Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Tập Truyện: Một Nỗi Buồn Riêng

Nguyễn Tấn Hưng



Ðại Nam xuất bản 1992

Mục Lục
00. Thay Lời Tựa 01. Một Nỗi Buồn Riêng 02. Ðưa Dĩ Vãng Vào Lãng Quên 03. Lòng Thương Người Của Tên Ðồ Tể 04. Tuyệt Lộ 05. Một Chiều Xuân Rộn Rã Men Say 06. Bên Dòng Suối Nhỏ 07. Hoa Hậu Xứ Dương Ðào 08. Ðường Lên Dốc Núi 09. Con người và Bút Pháp của Nguyễn Tấn Hưng - Võ Kỳ Ðiền
   back to top

00. THAY LỜI TỰA

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Sau tác phẩm đầu tay, Một Ðời Ðể Học , do ông Mai Thảo viết tựa, bấy lâu nay tôi vẫn hay nhờ các văn hữu đi trước đề bạt cho tác phẩm mình. Với quan niệm nhằm lưu lại một vài kỷ niệm trong niềm tâm giao cùng các văn hữu thân quen ấy. Tuy nhiên, lần này có hơi khác!

     Cũng qua một thân tình, mới đây một bạn văn cho biết, đại khái, chưa chắc là độc giả đã hiểu rõ và đồng quan điểm với ý định đó của tôi! Mà có thể lắm độc giả sẽ hiểu lầm rằng tác giả đã chưa vững tin vào tài năng của mình cho nên cần phải có một người đi kèm, viết lên vài lời khen tặng mời mọc người đọc. Ðó là chưa nói đến những bạn văn khác có thể sẽ dèm pha, ganh tị vì không có được những cơ may quen biết, giao lưu thân mật với một số đông những người cầm bút như tôi! Quả thật là chí lý! Ðến nỗi, tôi phải viết ra đây những dòng này như để lưu lại một kỷ niệm vui vui với một người bạn văn!

     Rồi, càng chí lý hơn nữa khi tôi là người cũng đã có dăm ba tác phẩm trình làng, với ít nhiều tiếng vang! Nhất là trong thời gian gần đây có vài bằng hữu, kẻ đi trước người theo sau, lại nhờ tôi viết bạt, bình thơ, điểm sách! Thôi thì kể như giờ phút đã đến, từ nay, tôi phải tự mình viết tựa cho mình vậy. Không kể những trường hợp đặc biệt, dĩ nhiên.

     Tựa hay bạt viết cho một người khác, với tôi, ngoài những giao tình qua lại phải có, thông thường chỉ là những dòng phê bình một chiều: khen. Người viết tựa hay bạt phải chịu khó đọc kỹ tác phẩm, suy ngẫm và tìm ra những điểm hay theo ý mình mà thổi phồng lên, trong khi phải lờ đi những điểm dở. Lắm lúc chưa chắc đã nói lên được dụng ý, tâm sự cùng nỗi lòng của tác giả gởi gấm trong đó, vì mỗi người cầm bút đều có một cách viết riêng và một trình độ thưởng ngoạn riêng!

     Bảo đảm không ai có thể hiểu rõ một tác phẩm hơn là chính tác giả! Song le, kẹt một điểm, tác giả không thể tự huênh hoang, bốc thơm cho mình! Ngoại trừ những kẻ đã..., chớ ai mà làm như vậy xem ra kỳ chết đi được! Bởi thế, tự viết cho mình một vài điều là chuyện không thể và không nên xem thường. Dễ dàng chăng là họa hoằn đối với những người đang viết dưới dạng thức một chủ đề, vì có thể dựa vào đó để nói thoáng qua những điều mình sẽ trình bày, xây dựng, ước mơ!

     Nhưng thử hỏi, có ai dám đặt bút viết khơi khơi mà không nhắm vào một mục tiêu, một chủ đề, một hướng nhìn nào chớ? Có hết! Ngay cả những người chuyên viết tiểu thuyết mua vui, dã tưởng đi nữa! Chẳng qua là có người đã nêu lên được một điều gì lớn lao và trong khi đó có người lại chỉ vẽ ra một cái gì nho nhỏ!

     Ở đây, với Một Nỗi Buồn Riêng , tôi cũng chỉ mong là mình đã vẽ ra được một cái gì nho nhỏ mà thôi! Tại sao?

     Tại vì, quốc gia hưng vong thất phu hữu trách ! Ðiều mà, không riêng gì tôi, tất cả những người chúng ta đang sống ly hương nơi đất khách quê người đều hằng tâm nghĩ tới! Có phải? Nhưng đặt vấn đề là một chuyện mà làm được gì hay không là một chuyện khác! Với một người cầm bút, nêu lên chủ đề là một chuyện mà viết được gì hay không là một chuyện khác! Và tôi tự cảm thấy mình đã hoàn toàn thất bại, bất lực!

     Vì tôi đã để ngòi bút của tôi dẫn dắt tôi đi lang thang khắp mọi chân trời, góc biển! Trong giông tố bão bùng khơi lại bóng quê hương! Trong biển cả lắc lư con tàu đi vinh danh người chiến sĩ! Trong lòng từ tâm của những người chuyên môn lường gạt có pa-tăng! Trong hương say dục tình thấp thoáng bóng liêu trai! Trong tình yêu giao hòa bất kể màu da phong tục! Trong êm ả gia đình và thiên nhiên huyền thoại! Trong những đua đòi bóng sắc của giới quần hồng! Trong nỗi chết chưa rời tay trong tay cùng Chúa, Phật...

     Ô hay, cái gì lạ thế! Một quái thai thời đại chăng? Thưa rằng, không đâu, chỉ là tác phẩm mà tôi có phần nào ưng ý thôi! Xin mời quý bạn đọc ghé mắt vào xem!

   back to top

01. MỘT NỖI BUỒN RIÊNG

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Xế chiều hôm nay trời bỗng dưng oi ả lạ thường. Nắng chang chang như mang mùi khét. Nực nội, bức rức, khó chịu. Mới lội bộ một khoảng mà mồ hôi tươm ra như mật trong người. Hầm hầm, rít chịt. Ðã vậy chẳng thấy một chút gió, chẳng có một gợn mây. Bầu không khí như đang đứng sững, chết lịm, still . Ngột ngạt, khó thở. Có phải đây là những dấu hiệu của một cơn khủng hoảng trầm trọng về... thời tiết sẽ xảy ra? Như một im lặng đè nén từ bao nhiêu năm chợt đến lúc sắp vỡ bờ? Như một quả bom nguyên tử sắp nổ?

     Quốc mở cửa xe chui vào lò thiêu cá nhân. Chàng với tay mở thêm cánh cửa phía bên kia chỗ ngồi cách tài xế, với hi vọng có chút gió lòn vào. Nhưng nào có gió máy gì đâu. Duy nhất chỉ có sự dẫn nhiệt từ từ, heat transfe r , từ điểm nóng đến điểm lạnh tựa hồ như những phân tử không khí đã đặc lại thành chất cứng. Máy lạnh. Rõ ràng chàng cần gấp một cái máy lạnh. Chàng đề máy, máy nổ ngọt ngào. Gạt cần điều chỉnh air-conditioner từ vị trí normal qua gạch maximum, chàng mở quạt ở tốc độ thiệt lớn, high. Hơi nóng phả vào mặt thiếu điều muốn cháy râu, phỏng trán.

     - Damn it!

     Chàng hậm hực chửi thề rồi đưa tay quạt túi bụi như phủi bụi trên không. Trời mới giữa tháng năm mà sao nóng dữ vậy cà? Thiệt là quái lạ, chàng không hiểu cái ông thần indian summer này ở đâu mà bang bang tới sớm như vậy. Bãi đậu xe như bốc khói. Nhựa đường như đã chảy ra, mềm xùi, dẽo nghẹo. Xung quanh chàng, một vài người đã vô ga vụt chạy như cố thoát thân, tìm đường trốn nắng. Một vài người khác vừa mới de xe ra khỏi hàng gạch phân ô. Ai nấy đều đang bận rộn với chính mình. Giờ tan sở. Ðợt nhứt, dành cho những người chuyên môn đi làm sớm, về sớm. Thì giờ gia giảm, flexible time , kiểu Mỹ. Ðằng xa kia, lố nhố một đám vừa ra khỏi cổng cũng đang vội vã chạy đi tìm xe riêng của mình. Chạy, ai cũng hâm hở chạy. Chiều thứ sáu thì ai mà lại không hối hả chớ.

     Chạy một mạch về đến nhà chàng mới hay là có nguy cơ đang chờ đợi.

     - Ba à, bão tới, bão tới...

     - Severe storm, bão lớn lắm đó ba.

     Ðám con của Quốc nhao nhao trước cái tivi. Nhưng chàng không tin:

     - Hừ, làm gì có chuyện đó. Ở bên ngoài trời nóng như lửa, đổ tháo mồ hôi hột. Mấy ông tiên đoán thời tiết chỉ biết đoán bừa bãi thôi.

     Quốc đáp hờ hững trong lúc lui cui cởi giày, vớ để lên kệ giày. Ðám con chàng lại nhao nhao lên.

     - Thiệt mà ba. Lần này the weatherman không đoán sai đâu.

     - Ba coi kìa. Bão đang đi tới Hickory rồi đó, vài giờ nữa thì sẽ tới mình.

     - Gió mạnh lắm ba, trên 75 dặm một giờ. Sẽ có nhiều tornado nữa. Nguy hiểm lắm.

     Chàng thả người vào chiếc ghế phô-tơi độc nhất trong góc phòng khách. Chiếc ghế mà người Mỹ điên khùng đặt cho nó một cái tên quái đản: lazy boy chair, ghế thằng con trai làm biếng. Chăm chú theo dõi hàng chữ chạy chậm phía dưới màn ảnh một lúc, chàng cho ý kiến:

     - Chỉ mới tornado watch thôi. Chừng nào có tornado warning mới là nguy hiểm. Tornado warning có nghĩa là có người đã phát hiện những funnel clouds , những cột mây đen hình cái quặng.

     Ðám con của Quốc như không để ý gì đến lời giải thích của chàng. Trong phút chốc, tụi nó đã quên lửng sự nguy hiểm mà chính tụi nó vừa hãnh diện phát hiện ban nãy. Cả bọn chỉ còn biết dán mắt vào cuốn phim hoạt họa đang nhảy múa đến hồi có phần kịch liệt. Hàng tornado watch như đang chạy ngược chiều với con thỏ xám, vai chính trong phim. Tiếng "bíp bíp, bíp bíp" ngắn hạn của con thỏ thỉnh thoảng pha lẫn vào tiếng "bíp..., bíp..., bíp..." dài thòng của ước hiệu báo động tình trạng emergency, ước hiệu chung của các đài truyền hình. Ngưng một chút rồi lại tự động "bíp..., bíp..., bíp..." trở lại. Và hàng chữ hiện ra như một màn ảnh nhỏ trên màn ảnh lớn. Ở Mỹ này, lẽ dĩ nhiên, tình trạng khẩn trương không có nghĩa là máy bay địch đến dội bom. Không có vụ phải chui vô trản-xê. Mỹ đâu có ngu đâu mà tự đem chiến tranh về xứ mình. Không bao giờ. Tóm lại, chẳng có gì khác hơn là giông gió, bão bùng.

     Có lẽ ở Việt Nam không có, hoặc họa hoằn lắm mới có tornado. Tornado, tô-nế-đồ phát âm theo tiếng Mỹ, thứ thiệt. Những con trốt thứ thiệt. Thật ra hai chữ con trốt dùng để dịch chữ tornado, như nhiều tự điển Việt-Anh, Anh-Việt đã ghi, đã không đem lại một ý nghĩa gì chính xác cho người mình hết. Con trốt ở Việt Nam thì thiếu gì. Những đám bụi xoáy hình cái quặng lớn, nhỏ ở Việt Nam mình thiếu gì. Ngay trên những bãi đất hoang, ngay trên mặt lộ. Ngay trên những liếp cải tàu-xại chỉ còn trơ lại đất cát và cỏ dại, sau khi được mấy bà Tàu mua mão, mướn người nhổ tất. "A-chía, a-chía," có lần Quốc thấy một bà Tàu vừa la bài hãi vừa xòe bàn tay trơn chém lia lịa vào con trốt đang mang đầy bụi bậm lá lú tiến nhanh về mình. Con trốt tan biến ngay. Cho đến bây giờ Quốc cũng không hiểu hai tiếng "a-chía, a-chía" đó đã mang một phép thần thông loại gì.

     Con trốt ở Mỹ vĩ đại lắm. Cái gì của Mỹ mà lại không to không lớn chớ? Ðộc ác nữa. Con trốt Mỹ đã từng giết hại rất nhiều người. Không phải như con trốt Việt Nam thổi không bay tà áo xẩm, vạt xường xám đen đúa mốc thít mốc cời của mấy bà lái cải.

     Con trốt của Mỹ hình thành khi có hai luồng không khí vĩ đại nóng và lạnh gặp nhau trên một chiến tuyến dài, lắm lúc hàng trăm dặm, gọi là đường squall line (đường gào thét hãi hùng, screaming line !). Nói là gặp nhau chớ thật ra là đụng nhau với một vận tốc khá mạnh. Tỉ như hàng triệu chiếc máy bay đối đầu húc vào nhau trên không trung thì làm gì chẳng kinh động một góc trời. Ðã vậy hai luồng không khí nóng và lạnh cũng giống như hai khối điện dương và âm, hễ đến gần nhau thì phải nổ, phải xẹt. Tuy nhiên, trong cảnh hỗn âm hỗn dương đó, luật tuần hoàn của vũ trụ vẫn được duy trì chặt chẻ: nóng bay lên, lạnh rơi xuống. Dương luôn luôn đi lên và âm luôn luôn đi xuống; bởi, ai nói âm thịnh dương suy ở chỗ này là hoàn toàn sai bét.

     Rồi để cho cái đi lên của mình càng lúc càng quyết liệt hơn, cái dương đã vô tình (hay cố ý?) đè cái âm xuống, đẩy mút vào tận cùng đáy thẳm. Muốn lên mà tìm cách... đè người ta xuống thì thực sự cũng chẳng mấy gì hay ho phải không? Nhưng trời đất cũng chưa đến nỗi rung rinh hoặc giả sắp sập vì cái thói ăn gian, lợi dụng tầm thường như củi mục đó.

     Sập hay không là khi có sự xuất hiện của những cái dương muốn lên bừa bãi. Hiển nhiên là có sự đồng lõa của cái âm và cộng thêm vai trò xúc tác của lớp thượng tầng khí quyển, jet streams, tạo thành một sức hút rất lớn từ thinh không. Với những điều kiện cần và đủ đó, những cái dương muốn lên bừa bãi đã không chịu lên ngay thẳng đường hoàng như người ta mà lên theo đường trôn ốc, xoắn xích. Ðít bé đầu to theo hình cái quặng. Giống như những bọt nước sôi trong ấm, dưới nhỏ trên lớn. Thế mới là ác đạn thảm sầu, thế mới là trời long đất lỡ. Và thế mới là có cơ hội để... tornado được đẻ ra. Lúc mà luồng âm hàn tự do rơi xuống trong lòng quặng như rơi vào khoảng không, vacuum space, để trở thành những cơn dập vùi hùng hổ, downbursts. Mà không phải một đâu, cùng một lúc trên cái chiến tuyến dài giữa âm và dương khí đó, có thể hàng loạt tornado sẽ được đẻ ra. Nhễu nhão lòng thòng kèm theo những cơn mưa như thác đổ bên rừng. Rõ mệt người, chết người, tai hại ơi là tai hại. Nhưng dẫu có mệt người, chết người và tai hại đến triệu triệu đồng tiền của gì gì đi nữa thì tất cả mọi chuyện chẳng qua chỉ là ảnh hưởng quái ác của những luồng âm hàn cực độc downbursts mà thôi. Những nhà khí tượng học, meteologist hoặc gọi nôm na ra là the weatherman, cho biết như vậy. Ðúng là âm dương tương hợp có đôi, tiếng đời dị nghị, than ôi, một mình ... âm lãnh đủ.

     - Má đâu con?

     - Má đi lại tiệm thực phẩm mua thức ăn rồi. Không còn gì ăn được trong tủ lạnh hết.

     Ðứa con út phàn nàn. Quốc hỏi lại:

     - Chớ nguyên một ổ bánh mì chuối (banana bread) má mới làm ngày hôm qua đâu?

     - Ai ăn đâu mất tiêu, lúc con về chỉ còn một lát mỏng dánh.

     Quốc đành an ủi con:

     - Thôi, phải chờ má đi chợ về vậy. Thế nào má cũng có mua bánh kẹo. Chắc má không đi lâu lắm đâu...

     Quốc uể oải đứng dậy đi về phòng riêng. Một tuần lễ rồi cũng đã trôi qua. Bên này lẹ thiệt. Mắt nhắm mắt mở là đã hết ngày. Giấc sớm giấc chiều là hết tuần. Thời giờ đi như tên bay. Những ngày Tạ ơn, Noel, Giáng sinh, Tết tây, Tết ta, Phục Sinh, Phật Ðản... thấy dài dài. Hết ngày mẹ, mother day, lại đến ngày cha, father day. Hết ngày người tình riêng, valentine day, thì đến ngày dành độc lập chung, independent day. Ðó là chưa tính ngày cách mạng, 1 tháng 11, ngày quân lực, 19 tháng 6, ngày chạy loạn, 30 tháng 4, của quân dân ta. Sale, bán xôn, Mỹ tìm cách đặt ra những ngày lễ đặc biệt để cố tình ban ân huệ (hay là vét sạch túi?) cho mọi giới đồng bào. Bên mình làm gì có được cái phong tục giàu có, tân tiến này! Nghĩ cho cùng, đáo giang tùy khúc nhập gia tùy tục , người mình rốt cuộc rồi cũng phải lọt vào quỹ đạo văn hóa, tập quán của xứ tạm dung mà thôi. Bây giờ, bảo đảm ai ai cũng nhớ ngày sinh nhật của mình nhiều hơn là ngày cúng giỗ ông bà, cha mẹ.

     Quốc thay đồ nhẹ leo lên giường nằm nghỉ. Ðịnh coi tin tức qua loa nhưng chàng chợt nhớ là mình quên mở cái tivi không có remote control nằm chình ình trên đầu tủ. Chỉ có cái tivi ở phòng khách là có remote control mà thôi. Kể cũng bất tiện. Làm biếng trổi dậy lần nữa, chàng với lấy một tờ tập san trên chiếc bàn đêm bên cạnh giường. Ðọc tin nhảm quanh cộng đồng người Việt hải ngoại cũng là một phương thức giải trí lành mạnh vậy. Ðược một lúc, cơn buồn ngủ bỗng dưng kéo về hồi nào không hay. Quốc buông tờ báo lên mình, mơ màng nhắm mắt...

     Chẳng biết được bao lâu, chàng bị đám con chạy vô phòng lay dậy:

     - Ba, ba. Má về rồi kìa, ba.

     Chàng bừng tỉnh và chợt nhận ra xung quanh mình tối thui. Bên ngoài, trời chắc đã chạng vạng. Chàng đưa tay vặn công-tắc đèn, dụi dụi mắt:

     - Ừa, để ba ra phụ má đem đồ vô.

     Qua cửa sổ lớn ở phòng khách, Quốc thấy bầu trời bên ngoài vần vũ, xám xịt. Cây cối lay động mạnh, cành quặt quà quặt quại như muốn gãy. Chưa mở cửa mà đã nghe tiếng gió rít... hịch, hịch,... hú, hú, hú... tạt vào hàng hiên, lúc tắt lúc hiện. Thiệt là giống như ở những xứ có mùa đông kinh niên không bằng. Quốc mở cửa... rẹt, sợi dây xích bật căng ra và... bùng, cánh cửa bị giựt giữ lại quá mạnh. Cái storm door bằng nhôm mỏng tròng trành, lắc lư, chực bay con tàu đi. Luồng gió lạnh phập vào nhà mang theo đầy lá xanh rơi tản mác. Trời đất, cái ông đại thần phong nào đang thổi tới đây? Gió kiểu gì lạ vậy! Nhìn ra đường, Quốc thấy vợ chàng hình như đang cố gắng đóng lại cửa xe mà đóng không được. Một luồng gió mạnh nữa quật tới. Lần này Quốc thấy vợ mình rõ ràng không phải đóng mà là níu lấy cánh cửa xe cho khỏi bay đi. Quần áo sát rạt về một phía tạo nên những đường cong lồi lõm, bất thường. Chỗ phùng ra vỗ lách bách, phất phới như đôi cánh thiên thần của một tiên đồng trinh nữ. Quốc băng trên cỏ vụt chạy ra lo tiếp cứu. Gió chém vào mặt vào tóc chàng rát rạt. Chân chàng như bị dở hổng lên và thiếu chút nữa bị đẩy tạt vào cành anh đào trước ngõ. Quốc hét lớn:

     - Em chạy vô nhà đi để đó cho anh.

     Vợ chàng vội vàng túm lấy hai túi giấy dầu đựng đồ ăn, chạy nghiêng nghiêng một bên vào nhà. Quốc lôi gallon sữa trong xe ra để xuống bên vệ đường rồi lấy hết sức đẩy cánh cửa xe đóng lại. Từng loạt gió mạnh thổi qua làm chiếc xe nhúc nhích, rung rinh y như có người ngồi bên trong nhún lên nhún xuống. Vài giọt mưa to hột bắt đầu rơi mạnh thành tiếng bạch bạch trên mặt đường. Một lằn chớp cắt dọc phía trời tây và một tiếng nổ vang dội xa xa. Quốc cặp nách hai túi giấy dầu còn lại và cúi người xách luôn bình sữa vụt chạy vô hàng ba. Một cánh lá cắt ngang vào mi mắt Quốc đau điếng, nổ đom đóm, muốn đui không thấy đường đi.

     - Damn it!

     Quốc hay chửi trổng như vậy. Không như mọi khi Quốc vẫn hay cần đám con mở và giữ cửa cho mình, lần này khác, từ nãy giờ cánh storm door tự nó cứ phải mở tàng quạt. Ðóng lại cũng không phải dễ. Ðể hai túi giấy và bình sữa xuống sàn, chàng bước ra ngoài và vọt ra phía sau cánh cửa, dang hai chân đứng tấn, đẩy tới. Khoảng nửa chừng, chàng vụt lẻn vô trong trước khi... rầm, cánh cửa tự đóng chặt. Hịch, hịch... hú, hú, hú... Kể như thoát nạn.

     - Ba, coi nè. Tornado warning!

     - Thiệt hả?

     Hỏi cho có hỏi vậy thôi chớ Quốc không lấy làm ngạc nhiên cho lắm với tình hình hiện tại. Có thể tornado đã xuống, đã touch down vòng vòng quanh đây vì chàng đã thấy nhiều lằn xẹt ngay trước mặt và tiếp theo là mấy tiếng sấm nổ lớn như ngay trên đỉnh đầu. Quốc đoán quả không sai. Hàng chữ chạy chậm từ phải sang trái trên tivi cũng đã xác nhận như vậy: Tornado had been spotted at 2 miles west of ... Bỗng nhiên... xịt, rắc rắc rắc... tivi mất hình. Sụp điện.

     Ðám nhỏ hốt hoảng:

     - Oh no, hết thấy đường rồi.

     - Phải chạy xuống hầm ba ơi, ở tầng trên này nguy hiểm lắm. Cô giáo có dặn tụi con như vậy ba à.

     - Má ơi, má. Ði xuống hầm má ơi...

     Rồi tụi nhỏ không chần chờ gì nữa, đạp lẫn lên nhau tuôn xuống cầu thang. Trời đất tối thui, sắp sập thiệt. Bên ngoài tiếng gió lẫn tiếng mưa đã nghe rõ ràng hơn, trở thành ào ào, rào rào mỗi lúc một lớn hơn. Sấm chớp cũng vậy, nổ liên hồi, mỗi lúc một gần thêm, nhiều thêm. Quốc réo vợ chàng còn đang lui cui xếp đồ vô tủ lạnh:

     - Gió mạnh dữ quá má mầy ơi. Thôi bỏ đó đi, chạy xuống hầm với lũ con cái đã. Ðể không thôi tụi nó sợ.

     - Chưa nấu cơm nấu nước gì hết mà sụp điện như vầy rồi biết làm sao đây.

     - Kệ nó. Lát nữa rồi tính.

     Quốc chụp vội cái đèn pin nằm trên kệ sách, bấm, rọi đường cho vợ. Ấn vai đẩy vợ xuống trước rồi chàng lẽo đẽo theo sau. Chàng bỗng quên mất là trong cơn giông gió mình phải mở hay đóng cửa sổ quanh nhà. Ðến cuối cầu thang, chàng chiếu đèn vào phòng chơi, play room, thấy lũ con đang quây quần trên bộ salon kê sát vách tường trong. Cả bọn tụm lại nói cười khúc khích trong bóng tối. Tụi nhỏ mò đường kể cũng hay. Có lẽ nhờ ánh sáng chớp tắt xanh dờn của mấy tia chớp. May quá, chàng thấy có mấy cái dĩa nhôm cắm sẵn đèn cầy đốt dở lần trước nằm trên mặt bàn con, coffee table. Chàng lại kéo ngăn tủ bàn viết kê gần đó định tìm hộp quẹt, nhưng tìm không ra. Một lằn chớp ngoằn ngoèo, dài thòng và những tiếng nổ... ầm ầm ầm thật lớn, như ngay trên nóc nhà. Tiếng sấm ngân dài thật lâu.

     - Ba má lại đằng này với tụi con đi. Phải ngồi sát vào vách tường, không nguy hiểm lắm.

     Tiếng thằng con trai lớn đưa ý kiến và tiếng đứa con gái nhắc chừng thêm:

     - Không được đứng giữa nhà. Cũng không được đứng gần cửa sổ nữa. Kiếng bể sẽ làm mình bị thương đó. Má biết hôn?

     - Hãy im coi nào. Ðể ba con nghe động tĩnh.

     Quốc thấy tụi nhỏ rõ nhớ lời thầy cô dặn. Ðúng rồi, với áp lực thật mạnh của sức gió cửa kiếng sẽ bể trước khi tường nhà sập. Chàng vụt nhớ ra, chết cha, đúng là phải mở cửa sổ thay vì đóng. Gió sẽ lòn qua nhà, ít nguy hiểm hơn. Nhưng bây giờ chạy lên tầng trên mở cửa sổ chắc không còn kịp nữa. Bất thình lình, trên trời như có một đoàn chim sắt đang bay tới, rất đông: h... ùm, ùm ùm... Dưới đất cũng vậy, một đoàn tàu đang chạy ngang qua: h... ùm, ùm ùm... Mang theo những tiếng sét đồng loạt nổ long trời, và những lằn chớp xanh ma trơi bủa vây tứ phía. Có lẽ trời đang sập thiệt. Quốc thấy mình như đang lạc vào chốn địa đàng của loài khủng long, với những tiếng gào thét thất thanh trước khi lâm chiến, tử nạn. Chàng chạy lại khung cửa kéo, slide door, rọi đèn pin ra ngoài. Nhờ bóng tối bên trong mà chàng thấy rõ hết. Trời đất, những hạt mưa nằm ngang dầy đặc, vùn vụt bay không ngớt dưới sức mạnh của cuồng phong. Những thân cây to lớn ở bìa rừng phía sau nhà cong vòng như những cây sào của các lực sĩ điền kinh. Ngọn nhịp lên nhịp xuống như ngọn cần câu cắm đang bị cá ăn. Những con đom đóm bay đêm đã bị đánh rạt xuống lớp cỏ, đang nằm im một chỗ thoi thóp chớp.

     - Ba ơi, ba. Ba đừng đứng gần cửa kiếng.

     Quốc trấn an:

     - Không sao đâu con.

     Bất chợt, Quốc chỉ biết thầm van vái Phật trời phù hộ cho gia đình mình được tai qua nạn khỏi. Giống như mẹ chàng mỗi khi có giông gió sấm sét bên nhà. Nhưng chắc chàng còn dở hơn mẹ nhiều điều. Chàng chưa nói thạo câu Nam mô a di đà Phật mà chỉ biết bắt đầu bằng hai chữ: Lạy trời... Tiếng h... ùm, ùm ùm... mỗi lúc một lớn và gần hơn rồi đột nhiên biến thể ầ... m, ầm ầm... đ... ùng, đùng đùng... loạn xạ. Ðệm thêm những tiếng kêu rất khẽ, rất khô khan nhưng Quốc vẫn nghe rõ mồn một: rắc, rắc rắc... Hàng loạt những thân cây liên tiếp thay nhau gãy gục, tróc gốc trong ánh chớp lóe sáng không ngừng. Như những đường gươm cắt hết sức gọn gàng, sắc bén, ngọt lịm. Một mùi khét khét xông lên nồng mũi. Có lẽ từ những thân cây nào đó bị sét đánh, bốc cháy phía trên gió. Tâm bão là đây? Ðang lướt qua nhà Quốc trong tít-tắc, phút giây này? Thôi thì trời kêu ai nấy dạ, mình đâu làm sao thay đổi được thiên tai. Rõ ràng, Quốc thấy mình hình như đang nắm tay đi đôi với tử thần trên một khoảng đường chết nhiều hơn sống.

     Nhưng, phàm cái gì bạo phát thì phải bạo tàn . Không mấy chốc, cả hai, đoàn máy bay và đoàn tàu tốc hành, đã được tuần tự thay thế bằng đám ong bầu, ong ruồi. Những hạt mưa bay ngang vùn vụt như những đường tên trắng cũng được thay thế bằng những giọt mưa lã chã canh khuya. Một vài con đom đóm ngóc đầu lên được, bay là đà mặt cỏ, e dè chớp chớp đèn đuôi. Mọi việc như bình thường trở lại. Lạ thật.

     Chờ hồi lâu không thấy động tĩnh gì nữa ngoài tiếng mưa đêm chan hòa với tiếng côn trùng, đám con của Quốc kết luận:

     - Hết bão rồi ba má ơi!

     - Mình đi lên được rồi phải không ba?

     Vợ Quốc trả lời thay:

     - Khoan đã con. Bão này đi coi chừng bão khác tới. Ngồi đây thêm một chút nữa cho chắc ăn. Biết đâu mình vừa chui lên thì lại chạy xuống không kịp thở. Nè, mỗi đứa chuẩn bị cầm theo một cây đèn cầy để lát nữa xuống bếp mồi lửa đốt cho có ánh sáng trong nhà nghe chưa. Trời đất gì tối thui như mực.

     Rồi chẳng bao lâu nàng quay sang Quốc:

     - Chắc hết rồi ba mầy hả. Thôi để em đi lên coi đồ ăn đồ uống ra sao. Nãy giờ không bỏ vô tủ lạnh chắc thịt cá ươn sình hết trơn rồi.

     - Ðiện có đâu mà tủ lạnh với không tủ lạnh.

     - Coi vậy chớ hơi lạnh cũng còn nằm trong đó, anh nói.

     - Ừa, thôi lên thì lên. Anh cũng muốn coi cửa nẻo có cái nào bể, sập, hay bay mất không.

     Quốc rọi đèn pin dẫn đầu đi trước, bước lên cầu thang. Ðám con Quốc túa theo và vợ chàng đi sau rốt. Qua khỏi nấc thang cuối, bước vào hành lang, Quốc mừng thầm trong bụng. Không có gió, không có tiếng động bên ngoài lòn vào chứng tỏ là tất cả các cửa sổ chưa bể kiếng, vách tường chưa sập, và nóc nhà chưa bay. Vòng qua nhà bếp cho đám nhóc mồi đèn xong, Quốc mở cửa cái bước ra hàng hiên. Trời đất, cái gì nằm một đống đen thui thùi lùi trước nhà đây? Ôi thôi rồi, cây sồi già trước nhà đã tróc gốc. May là nó ngả ngang sân không đụng chi đến cái nhà. Rõ Phật trời đã che chở và phước đức ông bà còn để lại. Chỉ cần một nhánh lớn tấp lên nhà là nguy to. Mái nhà sẽ lủng lỗ và nước mưa sẽ theo đó đổ trút vô nhà. Ngập lụt. Hên ơi là hên. Vòng vòng mấy căn nhà láng giềng, mấy căn nhà kế bên và đối diện phía bên kia đường, cũng đã thấy ánh đèn pin nhấp nháy. Hình như ai cũng muốn kiểm soát lại phần số của mình. Hình như quanh nhà nào cũng có những thân cây bị bứng gốc, gãy ngọn nằm vắt ngửa vắt nghiêng hết. Ngoài đường cũng vậy. Cây cối ngổn ngang liệt địa khắp trên mặt đường. Quốc chiếu đèn ngược vào tấm vách tường, chàng rất đỗi ngạc nhiên réo vợ:

     - Em ơi, ra đây mà coi.

     Những đóa hoa màu xanh lá cây lớn nhỏ đủ cỡ như hoa giấy confetti, đã bị dán chặc lên nguyên tấm vách sơn trắng dọc theo phòng khách. Một bức tranh lập thể, kỳ dị. Làm sao gió có thể xé rách nát những cánh lá ra từng mảnh vụn ngần ấy? Quốc không thể hiểu nổi! Vậy mà căn nhà vẫn đứng yên. Một mình chống chọi với cơn phong ba bão táp, thập tử nhứt sinh. Thế mới là tài tình. Chẳng bù hồi mới qua Mỹ, Quốc cứ chê nhà Mỹ như là đồ chơi, cất toàn bằng ván ép và đóng đinh. Dầu mối không ăn, mọt không gặm thì năm ba năm cũng sập vì mấy cây đinh rỉ sét đó. Ðâu có được như nhà bên mình, phần lớn được làm bằng gỗ cứng: thao lao, bằng lang, căm xe, cẩm lai... Toàn là thứ mối chê mọt chạy. Ðã vậy cột, kèo, xiên, lụi gì gì cũng được xẻ mọng, đóng chốt thì bắt buộc phải đứng vững muôn đời, trơ gan cùng tuế nguyệt. Ai dè. Thiệt, ai dè... Vợ chàng đã bước ra hồi nào không hay. Nàng đến ôm ngang eo ếch Quốc, xiết nhẹ, thủ thỉ:

     - Số mình có Phật trời độ anh hả?

     - Ừa. Chẳng biết trong đêm nay có ai chết vì cơn bão rớt này không? Cây ngả, nhà sập, nóc bay thì hiển nhiên phải có rồi. Lạy trời... Thôi, mình đi vô lo cơm nước đi. Ðể sáng ngày hãy đi thăm chòm xóm.

     Mưa vẫn tiếp tục rơi rỉ rả, lõm bõm trên lớp nước đọng vũng ngoài sân. Nhiệt độ bỗng nhiên tụt xuống thấp rất nhanh. Trời trở rét như đang giữa mùa đông. Quái lạ. Quốc dùng mình. Chàng lật đật choàng tay ôm vợ đưa vào nhà.

     - Ngoài này lạnh quá, thôi đi vô em ơi.

     Vợ chàng hỏi sang chuyện khác:

     - Không có điện rồi làm sao nấu cơm?

     Quốc sực nhớ:

     - Hừ, kẹt dữ ha.

     Vợ chàng tiếp:

     - Phải chi như bên Việt Nam mình thì chạy ra sau vườn quơ một mớ củi vụn lá khô vô đốt, tiện lợi biết mấy. Ừa, mà hôm trước mình dọn vườn, tỉa cây... anh bỏ cái đống chà ở đâu? Bên ngoài hàng rào phải hôn? Nhưng thôi, trời mưa ướt nhẹp hết rồi, mang đống chà đó vô đây chỉ có nước un khói. Nồi niêu, xoong chảo có dính lọ cũng không hề gì, chỉ sợ cái trần nhà. Vả lại phía bìa rừng bây giờ trời tối om như mực. Ghê thấy mồ. Ðừng nói ở Mỹ này không có ma à nghen. Bảo đảm to lớn, dềnh dàng không thua gì mấy con dã nhân thời trung cổ, mấy con bigfoot...

     Ðám nhóc đốt đèn cầy tứ giăng. Phòng khách, nhà bếp và luôn cả phòng ngủ, phòng tắm mỗi nơi một cái. Quốc nghĩ là đám con của anh coi bộ... không thích bóng đêm cho lắm. Không có cái tivi, nguồn giải trí chung, cả đám đang tụm vào một phòng riêng chơi cờ monopoly là cái chắc. Quốc nghe tiếng bàn cãi, cười giỡn ồn ào ở trong đó. Quốc đề nghị với vợ:

     - Hay là mình xài cái lò sưởi dầu lửa vậy. Sẵn trời đang xuống lạnh, mình vừa nấu đồ ăn vừa sưởi nhà luôn thể. Một công hai chuyện, vừa tiện vừa lợi. Ðể anh đi lấy.

     Quốc đoán là cái kerosene heater loại vuông, 7500 BTU, của mình có thể dùng tạm như một cái lò nấu được vì có hai chỗ thoát hơi nóng bên trên. Rất nóng, theo như Quốc biết. Quốc chui vào nhà xe lôi nó ra, lau chùi sạch sẽ. Chàng bảo vợ:

     - Một bên em bắt ấm nước châm trà. Một bên em nấu xoong nước luộc mấy cái hột vịt dầm nước mắm. Xong, luộc thêm một mớ rau, đậu nữa là đủ bữa cho ngày hôm nay. Khỏi phải thịt cá ê hề chi cho mất công. Kể như ăn chay nằm đất một đêm vậy.

     - Em sợ cái lò không đủ sức nóng.

     Vợ Quốc vừa nói vừa đi lấy nước. Quốc phân trần:

     - Bảo đảm đủ sức mà. Em cứ thử đi rồi biết.

     Nhưng vợ chàng ngạc nhiên, la lên:

     - Á, mà trong vòi có nước nóng anh ơi. Như vậy để em lấy nước thiệt nóng rồi hãy bắt lên bếp.

     Quốc định nói: "Nước nóng có sẵn trong bình dự trữ, một lát nữa nó sẽ lạnh ngắt bây giờ, đừng có ham." Nhưng chàng sực nhớ khu của chàng xài gas chớ không phải điện. Bình nước nóng được nấu bằng gas là cái chắc. Chàng mừng thầm:

     - Vậy là còn hên cho lũ nhỏ. Còn lâu tụi nó mới chịu tắm nước lạnh. Mùa này nước lạnh trong vòi còn lạnh như nước đá. À, còn cái điện thoại nữa. Ðể anh thử coi nó còn work không đây... Hê, còn chạy ngon lành nè. Chắc hãng te'léphone đang xài máy điện riêng.

     Ðộ mười, mười lăm phút sau, ấm nước kêu siêu. Có lẽ nhờ vợ Quốc lấy nước thiệt nóng trong vòi. Nhưng bên xoong nước luộc hột vịt không thấy động tĩnh gì ráo trọi. Sao kỳ vậy? Vợ chàng cũng lấy nước thiệt nóng trong vòi kia mà! Nấu nước không sôi thì làm sao nấu cơm cho được. Quốc lấy làm phân vân cho điều mình vừa nói như quả quyết: "Bảo đảm đủ sức mà."

     Vợ Quốc như đọc được ý nghĩ trong đầu chàng. Nàng ngừng tay lặt đậu, ngước nhìn chàng thăm dò một chập, cười cười:

     - Anh không lấy nắp đậy xoong nước lại thì đến Tết Congo nó mới chịu sôi.

     Quốc làm theo lời vợ và không mấy chốc xoong nước bốc khói, sôi bùng lên. Thiệt là một kinh nghiệm để đời cho Quốc. Nếu không lâm vào hoàn cảnh bão bùng mưa gió này thì không cách gì chàng biết được. Kể ra việc bếp núc tạm thời kiểu Mỹ như vầy cũng sạch sẽ chán. Không thua gì những bếp than hồng bên nhà, loại đốt bằng than đước, than miểng gáo. Không đến nỗi đen nồi, lọ chảo như Quốc tưởng.

     Sau bữa cơm đạm bạc hai vợ chồng uống trà thức nói chuyện đến khuya. Ðám nhỏ cũng vậy, mê chơi hơn mê ngủ, quây quần bên bàn ăn để nghe chuyện. Vì không mấy khi gặp cảnh tối lửa tắt đèn, phải thắp đèn cầy như đêm nay. Bày trò chơi hà tiện, lũ nhỏ gỡ lớp sáp chảy xuống chân đèn bỏ lại lên trên. Những cây tăm xỉa răng dùng làm cuốc xẽng bị cháy xém một đầu. Cụt dần. Rồi bị thảy luôn vào ngọn lửa. Mùi nhựa thông thơm thơm tỏa ra theo làn khói mỏng. Quá khuya, vợ Quốc phải nhắc chừng nhiều lần... đi ngủ, đi ngủ đi ... lũ nhỏ mới chịu tan hàng. Ðến lượt hai vợ chồng nhỏm dậy, cùng nhau thu dọn bãi chiến trường, mọi thứ lỉnh kỉnh trước khi về phòng. Với niềm hi vọng mong manh, Quốc nghĩ tới ngày mai sau cơn mưa trời lại sáng. Ðiện sẽ được nối, và cuộc sống sẽ trở lại bình thường như mọi ngày. Mọi ngày như một ngày buồn tẻ, nhạt nhẽo của đời tỵ nạn. Vật chất đôi khi dư thừa, nhưng ngược lại, tinh thần lắm khi trống rổng. Quốc bá vai hôn lên cổ vợ, một người cùng cảnh ngộ. Chàng biết mình rồi sẽ đi vào giấc ngủ đêm nay với nhiều nỗi bâng khuâng...

     Sáng ngày, tiếng cưa máy thay cho tiếng chim hót vang rền khắp mọi nơi đã đánh Quốc thức dậy sớm hơn chàng dự tính. Sao bữa nay tụi Mỹ làm siêng dữ vậy cà? Tuy hỏi vậy nhưng Quốc cũng thấy mặt trời đã lên rất cao rồi, những mấy sào lận. Tại vì tháng năm chưa nằm thì sáng đó thôi. Một vài tia nắng chói chang xuyên qua kẽ hở của màn cửa sổ dọi xuống phòng, cắt một đường dài trên thảm. Ngặt một nỗi, trời vẫn còn lạnh quá chừng chừng. Ảnh hưởng của cơn bão kéo dài đến như thế này sao? Vừa tốc mền ra chàng đã vội vàng muốn chui vô lại. Nhưng biết không thể nằm nướng được nữa vì chàng sực nhớ mình còn phải lo châm dầu cho cái lò sưởi còn để cháy qua đêm ngoài nhà bếp, phòng ăn. Chàng với lấy chiếc áo len mặc lên người, xỏ chân vào đôi giày hàm ếch đi vào phòng tắm làm vệ sinh. Như thường lệ, chàng bật công tắc. Oh no, điện vẫn còn cúp? Ðiệu này chắc nguyên cả thành phố bị mất điện! Vợ chàng cũng vừa tỉnh giấc, trở mình. Nàng ngồi dậy, ngước đầu cuốn lại mớ tóc lòa xòa phía trước ra sau gáy.

     Lúc trở ra kitchen, vừa bước qua cửa, Quốc khựng lại. Chàng không dám bước thêm bước nữa, lõ mắt nhìn xuống chân mình, rất đỗi ngạc nhiên: nước. Thôi rồi, hai cái tủ lạnh và tủ đá đã bị ông nhà đèn ra lịnh, bắt buộc phải tự động xả đá trong đêm. Nước chảy ra tràn lan khắp sàn nhà. May là khu này được trải bằng lớp gạch nhựa, vinyl, loại nguyên miếng lớn chớ không phải ráp từng miếng nhỏ, nên nước không chảy thoát đi đâu hết. Không thấm vào sàn cây. Kể cũng hên. Cây kim dầu của cái lò sưởi đang chỉ mức một phần tư. Kể cũng đúng lúc. Công việc nào ưu tiên? Lau nước trước rồi bơm thêm dầu sau vậy. Nhưng trước tiên chàng phải đi tìm đôi giày lội tuyết, snow boots. Nước thắm vào giày lạnh như nước đá. Chàng dợm chân nhảy tháo trở lại. Gặp lúc vợ chàng cũng vừa đi tới. Nàng hỏi:

     - Sao dữ vầy nè?

     Quốc cười khang:

     - Chớ trái tim của nó ngừng đập cả đêm mà em. Tội nghiệp trái tim của nó còn thương mình nên mới rỉ ra ba cái nước lã thôi, chớ phải rỉ ra máu là mình mệt đó. Bây giờ thế này, hay là em đi lựa cho anh một mớ quần áo cũ đi, để anh làm nùi lau. Mớ vải vụn, khăn khiếu ở trong thùng nùi giẻ anh đã xài cho ba cái vụ sửa xe hết rồi.

     - Chắc ba cái thịt cá ở trong tủ lạnh hư hết.

     - Kệ nó, không sao đâu. Ăn được thì ăn, ăn không được thì vứt bỏ. Bề gì tụi nhà đèn hoặc tụi bảo hiểm nhà cửa cũng sẽ bồi hoàn tiền hư hao tổn thất cho mình mà.

     - Ối, có đáng giá bao nhiêu đâu mà bắt người ta phải bồi thường.

     - Tại nó ghi trong sách vở, contract như vậy. Mình không khai tụi nó buồn.

     Trong khi Quốc đi lục mấy đôi giày lội tuyết, vợ chàng tìm bưng ra một thùng đồ nửa sạt, đồ dùng để mặc ở nhà mà nàng đã lựa sẵn từ lâu. Hai vợ chồng tra móng cao su vào, lui cui thanh toán bãi trận địa ướt át, chèm nhẹp. Thấm nước vào giẻ lau, rồi vắt ráo vô thau. Từng chút một, làm đi làm lại nhiều lần. Bây giờ phải tập ngồi chồm hỗm. Lâu ngày như quên đi cái thói "thấp hèn" của mình (bọn Mỹ không ngồi kiểu này được mới là kỳ). Ngồi một chút mà đã thấy mỏi, thấy thốn. Bây giờ thử tưởng tượng có dịp nào nằm lại giường gỗ, chõng tre, chắc hẳn là đau thương cho cái lưng dữ lắm. Nằm nệm lò xo, nệm mút quen rồi. Thân xác con người ấy vậy mà cũng dễ dàng đổi thay.

     Quốc không quên cái lò sưởi. Chàng vừa bơm thêm dầu vừa dặn vợ:

     - Khi nào em muốn nấu nướng gì thì cứ vặn cái tim cao lên nghen. Anh định chạy quanh chòm xóm một vòng coi tình hình ra sao. Lũ nhỏ cứ để tụi nó ngủ đến khi nào tụi nó muốn thức thì thức. À, hay là em nấu cho cha con anh một nồi cháo trắng đi. Không có hột vịt muối thì mình chiên "ham" ăn tạm cũng ngon vậy.

     - Chớ anh không chờ em đi chung với anh sao.

     - Ối, một mình anh đi cũng được mà. Ðể anh đi cho lẹ rồi về anh kể lại em nghe. Thôi anh đi nghen.

     Bước chân ra khỏi cửa, Quốc không khỏi giựt mình trước cảnh tượng ngổn ngang, lạ mắt. Ngoài cây sồi tróc gốc trước sân như chàng đã nhận dạng lờ mờ trong đêm, đâu đâu cũng thấy những thân cây gục ngả, gãy ngang. Trên mái nhà ông láng giềng đối diện, một nửa thân trên của một cây thông to lớn, không biết từ đâu bay đến, nằm nguyên con gọn lỏn ngay giữa nóc. Cây đòn dông khuỵu xuống làm thành một lỗ hổng lớn. Nhà phía bên trái của Quốc còn hên, chỉ bị mỗi một cây sweet gum, cây kẹo ngọt, tróc gốc dựa mình lên mái hiên trước. Máng xối nhôm bị bứt ngang, thòng xuống đụng đất. Ðỡ một điều là hắn khỏi phải lo cái vụ nước trút vô nhà như ông kia. Còn ông chủ nhà phía bên phải thì chắc có kinh nghiệm về giông bão từ đời kiếp trước nên trồng toàn cây nhỏ trước sân. Bởi vậy chuyến này hắn tỉnh bơ, không hề hấn gì cả. Nhìn xa hơn, Quốc thấy hình như hai bên đường hễ có một nhà không thì đến một nhà có tì vết, xen kẽ nhau cái hỉ hê, cái bầm dập. Ðặc biệt một điểm là khắp mặt đất như được trải lên một lớp lá mùa Thu... còn xanh biếc. Quốc đưa tay vẫy vẫy mấy ông bà bạn láng giềng, ông Smith, thằng Craig và ông bà Moon. Hình như tất cả mọi người xung quanh ai ai cũng túa ra đường làm việc. Tiếng máy cưa cầm tay, loại máy xăng chạy xích, nổ đều trời, lúc xa lúc gần.

     Quốc lấy xe chạy vòng vòng. Mặt đường được trát hoa lá cành trông như một mặt thảm màu xanh. Còn ẩm ướt vì nước mưa đêm qua đọng lại. Nhưng, chỉ năm ba block khuất qua ngã quẹo thì Quốc bị bít lối đi. Một thân cây to nằm sóng soài từ bên này vắt qua bên kia đường, chưa ai thanh toán. Chắc phải cần một cái cưa thiệt lớn. Quốc de xe lại và rẽ sang ngã khác. Ðược một đỗi, Quốc gặp người bạn Mỹ làm chung sở. Hắn đang cưa củi cái cây maple, cây phong, vẫn thường đứng sừng sững trước nhà của hắn từ bao năm qua. Hắn vui vẻ phát biểu:

     - Ðỡ cho tao quá, nó biết lựa chỗ trống mà nằm xuống cho êm thắm. Tụi mày đằng đó ra sao?

     - Cũng giống như mầy thôi. Ở phía trước, tao có một cây oak (sồi) nằm dài theo sân. Còn ở phía sau, đâu bốn năm cây white pines (bạch dương) gì đó ngả rạp qua bìa rừng. Thiệt là hên. Thôi, để cho mầy tiếp tục làm việc đi, tao đánh một vòng cái đã.

     Quốc đạp ga, vọt tới. Tiếng máy cưa của thằng bạn lại nổ dòn tan như muốn đuổi theo phía sau. Chàng rẽ xuống sườn đồi. Khoảng này gió từ trên thổi xuống, cây cối gãy rạp một chiều. Thỉnh thoảng có một vài cây lớn tróc gốc, đưa nguyên cái bàn tọa dính đầy đất đỏ về phía Quốc, bự tổ chảng như nửa mảnh mặt trời vừa mới mọc. Dám chắc những cây to này đã sống lâu trên một thế kỷ. Thế mà trong phút chốc bỗng rùng mình, xuôi tay. Sự nghiệp trăm năm của một đời dày công xây dựng đành tiêu tan. Dây điện nữa, bị cây lẫn cành đè đứt sạch trơn, nằm lăn lóc ngổn ngang trăm mối. Quốc tự hỏi có nên cho xe chạy lên dây điện không đây? Nó giựt một phát là rồi đời, điện cao thế mà! Cái điệu này ông nhà đèn sửa biết đến bao giờ mới xong? Quốc phải lộn về nhà "báo động" cho vợ chàng hay!

     - Cây cối ngoài đường ngả lạng đã chi khê, em ơi. Mấy cột điện không biết đi cũng bị giựt ngả dài dài, chắc là còn lâu mình mới có điện trở lại.

     - Có nghe ai chết hay bị thương gì hôn?

     - Hình như không, không nghe ai nói gì hết. Nhưng phải liệu đi mua gấp mấy cái đèn dầu lửa má mầy ơi. Ba cây đèn cầy của mình không thể nào "trường kỳ kháng chiến" với cúp điện dài hạn được. Anh nghĩ phải nhanh lên, chậm chân là hết đó.

     - Nếu có bão như vầy ở bên nhà chắc là vui. Chòm xóm láng giềng được dịp sống gần nhau hơn, thương mến nhau hơn. Cùng chia xẻ những nỗi đoạn trường. Bên này có quen thân cho lắm rồi cũng qua đường, nhà ai nấy ở.

     - Ý, đừng có tưởng bậy. Chuyện sập nhà đứt điện mà vui sao được?

     Quốc tả oán với vợ thêm một vài câu nữa rồi mới hối hả lên đường. Rời vùng dân cư băng qua khu thị tứ. Tình hình bên này cũng không khá gì hơn. Nguyên một khu thương xá trong đó có tiệm bán thực phẩm hiệu con sư tử, Food Lions, không còn cái nóc để che mưa nắng. Chỉ còn cái sườn cây trơ trọi không khác gì bộ xương cách trí của con khủng long. Ðám nhân viên của hãng đang mang đồ đông lạnh chất vào thùng xe hàng, loại có máy điều hòa không khí cho khỏi tan nước đá. Xa hơn một chút, cây ăn-ten của một đài radio hát nhạc rock and roll đã ngả ngang, nằm vắt qua văn phòng đài, qua cây cối, lùm bụi. Trông như cái xương cá khổng lồ.

     Những dụng cụ cần thiết như đèn măng-sông, đèn dầu lửa, rề-sô nấu bếp, cưa máy, v.v. đều bị bán tất, sold out, trong nháy mắt. Mới đó mà không tiệm nào còn. Bộ tụi này định đầu cơ tích trữ, để vài ngày nữa đem ra bán giá chợ đen, bán noir hay sao? Quốc không nghĩ như vậy. Với tình thế này ai cũng cần ai cũng mua. Vả lại ở đây không có bọn ba tàu. Thiệt là xui cho những ai vừa mới đến, thấy món hàng cuối cùng cũng vừa trao tay cho ông khách tới trước hơn mình một bước.

     Ði vòng vo năm ba tiệm mà Quốc không mua được cái mình muốn mua: đèn dầu lửa. Thôi thì phải tìm thứ khác. Rồi tính chuyện ăn chắc mặc bền, Quốc mua mấy cái sô thiếc chứa đầy sáp thay cho những cây đèn cầy thông thường loại cầm tay. Mấy cái sô này có cái quay xách bằng kẽm hình vòng cung cũng tiện cho việc xách tới xách lui. Vậy là chàng có được loại vũ khí mới để trường kỳ kháng chiến với bóng đêm...

     Xế chiều ngày hôm đó, trời kéo mây đen trở lại. Chút nắng vất vưởng sau cơn mưa, cơn bão rớt, đã vụt tan biến hồi nào không hay. Nhường chỗ cho âm u, lạnh lẽo. Hàn thử biểu vẫn giữ ở mức độ dưới 50 độ F một cách kỳ lạ. Một màn sương mỏng thay cho khói cơm chiều tỏa ra trong không gian, quyện lấy khung trời tĩnh mịch. Xóm làng bỗng trở nên hoang vắng như một bãi tha ma. Vì hình như chỉ còn lại mỗi một gia đình Quốc nơi đây. Tất cả bọn Mỹ như đã kéo nhau di tản về những nơi khác, những vùng có điện. Về nội hay về ngoại cũng không biết chừng. Quốc cảm thấy thân phận mình lẻ loi, cô đơn hơn bao giờ hết. Chàng nào còn đâu nội ngoại để về. Ðể viếng thăm trong những khi rỗi rảnh hay để tá túc trong những khi hoạn nạn. Nội ngoại của chàng giờ ở xa lắm, mút tận bên kia bờ đại dương. Cái cơn bão ngoài đời dẫu có chợt đến rồi cũng chợt đi, nhưng những cơn bão trong lòng Quốc thì hình như mãi mãi không bao giờ tắt lịm. Ngày nào còn Cộng sản ngự trị trên miền đất nước thân yêu thì ngày về lại cố hương, tìm gặp những người thân thương của Quốc như mãi mãi còn xa.

     - Nè, đi tắm hết đi mấy con, để lát nữa tối hù không thấy đường đi bây giờ.

     Quốc nghe vợ chàng giục lũ nhỏ như vậy. Chàng chợt thấy ngay trước mắt mình lu nước mát sau hè. Và đất trời nhá nhem tối. Chàng phải vâng lời mẹ vội chạy đi tắm cho kịp bóng đêm đang tràn tới. Hình như cái lối sống vô vi, thuận theo đất trời, không cần phải đẻ thêm việc để làm của một dân tộc hiền hòa vẫn còn lẩn quẩn đâu đó trong tâm tư Quốc. Một người dân buộc lòng phải bỏ nước ra đi trong đau đớn, ngậm ngùi. Như những trăm ngàn người dân vô tội khác. Trong lòng Quốc bỗng dâng lên một nỗi buồn riêng. Bâng khuâng khó tả. Chàng ngửa mặt thì thầm trong bóng đêm:

     - Ôi, không có cảnh biệt ly nhưng sao mà buồn vậy!

   back to top

02. ÐƯA DĨ VÃNG VÀO LÃNG QUÊN

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Cuốn catalog bán đồ quân đội, cuốn Brigade Quartermaster, bất ngờ đến tay Gia. Nó tự động chui vào thùng thư mà không cần đợi ai mời mọc. Lật bìa sau, tên người nhận rõ ràng là tên của một người Mỹ, James J. Osborn, xa lạ nào đó. Có lẽ hắn là một trong những người đã có lần cư ngụ ở căn nhà này trước đây. Nhưng chẳng hề gì, có hàng chữ rất là thông thường đi kèm theo, or resident of... thay cho tên chàng, Trương Kỳ Gia. Trương Kỳ Gia? Một cái tên, rất tiếc, hãng quảng cáo chưa hề quen biết tới. Một tên tị nạn.

     Thôi cũng được, trước lạ sau quen. Bề gì chàng cũng là dân cựu lính, lính tàu. Hay nói nôm na ra là dân gõ sét, bao năm gõ sét đau lòng lính . Hoặc chín chắn hơn là lớp thủy quân. Loại thủy quân chính tông, không hề có lục chiến. Bởi vậy, hơn nửa cái gọi là đời lính của chàng đã được kết hợp bằng những cuộc hải hành dài người, có gió lộng biển khơi, có trùng trùng sóng nước. Nhưng, có một điều ít ai biết là mặc dù giữa cái gió lộng biển khơi, trùng trùng sóng nước đó thủy quân ta vẫn hay trình diễn màn show time của mình: chạy rùa, gõ sét, sơn tàu. Một màn hát, tuyệt nhiên, không có tiếng vỗ tay hoan hô từ phía khán thính giả.

     Công tác này, theo Gia nghĩ, thực ra cũng không phải là một cực hình gì hết. Mà lắm khi đó là một công tác rất cần thiết cho bọn đồ đệ của Long Vương. Có dịp được cử động những bắp thịt dễ xuôi chiều trở nên làm biếng. Trong những ngày tuần dương, lênh đênh quanh quẩn trên con tàu, không có chuyện gì làm ngoài việc đi ca. Dãn gân dãn cốt. Hít thở cái không khí trong lành ngoài trời thay vì cái không khí dơ bẩn trong cabin. Có nắng mai rơi trên biển thay cho... rơi trong vườn nhà em. Có hải âu thay cho chim chóc. Có sóng gợn lăn tăn thay cho mặt nước hồ thu.

     Ðẹp? Quả thật, đẹp! Ðẹp vì lòng người bỗng nhiên hân hoan chìm đắm trong nỗi niềm thanh bình an lạc. Ðẹp vì, thứ đến, cảnh gió êm sóng lặn là chuyện đương nhiên. Ðâu có khi nào hạm trưởng nhà ta lại bắt thủy thủ đoàn của mình chạy rùa, gõ sét, sơn tàu..., nói chung là làm công tác bảo trì, trong những cơn giông gió bão bùng đâu? Gia bỗng nhớ cái nghiệp gia bảo của mình nay như đã thất truyền cho hàng con cháu. Nhớ, như ông thợ mộc nhớ cái bào. Nhớ, như mẹ nhớ con. Nhất là lồng trong đó biết bao tình đồng ngũ, tình huynh đệ chi binh, keo sơn gắn bó!

     Gia lật qua những trang trong xem có những thứ gì bày bán trong đó. Ôi thôi, đủ hết. Từ cái gà-mèn thật tiện dụng cho đến cái xẻng đào hố cá nhân. Từ đôi giày bốt-đờ-sô cho đến cái nón sắt. Từ tấm poncho trùm đầu cho đến cái ba-lô vác vai, từ những huy hiệu nhỏ (insignia) cho đến những phù hiệu lớn (patches). Bảng tên (nameplate), thẻ bài kim khí (dog tag) nữa... Và nhất là có tất cả các loại huy chương cuốn, huy chương thòng có hình lá cờ màu vàng ba sọc đỏ. Mặc dù chỉ là hình in trên giấy, những vật dụng cần thiết dành cho đời lính này đã gợi lại cho Gia biết bao nhiêu kỷ niệm thân thương. Ðừng quên anh là lính... chiến. Bốn phương là nhà. Ðường xa nhưng mà vui... Sống với nắng gió tuyết sương, mà lòng anh không hề thấy chán... đời hải hồ . Ôi, cái đời hải hồ sao mà nó thơ mộng làm sao! Gia đưa ngón tay mân mê, sờ mó bộ quân phục màu xanh nước biển, cái dợt cái đậm, và cái nón bánh tiêu, cái polo màu trắng, của mình. Trong cảm giác lâng lâng bồi hồi xúc động.

     Lật tiếp những trang kế và Gia bỗng khựng lại, bất chợt reo vui:

     - A, cái võng!

     Ðúng vậy, Gia không khỏi giựt mình khi nhìn thấy những cái võng. Ðủ kiểu, đủ cỡ. Loại mắt cáo, loại vải dù. Loại chỉ sợi, loại dây nylon. Có lẽ ai cũng cho rằng lính tàu không thương cái võng bằng những người lính bộ binh. Những người mệnh danh là những tay trấn thủ lưu đồn, băng rừng vượt núi, và thường hay dừng chân đóng quân nơi ruộng vườn thôn dã. Thiệt, ít người chịu hiểu như Gia, là người lính tàu xưa nay rất quý chuộng cái võng, bởi vì con tàu, con tàu... chính ra là một cái võng. Một cái võng... lật ngược.

     Bởi cái lật ngược đó mà cái võng của người đi biển lắm lúc hành tội những người nằm võng. Mặc dù thủy thủ ta lúc nào cũng đầy đủ nệm ấm chăn êm, và mặc dù thủy thủ ta cũng đã quen dần với cảnh lắc lư con tàu đi, nhưng với một số thủy quân không mấy nhà nghề, như Gia đây chẳng hạn, vẫn luôn luôn chới với, nếu có "ai đó" cắc cớ lỡ đua võng quá mạnh. Làm cho Gia ói mữa đến mật xanh mật vàng. Và phải nói, phải có ói mữa đến mật xanh mật vàng thì mới biết người lính tàu quý chuộng cái võng lật xuôi đến mức độ nào. Nói cho ngay, cái võng lật xuôi thật ra đã cho Gia nhiều hơn nữa: nào là tình gia đình, nào là tình vợ chồng, nào là tình phụ tử, v.v. Những cái tình ấm cúng đó hình như đã lần lần hơi khó kiếm ở xứ người, Gia nghĩ.

     Chàng cuộn tròn tờ báo dấu sau đít và réo vợ:

     - Em ơi, ra đây anh chỉ cho cái này hay lắm.

     Ðợi vợ từ trong buồng đi ra, mon men đến gần, chàng bỗng ra điều kiện:

     - Em nhắm mắt lại đi. Anh sẽ tặng em một món quà quý giá nhất trần gian.

     Vợ chàng nghi ngờ:

     - Xí, gì mà dữ vậy!

     Tuy nhiên, nàng vẫn làm theo lời Gia nói. Chàng dặn thêm:

     - Bao giờ anh kêu em mở mắt thì em mới mở nghen. Ðừng có ăn gian, nhắm kín lại.

     Chàng mở tung trang báo chìa ra trước mặt vợ, la lên:

     - Mở mắt đi. Anh tặng em món này!

     - Cái võng?

     - Ừa, cái võng nhà binh. Em có thấy cái võng bằng vải dù màu xanh lá cây này giống giống cái võng hồi xưa mình xài ở Năm Căn không? Em có nhớ lúc mình di chuyển về Ðồng Tâm anh gửi nó lại cho thằng Sơn Nhái không?

     Dạo đó Gia đã rời hạm đội, đổi về bờ. Giang đoàn 71 Thủy Bộ. Lần này chàng không còn phải theo tàu hay theo chiến đĩnh nữa. Mà nằm lại hậu cứ, giữ một chân trong ban tiếp liệu. Chàng thích được như vậy vì chàng mới cưới vợ. Thiệt tình mà nói, mấy tên có vợ và nhất là mấy tên vừa mới lỡ bước sang ngang, không tên nào muốn nếm mùi bước chân xuống... tàu nước mắt như mưa hết. Thân nổi trôi bềnh bồng sóng nước mà cộng thêm cái để vợ con ở lại trên bờ, phải nói là nguy hiểm lắm chớ. Không một thủy thủ nào chịu lâm vào cảnh nuôi con hàng xóm , phải hiểu như vậy. Bài học này đã thuộc nằm lòng. Thà là để hàng xóm nuôi con mình như lời thầy đã dặn.

     Lúc đổi về Năm Căn, may phước, Gia có được một căn nhà nhỏ trong khu gia binh. Do một anh bạn thân cùng khóa để lại. Một trong những cái hộp xây bằng gạch block, lợp mái tôn thì đúng hơn. Phòng khách của hai vợ chồng chàng không có bàn ghế gì ráo trọi mà độc nhất chỉ có mỗi một cái võng. Cái võng đó rất là đa dụng. Có khi làm bàn ăn, mỗi đầu mỗi đứa bưng một tô. Có khi làm giường ngủ, hai đứa nằm đâu đít lại như trẻ đưa em. Có khi làm sân khấu, nhạc sĩ nằm đàn cho thính giả ngồi nghe. Có khi làm bàn pinic và Gia nhớ nhất là những lần ăn bưởi. Vợ chàng hay bóc vỏ, gỡ từng múi bưởi trong trong thơm mát đút cho chàng. Hương vị Thanh trà đắt tiền chở xuống từ Biên Hòa. Những giây phút của thời mới cưới sao mà thần tiên!

     Có lẽ chính vì những giây phút thần tiên đó mà sang đây vợ chàng cứ hay nhắc chàng mua cho nàng cái võng. Nhưng Gia vẫn còn phân vân. Ở bên nhà, nếu không có giá võng thì cũng có thể buộc chéo vào hai góc cột. Ôi, những cái võng ở bên nhà! Những cái võng đánh bằng dây chuối, dây lạt dừa, chỉ sợi, hay hoặc giả bằng cái bao bố tời, nằm đến lên nước, êm êm với muôn vàn kỷ niệm. Ôi, những bài hát đưa em chân tình mộc mạc ở đâu bỗng vọng về, ví dầu mà cầu ván thì đóng đinh, cầu tre mà lắc lẻo thì gập ghình khó đi . Và những câu hò ru con đầy dịu hiền, thương yêu của mẹ, hò ơ, con ơi đừng khóc mà mẹ rầu, chớ mà, bữa mai bữa mốt thì ghe bầu tới nơi . Còn bên này, muốn mắc võng thì mắc vào đâu? Liệu cái sườn nhà bằng cây thông mềm xùi này có chịu nổi một cái móc võng làm bằng cây đinh hai tấc? Hay là mới nằm lên thì bị tuột móc, té trẹo bảng họng? Vả lại Gia cũng không biết tìm mua cái võng ở xứ nào nữa! Bây giờ sẵn dịp có tờ báo này chàng sẽ gửi order mua cái võng trước, việc giăng võng sẽ từ từ tính sau.

     Nhưng vợ chàng than phiền:

     - Hình như bề ngang cái võng này coi bộ nhỏ quá. Không đủ đâu vào đâu hết!

     Gia mỉm cười. Vợ chàng nói câu này chắc có... ngụ ý gì đây? Gia sực nhớ cái võng mà chàng để lại cho thằng Sơn Nhái rất rộng. Rộng đến nổi hai vợ chồng Gia vẫn thường nằm quay đầu về một phía, ôm nhau ngủ. Và chắc nữa, bao nhiêu lần chàng trổi dậy đóng cửa sổ để hai đứa hè nhau làm tình giữa ban ngày ban mặt mà nào đã đứt đâu. Cái lưng cong vòng, nhún nhẩy bực bực trên ấy mà chẳng hề hấn gì. Thì ra cái võng quả tình đã đa dụng hơn chàng tưởng. Ðó là chưa nói đến những cái võng võng người thương binh nơi chiến trận. Ðó là chưa nói đến những cái võng võng đàn bà đẻ đi thăm bà mụ. Ðó là chưa nói đến những cái võng võng anh đi trước võng nàng theo sau ... Nhưng đối với Gia, cái võng mà lần đó chàng đã mua ở chợ Cồn, chợ trời ngoài Ðà Nẵng, quả là một cái võng có một không hai. Không cách gì tìm lại được. Ôi, cái võng đã lên nước, bay mùi mà chàng đã tặng cho thằng Sơn Nhái!

     Gia đưa ra một vài con số:

     - Bề ngang 2 feet 8 inches, vị chi là 32 inches, bằng bề ngang cái cửa sổ nhỏ này thì kể ra cũng hơi hẹp thiệt. Chỉ vừa đủ cho mỗi một người. Hay là mình mua hai cái rồi về mình nối lại!

     Vợ chàng nói phân hai:

     - Cũng được. Chỉ sợ chỉ may của mình không chắc bằng của nó. Thôi, cứ mua một cái về xem thử rộng hẹp ra sao đã, rồi hãy tính...

    

     * * *

    

     Khi ba nước tranh... ơ... ơ... cường ...

     Mùi ơi là mùi, tận mạng mùi. Nhưng, có lẽ cái mùi tận mạng này chỉ đến với mỗi một mình Gia thôi, người đã từng biết qua thế nào là cổ nhạc. Nhịp tám Sáu Lầu mà, đâu phải nhịp ba mươi hai hay nhịp sáu mươi tư đâu mà nhiều lời lắm lẽ. Cũng chẳng cần phải nói lối dong dong dài dài hay làm một hơi tràng giang đại hải như... vọng cổ hoài lang, rồi mới chịu xuống cái hò. Với nhịp tám này tuy cái hò xuống có hơi ngang xương một chút, nhưng nếu ai chịu khó hiểu nó thì mới biết thế nào là... thấm đòn.

     Nói nào ngay, là một tay đờn kìm trứ danh, vang bóng một thời ở miệt Năm Căn, cho nên Gia rất am tường điều đó. Hiển nhiên ai cũng biết cây đờn kìm là cây đờn chính của ban cổ nhạc và người thủ đờn kìm thường hay thủ luôn cái xông-lang. Mặc dù đã từng nhịp xông-lang "chóc chóc" cho không biết bao buổi đờn ca, đình đám trong xóm dân chài nước mặn, nhưng chủ yếu không phải tại vì Gia nắm cây đờn kìm mà chính ra là ngón đờn điêu luyện của Gia kia. Phải, Gia rất ít khi đờn cái ngón thông thường "hò ba" như mọi người. Ðánh đờn kìm phải khảy "hò năm," và phải là "hò năm của ông Ba Sa Ðéc sáng chế ra" kìa thì nghe mới đã.

     Thì các bậc cao minh có phê bình nên tứ đại kỳ thơ, ơ..., ơ...

     Gia thả chân xuống nệm, ngoéo vào người, khều, đẩy cái võng đong đưa. Tiếng ơ..., ơ... như còn đang vang đi vọng lại từ bốn bức vách. Ôi, có gì sướng cho bằng cái thú nằm võng đưa con. Không riêng gì những người làm mẹ mà luôn cả cho những kẻ làm cha. Ðã từng ru con ngủ như vầy ở Việt Nam cho những đứa lớn thì Gia tự nghĩ, chàng cũng không nên thiếu sót bổn phận với đứa con... có thể là út của mình, vừa mới thôi nôi, sanh sau đẻ muộn ở bên này. Bây giờ phòng nào trong nhà Gia cũng đều có móc giăng võng hết. Phòng khách, phòng ăn, phòng chơi (play room), phòng gia đình (den), và chính ngay đây, phòng ngủ, cũng có cái võng thả là xà bên trên mặt nệm. Chàng lần tay trở thằng nhóc cho nó nằm sấp nguyên con lên ngực mình.

     Khổng Minh kỳ trí, Tào Tháo kỳ mưu, Lữ Bố kỳ tài, còn Quan Công thì kỳ... trung nghĩa, ơ..., ơ... Gẫm lẫm liệt như Quan Vân Trường, tài cắt đầu thượng tướng như lấy đồ trong túi, thì oai danh ngài... như sấm chớp bão bùng...

     Chẳng hiểu vì lý do gì mà trong bao nhiêu năm qua, Gia vẫn thường khoái ca có mỗi bài hát này. Rõ ràng, chẳng có gì lãng bạc giang hồ, non thề biển hẹn, hay em ơi em hởi gì hết trơn. Thiệt chẳng có gì lâm ly, ai oán. Nhưng, à, phải chăng đó là những gì còn sót lại của một thời mới lớn, thời bể tiếng của Gia? Ôi, phải rồi, cái thuở mà chàng chỉ biết mê đờn chớ chưa biết mê gái! Chàng mỉm cười với chính mình. Hồi đó sao mà ngượng miệng quá chừng mỗi khi cất tiếng ca: "... em Lan ơi làm sao mà em nỡ đọa... đày." Trời đất thánh thần ma quỉ ơi, sao nó mắc cở cái gì đâu. Em ơi em hởi cái nỗi gì với thằng con nít đẻn. Thì ca cho có bài bản vậy thôi chớ nào có mảy may rúng động tâm cang. Bởi thế Gia vẫn khoái tập hát các tuồng Phong Thần, Tam Quốc chí diễn nghĩa.

     Cho đến khi có hội dương đao thì một mình ông bảo vệ Lưu sứ quân, lướt dọc về ngang, để tiếng anh hùng rền rỉ khắp giang san, ợ..., ơ..., ơ...

     Trong giấc ngủ nằm nôi của đám con Gia, gái cũng như trai, hình như không đứa nào không nghe đến hội "dương đao lập oai" của các anh hùng thời chiến quốc. Thiệt tình chàng không mong gì bọn nó sẽ trở thành một trong những trang "đại kỳ thơ." Trong thâm tâm Gia, chàng chỉ mong rằng đám con chàng khi lớn lên cũng nên biết qua, và nếu có thể được, giữ lại chút ít đạo lý của thánh hiền mà chàng biết chắc đã trở nên rất lỗi thời cho cái xứ văn minh tột đỉnh này. Gia ngoéo chân đạp võng lần nữa. Tiếng móc sắt bị khô mỡ bò kêu lên kẽo kít.

     Nhưng đời của kẻ làm tướng thì đến giờ phút cuối cùng cũng phải tử qui đao kiếm. Bởi thế cho nên khi ông xuất chinh thì có lệnh của Khổng Minh khuyên ông mau hãy đình binh, ơ..., ơ...

     Ðời làm tướng ngày xưa thì vậy, giờ phút cuối cùng cũng phải tử qui đao kiếm, còn đời làm tướng đời nay thì sao đây? Có thiệt phải đời làm tướng đời nay thì phải tử vong nơi chiến trận, lấy thiết giáp bọc thây? Hay là tham sống sợ chết, nã súng lên đầu hàng binh mà chạy thoát thân? Câu chuyện này phải chăng cũng đã được nhiều người nói đến? Riêng thân phận lính tàu gõ sét như Gia vì chưa một lần làm tướng nên chàng chưa biết!

     Nhưng ông nói rằng: Ðấng anh hùng sanh ký tử qui, ai lại đi húy tử tham sanh mà làm cho mất cái nhuệ khí của hùng anh, ơ..., ơ...

     Ðó đó, cái loại tướng húy tử tham sanh đó Gia đã thấy nhan nhãn ở thời buổi cận kim này. Ôi, những thiên tướng, địa tướng, nhân tướng, uy tướng, dũng tướng của ngày xưa đâu có dễ gì tìm gặp nữa. Nhất là ở hải ngoại ngày hôm nay, thiếu gì tướng múa gậy vườn hoang, thì thử hỏi có ai lại muốn phí công tốn sức đi kiếm tướng tàn, chưa đánh đã chạy, để "dương ba tấc lưỡi lập oai" đây chớ?

     Thấy ông cương quyết ra đi thì Khổng Minh có dặn rằng: Ngài ơi, nếu có đi thì đi đại lộ phải về tiểu lộ, chớ có đơn sai mà lâm lụy uổng mình...

     Gia chẳng màng phải suy ngẫm thêm điều gì nữa hết, cứ dở giọng hùng hổ như gằn từng tiếng một, ca tiếp:

     Nhưng ông lại nghĩ rằng: Ðấng anh hùng ta phải đi ngay về thẳng, sanh vi tướng thác vi thần...

     Ý cha, cái điểm sanh vi tướng thác vi thần này nghe coi bộ nó mới thiêng liêng cao quý làm sao. Cũng chính vì cái trung dũng, nghĩa khí đó mà người đời thờ Quan Công chớ mấy ai thờ Lưu Bị. Quan Công hiển thánh Huê dung đạo... Thình lình, mắt Gia bỗng hoa lên với cảnh vó câu. Rập rình chiến mã, gươm đao. Bất giác, chàng không còn nhớ gì nữa, lắp bắp hát luôn câu kết, như cố tình muốn đưa cái dĩ vãng không mấy vàng son của thời đại mình, thật nhanh chóng, vào lãng quên:

     Rồi đành cam thọ tử vì mắc kế của Lữ Mông...

   back to top

03. LÒNG THƯƠNG NGƯỜI CỦA TÊN ÐỒ TỂ

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Hưng, tên thật Nguyễn Phước Hưng, thuộc dòng dõi Nguyễn Phước tộc, nhưng sinh ra và lớn lên tại vùng Nha Trang, quê quán ở Thành.

     Tại sao không là cái gì khác, mà là Thành? Thành, quê hương của Hưng, có phải chăng là cái gì còn sót lại của một thành quách cổ xưa? Một bức tường hay một nền móng xây cất cùng thời với Tháp Chàm, Tháp Bà rải rác ở miền Trung? Nhưng lạ một điều là quê hương Nha Trang, nói rộng hơn một chút, không đọng lại trong tâm trí Hưng bằng những hình ảnh nổi tiếng, được nhiều người nhắc tới. Như cầu Xóm Bóng, hòn Chồng, bãi biển Nha Trang, hay ở đầu kia, Cầu Ðá, Hải Học Viện... Mà chỉ là dòng sông nhỏ bé uốn quanh Thành và món bánh tráng dẽo (giống như bánh phòng mềm trong Nam) cuộn tròn chấm nước mắm tỏi ớt thiệt cay. Bãi cát vàng hai bên bờ sông và những cồn cát trắng giữa dòng tự động nổi lên, phơi bày thân xác trong mùa nước cạn. Hưng nhớ hoài những trò chơi hấp dẫn của một thời mới lớn diễn ra trên đó. Và đời sống dung dị hiền hòa, cũng trên vùng đất đó, của những con còng xanh đỏ và những con dã tràng xe cát biển Ðông xám ngắt một màu.

     Cái địa danh Thành mới nghe qua hơi chõi tai một chút vì có mỗi một chữ. Thông thường tên làng xã hay quận tỉnh lỵ đều là tiếng đôi. Như Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn, Gia Ðịnh trong câu sấm quái gỡ Hà Nội Hải Phòng sa biển mạc, Sài Gòn Gia Ðịnh nát như tương chẳng hạn. Hoặc là tiếng ba như Gò Dầu Hạ, Giồng Ông Tố, Bình Phục Nhứt, Tân Niên Ðông, Hóc Bà Tó... đều dễ nghe có phải? Nhưng, cũng với mỗi một chữ, ấy vậy mà ai ra xứ Huế thì ra thì lại nghe êm tai hơn mới chết. Rồi hoặc giả ai muốn vào Vinh thì vào cũng chẳng thấy gì là trở ngại. Mà thử hỏi Vinh hay Huế nào có khác chi... Thành. Chỉ cần thêm vài chữ ơ ơ... ở trước chữ Thành thì chỗ này xuống sáu câu vọng cổ nghe cũng mùi rệu. Rõ ràng âm hưởng của ngôn ngữ Việt phong phú đến là như thế.

     Với cái may mắn của một số ít dân mình, một triệu trong sáu chục triệu, Hưng đã tìm được tự do trên đất Mỹ sau một cuộc vượt biên xuất phát từ Nha Trang, chạy sang Philippines. Anh mang theo đầy đủ gia đình gồm một vợ và năm con. Mặc dù không gặp hải tặc Thái Lan nhưng cũng giống như số phần của phần lớn dân đi chui, cuộc vượt biên của anh và gia đình anh là một truyện phiêu lưu đầy cam go trắc trở. Nhưng, sau những tháng năm dài trên đất tạm dung, tất cả rồi cũng qua đi. Những nỗi nhọc nhằn và niềm bất hạnh dạo đó đã thật sự rơi vào quên lãng, đã trở thành kỷ niệm. Bây giờ, hai vợ chồng Hưng đã tương đối bằng lòng với công ăn việc làm có phần nhẹ nhàng của mình ở City Hall. Làm cho chính phủ Mỹ thì cũng giống như làm cho các tòa tỉnh ngày xưa...

     - Em muốn có một chiếc xe nhỏ, em không thích lái xe Van nữa.

     Cái gì nữa đây bà? Hưng thầm hỏi như vậy khi nghe lời phàn nàn của vợ. Phải biết chiếc xe Van là chiếc xe mới, anh định nói thêm, nhưng thôi. Không ai không biết rằng ở bên này xe mới, xe đẹp là dành cho mấy bà. Xe cũ, xe xấu thì xí phần cho đám đàn ông là chuyện đương nhiên. Hưng cũng đâu thoát khỏi cái "định luật" bầm dập đó. Bởi vậy chiếc Van mà hai vợ chồng mới sắm hai năm rồi là chiếc xe một đời chủ, nước sơn màu đỏ ối còn bóng lộn. Toyota Van, chiếc Van có hình dáng giống như con heo chạy rong ngoài đường. Người bạn Mỹ cùng phòng với anh, thằng Gary, người đã dám thề suốt đời sẽ không bao giờ xài xe Nhật, đã thích thú diễn tả như vậy.

     Sở dĩ Hưng mua xe Van là tại vì anh tính chuyện ăn chắc mặc bền. Ðám con của anh rồi sẽ thành teenagers trong nay mai. Ăn chắc mặc bền? Phải. Bởi có sống với cộng sản nên anh hiểu rất rõ điều căn bản này của toàn dân Việt. Ăn ngon mặc đẹp thì chỉ dành cho những ai biết dựa vào Bác và Ðảng, cậy thế ỷ quyền, nhảy ra ăn hối lộ mà thôi. Khỏi cần nói ai cũng biết những người đó thuộc vào những thành phần nào và có bao nhiêu tuổi đảng.

     Có lẽ chiếc xe Van có phần nào hơi to lớn dềnh dàng cho một người đàn bà Việt Nam, một người luôn cố giữ thân mình mình mảnh mai ốm yếu, Hưng nghĩ vậy. Anh giải bày với vợ:

     - Nếu em thích xe nhỏ thì anh mua cho em xe nhỏ. Nhưng lần này chắc anh phải mua xe cũ, xe nửa sạt, xài đỡ thôi. Em cũng biết hai đứa mình đâu có dư giả tiền của gì. Vả lại em nào có đi đâu xa, chỉ chạy vòng vòng trong thành phố.

     - Cũ thì cũ, nhưng vóc dáng cũng phải coi cho được được chớ. Bộ anh định mua cho em chiếc xe cà tàng, cũ mèm hay sao đây?

     Hưng định nói với vợ quần áo mặc cốt che thân, xe cộ mua cốt... lăn bánh là ăn tiền , nhưng lại thôi. Ðàn bà đâu có chịu hiểu theo cái ý đó. Trong ruột trong gan dù có nát bét cũng không cần biết đến, miễn bên ngoài phải đẹp. Ðẹp? Ðúng vậy, phải tô son giồi phấn. Phải plastic surgery. Tối thiểu phải đi mỹ viện cắt mắt xâm chưn mày. Trời ơi, sao mà phí phạm chi cái vốn liếng riêng tư của mình như vầy nè? Cha mẹ sanh sao hãy để vậy có phải là có hiếu hay không chớ? Vả lại, phải biết rằng ở bên này gái thiếu trai thừa, không thằng chồng nào dám bỏ vợ bỏ con đâu mà sợ! Ý, nói vậy chớ không phải vậy. Không đẹp hả, chỉ sợ ba ngày sau là thằng chồng làm hai ba jobs nó bỏ cả job ba job hai mà theo con khác? Ôi, bên tình bên hiếu biết sống sao cho vẹn toàn đôi ngã đây?

     Trường hợp của Hưng khác, vợ anh không se sua, lòe loẹt. Bởi vậy Hưng rất cưng vợ, anh phân trần:

     - Có bao giờ anh mua sắm món gì mà không có sự đồng ý của em đâu. Anh sẽ dẫn em đi coi xe dài dài. Coi cho đến khi nào em tìm được một chiếc mà em thích mới thôi. Nhưng với một điều kiện...

     - Ðiều kiện gì nữa? Không được mua Mercedes phải hôn? Ði mua xe mà làm như đi hỏi vợ không bằng!

     - Gì mà Mercedes. Mua một chiếc Mercedes bằng mua một cái nhà, em cũng hiểu chớ. Anh chỉ nói với một điều kiện là... anh sẽ mua với giá từ vài ba ngàn trở lại thôi.

     - Sao cũng được, miễn chạy tốt là được rồi. Nếu có hư thì anh sửa cho em, anh cũng rành về máy móc lắm mà.

     Rõ đàn bà, nói đi nói lại rồi cũng không che dấu được lòng tham. Vừa muốn xe "coi được được" mà "miễn chạy tốt" và với cái giá Hưng mới vừa đề ra thì thiệt tình, chỉ có nước đi ăn cướp thiên hạ. Nói theo kiểu Mỹ, steal, đi ăn trộm, ăn cắp. Steal? Cũng có lý! Vì thực ra steal ở đây chỉ có nghĩa là mua được với giá rẻ mà thôi. Rẻ tàn rẻ mạt như cho không vậy. Hưng sẽ bỏ công dò báo hằng ngày, báo chuyên môn đăng quảng cáo bán xe, trading post, thrifty neckel... thì làm gì không tìm được một mối steal trong vài ba tuần lễ.

     Quả không sai, chỉ trong vòng hai tuần thôi, Hưng đã tìm được một chiếc Honda Accord trang bị đủ mọi thứ, full loaded, với giá thấp hơn giá ghi trong blue book rất nhiều. Anh gọi điện thoại tiếp xúc với khổ chủ và hẹn giờ dẫn vợ đến coi xe. Sau khi cho địa chỉ và chỉ dẫn đường lối, người đàn ông ở đầu kia giây nói còn giải thích thêm:

     - Ðó là nhà của cô bạn gái của tao, tên nó là Jill. Xe đang nằm ở đằng đó. Mầy cứ tới gặp Jill và tùy tiện xách xe chạy thử. Jill có bộ chìa khóa riêng. Tao sẽ điện thoại cho Jill ngay bây giờ, thông báo nó rằng mầy sẽ tới trong vòng nửa tiếng.

     Không gì trở ngại hết. Vợ chồng Hưng đến đúng địa điểm phải tìm trong một thời gian ngắn. Có điều hơi ngạc nhiên một chút là vợ Hưng nhận ra Jill là một trong những cô y tá ở phòng mạch bác sĩ gia đình Hưng. Tưởng là lạ ai dè hóa ra quen. Nhưng Hưng không mấy làm vui khi nghe Jill nói:

     - Jack, thằng bồ tao, là một chủ hãng bán xe độc lập, một independent dealer. Nó có giấy phép, licence, của tiểu bang và chuyên môn về các xe nhỏ như Honda, Toyota. Jack làm ăn đâu cũng mấy năm rồi chớ không phải mới nhảy ra.

     Tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa , Hưng đã chạy mặt mấy ông dealer lớn lại gặp mấy ông dealer nhỏ. Có dealer nào mà lại không gian xảo, mánh mung? Thì ra đã có nhiều dealers giả dạng thường dân, đăng quảng cáo bán nhiều loại xe cùng một lúc trên các báo địa phương hằng ngày. Hưng chỉ mong gặp một người làm ruộng rẫy, trong một cái farm xa xôi nào đó, cần bán chiếc xe làm vốn cho con cái vào trường đại học mà... xui quá, không được như ý. Anh băn khoăn, định bỏ mối hàng này ngay từ phút ban đầu. Nhưng chẳng hiểu sao cớ sự lại xảy ra theo chiều hướng khác. Lại cứ phải thèm ra coi xe, chạy thử xe? Có lẽ vậy, đi không há lẽ trở về không ! Hưng cắt ngang cuộc đàm thoại giữa Jill và vợ anh đã đến hồi thân mật, bằng cách ngỏ ý mượn xâu chìa khóa. OK, Jill đưa cho Hưng ngay. Vợ Hưng rồi cũng đành chạy theo anh bén gót ra sân mà thôi.

     Phải công nhận dáng vóc bề ngoài chiếc Honda Accord màu cream này không chỗ chê. Bên trong nữa, băng nệm cùng màu cũng còn mới tinh. Sạch sẽ như được thường xuyên lau chùi, hút bụi. Người chủ trước đúng là người biết qua máy móc, biết chạy và giữ gìn xe. Như vậy thì Hưng chỉ cần coi cái máy nữa thôi. Hưng đề xe, máy nổ ngọt lịm. Ngoài điểm ga-răn-ti để hơi cao, tuyệt nhiên không có tiếng khua, không có noise, không có kêu lạch cạch như mấy đầu máy dầu cặn. Hưng đề nghị với vợ:

     - Mình chạy thử một vòng ra xa lộ nghen?

     - Ai biết gì anh, tùy anh hà!

     Gì chớ tùy anh thì dễ rồi, Hưng tìm đường ra highway. Anh định bụng phải chạy đường trường một đoạn với một vận tốc khá cao, tối thiểu cũng sáu mươi lăm bảy chục dặm một giờ, coi máy móc phản ứng như thế nào. Không nhứt thiết phải cần mười, mười lăm giây từ ze'ro lên đến sáu bảy chục cây số giờ gì hết, miễn vọt ngon trớn, không cà giựt cà giựt là được rồi. Mọi chuyện êm xuôi. Ðược một đỗi, Hưng rẽ vào exit, đậu xe bên lề cỏ, dở ca-pô (front hood) xem máy. Vẫn nổ mạnh, đều đều. Cánh quạt vẫn tiếp tục quay tít mù như chong chóng phi cơ. Không nhễu nhớt chảy dầu ở đâu hết, trông sạch sẽ chán. Tóm lại, Hưng rất lấy làm hài lòng.

     Thật ra không đúng như lời vợ anh giới thiệu, anh cũng rành về máy móc lắm mà , Hưng không rành về máy móc lắm đâu. Thì cũng biết quọt quẹt với người ta đâu là cạc-bu-ra-tưa (carburetor), đy-na-mô (starter), pốt-đờ-sạc (generator), đầu đen-cô (distributor), bình nước giải nhiệt (radiator), lốc lạnh (air-conditioner), hộp số (transmission), bu-gi (spark plug), v.v. vậy thôi. Hoặc giả, chỗ nào là chỗ thăm dầu, chỗ nào là chỗ thay nhớt. Hay rắc rối hơn tí nữa là anh có biết qua đôi chút về việc canh lữa sớm (advance) hoặc chậm (retard) và chỉnh gió cho xăng xuống ít (lean) hoặc nhiều (rich), đại khái như vậy. Công việc được coi là hệ trọng nhứt về máy móc mà Hưng có dịp nhúng tay vào, hand on experience, là ngày xưa hồi còn ở Nha Trang, anh đã rã ra và ráp lại chiếc Lambretta Italy hai bánh của mình, sau khi thay mấy vòng bạc séc-măn (piston rings). Với mớ kinh nghiệm đó bảo sao Hưng không hài lòng với chiếc Honda màu cream này cho được. Anh đinh ninh chuyện mua xe lần này chắc ăn như hai với hai là bốn, không cần biết cộng hay nhơn.

     Lúc đem xe trở lại nhà Jill, vợ chồng Hưng kỳ kèo thêm được vài ba trăm bạc nữa và sau cùng đồng ý mua với giá rất là phải chăng, rất là steal. Vội vã viết cái check năm mươi đồng đặt tiền cọc để sợ rủi người khác mua mất nữa chớ. Và hẹn thứ hai tới kẻ bán và người mua sẽ dắt nhau ra nhà băng, credit union nơi chỗ Hưng làm, làm giấy tờ. Tiền sẽ trao và cháo sẽ múc tại nơi đó. Mọi việc kể như xong đâu vào đấy. Vợ chồng Hưng hớn hở ra về.

     Sáng ngày thứ hai, tại lobby của credit union, thằng Jack hiển nhiên đến rất đúng giờ. Tuy không phải là người xem tướng giỏi, nhưng Hưng có cảm tưởng thằng dealer lóc chóc, loi choi này coi bộ điếm đàng quá cỡ. Con người thiếu thước tấc là một, con mắt láo liên là hai, và bước đi như muốn chạy là ba. Quần áo xốc xếch như dân làm đất ở đâu mới về. Tay bắt nhưng mặt quên mừng. Lạnh tanh, xa cách. Ðã vậy nhìn tấm giấy giao kèo ghi rõ ràng tình trạng chiếc xe, có sao bán vậy, as it is , Hưng muốn bặt ngửa. Anh định bụng muốn bỏ luôn năm chục đồng tiền cọc cho rồi, khỏi phải lãnh về cái của nợ cũng không biết chừng. Nhưng trong giấy phút phân vân tấn thối lưỡng nan đó, trời bất dung nhơn đảng, bà chuyên viên lo thủ tục giấy tờ bước ra:

     - Mời vào, mời vào.

     Biết đã lọt vô thế chẳng đặng đừng, Hưng signal cho bác tài tới luôn, chìa tay ra mời ông bạn... chẳng mấy hiền của mình bước vào trước. Ba người như đồng loạt ngồi xuống ghế. Xem xét qua loa mớ giấy tờ, bà đại diện nhà băng khen Hưng một tiếng:

     - Xe đời 80 này mà mầy mua với giá đó thì tốt lắm rồi. Rẻ.

     Rẻ thì có rẻ, nhưng tốt hay không thì còn phải xài năm ngày ba tháng mới biết được nghen bà, Hưng thầm nói như vậy. Ðiều làm Hưng hơi bất bình một chút là tiền coi như đã trao ngay giờ phút đó mà cháo nào đã múc đâu. Thằng Jack nào đã mang chiếc xe Honda tới. Viện cớ là không ai đưa nó về và nó đang bận công ăn việc làm của nó ở ngoài farm. Lại ngoài farm? Nó tới một mình ên với chiếc truck. Ðã vậy nó còn cho biết thêm, chiếc Honda của Hưng (đã làm chủ trên nguyên tắc rồi kia mà!) không có để ở nhà con Jill nữa, mà đã dời về nhà nó ở tuốt trong đồng sâu. Thiệt là đễu cán. Thôi thì nước cùng đành chịu vậy, chiều tan sở về đi lấy cũng chẳng muộn màng gì. Chỉ mong thằng cốt đột này nó đừng gỡ máy tháo bánh xe là được rồi. Giấy tờ bây giờ đã ký xong xuôi, "ván" kể như đã bị "đóng thuyền," không còn tháo gỡ đi đâu được nữa hết. Nhưng trước khi chia tay, Hưng thật tình muốn tìm hiểu căn nguyên:

     - Tao biết mầy mua đi bán lại, nhưng tao hỏi thật mầy một điều, mầy giữ chiếc xe này trong bao lâu.

     - Có một tuần lễ thôi. Tao mua nó từ một ông già hưu trí ở tận trên núi.

     - Mày thiệt không biết gì về máy móc hết sao?

     - Không.

     Hưng cảm thấy yên tâm hơn với tiếng "không" gãy gọn đó. Như vậy ít ra nó không có chủ tâm lợi dụng sự khù khờ của Hưng, chỉ để bán cho anh một chiếc xe... hư, as it is .

     Chiều ngày đó trời bỗng dưng vần vũ lạ thường rồi đổ mưa tầm tã. Theo bản đồ chỉ dẫn hai vợ chồng Hưng phải chạy tuốt ra ngoài ngoại ô thành phố, và len lỏi vô farm hàng cả chục dặm. Hai bên con đường mòn đất cát đỏ xa tít mù giờ chỉ toàn là ruộng, mênh mông cò bay thẳng cánh, thỉnh thoảng nhô lên một chòm cây hay một căn nhà xưa cũ trơ trọi giữa trời. Cái hình ảnh quá quen thuộc của miền Nam nước Mỹ? Cuối cùng Hưng cũng tìm được nhà. Ngôi nhà một từng trệt loại range, vuông vức bốn cạnh hình chữ nhật, có vẻ như vừa mới cất. Và tìm thấy luôn chiếc Honda Accord nằm lủi đầu vô một bụi rậm. Hưng gõ cửa:

     - Oh, vô đây, vô đây. Mầy thiệt là đúng hẹn. Có ai đi với mầy không?

     - Có, vợ tao.

     - Tốt lắm, để tao đi lấy xâu chìa khóa cho mầy.

     Hưng rất đỗi ngạc nhiên với cảnh trí bày biện bên trong căn nhà. Một cái xưởng thì đúng hơn vì không thấy ngăn phòng, trống trơn bốn phía vách. Trên đó, treo lễnh nghễnh đầu cọp rằn, đầu gấu đen, đầu heo rừng, đầu nai có chà có gạc, ngơ ngác... như còn sống. Ôi thôi, đủ hết mọi thứ súc vật thường thấy chưng bày ở phòng khách các nhà cổ xưa. Rồi ngỗng trời, vịt trời, le le, chằng ngịt... đầy đủ lông cánh, nằm bay nguyên con thành đàn trên tường nữa. Taxidermy, nghề dồn bông, độn gỗ. Trên chiếc bàn lớn kê giữa phòng, những khúc cây được gọt dũa theo mô hình đầu thú, những mannequin chưa được tròng lên lớp áo súc vật, nằm ngổn ngang lăn lóc. Hưng cảm thấy sợ sệt với những cặp mắt dán trên tường đang chăm chăm ngó về mình, những con ngươi trong vắt của những linh hồn cầm thú. Bên ngoài mưa vẫn gõ lộp độp đều đều trên mái nhà, Hưng vội vã:

     - Ðưa chìa khóa cho tao.

     - Mầy có thích những con vật quen thuộc này không? Mua đi, tao bán rẻ cho. Ðầu nai lớn hai trăm, chim trích đuôi dài (pheasant) một trăm.

     - Không, tao không thích lắm đâu. Tao chỉ có mục đích tới đây lấy xe mà thôi.

     Hưng để vợ lái chiếc xe Van về nhà, còn minh đi xe mới. Anh gấp rút đến nỗi quên để ý coi thằng Jack có tháo máy đổi bánh xe hay không nữa...

     Trưa ngày sau ở sở, Hưng rủ thằng bạn không ưa xe Nhật, thằng Gary, ra ngoài bãi đậu xe coi chiếc Honda Accord mới mua của mình. Luôn thể nhờ nó xem qua máy móc vì thằng này rất thiện nghệ về nghề máy. Hưng đề máy chạy một lúc cho ấm áp mọi thứ. Và Gary thành thật góp ý:

     - Tao thấy nó để ga-răn-ti (idling speed) quá lớn, chắc có dụng ý gì đây. Sao mầy không thử vặn nó nhỏ lại coi.

     - Cái máy này lạ quá, tao không biết đường nào đâu mà mò. Không tìm ra con ốc chỉnh ga-răn-ti.

     - Hừm, gì mà tìm không ra mậy! Thằng bạn gần nhà tao cũng có một chiếc giống giống như vầy. Ðể tao mò, hình như nó ở phía dưới này. Ðây, đây...

     Tiếng máy nhỏ dần, nhỏ dần và bắt đầu... khịt khịt vài tiếng rồi tắt ngũm. Gary tiếp thêm:

     - Ga-răn-ti nổ không đều như vầy thì có thể sút-báp (valve) bị kẹt, bị rỗ mặt, hay bị mẻ. Bởi vậy, nếu để cao lên một chút thì máy sẽ chạy tròn tua, trơn lu (smooth) như thường. Cứ để vậy chạy vài ngày thử xem sao. Tao e rằng cái máy này không xài được lâu. Mua xe cũ điều cần nhất là xem ga-răn-ti có êm không, nếu chạy đều đều như... bàn may máy thì mới được. Mầy dư biết điều này chớ?

     - Không.

     - Không? Vậy thì mầy chắc phải trả một cái giá rất đắc cho bài học này.

     Một cái giá rất đắc? Ðúng vậy! Vì chỉ vài tuần sau, ngay trên đường đi làm về, chiếc Honda màu cream bỗng nhiên nóng máy, bốc khói lên nghi ngút phủ mờ cả mặt kính trước. Hưng tấp vội vào lề đường, tắt máy. Rồi trong lúc chờ đợi cho nó nguội bớt, Hưng dở nắp ca-pô xem xét. Ôi thôi rồi, không phải nước mà là nhớt, nhớt ở đâu không biết xịt ra văng tứ phía xung quanh máy. Sao kỳ vậy? Hưng ân hận là mình đã tiếc, đã không chịu để mất khơi khơi 50 tiền cọc. Dám chắc thằng Jack trời đánh kia đã lươn lẹo thế nào đây để bán cho Hưng chiếc xe cà-tàng này. Có thể thằng Jack đã âm mưu đổ nhớt thiệt đặc vào máy và vặn ga thiệt lớn để che mắt mấy tay mơ. Mấy tay hoàng tộc, vua chúa lơ tơ mơ như Hưng. Ai nói người Mỹ không gian xảo, điếm đàng? Thôi, biết vậy là đã muộn rồi. Bây giờ Hưng đâu có thưa kiện gì thằng Jack được với điều kiện buôn bán as it is mà nó đã tính trước, đã ghi rất phân minh trên giấy trắng mực đen.

     Chờ độ nửa giờ hơn, máy có phần đã nguội lại, Hưng cố đề máy và chạy rút về nhà trước khi nó dám nổ như trái bom nổ chậm. May phước là chỗ con nhà Honda ăn vạ cách nhà không xa. Số phần của Hưng rõ ràng là không bịnh hoạn chi hết, vậy mà bỗng dưng lại phải lâm vào cảnh "tiền mất tật mang."

     Nói nào ngay, trong cái xui thường đã có tiềm tàng cái hên, chẳng khác nào như chuyện "phú ông mất ngựa." Hên ở chỗ là độ một tuần nặm ụ không nhúc nhích cục cựa, chiếc Honda màu cream lại được một ông bạn... chí thân đến hỏi thăm sức khỏe. Ông bạn chí thân đó là Thịnh, thợ máy chính tông, mới qua từ Việt Nam theo lối đoàn tụ gia đình. Hưng quen Thịnh trong một buổi tiệc thân mật ở nhà một người bạn. Cũng là người Nha Trang với nhau vì nhà Thịnh nằm trong khu chợ Xóm Mới, cho nên Hưng và Thịnh dễ dàng kết làm anh em. Hưng làm anh vì tuổi Hưng lớn hơn Thịnh nhiều, đến gần một con giáp. Cuối tuần, Thịnh hứa sẽ đến coi xe giúp Hưng, một cử chỉ thâm tình chỉ dành riêng cho những người đồng hương.

     Sau khi thăm dầu, check nước qua loa, Thịnh hỏi như bác sĩ hỏi bệnh nhân:

     - Sao nhớt máy gì mà đục đục như sữa vầy nè? Bị như vầy bao lâu rồi hả anh?

     - Có biết đâu. Từ hôm bị xịt nhớt về tới nay nó nằm yên một chỗ, đâu có chạy được nữa. Ðề hết hơi bình mà nó chẳng chịu... khẹt cho một tiếng làm phước.

     - Xe này chắc có lần bị nóng máy phải không?

     - Ðúng rồi, trước khi nằm ụ nó có bốc khói một lần.

     - Vậy là cái máy này bị "thổi ron, lòn nước, lòn nhớt" rồi!

     Cái gì? Thổi ron, lòn nước, lòn nhớt? Mặc dù không rành lắm, nhưng Hưng đoán biết bệnh này là bệnh rất nặng, thập tử nhứt sinh, chớ không phải nhẹ. Anh phân vân:

     - Em muốn nói là miếng "ron nắp cu-lát" bị bể phải không Thịnh?

     - Ðúng đó. Không biết miếng ron nắp cu-lát tiếng Mỹ kêu là gì anh hả?

     - Cylinder head gasket . Mà có chắc cái gasket đó bị blown off không? Nếu như vậy thì mình tính sửa nó ra sao đây?

     - Chỉ cần tháo nắp cu-lát ra, thay miếng ron đó thôi. Dễ mà. Ở bên nhà tụi em làm cái vụ này điều chi. Tháo cái dàn cạc-bu-ra-tưa chằng chịt ở bên trên, rồi tháo cái ống bô séc-măn lòng thòng ở phía dưới là coi như xong được nửa đường. Ðẩy vô garage đi, em sẽ làm xong nội trong ngày nay, mai anh có xe mới chạy.

     - Chắc ăn hôn đó. Gì mà dây nhợ tùm lum tùm la, anh thấy coi bộ nguy hiểm quá.

     - Không sao đâu anh, hễ mình tháo ra được là mình ráp lại được. Tụi thợ máy coi vậy chớ nó cũng biết chế lắm, nó có làm dấu cho mình đâu vào đó đủ hết mọi thứ. Tại anh không thử, không để ý nên anh không biết đó thôi.

     - Nhắm được hay không đặng anh đi mua đồ, mua cái ron, cái gasket?

     - Em chưa tháo máy Honda loại này lần nào, nhưng bảo đảm mà. À, mà anh phải mua ba cái ron lận, ron nắp cu-lát, ron cạc-bu-ra-tưa, và ron bô séc-măn.

     Nói được là làm được, bởi vậy cho dù có khó khăn, cực nhọc cách mấy đi nữa Thịnh cũng phải gánh gồng làm cho xong. Thợ cái mà. Thợ phụ thì có Hưng, lo chạy vòng vòng giúp một tay, luôn tiện học thêm nghề máy. Một vài danh từ rất là chuyên môn, rất là Việt Nam, đã vượt trùng dương ngàn dặm len lỏi đi vào tâm hồn Hưng. Cái "ác-gô" chẳng hạn. Một alignment pin dùng để bắc hai phần dính liền nhau cho ăn khớp, không sai chạy một ly. "Bù-loong, con tán" thay cho "bolt" và "nut." À, còn cái bệnh "thổi ron, lòn nhớt, lòn nước" nữa chi? Và đặc biệt hơn, cái tánh cần cù nhẫn nại cố hữu của người Việt đã thể hiện qua Thịnh. Không phải gấp gáp chi hết, xem xét cẩn thận moi thứ trước khi lấp ráp vào một món gì. Cẩn thận đến nỗi phải lau sạch mồ hôi, hơi nước bên trong các khía răng vặn bù long nắp "cu-lát" nằm sâu trong block máy. Khi máy nóng, sự dãn nở của hơi nước hay của dầu nhớt đọng lại trong lòng kín đó không thoát đi đâu được cũng dễ làm nứt máy lắm, Thịnh cho biết như vậy. Cánh tay vặn chìa khóa của mình cũng phải "cân," phải đúng tầm mức đồng đều cho mỗi con bù-loong, mà không cần chìa khóa số (torque wrench). Phải chăng vì thiếu thốn đủ mọi thứ mà dân mình thường hay biết lấy "cái khó bó cái khôn?"

     Trước khi trở về appartment của mình, cũng gần nửa đêm, Thịnh cùng Hưng làm lai rai món thịt bò xào mà vợ Hưng đã ướp sẵn, chờ đợi từ lúc ban chiều. Mùi tỏi, hành cháy trên chảo nóng bay lên thơm phức. Thêm chút nước sauce chua chua, ngọt ngọt rồi rưới đều trên mớ xà-lách-son đã sắp sẵn ra dĩa. Tuyệt. Thật là thú vị cho những buổi nhậu khuya, Hưng thấy vậy. Bia bên Mỹ này thì làm gì thiếu được, rẻ rề.

     Từ khi Hưng gặp được Thịnh thì kể như... trời còn ngó lại. Sau khi thay miếng ron nắp cu-lát, anh mơ màng thấy mình sẽ còn tiếp tục sử dụng chiếc xe Honda cà tàng thêm một thời gian nữa. Nhưng, rất tiếc, thời gian đó cũng rất ngắn. Quá ngắn. Ðộ một hai tháng thôi. Phước bất trùng lai họa vô đơn chí , họa không đến chỉ mỗi một lần. Trò "phú ông mất ngựa" lại tái diễn. Chỉ khác một điều là lần này "phú ông" không mất con ngựa bằng xương bằng thịt, mà là mất con ngựa sắt. Con ngựa sắt không giống như con ngựa sắt của Phù Ðổng Thiên Vương, con ngựa sắt gì mà chỉ biết phun khói, nhưng khổ ơi... không biết chạy.

     - Ðúng là trời bất dung gian, em muốn sửa tạm cho anh chạy đỡ mà cũng không xong. Lúc tháo ra em định nói với anh là máy số 3 đã bị "đâm" rồi. "Pít-tông" cạ khuyết một bên thành "xy-lanh." Cái điệu này thì chắc bạc "séc-măn" vừa mới bị bể, cho nên sức nén mới dội xuống lòng máy mạnh dữ như vậy. Rồi sức nén này lại theo đường nhớt đi ngược trở lên trên, chui vào "nắp đậy cam," kéo theo nhớt và khói. Bởi, nhớt và khói xịt ra mịt trời là vậy. Với bệnh này thì chỉ có nước rã hết máy ra làm lại thôi.

     Rõ phần số của Hưng đen như mực tàu, nhưng anh cảm thấy không nên than phiền hay oán giận ai hết. Vả lại còn nước thì còn tát, cho nên anh ôn tồn giải thích cho Thịnh:

     - Ở bên này đâu có vụ "làm máy." Cùng lắm thì chạy ra ngoài nghĩa địa xe (junkyard), mua cái máy cũ về thay vô chạy tiếp.

     - À, được đó. Bên này có bán máy cũ hả?

     - Thiếu gì. Chỉ tốn công mình phải cực khổ tháo ráp thôi.

     - Ối, nói chuyện gì chớ công với cán thì có cái gì phải lo. Toàn là công nhà của hai anh em mình mà. Lao động tốt là nghĩa vụ của..., cha nó, Bác và Ðảng.

     - Làm nữa hén? Vậy thì để anh tìm mua cái máy cũ. Bao giờ có anh sẽ gọi cho Thịnh hay, anh em mình hè nhau làm rụp rụp một cuối tuần là xong. Cái cây đà ngang đội trần garage kia anh nghĩ chắc cũng đủ sức chịu đựng để câu cái đầu máy ra khỏi khung xe. Giữa hai thanh gỗ ba phân ba tấc đó có một miếng thép cũng cùng chiều rộng và dầy một phân hơn nằm kẹp trong đó. Chỉ sợ là sợi dây cáp của cái cần trục xách tay loại một tấn rưỡi này đứt bất tử mà thôi.

     - Không hề gì đâu, làm đại đi. Em cũng muốn tháo cái hộp số tự động này ra coi nó ra sao trong đó. Em nghĩ chắc cũng giống như hộp số xe Honda Dame bên mình. À, mà ở Việt Nam không thấy ai xài xe tự động à nghen, toàn là số tay. Chắc em phải làm ngay bây giờ, để không thôi trễ. Trước sau gì mình cũng tháo, bây giờ lo tháo.

     Hưng tiếp tục làm thợ vịn cho Thịnh. Cả hai cùng ngạc nhiên khi thấy toàn sức máy truyền qua hộp số tự động chỉ bằng tám con ốc bằng mút đũa. Tám con "bù-loong" nhỏ xíu nối liền cái bánh trớn (fly wheel) đằng sau đít cốt máy và cái nồi dầu (torque converter). Chia đều nhau ở tám đỉnh trên một vòng tròn, tám con ốc chịu đựng hết tất cả sức chạy, sức ngừng của toàn chiếc xe...

     Qua ngày sau Hưng bắt đầu dở sổ điện thoại gọi các junkyards vòng quanh thành phố, những dealers có quảng cáo đăng trên yellow pages. Hình như đầu máy Honda Accord đời 80 này chỗ nào cũng có, và cùng một giá đồng hạng 400 đồng một cái. Hóa ra xe Honda loại này coi bộ dễ hư dữ? Mà đây, có những junkyards nằm ngoài xa hơn, có số điện thoại free, 800 nữa. Hưng gọi ngay hãng Motors 21, hãng có cái quảng cáo bự nhất. À há, rẻ hơn, chỉ 300 đồng thôi. Ði xa hơn một chút, chỉ hai mươi lăm, ba mươi dặm đường mà lời được 100 đô-la thì kể cũng sướng chán. Máy mới hơn nữa chớ, đời 81, 82.

     Motors 21 là một junkyard lớn có hạng, khoảng 25 mẫu Anh, nằm trong một thung lũng dọc theo xa lộ 21 của tiểu bang South Carolina. Từ đàng xa và trên cao nhìn xuống, Hưng đã thấy những chiếc xe phế thải, đủ cỡ đủ loại, nằm bất động thành dãy dài như những đường sọc đậm màu trên lá cờ Mỹ quốc. Chạy mút vào tận chân đồi thụt sâu vào phía trong. "Tổng hành dinh" của cái nghĩa địa xe này là một ngôi nhà trệt xập xệ, mái tôn vách ván. Bên cạnh là một nhà tiền chế, mái tôn vách tôn, có lẽ là nhà kho dùng để chất chứa những bộ phận rời đã được tháo sẵn, off from the shelves .

     Bước chân vào "tổng hành dinh" của Motors 21, Hưng không khỏi ngạc nhiên là hoạt động ở đây rầm rộ quá chừng. Mặc dù người điều khiển chương trình đang độc diễn một mình. Y chang như một trung tâm hành quân vì tiếng gọi máy xa gần từ khắp bốn phương trời, dồn dập vọng về không ngớt bên tai. Một lô điện thoại. Nào là điện thoại viễn liên bíp bíp liên hồi, nào là điện thoại local reng reng bất tận, nào là điện thoại có nhiều nút bấm phát lớn trên hệ thống loa bắc thẳng lên tường. Thậm chí có cả điện thoại câm, không biết rung chuông gióng trống gì hết mà chỉ biết chớp chớp đèn báo động... Phụ họa với những máy móc tân kỳ đó, còn có một cái máy rộng họng hơn nữa, đó là cái walkie-talkie, lúc nào cũng nằm sẵn trong tay người khổ chủ thay vì được móc bên lưng quần như những người khác. Hưng nghe đủ thứ hiệu xe: Ford, Chevrolet, Dodge, Plymouth, Pontiac, Old Automobile, Cadillac, Volkswagen, Toyota, Honda, Nissan, Isuzu, Subaru, thậm chí đến Hyundai. Trong một góc phòng đằng xa kia có một người đàn bà lớn tuổi có lẽ đang giữ chức vụ thơ ký, kiêm kế toán viên, kiêm thâu ngân viên, và kiêm luôn chức... mẹ gia chủ, vì Hưng có nghe người đạo diễn thỉnh thoảng hét lớn Mom, Mom... Hưng mở đầu cuộc đàm thoại:

     - Tao có nói chuyên với ai đó, có thể là mầy, Bob (thêu ngay trên ngực áo), về cái đầu máy Honda Accord đời 80.

     - Ờ, tao biết. Tao mới check lại với tụi thợ máy, tụi nó nói là máy đời 81, 82 không ráp vô xe của mầy được. Rất tiếc, sorry, chỉ có hai đời 79 và 80 là giống nhau thôi. Tuy nhiên, máy bên xe Prelude cũng có thể xài cho xe Accord. Mà rất tiếc, lại sorry, tao không có cái Prelude hay Accord đời 79 hay 80 nào nằm sẵn trong kho hết. Mầy có muốn tao tìm (locate) cho mầy một cái ở những junkyards khác không? Mầy có đem cái máy hư của mầy theo không?

     Ði không há lẽ trở về không , 30 dặm đường chớ bộ gần gũi gì à? Hưng mang máng thấy mình như bị thằng Mỹ này lường gạt, nhưng thôi, tới đâu hay tới đó. Nếu phải so đo với nó rằng nếu mầy mà nói như vậy ngay từ lúc đầu thì còn khuya tao mới mò tới đây, kể cũng chẳng ích lợi gì. Hưng quyết định luôn:

     - Ừa, thôi mầy cứ thử tìm cho tao một cái đi. Cái máy hư đang nằm trong thùng xe pick-up của tao đậu ngoài kia.

     - Ðược, để tao lo cho mầy ngay bây giờ.

     Bob nhắc máy "siêu tần," cái điện thoại đặc biệt màu đỏ, nhảy vô hệ thống phát thinh không. Nó lập đi lập lại lời yêu cầu của nó xen kẽ vào những lời yêu cầu của nhiều người khác. Hưng lẳng lặng lắng nghe chuỗi âm thanh dài dằng dặc:

     - Máy Honda Accord đời 80, máy Honda Accord đời 80... Hộp số tự động Grand Am 84, hộp số tự động Grand Am 84... Sáu máy thẳng GM, Chervrolet 78 Van, sáu máy thẳng GM, Chevrolet 78 Van... Thùng pick-up Ford Ranger 85, thùng pick-up Ford Ranger 85... Máy Honda Accord đời 80, máy Honda Accord đời 80...

     Phát thinh không giữa chốn mê hồn trận đâu độ chừng năm ba phút, Bob may mắn được đầu kia trả lời:

     - Máy Honda Accord 80, có máy Honda Prelude đời 79. Làm ơn coi lại con ốc đầu máy (crankshaft nut) cỡ mấy. Nếu đúng 19mm thì OK.

     - Motors 21 nghe. Sẽ cho người đi đo, xin chờ.

     Bob đưa walkie-talkie lên miệng hét to:

     - Hê, Tom, chạy ra xe pick-up đậu trước sân đo con ốc máy coi cỡ mấy mậy. Có phải 19mm không, báo cáo gấp.

     - Ghi nhận đủ (ten-four).

     Có tiếng xe gắn máy hai bánh nổ ròn tan bên hông nhà. Hệ thống phát thinh không cứ tiếp tục véo von, trầm bổng. Ðộ vài phút sau, Hưng nghe:

     - Bob, đúng y chang 19mm. Cùng một cỡ với con ba phần tư inch đó, mầy biết quá mà. Chỉ có hai trự này là Ðông và Tây gặp nhau thôi.

     - Nghe rõ.

     Bob quay sang Hưng:

     - Nó đòi mầy 400 đồng cái máy đó, đổi máy cũ (exchange). Máy còn tốt, chỉ mới chạy có sáu chục ngàn dặm thôi. Mầy chịu không đặng tao order cho nó chở qua?

     Hưng đang phân vân. Trước sau gì cũng bị mất 400. Biết như vầy ai thèm đi tuốt ra miệt này chi cho xa, mua ở mấy hãng gần gần trong thành phố có phải sướng hơn không. Tụi này làm tiền thiên hạ thiệt là có hệ thống, kỹ cương. Nhưng chẳng lẽ lại về tay không? Cây lao thiệt nhọn giờ như đã phóng, thì thôi, hãy theo lao một phen:

     - Ừa, kêu đám đó chở tới đây cho tao ngay bây giờ đi.

     - Ðâu có được. Tệ lắm cũng là trưa mai mới có. Tụi nó chở qua từ tiểu bang Georgia mà, đâu phải gần đây. Cái đầu máy loại này coi bộ hiếm hoi à nghen.

     Hiếm hoi? Hưng thở dài thêm một lần nữa. Chán quá rồi. Hưng cảm thấy sợ phải tiếp xúc thêm một thằng chủ junkyard thứ hai. Biết đâu nó lại làm tròng làm tréo bảo rằng không có sẵn và phải locate một cái khác ở tận Alabama hay Florida? Biết đâu không còn cái giá 400 nữa? Thôi thì ừa đại cho rồi.

     - OK.

     - Vậy thì mầy phải đặt cọc tối thiểu phân nửa. Còn phân nửa trả nốt khi mầy ghé đây nhận máy.

     - Cũng được. Nhưng tao muốn giữ hai cái máy cùng lúc một thời gian, chừng nào ráp xong xuôi tao đem trả một cái hư cho mầy.

     - Mầy phải deposit 25 đồng gọi là core charge, rồi tùy mầy muốn giữ bao nhiêu lâu thì giữ. Bao giờ đem máy tới thì lấy tiền deposit lại.

     Giấy tờ xong, Hưng bâng khuâng lặng lẽ ra về... với tay không. Nhường chỗ cho mấy người khách đang vừa mới đến.

     Sáng ngày sau, để thử lòng ông bạn hiền junkyard, Hưng điện thoại rất sớm, mới 9 giờ hơn, để check coi cái đầu máy Honda đến chưa. Cũng cái giọng lóc chóc, loi choi cố hữu của thằng Bob, không một chút nào ngượng nghịu, đã dám ngang nhiên bảo Hưng rằng: sẵn sàng, mầy có thể đến lấy bất cứ lúc nào. Trời đất, có chuyến xe chở hàng nào chạy từ Georgia qua South Carolina mà sớm dữ như vậy không? Chẳng lẽ tụi này xài overnight express? Rõ ràng, thằng Bob gian mà không ngoan, dấu đầu lòi đuôi. Ôi, cái nghề mánh mung, miệng lưỡi! Thôi, kể như Hưng bị gạt thêm một lần nữa! Ðợi chiều tan sở về rồi vòng qua lấy cái "của nợ" đó cũng không mất mát đi đâu... Rồi chiều đến. Dòng chữ Hayden Salvage, Georgia đập mạnh vào mắt Hưng. Thánh thần thiên địa ơi, ai mà nhẫn tâm dán làm chi cái tấm nhãn ghi địa chỉ nơi gửi, mới viết chưa ráo mực, lên bên trên cái đầu máy vầy nè? Buồn cười ơi là buồn cười, diễu dở ơi là dở!

     Thứ bảy, sau khi cà phê hủ tiếu tại gia xong, hai anh em Hưng và Thịnh chui xuống garage bắt tay vào việc. Hai cái máy không sai một nét. Có luôn cả cạc-bu-ra-tưa, bô séc-măn, và "dàn dẫn gió" (intake manifold) dính liền theo cái máy mới mua nữa. Vừa tháo mấy cái bu-gi, Thịnh ra điều thợ máy:

     - Tụi Mỹ làm ăn coi bộ cũng kỹ lưỡng ghê. Lấy giấy nylon trùm đầu cạc-bu-ra-tưa lại là khôn. Lọt vô đó một con tán là mệt lắm, phải tháo hết ra. Ðể bu-gi dính theo máy thì cũng thuộc hạng nhà nghề. Anh biết, nếu để trống, hơi gió lòn vô đó đôi ba ngày là xy-lanh pít-tông rỉ sét ngay. Ðây nè, anh coi, hai đầu mối bắc ống dẫn nhớt ló ra ngoài này tụi nó cũng lấy ống cao su bịt lại. Tụi này cẩn thận...

     Xem xét xong xuôi, Thịnh nhõm chân đứng dậy:

     - Ðâu anh phụ em một tay lật nó nằm ngang chiều này. Ðặng em tháo thùng nhớt dưới đít máy, coi lại cây "dên" (crankshaft) với bộ "bả-vê" (crankshaft bearing) luôn thể. Cái bơm nhớt nữa. Cái bơm nhớt coi vậy chớ mà quan trọng lắm, tỉ như trái tim của con người ta vậy. Thiếu nhớt là thiếu máu, máy cháy liền. Còn việc hút xăng thả khói thì tỉ như ăn với ỉa mà thôi, không quan trọng bằng.

     Cái đầu máy Honda coi nhỏ vậy chớ mà nặng quá mạng. Không gồng mạnh tay chưa chắc nó đã nhúc nhích. Chờ cho Hưng lựa thế nắm hẳn hòi, Thịnh tiếp hơi:

     - Anh xong chưa? Nè, một, hai, ba, hê...

     Ðâu vào đó. Nhưng, bỗng dưng Thịnh la lên:

     - Chết cha, sao nước ở đâu mà chảy ra dữ vầy nè. Rồi, trong xy-lanh máy số 3, cũng lại máy số 3. Cái đầu máy này có chắc ăn không đây? Tụi nó có bảo đảm cho mình không?

     - Máy cũ mà làm gì bảo đảm với không bảo đảm. Cái nào cũng bệ rạc như cái nấy thôi. Tuy nhiên tụi nó có hứa, nếu cái này không chạy thì đổi lại lấy cái khác.

     - Có giao hẹn kỹ càng như vậy hả?

     - Ừa. Nhưng thây kệ mẹ nó, cứ ráp vô đại đi rồi đề máy thử coi nó chạy hay không cái đã.

     Thịnh trù trừ:

     - Ráp thì ráp, chuyện gì chớ chuyện này dễ mà...

     Dễ thì cũng không dễ lắm đâu. Hai anh em hì hục làm miết mà mãi đến xế trưa mới bắc được máy vô chưn máy và xiết bộ "bù-loong" hộp số. Còn gắn "lốc-lạnh," "pốt-đờ-sạc" nữa chi. Thêm một hai tiếng nữa rồi cũng xong. Nhưng sợ nhất là mấy đường ống cao su và mấy mối nối dây điện. Sao mà nhiều quá, lỗ nào cũng giống lỗ nào, cùng cỡ cùng size. Ðích thân Thịnh tháo ra mà bây giờ ráp lại Thịnh cũng hơi lọng cọng. Thôi thì hi vọng là nó chạy mối như vậy. Châm nhớt, châm nước là những công việc sau hết phải làm. Cuối cùng, Hưng lên tiếng:

     - Sẵn sàng chưa? Ðề à nghen.

     Thịnh đưa ngón cái lên trời ra hiệu sẵn sàng cho Hưng đang ngồi bên trong tay lái. Ðề. Chiếc xe hục hặc năm hồi mười hiệp mà không chịu chạy. Bỗng nhiên, Thịnh hốt hoảng:

     - Ê, khoan...

     Rồi cười khan:

     - Ha ha, phải rồi, nó chạy làm sao được với cái chốt đen-cô nằm trơ trọi ở bên ngoài. Ha ha, bậy quá, tính tháo ra coi nó có sét có nước gì không mà quên, không lắp vào... OK, đề lại coi.

     Chỉ cần ré ré vài tua thì trời bất dung nhơn đảng, tiếng máy rú lên, khói xanh xịt đầy trời phía cửa garage. Chạy. Ðã thiệt. Kết quả của gần cả một ngày công lao khổ nhọc. Thở phào. Nhẹ nhõm. Mừng vui. Ít nhứt cũng phải như vậy chớ. Cho nó chạy thả cửa một hồi xem sao. Thịnh đốt một điếu thuốc hút lấy hơi. Phì phà, ra chiều suy nghĩ.

     - Anh để ý coi nó có nóng máy không nghen.

     Ga-răn-ti lại cũng để cao quá. Thịnh mò con vít điều chỉnh xăng, con vít có gắn cục khằn đen đằng sau đít đã trở nên quen thuộc. Vặn xuống. Nhỏ nữa, nhỏ nữa. Khịt,... khịt,... khịt, lại nổ không đều. Vặn lên. Cho nó chạy nhanh như vầy thêm một lúc nữa. Chờ tàn một điếu thuốc cái đã.

     - Máy nóng chưa?

     - Kim đồng hồ đang chỉ mức độ trung bình.

     Tuy hỏi vậy nhưng Thịnh biết hết. Lại đồng bệnh với cái máy cũ, Thịnh đoán chắc như vậy. Không đồng bệnh sao được khi mà "bình nước dự trữ" đang sôi sùng sục. Hưng lên tiếng:

     - Coi bộ bắt đầu nóng máy. Kim đồng hồ tiếp tục đi lên.

     - Ðâu, tới đâu rồi, để em coi... Ô, máy nóng quá rồi, thôi tắt đi.

     - Tắt hả? Sao kỳ vậy ta?

     - Cái máy này lại bị "thổi ron lòn nước" nữa rồi. Nhưng, chắc chưa "lòn nhớt" vì không thấy khói đen. Em định nói với anh là để cái máy này ở ngoài, rã ra coi từng bộ phận cho chắc ăn trước khi lắp vào. Ðể ở ngoài có gì làm dễ hơn, bây giờ ráp vô rồi cũng kẹt. Trước sau gì cũng phải thay miếng "ron nắp cu-lát" một lần nữa, nếu anh muốn xài nó. "Bộ đồ lòng" cái máy này còn tốt hơn cái máy của mình, hơi "còm-mét-xông" (compression) còn mạnh lắm.

     Số phần của Hưng, than ôi, sao mà quá hẩm hiu. Anh nổi giận:

     - Damn it. Thằng Bob này gian ác quá, dám bán cho mình cái máy hư. Nó còn lọc lừa hơn thằng Jack kia đến mấy bực!

     Nhưng anh lại nguôi ngoai, tiếp:

     - Thôi, nghỉ đi Thịnh, mệt rồi. Ngày mai Chúa nhựt, không ai làm việc hết. Cứ để từ từ, một hai ngày nữa anh sẽ kêu nài bắt đền tụi nó xem sao.

     - Còn "đồ vết" (parts) từ cái máy cũ của mình, mình được quyền giữ phải hôn? Sẵn tay dơ để em tháo lấy lại mấy thứ cần thiết trước khi đem trả.

     - Ối, ba cái đồ hư đó mà lấy làm gì cho chật nhà...

     Trưa ngày thứ hai, trong bữa ăn trưa, Hưng định than phiền với thằng bạn thân người Mỹ, thằng Gary, về người Mỹ. Hưng mở đầu câu chuyện bằng một câu hỏi:

     - Tuần rồi tao có nói cho mầy nghe cái vụ mua máy cũ về ráp lại cho chiếc xe Honda Accord của tao phải không?

     - Phải. Rồi sao? Mầy đã ráp chưa?

     - Damn it! Ráp rồi mà nào có chạy được đâu. Mầy biết sao không, y chang một bệnh như cái máy hư của tao, the head gasket had been blown off .

     - Ha ha, bởi tao thề tao không mua xe Nhật là vậy. Tụi nó đã tính sẵn cho mầy năm nào tháng nào xe sẽ hư. Bảo đảm với cả một chứng bệnh mang tên gì nữa kìa. Mầy có bao giờ tin lời tao nói?

     - Vừa thôi, xe Mỹ cũng nào có khác gì đâu. Tệ hơn nữa cũng không biết chừng. Nhưng mà mầy biết thằng Bob, thằng chủ Motors 21, giải quyết vụ này ra sao không? Nó biểu tao tháo cái máy đó đem trả lại, rồi nó sẽ cho credit và đổi cho cái máy khác. Thiệt là điếm đàng, nó làm như tháo ra ráp vô là dễ lắm. Tao với thằng em làm cả ngày trời chỉ có mỗi phần ráp thôi. Tao thà thay cái "ron" như thằng em tao đề nghị, chớ còn tháo ráp nữa hả, tao ngán ngược rồi. Mà tao nói với thằng Bob rằng để tao ghé nó lấy thêm cái máy nữa về làm, xong xuôi tao trả lại nó hai cái hư mà nó không chịu. Mầy thấy vô lý không?

     - Thì nó đâu có làm gì khác hơn được. Tao nói không phải bênh nó nhưng mầy phải biết, nó buôn bán với biết bao nhiêu hạng người chớ đâu có phải riêng gì mầy. Mầy là người thành thực, ngay thẳng, honor, tao biết. Nhưng, mấy thằng có garage riêng đâu có được như vậy. Tụi nó vẫn hay lươn lẹo, làm tròng làm tréo để lấy về hai đầu máy với giá một cái. Ối mà thôi, cái nghề tháo ráp đó không có gì bảo đảm hết. Chính thằng bạn chuyên nghiệp của tao, thằng Jame Brown mầy biết chớ, cũng chạy làng. Ráp hai ba cái mới có một cái chạy được là chuyện thường. Mầy đừng có ngạc nhiên về việc phải chữa trị cùng một bệnh lần thứ hai. Chính thằng Jame nói với tao nó cũng dẹp nghề đó luôn, garage của nó bây giờ không nhận tháo ráp đầu máy cũ nữa...

     - Tao cứ tưởng ở cái xã hội tương đối không mấy ai thiếu ăn, thiếu mặc như thế này thì làm gì có những hạng người chuyên môn lường gạt, móc túi, vơ vét người lương thiện.

     - Hừ, mầy giỡn chơi hoài, Hưng. Are you pulling my legs ?

     Nghĩ cho cùng, không có cách gì thay đổi được tình thế, số phần đen tối của mình, cho nên chiều ngày đó Hưng tạt qua Motors 21 để thảy phức cái máy hư vào đống sắt vụn. Ðồng thời phàn nàn cùng thằng Bob một đôi điều:

     - Tao biết mày không thích nghe tao nói, nhưng cái máy của mầy không đáng giá 400 đồng mà tao phải trả. Bộ mầy không biết nó hư thiệt sao? Người mua lầm chớ người bán nào lầm, phải vậy không? Bây giờ tao vừa phải mất công, vừa phải tôn của để sửa cái "của nợ" của mầy, mầy thấy không?

     - Mầy thiệt tình không nói láo với tao? Nè, 25 đồng tiền deposit của mầy, cộng thêm 100 đồng tiền discount cái máy hư, 125 đồng chẵn đây, có vừa lòng mầy không? Trở lại đây gặp tao khi nào mầy thấy cần...

     Hưng hơi ngạc nhiên vì sự đối xử có phần hơi rộng lượng đó của Bob. Rõ ràng trong hắn còn có một chút lòng thương người, lòng thương người của một tên đồ tể. Thì ra trên trái đất này, dù ở xứ Việt Nam nghèo khó hay cái đất Mỹ giàu sang này cũng vậy, con người dù gian hùng xảo quyệt đến đâu đi nữa cũng có lúc phải quay về cái bản ngã thiện tâm. Trái tim con người như một linh quang mầu nhiệm, chứa đầy Phật tánh. Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh , cái Phật tánh sẵn sàng đón nhận những xúc cảm thầm kín, thâm sâu nhất tận đáy lòng. Họa chăng chỉ có bè lũ lãnh đạo duy vật đã đưa nước Việt Nam xuống hàng nghèo nhứt thế giới là những kẻ chẳng có trái tim mà thôi.

     Hưng không ngờ mình đả vô tình nghiệm ra được bài học tâm linh sơ đẳng.

     Thôi thì số phần của Thịnh là người chuộng nghề máy thì phải tiếp tục sửa xe. Phải sửa cho đến khi nào chiếc Honda Accord màu cream này chạy cho ngọt mới thôi. Và Hưng tự hứa khi công việc hoàn tất, sẽ mua cho Thịnh hai món quà mà Hưng biết chắc Thịnh đang hằng mơ ước: một bộ đồ nghề sửa xe hiệu Craftman của Sears để làm vốn vào đời và một cái máy ảnh Minolta tự động để chụp hình gửi về Việt Nam cho bà con ở Thành, ở Nha Trang, xem chơi. Nha Trang, ngày về, mình tôi trên bãi khuya ... Những ý nghĩ đó làm Hưng thêm vui sống, phấn khởi...

   back to top

04. TUYỆT LỘ

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     - Này bạn, xin hỏi bạn chớ bạn nghĩ thế nào là một truyện ngắn hay?

     - Bạn hỏi chơi hay hỏi thiệt đây? Theo tôi, điều cần thiết cho một truyện ngắn hay là phải linh động và sống thực. Kế đến là phải chan chứa tình người...

     - Thôi thôi, đừng có dài dòng. Ôm đồm nhiều quá nó mất hay. Tôi chỉ cần bạn nói ra một điều cần và đủ là được rồi.

     - Vậy thì tôi giữ cái ý ban đầu, phải linh động và sống thực.

     - Tôi lại nghĩ khác. Ðơn giản hơn bạn nhiều. Theo tôi, điều cần thiết cho một truyện ngắn hay là viết làm sao khi đọc, độc giả không thể bỏ tờ báo hay buông cuốn sách xuống được, mà phải đọc một lèo từ đầu đến cuối. Thế thôi.

     - Thế bạn nghĩ sao nếu có người bảo, đại khái, "khi sáng tác truyện ngắn tác giả rủ độc giả làm tình, nếu cả hai đã đời thì truyện ngắn thành công, nếu chỉ có một bên đã đời thì truyện ngắn thất bại, nếu không có bên nào đã đời thì truyện ngắn thảm bại."*

     - Cái này lại khác. Ý bạn muốn bàn đến những truyện tình mang nhiều dục tính, những quyển dâm thư, những "bảy đêm khoái lạc thời đại?"

     - Ðiều đó cũng tùy theo quan niệm người đọc. Về phần tác giả thì có người trình chiếu phim R nhưng cũng có người dựng lên phim X. Có người bảo đó là cái ý chính nhưng cũng có người bảo đó chỉ là cái cớ. Có người lấy làm cứu cánh nhưng có người cho là phương tiện. Tuy nhiên, nói gì thì nói, tôi đã có kinh nghiệm một điều, viết dâm bôn dâm đảng là đi vào tuyệt lộ, mất độc giả.

     - Bạn nói sao? Tuyệt lộ? Này bạn, xin hãy thêm một lần nữa. Tôi mời, xin hãy cùng tôi lang thang đi vào tuyệt lộ, nếu bạn không chê, không trách...


    

     Nhiệm vụ của tôi là bằng mọi giá phải mở cho được một "hộp thư" trong vùng Ðồng Tháp Mười. Một "hộp thư thứ thiệt," hiểu theo nghĩa của những người làm tình báo. Ðó là chỉ thị tối mật của phòng phản gián, Phủ đặc ủy trung ương tại Sài Gòn. Tiền mật phí thì xếp đã chi trước cho tôi, tương đối rất sòng phẳng và rất xộp. Ðiều này chắc chắn sẽ giúp tôi dễ dàng hơn trong công tác tuyển mộ mật báo viên.

     Tôi theo tàu hải quân, vượt kinh xáng Tuyên Nhơn đi vào vùng hoạt động. Ðể hòa mình vào cảnh giới tôi sẽ phải sống, tôi đóng vai một trung úy hải quân, với cái tên mới Ngô Thừa Dũng. Hải quân Trung úy Ngô Thừa Dũng, với đầy đủ các giấy tờ tùy thân, sự vụ lệnh, kể cả giấy chứng chỉ tại ngũ và căn cước quân nhân do thiếu tướng Nguyễn Xuân Trang ấn ký.

     Thật ra, tên tôi là Vong. Ðúng hơn là Vông vì chị hai tôi tên Tầm, tầm vông... hiểu theo nghĩa tầm vông vạt nhọn trong thời kháng Pháp. Nhưng mấy ông xã ông chủ ở nhà làng không chịu để ý (hay không rành chính tả cũng không biết chừng?) lại sửa tên chị hai tôi thành Tằm và tên tôi thành Vong, mới khổ. May phước, tôi không có đứa em nào, bằng không, chắc nó phải mang cái tên Vạt hơi khó kêu.

     Nói cho cùng, giữa hai chữ tầm vông và hai chữ Tầm Vu, nơi chúng tôi sinh trưởng, chẳng biết ba má tôi quí mến hai chữ nào hơn mà để xảy ra cớ sự như ngày hôm nay? Vương Giải Tằm và Vương Phóng Vong, bởi hai cái tên nghe kỳ kỳ lỗ tai đó mà hai chị em tôi cứ bị chúng bạn ở trường trung học Long An chọc quê hoài. Thuở đời nay, ở thời buổi văn minh có cả máy IBM chấm thi, mà còn cầm "tầm vông" đòi đi "giải phóng" quê hương thì... chán quá. Nhưng dầu sao đi nữa tôi vẫn hiểu và thương ba má tôi. Cũng như hiểu và thương những ai đã sống trong thời kháng chiến chống thực dân. Ðã cố tình đem ý chí bất khuất của mình gửi gấm vào tên con. Vào thời đó, những kẻ có lòng ai mà lại dửng dưng, không đi làm cách mạng chớ?

     Hai bên bờ kinh dẫn vào vùng Tuyên Nhơn, Mộc Hóa có nhiều đoạn chỉ toàn là ruộng lác mọc cao như đám trúc hàng rào. Sát bờ kinh, ô rô, cóc kèn, cám, bần, đước... dây nhợ chằng chịt. Mấy lúc mực nước xuống thấp, tàu chạy chưn vịt quậy luôn cả bùn đen, đứng dưới tàu nhìn lên bờ tưởng chừng như đang đi giữa hai vách núi. Nếu lỡ bị Việt Cộng tấn công trong những đoạn hạn hẹp này, súng trường kể như dẹp, chỉ còn mỗi loại súng phóng lựu M 79 là còn hữu hiệu. Bởi vậy đừng nói đi hải quân là mang trong mình chử thọ. Ðó là chưa nói đến vô số các loại mìn Việt Cộng thả đầy trên kinh.

     Ngay giữa trưa của một ngày cuối đông, hai chiếc Alpha, một loại tàu mới của Hải Quân Việt Nam, đã đưa tôi đến căn cứ an toàn. Lúc băng qua cột cờ về trại theo sự hướng dẫn của ông thượng sĩ quản nội trưởng tôi bỗng gặp Long, một thằng bạn thân cùng lớp hồi mấy năm trung học đệ nhất cấp. Bây giờ đeo lon trung sĩ nhất. Long rất đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi, vồn vã hỏi:

     - Ê Vong, sao mầy đi đâu đây? Mầy vô hải quân hồi nào?

     Tôi rất ái nái tưởng như mình đã bị lộ tẩy, nhưng vội trấn an, làm tỉnh trả lời:

     - Lâu rồi. Tao đi lính trước mầy mà.

     Rồi nghĩ thầm, phải chi mình cải trang thành tên chuẩn úy, thiếu úy thì hợp tình hợp lý với Long hơn. Nhưng chắc chắn Long không thể nào nhận ra bộ mặt thực của tôi, một nhân viên dân chính trong bộ quân phục. Chính tôi đôi lúc còn không nhận ra tôi nữa là. Quyết không để hắn hỏi thêm một câu nào nữa hết, tôi hỏi dồn:

     - Mày đi lính hồi nào? Khóa mấy? Bây giờ đang giữ chức vụ gì ở đây?

     - Khóa 7/72, mùa hè đỏ lửa. Tao làm thuyền trưởng Alpha.

     Lại Alpha, làm như Hải Quân Việt Nam chỉ có mỗi một loại tàu duy nhất. Tôi hỏi tiếp:

     - Mày đang ở khu nào?

     Long chỉ tay về phía khu gia binh, nhìn tôi nghi ngờ. Tôi đi thụt lùi theo ông quản nội trưởng vài bước, vừa trông theo nó vừa nói vói thêm một câu:

     - Lát nữa tao qua kiếm mày nói chuyện chơi. Bây giờ phải đi ngay. Có việc quan trọng.

     Có lẽ Long đã nhận chân ra tôi vì hồi xưa, lúc ngồi chung một lớp đệ tứ ban B, tôi cũng ù ù cạc cạc như nó. Mấy đứa giỏi, làm toán chạy đua lúc nào cũng đem lên thầy chấm trước, thì mới được để ý. Ðám ngồi dưới bàn chót như nó với tôi thì có ai coi ra gì. Bởi vậy cứ hay bị gọi là "dân ở xóm nhà lá" thì củng phải. Nhưng trường đời khác hơn trường học, ai thành công ai thất bại mấy ai học được chữ ngờ.

     Tắm rửa sạch sẽ và cơm nước câu lạc bộ đâu đó xong xuôi, tôi nằm phòng lạnh nghĩ xả hơi đợi đến xế chiều mới bang qua khu gia binh tìm Long. Nó nghi ngờ thì mặc nó nghi ngờ, tôi không thể nói thật thân thế của tôi cho nó biết. Nghề nghiệp mà. Nhưng mục đích chính của tôi là qua kinh nghiệm của nó, khai thác nó nếu cần, tìm cách lân la ra các xóm, các ấp có dân cư đông đúc. Không kể chi khu, quận lỵ, và các xã lớn. Tôi chỉ nhắc lại chuyện xưa với Long hồi còn đi học. Những kỷ niệm cua đào, giành gái, rồi đánh lộn nhau ở sân vận động như cơm bữa của bọn con trai chúng tôi. Phải làm vậy cho sự cách biệt giữa cái lon trung úy của tôi và cái lon trung sĩ nhất của Long bớt đi phần nào.

     Cùng với một đám bạn độc thân ở chung nhà với Long, đám thủy thủ còn con nít trân, không khác gì Long và tôi mấy thì đúng hơn, trong lúc lai rai mấy lát xoài sống với chai ba xị đế, tôi đã tìm được một cơ hội tốt. Chẳng khác nào đang buồn ngủ mà gặp chiếu manh. Hên quá, Long cho tôi biết chiều nay đến phiên nó phải xách tàu đi công tác, tuần tiểu. Cùng với ba chiếc khác. Tôi ngõ ý muốn đi theo chơi (thật ra là đi làm ăn) một chuyến. Long vẫn còn hoài nghi, giả lả:

     - Ý của "trung úy" muốn "thanh tra" tụi này tại chỗ hay là muốn "bụi đời" với tụi này một phen đây? Ðù má, nói cho... mầy biết trước, con gái ở ngoài xóm quanh đây tình không chỗ chê. Dĩ nhiên mày cũng phải biết điệu nghệ và có chút đỉnh "địa" nghen Vong.

     - Ối, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ đó. Tao đãi mầy một chầu, nhớ tìm chỗ nào thiệt thơm nghe mậy. Tụi mình mấy thuở mới gặp lại nhau.

     Long không ngờ là chiều ngày đó tôi dám xách ba lô xuống tàu đi công tác với nó. Tôi vẫn mặc bộ đồ bạc màu hồi xế, nhưng tháo bỏ cặp lon. Không có cặp lon thì trông tôi cũng giống như một hạ sĩ quan, một đoàn viên hải quân không hơn không kém.

     Tôi chẳng biết Long dẫn đoàn tàu đi đâu, chỉ biết chiếc của nó chạy đầu. Ðược một hai tiếng gì đó thì mặt trời xuống thấp. Nhìn hai bên bờ lẳng lặng một màu xanh. Ghe xuồng của dân hầu như vắng bóng. Sông rạch ở đây chằng chịt, hình như chỗ nào cũng có những đường lạch nhỏ ăn thông ra kinh xáng. Giá không có chiến tranh thì nơi đây cũng là một trong những nơi êm đềm, thanh thản, thần tiên. Gió nội trăng ngàn trải trên những đồng cỏ ngập nước bao la. Một chiếc thuyền con lướt nhẹ qua những bàu súng, những hồ sen thiên nhiên trong hương thơm thoang thoảng của đất trời. Một đôi én bay lượn vòng quanh như đồng tình với cặp tình nhân đang độ uyên ương, gắn bó, hòa mình trên sóng nước lăn tăn. Ôi, tình ơi là tình!

     Long cho tàu ủi bãi (cắm mũi vào bờ) tại Xẻo Quau, một ngã ba vàm. Ba chiếc kia rồi cũng lục tục làm theo. Bốn chiếc gom lại cùng một lúc mới thấy ồn ào hơn cái chợ. Nào tiếng máy, tiếng gọi nhau, tiếng chửi thề ơi ới. Vì mực nước còn cao nên tôi có thể nhìn sâu hơn vào bờ. Cái xóm có độ năm bảy chục nóc gia thì phải. Có vài nhà đã lấp ló ánh đèn đêm. Xa xa cũng có lũy tre non bao bọc, và còn thấy mấy đụn rơm. Một lối đi ngoằn ngoèo dọc theo bờ kinh và con rạch lớn. Rải rác đây đó nhiều đám cỏ màn chầu đầy bông, cọng vương cao như đòng đòng mới trổ.

     - Lên đây chơi mầy, Vong. Tao giới thiệu mày cô chủ quán đẹp mê hồn. Bảo đảm với mày là không bao giờ mày tìm được một người như vậy ở cái xứ Sài Gòn, hay ngay cả Tầm Vu, Long An, Chợ Gạo, Mỹ Tho.

     - Ðẹp dữ vậy sao? Mầy nên nhớ là càng đẹp càng nguy hiểm. Hoa hồng nào chẳng có gai, hoa càng bự gai càng lớn nghe mậy.

     Tôi nói như vậy chẳng qua chỉ vì bị nghề nghiệp ảnh hưởng mà thôi. Nhưng Long nào để ý tới. Hắn lại làm anh hùng, xung phong đổ bộ trước tiên. Không quên sờ lại khẫu P. 38 nằm dưới lần áo bên nách trái, tôi nối đuôi Long nhảy lên thềm bờ cỏ. Một đám, năm bảy tên thủy thủ phóng theo. Tất cả hướng về một mục tiêu, chỗ có ánh đèn măng sông sáng chói. Từ xa tôi lờ mờ nhìn thấy cái quán nhậu chỉ là một căn nhà vách ván, lợp tôn, nền xi măng.

     Quán có bốn bàn vuông kê hai bên vách và một bàn tròn ngay chính giữa. Xài toàn ghế đẫu lổng chổng. Một quày hàng thấp kê trong góc vừa làm chỗ tính tiền vừa làm chỗ nấu nướng. Phía sau là tấm vách bổ kho đóng đứng ngăn cách phần tiệm và nhà ở. Một tấm màn the màu lục treo trên cửa ra vào. Bọn tôi vì đông người nên chiếm cái bàn tròn cho tiện. Ba anh chàng bà ba đen, chẳng biết xây dựng nông thôn, nghĩa quân, hay Việt Cộng dòm chúng tôi lom lom.

     Nghe tiếng ồn ào, chị chủ quán từ phía sau buồng bước ra. Một người đàn bà tuổi có lẽ ba mươi ngoài với đồi ngực hơi trễ xuống một chút. Khuôn mặt đầy đặn với cặp mắt to và đôi mày rậm. Tóc uốn dợn bỏ lưng chừng, thích hợp với vóc dáng, đít mông và cách ăn mặc còn mượt mà như gái một con. Tôi hơi ngạc nhiên vì những thứ không mấy gì nhà quê trên mình chị. Tuy chỉ là quần lãnh đen, áo sơ-mi bâu lật, xẻ vạt bầu màu hường nhạt, với nhiều bông hồng lấm tấm thêu dọc theo các đường biên. Thế thôi. Nhưng tất cả những món đó chỉ làm nước da trắng bạch của chị thêm phần liêu trai, hư ảo.

     - Chị Hường, lại đây tôi nói nhỏ chuyện này chị nghe.

     Long lên tiếng. Chị ung dung bước tới đứng cạnh Long nhoẻn miệng cười:

     - Gì nữa đây chú Long? Bữa nay sao không thấy thiếu úy của chú tới?

     Tự nhiên như ruồi, Long ôm sát chị Hường vào người, tay đặt lên đôi mông láng lỉnh xoa nhè nhẹ, thỉnh thoảng nhịp nhịp mấy đầu ngón tay:

     - Thôi đi bà. Lúc nào bà cũng để ý tới mấy ông thầy của tôi, còn tụi này bỏ cho chó ăn chắc. Giới thiệu với bà đây là trung úy Vong vừa mới xuống thanh tra đơn vị tôi đây.

     Tôi lễ phép:

     - Dạ, chào chị.

     - Chú mới tới hả? Trước lạ sau quen mà. Ở đây riết rồi ai cũng vậy thôi, phải không chú Long?

     - Ai cũng như ai sao được. Ông thần thanh tra này khác, chị ơi. Bây giờ chị cho tụi này một kết bia lớn dằn chưn coi. Rồi "đồ nhắm" bữa nay có món gì lạ không?

     - Thì cũng có mấy con khô như mọi khi. Bằng không thì cây nhà lá vườn, xoài tượng, chùm ruột, cóc được hôn? Nè chú Long, nếu chú muốn uống nguyên thùng thì chắc chú phải tự đi khiêng lấy. Phận tôi liễu yếu đào tơ không khiêng nổi cho chú đâu. Lấy cho một chai thì tôi lấy được.

     - Khoan đã bà, tôi hỏi bà "đồ nhắm" thứ thiệt kìa, chớ còn ba con khô dai nhách của bà thì ai mà không biết.

     Chị Hường hiểu ý, cười hả hả:

     - Có tui nè. Làm gì mà gấp gáp dữ vậy cha non. Chưa chi đã muốn ăn tươi nuốt sống con người ta hà.

     Rồi chị bỏ vào trong lo đi làm đồ nhậu. Trong khi mấy thằng em tự động nhảy lại bưng mấy thùng bia, Long chồm qua vai tôi, nói nhỏ:

     - Bả coi được chớ mậy. Ðù me, cái tên mầy nghe quái đản quá! Trung úy Vong, chẳng khác nào mạng vong hay vong hồn tử sĩ, thì còn ra cái thể thống gì nữa, làm như trung úy giả không bằng. Ê, chồng của bà Hường nghe nói đi hành quân dài hạn, mút mùa lệ thủy, lâu lâu mới về một lần. Tụi hải quân mình biết tẩy bả nên cũng dụ bả nhảy dù chút chút vậy thôi. Cũng có lắm thằng mê bả nghen mậy. Trong tương lai chẳng biết có tay nào dám làm gan nhảy ra bảo bọc cho bả suốt đời không. Tụi mình cứ tùy cơ ứng biến. Lạng quạng mà thằng chả vọt về ngay trong lúc phe ta đương nhập cuộc hả, thằng chả dám vác súng ria đám mình chạy xuống tàu, xách quần không kịp đó.

     Bỗng nhiên, tôi thèm được học bài học nhảy dù với người đẹp. Tôi lên tiếng:

     - Chị Hường, cho tôi xin một gói Pall Mall chị.

     Chị liếc xéo tôi một cái, nở nụ cười tình. Trong một thoáng, tôi thấy tay chưn tôi hơi bủn rủn. Ðể dằn mặt cho thằng Long khỏi nghi ngờ tôi là trung úy giả, lúc chị Hường đem thuốc ra, tôi móc trong túi một xấp giấy Trần Hưng Ðạo cầm tay. Chỉ cần một tờ thôi cũng đủ sức qua cầu, tôi nói:

     - Trả chị liền để quên, khỏi thối chị.

     Thiệt tình tôi cũng thèm đặt bàn tay lên cái mông láng lẩy đó như thằng Long, nhưng tôi chưa làm được. Vẫn còn cái gì ngăn cách xa lạ. Nhưng, bỗng dưng chị xà vào chiếc ghế bên cạnh tôi, ôm tôi ngang eo ếch, rồi kề tai thủ thỉ:

     - Ăn nhậu cho đã đi rồi lát nữa chị sẽ tính với cưng.

     Thằng Long nhìn tôi cười cười, ngụ ý như tôi đã phất cờ chiến thắng. Tôi khuỳnh tay, nhún vai đáp lời như đó chỉ là lẻ tẻ, chẳng có gì đáng quan tâm. Chị Hường vụt nhỏm dậy bỏ đi. Mùi đàn bà pha lẫn mùi nước hoa nồng nồng như loảng dần theo nhịp bước. Và sau cùng, dĩ nhiên, một màn ăn nhậu thuần túy lại có cơ hội diễn ra...

     Trong đời làm nghề "đi dây tử thần" của tôi, nói không ngoa, chỉ có uống rượu là tôi hơi vụng về. Chỉ cần vô độ bốn năm chai là tôi bắt đầu ngà ngà say. Bằng cách phá mồi thật nhiều, tôi ráng sức cầm cự với bọn lính tàu, đứa nào đứa nấy đều là hũ chìm. Món sau cùng tôi đưa cay hình như là dĩa thịt gà xé phay trộn rau thơm. Gà xé phay? Ðào ở đâu ra lẹ vậy cà? Tôi cố nhớ hình như lúc nãy mới bước chân vô quán, chị Hường, hay bây giờ em Hường gì cũng được, có tuyên bố quán này chỉ đãi toàn là khô kia mà. Ðúng rồi, tôi đã ăn nhiều thứ khô lắm: khô mực, khô thiều, khô cá đuối, khô cá hố, và cả mấy xâu tôm lụi. Tôi biết mình rõ ràng đang ở trong tình trạng không mấy tỉnh.

     Nhìn quanh một vòng, tôi thấy không còn ai ngoài bọn tôi. Trong lúc đám thủy thủ ăn nói hơi lớn tiếng, cãi lộn cũng không biết chừng, thì có người cầm tay tôi kéo đi. Do phản xạ, tôi chụp tay người đó và trì lại. Một cảm giác lạ lướt qua. Một bàn tay đàn bà êm êm, mát mát. Rồi không ngần ngại, tôi nhỏm dậy, vòng tay ôm ngang eo người đẹp bước đi. Tiếng hô vô, vô, vô... vang lên vang dội. Chẳng biết vô rượu hay vô buồng. Rồi vì bản năng tự vệ, tôi vụt hỏi:

     - Em dắt anh đi đâu đây?

     - Cưng vào trong này nghỉ cho khỏe. Cưng say rồi. Ngồi ngoài đó một chút nữa là cho chó ăn chè.

     Tôi loạng quạng bước theo người đàn bà, thều thào:

     - Say đâu mà say. Anh còn biết em là ai mà.

     Rồi tôi hôn lên mắt lên môi nàng tưới xượi hột sen. Nàng chiều tôi cũng có mà né tránh tôi cũng có. Nàng sợ hơi men, hơi đàn ông chăng? Nàng đặt tôi ngồi xuống cạnh giường rồi chỉ cần một cái ấn nhẹ, người tôi bỗng ngã ngang. Nàng túm hai chân tôi thảy lên giường gọn lỏn. Nguyên con thả thác lác trên chiếc chiếu bông. Bản năng tự vệ của tôi lại nổi lên lần nữa (hay vì bị cấn dưới bẹ sườn?), tôi thò tay vào nách lần khẩu P. 38 cho đúng vị thế. Nàng kéo tay tôi ra, trừng tôi một cái như bảo để yên đó, rồi tự tiện mở từng nút áo trận trên người tôi. Nàng lườm tôi một lần nữa khi thấy khẫu súng. Tôi cười tình, thú tội. Có lẽ bây giờ nàng mới nhận ra tôi là một "ông thầy" thứ thiệt của thằng Long. Lòn tay dưới lưng tôi mấy bận, lần hồi nàng cũng cởi được chiếc áo. Tôi cảm thấy lạnh lạnh, tôi muốn được nàng đắp cho cái mền. Nhưng không, nàng đã di chuyển xuống hạ bộ và tiếp tục lột quần tôi. Tháo cái bút nịt, kéo sợi fermature. Chừng tuột cái quần xuống khỏi mông nàng mới hay còn kẹt đôi giày. Nàng quay lại liếc xéo tôi một cái nữa. Tôi vụt lồm cồm ngồi dậy, định giúp một tay, nhưng bị nàng xô ngã nằm trả trở lại. Nàng từ từ cởi giày, vớ. Nàng thích làm như vậy? Nàng thích nhìn tôi từ từ trở về nguyên thủy? Hiện nguyên hình trong bộ đồ sinh nhật đầu tiên. Nhơn chi sơ tánh bổn thiện. Thôi thì tùy hỉ, mặc nàng muốn làm gì thì làm.

     Nàng đứng thẳng dậy, thở hắt một hơi dài. Có lẽ nàng mệt vì đã ra sức lo cho tôi. Hay nàng mệt vì trái tim đã nhảy không đều? Bao nhiêu lâu rồi nàng thiếu vắng hơi hướm đàn ông? Rồi với một điệu bộ khoan thai hơn, nàng từ từ tự lo cho chính mình. Từ dưới đi lên, từng cút áo mở tung ra. Lúc nàng vương vai, phành ra, uốn éo trút bỏ những gì vướng vít trên thân tôi bỗng rùng mình. Nàng đã đổi khác, nàng đẹp quá. Dưới làn da trắng mịn như sữa dê. Nàng như đã từ trong ngọn đèn bong bóng bước ra. Những sợi tóc huyền óng ánh xõa xuống trên một bên ngực trần như một màng tơ mỏng, nửa che nửa hở. Mượt mà quyến rủ hơn khi nàng ung dung cúi xuống, cởi nốt phần dưới. Nàng đã thật sự liêu trai, trần truồng và tôi nhìn trân trân không chớp mắt. Nàng khẻ liếc nhìn tôi mỉm cười rắn mắt khi biết tôi đang lên cơn, động cỡn. Có lẽ nàng đã tự tin rằng, với vũ khúc nghê thường thoát tục không xiêm y của nàng vừa mới diễn, Phật với Chúa trên bàn thờ rồi cũng nhảy xuống mà thôi.

     Nàng xà vào người tôi nằm chồng lên bụng, chu mỏ nói trong hơi thở đứt đoạn:

     - Làm gì ngó người ta dữ vậy, ông thần?

     Chẳng biết làm gì khác hơn, tôi xiết nàng dán chặt vào mình. Ðồi ngực trễ tràng giờ như đã cương lên, cứng cứng. Tôi ngoạm một đầu vú vào miệng, núc núc, nhai nhai. Thân dưới tôi, một con ba ba rong rêu lông lá đang bị đè sát vào người, cộm cộm, cấn cấn...

     Bỗng nhiên, tấm rideau che căn phòng tình ái vụt mở tung. Tôi ngỡ ngàng phát hiện hai ba cặp trần truồng như nhộng đang xà nẹo ôm nhau uốn éo trước mặt. Thì ra không ai khác hơn mấy ông bạn vàng thủy thủ của tôi và mấy "em," mấy mụ sồn sồn xa lạ. Bộ tụi này hết phòng hết chỗ hay sao mà nhào đại vô đây? Tôi xìu ngang, ngóc đầu dậy định chửi đổng vài câu phản đối. Nhưng chị Hường, chẳng buồn phải thay đổi vị trí chi hết, lên tiếng:

     - Tụi bây làm gì kỳ vậy? Thì cũng phải thủng thẳng chờ tụi tao chớ!

     Ðể đáp lại lời khuyến cáo thiếu tiền bảo chứng của gia chủ, nhiều tiếng cười the thé, ghê rợn nổi lên. Rồi không ai bảo ai, ào ào cả bọn tranh nhau phóng lên giường chồng chất lên nhau. Tôi nằm dưới bị đè thiếu điều muốn nghẹt thở. Tiếng cười cợt, hò hét bên trên càng lúc càng chói lói, nhức tai. Tôi bèn lấy hết bình sinh vẫy vùng như cá vượt vũ môn. Thoát được cảnh hồ ly mê hồn trận đó, tôi muốn hụt hơi. Nhưng được một điều nó làm tôi tỉnh rượu hẳn. Tôi chụp mớ quần áo dưới chân giường mặc vội lên người (quên mất mẹ khẫu P. 38 bị vứt trong xó góc).

     Xong xuôi đâu đấy, chừng ngước lên tôi rất đỗi ngạc nhiên khi thấy một em bé trạc độ mười lăm mười sáu tuổi đứng ở cửa sau nhìn vô. Tôi ngượng ngùng nhăn mặt như khỉ cười làm hòa với em. Em ngó tôi chầm chập trong bộ quân phục. Hay đống thịt bầy nhầy phía sau? Tôi vụt kéo tấm rideau che lại. Với chiếc áo bà ba bằng phin trắng đã đổi màu ngà và chiếc quần vải đen trên người, tôi đoán em đang sống trong một gia đình lam lũ. Giựt mình, tôi sờ lại túi tiền. Hên quá, còn nguyên. Hóa ra mình nghi oan cho con bé. Với từng ấy tuổi, liệu khối óc non nớt của em có bị ảnh hưởng gì không, trước những cảnh làm tình, làm tội của người lớn. Như có gì khác hẳn với những đứa bé miền quê, dưới mái tóc suông, cắt bôm-bê buông thòng chấm vai, tôi thấy khuôn mặt em trông rất sáng sủa, thông minh. Ðôi mắt tròn đen láy với cặp chưn mày dài và rậm phủ trùm đuôi mắt. Nam xem mắt nữ xem mi, đôi mi dài là tốt. Nhưng em là ai? Trong cảnh tối tăm hỗn độn này? Tôi khoác tay, ngoắc em lại. Tôi muốn ôm em vào lòng. Chính em mới là người đáng để tôi quan tâm. Trong giây phút này. Em bước tới. Vòng tay tôi đang mở rộng, đón chờ. Nhưng không, em nắm tay tôi vụt kéo đi.

     Qua ngạch cửa nhà sau, tôi thấy một cái chái trống lổng trống trơn, cất tiếp theo mái nhà với những thanh tre đan thành ô vuông lớn. Một cái võng mắc chéo từ góc này sang góc kia. Tôi thèm đặt lưng lên đó và được ôm em như ru người tình. Nhưng em nhứt quyết kéo tôi chạy tiếp. Tôi vùng vằng ngó lại chiếc võng như tiếc một giấc mơ đẹp rồi buông mình bén gót theo chân em. Trời bên ngoài đẹp và mát mẻ quá. Ánh trăng rằm tỏ rạng trên ngọn cỏ cành cây lấp lánh sương đêm. Tôi thấy tôi bay bay cùng em trong bóng trăng. Dưới chân tôi hình như đã không còn lối đi, chỉ còn mỗi một lớp cỏ mượt mà như nhung lụa. Thần tiên. Thần tiên hơn nữa khi chúng tôi lọt vào khu rừng huyền bí. Em đã đi chậm lại và cho phép tôi quàng tay ôm ngang lưng. Phải vạch từng cành cây giăng mắc trước mặt, trên đầu để tìm lối đi. Ánh trăng vàng không rời bỏ, xuyên lá rừng rơi từng đốm nhỏ trên thân em. Tôi muốn dừng lại đây. Tôi muốn ngủ với em giấc ngủ nghìn thu trong khu rừng thơ mộng này. Trọn đời trọn kiếp.

     Nhưng chúng tôi đã đến bìa rừng và trước mặt tôi hiện ra một cây rơm to lớn. Bên cạnh, hai con trâu một đứng một nằm đang ung dung, bình thản nhơi cỏ đêm. Tôi ngã người lên lớp nệm thiên nhiên và kéo theo em té xấp lên tôi. Tiếng cười khúc khích hồn nhiên của em làm tôi tưởng chừng như đó là một sự đền đáp hết sức tuyệt vời của tạo hóa dành cho công trình của em, công trình đã dụ dỗ được một chàng trai chịu chơi trò ú tim với mình. Em đã thành công, đúng vậy, vì tôi đang đến với em bằng tất cả tấm lòng mà tôi biết, suốt đời tôi rồi sẽ không bao giờ quên. Tôi vụt hỏi:

     - Em tên gì?

     - Em tên Lệ.

     - Tên em nghe sao buồn quá. Còn anh tên Dũng, Ngô Thừa Dũng.

     - Thiệt vậy hả?

     Tôi trả lời em bằng cái hôn môi. Em đẩy tôi ra. Tôi hơi ngỡ ngàng, quờ quạng. Cứ sợ như vô tình đã làm tiêu tan hạnh phúc của mình. Nhưng em lại xáp vô, hôn tới tấp lên mắt, lên mũi tôi, lên môi tôi. Tôi há miệng đón nhận những giọt tình ướt sũng. Em đã dạy tôi từ giây phút đầu tiên. Một bài học tình ái vỡ lòng. Ðược trớn, tôi vùng dậy trở mình đè em xuống dưới. Trong im lặng mò mẫm, tôi lòn tay dưới áo em mân mê đầu vú, một đầu vú trinh nguyên con gái nhỏ nhỏ như vú cau. Người em ưởn lên, ừ è vài tiếng trong miệng tôi, đứt khoảng theo nhịp tim cơ hồ như sắp vỡ. Tôi xoa xoa, bóp bóp nhè nhẹ hai vú em đã cương cứng, ấm ấm trong lòng bàn tay. Tôi lần xuống lưng quần, đi sâu vào vùng chiến địa. Những sợi cỏ non mềm mại phủ ngọn đồi dã chiến êm êm. Ðôi bàn tay bấu víu trên lưng tôi vụt lơi ra, chụp lấy tay tôi kéo lên. Kéo lên. Kéo lên nữa. Rồi em xô tôi ra, thiệt tình xô tôi ra, lồm cồm nhỏm dậy chạy băng qua khu rừng phía bên kia. Tôi chới với phóng chân đuổi theo như con sư tử sợ mất con mồi. Tôi khẻ kêu em trong đêm:

     - Lệ, em làm gì vậy. Chờ anh với...

     Em không thể đi nhanh hơn tôi trong khu rừng đầy bụi rậm, mặc dù tôi đang phải đi hàng hai, nên tôi đã bắt kịp. Tôi giữ em lại và đứng hôn em giữa trời, ngập tràn những chùm tơ vàng óng ả. Một tay quàng ngang lưng, một tay bợ dưới mông tôi ôm em sát vào người hơn. Sát hơn tí nữa. Tôi không muốn đi đâu hết, tôi muốn cả hai sẽ bị trời trồng nơi đây. Sẵn sàng hóa thạch cùng với những thân cây sừng sững đang đứng chịu tang kia. Bằng không tôi sẽ đè em xuống cỏ, làm lại từ đầu. Nhưng em lại đẩy tôi ra, cầm tay tôi lôi tới, hối:

     - Ði.

     - Ði đâu?

     - Ði theo em.

     Ði theo em? Không hài lòng cho lắm nhưng rồi tôi cũng lừng khừng, lủi thủi bước theo. Ðược một đỗi, một căn nhà lớn xuất hiện. Mái lá vách lá như tôi thấy trong đêm. Ðến phía trước nhà, chẳng ai bảo ai, hai đứa tôi tự động lách mình qua những cây song vuông chõi làm cửa và vách phía mặt tiền. Bên trong, phân nửa nhà trước được ngăn cách với phần sau bằng hai tấm bổ kho chắn hai bên. Ở giữa có hai hàng giáo mác sơn son thếp vàng và sâu vào trong một chút có một bàn thờ với ngọn đèn lưu ly. Thì ra đây là một cái đình (dân trong xóm thường gọi là "nhà lân" như tôi biết sau này). Hóa ra em còn ngại ngùng vì cảnh tôi hăm hở đòi thương yêu em ngay giữa trời không quang đãng? Nhưng ở trong này thì có thú vị gì hơn? Gian phòng trống trơn, một manh chiếu rách cũng không có nói gì nệm ấm chăn êm. Tôi tóm được một cái bao giấy xi-măng tình cờ đá bừa dưới chân. Tôi đem trải trong góc phòng, định làm chỗ ngồi cho cả hai. Tôi thì thầm:

     - Lại đây với anh, Lệ.

     Em nghe lời tôi, mò mò lại gần. Vừa đụng thân em, như không thể chờ đợi lâu hơn được nữa, tôi ôm và vật ngửa em lên bao xi-măng. Em không kháng cự, có lẽ vì nhìn lên trời bây giờ đã có mái đình che khuất những vì sao? Ôi, thân em như tấm lụa đào, giờ sao trở nên mềm mại, nhỏ nhắn dưới thân tôi. Tôi dặn lòng hãy yêu em nhẹ nhàng, lây lất suốt đêm nay. Hai đầu lưỡi tìm nhau trong tê dại. Hai bàn tay mò mẫm, lục lọi khắp miền thân thể. Nơi nào cũng bừng lên sức sống, cứng cứng, mềm mềm. Hai bàn tay bấu víu, cấu cào trong đẩy đưa, nhập cuộc. Hai linh hồn càng lúc càng dâng cao... Chợt có ánh đèn lồng chiếu sáng phía nhà sau. Ông Từ thức giấc? Ông Từ đã phát hiện ra kẻ trộm đã vào đình? Em bỗng giựt mình. Hai tay đẩy tôi lên, hai chân chòi đạp mạnh tôi ra. Tôi cũng hết hồn bật ngồi dậy. Em lượn người bò chun qua lỗ rách của tấm vách lá. Tôi lật đật chuồn theo.

     Thất kinh như đang bị ai rượt, em vụt chạy ra lối mòn ngoằn ngoèo trước đình. Mặc dù đang tưng tức bên dưới, nhưng không dằn được, tôi ba chưn bốn cẳng thi đua nước rút với em. Một ngọn cỏ ống bên lề cắt mạnh vào tay tôi đau điếng. Chẳng màng, bằng mọi giá tôi phải bắt kịp cái bóng ma hời lăng quăng phía trước. Em liêu trai và tôi cũng liêu trai, hai tấm thân chồn cáo biến thành người đang đùa giỡn với nhau trong đêm trăng tỏ. Tôi chạy nhanh hơn, nhanh hơn. Tôi chồm tới, phóng bắt được chân em té nhào trên vệ cỏ. Em vừa cười hả hê vừa la chói lói:

     - Ðừng anh, đừng anh...

     Tôi gạt ngang:

     - Ðừng cái gì mà đừng.

     Tôi xốc em lên, bế nguyên con trên tay. Hai tay em câu vào cổ tôi chặt cứng, hai chân giãy đành đạch. Tôi đi sâu hơn vào trong tìm được một khoảng cỏ trống, đặt em xuống rồi nằm đè lên người. Ðặt ngón trỏ lên miệng em, tôi "xì... " một hơi dài. Em nghe lời, chịu phép. Không la lối, phản đối một điều gì nữa hết, im lặng nhìn trăng sao. Nhất quá tam, tôi bảo thầm trong bụng. Yêu em đi, yêu em đi. Không cần phải mò mẫm sờ soạn nữa, tôi giựt bứt luôn hàng nút áo, áp mặt vào ngực em. Môi tôi tìm đầu vú và bất giác đôi bàn tay em nhè nhẹ ôm giữ đầu tôi. Với năm ngón run run, tôi tháo từng khuy áo trận, lòn được một tay, rồi một tay nữa, vứt được chiếc áo lính ra ngoài. Lòi ra tấm thân dài lưng tốn vải dạo nào. Da thịt chà sát vào da thịt bốc lửa giữa trời khuya. Tôi thò tay xuống lưng em, kéo trịch một mép quần xệ xuống mông. Nhít nhít bên này, nhít nhít bên kia, cho đến lúc thuận tiên, tôi co chân móc ngón cẳng cái vào sợi dây thung đạp một đường dài xuống gót. Em lại oằn oại, uốn éo đẩy tôi ra. Nhưng em khó lòng thoát khỏi tay tôi phen này. Tôi đã có kinh nghiệm. Bằng mọi giá tôi phải yêu em ngay bây giờ. Chực như muốn khóc, em nghẹn ngào năn nỉ:

     - Ðừng anh, anh... Anh, đừng hại đời em, anh...

     Tiếng kêu thương càng làm tôi hùng hổ hơn. Hai tay tôi nắm lấy hai tay em kéo căng ra, đè xuống, thị uy:

     - Hại cái gì mà hại! Anh thương em không hết thì thôi...

     Toàn thân em run lên rồi bỗng dưng em nức nở nghẹn lời:

     - Tía ơi, tía, cứu con... Tía...

     Tôi sững sờ buông mình rơi xuống thân em như một đống thịt. Ðầu óc tôi bàng hoàng và tay chưn tôi rụng rời. Kêu gì thì kêu, ba ơi, má ơi, anh ơi, chị ơi... cái gì cũng được, đừng có kêu hai chữ "tía ơi" nghe sao nó quái đản lạ lùng, nó xoáy vào óc tôi, vào tim tôi. Tôi chưa từng nghe ai kêu cứu như vậy bao giờ. Rõ ràng, tôi đang hiếp dâm em có phải? Như thế nào là yêu thương? Ôi, yêu thương với thương yêu, tôi nào đã qua cầu? Con sư tử đói dục tình trong tôi bỗng nhiên chùng bước. Tôi thở dài, ngã người sang bên, ngửa mặt nhìn trời đêm. Một giây phút tẽ lạnh thật dài trôi qua. Có lẽ em đang ngỡ ngàng vì tôi bỗng dưng ngừng tham lam, chiếm đoạt. Có lẽ em đang hối hận vì lỡ lời. Như chẳng biết làm gì hơn để đền bù, em trường lên người tôi, áp má lên ngực tôi tuôn dòng nước mắt. Tôi để tay lên tấm lưng trần bé bỏng thịt da, thoa thoa như muốn xoa dịu cho em vết thương lòng...

     Bất thình lình, tiếng súng cá nhân nổ dòn tan tứ phía. Như rất gần. Trên đầu tôi, bên hông tôi. Và như đàng xa kia nữa, phía bờ rạch, bờ kinh xáng, tôi đoán như vậy. Em túm lấy mớ áo quần te tua mặc vội vào người rồi vụt chạy về phía có nhiều tiếng bích kích pháo phát nổ rất lớn. Tôi tròng được hai tay vào áo trận, để hở ngực trần buông chạy theo em. Như thuộc lòng đường đi nước bước, cái đốm trắng bỏ tôi càng lúc càng xa. Ở hướng đó, tôi chợt thấy ánh lửa bốc cháy thật cao, khói đen cuộn mù trời dưới ánh trăng khuya. Có phải nơi đó là cái quán nhậu của chị Hường? Thôi rồi, có lẽ đây là một cuộc phục kích nhằm đánh úp, tiêu diệt thủy thủ đoàn ăn nhậu của tôi. Bọn thằng Long dốc lòng ăn dầm nằm dề ở đó đêm nay thì làm sao thoát khỏi tử thần.

     Một loạt AK xé nát màng tai tôi, vài cành cây gãy gục. Tôi té xấp xuống mặt đất. Rờ rẫm thân mình, tứ chi xem có bị thương không. Không. Tôi chực nhớ và rất tiếc là tôi không có khẫu P. 38 của tôi trong tay. Nhưng chẳng biết sao, tôi không hề nao núng. Bản năng thèm sống sợ chết của tôi bắt tôi phải trường, bò rời khỏi nơi này ngay. Rồi nhỏm lên chạy lúp xúp cho lẹ. Lại hụp xuống trường, bò.

     Trong đầu tôi lóe lên ý nghĩ, cứ nhằm hướng bờ rạch mà chạy tới thì chắc ăn. Bề gì lặn vài hơi tôi cũng có thể tự đem mình ra kinh xáng. Còn hơn là đi thẳng ra phía kinh xáng ngay lúc này chẳng khác nào đi vào vùng tử địa. Không ăn đạn Việt Cộng thì cũng ăn đạn HQ từ dưới tàu bắn lên. Tôi nhắm chừng vậy thôi chớ lúc đó tôi nào có biết đông tây nam bắc, ất giáp gì đâu.

     Chẳng bao lâu anh hùng tôi thấm mệt, kiệt sức khi bò đến một cái miễu cất sát bờ rạch (miễu cây Xộp như tôi biết sau này), đặc biệt cất quay hướng về bìa rừng thay vì quay ra con rạch như những cái khác (dân trong xóm phải theo lời căn dặn của người khuất mặt mà cất miễu cho đúng hướng). Tôi chui vào đó, gạt hết nhang đèn tìm chỗ nằm làm một giấc tới sáng. Trong mơ màng tôi nghe tiếng mưa rơi tầm tã suốt đêm...

     Ngày hôm nay, có lẽ không còn ai có thể tìm ra được cái xóm Xẻo Quau trong vùng Tuyên Nhơn, Ðồng Tháp Mười. Mà ở Tuyên Nhơn làm gì có Xẻo Quau? Thật ra, từ lâu, Xẻo Quau đã bị xóa trên bản đồ Việt Nam. Cái gì lại không mất khi Cộng sản bước vô! Xẻo Quau, tôi gọi như vậy để kỷ niệm một mối tình, vì hồi đó tôi thường thấy chung quanh tôi toàn là quau, vẹt, ô rô, cóc kèn, bình bát... Và đặc biệt nhứt là những dây cám, cho trái cám tròn tròn với lớp da sần sùi và cái hột cám bên trong đôi khi có tượng hình con cá.

     Nhưng, thật ra, Xẻo Quau có cái tên thật của nó mà tôi muốn dấu. Chẳng qua chỉ vì nơi đó là quê của Lệ, vợ tôi. Trong đêm đó chúng tôi đã mất đi hai người thân, chị Hường, má của Lệ, và Long bạn cùng lớp với tôi. Và nhiều người khác nữa, trong cái quán không tên cháy thành tro bụi đó. Việt Cộng luôn luôn xài người theo kiểu vắt chanh bỏ vỏ, không nao núng khi cần phải thí quân, giết luôn cả cán bộ nồng cốt, trung kiên của mình. Xẻo Quau, tôi hay gọi đùa với Lệ là nơi đã đưa tôi vào tuyệt lộ, đúng ra phải gọi là..., là...

     * Lấy ý trong Nghe Mưa của Kiệt Tấn.

   back to top

05. MỘT CHIỀU XUÂN RỘN RÃ MEN SAY

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Bảy Thất tên thật là Nguyễn văn Bảy. Giống như anh chị em của anh, cha mẹ anh không tìm ra cái tên nào có ý nghĩa hơn. Ngoài việc đánh dấu anh là đứa con thứ bảy trong gia đình. Như một kỷ niệm riêng của hai người. Rồi có lẽ ông bà già của anh còn nặng tình với chữ Nho, cho nên cũng y chang như trường hợp của các anh chị đi trước, ông bà cứ gọi anh bằng cái tên cúng cơm ở nhà, bảo đảm văn hoa hơn chữ quốc ngữ nhiều: thằng Thất. Và đứa em kế của anh là Bát. Hiển nhiên Bát có tên trong khai sinh là Nguyễn văn Tám. Anh là đứa con áp út vì sau khi sinh Bát không bao lâu mẹ anh mất. Chỉ vài tháng trước vụ tổng công kích Tết Mậu Thân.

     Bảy Thất đã sống trên đất Mỹ hơn bảy năm. Nghề nghiệp chuyên môn của anh bây giờ là làm thợ "đục" cho một hãng in. Anh là một trong mười mấy người đồng nghiệp. "Ðục" là tiếng anh xài riêng cho anh cho có vẻ gồ ghề, chớ thật ra ở Việt Nam mình người ta gọi là thợ "dộng" (anh đã từng là phụ thợ máy dộng cho chú anh, vài năm sau 75). Nhưng để gây cảm tình với mọi người, anh vẫn hay trả lời một cách khiêm tốn về nghề nghiệp của mình như sau:

     - Dạ, tôi đang làm thợ "bấm"... lỗ. Mỗi ngày tôi "bấm" không biết bao nhiêu lỗ mà nói. Nếu mà không bị bắt đổ vô thùng rác nghen, số lượng công-phét-ty khổng lồ đó có thể xài đủ cho cả thành phố Atlanta hằng năm. Ðể dành rải lên đầu mấy ông bà minh tinh màn bạc hoặc mấy tay chánh khách, chánh khứa tới thăm thành phố.

     Nói thì nói vậy, nhưng đối với tụi Mỹ thì anh phải sử dụng những tiếng nhẹ nhàng hơn. Như thợ khoan (driller) hoặc là thợ khoan ấn (drill-presser) chẳng hạn. Thợ "đấm"... lỗ (hole-puncher) thì anh tuyệt nhiên không bao giờ dùng đến. Anh tự biết anh đâu có khùng đến nỗi phải đem tiếng "đấm," tương đương với "đục" hay "dộng" của Việt Nam, ra mà xài với mấy thằng Mỹ con hay điên trước tuổi.

     Từ ngày thủ cái máy khoan, có mũi khoan giống như mũi dộng, Bảy Thất thấy đỡ khổ hơn nhiều. Tuy vẫn còn mang miếng tạp dề quanh bụng. Và còn phải đứng chớ không được ngồi bàn viết và thắc cà-ra-hoách với người ta. Nhưng ít ra cũng khỏi phải lem luốc vì dính mực in, khi làm ở máy in. Cũng khỏi phải hít ba cái bột giấy bay tung tóe, khi làm ở máy cắt. Ý là có cái lưới mành mành giữ lại những mảnh nhỏ cắt xén vụn vằn đó. Cũng khỏi phải bị thở với cái mùi khét khét, khi làm ở máy bọc bao nylon cho từng cuốn sách trước khi vô thùng. Và hiển nhiên khỏi phải bị dính dầu mỡ, khi làm thợ máy. Sửa bất cứ loại máy nào bất khiển dụng. Tóm lại, trong bảy năm làm tại đây, anh đã giữ vai trò bá nghệ. Tất cả các máy đều có cơ hội qua tay anh một thời gian.

     Với cái máy dộng này thì anh chỉ có ba kiểu phải làm. Ba lỗ, bốn lỗ, hoặc tối đa làm luôn cả hai thứ: bảy lỗ. Bìa cứng ba khoen hay bốn khoen gì xài cũng được hết. Bảy lỗ, lại con số bảy, trùng với con số dùng đặt tên cho anh. Bảy cần dộng như bảy cái sút-báp xe honda lộn ngược đầu xoáy tít mồng mồng, từ từ phóng nhẹ xuống chồng giấy. Là xong. Thảy qua thằng bạn làm kế bên đang thủ cái máy bọc nylon. Ðầu kia, từ một thằng bạn khác, chất đầy trong các xe go-cart có nhiều ngăn nhiều từng, những trang sách đầy chữ cứ được hắn tiếp tế đều đặn, không thiếu hụt một tờ.

     Quanh mình anh chữ nghĩa nhiều như vậy mà Bảy Thất nào có bao giờ thèm ghé mắt để ý tới. Coi hình thì họa hoằn một đôi khi. Anh ngán đọc chữ quá trời, ngay cả những dòng ngắn gọn phụ đề cho những bức tranh kia. Anh có cảm tưởng mỗi chữ sao mà lắm nghĩa. Người ta muốn nói một đường mà anh lại hay hiểu một ngã cũng không biết chừng.

     Chữ Mỹ thì vậy nhưng chữ Việt lại khác. Những lúc ở nhà một mình chẳng có gì giải trí, tiêu khiển anh vẫn thường lôi mấy tờ báo biếu ra xem. Báo ngày, báo tuần, báo tháng do bạn bè miệt Cali, D.C., Houston... gửi tới, ôi thôi đủ cả. Ông bà ơi, anh than thầm, sao đàn bà con gái qua bên này chịu cầm bút dữ ta. Làm như tối ngày mấy bà chỉ biết ăn ở không ngồi rồi, không có chuyện gì làm hết vậy. Cho nên bao nhiêu chủ báo chủ bút gì gì giờ này cũng do mấy bà làm láng, coi cái đám mày râu đực rựa như không có.

     Mà đọc mấy bà mấy cô thì quanh đi quẩn lại hình như chỉ có mỗi một đề tài đáng nói thôi: giải phóng phụ nữ. Người thì tả oán chuyện bếp núc, cơm nước, nấu nướng ở trong nhà như là chuyện ở đợ cho chồng con không bằng. Bả vẫn làm vậy nẫm nay ở Việt Nam mà bả không hề biết, không hề nghĩ tới ý nghĩ đó. Bây giờ vô tình bả đã khám phá ra. Người thì hô hào đòi nhảy ra làm cách mạng, xúi đàn bà hãy treo lên đầu lên cổ đàn ông con trai trật quần trịn lên đó. Mà không chỉ dân Á đông không thôi, trịn luôn cả các ông Mỹ mũi lõ nữa kia. Người thì vẽ đi vẽ lại cái cảnh ông chồng mình tối ngày lo hội hè, đàn đúm say sưa. Hồi ở bên nhà thì chắc ổng cũng hay làm vậy nhưng đương nhiên là không có ai dám cấm cản và cũng chẳng phải bị ai quấy rầy.

     Tam cương của Khổng Mạnh tuy đã lỗi thời như Bảy Thất nghĩ, nhưng cũng không phải vì thế mà biến thành tam ẩu: xuất giá... hành phu, phu xướng phụ... từ, rồi phu mà tử hả, thì đi kiếm trai tơ cỡ như con mình mà tòng thế tử. Chữ trinh ngày xưa nếu không đáng giá ngàn vàng thì cũng được ba bốn trăm lạng cỡ như Kiều, chớ còn bây giờ ôi thôi rẻ mạt. Nửa xu rao bán cũng chưa chắc đã thấy có một anh xì-thẫu nào chịu mua. Ðó chính là hậu quả của những gì mấy bà mấy cô dốc tâm hô hào giải phóng.

     Mà nói cho ngay, thời buổi này cũng chẳng ai thèm đi ngược thời gian bắt phụ nữ phải giữ gìn, nâng niu cái trinh tiết đó làm chi cho mất công. Tuy nhiên, cũng đừng vì nó quá rẻ mạt đó mà muốn đem vất đi đâu thì vất. Nếu cứ đòi đem vào động đĩ mà vất cho mấy anh chàng đĩ đực để chứng minh rằng mình đã học được bài học nam nữ bình quyền thì có gì hay ho lắm đâu? Rõ đàn bà thời đại này thiệt gan ruột quá tay ... Nhiều khi Bảy Thất muốn xúi ngầm mấy o, mấy nường, mấy em rằng: có ngon lành thì cứ giỏi làm đi, go ahead make your day . Rồi thử coi ai lỗ, ai ở giá đây cho biết.

     Ngẫm nghĩ lại Bảy Thất thấy mấy ông hoàng bên xứ Ba Tư, Nam Tư..., những xứ nói chung có cái văn hóa 1001 đêm, không biết ăn cái giống gì mà khôn. Mãi đến cuối thế kỷ hai mươi này mà vẫn còn cấm triệt để không cho đàn bà lái xe nhông nhông ngoài đường. Lạ thật. Thì ra vua chúa ta ngày xưa, đối với đàn bà, kể ra cũng là những ngưới có đầu óc tiến bộ, cách mạng đó chớ!

     Nhớ hồi mới qua Mỹ, Bảy Thất vẫn hay đem chuyện "tứ thư ngũ kinh" ra giảng dạy cho đàn bà mẫu quốc. Nhè mấy mụ to lớn dềnh dàng, bộ hệ nếu không giống cái thùng phuy 200 lít thì cũng giống cái trống chầu đình Ðiều Hòa hoặc cùng cỡ với cái mái vú da bò miền quê lục tỉnh... mà cứ sa sả ta đây dằn mặt:

     - Mầy có biết rằng ở bên xứ Việt Nam tao người ta nói "nhứt nam như nhứt thập nữ như vô" không?

     Trời ơi, thôi thì anh bắt gặp ngay những đôi mắt sừng sộ, trợn trừng dẫn đầu cho những... trận tam bành của mấy mụ nổi lên. Hiển nhiên Bảy Thất ta bị ăn cứt bò, bull shit , lia chia. Cũng may là ở cái xứ văn minh này coi vậy chớ ít người dám ra tay động thủ ở những nơi làm việc. Tự do ngôn luận thì được chớ còn tự do thượng cẳng tay hạ cẳng chân hoặc bóp cò shotgun thì chưa có ghi trong Hiến pháp xứ Cờ Hoa.

     Mấy năm sau này, tình trạng gái thiếu trai thừa trong cộng đồng tỵ nạn càng ngày càng lớn rộng. Vì vậy cứ mỗi lần có nghe tin một người đẹp nào ở bên đảo sắp qua, không cần biết gái tơ hay gái già năm lần bảy lửa, tất cả đàn ông cũng như trai tráng trong vùng đều mơ mộng, mong ngóng trông chờ. Chuẩn bị long trọng đón tiếp đông đủ tại phi trường. Bu vào như ruồi bu của ngựa. Biết đâu số mình lại được lọt vào mắt xanh phờ phạc của người đẹp đang có làn da rất sạm nắng lần này. Như trúng số độc đắc vậy chớ đâu phải giỡn chơi.

     Chẳng biết có phải vì ảnh hưởng cái chất "nhà Nho" còn sót lại của gia đình, huyết thống hay không mà Bảy Thất thấy mình khó lòng làm được... chuyện ruồi bu đó. Chính vì thế mãi đến ngày hôm nay anh vẫn còn trung thành với chủ nghĩa độc thân.

     Cho đến một ngày trời xui đất khiến. Em từ đâu mà hiển hiện như một nàng tiên. Ôi, phen này Bảy Thất sẽ phát điên...

     Số là cái hãng in nhập nhằng của Bảy Thất đang làm đương hồi xuống dốc quá cỡ thợ mộc. Chẳng biết tại vì đám quản trị bất tài hay là đám thợ thầy đứng bán, salemen , không làm đúng bổn phận của mình đối với khách hàng, mà chủ hãng bắt tất cả các nhân viên đi học qua một khóa. Có tên là: "Tất cả mọi người đều có một khách hàng, everybody has a customer ." Trời đất, khách hàng của Bảy Thất thì có thật, nhưng nào có ai đâu xa lạ hơn là hai thằng bạn đứng làm kế bên, gặp mặt nhau hằng ngày. Thằng Mỹ già coi máy in và thằng Mỹ lõi coi máy gói sách. Thôi thì chủ bảo sao mình làm vậy. Ðằng nào không muốn học thì cũng phải đi học với người ta. Nhưng biết đâu nhờ có học mà Bảy Thất ta mới có khôn. Mặc dù khôn từ từ thôi chớ không được khôn ngay lập tức như những người khác đi nữa.

     Phải, từ từ rồi cũng đến phiên mình. Cách một tuần, Bảy Thất có tên trong danh sách tham dự lớp học sáng ngày hôm sau. Lần đầu tiên trong nhiều năm qua, anh khỏi phải đeo cái tấm tạp dề quanh bụng. Anh ngang nhiên tiến về phòng họp đi học như mọi người. Ði học cho hãng chớ không học cho anh. Còn sớm, chỉ le que có bốn năm mạng trong số dự trù đến những hai mươi lăm mạng. Bảy Thất kéo một trong hai cái ghế ở cuối bàn họp ngồi vào. Mặt hướng về phía đầu bàn bên kia, đằng sau có tấm màn chiếu slide có lẽ là chỗ đứng của người giảng bài. Vậy cũng tiện. Ðỡ phải ngoáy cổ xoay ngang xoay dọc nhìn theo thầy giáo... Bỗng nhiên có người lễ phép hỏi:

     - Xin lỗi, ghế này có ai ngồi không anh?

     Bảy Thất ngạc nhiên, sững sờ nhìn cô bé từ đầu đến chân rồi lắc đầu trả lời gọn lỏn:

     - Không.

     Chỉ vài cái chớp chớp mắt giáo đầu của nàng mà, quả thật, đã làm lòng chàng rúng động. Ðâm ra ngớ ngẩn. Quên cả phép lịch sự kéo ghế ra giùm cho... người đâu gặp gỡ làm chi. Chàng bỗng nhìn lại thân phận mình, quần jean bạc màu, áo sờn vai nếu không muốn nói là sắp rách. Rồi nhìn lại nàng, thấy nàng ôi sao mà quá đài các, kiêu sa. Áo nhiễu, quần nhung. Tiểu thư ơi là tiểu thư. Con nhà ai mà duyên dáng, dễ thương dữ vậy cà. Khuôn mặt xương xương thanh tú. Không tròn trịa, đầy đặn, nét ngài nở nang theo kiểu... trái cóc trái xoan, trai đào trái mận như phần lớn dân Việt Nam. Cũng không tròn vo bánh bèo như xẩm. Cặp mắt bồ câu, chim hòa bình của nhân loại. Sao mà xanh lơ, hiền dịu, mơ màng. Lại như sâu thăm thẳm vì sóng mũi cao. Chàng tưởng tượng nếu bóng hình mình rủi bị lọt vào lòng con ngươi đó thì chắc không cách gì trèo ra nổi. Chàng bỗng rùng mình như phát lãnh. Ðôi bàn tay dài mảnh khảnh đong đưa. Những ngón búp măng sao lại vừa vặn với cây viết thon dài đều đặn. Và màu nước da sữa tươi kia nữa chớ. Ôi, rõ cái gì cũng đẹp đẽ, cũng khác thường dưới mắt chàng. Chẳng lẽ mình đang bị tiếng sét ái tình chăng, chàng tự hỏi.

     Ðây không phải là lần đầu tiên Bảy Thất ngồi kế bên một cô gái Mỹ. Bao nhiêu lần trong nhà thờ, trong thư viện, quán ăn và gần đây, trong những lớp học đại học. Mà đâu có lần nào anh bận tâm bận trí để ý đến đâu. Lần này, đối với riêng anh, phải nói điểm hợp nhãn đầu tiên chính là dáng vóc của người đẹp. Nhỏ con. Nếu đứng kề nhau thì chắc nàng cũng không cao hơn tầm mắt anh bao nhiêu. Ốm yếu. Nếu phải bồng nàng lên giường thì anh có thể làm được dễ dàng. Có thể gọn gàng hơn anh chàng Rhett Butler (Clark Gable) bồng nàng Scarlett O'Hara (Vivien Leigh) trong phim Cuốn theo chiều gió . Bảo đảm không đến nổi phải cống rống, lòi xương sườn vì vận dụng hết sức lực bình sinh. Thành thử anh như nghiệm ra rằng: điều kiện tiên quyết để tình yêu nẩy nở chính là khuôn trang của tấm thân vệ nữ. Ðường vào tình yêu không có chuyện thòi lòi ôm bập dừa. Rồi thứ đến mới là cặp mắt, cửa sổ của tâm hồn, vẫn thường làm bọn đàn ông con trai mưu toan đập kiếng, phóng vào. Có lẽ đúng như vậy, vì từ lâu Bảy Thất thấy anh không thể yêu ngay được những con Mỹ con, mười sáu mười bảy tuổi, mà đã cao hơn anh một cái đầu.

     Anh gợi chuyện:

     - Xin lỗi cô tên gì? Tôi tên là Bảy Nguyễn, nhưng người ta hay gọi tôi là Thất. Thất là tiếng lóng của Bảy.

     - Tên tôi là Camille Benjamin. Hân hạnh được biết anh.

     - Camille? Hân hạnh được ngồi gần bên cô.

     Nàng mỉm cười, khoe hàm răng bắp non trắng trong đều đặn. Chỉ một nửa thôi, vì một nửa còn bị chôn dấu dưới đôi môi mọng đỏ màu son. Như biết chàng đang để ý đến mình, cô nàng khoan thai đưa bàn tay ngọc vuốt lại mớ tóc lòa xòa bên mang tai ra phía sau. Chàng ngó theo, bất giác gặp ánh kim cương lấp lánh trên trái tai. Chẳng biết giả hay thiệt sao mà rực rỡ, chói lọi quá. Sang thì có sang nhưng chàng đâu màng đến ngọc quí trân châu, chàng chỉ muốn lè lưỡi liếm cái vành tai ấy thôi. Rõ ràng chàng đã quên nhìn lên bảng, chỉ biết đăm đăm nhìn ngang, ngắm nghía hoài cái hình profile của khuôn mặt nàng cắt trên khoảng không. Sóng mũi thẳng, đương nhiên, Mỹ mà. Chơn mày dài và đậm. Lông mi dài và cong vút, bên trên lẫn bên dưới. Giả hay thiệt đây? Lại chớp chớp, phủ trùm lên con ngươi óng ánh một màn nước mỏng. Ðẹp... Nhưng nàng bỗng quay lại, bắt gặp chàng đang nhìn lén. Chàng chết điếng, như bị thôi miên. Cứ tiếp tục ngó nàng trân trối... cho đến khi nàng sượng sùng bật thành tiếng:

     - Cái gì vậy (What)?

     Rồi nàng tiếp luôn như muốn lôi chàng trở về với thực tại:

     - Anh thấy ông thầy thế nào?

     Bảy Thất hoàn hồn:

     - Ờ, ông thầy nói giọng miền Nam dễ nghe, chắc là quê quán quanh quẩn ở trong vùng này, phải không?

     - Thì như ổng vừa mới nói đó. Nè, tốt hơn hết là chúng mình phải chuẩn bị. Trước sau gì ổng cũng bắt từng học viên nói đôi lời tự giới thiệu mình với cả lớp cho mà xem.

     - Thiệt vậy hả?

     Y chang, ông thầy làm liền ngay sau đó. Và rồi lớp học bắt đầu... Nhưng, suốt buổi học đó chàng nào có để ý đến lời giảng bao nhiêu, chàng dành nhiều thì giờ ngắm nhìn nàng say sưa thì có. Ðề tài giảng dạy cũng chẳng có gì quan trọng. Chỉ bắt học trò... học ăn học nói. Còn học gói học xách thì kể như miễn bàn, vì bên Mỹ này gói với xách đều làm bằng máy. Ðại khái là phải niềm nỡ, chiều chuộng khách hàng. Khách hàng là cha mẹ. Không có khách hàng thì bảo đảm không có cửa hàng nào sống nổi. Ngay cả vấn đề học đường cũng vậy, giảng dạy và học hỏi đều chỉ thuần túy là một việc mua bán, trao đổi mà thôi. Bán cháo phổi, với đúng nghĩa thực của nó. Mua kiến thức, cũng vậy, với đúng nghĩa đen của nó. Tư bản là vậy. Ngay bây giờ, học trò là khách hàng của thầy cho nên học trò là cha mẹ. Cha mẹ mà có lo ra, lơ đễnh thế mấy đi nữa thì thầy cũng không dám nói động đến một lời.

     Bảy Thất để ý đến giọng nói nhỏ nhẹ của Camille mỗi khi nàng đặt câu hỏi hay trả lời thầy giáo. Ngoài tính chất trong trẻo của tiếng con gái còn có đượm thêm vẻ gì đằm thắm nết na. Không tỏ ra điêu ngoa, hách-xì-xằng như phần lớn con gái Mỹ. Không miệng bằng tay tay bằng miệng. Ðiều này làm chàng cứ tưởng như nàng đã được giáo huấn và lớn lên trong nghi lễ cổ truyền của một gia đình Á đông. Chàng cảm thấy lấy làm mãn nguyện nếu có được một người nâng khăn sửa túi cho mình giống như nàng. Có lẽ nhờ vậy mà chàng và nàng đã diễn xuất một vở kịch câm hết sức hoàn hão. Một cuộc nói chuyện bằng ngôn ngữ ước hiệu của thân thể (body language). Nàng đóng vai một người khách hàng đang giận dữ. Bằng cách khoa tay dậm chân, dỗi hờn như muốn khóc. Ðột nhiên, chàng quỳ xuống chân nàng. Quỳ xuống một cách chân thành. Bấu víu vào váy nàng như cầu khẩn van lơn, xin hay tha thứ cho lỗi lầm. Ðến nỗi cả lớp phải ngạc nhiên, tưởng thiệt, vỗ tay rầm rộ.

     - Camille em ơi, em nào có biết anh đang quỳ dưới chân em cho một mối tình si.

     Trong thâm tâm Bảy Thất, thiệt tình con tim của chàng đã reo lên vang dội những tiếng tơ lòng đó. Nhưng nào ai có nghe. Nào ai có nhận ra trong ánh mắt diễm tình, mê muội của chàng. Nói nào ngay, chàng thầm cảm ơn ông tơ bà nguyệt đã khéo se sẵn cho chàng và nàng một sợi chỉ hồng. Vì rất may mắn cho chàng là trong lúc thầy kêu tên bắt cặp diễn trò, tên hai đứa đã đi liền nhau. Em trước anh sau. Chỉ cần trịch qua một học viên nữa thì chàng phải bắt cặp với con Mỹ gốc Ý to lớn dềnh dàng. Tóc tai thì lại quắn quíu, lòng thòng lưởi thưởi chẳng khác gì như một con sư tử có bờm, lúc nào cũng như chực ăn tươi nuốt sống chàng.

     Chiều ngày đó tan học về mà lòng Bảy Thất ta cảm thấy miên man trăm mối. Mối nào cũng buồn rười rượi. Cái câu tạm biệt có kèm theo một cuộc hẹn hò chót lưỡi đầu môi của Mỹ kia có lẽ như không bao giờ thành sự thật:

     - Sẽ gặp lại anh sau, Thất.

     Chàng ngậm ngùi đáp lại:

     - Ừa, hi vọng sẽ gặp cô quanh quẩn đâu đây. Bye, Camille.

     Thôi rồi, nào có phải chỉ ba tháng hè xa nhau mà có thể... sẽ vĩnh viễn muôn đời xa vắng cũng không biết chừng. Chàng và nàng chắc sẽ không bao giờ có được cái buổi tựu trường lần thứ hai. Mà dẫu có đi chăng nữa cũng không chắc gì có cơ hội ngồi gần bên nhau, chung bàn chung bóng.

     Rõ ràng là... người đâu gặp gỡ làm chi! Vì như cứ mỗi lần nhắm mắt lại là Bảy Thất thấy cặp mắt bồ câu kia như nhởn nhơ, chờn vờn trước mặt. Và chàng nghe luôn giọng nói trong trẻo như tiếng chim oanh lẩn quẩn bên mình. Khó lòng xua đuổi nổi. Càng khó hơn cho một hình bóng mảnh mai dịu hiền đã ăn sâu vào tâm khảm chàng. Ðã vậy nhìn vào tương lai, ôi, sao mà quá trở ngại chông gai. Chắc chắn sẽ làm cho mình thất điên bát đảo, chàng than thầm. Vì em không là người ngoại đạo, đương nhiên. Và anh cũng sẽ không là người khác đạo với em, dĩ nhiên. Nhưng, chúng ta chỉ khác màu da. Em kiêu sa quyền quý và anh thân phận tôi đòi, em có biết? Và vì em cũng không là những cô gái mắt xanh tóc vàng rẻ tiền ở những hộp đêm. Vì em không từ Casablanca, Valentino... Không từ những vũ trường hở ngực đưa mông. Không là những em đã cho anh những giấc mây mưa lạc lõng. Như những hạt mưa rào rơi rụng giữa hồ thu lạnh lẽo nước trong veo. Vì em bây giờ không phải có đô-la mà có được.

     Nhưng, thương em mấy núi anh cũng trèo. Bởi vậy cách mấy ngày sau, trong giờ ăn trưa, Bảy Thất đã bang bang đi lên khu văn phòng tìm Camille. Ði tới đi lui năm bảy bận mà chàng xui quá, chẳng gặp được mặt con bạn hiền. Chàng đâm ngại. Well, tốt hơn hết là nên dừng lại ở những góc hành lang và đọc lại bảng chỉ dẫn, dò kỹ tên từng người ghi trên đó cho chắc ăn. Vẫn còn xui xẻo. Không có mống nào tên Benjamin hết. Chần chờ một chút, chàng thấy cũng sắp hết giờ ăn trưa. Thôi đành, tận tình cho em đến như thế là cùng. Số phần hẩm hiu của chàng chắc rồi chỉ gắn liền với cái máy "đục." Chàng trở gót quay lui.

     Nhưng độ vài bước, Bảy Thất thấy một bóng hình con gái trong cánh áo lụa đen đang ngửa cổ uống nước ở cái máy nước lạnh gần bên hành lang. Chính là Camille, chỉ nhìn ngang sơ sơ là chàng cũng đủ nhận ra ngay. Chàng cảm thấy tâm thần mình sao mà bối rối, thể xác mình sao mà lâng lâng. Trong lòng thì muốn đứng lại nói xã giao vài câu chào hỏi với nàng, nhưng đôi tay thì thừa thải và đôi chân thì cứ giục chàng bước đi. Nói cái gì đây chớ? Kỳ quá. Ðành thôi. Gặp mặt nhau, ngó một chút cho đỡ nhớ là được rồi. Chàng đưa tay vẫy chào và nói cụt ngủn:

     - Hê, Camille.

     Rồi tiếp tục bước đi. Ô hay, một giọng mừng vui, thân mật vang lên:

     - Hello, Thất, mạnh giỏi. Anh đi đâu đây?

     Không chuẩn bị trước, Bảy Thất càng lúng túng hơn:

     - Tôi đi... Tôi đi lên phòng tín dụng (credit union) định làm đơn vay tiền mua..., mua vài thứ lặt vặt. Camille, bửa nay trông cô xinh lắm.

     - Cám ơn. Anh định mua xe mới phải không? Nè, bàn viết của tôi nằm cuối hành lang này, rẽ bên tay trái, cái thứ ba. Ðó, ngay cái đồng hồ treo trên trần nhà đó, anh quẹo là trúng. Không thể nào lạc được. Bây giờ anh đã biết chỗ tôi làm rồi thì khi nào rỗi rảnh anh phải ghé tạt qua đây thăm tôi, hai đứa mình nói dóc chơi nghen.

     Không ngờ nàng cũng có cảm tình với mình, Bảy Thất nghĩ. Nếu không, chắc nàng không vồn vã như vậy. Chàng yên tâm. Có lẽ con đường tình yêu anh đang đi không phải là đường một chiều. Nhưng đừng hấp tấp vội vã, chàng nhủ thầm. Rồi làm như không có gì quan trọng, chàng nói:

     - Ðược rồi, tôi sẽ làm theo lời cô dặn. Nhưng, xin lỗi, tôi phải đi ngay... Bye, Camille.

     - Bye, Thất.

     Chàng đi sụt lùi mấy bước và nàng cũng cứ trông theo. Trời, em quyến luyến mình đến như vậy sao? Bảy Thất để tay lên môi làm chiếc hôn gửi em theo gió rồi quay lưng rẽ vào hành lang khác, vụt bước đi như chạy. Suýt chút nữa đụng vào cái máy làm phóng ảnh, photocopier , kê sát vào tường. Thoát nạn yêu em, diện kiến người tình. Lòng chàng cảm thấy hân hoan, vui mừng khấp khởi.

     Trở lại cái máy "đục," Bảy Thất cảm thấy no ngang. Miếng sandwich nguội lạnh chắc là nuốt không vô. Chàng cầm lên trái táo còn xanh cắn một miếng lớn. Giòn rụm. Chàng nhai nhóp nhép và nuốt luôn cái cảm nghĩ thương yêu của mình dành cho... người đâu gặp gỡ làm chi. Tuy không phải bị mắc nghẹn ngang cổ, nhưng chàng cảm thấy thân phận mình sao mà quá xa cách với người mình đang thầm yêu trộm nhớ. Nàng là công chúa của rừng xanh còn chàng chỉ là thằng bán than, Lý Chơn Tâm cỡi củi. Cái duyên nợ trăm năm gì gì đó hình như khó lòng mà thành tựu được. Chàng thầm nghĩ, có lẽ thương một người con gái Việt Nam chắc chắn sẽ dễ hơn nhiều. Ít ra cũng không trở ngại mấy về ngôn ngữ. Làm sao tỏ tình với em bằng tiếng Mỹ đây? "I love you," nghe xoàng quá! Trơ trẻn quá! Chắc chàng phải vấn kế bà giáo sư già dạy văn chương. Mà thôi, hãy dẹp chuyện yêu đương qua một bên đi. Mộng của mình sang đây là cố gắng ăn học thành tài, làm đẹp mặt nở mày cho cha mẹ, bà con chòm xóm ở bên nhà. Lỡ vướng vào vòng tình lụy thì biết có ngày nào mới gỡ cho ra. Chàng phân vân hết sức.

     Liên tiếp mấy ngày sau, Bảy Thất càng manh tâm chôn vùi hình bóng Camille sâu vào ngôi mả lạn ký ức thì tự nó càng cố đội mồ sống dậy... Có lúc chàng tự hỏi: "À, mà tại sao Camille không xuống đây tìm mình chớ?" Nhưng vừa nghĩ đến đó chàng đã đổi ý. Quả thật là không nên. Lỡ nàng không mấy cảm tình với tấm thân mang chài mang lưới của mình thì sao? Ðừng đem sự thực ra mà đùa giỡn với tình yêu. Chàng thầm mong Camille đã quên hết mấy câu chàng đã thẳng thắn tự giới thiệu mình trong lớp học vừa qua. Nhắc tới lớp học chàng lại đâm nhớ ánh mắt đầu tiên của nàng. Những cái chớp chớp đã làm chàng điêu đứng...

     Bỗng dưng Bảy Thất có ý muốn gọi điện thoại cho Camille. Chàng làm liền, bỏ cái máy "đục" đi loanh quanh tìm sổ điện thoại. Hi vọng là nàng làm lớn, có số điện thoại riêng. Khỏi phải qua trưởng phòng trưởng khu, chỉ sợ gây thêm phiền phức. Chàng dò từng trang, từ chữ. Ðây rồi, có dòng ghi: Benjamin, C. L. (Camille). Chữ lót L. thì có thể là chữ viết tắt của chữ Lee. Camille Lee Benjamin, nội cái tên của nàng mới nghe qua cũng đã đẹp, cũng đã khác người. Nhưng có nên gọi cho người ta không đây? Biết người ta thiệt có cảm tình với mình không mà gọi? Phân vân. Lại phân vân. Phải bỏ cái tánh phân vân đó đi thì hi vọng mới làm ăn nên trò, chàng nhủ thầm. Làm con trai cần phải có quyết định. Và chàng đã quyết định.

     - Hello, Benjamin đang nói đầu dây.

     Bảy Thất hồi hộp quá, nửa muốn vất ống điện thoại cho yên thân, nhưng rồi chàng nói đại:

     - Hello, Camille đó hả, mạnh giỏi? Thất đây, cô có còn nhớ tôi không?

     - Nhớ chớ. Anh đang ở đâu vậy?

     - Ðang làm ở khu sản xuất đây này. Chớ bộ cô không nghe tiếng máy chạy rầm trời hay sao? À, Camille này, tôi có một chuyện muốn nói với cô. Well, đúng ra là tôi định nhờ cô giúp tôi một việc. Nhưng tôi không thể nói trong điện thoại được. Cô thường ăn trưa ở cafeteria hay đi ra ngoài? Trưa mai cô có thể đi ăn trưa với tôi được không? Tôi sẽ đưa cho cô xem một vài thứ chắc chắn sẽ làm cô ngạc nhiên.

     - Thiệt vậy sao? Tôi thích lắm đó! Nhưng trưa mai thì không được đâu. Ðể tôi sắp xếp lại chương trình của tôi đã. Khi nào thuận tiện tôi sẽ gọi cho anh hay. Chắc là phải trong tuần tới, có được không?

     - Ðược. Cũng đâu có gấp gáp gì. Miễn cô nhận lời là tôi vui. Như vậy tôi sẽ chờ cô gọi lại. Cô cứ gọi xuống trung tâm làm phóng ảnh rồi hỏi tên tôi là tiện nhứt. Nhớ nghen.

     - Ok, bye.

     Bảy Thất sực nhớ ra là ở trung tâm làm phóng ảnh, copy center , có con nhỏ Ðại Hàn, Lora Dae Yu, làm ở đó. Cũng là người Á đông nhưng không mấy khi chàng để ý hay tìm cách làm thân. Chỉ chào hỏi qua loa vậy thôi. Biết là Lora đang có cảm tình với chàng, đang "chài" chàng thì đúng hơn, nhưng chàng không thấy mãi mai gì hợp nhãn hợp gout. Có được cái khuôn trang vệ nữ đó nhưng cánh cửa sổ tâm hồn của Lora có lẽ làm bằng kiếng đục nên chàng chẳng thấy gì hấp dẫn ở bên trong. Ðã vậy đôi khi còn ra vẻ ta đây, kênh kiệu nữa. Chỉ vì Lora làm chỗ sạch sẽ hơn chàng một chút chăng? Nhưng đàn ông mà, nhìn đàn bà là nhìn xuống, mấy ai chịu khó nhìn lên. Nhìn lên thì chẳng khác nào muốn nhìn vào cảnh bợ đỡ, ngửa tay xin xỏ, bám vào gấu quần phụ nữ có phải? Mà nói nào ngay, tại vì y thị nhỏ con thì có nhỏ con đó, nhưng nhỏ quá. Ðầu đít chỉ có một tấc. Ðã lùn lại hơi tròn, thành ra càng trông càng thấy... đau khổ tâm cang. Ðó là chưa nhắc đến cái khuôn mặt đười ươi, trẹt lét. Tuổi chắc cũng đã gần ba mươi mà nẫm nay đám độc thân quanh đây chẳng ai thèm gấm ghé, nghĩ cũng tội. Bởi như chàng nghĩ, cái khuôn trang vệ nữ của người đàn bà đã tham dự một phần rất lớn cho sự nẩy nở của tình yêu.

     Giữa tuần sau, sáng thứ tư, Lora đến tìm Bảy Thất báo tin: "Anh có điện thoại." Chắc chắn Lora càng ngạc nhiên hơn khi nghe ở đầu giây kia có tiếng con gái, chàng nghĩ. Bảy Thất vừa cầm ống nghe lên là đã réo rắc, mừng vui:

     - Hi, Thất nghe đây... Ô, Camille, mạnh giỏi chớ?... Ok, tôi sẽ làm như vậy!... Sẽ gặp lại cô tại đó! ... Bye.

     Bảy Thất gác máy điện thoại, cảm ơn Lora, rồi lạnh lùng bước đi. Một cái nguýt dài thòng còn đuổi theo lưng. Lora ơi, cô hãy đứng đó tiếp tục lo ra nữa đi và đừng hờn ghen khi nhìn thấy Bảy Thất này đang xông xáo đi vào tình yêu, chàng nói thầm.

     Rốt cuộc rồi Bảy Thất cũng có một cái hẹn, một buổi đi ăn trưa em dành cho riêng anh. Một bảo đảm sẽ thân mật đậm đà. Chàng khoái quá, lòng hân hoan như mở hội. Mười một giờ rưỡi tại phòng gác dan, cổng phía Nam. Phải chuẩn bị tinh thần. Phải đúng giờ. Xe cộ thì khỏi lo vì ngày hôm qua chàng đã ngỏ ý mượn đỡ chiếc xì-po hiệu RX 7 của thằng lõi làm kế bên. Thay cho chiếc pick-up cũ mèm, lẹt đẹt của mình. Và thằng lõi cũng đã bằng lòng. Xong xuôi đâu vào đấy. Giờ phải xem lại món quà đặc biệt nữa chứ. Một công trình tuyệt vời của chàng mà. Cẩn thận cho vào túi. Chẳng bao lâu đã đến giờ phải đi. Chàng tắt máy, cởi bỏ tấm tạp dề máng lên xe cút-kít. Phủi sơ bụi bậm bám trên áo và vuốt lại mái tóc cắt ngắn.

     Bảy Thất đến chỗ hẹn sớm hơn vài phút. Chờ. Mỗi phút đi qua như thiên thu chùng lại. Chàng lại e ngại nhiều thứ, lắm điều. Không phải cho chàng mà cho Camille. Giờ này người ta đi ăn đông quá. Lỡ thiên hạ thấy chàng với Camille chỉ riêng hai đứa tù tí đi ăn chung, tai tiếng không tốt đối với nàng rồi đây có thể sẽ được đồn quanh không mấy chốc. Mèo mã gà đồng, smell rats . Vì dù sao đi nữa nàng vẫn là người da trắng. Bạn bè khắn khít với người da màu là chuyện dễ bị người đời đàm tiếu, xì xào. Ở cái xứ này nó vậy. Chàng thầm trách Camille sao lại không chọn một chỗ nào khác hơn chỗ này, chốn nhởn nhơ dập dìu người qua kẻ lại? Mà đã quá giờ rồi sao Camille đâu chẳng thấy? Hay là em định cho anh đi tàu giấy? Bảy Thất chạy lại bàn viết của người gác cổng định mượn cái telephone gọi một phát lên văn phòng... Ô, nhưng kìa, một cô gái đoan trang chững chạc trong bộ côm-plê màu hường nhạt. Với chiếc áo lụa trắng cắt cổ tròn theo kiểu áo bà ba, có lớp ren may liền, dúng lại thành chuỗi bông huệ trắng loe ra ôm vào cổ, gài nút sau lưng, làm tăng thêm vẻ kín đáo phúc hậu:

     - Hi, Camille. Hôm nay trông cô đẹp quá.

     - Cám ơn. Anh tưởng tôi không đến hả?

     Bảy Thất đánh trống lãng:

     - Ðâu có. Chỉ sợ cô bận việc gì phải ở lại làm nán... Thôi, ta đi.

     Ra khỏi cổng, Bảy Thất ngó dáo dác tìm chiếc xe. Màu đỏ, vừa mới đánh bóng thật láng cuối tuần rồi, thằng bạn anh cho biết như vậy. Dàn stereo công suất 120 watts, coi chừng làm thủng màn nhĩ, điếc lỗ tai. Hừ, anh có em ngồi bên cạnh thủ thỉ với nhau thì anh đâu có cần ba cái ngữ vô ích này. Chàng lịch sự mở cửa xe cho Camille. Nàng vén váy, vuốt đít, khoan thai ngồi vào ghế. Một cử chỉ hết sức nhẹ nhàng, gọn gàng mà phần lớn người Á đông không làm được vậy. Vì không thường xuyên mặc đầm, mặc váy như người Tây Phương. Ðôi gò ngực vung cao dưới làn lụa mỏng ẩn hiện dấu áo lót viền quanh. Chàng thấy tim mình đập nhanh hơn một chút. Cặp đùi thon, dài, trường túc. Nhưng chàng chợt quay lui, vòng qua bên kia, rồ máy phóng đi.

     Cho xe nhập vào xa lộ xong, Bảy Thất khơi mào:

     - Mình định đi ăn ở đâu đây? Lần này tôi dành cho cô cái quyền ưu tiên chọn lựa đấy!

     - Anh có bằng lòng với mấy miếng sandwich không?

     - Bậy nà, ai lại vào tiệm sandwich lúc này. Phải tìm tiệm nào sang hơn, tình hơn để đánh dấu lần đầu tiên mình đi ăn chung với nhau chớ. Hay là mình ghé vô Darryl?

     - Ðược. Chỗ đó rất là nên thơ. Tôi thích lắm.

     Dĩ nhiên phải là nên thơ vì Bảy Thất đã tính trước trong đầu. Những ngọn đèn bạch lạp lồng trong những bầu thủy tinh màu đỏ thẩm vẫn dễ dàng tạo nên những hình ảnh, những cảm giác lung linh. Sàn nhà, trần nhà, cầu thang bước lên thượng tầng, và ngay cả bàn ghế đều làm bằng những thanh gỗ để sần sùi cho hợp với thiên nhiên, hợp với lòng người thích tự nhiên thoải mái như chàng. Thiệt, không chỗ nào chàng thấy ưng ý hơn.

     Người hầu bàn trao thực đơn và Bảy Thất lên tiếng đề nghị:

     - Cô cứ chọn luôn cho tôi vậy. Cô ăn gì tôi ăn nấy.

     - Thiệt vậy sao? Tôi không thích mấy món nhiều dầu mỡ, tôi cũng không thích gặm mấy miếng thịt đỏ tươi như còn sống. À, hay là ăn thức ăn Mễ đi. Ở đây có món salad trộn với nước sốt taco nè.

     - Thức ăn Mễ càng hay. Lâu rồi tôi cũng chưa có dịp ăn lại.

     Camille âu yếm nhìn Bảy Thất rồi gọi cho cả hai. Lúc người bồi đi khỏi, nàng hỏi nhỏ:

     - Thất nè, anh nói anh sẽ cho tôi xem một vài món sẽ làm tôi thích thú, vậy chớ đó là những món gì vậy hả?

     Bảy Thất như chỉ chờ có vậy. Chàng móc trong túi ra một tờ giấy xếp tư, cười nói:

     - Chỉ có mỗi cái này thôi. Nhưng cô không được phép mở ra ngay bây giờ nghe không. Ðợi lát nữa về văn phòng rồi hãy dở ra xem. Cũng chẳng có gì đặc biệt lắm đâu. Số là tôi đang viết một bài luận cho cô giáo dạy văn chương khóa này. Tôi định viết một truyện tình. Nhưng cô biết, từ ngữ tiếng Mỹ của tôi ít ỏi quá, văn phạm thì lại trật trờ trật truột, cho nên tôi nhờ cô làm ơn góp ý, sửa chữa giùm câu văn cho suôn sẽ vậy mà. Có được không?

     - Ðược, chuyện gì chớ chuyện đó thì dễ lắm. Vì môn học chính của tôi là môn văn chương.

     - Hên quá, vậy là tôi gõ cửa đúng nhà. Ðoạn đầu, tức phần dẫn nhập đang nằm trong tờ giấy này. Cất vào bóp đi.

     Camille làm theo lời Bảy Thất, cất tấm giấy vào bóp. Cũng vừa lúc bồi bàn mang thức ăn ra. Cả hai cùng ăn ngon miệng món ăn hơi lạ khẩu vị cho cả người Mỹ lẫn người Á đông. Chua chua, cay cay. Chàng hỏi thăm qua loa về gia đình của nàng. Ðược biết gia đình chỉ có hai chị em và người chị đã lập gia đình, đang sống ở xa. Camille cũng chỉ mới nhận công việc với hãng này được hơn một năm, sau khi ra trường. Vì vậy nàng vẫn còn thuê apartment ở một mình. Ngoài việc đọc sách ra, nàng thích bơi lội và chơi tennis. Phần chàng thì chẳng có gì nhiều để nói. Một ngựa một thân đang sống đời tỵ nạn. Nguyên gia đình, cha mẹ anh em còn đóng đô dài hạn ở Việt Nam.

     - Tôi thích tìm hiểu những gì ngoài nước Mỹ. Tôi thích đọc Pearl Buck viết về Trung Hoa. Anh có đọc The Good Earth không? Bây giờ có thể vì anh tôi sẽ tìm hiểu thêm về Việt Nam.

     - Có thiệt không nói đùa với tôi chớ?

     Camille lắc đầu. Bảy Thất liền đứng dậy dạy cho Camille một bài học về tập quán của người Việt Nam: làm trai cho đáng nên trai, tức lãnh phần trả tiền ăn cho người bạn gái của mình. Dẹp qua tình trạng chia đôi sòng phẳng, hoặc ai ăn nấy trả của Mỹ.

     Trên đường đưa Camille trở về sở, Bảy Thất cảm thấy gần gũi với nàng nhiều hơn. Khuôn mặt đó, đôi mắt đó, đôi môi đó như đã thẩm thấu vào hồn chàng, tan loảng trong chàng từng sớ mỏng. Lớp da thịt mịn hồng và những sợi lông măng mềm mại trên cánh tay trần khi cầm tấm giấy của chàng là một ấn tượng dễ làm chàng nhột nhạt, nổi da gà. Chàng những mong rằng chàng đang đi vào một con đường có thật, con đường dẫn vào tình yêu của hai người không cùng một màu da.

     Bảy Thất ngừng tại cổng phía Nam cho Camille vào trước rồi mới tìm chỗ đậu xe sau. Chàng đi chầm chậm vào sở như muốn kéo dài dư hương của một cái hẹn tràn đầy niềm vui. Trao trả chìa khóa xe, nói mấy lời cám ơn thường lệ với thằng bạn kế bên, Bảy Thất quay về với cái bàn "đục" quen thuộc của mình. Lần này chàng thấy khác hẳn. Mọi thứ chung quanh chàng như đang tung bay, nhảy múa. Hình như cái gì xấu xí nhất rồi cũng trở nên đẹp đẽ dưới vòm trời yêu. Chàng vừa huýt sáo yêu nhau, cho nhau... trọn đời ... vừa thong thả buộc lại tấm tạp dề quanh bụng. Bật công-tắc chạy cho nóng máy. Lòng vẫn vơ thầm nghĩ đến bóng dáng Camille...

     Nhưng bỗng dưng cô Lora Ðại Hàn bương bả tới báo động: "Có điện thoại." Của Camille? Bảy Thất đoán vậy! Rồi bâng khuâng tự hỏi: Chẳng lẽ khúc dẫn nhập đã chuyển sang phần thân bài lẹ làng đến thế sao? Vì bên trong mẫu giấy đó chàng đã viết tặng nàng một bài thơ, nhắc nàng chuyện cũ:

     Người Khách Hàng Của Anh *

     Hình như mỗi người chúng ta đều có
         một khách hàng
     Một khách hàng, với anh, một người tình
     Em có muốn trở thành
         người khách hàng của anh?
     Anh sẽ bán cho em trái tim này
     Chẳng thèm một xu lời lỗ
     Anh sẽ cho không
     Chỉ xin em đón nhận với tất cả tấm lòng!


     Mặc dầu đầu óc Bảy Thất lúc này thiệt như là một mớ bòng bòng, nhưng chàng không thể nào chờ đợi lâu hơn được nữa. Chàng chạy nhanh lại bàn giấy, chụp ống nghe, lên tiếng:

     - Hello, Thất nghe đây.

     - Anh Thất đó hả, Camille đầu dây. Tôi đã đọc qua bài thơ anh gửi tặng. Tôi cũng thấy cái điểm anh muốn nói gì với tôi trong bài thơ đó. Anh làm tôi nhớ lại buổi hai đứa mình ngồi chung với nhau trong lớp học quá chừng... Nhưng tiện đây tôi cũng nói qua cho anh biết rằng tôi đã có bồ, có người yêu. Anh ấy là người kỹ sư làm trong phòng kế hoạch đó...

     Bảy Thất nghe trái tim mình như vỡ tung trong lồng ngực. Tuy nhiên, chàng tự trấn an ngay:

     - Vậy hả? Mình chẳng qua chỉ là bạn. Tôi không để ý gì đến chuyện riêng tư của cô đâu. Hi vọng hôm nào mình có dịp gặp lại, đi ăn trưa chung với nhau nữa, vậy thôi. Bây giờ tôi phải trở lại với công việc, bye nghen...

     - Bye, Thất.

     Bảy Thất gác ống nói và quay đi một nước, không thèm cảm ơn cả Lora. Cô nàng gắt gỏng, xen vào:

     - Sao dạo này lắm người gọi điện thoại cho anh thế?

     Bảy Thất quay lại, điềm nhiên:

     - Hết rồi. Bảo đảm sẽ chẳng còn ai quấy rầy cô nữa đâu!

     Bảy Thất vỡ lẽ. Ðúng là lối xử sự của Mỹ, mích lòng trước đặng lòng sau. Muốn gì cứ nói thẳng ra. Bao nhiêu ân tình chàng chắt chiu dành dụm cho nàng vụt tiêu tan. Mà sao chàng không mãi mai nghĩ tới điều đó nhỉ? Làm như Camille là đứa con gái mới ở tuổi dậy thì không bằng! Từng tuổi đó hẳn đã từng trải từ lúc còn ở nội trú trong trường. Làm gì chẳng có người yêu. Năm lửa bảy lần cho số kiếp đàn bà cũng nên. Tiếc là mình đến với nàng không đúng thời đúng lúc, chàng nghĩ vậy.

     Liên tiếp mấy ngày sau, Bảy Thất như người mất hồn. Chàng không ngờ liên hệ giữa chàng và Camille lại đi vào đoạn kết thật mau chóng đến là như vậy. Có kéo dài thêm đi nữa thì cũng chỉ là tình một chiều. Yêu đơn phương? Thà chết sướng hơn! Nhưng chàng bỗng nghĩ lại. Cuộc tình nào đã không có sự tranh giành, cướp giựt? Ðã biết bao lần bọn con trai đập nhau vì gái? Chàng không thể ngừng ngang tại đó. Chàng phải vùng lên tranh đấu giành chiến thắng. Gian khổ càng nhiều chiến thắng càng vinh quang. Thằng kỹ sư nào đó dẫu có ba đầu sáu tay đi nữa cũng chưa phải là người chồng chung thân của Camille. Chàng phải tìm cách hất nó ra khỏi trái tim nàng. Bằng cách nào đây? Rồi cũng phải có một cách! Không thể nào chưa đánh đã chạy, chưa thua đã đầu hàng. Không thể được. Nhứt quyết không thể được.

     Sau nhiều đêm tâm tư vày vò, Bảy Thất nhận ra một điều: "Camille rất nhạy cảm về thơ." Yêu thơ, thích thơ, nếu muốn nói rõ hơn. Chàng định thử với định mệnh một lần nữa. Chàng sẽ bỏ qua phần thân bài và đi ngay vào đoạn kết. Ðánh cú chót, một bài thơ cuối cùng. Một tuyệt chiêu rồi có chết cũng cam. Chàng viết vội tâm tình mình ra giấy:

     Một Lần Nữa Thôi **

     Trong mắt anh, em nhìn anh
         lần đầu tiên
     Em biết liền, em thích tình anh, có phải?
     Trong mắt em, anh nhìn em
         lần đầu tiên
     Anh biết liền, anh đã yêu em, có phải?
     Em ơi em, vì sao mắt anh cay
     Anh nhớ em, nhớ em
         đêm lẫn ngày
     Xin em hãy đến nơi này
     Một lần nữa thôi
     Cho dù chẳng có ngày mai!


     Bài thơ gửi đi theo đường bưu điện riêng, sử dụng vòng vòng trong hãng, đã mấy ngày qua mà Bảy Thất không thấy động tĩnh gì hết. Kể như chìm xuồng. Lòng người tuy là lá lay nhưng cũng không dễ gì thay đổi lập trường yêu đâu. Ðã xong rồi một cuộc tình. Ðã qua rồi một nỗi bâng khuâng. Tuy nhiên chàng không hề hối hận, ăn năn một điều gì. Hơn ai hết, chàng hiểu cho thân phận mình. Ðừng có đèo bồng!

     Cho mãi đến trưa ngày thứ sáu tuần sau, Lora lại tìm đến Bảy Thất, cằn nhằn:

     - Tuần vừa rồi anh có nói với tôi là sẽ không còn ai gọi điện thoại đến quấy rầy tôi nữa, mà tại sao bữa nay lại có con "quỉ cái" nào mới gọi tới đây? Anh có chịu đi trả lời điện thoại cho người ta không, hả?

     Bảy Thất mừng thầm trong bụng, nhưng giả đò như chẳng có chuyện gì quan trọng:

     - Thiệt vậy à? Chắc là bà phỏng vấn viên ở phòng tín dụng kêu tôi lên cho mượn tiền mua xe mới chớ gì!

     Nhưng thực ra không phải vậy, vì chàng đã reo vui:

     - Hi, Camille, lâu ngày không gặp. Có gì lạ không? Tôi định mò lên văn phòng của cô nói chuyện vài câu nhưng ngại quá. Cứ phân vân không biết cô có chịu tiếp tôi hay không nữa đây?

     - Vừa thôi, tôi chỉ là một nhân viên quèn của hãng, anh thổi phồng lên chi dữ thế. Nè, chiều mai anh có rảnh không?

     - Rảnh. Chi vậy?

     - Ghé lại nhà tôi chơi.

     - Thiệt hả, có party hả? Bộ cô định giới thiệu tôi với ông bồ của cô hả? Cô có mời nhiều người lắm không? Tôi hay sợ đám đông!

     Bảy Thất nói sợ đám đông là nói thật. Nhiều lần chàng đã đi dự tiệc của Mỹ rồi. Chàng cảm thấy bơ vơ lạc lõng quá đỗi trong đám rừng người ngoại lai đó. Tưởng chừng như mình sao quá ngô nghê, ngốc nghếch khi không hiểu và cười được qua những câu pha trò của họ. Thì ra sự cách biệt ngôn ngữ là sự cách biệt của cả một thế giới. Nhưng Camille liền đánh vỡ mọi điều thắc mắc trong đầu chàng:

     - Không, tôi chẳng mời ai hết. Chỉ mình anh với tôi thôi. Lần này đến phiên tôi, tôi sẽ cho anh xem một vài thứ mà chắc chắn anh sẽ lấy làm ưa thích. Nhà tôi dễ tìm lắm, địa chỉ có ghi trong sổ diện thoại. Chắc anh không cần tôi chỉ đường. Khoảng ăn cơm chiều, bảy giờ tối, có được không?

     Còn nỗi vui mừng nào lớn hơn cho chàng? Chẳng lẽ bài thơ cuối cùng của mình có ảnh hưởng mạnh đến như vậy sao? Bảy Thất run run khẻ nói:

     - Ừa, anh sẽ đến với em đêm mai, em thương của anh.

     Chàng gác ống điện thoại và lững lờ bước đi. Một lần nữa, chàng đã quên cảm ơn Lora, người vừa mang tin vui đến cho chàng. Ðó, một con người Á đông. Như chàng. Người đàn bà lấy chồng ngoại quốc là tự mình diệt chủng, còn đàn ông, trái lại, có lấy vợ xứ người đi nữa thì cũng chỉ là hành động di giống mà thôi. Nhưng ngay trong giây phút này, có lẽ cái tâm hồn Á đông nghiêng về đạo lý Khổng Mạnh của chàng như vừa vượt qua bức tường âm thanh. Ðã bay ra khỏi bức trường thành vòng đai xa lơ xa lắc. Tâm hồn chàng giờ như đã lọt vào một quỹ đạo mới. Ôi, vóc dáng đó, môi mắt đó, thân hình đó, hơi hám đó, em có thật hứa hẹn cho anh một điều gì? Nghĩ tới ngày mai, một chiều xuân rộn rã men say, bất giác chàng cảm thấy bâng khuâng. Trong tận cùng đáy lòng chàng, tiếng nói của con tim lại thêm một lần nữa như vang vọng ngân lên: Camille em ơi, tình mình biết sẽ về đâu...

     * My Customer

     Everybody seems to have
         a customer
     A customer, for me, a valentine
     Do you want to be
         my customer?
     I will sell you my heart
     Without a penny of interest
     I will just give it away
     Please handle it with care, okay!


    
** Just One More Time

     When you looked into my eyes
         for the first time
     You liked it, my love, didn't you?
     When I looked into your eyes
         for the first time
     I knew it that I would love you, didn't I?
     Oh darling, I cry
     Because I am missing you
         through days and nights
     Please come by, come by again
     To see me
     Even for just one more time!


   back to top

06. BÊN DÒNG SUỐI NHỎ

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Dòng suối sau nhà Phu, Ðường Trượng Phu, cho gia đình chàng nhiều điều thích thú. Xuyên qua bốn mùa xuân hạ thu đông, cũng như ngày qua ngày, những cơn nắng tẻ, mưa buồn, những biến chứng từ căn bệnh trầm kha, tương tư, của đất trời. Little Creek, tên của nó, hay là Dòng Suối Nhỏ, nếu muốn gọi bằng tiếng Việt, không phải là Suối mơ, bên rừng thu vắng ... gì cả.

     Có lẽ Phu đã đồng ý mua ngôi nhà này, ngôi nhà duy nhất mà gia đình chàng đã và đang ở từ ngày qua Mỹ, chỉ vì nỗi ngạc nhiên, vui mừng của vợ:

     - Ô, anh coi kìa, có con suối lẩn khuất phía sau bìa rừng nữa kìa! Cảnh sao mà quá hữu tình, anh thấy hôn? Em sẽ biến khu này thành vườn địa đàng của chúng mình!

     Phu cũng rất thích cái phong cảnh vườn sau đó, nhưng chàng vẫn hỏi vợ thêm một lần nữa cho chắc:

     - Nè, có thiệt là em chẳng màng đến cái mặt tiền không đó?

     - Mặt tiền? Em thấy mặt tiền ngôi nhà này cũng đâu có xấu xí gì. Tuy cái sân hơi nhỏ, nhưng anh đừng lo, mình khỏi phải tốn nhiều thì giờ cho ba cái vụ cắt cỏ, trồng cây chớ sao.

     Thì ra quyết định mua nhà chọn đất, không những bên Mỹ này mà ngay cả khi còn ở Việt Nam, thường là do đàn bà đề xướng. Ðấy, chỉ là mới nói vòng vòng bên ngoài. Lọt vào bên trong, càng thêm rắc rối nữa. Nội cái nhà bếp không thôi cũng đã điên cái đầu. Cái này chật chội quá. Cái kia thì quay về hướng nắng chiều. Cái nọ trông ngay qua buồng ngủ đầu căn của nhà hàng xóm... Nhiều lần vợ Phu đã than phiền như vậy và luôn luôn kèm theo một câu kết gọn lỏn: "Em hổng chịu đâu... " Cuối cùng, chàng phải nhảy vào can thiệp, giải thích: "Không biết em tính sao chớ mình phải... bù qua chế lại. Muốn được cái này thì phải mất cái kia. Mình đâu có bỏ ra bạc triệu bạc muôn đâu mà đòi hỏi trong nhà phải có đủ thứ. Dầu gì đi nữa em cũng phải vừa ý với một cái. Ðể không thôi quá trễ, lạng quạng chính quyền địa phương hết tiền, không còn tiền cho vay. Vả lại, mình cũng đã đi coi mấy chục cái rồi chớ bộ ít ỏi gì sao. Anh không muốn phải chờ thêm một năm nữa mới mua được nhà."

     Nhưng, những lời nói của Phu rồi cũng như nước đổ lá môn. Bởi vậy lúc nghe vợ nói thích con suối nhỏ phía sau nhà là chàng mừng hết lớn. Khỏi còn phải đi tới đi lui, mất hết cả thì giờ. Mặc dù căn nhà này nhỏ xíu, nếu đem so với những căn nhà dềnh dàng rạng rỡ của những tay ăn nên làm ra thì nó chỉ bằng cái lỗ mũi của người ta, nhưng điểm chàng thích nhứt là trong tương lai, chàng khỏi phải châu đầu, dụm đít, câu mỏ như thiên hạ. Nếu có đụng chạm gây gổ với láng giềng đi nữa, thì cũng chỉ chịu trận có ba mặt thôi, mặt trước và hai bên hông. Mặt sau, giờ là của chàng, một vùng trời thênh thang rộng rãi. Tuy không phải là chủ nhân chính thức (đất của chính phủ, hiển nhiên), nhưng nào ai thèm ngó ngàng léo hánh tới đây làm chi!

     Dạo ấy đang giữa mùa hè. Sau hai tuần dọn dẹp, sơn phết bên trong nhà xong xuôi, nguyên gia đình chàng gồm vợ chồng con cái và Bingo, con chó nhỏ thuộc giống Beagle, bắt đầu tấn công tiến chiếm khu rừng hoang, với mộng ước biến nó thành vườn địa đàng, như vợ chàng đã từ lâu ôm ấp.

     Ngoài những cây thông to lớn, cao vút đến chân mây và những cây tùng thấp, tròn, thon thon, cánh rừng còn chứa nhiều cây lạ chàng chưa hề thấy ở Việt Nam. Nào là những cây phong (maple) có lá răng cưa lớn, mới trông giống như những ngôi sao xanh mướt; cây sồi (oak) ngạo nghễ, cành và lá hình mũi viết chĩa ra khắp thân; cây mật ngọt (sweet gum) tươi tốt, có dáng dấp của những cây Noel to lớn, với đỉnh nhọn lểu cao chót vót; cây bạch đàn (white birch) da sần sùi, bạc thếch như vỏ cây tràm, tàn cây sum sê mang đầy lá hình đồng tiền nho nhỏ, trắng xanh hai mặt; cây dương đào (dogwood) với phiến lá dầy hình bầu dục. Những cây anh đào rũ (whipping cherry) trơ cành chơ vơ... và chằng chịt đó đây những dây leo độc (poison ivy), thân cùng lá xanh bóng như thoa mỡ, nhưng hễ động vô nó là ngứa gãi thành ghẻ, nổi giề như giề cơm cháy.

     Việc trước tiên là phải chặt hết cây con, dây leo và bụi rậm. Cây lớn hơn một chút phải dùng cưa. Phồng tay, phỏng trán và ướt đẫm mồ hôi, chẳng khác gì đi làm xâu, làm thuế. Nhưng đồng vợ đồng chồng, tát bể đông cũng cạn , mọi khó khăn, khổ cực rồi sẽ qua, Phu tin như vậy.

     Nói đúng ra, chỉ hai vợ chồng chàng làm thôi. Ðám nhóc con chàng còn nhỏ quá, làm thợ vịn còn chưa xong nói gì làm thợ con, thợ cái. Nhưng trông tụi nó lẩn quẩn dưới tàn cây bóng mát cũng vui. Thỉnh thoảng còn chạy nhảy đuổi theo đàn bướm hoặc thơ thẩn hái hoa. Chỉ được một việc là lâu lâu chàng sai tụi nó vô nhà lấy nước trà, nước ngọt tiếp tế cho ba mẹ.

     Ðang chặt cây, phát bụi thì bỗng dưng chàng nghe đám nhóc la lớn:

     - Ba má ơi, lại đây coi nè, có con sóc lớn quá! Mà nó không chịu chạy đi đâu hết á!

     Phu lật đật chạy tới. Vợ chàng theo sau. Chàng ngạc nhiên thấy con vật to bằng con thỏ, lông xám tro, bụng trắng phếu đang đeo dính cứng trên cành. Thằng nhóc cầm cây chĩa vào bẹ sườn mà cũng không thấy nó nhúc nhích. Vợ chàng cho biết:

     - Ối, nó không phải con sóc mà là một loại chồn hôi (opossum). Nó ưa giả chết khi bị phát hiện. Cứ để yên một lát thì nó sẽ bò đi mất tiêu cho mà coi.

     - Bắt nó xuống chơi được không má?

     - Chơi gì với cái lũ chồn hôi hám đó! Với lại nó cắn chết, nó có răng đó...

     Bỏ mặc lũ nhỏ với con chồn, vợ chồng Phu tiếp tục trở lại với công việc khó nhọc. Khi thì dùng đao, khi thì dùng búa, khi thì dùng cưa, có lúc phải dùng đến cuốc. Cái cuốc bên Mỹ này rất khác biệt so với cái cuốc bên nhà. Nó có hình tam giác, mũi nhọn hoắc như mũi chĩa ba, xài riết rồi cũng quen. Cạnh lưỡi cuốc bén lắm, có thể dùng để chặt đứt những cây con, coi bộ còn dễ hơn dùng dao, cho dù là loại dao chặt thịt, to bản đi nữa.

     Mất cả ngày trời vợ chồng chàng mới dọn xong một khoảnh rừng chừng nửa mẫu anh, trải dài từ hàng rào sau nhà ra đến tận bờ con suối nhỏ. Hai bên bờ suối đầy cỏ dại nở những chùm hoa li ti màu tim tím như màu bông lục bình. Lác đác một vài đám cỏ xanh rì, với những lá hình ngòi viết giống hệt như lá rau đay, mọc lan trên bờ cát gần sát lạch nước. Lòng suối khoảng bốn năm thước bề rộng, uốn khúc ngoằn ngoèo, lẩn khuất trong tàn cây nghiêng ngả, chằng chịt tủa ra từ hai bên bờ vì đất bị lở do nước cuốn soi mòn. Ðây đó những cồn cát nhỏ, vàng lẫn trắng, nổi lên trơ bóng. Nước suối trong veo, không đầy lắm, chảy lừ đừ, mát rượi. Những chỗ sâu còn thấy những bầy cá trắng, cá sặt con... tung tăng bơi lượn.

     Qua ngày hôm sau, Phu đem máy cắt cỏ ra làm một chập giáp vòng. Những lõm đất trống, không một cọng cỏ, phơi bày loang lổ như những đám lang ben trên lớp da xanh mướt . Nhiều đường ngầm của loài chuột nhủi (mole) vừa đui vừa điếc, sống sâu dưới đất như Việt cộng, bỗng trở nên lộ thiên, trông như những luống đất cày nho nhỏ. Nhìn chung, khoảnh vườn trông cũng sạch sẽ chán. Bóng mát vẫn còn che khuất nhiều nơi từ những tàn cây cao còn sót lại.

     Không may cho gia đình Phu ngày ấy là con Bingo, có lẽ vì không ưa tiếng nổ bạch bạch của máy cắt cỏ, đã chạy sâu vô mảng rừng phía sau nhà hàng xóm. Rồi không biết nó đã "đào mồ cuốc mả nhà ai" mà một bầy ong nghệ (yellow jacket), loại ong vàng có khoan đen thường làm tổ dưới đất, bay túa ra rượt mọi người chạy có cờ. Phu và thằng con thứ của chàng bị chích mỗi người một vết trên bả vai, đau điếng. Một lúc sau chất độc ngấm vào, làm cánh tay như muốn xuội. Riêng con Bingo thì bị nhiều nhứt, lỗ mũi, lỗ tai và mí mắt sưng vù mấy cục. Nó nằm rên ăng ẳng, thỉnh thoảng đưa chân khều khều, gãi mấy chỗ sưng.

     Phần công tác trên đất liền kể như xong. Chỉ còn đặt thêm một cái bàn pinic ở giữa khu vườn nữa là tất cả đâu vào đấy. Công tác dưới nước mới là gian nan, vì vợ Phu đề nghị:

     - Em muốn bắc một cây cầu dài từ bờ ra giữa suối để anh có chỗ chiều chiều ra đây ngồi câu thời câu vận. Và trên cháng ba của cây bạch đàn này em cũng muốn cất một cái nhà chòi cho mấy đứa nhỏ có chỗ chơi trò Tarzan!

     Cứ cái điệu này thì chắc mình phải ru rú "ở nhà với vợ biết ngày nào khôn" quá, Phu nghĩ. Sao mà tính khôn quá vậy ta? Còn đám bạn bè ăn nhậu, bù khú của chàng bỏ cho ai?

     Tuy vậy, Phu cũng góp ý:

     - Chuyện gì chớ bắc cây cầu từ đây ra đó không có gì khó khăn hết. Ở giữa suối, ông trời đã chôn sẵn cho mình hai gốc cây chết. Bây giờ chỉ cần cưa ngang nó ra làm trụ thì chắc biết mấy. Bắc lên đó một cây đà, rồi thảy nhẹ thêm một tấm đòn dài bên trên nữa là xong. Cùng lắm thì chõi thêm một, hai cây trụ chống nữa, làm đà chịu ở khoảng giữa. Nhưng, cái vụ cất nhà chòi trên cây mới là khó. Cây ván phải mua. Ðinh vít phải sắm. Rồi, nếu mà làm không cẩn thận nghen, té trẹo bản họng có ngày!

     Nói gì thì nói, lệnh bà đã ban ra thì tất cả phải răm rắp thi hành! Trong khi chàng đục đẽo, cưa cắt và có khi còn phải trầm mình nửa thân dưới nước thì đám con của chàng nhởn nhơ đùa giỡn, trầm nghịch bên dòng suối. Bọn nó đi bắt tôm lóng, tôm cụt, tôm lò rèn (cray-fish), nói chung là những con tôm có cái mình nhỏ xíu trong khi đầu và hai càng bự chù vù; bắt cá kèo Mỹ (salamander), giống hệt như con rắn mối mà lại sống dưới nước được mới là lạ; bắt cá lia thia...

     Riêng phần Phu, chàng nghĩ nếu chàng ra tay, bắt chước mấy con hải ly (beaver), cưa gỗ đắp đập, chắn ngang suối thì gia đình chàng sẽ có một hồ tắm nửa nhân tạo nửa thiên nhiên. Bảo đảm không thua gì hồ tắm ở suối Lồ Ồ. Nhắc tới suối Lồ Ồ làm chàng nhớ Sài Gòn, Thủ Ðức, Hố Nai, Biên Hòa đất đỏ... quá chừng. Hồi nào mới thương nhau, hai vợ chồng Phu cũng đã từng đến con suối đó. Không phải để tự tử mà là để tù tí, như bao cặp tình nhân khác. Nước suối Lồ Ồ trong sạch hơn vì rỉ ra ngay từ trong núi, còn dòng suối này lại chảy qua những vùng đất thấp, mang theo ô uế tục trần, độc địa hơn nhiều. Việc đắp đập thì chàng chỉ nghĩ vậy thôi, còn lâu chàng mới đem điều này thố lộ cho vợ biết. Vì chàng rõ hơn ai hết, ai sẽ là người đóng vai dân thợ và ai sẽ là kẻ giữ chân đốc công.

     Công việc nhà, dù khó khăn mấy đi nữa bảo đảm không sớm thì... muộn, Phu đều hoàn thành mỹ mãn. Rồi cũng đến ngày coi như tạm chấm dứt công tác bên dòng Suối Nhỏ. Tuy không có lễ lộc, cắt băng khánh thành khu vườn địa đàng, thượng uyển hay công viên gia đình này, nhưng bữa cơm chiều hôm đó có thịt bò nướng barbecue thơm phức, có la-ve củ kiệu, có bánh tráng rau sống... Ðầy đủ quá! Bên cạnh "nửa cây cầu sông Kwai" vừa hoàn tất còn có cả chòi canh, đồn lính cất trên cao. Còn gì hơn! Vui biết mấy!

     Nhưng những giây phút thật thần tiên, thanh bình an lạc bên dòng suối chảy róc rách ấy đã làm Phu nghĩ nhiều đến gia đình chàng còn ở lại Việt Nam. Không biết giờ này cha mẹ, anh em chàng đang sống thế nào dưới chế độ Mác-Lê bế tắc! Gia đình là nền tảng của xã hội phương đông, vậy mà bị bứng gốc sang trồng ở phương tây thì làm sao cho trái ngọt cho được. Không còn nghĩa lý gì cả. Một hai chục năm nữa đây, mọi thứ mà chàng đã cẩn trọng mang theo, gìn giữ rồi cũng sẽ biến mất, hòa tan vào cái xã hội vốn hay đề cao và đặt nặng vấn đề thành công cũng như đóng góp của từng cá nhân.

     Mùa hè trôi qua và mùa thu lại đến. Không cần phải đi đâu xa, không cần phải lên núi như nhiều người đã làm, vợ chồng Phu có thể ngồi tại nhà mà ngắm cảnh mùa thu. Những chiếc lá vàng rụng rơi theo từng cơn gió, trước mắt chàng, qua khung cửa sổ vườn sau, trên tầng cao nhìn xuống bìa rừng. Hàng ngày, mỗi chiều chàng đi làm về, chàng ước gì mình biết làm thơ để ghi lại những nôn nao của tâm hồn qua sắc lá thân cây muôn hồng nghìn tía, qua những cách buông mình lửng lơ, im lìm, hay chao đảo tung bay của những úa vàng. Những úa vàng ấy đã thật sự khơi mầm cho một màu xanh đang được tạo dựng trong âm thầm, lặng lẽ. Như cuộc đời này. Như dòng Suối Nhỏ kia, đã, đang và sẽ mãi mãi trôi.

     Rồi mùa đông lại về. Tuyết trắng rơi phủ đầy rừng, trên những cành cây trụi lá tua tủa như rừng gươm, trên "nửa cây cầu sông Kwai," trên mái nhà chòi, giờ trông như một tổ chim lớn vắt vẻo trên không. Và hai bên bờ suối, tuyết như hai hàng ren kết bằng bông gòn, từng cụm, từng cụm trắng xóa, mấp mô theo lối đất. Xa xa, một vài cây thông, gốc tùng xanh thẫm, điểm chấm phá cho khung nền đơn điệu, xám ngắt một màu. Tất cả băng giá, rét run, như từ lâu không còn sức sống, không một dấu hiệu hoạt động nào...

     Tháng ba, mùa xuân trở lại và rừng xưa thay lá. Những nụ non tơ mởn đâm chồi. Phết lên rừng một màu đọt chuối, với từng mảng lớn những vết phơn phớt hồng hay mơn mởn xanh. Những đóa anh đào (cherry) và lê trắng muốt, những búp hồng đào (redbud) tim tím, những cánh dương đào hồng mịn hay trắng nõn, những chùm hoa táo dại (crab apple) tím hồng... thi đua khoe mình dưới nắng xuân. Những con chim én (swallow) cánh đen tuyền, những con chim Cardinal lông đỏ, những con chim hoàng yến lông xanh (blue jay), hợp với lũ chim sẻ ức đỏ gạch (robin)... đã trở về bay lượn rợp trời, đùa hót vang rân. Cả con Suối Nhỏ sau nhà cũng đã trở mình thức giấc, hân hoan ôm vào lòng những mảng tuyết tan. Dòng nước trong ngăn ngắt giờ đổi ra màu hoàng thạch. Và Phu cũng vậy, chàng cảm thấy khoan khoái, dễ chịu, yêu đời hơn.

     Nhưng, như một định luật thiên nhiên bất biến, đi đôi với cảnh đẹp mùa xuân bắc Mỹ là những cơn mưa tầm tã trong mùa tuyết tan, gây nên những trận lũ lụt chết người.

     Ngôi nhà Phu nằm trên một sườn đồi nhưng vẫn không thoát khỏi ảnh hưởng của những cơn lũ lụt mùa xuân đó. Chỉ sau ba ngày ba đêm mưa dầm liên tiếp, con Suối Nhỏ không kịp nuốt hết dòng sữa phù sa đổ tràn vào thân mình, bụng nó giờ trương lên, phình ra chang bang hai bên bờ như một dòng sông lớn, cuồn cuộn thác đổ. Vợ Phu than thở:

     - Thôi, kể như tiêu hết rồi! Vườn chơi của mình rồi sẽ đầy bùn đỏ cho mà coi. Bao nhiêu hoa em mới trồng ven bờ suối chắc đều úng thủy, chết hết trơn rồi! Thuở đời nay, toàn là vạn thọ, thược dược, cúc lớn, cúc nhỏ... chớ có phải lúa xạ đâu mà biết vọt lên cao theo con nước. Thiệt là công dã tràng! Mấy ông thần tiên đoán thời tiết kỳ này coi bộ ba búa trật lất cả ba!

     Phu đỡ lời:

     - Ối, ba cái lẻ tẻ đó mà nhằm nhò gì! Anh chỉ sợ cây cầu thủy tạ của mình rồi cũng trôi đi tuốt luốt!

     Mà nó trôi thiệt! Ðến lúc nước giựt xuống, không còn một mảnh ván làm thuốc! Bóng dáng của "nửa cây cầu sông Kwai" giờ chỉ còn lại hai cái trụ thiên nhiên làm bằng hai gốc cây bị chôn sống từ lâu ở giữa dòng. Hừm, một đời ta hai ba đời nó, rồi Phu sẽ xây cất lại, to lớn hơn, vững chắc hơn...

     Cũng bên dòng Suối Nhỏ đó, trong một buổi chiều mưa lâm râm buồn bã, Phu đã hò hét đám con:

     - Ba không cần biết các con đã bỏ ra bao nhiều tiền để mua sắm, đổi chác với đám bạn, ba chỉ cần các con từ nay phải bỏ thói quen thức thâu đêm để đọc những cuốn sách nhảm nhí, vô bổ này. Nó không mảy may giúp ích gì cho các con trong việc học hành thi cử, mà còn có hại cho sức khỏe nữa, hiểu không? Bây giờ ba muốn tự tay các con vứt những thứ độc hại đó xuống suối!

     Lẽ dĩ nhiên đám nhóc răm rắp nghe theo, không cãi một lời. Từng cuốn một, trong đó có cuốn bọc bìa ni-lông thật kỹ, rơi tòm xuống suối. Cả thùng, năm bảy chục cuốn chớ không phải ít. Một đô-la một cuốn, một đô-la hai mươi lăm xu nếu đem bán qua xứ Canada. Rồi, hãy làm ơn bái-bai những anh hùng vũ trụ, những Conan, Superman, Spiderman ... và hãy quên đi những trận ác chiến nảy lửa có những Bam!, Zoom!, Pow! ... v.v. Thời gian đó, nghĩ lại, có lẽ là khoảng thời gian duy nhất mà Phu đã hành xử quyền làm cha có phần nào độc đoán của mình, theo lối Ðông phương. Vì ngay sau đó, chàng đã thay đổi rất nhiều.

     Mười mấy năm qua, giờ này, đám con của Phu đã khôn lớn. Nếu còn đủ, chàng có cả thảy chín đứa chớ chẳng phải ít. Một đứa chết bịnh, hai đứa chết trong chiến tranh và một đứa chết lúc chạy loạn. Còn lại ba đứa lớn, một đã ra trường và hai đứa còn trong đại học. Hai đứa nhỏ nhứt ngồi lớp 11 và 12. Ngoài tình cha con, mẹ con ra, giữa đám nhóc và vợ chồng Phu còn có thêm cái tình... bạn, theo như lối giáo dục Tây phương. Cái việc "má mà đánh con, con sẽ thâu roi" đã không hề xảy ra. Ngày nay, bên dòng Suối Nhỏ, trên "nửa cây cầu sông Kwai" mới được cất lần thứ ba, đứa con trai thứ (bây giờ lại là đứa lớn nhất nhà) đã tâm sự với Phu:

     - Ba biết hôn, nếu hồi đó mà ba không bắt con vứt mấy cuốn cosmic book đó xuống suối thì bây giờ có lẽ con đã trở thành một họa sĩ hoạt họa thay vì một kỹ sư như ba má mong muốn. Hồi đó con mê đọc thì ít mà mê vẽ thì nhiều. Con còn giữ hàng trăm bức họa của con mà ba má đâu biết. Con nghĩ, đôi lúc chính cha mẹ đã vô tình cản trở bước tiến của con cái, ba thấy có phải như vậy không?

     Như vậy là từ bấy lâu nay bọn nhỏ đã dấu chàng rất nhiều điều? Phải! Chuyện con cái dấu giếm cha mẹ là chuyện thường tình! Như chính Phu hồi còn nhỏ, xa xưa cũng vậy thôi. Hút thuốc, dấu. Uống rượu, dấu. Bồ bịch, ăn chơi hoang đàng, dấu. Bắt buộc, chàng nghĩ! Vậy thì đến đời con, đời cháu mình..., mình cũng đâu làm sao phiền trách tụi nó cho được. Chàng từ tốn phân trần:

     - Thì ngay bây giờ, nếu con thích, con cũng có thể trở lại với ngành vẽ của con bất cứ lúc nào mà, đâu có muộn màng gì!

     - Không được đâu ba. Cái đam mê của mình coi vậy chớ nó chỉ có một thời thôi. Cái thời đó mà lỡ qua rồi thì khó tìm được hứng thú để trở lại lắm. Ba biết hôn, tụi con còn dấu ba má nhiều chuyện lắm mà ba má nào có hay. Chẳng hạn như ngay cái vụ thằng Thông, thằng út nhỏ nhứt trong nhà, mà lại có vô số bạn gái mới chết. Trong khi con, đứa lớn đầu nhứt, vẫn chưa tìm được một người bạn gái vừa ý. Ðiều này chắc ba má cũng đâu đã biết hả?

     Phu hơi bàng hoàng, sửng sốt vì lời tâm tình của con. Không hiểu vì lẽ gì mà nó nêu lên vấn đề đó. Có phải vì những răn đe nghiêm khắc của chàng ở buổi ban đầu, thời mới lớn, mà đã làm cho nó khó khăn hội nhập vào cái xã hội này? Chàng nghĩ, chàng đâu có khắc khe gì cho lắm đối với mấy đứa lớn, và cũng chẳng hề buông thả cho mấy đứa nhỏ sau này. Chàng giã lã:

     - Vậy sao! Vì lẽ gì mà con không làm được những gì em con đã làm chớ?

     - Con cũng không biết nữa ba à! Làm như trong mỗi người chúng ta, ai ai cũng có số hết, phải hôn ba?

     Cái số? Cũng có lý lắm chớ! Chính Phu đã nhiều lần cảm nhận như vậy. Ngay bản thân chàng, là con người vốn hay thích làm chuyện "nhân định thắng thiên," nhưng tại cái số trời đã định kia, thường bắt chàng phải rơi vào cảnh bó gối, chờ thời. Phu gật gù, kết luận:

     - Ừa, có lẽ con người ai ai cũng đều có số hết! Cái số của hai cha con mình là ngày này, giờ này mình phải ngồi tại đây, bên dòng Suối Nhỏ này và bàn về vấn đề... cái số, như đã được viết sẵn và không thể nào thay đổi được.

     Rồi chàng ngẫm nghĩ, nếu mà mình tin vào định mệnh, vào số trời, thì... đâu còn chuyện gì để nói nữa. Mọi việc, phải chăng, đã an bày từ lâu? Ngay cả chuyện tử biệt sinh ly...

   back to top

07. HOA HẬU XỨ DƯƠNG ÐÀO

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Chiều ngày ấy đi làm về, anh Hữu vừa mới lót tót bước vô nhà thì vợ anh khoe:

     - Anh coi nè, khi không mà có thư thông báo là con gái của mình được chấm đậu bán kết cuộc thi hoa hậu học sinh của tiểu bang nhà. Bây giờ họ mời hai vợ chồng mình đem con Thủy Tiên đi dự kỳ thi chung kết sẽ tổ chức tại thành phố Charlotte trong tháng tới nữa đây.

     Ðã có nhiều kinh nghiệm với những dịch vụ quảng cáo bằng cách gửi thư đến tận nhà, anh Hữu cho ý kiến:

     - Coi chừng tụi nó dụ khị mình mua bán chuyện gì đó. Làm gì có chuyện bán kết với chung kết. Nẫm nay anh đâu có nghe con Thủy Tiên nói chụp hình kiểu, hình màu gì ở trường đâu. Làm sao người ta biết nó xinh đẹp đến mức nào mà chấm đậu. Ðã vậy chưa nghe nói vô vòng loại, vòng một, vòng hai gì ráo... mà a thần phù nhảy vô tứ kết, bán kết thì coi bộ ăn gian người ta quá cỡ.

     - Ðâu có. Con Thủy Tiên nói bạn nó năm rồi cũng có đứa đi dự thi như vậy. Người ta chỉ lựa những đứa nào học giỏi thôi. Danh sách thí sinh đều do cô thầy giáo của mỗi trường đề nghị mà. Con mình học giỏi nên mới được cô thầy ngó ngàng tới. Ðâu anh đọc kỹ tấm giấy này coi. Nếu không có gì trở ngại thì mình làm một chuyến đi Charlotte chơi. Dịp may ngàn năm một thuở của con gái anh đó à nghen.

     Chưa kịp thay đồ, anh Hữu phải ngồi xuống ghế đọc qua xấp hồ sơ dự thi. Dò tới dò lui, góp chữ đầu dính với chữ cuối, anh mới hiểu trọn vẹn một giao kèo thương mại. Thì ra không riêng gì con gái anh mà là hàng trăm học sinh trung học đệ nhị cấp, bao gồm các lớp junior và senior high (từ lớp 9 đến lớp 12) và cả sinh viên đại học ban cử nhân undergraduate, đã được chọn lựa. Theo kiểu rút thăm cầu âu do máy computer lọc ra. Hên xui may rủi như... xổ số kiến thiết quốc gia vậy thôi. Ðó là giải chính, gọi là giải coed . Và ba giải phụ. Một giải dành cho học sinh trung học đệ nhất cấp, bao gồm các lớp ở middle school (từ lớp 6 đến lớp 8), gọi là giải pre-teen . Một giải dành cho học trò con nít thuộc các lớp tiểu học, elementary school (từ lớp 1 đến lớp 5), gọi là giải princess . Và cuối cùng, một giải dành cho các nhi đồng mẫu giáo trở xuống, gọi là giải tiny tot .

     Theo như giấy tờ đã ghi, tất cả các sinh viên ban cử nhân và các học sinh trung tiểu học và mẫu giáo được chọn lựa, đều đương nhiên đã vượt qua một kỳ thi không tưởng: bán kết. Giờ này, ai cũng như ai, đều có quyền tham gia dự tranh giải chung kết theo cấp lớp tuổi tác của mình. Ðồng đều như nhau, ai cũng như ai, đều có cái cơ hội ngàn năm một thuở như vợ anh vừa nói, để trở thành một trong bốn hoa hậu hoc sinh của tiểu bang nhà.

     Nhưng, ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, thì anh hùng... hoa hậu có hơn ai , phải không? Thì đây, điều kiện tiên quyết để có quyền đi dự thi là mỗi thí sinh phải nộp cho "ban giám khảo" một số tiền mặt là ba trăm đô-la. Thiệt đúng là tư bản! Làm tiền một cách trắng trợn, anh Hữu nghĩ. Mà nói là "ban giám khảo" chỉ để nghe xuôi tai vậy thôi chớ thực ra không ai khác hơn là những "nhân viên của một công ty tư nhân." Những employees của một incorporated company, không hơn không kém. Kèm theo đơn xin dự thi, "công ty chế tạo hoa hậu" cũng có in sẵn cho thí sinh một mẫu giấy dùng để đi xin tiền các hãng thương nghiệp. Những sponsors. Tức là những hãng đỡ đầu, muốn bỏ tiền ra để đầu tư vào cuộc thi sắc đẹp của người đứng xin. Lẽ dĩ nhiên, chuyện bỏ tiền ra để đỡ đầu một thí sinh cũng chẳng phải là chuyện vứt tiền qua cửa sổ đâu. Mà chính thực ra, đó là một đường lối quảng cáo rẻ tiền cho hãng thôi. Tựu chung, dưới một hình thức này hay một hình thức khác, toàn bộ công cuộc tuyển lựa hoa hậu chỉ là những dịch vụ thương mại thuần túy.

     Anh Hữu đoán biết là vợ anh đã đọc qua và cũng đã hiểu rõ những điều kiện về tài chánh mà "hãng biến chế hoa hậu" đã đặt ra cho các thí sinh. Nên anh phát biểu ý kiến theo chiều hướng mà anh cho là rất hợp tình hợp lý:

     - Nó bắt mình đóng tiền đặng làm giàu cho công ty của nó chớ thi hoa hậu hoa hiếc cái giống khỉ khô gì. Tụi này chẳng qua chỉ là một "đoàn hát xiệc không có thú vật" vậy thôi. Lê gót đi hết tiểu bang này sang tiểu bang khác, mượn đầu heo nấu cháo, làm tiền thiên hạ một cách trắng trợn giữa thanh thiên bạch nhật. Mình cũng đâu có ngu dại gì mà đưa tiền cho nó ăn.

     Nhưng vợ anh phản ứng ngay:

     - Hừ, chỉ tốn có ba trăm đồng bạc thì có đáng là bao? Nếu mà không tìm được người bảo trợ thì cùng lắm em sẽ kêu mấy cô, mấy dì con Thủy Tiên phụ vô. Chuyện em lo là chuyện chỗ ăn chỗ ngủ trong lúc mình dẫn con đi thi kìa.

     Trời đất, anh Hữu than thầm, thì ra vợ anh đã đi trước hơn anh rất nhiều bước. Vợ anh đã nghĩ đến ngày lên ti-vi, đến những vòng vương miện, đến những tặng phẩm dành cho người đoạt chức hoa hậu học trò. Trong khi anh chỉ nghĩ đến chuyện phí công, tốn của. Ðầu óc anh lúc nào như cũng coi chuyện dành dụm tiện tặn, để có dư chút đỉnh chắt chiu gửi về Việt Nam, là quan trọng hơn cả. Nhưng thấy vợ anh có vẻ cương quyết, anh lại nói phân hai:

     - Well, thì tùy em với con hà. Nếu muốn đi thì phải xúc tiến việc quyên tiền từ các hãng đỡ đầu. Biết trong vòng vài ba tuần lễ thì có kịp không đây? Rồi đặt trường hợp nếu mình quyên không đủ thì chẳng lẽ mình lại xuất tiền túi ra sao? Anh chỉ sợ em với con vừa tốn thì giờ mà còn vừa phí tiền của thôi. Vì chỉ cần nhìn qua cái bản mặt da vàng của mình là mấy ông bà chủ hãng có đủ lý do để từ chối, mời mình đi chỗ khác chơi rồi. Em không thấy điều này hay sao?

     Ôi thôi, anh Hữu nào có phải là đàn bà con gái thì làm sao anh hiểu được. Hoa hậu, chỉ hai chữ vỏn vẹn vậy mà đáng giá nghìn vàng. Phải chăng đối với tất cả đàn bà con gái, thì đây là một cơ hội ngàn năm một thuở? Họ cũng sẽ bảo: "Ðừng." Nhưng, đừng bao giờ bỏ lỡ dịp may duy nhứt trong đời vừa chợt đến với mình. Cái cơ hội để thành hoa hậu, để lưu danh hậu thế. Ôi, hoa hậu, vương miện! Ôi, giấc mơ của cả một đời người đang sắp thành sự thực! Làm sao mà ngưng lại được chớ...

     - Kệ nó, để em lo. Em chỉ cần dẫn con Thủy Tiên đi một vòng shopping mall là xong. Em sẽ ghé các tiệm bán áo quần thời trang cho con gái, mấy tiệm J. C. Penney, Sears, Belk, Ivey, Thalhimers, Brendles..., thiếu gì. Rồi còn K-Mart, Wal-Mart nữa chi. Họ đâu sá gì một hai trăm đồng bạc.

     Anh Hữu dọa:

     - Ừa, thì em cứ đi thử mồt lần đi cho biết. Coi như mình có cơ hội đo lường được mức độ kỳ thị chủng tộc ở cái xứ văn minh tột đỉnh này vậy thôi.

     Dạo đó cũng là lúc cộng sản Việt Nam vừa mới tổ chức thi hoa hậu trên đất nước quê hương, tuy muôn vàn dấu yêu nhưng đã quá nghèo đói vì bóc lột, đàn áp. Sự việc này làm cả thế giới ngạc nhiên. Họ ngạc nhiên không phải vì xứ sở ta không còn con gái đẹp, mà họ ngạc nhiên ở điểm là tại sao đảng và nhà nước lại dám đang tâm làm chuyện xa xỉ như vậy. Trong khi hầu hết dân chúng đều thiếu ăn thiếu mặc rách rưới lang thang, hậu quả của mười bốn năm hơn cai trị đất nước bằng sự ngu dốt và ác độc. Chỉ biết tham quyền cố vị, vơ vét rút rỉa kẻ bị trị là người dân, và đi ngược lại trào lưu tiến hóa của nhân loại. Thân phận nghèo đói không biết mắc cỡ hay sao mà còn đòi đứng lên khoe đẹp, để làm thêm trò cười cho thiên hạ. Tất cả mọi người Việt Nam ở hải ngoại đều xem qua tờ National Geographic, số tháng 9, năm 1989 với nỗi nhục nhã ê chề. Không hiểu lãnh tụ đảng đọc qua số báo này với niềm mừng vui, hồ hỡi cái nỗi gì? Có phải họ thích thú khi được dịp chưng bày những hỡ rún, đưa mông của một giai cấp mới, những cường hào ác bá và tham nhũng mới? Những vòng mông, vòng eo, vòng ngực của những con ông cháu cha mới, những công tử và tiểu thư vô sản mới?

     Rồi chẳng biết vì kỳ thị hay là vì cạnh tranh, với cái lý do nếu hãng đối nghịch của mình đã đỡ đầu thì mình sẽ không thèm bảo trợ nữa, vợ anh Hữu chạy bở hơi tai trong tuần qua mà chỉ tìm được có ba mối chịu làm cò mồi. Mỗi nơi năm chục, vị chi là một trăm rưỡi. Chị định tiếp tục chạy rong nữa, bắt sang qua các quán ăn lớn như McDonald, Burger King, Hardy, Arby..., hoặc lần qua các tiệm bán thực phẩm như Kroger, Food Lions, Food Fair... Nhưng, chị bắt đầu nản chí khi nghĩ đến mớ thì giờ lớn lao mà chị phải bỏ ra. Chị nghĩ, chi bằng ký cha cho nó cái check một trăm năm chục đồng nữa là xong. Gửi đi. Dễ ợt.

     Nhưng, cái khó không dừng tại đó. Vì độ một tuần sau, "công ty sản xuất hoa hậu" đã gửi về nhà cho vợ chồng anh Hữu một lá thư hồi báo. Cho biết, trước hết, tiền lệ phí đã nhận được đầy đủ và công ty hân hoan chấp thuận đơn dự thi của Thủy Tiên. Kèm theo giấy chúc mừng gia nhập cuộc vui, thứ đến, một lô giấy tờ quan trọng khác cần được điền vào và gửi trả lại ngay. Phải mất thêm không ít thì giờ bỏ ra nghiên cứu. Và sau cùng, một cái list liệt kê những công việc cần thiết phải làm. Không làm không được. Như giữ chỗ cư ngụ qua đêm tại địa điễm đăng đàn, trình diễn. Khách sạn Hyatt ở thành phố Charlotte, thành phố lớn nhất của xứ dương đào (dogwood country) North Carolina. Như đi sắm áo quần, giày vớ cho con em của mình. Áo sơ mi trắng, jupe xanh hoặc đỏ tùy theo số thứ tự, để chuẩn bị cho màn đồng ca, hợp vũ tổng chào quan khách. Cũng nên nhớ là xanh, trắng, và đỏ tượng trưng cho màu cờ của xứ Cờ Hoa. Mua áo tắm một mảnh và giày bít cùng màu, màu hường nhạt, sẵn sàng cho buổi trình diễn áo tắm. Và còn một món không thể thiếu nữa là cái áo dạ tiệc (night gown) dành cho buổi trình diễn sắc đẹp của từng cá nhân. Rồi hiển nhiên son phấn, nước hoa... Ôi thôi, cái gì cũng tiền, anh Hữu than thầm. Giá một cái áo dạ tiệc coi được được đã mắc hơn tiền lệ phí dự thi. Thì cũng cứ mà phải chi. Không biết vợ anh nghĩ thế nào, chớ riêng anh Hữu, anh cảm thấy bỗng dưng anh bị ai đó đặt ngồi lên lưng một con cọp... thiệt dữ hồi nào không hay.

     Lụi hụi rồi cũng đến ngày các "hoa hậu sĩ tử" đang mong đợi. Một cuối tuần. Ðể tránh trở ngại về việc mất bài vở cho các thí sinh. Tuy nhiên, để khỏi lộn xộn vấp váp cho chương trình chính thức sáng ngày thứ bảy, hầu hết các bậc phụ huynh đều phải gác lại công ăn việc làm và đưa con cái của mình đến trường thi sớm hơn, ngay trong đêm thứ sáu. Những người ở gần như vợ chồng anh Hữu, đỡ hơn, lái xe đôi ba giờ thì đến nơi. Tội nghiệp cho những kẻ ở xa, tuốt ngoài biển hay biệt trên núi, kẹt dữ, lại phải tốn tiền máy bay.

     Anh Hữu vòng tới vòng lui mấy bận mới tìm được chỗ trống trong bãi đậu xe riêng của khách sạn. Ánh nắng chiều vàng nhạt, phất phơ xuyên qua hàng bạch dương cao vút bên vỉa hè, như rải trên lối đi ngoằn ngoèo trong sân cỏ những đóa hoa lấp lánh, lung linh. Dọn đường cho những bước chân chim. Những con búp bê biết nói, lớn nhỏ và đủ màu, đang tung tăng chân sáo bên cạnh cha mẹ trong giờ họp bạn. Người lớn lăng xăng với mớ hành trang, cẩn thận khệ nệ xách những chiếc áo đẹp đẽ chưa hề gấp nếp của con gái mình. Trong khi bọn trẻ chào nhau, vui vẻ nhận ra là kẻ đồng hội đồng thuyền. Rồi dễ dàng kết thân sau dăm ba câu trao đổi. Làm anh Hữu bỗng dưng nhớ lại thuở nào, thời anh còn là một đứa học trò trung học. Dạo đó sao anh có nhiều bạn quá. Bạn học hành, bạn đờn ca, bạn cờ bạc, bạn chè chén, bạn bát phố, bạn tán gái, bạn phá làng, bạn đi hoang... Giờ, bạn bè anh đi đâu mất tiêu hết trơn. Lớp chết, lớp bị thương. Lớp đứng đường, lớp còn tù tội. Ðất nước Việt Nam đổi thay, thân gái cũng như thân trai, ai cũng mười hai bến nước. Ðứa chạy vuột trước, đứa vượt biên qua sau. Qua bên này thì phải chúi mũi vô công ăn chuyện làm, có mấy khi gặp lại nhau. Ðể nói chuyện khào. Ðời sao chán ngắt.

     Anh Hữu bàn với vợ:

     - Ðông quá. Không biết toàn tiểu bang của mình có bao nhiêu trường trung học, đại học hả? Rồi mỗi trường đề cử mấy học sinh đây? Tổng số thí sinh đi dự kỳ thi này chắc dám lên đến bốn năm trăm đứa chớ chẳng phải chơi. Nói có trời, có lẽ không có bà mẹ nào nghĩ khác và làm khác em đâu. Bà nào cũng ôm cứng khư khư như không cách gì bỏ qua cái cơ hội ngàn năm một thuở của con gái mình hết trơn. Thiệt, chỉ tổ làm giàu cho mấy tay chuyên môn ăn cướp cạn giữa ban ngày.

     Vợ anh phản đối:

     - Ối, anh sao nói kỳ. Rủi con mình được chấm đậu rồi sao? Nói thiệt anh nghe nghen, lúc đó dẫu anh có bạc triệu cầm sẵn trong tay đi nữa anh cũng chưa chắc mua được cái danh dự cao quí đó cho con gái anh.

     Anh Hữu đánh trống lãng:

     - Ý anh không phải vậy. Anh chỉ sợ tụi nó đã chấm trước ai sẽ là hoa hậu cho kỳ thi này rồi, em biết không?

     - Anh đừng có nói ẩu. Người ta chấm năm bảy bộ môn khác nhau chớ không phải một. Ngoài sắc đẹp là phần căn bản, người ta còn căn cứ vào điểm hạng trong học bạ, hạnh kiểm ở trường ốc, và tài năng thiên phú nữa chi. Con mình học giỏi thì thế nào cũng có ảnh hưởng ít nhiều trong đó chớ.

     Anh Hữu gạt ngang:

     - Thôi em ơi, ai mà không biết nếu muốn đóng kịch khéo thì phải làm đủ trò.

     Vợ anh Hữu gắt yêu:

     - Nè, đừng có làm tài khôn nghen. Chỉ cần con Thủy Tiên mà giựt được cái giải á hậu thôi là mẹ con em cũng đủ cho anh ra rìa.

     - Thì anh cũng chỉ mong như em vậy. Mà thôi, cho dù không được như vậy đi nữa thì bù lại mình sẽ học được một bài học khôn. Tuy hơi đắc...

     Anh Hữu dẫn vợ con đi thăm trước một vòng những gian phòng rộng lớn, những ball rooms dành riêng cho chương trình. Nơi nào sẽ là chỗ tiếp tân, phòng phỏng vấn, khu tập dợt các buổi trình diễn ca vũ nhạc, trình bày áo tắm thời trang, v. v. Rồi về phòng, ngủ lấy sức cho ngày mai.

     Khoảng 9 giờ hơn, sau khi vợ anh sửa soạn son phấn rất cẩn thận cho Thủy Tiên, hai vợ chồng dắt con gái xuống phòng tiếp tân. Trong khi làm thủ tục vô cửa, xác nhận một lần nữa rằng mình có đến dự cuộc thi ngày hôm nay, anh Hữu quan sát gian phòng với nỗi kinh ngạc. Mới ngày hôm qua trống lổng trống trơn, mà bây giờ trong phút chốc, không biết bao nhiêu gian hàng đã được dựng lên. Lại phải dạo qua một vòng. Dưới sức đẩy của làn sóng người, vợ chồng anh và đứa con gái từ từ tiến lần vào trong. Ðầu tiên là gian hàng bán áo quần làm kỷ niệm. Kế đến là quầy bán nữ trang giả như vương miện, cà rá, dây chuyền cũng để làm kỷ niệm. Rồi một quầy khác tiếp theo bán các thứ linh tinh như huy hiệu gắn trên ngực áo, huy chương thòng, cầu vai, thắc lưng ba màu xanh trắng đỏ... lại để làm kỷ niệm. Sao mà nhiều kỷ niệm thế. Nhìn chung, những thứ rẻ tiền này chỉ khác với mấy món đồ đổ đống ở ngoài tiệm chạp phô bởi mấy chữ "Hoa Hậu Học Trò" đóng trên đó. Vậy rồi bày bán với giá cắt cổ mổ họng, mắc dàng trời. Nhưng cũng chưa đến nỗi nào, vì khi bước đến gian hàng chụp hình làm kỷ niệm anh Hữu mới tá hỏa. Giá một bộ hỗn hợp loại rẻ nhứt đã tròm trèm hai trăm đô. Mà thử hỏi, có mấy ai chịu chụp một "pô" đây chớ? Ðến gian hàng cuối cùng thì lại càng đặc biệt hơn, xiết cái thòng lọng tròng vào cổ khách hàng chặt hơn, vậy mà không một ai dám hở môi từ chối hết. Ðó là đồng ý trả tiền và ký nhận mua trước cuộn phim hình hay hay dở không cần biết, cuốn băng video thâu toàn bộ cuộc thi hoa hậu kỳ này.

     Không riêng gì vợ anh Hữu, tất cả những bà mẹ chừng như cũng... chưa sáng mắt ra. Họ cứ đổ xô vào mua sắm. Trong khi những đấng phu quân, ngoại trừ một vài người có tiền thuê cả tắc-xí-đồ mặc vào người cho oai vệ, hầu hết đều tỏ ra ngán ngẩm sự đời. Nhiều trự ngồi thừ người một đống. Kể như đã muộn rồi. Nhưng vì thương vợ, thương con mà phải tiếp tục chiều lòng vậy thôi. Biết là không thể nói "đừng" với đàn bà con gái về những gì liên hệ đến hoặc làm tăng thêm sắc đẹp. Từ nghìn xưa kia, từ thời vua chúa Ai Cập cho đến các triều đại vương đế Trung Hoa, có lẽ không có bà nào cô nào thoát khỏi cái định luật truyền kiếp này.

     Suốt ngày thứ bảy và buổi sáng ngày chủ nhật, "ban giám khảo" giữ luôn đám "hoa khôi bất đắc dĩ" để... làm việc. Trong phòng kín. Không cho cha mẹ đi theo. Trừ những giờ giấc ấn định cho buổi trình diễn ở phút cuối. Biết là họ chẳng dám làm điều gì xằng bậy, họ chỉ giữ bí mật thôi, nên các đấng phụ huynh cũng an tâm. Bí mật? Phải, bí mật nhà nghề! Nghề nào cũng lắm công phu, cho nên đều có những bí mật riêng cần phải giữ. Tổ dạy vậy. Vì nếu không giữ thiệt kỹ thì không chóng thì chầy, sớm muộn gì cũng có một "hãng chế tạo hoa hậu" khác nhảy ra cạnh tranh. Xứ tự do dân chủ mà. Ai muốn làm giàu thì bỏ tiền, bỏ vốn ra kinh doanh. Ngay cả trên sắc đẹp của phụ nữ lại càng hay. Ngay cả trên lòng tin của mọi người thì càng giỏi. Không có gì gọi là xa xỉ, phù phiếm hết. Cũng không có gì gọi là vô nhân đạo hết. Khi người ta nói đến chuyện đếm tiền bỏ hầu bao.

     Nhưng vợ anh Hữu thì khác, chị không giữ kín được nỗi sung sướng, vinh hạnh riêng tư của mình khi có đứa con gái đi dự thi hoa hậu. Trong những buổi đi ăn trưa, ăn chiều ở các hàng quán Việt Nam chị hay khoe với mấy bà chủ tiệm:

     - Chị biết hôn, tụi này không phải ở đây, mà là ở xa mới đến. Nói thiệt chị nghe, tụi em đang đưa con nhỏ con gái đi dự thi hoa hậu học trò của tiểu bang nhà, đang tổ chức ở thành phố này nè. Chớ chị ở ngay đây mà chị không biết gì hết sao?

     - Ðâu có nghe ai thông báo, thông biếc gì đâu. Với lại tụi này tối ngày lo làm ăn đầu tắt mặt tối anh chị ơi, không có một chút thì giờ rảnh rỗi để mà theo dõi tin tức, thời cuộc chi hết. Nói thiệt khổ, nếu rủi mà có ăn cướp đánh phá nhà băng kế bên tiệm đây, ngay bây giờ chắc tui cũng không hay. Rồi sao, cháu nó có giựt giải giựt giếc gì với người ta chưa?

     - Dạ, cháu được vô top five cho ba bộ môn trong số sáu bộ môn dự thi, chị. Ðể coi, học vấn nè, thời trang áo tắm nè, và nghệ thuật ăn nói. Còn bộ môn thứ bảy là thi chụp hình ăn ảnh, thì con em không có dự. Em chỉ mong trong ba bộ môn được chấm vô chung kết đó nó giựt được một cái là em mừng. Chớ còn giải hoa hậu toàn bộ coi bộ khó quá chị ơi. Con mình cũng đâu có đẹp đẽ gì hơn ai, nếu đem so với tụi Mỹ.

     - Mà làm sao chị đem con chị vô thi được hay vậy? Ðâu bà bày cho tui nghe coi!

     - Thì tụi này cũng đâu có làm cái mốc xì gì đâu, chị. Toàn là cô giáo, thầy giáo ở trong trường nó sắp đặt hết trơn. Rồi họ tự động gửi giấy tờ về nhà mình.

     - Dễ như vậy sao? Chị thiệt không có gửi gấm nó cho ông nào, bà nào hết hả?

     - Thiệt mà. Chuyện hên thiệt là hên, tỉ như mưa trên trời rơi xuống đất vậy chị à.

     Anh Hữu định nói với bà chủ tiệm rằng: "Ở đó mà hên, xui cùng mình tận mạng thì có. Ðừng có nghe lời vợ tôi mà bị mắc móp bà chị ơi!" Nhưng anh biết, có nói cho mấy bả cũng không tin nếu con gái bả được lọt vô sổ... phong thần. Anh cứ cười thầm trong bụng. Ðàn bà sao mà hay nhẹ dạ. Cứ hay thả bóng bắt hình với sắc đẹp của chính mình và ngay cả của con gái mình nữa. Chẳng lẽ mấy bà mấy cô không tự biết mình xấu hay đẹp đến mức độ nào hay sao? Hình như đối với mấy bà, chuyện "em là cô gái trời bắt xấu" là chuyện không có thực, ba xạo?

     Chương trình chính thức cho buổi trình diễn hoa hậu, có đài ti-vi địa phương trực tiếp phát hình, bắt đầu từ 8 giờ tối. Quan khách gồm hầu hết là phụ huynh học sinh và một số ít khán thính giả mua vé vào cửa tại thành phố. Sân khấu được trình bày rất mỹ thuật, huy hoàng, và rực rỡ không thua gì những nơi dùng làm chỗ tranh tài cho các giải hoa hậu chuyên nghiệp, professional .

     Mở màn là một điệu ca vũ hỗn hợp do sự đóng góp của tất cả các sinh viên và học sinh trung học. Ðược chia làm hai nhóm. Nhóm xanh vì mặc sơ mi trắng với jupe xanh. Và nhóm đỏ với sơ mi trắng, jupe đỏ. Có những đoạn ca sô-lô. Có những đoạn vừa đồng ca lại vừa sát cánh nhau đồng loạt biểu diễn những màn đá chân, co đầu gối. Quay sang hướng này quật sang hướng kia. Giống giống như những màn nhảy opera thời xưa, hay được trình diễn ở thành phố New York. Rất là nhịp nhàng, đồng bộ, ăn khớp. Phải công nhận những người đã bỏ công ra huấn luyện, tập dợt, và điều khiển màn vũ một cách chớp nhoáng này là những kẻ có tài, giàu kinh nghiệm. Ðâu phải chuyện tập hợp khơi khơi một hai trăm nữ sinh đủ mọi thành phần, khác biệt nhau từ cá tính riêng biệt đến tập quán địa phương, rồi biến tất cả thành những vũ công trong một sớm một chiều là chuyện dễ. Bởi vậy mới có vấn đề giữ bí mật nhà nghề. Nhớ hồi nào tập dợt một màn trình diễn văn nghệ Tết ở học đường thì đủ biết. Bao nhiêu ngày liên tiếp cho một vũ điệu đồng quê? Với năm bảy nữ sinh thôi chớ đừng nói cả chục, hàng trăm!

     Tiếp theo đó là màn trình diện những hoa hậu tí hon cho bậc trung học đệ nhất cấp, tiểu học, và mẫu giáo. Chỉ những bé tí giựt giải đầu cho từng bộ môn, đã được chấm sẵn trước hồi nào không biết, mới được phép đăng đàn. Vương miện mua sẵn gắn sẵn lúc nào cũng nằm gọn trên mái tóc. Nhận thêm một cái cúp có tượng đồng oscar giả hiệu làm bằng plastic. Thế thôi. Vậy mà như tất cả vinh hạnh, hân hoan đã chất chứa ngất trời trong đó. Rồi đến á hậu, hoa hậu. Cũng vậy. Tuy cái cúp có phần cao lớn hơn một chút. Ảnh hưởng đến những tràng pháo tay, như được kéo dài lâu hơn một chút.

     Kế đến, bắt đầu hấp dẫn hơn, những top five của từng bộ môn của học trò lớn được kêu lên trình làng. Vì là sinh viên và học sinh trung học lẫn lộn, nên sự cách biệt về vóc dáng giữa những đứa học trò lớp 9 và những cô sinh viên năm thứ nhì, thứ ba rất là rõ ràng. Nhiều đứa trông như mới vừa dứt sữa, còn nhiều đứa lại giống như gái hai ba con. Chẳng biết mấy con mắt của các vị trong "ban giám khảo" phải chấm điểm ra sao? Chiếm giải nhứt và giải nhì thì mới được tặng cúp. Hàng thứ ba trở lui thì chỉ biết lủi thủi bước vào trong. Nhiều đứa buồn xo, rưng rưng nước mắt.

     Xen kẽ với những lần phát cúp cho từng bộ môn là những màn trình diễn tài năng thiên phú. Những xuất sắc cá nhân. Nào là đơn ca. Nào là độc vũ. Nào là ảo thuật. Nào là biểu diễn dương cầm... Tất cả đều được chấm dứt bằng những tràng pháo tay vang dội.

     Sau ba lần đăng đàn cho ba bộ môn được vô chung kết, top five , bé Thủy Tiên, con gái anh chị Hữu chỉ giựt được một cái cúp hạng nhì. Vợ anh Hữu quay sang chồng, bĩu môi:

     - Xí, tụi nó tính điểm ăn gian. Ðể cho con nhỏ Mỹ đen thắng giải hạng nhứt thời trang áo tắm là không công bằng.

     Anh Hữu ôn tồn phụ họa:

     - Ừa, anh cũng thấy như vậy. Nhưng, nếu nói đúng hơn thì vóc dáng của ba đứa Mỹ trắng kia xét ra cũng đâu thua gì con mình chớ. Chính ba đứa đó và cha mẹ của tụi nó mới là những người đáng thương hơn...

     Thấy vợ anh tỏ vẻ không bằng lòng với lời giải bày đó, anh chuyển sang đề tài khác:

     - Chắc sắp đến phần trình diễn áo dạ tiệc. Thôi em hãy ngồi tạm ở đây một mình nghen, đã đến giờ anh phải chạy ra phía sau hậu trường với con. Nè, em giữ máy chụp hình này cho anh, lúc nào thấy cha con anh bước lên sân khấu thì em cứ nhắm chừng bấm tới tấp vậy. Thế nào trong mười tấm cũng sẽ có một vài tấm coi được.

     - Nhớ dặn con Thủy Tiên lúc đi ra sân khấu phải để ý coi chừng mũi giày. Ðá nhẹ một cái trước khi bước, đừng có vừa đi vừa đạp lên áo mà té bất tử đó.

     - Ừa. Anh biết rồi.

     Anh Hữu lần qua kẽ giữa của hai hàng ghế, lẻn ra ngoài bằng cánh cửa lớn bên hông phòng ball room. Ði men theo hành lang dài đến cuối dãy, rồi quẹo sang trái mới lọt vào hậu trường. Một phòng khác rộng lớn như sân chơi bóng rỗ. Anh thấy hầu hết thí sinh dự tuyển đều đã sùng sình trong những chiếc áo dạ tiệc và đứng vào vị trí của mình, xếp thành hai hàng dài hai bên vách tường. Bên cạnh những người đàn ông đứng tuổi, nếu không là cha thì chắc chắn phải là người giám hộ. Số người mặc tắc-xí-đồ trông sang trọng như những bồi bàn của... Tây bỗng nhiên tăng lên rất đông, có thể nói ngang ngửa với số người mặc vét-tông. Xen vào đám đông, anh Hữu đi tìm con anh. Ðể dễ dàng hơn, anh dò theo bảng số thứ tự đeo bên hông của các thí sinh thì biết mình sẽ phải đi tới hay tháo lui. Nhưng đến chỗ phải dừng chân thì con số bỗng nhiên bị đứt khoảng, nhảy vọt. Thì ra con anh và cô bạn gái đứng kế bên vừa mới rời sân khấu, nên đã chưa kịp thay bộ đồ xanh trắng đỏ. Ðợi một hồi lâu, anh mới thấy con anh trong phòng sửa soạn, son phấn bước ra. Duyên dáng, rực rỡ trong cái áo dài dạ tiệc bằng sa-teng trắng, không khác gì một cô dâu trong cái áo cưới đắc tiền ở các xứ Tây phương. Và anh là người cha sắp sửa gả, give away , con gái mình. Anh chạy lại với Thủy Tiên, hỏi:

     - Có vui không con?

     - Vui lắm ba!

     - Còn cô bạn của con đâu?

     - Susan cũng sẽ tới ngay bây giờ, ba. Ba biết hôn, con nhỏ đó giàu lắm. Ba của nó là chủ hãng bán xe Ford ở thành phố này đó. Nó nói năm rồi nó cũng có đi dự thi như vầy và chiếm được giải á hậu.

     - Thiệt có chuyện như vậy à?

     Anh Hữu định bụng sẽ chào hỏi ông chủ hãng xe Ford, ba của Susan. Bề gì Susan cũng là bạn thân nhất của Thủy Tiên trong đám bạn mới này. Nhưng tới chừng giáp mặt, anh cảm thấy ông tướng xe hơi to con, bụng phệ coi bộ không coi thiên hạ vào đâu hết, nên thôi. Mà có làm chủ mười hãng xe hay là triệu phú gì gì đi nữa thì bây giờ vẫn phải xếp hàng chờ kêu tên dài dài như mọi người khác... Ðộ nửa giờ sau, anh Hữu nghe tiếng người xướng ngôn viên trên máy phóng thanh:

     - Thí sinh kế tiếp là cô Thủy Tiên Nguyễn, dưới sự dìu dắt của cha cô là ông Hữu Nguyễn. Cô cao 5 bộ 5 inches, nặng 110 cân, có biệt tài về... Mộng ước của cô là sẽ trở thành...

     Anh Hữu trang trọng xếp bàn tay đặt vòng lên bụng mình cho con gái vin vào. Cả hai bước ra sân khấu dưới ánh đèn huy hoàng màu sắc. Trong những tràng pháo tay vang dội. Cùng những ánh chớp không ngừng của các máy chụp hình, trong số có một cái đặc biệt hơn từ phía vợ anh. Thật ra trong giây phút đó, khác với những người Mỹ, anh Hữu chẳng thấy gì làm vinh hạnh, vui sướng hết. Anh chỉ cảm thấy nó giả tạo, vô lý làm sao? Ðang làm ăn ngon lành bỗng nhiên lại bị người ta bắt phải bỏ tiền ra, để mua một cái cơ hội chường mặt lên ánh đèn màu cho bàng quang chiêm ngưỡng, chấm điểm! Nhưng dù có thích hay không thích, vở tuồng của anh chỉ được đóng đến đó là chấm dứt. Anh bước xuống những bậc tam cấp, rời khỏi sân khấu, và đi lại dãy ghế ngồi kế bên vợ anh như cũ. Trong khi Thủy Tiên quay trở vào trong hậu trường để chuẩn bị màn trình diễn tập thể một lần cuối. Anh hỏi vợ:

     - Sao, em thấy cha con anh đi đứng có đường hoàng, bệ vệ như người ta không?

     - Ai thèm để ý đến anh mà ở đó đường hoàng, bệ vệ. Người ta chỉ nhắm vào con Thủy Tiên xem tướng đi, tướng đứng của nó có yêu kiều diễm lệ hay không thôi. Em thấy nó ăn đèn dữ lắm, trông nó mỹ miều sắc sảo hơn nhiều đứa khác. Nhưng tiếc một điểm là nụ cười của nó không được tự nhiên.

     - Coi vậy chớ đâu phải dễ đóng kịch em. Không có chuyện gì bắt tức cười hết mà biểu nó nhe cái răng khễnh ra hoài cũng khó. Em mà bước lên đó chưa chắc em đã làm được như nó.

     Anh Hữu nghe một tiếng "hứ" nhỏ bên tai...

     Lớp trình diễn cá nhân coi như đã xong. Bây giờ tất cả các thí sinh đã được điều động tập hợp trở lại tại sân khấu. Không còn xanh, đỏ nữa nhưng cũng xếp thành hai nhóm riêng rẽ hai bên. Ðứng trên các bậc tam cấp dài làm bằng gỗ, như những băng dài trong sân đá banh. Nhưng, giờ phút hồi hộp đã đến. Theo tiếng gọi của xướng ngôn viên, từ trong bầy thiên nga... ngỗn ngang trăm mối tơ vò trong bụng đó, hai mươi thí sinh thực sự được chấm vào chung kết sẽ lần lượt bước ra. Kêu đến đứa thứ mười lăm rồi mà không có tên con mình, vợ anh Hữu thấy tay chưn mình bắt đầu lạnh ngắt. Chị tìm lấy tay chồng, nắm chặt cho bớt phần hồi hộp. Nhạc vẫn trổi đều đặn và tên gọi cũng tuần tự vang lên trên hệ thống âm thanh. Chị cảm thấy bực bội với "ban giám khảo." Rõ tụi này đàng điếm, gian lận. Nhưng, đến đứa thứ mười chín, thì chị không còn kềm giữ được nữa. Chị cảm thấy nhẹ nhỏm cả người, quay qua ôm choàng lấy chồng chị, mừng vui:

     - Hay hôn, em nói với anh là thế nào con Thủy Tiên của mình cũng được vô chung kết. Quả không sai.

     Anh Hữu định hỏi: "Em nói với anh hồi nào?" Nhưng thôi. Sợ vô tình cắt đứt niềm vui của vợ. Anh phụ họa bằng một cái xiết nhẹ vòng ôm. Hơn một trăm thí sinh không được chọn, giờ phải buồn tủi chuồng lẹ vô phía sau hậu trường. Tội nghiệp quá, anh Hữu thấy nhiều cô ôm mặt khóc ngon ơ. Làm anh xốn xang nghĩ tới thân phận sắp tới của con mình. Còn một cửa ải nữa để bước qua. Vì khác với những cuộc thi hoa hậu chuyên nghiệp, thường phải qua đợt 12 rồi 5, đằng này để rút gọn chương trình, xướng ngôn viên cho biết á hậu và hoa hậu sẽ được chọn thẳng từ hai mươi thí sinh vừa mới được vào chung kết.

     Tiếp theo đó là phần giới thiệu cựu hoa hậu. Với đầy đủ tiểu sử và quá trình hoạt động cho... "công ty chế tạo hoa hậu." Cựu hoa hậu đương nhiên sẽ là người có cái hân hạnh đứng ra cài cái vương miện hoa hậu cho tân hoa hậu. Cô dạo bước một vòng, dơ tay vẫy vẫy như những minh tinh màn bạc, rồi trở về ngồi trên chiếc ngai vàng của mình, được đặt ngay giữa và ở trên tầng cao nhất của những bậc tam cấp.

     Những điệu trống thúc giục liên hồi của khúc nhạc đệm đã làm mọi người đang hồi hộp càng hồi hộp thêm. Vì phải thấp thỏm chờ đợi cái giây phút tuyên bố ai là á hậu và ai là hoa hậu. Trong số hai mươi thí sinh đang đứng thành một hàng ngang kia, cô nào cũng có thể là á hậu hoặc hoa hậu hết. Nhưng, tiếp theo đó, từng cô một không theo thứ tự đứng trong hàng mà theo vần abc, một lần nữa được kêu tên. Một lần nữa được bước nhích tới đứng riêng rẽ một mình trước hàng hoa khôi đồng hạng. Một lần nữa được bàng dân thiên hạ ngắm nhìn, vỗ tay hoan hô rầm rộ. Và một lần nữa được "ban giám khảo" chấm điểm. Rồi, những gì mọi người chờ đợi đột nhiên đến: Mary Ann Smith, á hậu... Và Susan Ford Nicolas, hoa hậu...

     Tuy có tiếng xì xào, khen chê trong đám đông, nhưng có lẽ không mấy ai lấy làm ngạc nhiên về cái kết quả vừa tuyên bố đó. Chức á hậu được trao cho một cô Mỹ đen có mái tóc kéo dài ra và nước da hơi mởn mởn. Còn chức hoa hậu trao cho cô Mỹ trắng tóc vàng đứng kế bên Thủy Tiên, tức Susan, con gái của ông chủ hãng xe Ford. Vương miện hoa hậu được cài lên và những giọt nước mắt mừng vui rưng rưng nhỏ xuống. Tiểu sử và quá trình hoạt động cho... "công ty sản xuất hoa hậu" được đề cao. Anh Hữu để ý nghe rõ từng tiếng một, rồi quay sang an ủi vợ:

     - Em có nghe người xướng ngôn viên nói gì không? Con nhỏ được giải hoa hậu là đứa chiếm giải á hậu của năm rồi! Cộng thêm năm ngàn đô-la tiền bảo trợ. Còn con nhỏ giựt giải á hậu là đứa được nhiều hãng xưởng bảo trợ nhứt trong năm nay. Tiền bảo trợ của nó dâng cho "hãng thầu hoa hậu" đã lên đến tám ngàn đô-la lận. Mình chỉ đóng cho con mình có ba trăm đồng lệ phí mà được vào chung kết, có lãnh cái cúp chung kết, là quá đủ rồi. Ðòi hỏi gì nữa.

     - Thì em cũng biết như vậy.

     Vợ chồng anh Hữu rời hàng ghế bước tới đón con và đưa ngay lên phòng trọ. Thủy Tiên không có ý gì buồn và còn bảo: "Hai đứa tụi nó rất xứng đáng!" Chờ cho Thủy Tiên thay chiếc áo dạ tiệc, mặc lại bộ đồ jean thường ngày cho thoải mái, anh chị Hữu lật đật thu dọn hành trang xuống lobby, làm thủ tục trả phòng và về ngay trong đêm. Mười một giờ hơn, theo đồng hồ chỉ trên tường.

     Suốt đoạn đường về, trong khi vợ và con gái anh ngủ gà ngủ gật, anh Hữu cứ bâng khuâng suy nghĩ hoài. Thì ra chuyện "thi hoa hậu" chẳng qua chỉ là chuyện làm ăn hợp pháp trong một "ngành kỹ nghệ thương mại" ở các nước tân tiến mà thôi. Nếu anh có gan, dám nhảy ra làm một hãng "chế tạo hoa hậu" riêng cho dân tị nạn mình thì anh cũng có thể hốt bạc như ai. Hằng năm, anh chỉ cần kéo cái "đám xiệc" của mình đi trình diễn vòng vòng ở các cộng đồng tị nạn, như những ban nhạc sống, là đủ làm giàu rồi.

     Xa hơn một bước nữa, anh có thể trở về Việt Nam. Ði dạo từng tỉnh một từ mũi Cà Mau ra đến ải Nam Quan. Trong một năm, hễ có bao nhiêu tỉnh là có bấy nhiêu hoa hậu. Rồi hoa hậu ba miền Huế, Sài Gòn, Hà Nội. Và cả đến hoa hậu toàn quốc nữa chi. Cũng là một hình thức giúp nước, phát triển kinh tế vậy?

     Nhưng anh bỗng giựt mình, không được đâu! Ðảng và nhà nước ta xưa nay thường hay tráo trở, lật lọng. Mang tiền về Việt Nam kinh doanh kiểu này thì trước sau gì cũng mất cả chì lẫn chài. Cứ tưởng tượng đương làm ăn ngon lành mà đảng và nhà nước ta cứ mắt nhắm mắt mở đi theo đường lối của Mác-Lê, quốc hữu hóa "hãng chế tạo hoa hậu" của anh thì còn gì cơ nghiệp? Hoặc giả đảng và nhà nước ta không thèm quốc hữu hóa đi nữa mà, điêu ngoa hơn, bắt anh vô "hợp tác xã chế tạo hoa hậu" thì hậu quả biết sao lường? Có phải đảng và nhà nước ta xưa nay không khác gì con cọp chỉ biết ăn thịt sống. Và nếu không có những miếng thịt sống "hợp tác xã" đó thì làm sao cọp ta có thể gầm lên những cơn "tham nhũng" cho nổi đây chớ. Chừng đó thay vì năm trăm hay một ngàn đô, đảng và nhà nước ta ra lịnh cho anh phải vơ vét cho được năm chục hay một trăm cây thì chỉ có nước... phải bỏ nước ra đi lần nữa. Thôi, hễ con cọp cộng sản còn đó thì anh cũng chẳng dại gì về nước vuốt râu hùm!

     Nhưng, câu chuyện hoa hậu xứ dương đào đến đây nào đã hết đâu. Vì độ một tuần sau, chiều ngày ấy đi làm về, anh Hữu vừa mới lót tót bước vô nhà thì vợ anh khoe:

     - Anh coi nè, khi không mà nó gửi thư tiếp cho con Thủy Tiên và yêu cầu con mình giới thiệu cho "công ty bọn nó" một đứa khác, để đi dự thi trong năm tới. Thiệt tình...

     Vậy thì rõ ràng làm gì có vụ cô giáo, thầy giáo giới thiệu? Anh Hữu lại sợ vợ anh cầm lòng không đậu, dám bắt chước vợ ông chủ hãng xe Ford ở Charlotte, xúi chồng dẫn con gái đi thi một lần nữa, cho nên anh lắp bắp đề nghị:

     - Nè, chắc ăn hơn hết là em cứ tìm mấy bà Việt Nam quanh quẩn đâu đây. Em coi có con mẹ nào mà em ghét nhứt đó, rồi hãy điền tên con của con mẻ vào tấm giấy này.

     Vậy mà vợ anh vẫn chưa đồng ý:

     - Hừ, phải lựa người nào mình thương thì mình mới giới thiệu cho chớ.

     Anh Hữu chịu thua luôn. Rõ hoa hậu với đàn bà...

   back to top

08. ÐƯỜNG LÊN DỐC NÚI

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Thường, con người ta hay đứng núi này trông núi nọ. Thân tâm phàm tục mà cứ... hễ được voi thì lại đòi tiên. Túi tham không đáy. Lòng ham muốn như chẳng bao giờ vơi. Nhớ hồi nào tay lấm chân bùn đầu tắt mặt tối, làm hùn hục như trâu như chó, thì cái ước mơ duy nhất có lẽ là: sẽ có một ngày nào đó... học hành thi đỗ ra làm quan. Áo gấm về làng. Một người làm quan cả họ được nhờ mà. Và lẽ dĩ nhiên, không phải là làm quan dưới thời Cộng hòa. Vì làm quan dưới thời Cộng hòa là kể như nghèo khạc ra tro, nghèo ho ra máu. Nếu không biết tìm đi cổng hậu, xin vào những chỗ có nhẫm xà, có đồng vô đồng ra.

     Sang bên Mỹ này cũng vậy. Ai ai cũng có một thuở ban đầu gian truân khổ ải, tróc vảy trầy vi, cố đem hết sức lao động của mình ra để đổi lấy bát cơm. Một số ít may mắn hơn, đem đổi lấy nhà lầu xe hơi. Nhưng cái ước mơ duy nhất thì hình như cũng chẳng có mấy gì thay đổi. Rằng có một ngày nào đó... học hành thi đỗ ra làm kỹ sư. Rạng mặt rỡ mày với thiên hạ. Nhưng kỹ sư bên này lại khác với làm quan ta hồi xưa ở một điểm, là cả họ chẳng thấy ai mảy may được nhờ. Họa hoằn lắm thì cũng chỉ được có mỗi một cái là tấm thân mình nhàn hạ. Hàng ngày thắt cà-ra-hoách nhảy vô văn phòng, ngồi bàn viết, vắt chân tréo nguẩy, chổng đảnh với người ta.

     Ðó là trường hợp của Trách. Cái tên, Trách, mới nghe qua lần đầu mười người như một, ai ai cũng mường tượng như có cái gì đó thật là kỳ khu, quái đản ở nơi con người chàng. Như hầu hết bạn bè của chàng đều đã tiết lộ như vậy. Nhưng, trong thâm tâm, chàng chẳng bao giờ dám trách phiền cha mẹ đã đặt cho mình cái tên không mấy thanh tao nhã nhặn đó. Mà trái lại, chàng còn phải mang ơn sâu nghĩa nặng nữa là đằng khác. Tại vì chàng thuộc dòng Thân Trọng, một dòng dõi danh tiếng của miền cố đô Huế. Họ Thân (Trọng) không dân (toàn làm quan), họ Hà (Thúc) không nhà (toàn ở nhà chính phủ). Sang cả lắm. Chẳng khác gì những người cung nữ luôn ở công thự, ngự công xa, xài công quỹ và, hiển nhiên, làm đĩ công khai. Thành thử đôi khi cũng tiếng tăm lắm lắm. Riêng phần Trách, nội cái tên Thân Trọng Trách của chàng không thôi, cũng phải nói rất là văn hoa chữ nghĩa. So với các Tôn Thất, Tôn Nữ thì cũng rất "mệ," rất "mụ" đó chớ!

     Khác với bàng quan thiên hạ vốn là khách tục trần vẫn hay mắc cái nghiệp được voi thì lại đòi tiên, bản thân Trách, là người coi như đã được voi, chỉ thèm đòi trâu ngựa. Vì chàng thấy sau một thời gian dài làm việc ở văn phòng, với bút mực giấy tờ chồng chất, với máy computer vô hồn thiếu hẳn tình người, với cô thơ ký có cặp đùi trắng muốt, với bốn bức tường kín mít lặng thinh... chàng thấy người mình như nhũn ra, yếu xìu. Mấy con chuột hồi nào nằm sắp lớp trên cánh tay, trên ngực, bụng, bắp đùi, bắp chuối đã từ từ lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rún mà bò đi đâu mất hết. Và người chàng càng lúc càng nặng cân ra, không chóng thì chầy, có ngày chàng sẽ trở thành chú Hỏa. Rồi chàng cũng sẽ chết vì bệnh đứt gân máu trong nay mai.

     Chàng rất thèm mỗi ngày được nhảy ra góc đường đứng vá xe, hay trèo lên xích lô đạp đạp vòng quanh thành phố, hoặc còng lưng kéo xe ba gác khắp các vỉa hè... Nghĩa là làm cái gì cũng được, miễn sao vận dụng chân tay cho máu chảy về tim, cho hệ thống tuần hoàn lưu thông không trở ngại. Vì nếu không làm được như vậy thì chàng sẽ chết bất đắc kỳ tử. Như bác sĩ đã tiên liệu! Bằng những kiến thức vay mượn từ đời này sang đời khác! Chưa hẳn đã là chân lý, nhưng chàng phải nghe theo! Khổ thay, ở bên này không có chỗ vá xe, cũng không có xe xích lô hay xe ba gác cho chàng. Cho nên Trách đành phải áp dụng một phương thức khác, tuy không hấp dẫn mấy vì chẳng hề sinh lợi cho chàng đến một xu, là phải chạy bộ theo kiểu Mỹ, jogging . Mỗi ngày, phải có tối thiểu nửa tiếng, hay một dặm rưỡi đoạn trường với cái vận tốc rùa bò của tấm thân đã bắt đầu bệ vệ, rung rinh.

     Tuy nhiên, cái mập ú như heo kia không mấy sợ mà chỉ sợ có mỗi cái lên tăng-xông máu. Cả cuộc đời chàng, hơn hai mươi năm sống ở Việt Nam, Trách có bao giờ biết đo máu một lần là gì. Và những năm đầu ở bên này cũng vậy, chàng không có thì giờ để ý đến mấy chuyện lẩm cẩm đó. Tuổi chàng đang độ thanh xuân, lại độc thân, vui tính, làm tình mạnh thì làm gì có chuyện lên máu. Cho đến một ngày thật hết sức tình cờ, chàng khám phá ra, không phải mình mà là người bạn Mỹ làm kế bên, sắp sửa chết đến nơi...

     Trách hỏi cô thơ ký:

     - Ê, Diane này, nảy giờ mầy có thấy thằng Jim ở đâu không, sao tao