Hạnh và nàng rã rời chầm chậm lê bước theo chàng. Hiếu tự biết mình có trách nhiệm và bổn phận rất lớn với Mỹ Hạnh, vì kể từ bây giờ, nàng đã thật sự là người thương bé nhỏ của chàng...

   back to top

07. NHẮC CHUYỆN NGÀY XƯA

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Theo độ lơi của những tàu dừa đong đưa trong gió, vài giọt nắng thỉnh thoảng hắt xuống nền xi-măng, như báo hiệu một buổi chiều cuối hè sắp về trên con hẻm cụt. Mọi người rồi phải hối hả lo tắm giặt, cơm nước, rửa chén rửa bát trước khi chung quanh mình, bỗng chốc, trở nên nhá nhem tối. Xóm lao động nào cũng vậy, chỉ cần mặt trời khuất dạng đằng sau dãy nhà lụp xụp phía hiên Tây thì cảnh đời sẽ đổi thay ngay, tuồng như thêm phần u ám, tối tăm. Từ đầu ngõ đến cuối hẻm, đám trẻ con, người lớn, cho đến ông già bà cả, ai cũng như ai đều thoáng hiện trên gương mặt mình những nét buồn buồn. Phản ảnh của số phần nghèo đói, khó khổ. Ngay như Hiếu là kẻ ở trọ cũng vậy, chàng cảm thấy buồn lây. Bởi vì, dĩ nhiên, phương diện tài chánh của chàng cũng không lấy gì làm khá cho lắm.

     Nhưng, được một điểm là ở cái tình bà con xa không bằng láng giềng gần , chòm xóm yêu thương, quí mến và đùm bọc lẫn nhau. Mỗi lần ở trong hẻm có giỗ quảy hay đám tiệc thì không khí xung quanh có phần ồn ào, vui vẻ ra phết. Chẳng khác chi một ngày hội hè, đình đám chung cho cả xóm. Không giống như bên kia Sài Gòn đất hẹp người đông, mạnh ai nấy sống. Có khi trong nhà có đám ma mà người ở kế cận, kề bên không hề hay biết nữa kìa.

     Cũng may là sau cơn binh lửa, biến cố Mậu Thân, ngôi nhà của anh chị Phương Thảo-Hữu Phúc vẫn còn nguyên. Nói còn nguyên thì cũng không đúng lắm, thật ra, chỉ bị cháy xém một góc trái. Nói có trời, thiệt, phước đức ông bà còn để lại! Vì ngó ngược, dòm xuôi nhà cửa của người ta bị bỏ bom xăng đặc cháy sạch trơn, không còn một cây cột làm thuốc. Nguyên cả xóm Rác chạy tuốt ra đến tận dốc cầu Chữ Y! Bên kia Chánh Hưng cũng vậy, xóm Lò Heo, Lò Bò cũng bị trận hỏa công trên sông, không phải Xích Bích mà là Bến Nghé, thiêu rụi chẳng còn manh giáp. Rồi nghe nói trong xóm Chà Và, cầu Nhị Thiên Ðường, chạy vòng vô mũi dùi Phú Lâm cũng không thoát khỏi tay thần hỏa, một phụ thần của thần chiến tranh.

     Ôi thôi, sau một thời gian dài nhóc nheo trong trại tị nạn, trại tạm cư, dân chúng đã tuần tự được cấp phát cho một số vật liệu để cất lại nhà mới trên nền nhà cũ nám đen nám đỏ. Bây giờ chỉ cần nhìn những căn nhà lợp tôn lạnh, làm bằng nhôm sáng loáng của Mỹ, thì đủ biết gia đình đó không thoát khỏi cảnh "ba lần dọn nhà" trong trận chiến thí dân, giết Việt Cộng vừa qua. Với số bồi thường tương đối đó, những người chỉ có mái lá xập xệ, trống trước hở sau, coi như là đi lên trong khi những ai có mái tôn dợn, gác lửng hoặc hai từng, thì kể như đi xuống. Ðời là vậy! Chỉ có những kỷ niệm vui buồn khó quên, những hình ảnh đẹp xấu khắc ghi trong tâm khảm của mình thì không có gì thay thế được.

     Cũng chính trong hoàn cảnh đó mà giang sơn của Hiếu, ròng rã ba năm hơn nếu tính đến những ngày vào thu cũng như sắp sửa đến mùa tựu trường này, đã chẳng có gì đổi thay! Vẫn chiếc divan ộp ẹp, lên nước bóng như thoa mở kê sát vách phía trước, và chiếc bàn con khi thì làm bàn học, khi thì làm bàn ăn, nằm quay mặt vô vách hông. Kế một bên là cái cửa sổ lá sách có những cây song tròn thẳng đứng trông ra một hàng hiên tráng xi-măng, bao bọc bởi một hàng rào làm bằng cây ép lép, mũi vạt nhọn. Khoảng sân trước này không rộng lắm, vì nếu có chiếc Vespa của Hiếu dựng xuôi theo vách thì chỉ còn đủ chỗ để kê một bàn cờ tướng cho hai tiên ông ngồi đấu trí, hoặc một bàn nhậu dã chiến làm bằng ván thông thùng đạn, hình hộp chữ nhựt, với những ghế ngồi thấp lè tè mặt đất...

     Dưới ánh sáng lờ mờ, tranh sáng tranh tối của một ngày sắp tàn, Lục Hà lựa một miếng lớn trong dĩa bao tử khìa và thịt phá lấu, mới mua ngoài tiệm ba tàu hồi nãy, gắp bỏ vô chén Hiếu:

     - Làm mạnh vô đi chú em, không mấy thuở anh em mình gặp nhau!

     Ừa, không mấy thuở gặp nhau thiệt! Kể từ ngày anh Lục Hà thu xếp hành trang đi đóng đồn trên miệt cầu Bình Lợi, Hiếu nhủ thầm! Dạo trước, lúc ảnh còn làm ở tiệm điện, thì thôi hà rầm, ngày nào ảnh cũng rủ chàng đi chơi không chỗ này thì chỗ kia, hoặc đi nhậu với bạn bè hay người cùng làm một hãng.

     Duy chỉ có chị Bạch Tuyết là Hiếu chưa gặp mà thôi chớ còn anh Lục Hà, anh Hoàng Hoa, em trai kế của chị Phương Thảo, thì chàng đã gặp rồi. Giữa hai người anh bà con khác họ kia, chàng vẫn thích anh Lục Hà hơn. Không phải ở chỗ anh cao ráo, dễ nhìn mà thật ra ở cách cư xử, đối đãi với nhau. Tuy cả hai đều khoác lên mình chiếc áo chiến binh, nhưng một người chỉ là lính trơn, thuộc hàng ngũ địa phương quân, và một người là sinh viên trường Võ Bị, trước sau gì cũng được làm quan trong quân đội chính qui. Một đàng là trừ bị, có thể giải ngũ sau khi phục vụ hết nhiệm kỳ, còn một đàng là hiện dịch, ở lính suốt đời vì nghề chuyên môn là nghề đánh giặc.

     Mặc dầu anh Hoàng Hoa ăn nói có phần văn hoa bóng bẩy hơn, dân bảy năm trung học Nguyễn Ðình Chiểu và có Tú Tài đôi mà, nhưng theo ý riêng của Hiếu, vẫn không hấp dẫn bằng lối kể chuyện bình dân, thiệt thà, mộc mạc của anh Lục Hà, một nông dân tay lấm chân bùn. Mà cũng kỳ lạ, chẳng biết hai bác Sáu nghĩ sao mà lại cho con trai trưởng đi làm ruộng và con trai thứ đi học đàng hoàng, đến nơi đến chốn. Chắc ổng bả định cho anh Lục Hà nối nghiệp cha ông thì phải? Gì chớ nối nghiệp nhà nông thì coi bộ cũng không sung sướng, hãnh diện gì cho lắm! "Hên" là ngày qua ngày, giặc giã nổi lên tứ tung cho nên anh Lục Hà mới có cơ hội chạy về thành, thấy được cái cảnh văn minh. Bằng không, chắc suốt đời anh rồi cũng quen với những "thá, ví" cùng những "móc mương, dọn vườn" và sẽ không bao giờ rời xa lũy tre làng và kể như miễn bàn đến chuyện lìa bỏ quê hương...

     Hiếu đánh "trót," cạn ly rượu đế nhỏ sau khi thưởng thức miếng mồi thơm ngon, đặc biệt, chính hiệu con nai vàng của ông Tàu phàng dậu ngoài đường cái. Không biết ổng pha chế, nấu nướng, củi lửa ra làm sao mà miếng "khìa" nhai vô miệng dòn dòn, dai dai, ngọt ngọt, cay cay... đã thiệt. Mấy thằng cha bưng mâm, bán dạo lắc xắc ngoài chợ Sài Gòn, chắc cũng phải mò tới đây đặt cho ổng làm mà thôi. Giống như bán mía ghim, trên mỗi miếng thịt cắt gọn hình con cờ đó được cắm sâu bằng một cây tăm xỉa răng cho khách thập phương dễ cầm ăn dọc đường, nghĩ lại, người nào sáng chế ra cách ăn chơi khoái khẩu đó kể cũng là một tay tổ sành điệu ẩm thực!

     Hiếu rút một điếu Capstan trong gói để trên bàn dã chiến, dộng dộng đầu lên cái hộp quẹt Zippo rồi bật lửa châm hút. Rít một hơi dài cho làn khói vào sâu tận các ngõ ngách của buồng phổi chắc nay đã đổi sang màu nâu vàng vì bị đóng nhựa từ lâu! Hương vị thuốc thơm đánh thức cả lục phủ, ngũ tạng. Rồi trong cuộn khói mơ huyền vừa thả ra, bỗng dưng, chàng có ý muốn tìm hiểu thêm nỗi lòng sâu kín của anh Lục Hà:

     - Hỏi thiệt anh nghen, tại sao anh đang đi làm ở một chỗ ngon lành, tiền lãnh xài không hết, thế mà đùng một cái anh đăng đi lính khơi khơi như vậy hả anh Hà? Anh làm thằng em, thiệt, ngạc nhiên hết sức!

     Gắp miếng thịt vàng lườm bỏ vô chén mình, Lục Hà ngả ngửa ra sau dựa lưng vào hàng rào, ra vẻ phân vân, thở một hơi dài:

     - Chà, câu hỏi nầy coi bộ khó trả lời dữ ha! Mà nói chớ anh có trả lời đi nữa thì chưa chắc chú em mầy đã hiểu nổi, nếu như chưa biết yêu đương là gì! Vậy thì cho anh hỏi lại cái nầy, chú em mầy đã kiếm được một cô bồ nào chưa? Ðã thương một đứa con gái nào chưa?

     Úi chà, cái anh Lục Hà này bữa nay ăn nói coi bộ du dương, ướt át dữ ta! Nhưng mà, theo ý của ảnh thì phải thế nào mới gọi là bồ đây, Hiếu thầm hỏi? Bồ bịch cũng bốn năm đường bồ bịch, yêu đương cũng chín mười cách yêu đương? Tình nào thiêng liêng và thương nào nhục cảm? Hình bóng nào chỉ để nhung nhớ, tương tư, tôn thờ và thân xác nào chỉ để mân mê, hưởng thụ, nhập cuộc? Có khi nào lại được hòa trộn của cả hai? Kể từ ngày cánh cửa tâm hồn hé mở, nghĩa là con mắt biết liếc, biết dòm, hoặc kể từ ngày bắt mạch con tim, có nghĩa là bàn tay biết sờ, biết nắn, Hiếu cũng đã nhiều lần trải qua những phút giây... ngàn năm một thuở đó rồi. Tùy hoàn cảnh, với những Hoài Hương, Hồ Ðiệp, Tường Vi, Lệ Thủy... và gần đây Mỹ Hạnh, không nhiều thì ít, hình như chàng đã ra công chịu khó học hỏi và đã từng trả thuộc lòng những bài bản kia, không đến nỗi ngượng nghịu hay vấp váp ở một đoạn nào! Kể cả những khi mon men tìm đến "động hoa vàng," cũng tạm gọi là thong dong, thoải mái.

     Hiếu nửa đùa nửa thật:

     - Ối, gì chớ bạn bè, trai gái hay bồ bịch thì tụi này cũng vẫn thường rủ rê, dắt nhau đi chơi lia chia mà anh! Ðâu có gì khó hiểu hay không hiểu nổi! Anh làm như trường hợp của anh thiệt là bí hiểm, gay go lắm vậy?

     Ra vẻ trầm ngâm một hồi, Lục Hà đáp:

     - Thì cũng chẳng có gì bí hiểm, gay go lắm... mới nói! Cứ tưởng là mình hay mà ai dè hóa ra dở, cứ tưởng mình là anh hùng ai dè hóa ra bại tướng, để đến bây giờ thì... hà hà, kể như kẹt cứng, hết đường gỡ!

     Cách phân trần úp mở kia như gợi thêm tánh tò mò, Hiếu lại làm tài khôn:

     - Gì mà hết đường gỡ! Ðâu, đầu đuôi ra sao anh nói sơ sơ cho thằng em nghe coi, nếu có thể giúp đỡ anh được điều gì thì Hiếu nầy sẽ sẵn sàng xả thân lo liệu ngay!

     Tu một hơi, nốc hết cốc rượu sủi bọt trắng xóa và khè ra một tiếng như rắn hổ, Lục Hà do dự:

     - Ối, chuyện đâu có gì quan trọng mà phải kể cho chú em nghe! Quê lắm!

     Hiếu đốc xúi thêm:

     - Gì mà quê anh, ở đây chỉ có hai anh em mình mà, đâu có...

     Chàng định nói thêm là không có "ông nào, bà nào... " thì ngay khi ấy lại có tiếng của chị Phương Thảo, đang đứng ở ngạch cửa thò đầu nói vọng ra:

     - Hai đứa bây ăn uống, nhậu nhẹt gì gì thì cũng phải lẹ lẹ lên đặng còn dọn dẹp, đi ngủ! Ðừng có ở lâu ngoài đó rồi muỗi mòng, sương gió... dễ bị nóng lạnh sổ mũi, nhức đầu cảm cúm! Trời mùa nầy độc lắm!

     Lục Hà chắc lưỡi, xẵng giọng:

     - Chị khỏi cần nhắc mà, tụi nầy nhăm nhi hết chai rượu này thì thôi! Lâu lâu tui mới về một lần chớ đâu phải như hồi trước, ăn dầm nằm dề ở đây đâu mà chị lo?

     Cái chị Phương Thảo này thiệt tình, vẫn cứ coi anh Lục Hà như là... con nít ấy, Hiếu thầm trách! Anh đã hăm mấy, gần ba mươi tuổi đầu rồi mà chỉ dường như chưa bỏ được cái "tính bần cố nông," rầy em thì cứ rầy thẳng như tát nước vô mặt, không "tế nhị" gì ráo trọi. Hèn gì anh Lục Hà đã không gầm gừ sao được. Ðể cứu vãn tình thế, Hiếu xen vào, đỡ lời:

     - Chị Thảo, chị cứ lo nội bộ trong đó cho anh Phúc với mấy cháu đi, tụi em ở ngoài nầy biết bổn phận mà! Với lại chị đừng làm anh Hà cục hứng, để ảnh kể chuyện tình năm xưa của ảnh cho em nghe.

     Chưa chịu buông tha, chị Phương Thảo vọt miệng:

     - Hứ, đồ cái thằng dại gái, nói hoài không biết sửa...

     May phước, vừa nói xong chị ngoe nguẩy bước vào trong! Chắc chị nghĩ nói bao nhiêu đó thì có lẽ thằng em già đầu của chị cũng đã thấm đòn rồi! Hiếu trở lại vấn đề:

     - Rồi sao, tới đâu rồi anh Hà? Ờ, chuyện quan trọng hay không quan trọng gì cũng kể nghe chơi, anh!

     Lục Hà khép hờ cánh cửa lại cho trong nhà khỏi ai nghe, mồi một điếu thuốc hút lấy hơi, rồi buồn buồn lấy giọng:

     - Chú em mầy có thiệt muốn nghe hay không đây, hả? Nói chớ, ở đời có nhiều cái kỳ cục lắm, không thể giải thích nổi. Chuyện khó tin nhưng đôi khi có thiệt! Số là như chú em mầy cũng biết, vòng vòng mấy cái hẻm quanh đây thiếu gì con gái mê anh! Tụi nó biết anh dư sức bảo bọc cuộc đời của tụi nó mà. Chuyện cũng dễ hiểu thôi vì đâu có đứa nào thuộc gia đình cao sang quyền quí, nên tụi nó chỉ nghĩ đến chuyện làm ăn, thành vợ thành chồng, hủ hỉ với nhau. Nhưng anh không cảm được con nhỏ nào hết, từ con Bảy thợ may, con Hai quán hủ tíu, con Oanh con bà chủ góp chợ..., mà anh chỉ thương, chỉ yêu có mỗi con gái bà chủ hãng của anh thôi. Mèn ơi, con nhỏ sắc nước hương trời, chim sa cá lặn nghen chú em mầy. Mặt mày rạng rỡ, con mắt sáng như sao băng. Anh chỉ thấy có một lần mà nhớ hoài cái khuôn mặt trái soan trắng trẻo, đều đặn đó. Thêm giọng nói oanh vàng thỏ thẻ bên tai nữa! Chu mẹt ơi, chỉ có một lần, một lần đó thôi! Chẳng biết có chuyện gì cần kíp mà bà chủ của anh dẫn cô nàng đi vòng vòng xưởng máy, chỗ tụi anh đang làm. Chưa biết tên, chỉ thấy mặt qua loa thôi vậy mà từ đó anh biếng ăn mất ngủ, nhớ trước quên sau, khổ quá chú em mầy ơi! Rồi anh biết mình vói không tới, tỉ như "con chim quí thì phải ở lồng son," còn nhà mình như nhà đá nhà đạp thì biết phải tính làm sao? Thôi thì, thà đi lính chết đâu chết phứt cho rồi...

     Trời đất, thời buổi này mà còn những mối tình thánh thiện, một chiều ấy hay sao, Hiếu tự hỏi? Nếu đặt mình vào trường hợp đó thì Hiếu không thể giữ im lặng được, cho dù có "gươm vàng kề cổ" đi nữa cũng phải nói lên tiếng nói của lòng mình trước khi "rời bỏ cuộc vui" chớ! Hiếu biết anh Lục Hà nói thật và, bỗng dưng, thương xót cho mối tình thầm lặng, câm nín kia! So với mình, Hiếu cũng đã từng trải qua những ngây thơ, vụng dại nhưng chưa tới mức ăn thua đủ, dám liều thân bỏ mạng chốn sa trường như anh. Ngẫm nghĩ lại, Hiếu thấy rằng, tuy mình và có thể nhiều người khác nữa, được gọi là đám có học thức mà xem ra lắm khi hơi hạ cấp hơn nhiều, nếu đem so với cái anh Ba thợ điện đã từng tay lấm chân bùn ở chốn đồng quê ruộng rẫy này! Chuyện tình có vẻ hơi lẩm cẩm của anh bỗng nhiên gợi lại cho Hiếu những truyện tình đẹp đẽ như tranh vẽ xa xưa, chàng buột miệng khen:

     - Nói thiệt anh nghe nghen, chuyện tình của anh thằng em mới nghe qua xem chừng còn đẹp hơn cả chuyện tình Trương Chi-Mỵ Nương nữa đó?

     Như đang đắm chìm trong cái hương vị lâng lâng còn sót lại của cuộc tình không đoạn kết của mình, Lục Hà gật gù quay sang hỏi Hiếu:

     - Vậy chớ câu chuyện đó ra sao, hãy kể cho anh nghe coi?

     Cái gì? Chẳng lẽ anh Lục Hà này lại chưa từng nghe những chuyện tình có một không hai trong lịch sử văn học Việt Nam, Hiếu hỏi thầm? Những huyền thoại Trương Chi-Mỵ Nương, Giáng Kiều-Tú Uyên, Trọng Thủy-Mỵ Châu, Giáng Hương-Từ Thức, Huyền Trân Công Chúa-Trần Khắc Chung, Trầu Cau..., vân vân và vân vân! Hiếu bèn hỏi lại:

     - Có thiệt anh không biết chuyện nầy? Ừa, mà thôi để Hiếu kể anh nghe chơi cho vui. Ý, hay khoan, để thằng em làm một miếng mồi, uống một hớp rượu cho thấm giọng cái đã...

     Trong khi Lục Hà chờ đợi, Hiếu tự lo liệu cho mình và không quên nhắn nhủ:

     - Vô đi anh! Gì chớ kể "chuyện đời xưa," nhứt là có pha chút chút tiếu lâm, theo kiểu "con mẹ bán dưa, cái lờ đỏ lét, con mẹ bán bánh tét cái lờ xanh lè, con mẹ bán me cái lờ chua như dấm, con mẹ bán mắm cái lờ thúi rình...," ậy, Hiếu rành lắm!

     Lục Hà đưa cay bằng một ly rượu nữa và bàn vô:

     - Anh của chú em mầy cũng là một cây... kể chuyện đời xưa đây, chú cứ kể chuyện của chú đi rồi anh sẽ kể chuyện khác cho mà nghe...

     Ôi thôi, lại kỳ phùng địch thủ nữa rồi, Hiếu lấy làm khoan khoái! Chàng tằng hắng lấy giọng:

     - Anh sẵn sàng chưa? Nghe nghen! Ngày xửa ngày xưa có một nàng tiểu thơ đài các, con của một vị quan đại thần nào đó, được đặt tên là Mỵ Nương. Chắc cũng giống giống như con bồ mới biết mặt mà chưa biết tên của anh, nhưng không phải "con chim quí thì ở lồng son" như anh nói, đằng này cô tiểu thơ Mỵ Nương kia sang cả hơn nhiều. Ngoài ba cái điện ngọc lầu vàng, màn the trướng gấm, giường cẩm chiếu hoa, nàng còn có một lô cung nữ hầu hạ bên mình nữa. Kín cổng cao tường không ai thấy mặt chớ đừng nói tới chuyện "thỏ thẻ bên tai tiếng oanh vàng" như anh vừa kể chuyện của anh. Nhưng, ấy, bởi chữ nhưng nầy mới có chuyện nói!

     Số là có anh thuyền chài tên Trương Chi, tuy nghèo khạc ra tro nghèo ho ra máu nhưng chàng ta lại có mỗi một cái biệt tài: hát hay hổng chỗ chê! Anh mà có cái tài nầy thì kể như mười cô con gái bà chủ cũng phải mê chớ đừng nói một! Hằng ngày anh chàng Trương Chi cóc biết làm việc gì khác hơn là đi lưới cá ngoài sông. Những lúc buồn quá, vì một mình một cõi không có ai bầu bạn hết, thì anh ta cứ nghêu ngao hát chơi một mình. Vậy mà tiếng hát kia lại thấu tận cung son, làm cho nàng Mỵ Nương mê mẩn cả tâm thần, đến nỗi ngày nào vắng tiếng ca thì cô nàng sinh bệnh. Rồi bệnh càng ngày càng nặng vì ngay dạo đó anh chàng Trương Chi bỗng dưng làm biếng, nằm nhà không thèm đi đánh cá nữa!

     Quan đại thần liền cho mời các lương y chẫn mạch, nhưng không có ông tướng nào tìm ra bệnh trạng của công nương hết! Bỗng một hôm anh chàng Trương Chi buồn tình đi đánh cá trở lại và tiếng hát nghêu ngao đó cũng được dịp xa vắng trên sông! Và rồi bệnh tình của Mỵ Nương đột nhiên thuyên giảm thấy rõ. Ðoán biết con mình đang mắc chứng tương tư với tiếng hát, cho nên muốn chắc ăn, quan đại thần bèn truyền lệnh bắt anh chàng ca sĩ bất đắt dĩ đó đem về nhà để chữa trị cho con gái. Nhưng hỡi ôi, kẹt một điểm là cái thằng cha thuyền chài Trương Chi nầy xấu xí quá, xấu còn hơn Hoàng Tử Lưng Gù của nhà thờ Ðức Bà nữa!

     Trong lúc cô tiểu thơ đài các Mỵ Nương kia đã lành bệnh và quên bẵng đi anh chàng Trương Chi nghèo hèn, nắng cháy bên sông vì giấc mộng đã vỡ tan tành theo mây khói, thì ngược lại, cũng giống như anh vậy anh Hà, chàng ta chỉ thấy mặt Mỵ Nương một lần thôi mà bỗng trở nên quên ăn quên ngủ, buồn rầu ra rít tâm can. Rồi biết mình cũng không vói tới cái lầu son cao như núi đó nên sanh bệnh tương tư, cái bệnh không thuốc chữa, và chẳng bao lâu anh chàng được toại nguyện, đành buông xuôi, ngủm củ tỏi. Chỉ có cái khoảng này là không giống với trường hợp của anh thôi...

     Lục Hà xen vào:

     - Ừa, có lẽ chỉ có thằng cha Trương Chi đó mới có thể hiểu nổi hành động quái đản của anh dạo trước, chú em mầy thấy hôn?

     Hiếu nói tiếp:

     - Mà chuyện tình mê tơi, ướt át, đẫm lệ... tới đó đâu đã xong! Vì có lệnh trên bắt dời nghĩa địa, cho nên anh bạn chài cùng xóm mới đào mồ anh chàng Trương Chi lên, nhưng xương cốt đâu không thấy mà chỉ thấy một viên ngọc trong vắt như viên thủy tinh. Anh bạn chài mới để trước mũi ghe của mình làm kỷ niệm. Một hôm nọ, chính quan đại thần đi ngang qua và trông thấy, bèn hỏi mua và mướn thợ khoét thành một cái tách để dành uống trà chơi. Tưởng đâu làm khơi khơi như vậy mà ai dè cái tách đó lại rất là đặc biệt, anh biết sao không? Tại vì mỗi lần uống trà thì thằng chả lại thấy hình của anh chàng Trương Chi hiện ra ở dưới đáy!

     Ấy, tiếng lành đồn gần tiếng dữ đồn xa, riết rồi cũng tới tai cô tiểu thơ tuy đài các nhưng hay bội bạc, chỉ biết ngó lên chớ không thèm nhìn xuống những kẻ thấp kém hơn mình. Cô nàng bèn đòi xem cho được cái tách trà lạ lùng đó. Và rót nước uống thử! Quả thật, có cái hình của anh chàng hát hay mê hồn trong đó! Nàng bỗng động lòng trắc ẩn, bật khóc, nhỏ một giọt lệ tiếc thương muộn màng cho bóng dáng người xưa, tuy xấu xí nhưng tình yêu trong lòng rất tốt đẹp. Ðau khổ thay, giọt lệ tình kia đã hóa kiếp Trương Chi vì cái tách trong như thủy tinh bỗng tan thành bọt nước! Ðúng là "nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên" như một ông thi sĩ nào đó đã bắt chước, gởi gấm tâm sự của riêng mình.

     Rốt cuộc rồi, thiệt tình, coi bộ tội nghiệp cho anh chàng Trương Chi kia đã không được sơ múi gì ráo mà phải thác oan. Ai chớ chị Thảo mà nghe được chuyện nầy, thế nào chị cũng bảo, "ối, đáng kiếp cho cái thằng dại gái, nói hoài hổng biết sửa..." phải hôn anh Hà...! Hả, hả, hả...

     Lời đùa cợt của Hiếu đã không làm Lục Hà giận vì chỉ có những ai ở trong chăn mới biết chăn có rận! Ðối với anh, một nông dân đã quen mùi lam lũ bình dân, tình yêu có phải chăng chỉ là sự chăm sóc, hướng về một đối tượng nào đó của mình? Cho dù đối tượng đó không có một nét gì gọi là tuyệt vời dưới mắt của kẻ khác đi nữa! Và tất nhiên, phải có qua có lại. Vì nếu chỉ một chiều thì chẳng khác nào uổng công vun phân, tưới nước để trồng một thứ cây không bao giờ trổ hoa thơm hay kết trái ngọt. Tuy nhiên, trên đời này rồi cũng có không biết bao nhiêu người đã không quản ngại công lao để trồng những cây đu đủ đực như mình! Câu chuyện tình Trương Chi-Mỵ Nương mà Hiếu vừa kể quả đã đem đến cho anh một lời giải thích rất hùng hồn, chính đáng cho những kẻ đồng bệnh tương lân, đồng tình khắn khít, đã dám ngang nhiên độc hành trên con đường tình hun hút thẳm sâu...

     Nói gì thì nói, Lục Hà cũng biết rất nhiều chuyện đời xưa, về những con vật quen thuộc luôn luôn sống kề cận, gần gũi với con người như trâu ngựa, muỗi mòng, chim chuột. Bỗng, "đét," anh vừa đập thẳng tay một con ăn hại vừa tấn công trên ống quyển của mình! Ê, tại sao không góp chuyện kể cho Hiếu nghe chơi một thể? Tuy không lâm ly, bi đát nhưng...

     - Nè, chú em mầy có biết sự tích con muỗi... vừa mới chích anh một cái đau điếng hay không?

     Chẳng biết có phải vì bị ảnh hưởng do bởi lời nói của anh Lục Hà hay là vì tự kỷ ám thị tức suy bụng ta ra bụng mình mà Hiếu cũng giơ tay đập đánh "bẹp" một cái bên bắp vế của mình, lên tiếng ra vẻ muốn nghe:

     - Chưa từng biết! Ðâu anh kể nghe thử coi ra sao...

     Lục Hà cắt ngang:

     - Hừ, kể thì kể nghe thiệt chớ kể nghe thử cái gì? Chuyện nầy có sách, có vở đàng hoàng à nghen chú em!

     Lục Hà gắp một miếng mồi bỏ vô chén, lùa vô miệng nhai ngấu nghiến! Không quên nhắc Hiếu:

     - Vô nữa đi chú Ba mầy! Ðừng chờ anh, cứ tự tiện đi nghen...

     Uống thêm cốc đế nữa cho ấm dạ, Lục Hà tiếp:

     - Ðể anh kể sơ cho nghe là hồi đó có một anh chàng thương buôn mới cưới vợ. Con vợ của nó tên là Nhan Diệp, Nhan Hồi gì gì đó lâu ngày quên mất rồi. Khác với tánh anh chồng tối ngày cứ lo chí thú làm ăn, cô vợ trẻ đẹp của anh ta thì lẳng lơ trắc nết, hết liếc dọc liếc ngang người nầy thì dòm tới ngó lui người kia. Tưởng là hai vợ chồng ăn ở với nhau cho đến lúc đầu bạc răng long, ai dè chưa đầy một năm, một hôm bỗng cô nàng ngã lăn đùng ra "đi bán muối" bất đắc kỳ tử. Anh chồng thương tiếc vợ mình quá xá nên không muốn làm đám ma, đào lỗ đem chôn. Anh bèn bán hết sự sản rồi sắm một chiếc thuyền con, bỏ xác vợ lên đó mà chèo tuốt lên nguồn. Một hai ngày sau anh ta đến một nơi xa lạ, hai bên bờ toàn là kỳ hoa dị thảo, núi đồi điệp điệp trùng trùng. Anh tấp vô bờ và gặp ngay một ông lão râu tóc bạc phơ, chống gậy trúc trông có vẻ tiên phong đạo cốt, cho nên bèn sụp lạy, van vái, và nhờ cứu mạng con vợ hiền...

     Như đoán được phần nào đoạn sắp tới của câu chuyện, Hiếu xen vào:

     - Ðúng là chuyện đời xưa, chắc có người chết đi sống lại...

     - Ừa, thì phải có vậy! Nhưng mà trước khi cứu, ông tiên có dặn dò anh thương buôn là nếu lỡ mai sau không được toại ý thì đừng có trách ổng, nói rồi ổng biểu phải làm như vầy như vầy và biến mất. Biết thằng cha đó phải làm cái gì không?

     Hiếu chẳng nói chẳng rằng, lắc đầu nguầy nguậy. Lục Hà kể tiếp:

     - Theo lời dặn dò của ông tiên, anh chàng bèn chích đầu ngón tay mình nhỏ xuống miệng con vợ ba giọt máu hồng, và quả là ông trời vì xót thương cho duyên tình nặng nợ, bèn cho con vợ của nó sống lại thiệt mới chết chớ! Anh ta mừng quá, chèo thuyền quay trở lại quê xưa. Vài ba ngày sau anh tấp vào một cái chợ ven sông để mua thức ăn cho vợ thì bỗng có một thương gia giàu có, cho ghe hầu to lớn của mình đậu sát một bên. Thấy người đàn bà trẻ đẹp nên y có ý muốn dụ dỗ, bèn cho kẻ thân tín sang mời cô nàng qua ghe mình dùng trà, rồi âm mưu biểu bộ hạ chèo ghe ra khơi dông mất. Lúc mua đồ ăn xong đâu đó, anh thương buôn nghèo khó trở lại với người vợ yêu quí của mình thì mới hay nó đã ôm cầm sang thuyền khác hồi nào không hay, kể như từ đây bặt vô âm tín. Anh ta chèo tới chèo lui trên con sông đó cả tháng trời mới tình cờ bắt gặp bóng dáng con vợ mình trên ghe thằng cha giàu có nhưng dâm loàn, gian ác kia. Anh ngỏ lời khuyên bảo con vợ cũ hãy trở về với mình, nhưng con đàn bà lẳng lơ trắc nết kia đã quen mùi nhung lụa, quen miếng đỉnh chung đâu màng đến thằng chồng cũ nghèo khó của mình. Biết con vợ tham quý phụ bần đã hết phương chạy chữa, anh ta mới nhắn nhủ một câu, rằng, "mình muốn bỏ tui thì mình cứ bỏ, nhưng tui xin mình hãy trả lại cho tui ba giọt máu mà tui đã nhỏ ra để cứu sống mạng cho mình." Úi chà, con nhỏ nghe vậy tưởng bở, đáp liền, "sá gì ba giọt máu đó mà mình đòi tới đòi lui, đây, để tui trả lại liền." Nói rồi nó cũng lấy dao chích vào đầu tay nhỏ ra ba giọt máu hồng... Nhưng mà, trời bất dung gian đảng, khi ba giọt máu tươi vừa nhỏ xuống thì cô nàng bỗng trợn trừng đi chầu Diêm chúa, biến thân xác hèn mọn của mình thành một con vật bé tí teo bay vo vo bên tai chồng năn nỉ xin lại những giọt máu cứu mạng. Biết con vợ trật bàn đạp, sút dây sên này hay lật lọng như Việt Cộng, nên anh chồng không chịu cho, làm cô nàng cứ phải xông vô, lén lén chích mũi kim... xin tí huyết. Ghét cái thứ lăng loàn, không nên nết, anh chồng nổi giận thẳng tay đập đánh "đét" cho chết dẹp lép luôn... Hả hả hả...

     Hiếu không ngờ anh Lục Hà, người đã sống thâm niên cố đế ở vùng đồng quê cỏ cháy, lại kể chuyện đời xưa có duyên như vậy. Lớp lang đâu ra đó, nghe bắt hấp dẫn thiệt. Chàng nửa định muốn kể thêm những chuyện cổ tích có tính cách lịch sử hoặc những chuyện tình lãng mạn thần tiên, nhưng chàng lại nửa muốn nghe anh ấy kể thêm những chuyện khác mà mình chưa biết. Hiếu đưa hơi:

     - Hồi nãy anh nói anh biết sự tích của nhiều con vật ở đồng quê, vậy anh coi có con nào hay hay kể tiếp nghe chơi!

     Lục Hà tình thật:

     - Ối, thiếu gì! Chuyện con cóc, con sam, con bìm bịp, con tu hú, con chim cú, chim ục, chim mèo... Ừa, mà để anh chú mầy kể cho nghe chuyện con chim nầy... lạ lắm. Ê, nhưng mà đừng có nghĩ bậy nghen chú em, chưa gì mà đã cười ngỏn ngoẻn như vậy thì chết rồi...

     Hiếu bỗng bật cười thành tiếng:

     - Ha ha ha... thì chim nào cũng là chim! Chim mẹ, chim con, chim trống, chim mái, chim mập, chim ốm... và rồi ngay cả cu cưởng, sáo nhồng, chằng nghịt, ốc cao, võ vẽ, thằng chài... đều cũng đem quay chảo với nước dừa xiêm, chấm muối tiêu được hết mà...

     Lục Hà phân trần:

     - Ý, đâu phải vậy, cái nầy có tuồng tích đàng hoàng! Hồi xửa hồi xưa, có hai chị em đó con nhà nghèo, tuổi khoảng mười hai mười ba gì đó, gia đình cư ngụ bên một cái xẻo nhỏ nằm sát bên bìa rừng tràm thăm thẳm bề sâu. Một chiều nào tắt nắng, hai chị em dắt nhau ra bờ rạch để tắm. Sau khi tắm rửa sạch sẽ cho thằng em trai của mình thì con chị mới nhờ nó múc nước xối lên người, kỳ lưng. Cái thằng em lại cắc cớ vừa kỳ lưng và vừa nghịch với hai vú của chị mình. Con chị nhột quá, mắc cở, tức giận rầy la, "tại sao mầy chơi gì kỳ vậy hả, để lát nữa tao về tao mét má đánh đòn cho mầy coi." Nói xong con chị còn quơ roi rượt thằng em nữa, làm nó hoảng sợ chạy tuốt vô rừng. Con chị tiếp tục đuổi theo với mục đích bắt nó lại, dẫn nó về nhà, nhưng chạy không kịp. Càng lúc càng vô sâu trong rừng và cây tràm, cây đước càng ngày càng rậm làm hai chị em lạc đường không tìm được lối ra. Ðể sau cùng phải chết và hóa thân thành hai con chim mà người đời sau đặt tên là chim qui. Loài chim nầy đặc biệt chỉ xuất hiện vào ban đêm, từ chạng vạng tối cho đến hừng sáng thôi. Còn ban ngày thì vắng bóng, không ai tìm ra chúng ở đâu hết. Ðể ám chỉ những kẻ chuyên lấy đêm làm ngày như những phường xướng ca vô loại hoặc bầu đoàn thê tử cải lương chẳng hạn, người đời có câu nói rằng đôi ta như thể chim qui, đêm nghe thấy tiếng ngày đi phương nào . Thứ chim qui này thường sống từng cặp, một trống một mái, trong một vùng riêng rẽ. Cứ chiều chiều khi mặt trời khuất bóng thì nó bắt đầu kêu, hai con ở hai bìa rừng cách nhau thật xa, giống như hai chị em đã lạc bước ngày xưa, người một nơi kẻ một nẻo. Nhưng rồi như hai đứa cũng chịu khó nghe ngóng, bắt được tiếng với nhau nên xáp lại gần hơn, gần hơn cho đến hừng đông thì im tiếng trở lại, kể như chẳng bao giờ giáp mặt. Có điều tiếng kêu của hai con chim nầy nghe não nùng, ai oán lắm. Ai mà để ý kỹ càng mới thấy con mái, tượng trưng cho con chị, cất giọng như năn nỉ ỉ ôi, cứ mong sao cho thằng em mình đừng hờn mát nữa mà chạy trở về, đến nỗi không thiết tha gì đến lầm lỗi khi xưa của nó, tha thứ hết và rằng thì là "... bóp thì bóp,... bóp thì bóp,..." Vậy mà con chim trống, tượng trưng cho thằng lõi vẫn còn giận dai như đỉa đói đó, cứ trả lời lại bằng những tiếng kêu ngắn ngủn, nghe như "... không bóp,... không bóp,..." mới là khổ đời đi chớ...

     Chẳng biết anh Lục Hà có cái khiếu bẩm sinh hay là sau một thời gian hơi dài sống ở Sài Gòn, đủ để anh học hỏi lối nói chuyện có vẻ lôi cuốn quyến rũ người nghe, đến nỗi Hiếu phải thở dài:

     - Câu chuyện nghe cảm động quá hả anh Hà? Mà tài kể chuyện của anh kể ra cũng hay lắm nghen, tưởng chừng như chuyện có thiệt đang xảy ra ở ngoài đời...

     - Trời đất, hổng thiệt sao được chú em mầy! Nói tới chuyện học hành thi cử thì thằng anh Ba của chú dở thiệt, chớ còn ba cái chuyện đời xưa, tam cung lục viện, thì anh Ba của chú không đến đỗi nào, người ta tới đâu kẻ hèn này tới đó... Hả hả hả...

     Hiếu cầm chai rượu rót những giọt cuối cùng vào ly, đưa mắt ngó chừng anh Lục Hà:

     - Sao anh Hà, anh muốn thôi hay là làm thêm nữa, nói cho biết đặng thằng em xách chai chạy đi mua? Cái điệu nầy tối nay coi bộ sẽ ngất ngư con tàu đi à nghen!

     Ðột nhiên, Lục Hà đề nghị:

     - Nè, bây giờ chú em mầy có muốn "bóp" thứ thiệt không vậy? Anh Ba chú lâu ngày mới được về Sài Gòn một lần, muốn đi xả xui một chuyến! Ði nghen, anh còn nửa tháng lương đây! Phải chơi cho mút chỉ cà tha một bữa coi tình đời nó đen bạc đến mức nào! Với lại, biết đâu lại được thời, đổi gió cho diều lên hương một phát...

     Ối chao, cái anh Lục Hà này lại hứng tình bất tử nữa rồi, Hiếu nghĩ thầm! Nam vô tửu như kỳ vô phong , không có rượu vô coi bộ ai cũng xếp ve một chỗ, nhưng mà hễ sần sần vô rồi, nếu không rượu vào lời ra thì chém cha cũng hay sanh tật cương ẩu! Hèn gì hai chữ rượu chè, trai gái thường hay đi đôi. Tại sao phải đi kiếm đàn bà đặng... xả xui? Cái anh này kỳ! Nghe sao tội nghiệp cho số kiếp hồng nhan quá vậy cà! Mà nói chớ đừng có ham, đi đêm có ngày gặp ma, xả xui hay rước xui thì cũng năm mươi trên năm mươi phần trăm vậy thôi. Bể bong bóng, nổ ống khói có ngày! Hiếu đã từng bị rồi nên hơi ngán, gãi gãi đầu:

     - Bây giờ khuya lơ khuya lắc rồi thì biết chạy đi đâu?

     Lục Hà lẹ làng:

     - Thì cứ chạy ra phía cầu Hàng, cầu Tân Thuận, miệt Tôn Ðản nầy cho gần! Chỗ nào cũng vậy, đi đi thầy Ba, đi ở đây đi cho em nhờ... Ê, hay là ngay bây giờ anh em mình bắt đầu thu dọn chiến trường đi là vừa...

     Hiếu gắp miếng mồi cuối cùng bỏ vô miệng rồi cẩn thận, nhẹ nhàng chồng lên mớ chén dĩa, đũa muỗng cho khỏi khua tiếng động. Chàng hỏi thêm:

     - Anh có rành đường đi nước bước ở xóm tạp nhạp bên đó không, thằng em chưa có qua đó lần nào. À, cái điệu nầy phải đẩy chiếc xe cà tàng ra tuốt ngoài đầu ngõ rồi hãy nổ máy, để không thôi chị Thảo hay anh Phúc nghe được thì phiền lắm nghen anh Hà...

     Ðẩy nhẹ cánh cửa vào bên trong đầy bóng tối, Lục Hà và Hiếu rón rén đi nhè nhẹ ra sau nhà bếp, bỏ mớ chiến lợi phẩm vào thau và đổ nước vô ngâm. Giờ này vợ chồng con cái của... gia chủ chắc đã đầm ấm trên căn gác lửng rồi. Lại phải rón rén trở ra hàng ba, nhích tới nhích lui mới dời chiếc xe Vespa ra khỏi hàng rào. Xa xa một chút Hiếu mới đưa chân đạp máy. Ngoài lộ cái giờ này cũng còn lắm xe cộ chạy vù vù, nhứt là xích lô máy và xích lô đạp. Tuồng như những con vạc đã thay thế những con cò, tiếp tục đổ ra đường kiếm ăn đêm. Ðến dốc cầu Chữ Y, Hiếu giữ lề chạy thẳng tới đường Trần Xuân Soạn, dọc theo kinh Tẻ.

     Ánh trăng thượng tuần rơi bàng bạc trên Rạch Ông, lấp lánh trong cơn gió đêm hè nhẹ lùa sóng nước lăn tăn, trông tựa hồ như con rồng vàng dát nhiều vảy bạc. Hai bên bờ lau sậy um tùm đầy bóng tối, làm nền cho bức bình phong như những vầng mây đen u ám bao quanh lấy thân rồng uốn khúc, vờn quanh. Móng vuốt là cây cầu nhỏ phía đằng này và cái đuôi lúc ẩn lúc hiện phía xa xa, nhạt nhòa trong vũng sâu đầy cỏ lát. Cái khí trời thanh thản, lành lạnh về đêm nhắc nhở mọi người liên tưởng đến cảnh non bồng nước nhược. Với những bầy tiên nữ xiêm y rực rỡ như những cách hoa đào đương độ vào xuân, luân vũ khúc nghê thường thoát tục, chào đón anh Lục Hà và Hiếu, chẳng khác nào như Lưu Thần và Nguyễn Triệu ngày xưa, đang trên đường lạc bước nhập thiên thai...

     Quả đúng vậy, vì sau năm bảy lần quành tới, quẹo lui trong xóm nhà lá mà phần lớn nay đã hóa ra "lầu xanh," Hiếu đã nghe tiếng véo von của những nàng kiều nữ. Và một tiếng nói nổi hơn, nghe hơi rổn rảng hơn:

     - Mèn đét ơi, sao lâu quá không thấy tới vậy cha nội? Bộ tính chạy theo con đĩ chó nào rồi trốn biệt luôn hả? Ðịnh bỏ tui cù bơ cù bất ở chốn bùn dơ, nước đọng nầy thiệt hay sao đây?

     Chỉ cần bao nhiêu đó thôi cũng đủ làm cho tấm thân... sắp sửa làm thầy giáo của Hiếu từ thượng giới té xuống hạ trần, dính bê bết từ trên đầu xuống tới chân mùi tục lụy. Vậy mà sau khi ngồi ké một bên võng với người đàn bà sồn sồn và to tiếng kia, anh Lục Hà cũng không màng thương xót, thẳng thừng:

     - Ði đi em, cứ lục lọi xem có đứa nào xinh đẹp, vừa mắt thì ưng! Ðể anh gạ gẩm cái con mụ tú bà đang động cỡn này cái đã.

     Bỗng, trong buồng có tiếng con gái nói cười, the thé vọng ra:

     - Ê anh Ba, bộ bữa nay anh chở em anh tới đặng cho ảnh khai cu đó hả? Lại đây cưng...

     Hiếu chưa kịp lấy lại tinh thần thì con nhỏ mặt mày còn non choẹt, búng ra sữa đó đã nhảy lên câu cổ chàng và hăm he dở ngón nghề trong bảy ngoài ba:

     - Nói thiệt cho cưng nghe nghen, phân nửa con trai ở Sài Gòn nầy là do một tay em phá trinh đó! Bảo đảm không đã không lấy tiền!

     Trời đất thánh thần thiên địa quỉ ma ơi, các ngài làm ơn ngó xuống mà coi cái con đĩ mén lẻo mép già mồm, ăn nói trơ trẻn không có một miếng chảng vừng này, chàng than thầm! Vừa vừa thôi chớ em! Một phần hai con trai Sài Gòn thì chắc hẳn thân em đã tan tác, rách te tua như... cái mền rách rồi chớ nào có còn nguyên vẹn mảnh hình hài mà hòng đứng đây dở trò môi mép, dụ dỗ anh vào con đường oan khiên, nghiệp chướng! Ô hay, chẳng biết trong cảnh trái ngang này Phật, Chúa, Thánh, Thần... phải xử sự ra sao, nhưng với cái thân tâm phàm tục hiện thời của Hiếu, thì hình như chàng không tìm đâu ra lối thoát, đành phải thúc thủ buông xuôi mà thôi. Bởi vì, như sách có câu:

     Bồn bồn nấu với cá trê
     Mấy đời con củ mà chê cái lờ


     Bằng chứng là, không cần phải lôi kéo xền xệc trên sàn nhà, con nhỏ chỉ nhẹ nhàng nắm lấy tay chàng, truyền qua một chút ma lực của Cửu âm chân kinh, thì chàng đã ngoan ngoãn vâng lời, vội vàng thả mình băng qua chốn... mười phương. Ừa, mà nhìn đi nhìn lại con nhỏ kể ra cũng có dáng dấp dễ thương...

   back to top

08. DỄ ÐỨNG, KHÓ NGỒI...

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Cơn mưa chiều lặng lẽ nhẹ rơi, phủ xuống thành phố Sài Gòn thân quen một màu u buồn xẩm đục, ẩm ướt nhạt nhòa. Bên mái hiên ngoài, những hạt mưa lâm râm buông mình xuống vỉa hè tí tách như những tiếng nhạc mơ hồ xa vắng. Xịch ra một chút, từng đám, những giọt mưa trắng xóa ùa nhau chạy theo cơn gió giạt, vỗ lách bách trên mặt đường đen nhánh loáng thoáng nước mưa, bóng láng như vừa được phết lên một lớp sơn mỏng. Lềnh bềnh trong vũng nước cạn rải rác đó đây, những chiếc bong bóng tượng hình, trôi nổi, rồi vỡ ra liên tục không ngừng. Ðối diện bên kia đường, sau màn xe cộ thoi đưa và hàng cây thưa rũ lá, một vài nhà đã lác đác lên đèn. Cảnh chiều buông, đêm đến vẫn luôn luôn mang một ý niệm lắng đọng u hoài, huống hồ đang chìm đắm dưới cơn mưa lê thê rả rít, đã làm tâm hồn Hiếu bỗng thêm trống vắng, cô đơn.

     Im lìm trong quán chè thạch, Hiếu không thể làm gì khác hơn là lẳng lặng dõi mắt trông ra đường Phan Ðình Phùng, suy nghĩ viễn vông. Chàng vẫn thường hay đến tiệm Hiền Khanh này, không phải vì chè thạch ở nơi đây mát hơn các nơi khác. Cũng không phải hương vị cà phê nơi đây đậm đà hơn các nơi khác. Mà đơn giản chỉ vì cách bày biện và cái không khí chung quanh xem có phần trang nhã và ấm cúng, tình tứ và lãng mạn. Nhất là đối với những ai ưa thích, ham chuộng chữ nghĩa văn chương. Với các bài thơ ngắn bốn câu, tám câu dán mắc khắp trên tường. Mặc dầu hầu hết các bài thơ kia chỉ là những trao đổi, thù tạc giữa các văn nhân thi sĩ và đôi khi của chính chủ nhân, nhưng nhiều lúc cũng trùng hợp với tâm tình người đọc. Kể cả những người đọc còn rất trẻ như lũ bạn của Hiếu nữa! Ðể rồi, biết đâu, vì sự ảnh hưởng sâu xa trong tiềm thức mà trong tương lai, một ngày nào đó, bọn chàng lại sẽ không là những mặc khách tao nhân?

     - Xin lỗi, ông có muốn dùng chi nữa không?

     Giọng cô em "bắc kỳ nho nhỏ" thứ thiệt đã cắt đứt dòng suy tư của Hiếu. Chẳng biết cô em có phải là con gái cưng của gia chủ hay chỉ là người thuần túy giúp việc trong nhà, nhưng thoáng qua mắt chàng, cô bé chiêu đãi viên có nhiều nét dễ thương, hấp dẫn. Với dáng dấp mảnh mai ốm yếu, điều kiện trước tiên của những người đàn bà được xem là đẹp. Cộng thêm khuôn mặt trái soan đều đặn và đôi mắt bồ câu ươn ướt... đoán chừng chắc chỉ học đến hết ban trung học đệ nhất cấp là cùng, đã làm trái tim chàng hơi ngất ngây, rung động. Giọng nói nhỏ nhẹ và trong trẻo kia, hẳn nhiên, chỉ có nghĩa là mời mọc chớ không hề có ý đuổi khéo. Chàng ra chiều từ tốn:

     - Có lẽ tôi còn phải ngồi ở đây lâu, cô cho tôi xin một ly cà phê sữa nhỏ nữa!

     Trong ánh mắt của người đẹp như thoáng hiện một câu hỏi ngây ngô, rắng mắc tuồng như "ngồi ở đây lâu" vì mưa hay là đang chờ đợi một người nào? Nhưng rồi cô nàng chỉ giản dị:

     - Dạ...

     Một tiếng "dạ..." tuy rất ư là thông thường, nhưng với Hiếu, chàng có cảm tưởng như vẫn còn ngân vang, kéo dài ra mãi tận đến bên tai chàng, khi cô em hơi cúi người thu lại mớ ly tách, dĩa muỗng. Ðể lộ ra khoảng da thịt hơi hở hang một bên hông, dưới đôi tà áo dài úp mở rất là học sinh. Áo trắng phủ da trắng, và cả hai cùng bảo bọc tấm lòng trinh nữ trắng trong như tờ giấy trắng! Quả ông chủ đã tinh ý, biết chọn người và chọn cả cách ăn mặc, thảo nào tiệm của ông đã không đắc khách sao được?

     Ấy vậy mà chiều nay, chỉ có mỗi mình Hiếu ngồi đây mới là lạ! Chẳng biết chỉ vì chàng đến hơi sớm hay là tại cơn mưa đang dai dẳng, lai rai nhỏ giọt phía bên ngoài? Hoặc cả hai? Ðều không hẳn thế, chàng tự trả lời! Bởi, xưa nay ít có ai đi tiệm thạch mà đi một thân một ngựa như chàng. Tối thiểu gì cũng phải đủ đôi, bằng không thì cũng tụm năm tụm ba, tán gẫu cho tình ấm lên hương. Ôi, những bạn bè và người thương của chàng đâu? Ở cái thành phố nên thơ mơ mộng này mà không có người yêu mến, canh cánh bên mình, thì kể cũng uổng đời. Tại sao Mỹ Hạnh và Thúy Nga lại đành đoạn cắt đứt và lánh xa Hiếu chớ? Chàng đã làm gì nên tội? Biết bao nhiêu câu hỏi cứ liên tiếp nãy ra trong đầu mà chàng không tìm đâu ra câu trả lời!

     Rõ ràng Hiếu đang rơi vào tình trạng tấn thối lưỡng nan! Thật vậy, vì kể từ buổi chiều định mệnh đó ở Lái Thiêu, vườn sầu riêng của ngoại, mối liên hệ giữa Mỹ Hạnh và chàng không thể rẽ sang một lối nào khác hơn là càng ngày càng gắn bó mật thiết hơn. Âm thầm, lén lút chìm sâu trong biển ái rừng ân. Những tưởng mọi chuyện sẽ đầm ấm, mãi mãi yên vui nhưng... nào ngờ, trong một buổi trưa sau giờ tan học, cả bọn đang đi ngang sân cờ kẻ trước người sau, vui đùa với những mẩu chuyện trên trời dưới biển, bỗng nhiên, Mỹ Hạnh dừng lại lấy tay chận ngang ngực và ra tuồng đau bụng, buồn nôn, bắt... muốn ói. Chết cha, là người trong cuộc, Hiếu chợt giựt mình đoán thầm ra nguyên do cớ sự cùng hậu quả đã xảy ra! Bằng mọi cố gắng, chàng đã dằn được cơn hoảng hốt, bàng hoàng! Biết lắm mà, trước sau gì phút giây này rồi cũng sẽ đến! Chàng vẫn đinh ninh như vậy nhưng không hề nghĩ là nó sẽ xảy ra một cách nhanh chóng, bất thình lình đến độ chàng chưa kịp chuẩn bị được gì ở tương lai.

     Riêng cô bạn Thúy Nga, một nhân chứng cho cuộc tình đang đến hồi chung cuộc, hầu như chưa khám phá ra những điều khác lạ, vẫn hồn nhiên như vô tình bắt được dịp đùa giai:

     - Ê, từ từ nghen mậy, nếu có đau bụng... đẻ bất tử thì cũng phải thủng thẳng chờ tao kêu xe đưa mầy lại bịnh viện Từ Dũ...

     Rồi đương nhiên, chẳng đặng đừng, Mỹ Hạnh tách bầy chạy vội lại lùm cây mọc sát vách tường vòng đai, cúi người... ụa liên hồi. Than ôi, thôi rồi, nào có sai vào đâu? Ðúng là, từ lâu, Mỹ Hạnh đã cấn thai! Hiếu chỉ biết tự trách mình chớ nào biết trách ai! Phải chi hai đứa dừng lại ở thời điểm đó, thời điểm gái phải hơi trai như thài lài phải cứt chó , thì mọi thứ đều xinh đẹp biết mấy, tốt tươi biết mấy! Nhưng ở đời này có được bao nhiêu người chỉ yêu nhau, cho nhau độc nhất một lần, rồi thôi?

     Thúy Nga băng mình vọt theo Mỹ Hạnh, còn Hiếu cứ phải chậm rãi "từng bước từng bước thầm," vì lòng dặn lòng không nên tỏ vẻ lính quýnh ra mặt, chỉ tổ để lộ cái chân tướng "lại ông tôi ở bụi này!" Cũng may là ba đứa lót tót theo sau nên cả lớp đi trước không buồn để ý và cũng không trông thấy cái cảnh dở khóc, dở cười. Khi đến nơi, chàng hơi ngạc nhiên, nào có thấy mật xanh mật vàng gì đâu? Hay là em giả bộ làm nũng, định đòi ăn vạ Hiếu đấy phỏng? Rõ khỉ! "Hạnh, em làm gì vậy, em định dở trò gì với anh nữa đây, hả?" chàng sẽ không ngần ngại cợt đùa, trách yêu người tình như vậy nếu không có Thúy Nga đi cùng. Nhưng, trong hoàn cảnh này Hiếu đành đánh trống lãng:

     - Hạnh bịnh sao vậy? Chắc lại cảm lạnh nữa rồi! Có cần Thúy Nga và anh đưa về nhà không?

     Mỹ Hạnh không còn tâm trí đâu để mà đối đáp! Ðã thật như vậy rồi, Hiếu hết đường chối cãi! Chàng, hiển nhiên, biết bổn phận của mình phải làm gì, không thể để Mỹ Hạnh lẻ loi trên đường về. Cũng hên là ngày ấy chàng không đi xe gắn máy, chiếc Vespa ọp ẹp cũ kỹ của mình. Và rồi cũng giống như mọi khi, chẳng hiểu tại sao, chàng cũng ngập ngừng dừng lại ở đầu ngõ. Mặc dầu trước đây đôi ba bận Mỹ Hạnh đã khuyến cáo chàng là phải ghé vào nhà chào ba má nàng, nhưng chưa được một lần, chàng làm theo lời khuyên bảo đó. Mười lần như một, chàng vẫn chỉ dừng lại ở ngoài đường cái, đường Võ Tánh, trông vô con hẻm lớn bên hông bót Hoàng Hùng.

     Có lẽ vì tự ái nên kể từ hôm đó đến nay Mỹ Hạnh đã giận và từ Hiếu luôn rồi chăng? Chàng có hơi hồi hộp, lo lắng vì đã hơn hai tuần qua không thấy Mỹ Hạnh trở lại lớp. Chuyện gì đã xảy ra cho Mỹ Hạnh? Nàng có bầu thật không? Nàng đã đi phá thai mà không cần hỏi ý kiến của Hiếu? Ba má nàng đã hay được chuyện động trời đó và bắt nàng phải xa lánh mọi người, sống hắt hủi cô đơn một mình nơi xứ lạ quê xa để chờ ngày sinh nở? Nếu đúng như vậy thì chàng phải xử trí ra sao?

     Cả đến Thúy Nga cũng vậy, xem chừng cũng muốn lánh mặt Hiếu! Ngay một câu thăm hỏi về Mỹ Hạnh, cô nàng cũng nguýt háy không thèm trả lời, làm mặt lạ với chàng! Có lẽ Thúy Nga đã biết hết mọi chuyện và, lẽ dĩ nhiên, phận gái với nhau nên dồn về một phe!

     Nhiều lúc Hiếu định đánh bạo, xách xe mon men vô hẻm Hoàng Hùng tìm Mỹ Hạnh. Nhưng tìm nơi nào đây khi chàng không biết số nhà, địa chỉ. Ngẩm nghĩ lại chàng thấy mình lẩm cẩm thiệt! Nếu như Mỹ Hạnh không có ở nhà, không ra trước sân thì dẫu chàng có chạy tới chạy lui khoảng đường... sẽ cho mình cái hi vọng mong manh đó, cả ngàn lần đi nữa, cũng chỉ là làm chuyện dã tràng xe cát biển đông, mò kim đáy biển!

     Nhưng nói thì nói vậy chớ rồi chàng cũng phải đi, mới cách đây một vài hôm chớ có lâu lắc gì. Ðể trong lòng khỏi phải mang mặc cảm tội lỗi với Mỹ Hạnh. Con hẻm coi vậy mà sâu, và càng vô sâu càng hẹp dần. Rồi tẻ ra nhiều hẻm nhỏ hơn, chi chít chằng chịt, dọc ngang ngang dọc. Chàng chạy riết cho tới khi bít lối, đụng mấy chòm mả hoang vu không ai dám cất lều ở gần, mới thôi. Rồi quành đi, quành lại nhiều lần, thiếu điều mòn đường, sạt hẻm mà cũng không tìm được người thương, bóng chim tăm cá...

     Cô bé chiêu đãi viên đã trở lại bàn với ly cà phê sữa nhỏ trên tay. Ðặt nhẹ xuống mặt kiếng trong, nàng thỏ thẻ:

     - Ông có cần thêm gì xin cứ gọi...

     Hiếu ngó lên và bắt gặp một cái liếc khéo bén như dao cau làm chàng xao xuyến tâm cang. Cô nàng chắc phải để ý và săn sóc tới chàng, như một khách quý phương xa, vì thật ra, giờ này không có ai trong quán hết. Ðể rồi sau đó, hiển nhiên sẽ coi như pha, khi có đông người lui tới, ra vô. Thôi thì chàng cũng không nên bỏ lỡ cơ hội có được cái may mắn khó kiếm này:

     - À, để cho dễ gọi, xin lỗi cô tên gì?

     Không chút do dự cô em trả lời ngay:

     - Dạ, tôi tên Nguyệt!

     Sự nhanh nhẹn đó làm chàng bán tin bán nghi, chưa chắc cô nàng đã cho chàng biết tên thiệt. Nhưng cứ mặc kệ, chàng hỏi tiếp:

     - Xin lỗi, cô Nguyệt học trường nào vậy?

     - Sao ông biết tôi còn đi học?

     Câu hỏi đến có hơi bất chợt, có hơi sỗ sàng, đã làm Hiếu khựng lại! Ừa, kể cũng hay và không kém phần lém lỉnh, từ chối khéo một câu trả lời bằng một câu hỏi khác. Chàng bỗng ấp úng:

     - Ồ, cứ thấy cách ăn mặc của cô thì biết liền mà!

     - Xin lỗi...

     Cô em cắt ngang câu chuyện đúng thời đúng lúc vì có hai người khách mới, một cặp trai gái thì đúng hơn, đang đội mưa đi vào. Một cách... chia tay êm đẹp! Với lại, có lẽ cô em chiêu đãi viên chắc không có quyền, và cũng như không lịch sự cho lắm, khi đứng một bên bàn nói chuyện lâu với những người chưa quen. Dăm ba câu nhát gừng để câu khách như vậy là đủ rồi. Còn phải tiếp người khác nữa chớ...

     Mà, ô hay, cách đối xử đó có phần nào trùng hợp với cái tên tự nó đã rất là lẳng lơ, Nguyệt! Cho dù là tên giả, không thiệt đi nữa, chàng nhủ thầm. Vì chàng bỗng nhớ mấy vần thơ tâm tình của một người khách lạ, đêm khuya dưới bóng trăng tàn, muốn riêng với Nguyệt mà than một lời . Úi chao, lại than thở, trách móc những gì nữa đây? Nào ai biết được! Vậy mà, với bản chất nhạy cảm và đa tình chị Hằng đã không ngại ngùng thố lộ nỗi lòng chua xót, đắng cay của mình, Nguyệt rằng vật đổi sao dời, thân này vẫn để mọi người soi chung ... Ha ha ha, đúng quá, trong cái phút giây ngắn ngủi vừa rồi, chàng đã không hân hạnh được soi chung là gì? Hiếu cầm muỗng khuấy cà phê, lẳng lặng cười thầm trong bụng vì sự so sánh lý thú, thi vị đó!

     Mặc cho Nguyệt lăng xăng tiếp đón hai người khách mới, Hiếu quay trở về với tâm tư nùi nùi như cuồn chỉ rối của mình. Không riêng gì ở trường Ðại học Sư phạm, ở các phân khoa khác cũng vậy, thỉnh thoảng chàng vẫn thấy một vài bà mang bụng bầu tiếp tục... đi học. Có gì phải mắc cở chớ? Mình là sinh viên và đang sắp sửa làm cô giáo chớ đâu phải học trò, học sanh gì nữa! Mà cho dù có tới hồi học sanh, học đẻ thì cứ xin nghỉ hộ sản một hai tháng cho cứng cáp, rồi trở lại trường, có ai dám cấm cản điều gì đâu. Cùng lắm thì mất bài vở, phải chịu khó học bù, học ngày không đủ thì tranh thủ học đêm, để bắt kịp bạn bè. Chuyện quan trọng sau cùng vẫn là chuyện thi cử. Nhiều người học ít mà vẫn được điểm lớn, đậu cao và chàng nghĩ rằng Mỹ Hạnh có thừa thông minh để làm chuyện đó.

     Bây giờ, khổ quá, Mỹ Hạnh nghỉ ngang xương hai ba tuần liên tiếp không có lý do chính đáng thì nguy hiểm thiệt. Lạng quạng dám phải ở lại lớp sau, mất tiêu một lục cá nguyệt hay cả một năm học. Và hậu quả sẽ ra sao, Hiếu không dám nghĩ tiếp... Mỹ Hạnh ơi, nếu em thiệt có tự tử thì hãy gắng đợi chờ anh cho được đủ đôi nghen, vì tình em đối với anh có thể ví như:

     Em thương anh hết lá trầu lương
     Cau hết nửa buồng cha mẹ nào hay
     Dẫu mà cha mẹ có hay
     Nhứt đánh nhì đuổi hai lẽ này mà thôi
     Gươm vàng kề cổ anh ơi
     Chết thì chịu chết lìa đôi không lìa


     Kiểm điểm lại, sở dĩ trước đây Hiếu không tìm đến nhà Mỹ Hạnh chào ba má nàng chắc phải có điều gì trở ngại, trục trặc, lấn cấn ghê gớm lắm ở trong lòng? Hình như giữa Mỹ Hạnh và Hồ Ðiệp, trên một phương diện nào đó, chàng đã có sự so sánh, chàng tự hỏi? Ðừng nói trồng trầu thì phải khai mương, làm trai hai vợ phải thương cho đồng ! Vô lý, đồng làm sao được mà đồng. Phải có người trên kẻ dưới, kẻ trước người sau. Nhất là khi duyên nợ ba sinh giữa Hồ Ðiệp và chàng cũng vừa trải qua một khúc quanh... tình sử quá lớn. Như lá thư mà chàng vừa mới nhận đây, đọc đi đọc lại nhiều lần đến độ muốn thuộc lòng:

     Long An, ngày...

     Anh thương,

     Không còn bao lâu nữa thì tụi em sẽ thi lục cá nguyệt đầu tiên ở trường Sư phạm mến yêu nầy. Khác với các anh các chị ở Ðại học Sư phạm Sài Gòn, chương trình nội trú của tụi em bao giờ cũng gò bó, kỷ luật hơn. Nhưng riết rồi cũng quen anh à. Nói xin lỗi, chẳng khác gì các quân trường đào tạo... nữ quân nhân, với những giờ giấc, ngủ nghê, học hành xảy ra đúng hạn kỳ, thời khóa biểu. Ngay cả việc viếng thăm của người ngoài cũng không thể thờ ơ lỏng lẻo. Lẽ dĩ nhiên đó là cho người thân trong nhà chớ đừng nói tới bạn bè trai gái, như anh đã biết qua.

     Tuy nhiên, không có hàng rào nào mà không có lỗ hổng phải không anh? Có như vậy mình mới có được những yêu thương gần gũi, những kỷ niệm êm đềm không bao giờ phai nhạt. Mà anh cũng ẩu quá đi thôi! Cứ đòi cho được, không đợi nổi đến ngày vui của hai đứa thì thiệt là... tệ! Nhắc lại đây chỉ làm em thêm mắc cở, mặc dù tụi mình đã lớn hết rồi, nhưng anh biết, làm sao mà em quên được những giây phút đầu đời, đầm ấm bên nhau. Chắc anh cũng biết em thương anh đến mức độ nào. Mới đó mà đã hơn cả tháng trời rồi, hai đứa mình vời vợi vắng xa. Và có điều hơi là lạ là tháng nầy tại sao em không có...

     Mặc dù anh chưa giáp mặt ba má em lần nào, nhưng em tin cho anh biết, ba má em đã dọn qua Mỹ Tho cách đây vài tuần. Ổng bả đã mua một căn nhà lá xập xệ ở gần Ðất thánh Tây, cách nhà cô Tám Sương, căn nhà trọ thân yêu một thời của em mà anh từng biết đó, độ khoảng mười mấy hai mươi căn. Ruộng vườn của ông bà để lại cho ba má em giờ giao cho bà con thân thuộc trong dòng họ coi chừng giùm. Huê lợi thâu được bao nhiêu thì người ta hứa sẽ đưa mình chừng ấy. Sau khi trừ công cán chắc cũng không còn được là bao, cho nên, hoàn cảnh gia đình có lẽ sẽ có phần sa sút tù túng hơn so với khi xưa. Nghe má em nói định lập một quán hàng xén nhỏ ở trước nhà, bán sơ sịa kiếm sống qua ngày.

     Thiệt, "không ai giàu ba họ không ai khó ba đời," lắm lúc nghĩ lại sao mà trúng quá. Ba má em rồi cũng có ngày tay trắng tay, phải di tản sang xứ khác làm ăn, lập lại cuộc đời. Không ngờ cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn nầy lại dai dẳng và lớn lao đến là như vậy. Nó đã làm cho không biết bao nhiêu gia đình nhà tan cửa nát, con xa mẹ, vợ xa chồng. Và kể cũng có sự trùng hợp đôi chút đó anh, vì bỗng nhiên em có ý tự lập, không muốn sống bám vào gia đình. Em muốn học hành đỗ đạc, ra trường, kiếm việc làm càng sớm càng tốt. Bởi vậy nên em mới quyết định trước, lao vào nghiệp "gõ đầu trẻ" theo con đường tắt, không thèm học lên đại học lâu lắc như anh đâu...

     Trở lại chuyện chúng mình, lâu ngày không gặp lại nhau anh có còn nhớ những gì anh đã nói với em hay không? Những lời, em không dám gọi là thề non hẹn biển, mà chỉ là những gì anh đã hứa với em trong đêm chăn gối đầu tiên đó! Ðừng quên nghen anh! Và cũng đừng mê say cô nào nơi chốn thành hoa đô hội mà vô tình giết chết đi một người tình tỉnh lẻ xa xưa? Lâu lắm rồi em không có thư từ gì của anh hết, những lá thư mà anh biết rằng em luôn luôn mong đợi chờ trông.

     Cũng như em, dạo nầy anh đang học thi phải không anh? Và đến cuối năm nay anh sẽ thi ra trường? Anh hãy cố gắng đậu cao thiệt cao để có chỗ tốt tương xứng với tài năng của mình nghen anh! Trong thời buổi kim tiền nầy nếu anh không có khả năng lo lắng, chạy chọt thì chắc anh không thể nào chọn được chỗ tốt gần nhà, hoặc là mấy thành phố lân cận Sài Gòn, như người ta. Thôi thì cứ trông cậy vào số mệnh vậy, xếp đổi mình đi nơi nào thì mình dạy nơi đó!

     Biết anh đang bận học bài thi nhưng học thì học còn thư từ thì anh phải nhớ viết liền cho em! Và nếu không gì trở ngại, anh có thể "dù" xuống thăm em một chuyến nghen anh. Còn riêng em, bất cứ lúc nào em cũng "welcome" anh hết. Ðời sống của sinh viên nội trú tuy bề ngoài có vẻ ồn ào vui nhộn nhưng kỳ thực bên trong rất là lẻ loi, cô độc. Em muốn có anh bên mình để tâm sự thật nhiều, thật nhiều, và thật nhiều! Mong anh hiểu được lòng em...

     Thương anh, hôn anh,

     Em.


     Mỗi lần nhớ lại lần đầu tiên mà Hồ Ðiệp nhắc trong thư, Hiếu nghĩ mình như có tính toán và lợi dụng lòng yêu thương tin tưởng của nàng. Không giống trường hợp của Mỹ Hạnh, chính cô nàng đã đưa đề nghị và rủ chàng về chơi vườn ngoại nàng ở Lái Thiêu. Ðằng này Hiếu có sắp xếp với Dũng, bạn học trung học với chàng quê ở làng Thuộc Nhiêu, Cai Lậy, bây giờ là sĩ quan tòng sự tại Tiểu khu Long An. Nó đã nhường cho chàng căn nhà độc thân, nơi đàn đúm rượu chè, cờ bạc trai gái của nhóm Thủ Ðức mới ra trường, nằm đối diện xéo xéo bên kia chợ, để làm nơi hò hẹn. Rất là lý tưởng, chàng nghĩ!

     Riêng phần Hồ Ðiệp, Hiếu biết là nàng rất ngạc nhiên và vui mừng cho chuyến viếng thăm bất thình lình của chàng tại ký túc xá, cho nên bằng mọi giá nàng cũng phải trốn ra, vượt qua màn lưới kiểm soát rất tinh vi và chặt chẻ của ban giám đốc nhà trường. Và rất là tự nhiên, nàng không hề để ý gì đến chuyện sắp đặt hay không sắp đặt của Hiếu. Con đường tình trải rộng thênh thang, cứ thẳng hướng mà đi. Ðể rồi, trong buổi hoàng hôn thần tiên đó, chuyện gì sẽ đến cũng phải đến với những kẻ yêu nhau. Và niềm vấn vương, thương nhớ như mãi mãi không nguôi:

     Chiều buồn bóng ngả về tây
     Sự tình kẻ đấy người đây còn dài
     Trúc với mai, mai về trúc nhớ
     Trúc đi rồi, mai nhớ trúc không
     Bây giờ kẻ bắc, người đông
     Kể sao cho xiết nỗi lòng tương tư...


     "Mới đó mà đã hơn cả tháng trời rồi, hai đứa mình vời vợi vắng xa," nghe sao mà não nùng ai oán! Cho những ngăn cách, chia phôi! Nhưng, khổ nỗi là còn có câu kế tiếp! "Và có điều hơi là lạ là tháng nầy tại sao em không có...," trời đất quỉ thần ơi, chẳng lẽ người chàng thương mến, Hồ Ðiệp yêu quí nhứt của đời anh, lại thầm bảo cho chàng một... tin mừng, và sắp sửa... thèm chua, ói mửa nữa hay sao? Hi vọng là nàng không đặt chàng vào tình trạng khó xử quá gấp rút như trường hợp của Mỹ Hạnh. Chỉ là trễ nãy, trồi sụt bất thường vậy thôi...

     - Xin lỗi, ông cần dùng gì thêm nữa không?

     Chẳng biết những người chiêu đãi viên nghĩ thế nào khi "chăm sóc, hầu hạ" những đôi tình nhân, những cặp vợ chồng đang tràn ngập yêu đương hạnh phúc? Lẻ loi, cô đơn, và ganh tị chăng? Có thể lắm, vì hình như chỉ làm vừa đủ bổn phận của mình đối với cặp khách đủ đôi, thì Nguyệt đã quay trở lại với chàng. Ồ, thì ra cũng không đúng lắm, vì Hiếu đã vô tình nốc cạn ly cà phê của mình hồi nào không hay. Chàng moi trong túi lấy ra điếu Capstan, gắn lên môi, bật lửa mồi hút tiếp. Rồi trong làn khói viễn mơ, chàng nhoẻn miệng cười đáp:

     - Không ngờ tôi lại phải ngồi đây lâu hơn tôi tưởng! Nhờ cô Nguyệt làm ơn cho tôi xin một ly cà phê nữa đi! Vừa thơm vừa ngọt như ly nầy!

     Hiếu trao tận tay chiếc ly thủy tinh, Nguyệt cầm lấy và nói đỡ cho chàng:

     - Trời bên ngoài còn mưa mà, có chi ông phải vội...

     Nói xong, Nguyệt ngoe nguẩy bước vào trong. Mùi nước hoa và mùi thơm con gái thoang thoảng quyện lấy mũi chàng. Hít một hơi dài thay khói thuốc, Hiếu cảm thấy lâng lâng, khoan khoái. Không biết giữa rừng người hằng ngày đến và đi kia, cô nàng có chịu khó để ý đến một ai không? Như chàng đây chẳng hạn! Chắc cần phải có một cơ hội rất đặc biệt xảy đến hay một điều gì lớn lao thúc đẩy trong lòng, mới mong lọt được vào đôi mắt... xanh của người đẹp, chàng kết luận!

     À, mà "một cơ hội rất đặc biệt hay một điều gì lớn lao thúc đẩy trong lòng..." cũng đã đến giữa Bạch Tuyết và Hiếu, chàng nhủ thầm. Vì kể từ ngày chị Bạch Tuyết, em út của chị Phương Thảo, rời quê Ông Văn lên Sài Gòn tìm việc làm thì mọi thứ trong căn nhà trọ của chàng đều phải đổi thay. Cho phù hợp với tình thế mới, khi có con gái lớn trong nhà. Như hũ mắm treo đầu giàn bếp.

     Rồi chẳng biết tại Hiếu hay vui đùa, giỡn cợt hay là tại chị Bạch Tuyết nhí nhảnh, thèm khát yêu đương trong lứa tuổi xuân thì mà "tình chị" đã dần dần biến đổi thành "tình em." Xét bề ngoài, tuy nước da có hơi hơi bánh mật, dáng dấp lại không được cao ráo sạch sẽ cho lắm, nhưng chị Bạch Tuyết cũng có những điểm không khác chị Phương Thảo mấy, là có duyên ngầm. Bốn năm tháng qua, thời gian quá ngắn để cho chị nhả nắng, lột xác nông dân ruộng vườn lam lũ của chị. Ðể trở thành Bạch Tuyết thứ thiệt, đã từng đóng phim chung với bảy chàng lùn. Chỉ có mỗi mái tóc là từ để dài kẹp ngang lưng chuyển sang cắt ngắn và uốn dợn theo kiểu la-la, quớt ra. Trông khác lạ ngay và làm chàng ngạc nhiên không ít khi chị mới trở về từ tiệm làm tóc. Ừa, cũng hợp với khuôn mặt hơi tròn tròn, hơi trẹt trẹt của chị, Hiếu "phán" như vậy.

     Giống như phần lớn những người mới lên từ miền quê Lục Tỉnh, chị Bạch Tuyết kiếm được một chân may, ở một tiệm may quần áo con nít trong Chợ Lớn. Hằng ngày chị phải đón xe Lam hoặc xe buýt đi làm. Một đôi khi, nhằm giờ rảnh rỗi, chị cũng có nhờ Hiếu chở giúp, khỏi tốn tiền xe. Nhưng, chính từ những lần chở nhờ đó mà rồi có... đụng chạm. Có ôm eo ếch. Có lưng dựa má kề. Chu mẹt ơi, chàng không biết phải ăn nói làm sao, cư xử làm sao cho ổn đây? Bề gì cũng là bà con, mặc dù xa lắc xa lơ cà-nông thụt bảy ngày không tới, biết có tội lỗi gì chăng nếu xảy ra chuyện dan díu tình cảm trong tương lai...

     - Bữa nay "cậu ba" có rảnh hông vậy, "cậu ba?" Nhờ chở giùm "tui" đi làm một chuyến coi!

     Ðáng lý ra, theo như dạo trước, bả phải nói là: "Bữa nay Hiếu có rảnh không vậy, Hiếu? Nhờ chở giùm chị đi làm một chuyến coi!" Từ lúc chị Bạch Tuyết âm thầm đổi cách xưng hô, đòi làm em vì thực ra nhỏ tuổi hơn chàng, Hiếu cũng đã ngầm hiểu là... sắp có chuyện lớn xảy ra, cỡ như hũ mắm treo đầu giàn sắp rơi xuống bếp vậy. Rồi như biểu đồng tình, chàng cũng không gọi chị Bạch Tuyết bằng chị nữa mà thay vào đó bằng một từ mới:

     - Thôi đi "bà," đừng có được voi đòi tiên!

     Thông thường, Hiếu hay gạt ngang và phản đối lấy lệ chị Bạch Tuyết như vậy để che mắt chị Phương Thảo và anh Hữu Phúc. Mà thực vậy, đó cũng là một cách chuyện trò thân mật giữa anh chị em bà con đầu ông sơ, ông sở với nhau mà thôi. Nếu như cả hai dừng lại đó và đừng đi xa hơn nữa...

     Nói cho ngay, chắc cũng không có gì đáng nói đã xảy ra nếu chị Bạch Tuyết chỉ đi may mà không đua đòi, bày trò đi học thêm Anh Văn cho nó hợp thời, hợp cảnh với người ta. Vì kể từ khi chị ghi tên lớp tối là mối liên hệ tình cảm giữa "bà" Bạch Tuyết và "cậu ba" Hiếu là chàng cũng bắt đầu tự nó mò đi đêm, càng sâu càng đậm. Với những buổi dạy kèm thêm trên căn gác xếp, nay đã được kéo tấm rideau , ngăn riêng ra một khoảng nhỏ. Ðã vậy lắm lúc còn phải chun vô mùng để tránh muỗi nữa chớ! Thì cũng do ý kiến, đề nghị của "ai đó" chớ nào phải của chàng. Ðể sau cùng, cuộc ái ân vụng trộm đầu tiên diễn ra chớp nhoáng, nhanh như gà đạp mái. Nhanh đến nỗi chàng thấy như chuyện gần gũi... hầu như chưa hề xảy ra. Trong một buổi chiều tắt nắng, hoàng hôn xuống vội... với cảnh phòng không, nhà trống. Vì anh Hữu Phúc đi làm chưa về và chị Phương Thảo còn bận dẫn con đi dạo hàng xóm! Nhanh đến độ cả hai không cần phải hoàn toàn thoát y, bắt phải sống trở lại thời nhơn chi sơ, tánh bổn rất ư là tự nhiên, không cần che dấu...

     Rồi như từ nghìn xưa cho đến bao giờ cứ vẫn vậy, có ngựa nào không quen đường cũ? Và hiển nhiên, chuyện gì cũng thế, càng lâu thì càng có kinh nghiệm. Mới biết thế nào là ân ái, cuộc đời. Nhưng cuộc tình "chị chị, em em" quái đản kia rồi cũng không trọn vẹn, gãy gánh giữa đường. Vì, cho đến một ngày gần đây, kẹt cứng cho cả hai, không thể nhúc nhích cục cựa gì được nữa, khi chị Phương Thảo tình cờ bước lên cầu thang để tìm lấy một món gì đó! Nhưng chị phải vội vàng tuột xuống ngay, chỉ vì chị tế nhị, không muốn bắt gặp quả tang? Bắt buộc, nàng của chàng phải bị rầy la, cấm đoán. Thôi thì đành cắt ái, ly thân, từ từ tu tỉnh lại. May là chị Phương Thảo không làm rùm beng, không muốn cho chàng phải "đội quần" cả xóm, phải bỏ bến Phạm Thế Hiển này mà tìm đi xứ khác làm ăn. Nói chớ cũng còn thanh danh của em chỉ nữa chi. Than ôi, cũng chỉ vì:

     Ðôi ta như thể con tằm
     Cùng ăn một lá cùng nằm một nong
     Ðôi ta như thể con ong
     Con quấn con quít con trong con ngoài
     Ðôi ta như thể con bài
     Ðã quyết thì đánh chẳng nài thấp cao
     Ðôi ta như đá với dao
     Năng liếc, năng sắc, năng chào, năng ưa...


     Vậy mà, khổ thay, câu chuyện tình "cháu ông, cháu bà" kia không chịu ngừng tại đó, bởi mấy ngày qua chàng nghe chị Phương Thảo thì thầm với Bạch Tuyết, đứa em non nớt, ngu dại của mình về công dụng của mấy... trái đu đủ đực với lại rau răm! Nhằm tống khứ những nguyên do hôi cơm tanh cá như tàu tống gió! Trời đất ơi, lại thôi rồi, Bạch Tuyết đã cấn thai và chị Phương Thảo đang ép phải phá! Cái gì kỳ cục vậy?

     Hóa ra mình chẳng khác nào là... hạm, già không bỏ nhỏ không tha, Hiếu than thầm! Ối, mà có hạm đi chăng nữa thì cũng là con người, phải sống hết số kiếp con người với những tánh bẩm sinh của mình. Rồi chàng cũng chưa bao giờ học nghề pháo binh mà chẳng hiểu tại sao, bách phát bách trúng, mới chết! Hết Mỹ Hạnh, đến Hồ Ðiệp, rồi tiếp theo Bạch Tuyết, dồn dập xảy đến, rõ ràng là nhứt quá tam, trên cõi đời này chắc không thể nào có sự trùng hợp hi hữu như thế. Phải chăng:

     Sông mơ sông mận sông đào
     Ba con sông ấy chảy vào sông... si
     Vì trót thương anh bụng em lỡ phát phì
     Thuốc thang đâu khỏi, vậy thì "chửa" thôi
     Thương anh dể đứng, khó ngồi...


     Dể đứng khó ngồi? Ừa, mà đâu phải chỉ riêng em, chính anh đây cũng thấp thỏm đứng ngồi không yên! Hiếu bèn lấy miếng giấy bạc trong bao thuốc viết lại mấy câu ca dao này để dán trên tường cho ông chủ tiệm Hiền Khanh và mấy bạn hiền của ổng nghiền ngẫm, chiêm nghiệm.

     Hiếu không thể ngồi đây lâu hơn nữa, đưa mắt nhìn quanh tìm cô Nguyệt để kêu lại tính tiền. Chỉ sợ chàng càng ở lâu lỡ cô nàng... tức cảnh sinh tình thì càng không nên. Ô kìa, may quá, Nguyệt đã thấy chàng vẫy tay. Liếc mắt nhìn quanh, tình cờ, chàng thấy khách thập phương đã tràn ngập quán hồi nào không hay. Ba ly cà phê cho ba người tình, cái điệu này chắc rồi Hiếu sẽ thức trắng đêm nay. Ðừng tưởng có số đào hoa, nhiều người thương mến mà ham. Lắm mối tối nằm không , ông bà mình nói đúng lắm. Rồi nếu chẳng "nằm không" đi nữa, thì chỉ còn có cách duy nhứt là "chạy rông" ngoài đường. Như bản thân chàng, chốc nữa đây, trong một đêm mưa gió phũ phàng...

   back to top

09. LỜI CUỐI CHO MỘT CUỘC TÌNH

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Xuyên qua khung cửa sổ phía bên hông, vệt nắng chiều in một đường dài trên nền gạch bông trắng đỏ, như muốn cắt xéo căn phòng ra làm hai mảnh không đều nhau, bên sáng bên tối. Phía ngoài cửa kính, cái nóng đong đưa hong tóc rối và làm vàng võ những ngày cuối hè dường như đã dịu xuống dần. Giữa mấy từng không, đối diện bên kia con hẻm và dọc theo dãy hành lang làm bằng sắt tròn, giăng mắc trên hàng dây kẽm, đồ đạc phơi tạm hằng ngày của gia đình hàng xóm đã khô queo khô khốc. Ống quần đàn bà và vạt áo bà ba thỉnh thoảng phất phơ theo cơn gió nhẹ. Bên trong này, qua tiếng rì rào đều đều ru ngủ, luồng hơi lạnh tỏa ra từ chiếc máy lạnh gắn trên cửa sổ phía trước đã từ từ có phần nào lạnh hơn, mát mẻ hơn. Ngừng lại trong giây lát, tiếng kèn xe inh ỏi từ dưới đường lại vọng lên căn lầu ba vút cao ven đại lộ Minh Mạng này nghe như thiếu hơi, cụt ngẵn, tắt nghẻn.

     Ðây là căn phòng trọ của Phát và tụi bạn lính tàu của nó đang dùng làm tổ uyên ương mỗi khi tàu về bến. Hoặc lắm lúc, chỉ là chỗ nghỉ chân khi chán chê cảnh dạo phố, đi bờ. Chẳng biết hằng tháng tụi nó đã phải "chi" bao nhiêu "địa" nhưng ngẫm nghĩ lại tụi lính tàu này kể cũng xài sang, dám thuê phòng có máy lạnh hẳn hòi. Không khác gì tụi lính Mỹ, những ông lớn, hay những thương gia giàu có đang muốn lập... phòng nhì. Mà chắc cũng không đến nỗi nào khi nhiều đứa chung vốn, hùn hạp với nhau. Mỗi thằng giữ một chìa khóa, muốn đến lúc nào thì đến muốn đi lúc nào thì đi. Và thêm Hiếu nữa, một chìa riêng xài ké qua sự biểu đồng tình của Phát. Trên bàn con, ôi thôi, đủ thứ notes để thông tin liên lạc với nhau. Nhiều cái xưa cũ cả hai ba tháng trời, tương đương với một chuyến công tác dài hạn ngoài biển khơi chưa từng được phép trở về đất liền. Úi chà, tính kỹ ra cũng có đến năm tên đãng tử đang đi trên năm chiếc tàu khác nhau, Hiếu nhủ thầm. Quả, đúng là ngũ quỉ! Toàn là dân trôi sông lạc chợ, không có nơi nương náu ở Sài Gòn cho dù là nhà của bà con, họ hàng là cái chắc!

     Giống như mọi căn phố lầu cho mướn ở thủ đô, gian phòng trọ của tụi bạn Phát đóng khung trong một cái hình hộp chữ nhật, khoảng ba thước chiều rộng và sáu thước chiều dài. Rất thích hợp cho những ai trong hoàn cảnh độc thân hoặc hai vợ chồng son, hai quả tim vàng. Ở phía sau có căn bếp nhỏ cùng nhà tắm nhà cầu riêng biệt cũng rất ư là tiện lợi và vệ sinh. Nhưng cách bày biện trong phòng đã cho Hiếu biết, ít nhứt hơn một lần, lũ bạn lính tàu của Phát đã đụng đầu với nhau. Vì hiện thời ở hai đầu căn phòng đã được kê hai cái giường nệm trắng phau được ngăn cách bởi một tấm màn rideau màu xanh nước biển, kéo ngang qua lại trên một sợi dây dù. Coi như ăn đồng chia đủ, "cục muối cắn làm đôi," mỗi khi hai bạn tàu lỡ về bến cùng một lúc, Hiếu nghĩ. Chỉ có dàn nhạc hi-fi với hai cái loa lớn đặt cạnh bên cửa sổ bên hè mới là của chung, làm cái gạch nối cho hai cõi mặn nồng ân ái...

     Chỉ trong vòng ba bốn năm qua mà cuộc đời Hiếu đã quá nhiều đổi thay, kể cả những ràng buộc của một thuở nào. Bạn bè nối khố vào thời trung tiểu học tỉnh lẻ, bộ năm Hòa, Khúc, Tài, Thịnh và Hiếu như đã tan rã từ lâu, kẻ một nơi người một ngã, vắng bặt tin nhau. Trước hết là Hòa, qua Hồ Ðiệp, chàng được biết Hòa vẫn còn hành quân lẩn quẩn ở khu vực Châu Ðốc, Long Xuyên, Rạch Giá, và hiện thời đang trấn đóng bảo vệ nhà máy xi măng Hà Tiên. Với phong cảnh hữu tình bên bến Tô Châu, chùa Phù Dung trên đường về Thạch Ðộng, hòn Phụ Tử, mũi Ðá Dựng ngoài khơi..., chẳng biết thằng bạn mình đã có cơ hội lọt vào đôi mắt xanh của một thôn nữ nào hay không mà xem chừng như "chặt không đứt, bứt không rời" với vùng núi non cực Tây của miền Nam đất nước kia?

     Riêng phần Khúc thì cũng giống giống như Hiếu, nghĩa là còn tiếp tục đi học chớ không chân quân chân lính, nhưng chàng cũng chẳng hề biết nó đã lên năm thứ mấy hoặc đã ra trường, tốt nghiệp Chính Trị Kinh Doanh ở Ðà Lạt hay chưa. Có một dạo chàng nhận được thư Khúc viết từ Nha Trang, trong một dịp nghĩ mát của cả gia đình ở bãi biển thần tiên, gửi về địa chỉ nhà Hiếu ở Mỹ Tho, căn nhà mà chị Kim Liên và em Kim Yến đã tiếp tục tá túc thêm một thời gian khá lâu. Bây giờ, hơn một năm qua, căn nhà cũ của chị em chàng đã sang lại cho người khác. Vì, để tiện đường đi và có phần an ninh bảo đảm hơn, chị Kim Liên đã mua đất cất nhà mới xịch xuống phía dưới ngã ba sân bay Bình Ðức. Có lẽ chính vì vậy mà thư từ của Khúc đã không còn đến với chàng nữa, mặc dầu chàng đã trả lời ngay tức khắc thư của bạn!

     Rồi với Tài cũng vậy, tin tức sau cùng Hiếu được biết là bạn mình vẫn còn thuộc quân số Sư Ðoàn 9, hoạt động quanh vùng Vĩnh Long, Sa Ðéc. Qua cô em nhỏ Tường Vi trong lần chàng bất thần ghé tạt qua nhà thăm lại... người xưa, giờ đã có ý trung nhân, con trai lớn của ông chủ tiệm thuốc tây ở đường Lê Lợi. Sắp làm đám hỏi, đám cưới tới nơi cũng không biết chừng. Ối, gì chớ được đổi về thành phố trấn đóng nhằm bảo vệ vòng đai Tiểu khu Vĩnh Long, thì cuộc đời của Tài chắc là vui nhiều hơn buồn, sướng nhiều hơn khổ, Hiếu kết luận gọn như vậy.

     Còn phần Thịnh thì chắc hẳn đã an cư lạc nghiệp luôn ở Vũng Tàu. Vì sau khi tốt nghiệp hạ sĩ quan Quân Cảnh thì đương sự lại được trưng dụng làm việc ngay tại trường. Ai mà không thích được như vậy chớ? Rồi với ngón đàn càng ngày càng điêu luyện, nghe đâu thằng bạn hơi to con lớn xác của mình đã thành lập ban nhạc riêng, hợp tác với các phòng trà chuyên sống về đêm, làm tiền vô như nước. Nhưng có lẽ thành quả đáng ghi nhớ mà bạn chàng hay "khoe khoan" chính là sáng tác có một không hai của nó: bản hành khúc của binh chủng Quân Cảnh! Ừa, rằng thì là cũng một thành công không nhỏ trên đường đời, sự nghiệp!

     Chỉ mỗi mình Hiếu là có cơ hội đặt bản doanh ngay tại thủ đô, trung tâm điểm của bốn vùng chiến thuật nếu nói theo kiểu lính. Vậy mà từ lâu những thằng bạn trung tiểu học của chàng đã không một lần ghé ngang qua! Hay đã có ghé ngang qua rất nhiều lần mà chàng không biết, chỉ tại vì trái đất trong những năm này "không được tròn cho lắm" nên cả bọn chưa hề đụng đầu, gặp mặt, hoặc đạp bánh tráng ở bùng binh Sài Gòn, chợ Bến Thành, hay ngay cả phố Tự Do vòng qua Nguyễn Huệ!

     Tuy nhiên, nói gì thì nói, con người ta không thể lúc nào cũng sống hoàn toàn cho quá khứ đã qua hoặc cho tương lai chưa tới, mà thật ra, phải sống cho hiện tại cái đã! Và ngay hiện thời, rất may cho Hiếu là còn có Phát! Mặc dầu hồi trước không thân lắm nhưng tình đời là vậy, hễ gặp nhau ở xứ lạ quê người, nhất là xứ Sài Gòn đất hẹp người đông này, thì dù không thân cũng thích. Ðể rồi dễ dàng trở nên khắn khít, gắn bó với nhau nhờ có dịp qua lại nhiều hơn. "Tha hương ngộ cố tri," mà lị! Hóa ra con người ta như sống theo thuở, ở theo thời chớ chưa chắc đã sống được cái cuộc đời do ý mình vẽ ra, mong muốn. Ðối với Phát cũng vậy, ngoài chuyện tàu bè súng ống, bồ bịch gái ghiếc, chắc nó cũng phải tìm đến với chàng mỗi khi muốn lai rai ba sợi, nhắc lại chuyện tỉnh lẻ ngày xưa. Bởi, có mấy ai trai trẻ mà dám âm thầm lẻ loi độc ẩm?

     - Lính tàu tụi tao không được phép say sưa nhậu nhẹt khi đi công tác ngoài khơi, trên trời dưới nước. Ðã vậy lại kẹt cứng, không thể xài tiền hay mua sắm gì được khi đi biển, nằm miết dưới tàu. Thôi thì, hễ được dịp xài thì xài xả láng còn hơn là để cho tiền lên mốc lên meo. Bởi vậy, mấy lúc tụi tao về đất liền thì mầy đừng có ngại...

     Trời đất, ngại chớ sao không ngại! Ai nỡ để bạn bè mình bao thầu hoài, coi sao được? Phải có qua có lại mới toại lòng nhau! Nhưng so với Phát, Hiếu thấy mình cũng như những tên sinh viên dân chính sao mà cù lần quá! Chẳng biết ở các quân trường, các sinh viên sĩ quan đã học hỏi được những gì mà xem ra đứa nào cũng dạn dĩ, dám ăn dám nói. Không rụt rè và đôi lúc còn ra vẻ ngây thơ như những anh chị Văn Khoa, Luật Khoa, Khoa Học, Kỹ Thuật, hay ngay cả Ðại học Sư Phạm, những người sắp sửa đứng lớp, làm thầy làm cô như bọn chàng. Có phải những người đang lao vào chiến trận, gần gũi với cái chết nên tỏ ra "bất cần đời" chăng? Ðiều này có thể đúng với Hòa, Tài... dân xuất thân từ trường Bộ binh Thủ Ðức, chớ còn hào hoa, nhỏng nhảnh như Phát... coi bộ có vẻ trình diễn dữ quá thì "bất cần đời" cái nông nổi gì? Phải nói là tụi này "cần đời" để làm đẹp quá đi chớ! Nếu biết trước như thế chắc chàng cũng đăng đi lính tàu từ khuya. Ðã vậy còn có đồng ra đồng vô, xài sang như mấy ông Hoàng bà Chúa, đã không mướn phố lầu cho chàng xài ké là gì?

     Rồi chính ở những cái sang cả như ông Hoàng bà Chúa đó mà nhiều lần Hiếu đành phải ăn dầm nằm dề ở đây. Ðến nỗi, cuối cùng chàng phải đề nghị với Phát cho mình nhập bọn và cùng đóng góp, chia xẻ với bạn bè. Chẳng biết có phải vì thông cảm với hoàn cảnh túng thiếu của những tên dạy kèm đói kém hay không mà Phát đã làm cho chàng một chìa khóa phòng và dặn riêng là đừng đá động gì đến vấn đề tiền bạc. Kể từ đó, coi như chàng làm nhiệm vụ "ông từ" cho cái "đình" đặc biệt này, lâu lâu ghé qua "nhang khói" xem có mất mát một cái "thập bát ban vũ khí" hay một vị "la hán" nào hay không!

     Có điều hơi lạ là mặc dầu Hiếu đóng vai "ông từ," vậy mà cho đến nay, chưa bao giờ chàng gặp các vị khác trong ban "hương chức hội tề" ngoài "ông cả" Phát. Chưa bao giờ chạm mặt những bạn tàu hay bạn cùng khóa gì gì của thằng bạn mình. Kể cả, một thời gian khá dài, Mỹ Hạnh và chàng mỗi cuối tuần đều tay trong tay, tuy hai mà một. Nhưng mà, đối với chàng, những ngày xưa thân ái đó giờ đã vời vợi quá xa, vượt khỏi tầm tay với. Ngay từ ngày nàng, bỗng dưng, quyết định theo gia đình bồng bế nhau lên Ðà Lạt khi ba nàng bị thuyên chuyển một cách bất ngờ, cấp bách.

     Có phải là để giải quyết chuyện "hôi cơm tanh cá" của Mỹ Hạnh ngày nào? Và tại sao nàng phải lấy chồng, một sĩ quan Không quân có cánh bay hẳn hòi, theo kiểu chạy tang? Tại sao nàng không ở lại Sài Gòn chỉ độ khoảng một năm, cho dù một mình đi nữa, để hoàn tất chương trình đại học mà nàng vẫn hằng mơ ước? Ai lại nỡ bỏ dở dang, sang ngang tìm lâu đài tình ái mới? Hạnh phúc gì đâu khi chàng vẫn yêu thương nàng, và ngược lại, chàng vẫn là người trong mộng của ai kia? Hay là nàng cố tình, những mong làm như vậy để tình yêu đầu đời còn mãi mãi luyến lưu trong lòng theo kiểu "tình chỉ đẹp khi tình còn dang dở, tình hết vui khi đã vẹn câu thề?" Ôi, chỉ vì thú đau thương mà đã làm cho con người ta dám hy sinh tất cả?

     Ngần ấy câu hỏi đã hiện ra trong đầu Hiếu! Và có lẽ hầu hết những câu trả lời do chính mình tự tìm thấy đều đúng, chàng than thầm! Bởi khi xa nhau, mất nhau rồi Hiếu mới thấy thương yêu, nhớ nhung Mỹ Hạnh nhiều hơn! Một ánh mắt, một nụ cười, một sợi tóc mai, một chiếc áo dài, một chiếc bóp tay... và ngay cả tấm thiệp hồng ngày cưới dạo nào làm chàng sững sốt, ôi những gì của người đàn bà mà mình từng chung chăn gối, má dựa vai kề đều như bỗng có sắc có hương! Khắc ghi sâu đậm vào trong ký ức và con tim bằng những nét dao cau! Chỉ cần cái dáng đi có hơi ngúng nguẩy, mà chàng chỉ thích nhìn từ phía sau, cũng bỗng hóa thành những bước chân chim tung tăng trên vỉa hè phố muộn ngày nào. Nỗi nhớ của cách chia, đối với chàng hiện giờ, có lẻ đ&#