Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Tập Ký Sự Văn Học: Một Lần Xuống Núi
Nguyễn Tấn Hưng
Viên Giác xuất xản 1993
Mục Lục
00. Tựa của Phạm Thăng
01. Một Lần Xuống Núi
02. Ðôi Lời Về Văn Chương Miệt Vườn
03. Bắt Mạch Ông Lang...
04. Nói Chuyện Với "Ðàn Em"
05. Văn Võ Song Toàn
06. Một Chút Hồng Hồng
07. Tây Du Ký
08. Tính Chất Chung Quyết Trong Văn Chương Miệt Vườn
09. Tây Du Ký, Ðoạn Kết
10. Nói Chuyện Với "Ðàn Anh"
11. Phỏng Vấn Nguyễn Tấn Hưng
back to top
00. VÀI LỜI GIAO CẢM
PHẠM THĂNG
Tôi đang ngồi lúi húi xới đất cho líp cải xanh ngoài
vườn nhỏ sau nhà thì nghe tiếng vợ gọi vui vẻ:
- Có thư và sách nè anh!
- Ủa, anh phát thơ đi sớm quá hả? Của ai vậy em?
- Ơ... ơ... có một bao bì lớn của Nguyễn Tấn Hưng.
Chắc là sách.
Mở bao bì ra, đúng là sách của ông Trùm "Một." Nhưng chưa
phải là sách, chỉ là xấp bản thảo còn nguyên vẹn mùi thơm
của giấy. Một lá thơ rớt ra. Ðọc vội vàng, tôi cảm
thấy "quây mòng mòng" còn hơn... cuốc đất mấy ngày nay.
Tôi nói lầm thầm:
"Ác thiệt! Chàng nầy sáng tác hăng quá, rồi lại nhờ mình
viết tựa! Thà là cuốc đất mười bữa, nửa tháng còn
sướng hơn! Biết ổng viết cái gì đây? nếu nói về
đồng quê, miệt vườn thì mình còn hụ hợ được, chớ
viết chuyện ra khơi, biển cả... thì mình bù trất
rồi... Ông nầy chắc dư biết viết tựa khó ngàn lần
viết bạt, phải nắm vững văn phong, văn khí của tác giả." Mà
với Nguyễn Tấn Hưng, anh Mai Thảo đã nói rất nhiều và
đầy đủ trong lời Vào Tập của hai cuốn sách đầu tay của
Hưng:
Ðọc hết Một Chuyến Ra Khơi, đọc tiếp tới Một Ðời
Ðể Học, tôi thấy được những gì? Thấy được mấy
điều tôi cùng yêu mến. Trước hết là tấm lòng Nguyễn
Tấn Hưng đối với văn chương, ở phía có văn chương.
Ðó là hình thái của một gắn bó son sắt, thủy chung, qua
thời gian không có nếp nhăn, qua đổi rời vẫn một đời
bền vững. Ở được với văn chương như vậy đã là một
ở đẹp. Ðẹp và đầy. Cái ở không nửa đường đứt
gánh, không lúc còn lúc mất, nói cách khác, một thường
xuyên ở, một mãi mãi cùng, tỏ hiện trong văn truyện Nguyễn
Tấn Hưng thành một thống nhất và một liên tục viết trước
sau không bao giờ thay đổi, mặc dầu thân thế người thì
đã không biết bao nhiêu thăng trầm và đổi thay.
Ðiều yêu mến thứ hai, cũng là điều cắt nghĩa tại sao,
viết lại ngay cùng với bắt đầu lại đời sống trên quê
người và viết rất đều tay, rất chuyên cần, tới giờ
Nguyễn Tấn Hưng mới hoàn thành được xong hai tác phẩm.
Ðó là cách viết, lối viết Nguyễn Tấn Hưng hết sức
nghiêm chỉnh, kỹ lưỡng vô chừng
...
Vậy là đủ "một Nguyễn Tấn Hưng" rồi, và còn gì để
viết nữa đây? Chỉ liếc thấy xấp giấy chi chít chữ,
chưa thấy lá thơ, vợ tôi đem tôi về thực tế:
- Anh có sách đọc ngày nay rồi đó nghen. Nhưng tới giờ
cơm rồi. Phải ăn trước đó.
Nghe vợ nhắc, tôi quên lững cái "công tác đề tựa" nặng
nề mà nhớ là mình sắp được đọc một cuốn sách mới
trinh nguyên, chưa một ai đọc trước mình, tôi ngoan ngoản
ra bàn ăn.
Vợ tôi biết tôi có tật lạ lùng là khi có cuốn sách nào
thích chí thì quên ăn và không thèm làm gì khác, và mỗi
lần tôi đọc sách, tôi nằm dài trên giường, đấp mền
tận cổ... thật nghiêm túc. Có lần tôi giải thích:
- Không có gì sung sướng cho bằng khi đọc một cuốn sách
hay, hấp dẫn mà bị... lạnh cẳng. Mình ở xứ lạnh mà.
Ðó đâu phải là tật, cũng như lúc nhỏ, chú tôi có kể cho
nghe: Mỗi lần ông tôi đọc sách (chữ nho) là ông phải ngồi
dựa vào cái gối xếp trên bộ ngựa trải chiếu hẵn hòi,
mới cầm sách đọc. Không bao giờ ông nằm võng mà đọc
sách, nơi nầy ông chỉ nằm hút thuốc, phà khói, mơ màng
thôi.
Tôi bỏ lá thơ vào hộc bàn, tạm quên, để chỉ hưởng thú
đọc sách của Ông Trùm nầy, rồi... tới đâu hay tới đó.
Vừa ở trang đầu, liếc thấy hai chữ "Miệt Vườn" tôi hơi
yên chí, lật rẹt rẹt xem sơ sơ bên trong. Phải nói rõ, đây
là cái tật. Không phải như nhiều bà, nhiều cô có tật đọc
trước mấy trang cuối cùng để biết kết quả của nhân vật
trong tiểu thuyết Quỳnh Dao, La Lan... mà tôi chỉ muốn tìm coi
có nhân vật tên John, tên Bob không? Không phải tôi kỳ thị mà
vì tôi "kỵ" đọc những chuyện mới xảy ra "hôm qua, hôm nay" mà
mình sống tạm bợ xứ người thường gặp hoài.
Tôi lật sơ để tự giải đáp thắc mắc trong tôi: Anh bạn Hưng
nầy là dân
"áo-trắng-bâu-vuông-có-viền-xanh-lật-sau-ót"
mà nói chuyện Xuống Núi, là xuống làm sao?
Nhờ lật rẹt rẹt để chợt thấy nhiều chữ in hoa, tên của
phụ nữ: Cao Bình Minh, Phan thị Trọng Tuyến, Nguyễn thị Ngọc
Diễm, Nguyễn thị Ngọc Nhung, "bốn con chuột dừa" rồi có
"múi bưởi Biên Hòa" Trần Kim Vy, theo sau có tên phụ nữ
nữa... nhảy nhót trong sách. Tôi yên chí vì biết anh bạn
trẻ nầy viết ký sự về bạn bè, trong đó có nhiều cây
viết nữ miền Nam mà từ lâu tôi được đọc trên báo
Làng
Văn
, chỉ "văn kỳ thinh, bất kiến kỳ hình..." vậy là sẽ
có những đoạn "vẽ lại" dung nhan các người đẹp rồi đây!
Mèn ơi, sao mà chàng nầy có duyên vậy? Tôi chưa hết vui
mừng khi xẹt tới trang 118 để thấy vài địa danh xứ Hoa Kỳ
in hoa: Sông Muối (Salt River), Stuart Mountain Dam... tôi hơi
ngợ, nhưng liền đó là những giòng chữ tả cảnh. A! cái
gì chớ tả cảnh là tôi mê quá rồi!
Như có lần tôi nói với bạn bè trong sách của tôi: Tôi sanh
dưới chưn con ngựa, tuổi Canh Ngọ, mang giòng máu giang hồ,
chạy mệt quên thôi, nên tôi đi đây, đi đó, từ hồi lưu
lạc xứ người có đi Âu, Á, mà xứ Cờ Hoa sát bên lại chưa
có dịp đi. Hôm nay có Nguyễn Tấn Hưng viết về
Một Lần
Xuống Núi
, dẫn mình và độc giả đi theo, (không tốn xu nào
đó nhe), tôi mừng vì yên chí, ôm xấp bản thảo lên giường,
đấp mền ngay ngắn, sung sướng theo chưn bạn trẻ
nầy... xuống núi.
Tôi "nhập cuộc" với Nguyễn Tấn Hưng liền khi đọc những
cuộc hội họp bạn bè trong một khung cảnh thật văn nghệ,
với những khuôn mặt mà tôi có biết tên tuổi. Hưng có
lối kể chuyện trung thực, kể một lèo, không cần giũa
gọt mà sao nghe như có âm thanh trong trang sách, có hình tượng
nhảy múa trước mặt, ví dụ như trang 11, 12, Hưng viết trơn
tuột mà độc giả tưởng chừng như có một người đẹp đất
Thần Kinh duyên dáng là Hoàng Bắc đứng trước Hưng để chất
vấn... và cậu ta đang mĩm cười... duyên để vừa phân trần,
vừa ga-lăng, nịnh đầm:
-
"Tại vì tôi chưa biết chị nên chưa dám nhắc đến
chị thôi, sợ chị phiền bất tử..." Biết đâu sau khi đọc
bài này lại có người chẳng khiếu nại tôi rằng "khi răng mà
không bênh mấy o "lớp lớp phù sa" của mình, ai lại dựa
hơi mấy mụ nói giọng cay xè như bún bò..., câu nào câu nấy
cứ "un point final" bằng... "nhá, nhá." Thấy chưa chị Hoàng
Bắc, lần sau chị làm ơn đừng có kê tui nữa nhá. Nhưng
thực sự tôi nhá chị Hoàng Bắc ở một chỗ khác tuyệt vời
hơn. Số là tôi kề, sát quá thành hôn, tai chị và rất
thiệt tình hỏi "có phải chị sinh năm 1942 hôn?", chị như đi
guốc trong bụng tôi hỏi lại liền "bộ tui khai gian hả?" Cho
tới bây giờ tôi không biết phải khen chị Hoàng Bắc giữa
đẹp với trẻ cái nào trước hà. Mà thôi, tôi sợ bà con
hiểu lầm "chị chị em em" (tại tuổi tôi nhỏ hơn bả thôi nghen)
nói mãi "thành cà rem nước dừa"
...
Cứ đọc đoạn trên, độc giả sẽ hình dung một Nguyễn Tấn
Hưng lém lỉnh trước một nhà văn nữ miền Trung khả ái,
duyên dáng, xinh xinh.
Còn gì vui hơn khi biết "Làng Văn" có nhiều người đẹp như
vậy. Mà không phải một người, chúng ta cứ theo
chuyến
hành hương đầu đời
(lời tác giả, trang 19) để còn thấy
thêm nhiều bạn hiền nữa.
Tôi còn đang ao ước làm sao được đi thiệt, bằng xương,
bằng thịt, không phải theo chân tưởng tượng như vầy thì
tay dở đến trang "Văn Minh Miệt Vườn" để được Nguyễn
Tấn Hưng kể lại Mỹ Tho, Gò Công của Hưng, không có miệt
Long Hồ của tôi. Ðúng ra bên Cái Bè, Cai Lậy, Bến Tranh,
Chợ Gạo của Mỹ Tho có nhiều vườn hơn Long Hồ, Vũng Liêm
xứ Vãng của tôi, nhưng tác giả coi mình ở Miệt Ruộng là
khiêm nhường chăng?
Không sao, Miệt Vườn, Ruộng gì cũng được. Vì Hưng đã
đưa độc giả vào cuộc giải thích mấy chữ Văn Minh Miệt
Vườn, và đấy là bài nói chuyện tại trường Ðại học
George Mason, thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, vào ngày 25-06-1989, của
anh.
Mấy tháng vừa qua, nhà xuất bản Phù Sa do nhà văn Nguyễn
văn Ba chủ trương, đã tập họp và xuất bản 2 cuốn
TUYỂN
TẬP NHỮNG CÂY VIẾT MIỀN NAM
đã làm văn giới có lời
dị nghị: "Chà! Có mùi địa phương rồi đây!"
Giờ đây, đọc bài nói chuyện của Nguyễn Tấn Hưng mới thấy
nhà văn hải quân nầy "chịu giải thích" và có lý.
Còn đối
với người miền Nam, sở dĩ có sự rầm rộ vác bút xuống
đường là tại vì đây là lần đầu tiên trong lịch sử, dân
Nam ta mới "được" nếm mùi bỏ xứ ra đi. Dám nói nếu không
có cuộc đại loạn, đổi đời thì trong văn học Việt Nam sẽ
không có những áng văn chương, biết đâu sau này sẽ trở thành
bất hủ, cho quê hương miền Nam được viết lên từ hải
ngoại
(trang 139).
Tôi nhớ có dịp được đọc thơ của một văn hữu lớn tuổi
cũng có nói:
- Thời gian sau nầy (có nghĩa là sau khi chúng ta bỏ xứ ra đi)
có nhiều cây viết gốc miền Nam nổi lên quá. Vì các anh
mới lần đầu tiên bỏ nơi chôn nhau cắt rún, tâm trạng còn
cô đọng hình ảnh thân thương, những kỷ niệm vừa để lại
sau lưng, nên cầm viết lên là viết được ngay dễ dàng
những sự việc còn mới ràng ràng chưa phai trong ký ức...
Ðúng lắm. Tôi chịu các lập luận này. Vì cứ suy nghĩ theo
bản thân của tôi, lúc còn nhỏ, từ năm 1940, đã biết đọc
văn của
Truyền Bá, Hoa Mai, Sách Hồng
rồi leo sang
Phổ
Thông
bán nguyệt san,
Tiểu Thuyết Thứ Bảy
... của các
văn sĩ miền Bắc. Tôi còn thuộc lòng bảng Mục lục của
Phổ
Thông
: Ai lên xứ Cát, Ngựa đã thuần rồi, mời ngài
lên v.v. Tôi đọc và đã hiểu rõ văn phong miền Bắc để
khi có một chút "lợn cợn" nào không hiểu, lại hỏi chị tôi,
cô gái Nam rặc ròng. Lúc đó tôi không nghe ai bàn đến văn
phong miền Nam hay Trung, Bắc gì cả, chỉ biết là sách báo do
các nhà văn lớn: Lê văn Trương, Tchya, Ngọc Giao, Nguyễn
Triệu Luật, Ngô Tất Tố... cũng hay, cũng dễ hiểu như
Hồ Biểu Chánh, Phú Ðức...
Ai ai chúng tôi đều hăm mộ, kịp đến Hiệp định Genève 1954,
tôi được hân hạnh quen biết thêm các cụ Lãng Nhân Phùng Tất
Ðắc, Võ Ðức Diên, các ông Nguyễn Doãn Vượng, các anh Lê
văn Siêu, Vũ Bằng v.v. để được đọc và thấm thía nỗi
sầu ly hương của các anh lúc đó.
Lúc bấy giờ, những bạn cùng trang lứa tuổi tôi, chắc xúc
động nhiều với các văn nhân, ký giả, thi sĩ, nhạc sĩ miền
Bắc... các anh đang nhắc nhở vùng trời thơ ấu thân thương
của mình trong các ký sự, hồi ký, chuyện ngắn, ca
khúc... để cho chúng tôi, những bạn trẻ người Nam biết và
thương mến thêm những đền đài, núi non, sông ngòi xứ
Thăng Long, để cảm thấy thoang thoảng mùi hoa sữa (dầu chưa
thấy bao giờ) để cảm biết trong tưởng tượng thế nào là
gió heo may, mà trong Nam chỉ có gió chướng, gió bấc...
Tại sao những bài đó có sức hút như vậy? Bởi vì các văn
nghệ sĩ đó vừa "bước ra khỏi" cái nôi đầy kỷ niệm thân
yêu của mình - Tâm trạng còn mới nguyên thì lời văn, tiếng
nhạc chắc chắn còn đượm nồng tình quê hương. Các anh chờ
trở lại (theo lời Hiệp định Genève: 2 năm sẽ có Tổng tuyển
cử) mà phải chờ... chờ hoài... đến 10, 15 năm sau... lúc
đó chúng ta hết còn thấy bài nào kể lại quê Bắc nữa, cho
dầu là Vũ Bằng viết về
Miếng Ngon Hà Nội
vẫn còn
đó, anh đã hết hứng để viết về Hà Nội, mà đành
viết... chuyện trong Nam.
Các nhà văn người Nam, trước hay sau di cư 1954, viết văn,
viết báo vẫn xài giọng văn chung chung, nghĩa là không rặc
giọng Nam bộ, chỉ trừ Hồ Biểu Chánh với nhiều tiểu
thuyết:
Vì nghĩa vì tình, Cha con nghĩa nặng
v.v. Phú
Ðức với
Châu về hiệp phố
, một nhà văn lão thành
(tôi quên tên) với chuyện
Võ đông sơ-Bạch thu hà
v.v. rồi kế đến Nam Ðình Nguyễn Thế Phương, Bình Nguyên
Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên... sao họ không bị ảnh hưởng, để
đến sang đây mới có nhóm người gốc miền Nam viết với
văn phong miền Nam?
Cứ xin đan cử về tôi (xin đừng rầy tôi quá chủ quan). Từ
lúc vào "ăn cơm nhựt trình" năm 1952, rồi năm 1955 quen các ký
giả Bắc, Trung, Nam trong nhà báo, tôi có sẵn trang báo trong tay
sao không viết? mà phải đợi sang đây mới... cầm bút
lên? và khi viết lại viết với giọng đặc sệt miệt vườn?
Như đã trình bày ở trên, tôi cũng giống như anh Lê văn Siêu,
Vũ Bằng... lúc 1954. Tôi bỏ ruộng vườn, mồ mả ông bà,
sang đây... nhớ quá, lần đầu trong đời mà.
Khác hơn các anh di cư 1954 từ miền Bắc vô Nam rồi nay lại bỏ
xứ - Cái xứ sau này chỉ là tạm bợ, ít có kỷ niệm như nơi
chôn nhau cắt rún. Chúng tôi nhớ thì phải thốt lên, không
bằng lời, thì bằng lời văn mộc mạc để kể chuyện quê
mình, nơi có vườn, có ruộng, có âm thanh, có tiếng nói
của nơi đó (phải không Hưng?). Từ đó, dầu có muốn viết
theo lối văn đã thấm trong đầu từ lâu, cũng không thể nào
viết câu:
-
Nè, thằng tư Thẹo đâu rồi. In như có trái dừa rụng
sau hè. Tao nghe nó rớt cái bịch. Chạy ra lượm vô nghen
.
Chẳng lẽ với lời bà mẹ quê Nam, mà viết:
-
Tư Thẹo đâu rồi. Dường như có quả dừa rơi đánh xạt
sau vườn đấy. Mày ra nhặt vào nhé
.
Mà đâu phải chỉ có các cây viết miền Nam qua đây mới nhớ
quê, mới viết. Anh chị em miền Trung nữa chớ, nào là Võ
Ðình với
Mấy món Tết mặn mà
, một Túy Hồng với
Hạt gạo Huyền Trân
, hoặc một Huyền Châu với
Mùa
Xuân trên Gò Bồi
... (trang 139).
Tôi xin mạn phép nói lan man hơi nhiều để góp thêm ý vào
chặng hành trình thứ hai của "chàng." Bây giờ mời các bạn
nhảy phóng theo tác giả đến tiểu bang New Jersey. Hãy chạy mau
mới kịp vì anh hải quân này lái xe... ẩu lắm, mặc cho các
cô gái Mỹ ở đấy bóp kèn inh ỏi, cứ lái phom phom như lời
văn tuôn chảy nhẹ nhàng trên giấy.
Nhờ tác giả dẫn độc giả đi từ trang 29 đến trang 41 để
tìm bắt mạch ông lang tây Lê văn Lân mà mình biết thêm tiểu
bang Mỹ nhiều đèn xanh đèn đỏ, xa lộ lớn xa lộ nhỏ...
Không biết những trang của chặng thứ ba,
Nói chuyện với
đàn em
, Nguyễn Tấn Hưng có thấy hãnh diện là được quen
biết nhiều các văn nghệ sĩ Việt Nam tại xứ người chăng,
chớ tôi và bạn đọc thích vô cùng, vì ở chặng này, được
biết rất nhiều văn nghệ sĩ thành danh trên văn đàn mà từ
lâu mình nghe tiếng.
Hãy đọc chầm chậm mới thấy Nguyễn Tấn Hưng "giỏi
thiệt." Anh khai toẹt tác phẩm nào của ai, nội dung hay ho,
phong phú ra sao? Hãy theo tác giả vào đoạn đường này để
thấy miệt vườn Mỹ Tho sum suê văn nghệ sĩ cũng như dừa xiêm
Bến Tre, cam ngọt Cái Bè... Mà sao lại có nhiều nữ giới
quá?
Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn... mười một
(lời tác giả).
Gì chớ nhà văn nữ của Miệt Vườn mà Hưng kể nơi chương
nầy vừa đẹp lại vừa giỏi mà... dữ (trong văn chương) để
có nhiều người mến mộ và trồng cây si:
Thiên hạ mười phương đã ngất ngư,
Kẻ mong thành cá, kẻ thành sư.
Tên bay một phát, chim bầy rớt,
Khoái chí chưa tề, bớ tiểu thư
.
(thơ Cung Vũ)
Phải thú thiệt, tôi đọc chương nầy tới hai lần mới qua
chương kế và tôi tin là độc giả khi đọc đến đây cũng sẽ
như tôi. Tác giả kể tác phẩm cũng như tâm tánh con người
của nhiều cây viết miền Nam đàn em (lời tác giả) nam cũng
như nữ, minh bạch, rõ ràng theo khả năng từng người... vậy
mà khi đọc xong, cứ phải mơ màng nghĩ tới "bốn con chuột
dừa" của Bến Tre và "múi bưởi" Biên Hòa?
Ðúng là văn võ song toàn như Hưng đã "dám" ghi vào chặng 5.
Anh chàng thủy thủ bộc trực ngày xưa chỉ biết có hoa biển
và sóng cuộn bạc đầu, thấy sao nói vậy, vậy mà giờ
đây nhảy tọt vào văn giới để... đẻ ra tác phẩm văn chương.
Chúng ta hảy theo hành trình của
nhà võ
nầy khi muốn mặc
thêm áo
nhà văn
để thấy tâm trạng nôn nao của người
ham "thai nghén văn nghệ."
Có mang thai thì phải có sanh, rồi nào là kêu Thầy, rước Mụ,
ký tên vào khai sanh v.v... bao nhiêu tâm tư lo lắng cho đứa con
của mình... Hởi bạn đọc! bạn đang muốn thành văn sĩ có tác
phẩm ra mắt bàng dân thiên hạ? Hãy theo Nguyễn Tấn Hưng ở
chặng nầy để... rút kinh nghiệm. Bảo đảm không khô khan
đâu, hãy đọc mới thấy cái lo của người cha khi đứa con tinh
thần chưa ra đời, không biết mặt mũi ra làm sao mà vẫn cứ
thấy đời đáng yêu quá chừng (trang 86).
Nguyễn Tấn Hưng có cái duyên như vậy đó làm cho tôi cứ tiếc
hùi hụi, nếu một con giáp về trước, tôi cũng ở tuổi Hưng
bây giờ mà không bị Cộng Sản làm cho tha hương, tôi có được
diễm phúc như anh: quen nhiều bạn nam nữ có tài danh, có duyên,
có sắc? để có dịp viết riêng một cuốn về giao tình giữa
mấy bà và tác giả...
Còn đang tiếc rẻ nghĩ ngợi thì thấy tác giả phân trần:
Tìm hiểu về bản sắc và chất liệu của các nhà văn nhà
thơ nữ thì nẫm nay "bà già trầu" đã tắm rửa kỳ cọ sạch
sẽ hết trơn trên các mặt báo, thì làm sao "ông Trùm" có thể
bí mật thò bàn tay ngọc thọc bàn tay vàng vào đó, đặng mà
mò mẫm sờ nắn thêm cho được nữa đây?
(trang 96).
À, té ra chuyện viết những "giai thoại hồng" toàn là những
nữ văn, thi sĩ (như gánh Phụng Hảo năm 1958, toàn là nữ ban),
Nguyễn Tấn Hưng còn thua Phù Lưu thái thái một bước, anh
phải nhận là không tài nào viết như máy theo kiểu Hồ Trường
An, chỉ đôi ba tháng mà hoàn tất năm bảy trăm trang nhỏ to về
các nữ sĩ...
Nguyễn Tấn Hưng ơi là Nguyễn Tấn Hưng! Tôi đang muốn trách
anh chàng "Trùm" nầy cứ loay hoay với đề tài văn học mà hổng
dẫn độc giả và tôi "đi," thì đến chương Tây Du. Vậy là
như người đang khát mà gặp nước đá chanh, tôi say sưa uống
những dòng chữ tả cảnh vùng đất đỏ Arizona, Hưng dẫn chúng
ta đến ốc đảo Ðào Hoa, nhà của nữ họa sĩ Thu Hương với
sân chim, với tiếng hót trong hoa lá, rồi sau đó đi về
hướng Grand Canyon, một trong những kỳ quan thế giới (lời
tác giả).
Tôi không trích dẫn hết cái hay, cái lạ... nhiều lắm, nhiều
lắm, do Hưng kể nơi đây, mà chỉ mời các bạn có óc say mê
phiêu lưu lại trót mang... kiếp nghèo, không tiền đi du lịch,
cứ theo "ké" Nguyễn Tấn Hưng ở chương nầy.
Ðang rung cảm với thiên nhiên miền Trung xứ Cờ Hoa thì chợt
đến chặng đường nói về những tác phẩm Miệt Vườn.
Chúng ta đã nghe nhiều lời khen, tiếng phê bình về tuyển
tập trên 6 tháng nay ở khắp nơi rồi. Nhưng hãy nghe thêm
lời chỉ dẫn của Hưng ở chương nầy mà tìm đọc những sáng
tác văn chương đó để thấy tình yêu quê hương
phảng phất
thể hiện qua một cuộc đặt trúm bắt lươn ở một làng gần
Cái Răng, một chuyến quá giang trên phà Rạch Miễu, một lần
làm rể ở bên nhà vợ, một con sóng ở bãi biển Vũng Tàu,
một trái bần chua bên cồn Rồng, một con rắn vú nàng trong
gốc tre già, một tuồng hát bội ở Lăng Ông Bà Chiểu, một
căn nhà bỏ lại sau lưng, một cô nhi viện ở Sa Ðéc, một
đứa em xấu số trong gia đình, một giấc mơ trở thành văn
sĩ, một đời làm bầu gánh cải lương, một tâm tình của bà
mẹ già lo cho đứa con tật nguyền, một buổi hái cau hay một
màn đánh đáo
... (trang 139).
Cuốn sách nào hễ có đoạn dẫn nhập thì phải có đoạn kết,
tôi đọc mải miết Nguyễn Tấn Hưng theo các chặng đường mà
lòng thấp thỏm sợ... tới đích rồi chăng. Bởi vì lời văn
anh bình dị nhưng đầy đủ vui buồn, lại có tí xíu tếu tếu
nên đọc không chán. Ðoạn đường xuống núi của anh cứ chạy
phom phom không có viên sỏi, cục đá nào nằm cản lối. Sao mà
nó như con tàu lướt trên sóng êm.
Qua hết vùng đất đỏ khô cằn, đi dần đến vùng Cali, nơi
mà chỗ nào cũng phố xá người Việt, bảng hiệu chữ Việt,
giao thiệp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ... Sướng
chưa?
Ðừng dại gì mở miệng nói tiếng Mỹ mà thành nhà
quê
(trang 141).
Nghe mà thèm. Nếu có lá me bay bay vai áo thì ngỡ là đang đi
trên đường Gia Long, nào phải là Bolsa, phải không Hưng?
Ông Trùm của một thuở ơi! Tôi say mê theo lời văn chơn chất
của anh suốt nữa ngày rồi đó. Nhờ anh, tôi và đọc giả
biết mùi của Las Vegas, thiên đường hay địa ngục (?) địa
giới, được biết dung nhan và tác phẩm các văn nghệ sĩ
miền Nam đang sống xa quê hương. Nhờ anh tôi mới biết xứ
dừa Bến Tre có 4 con chuột xinh xinh. Tôi chắc rằng 4 con
chuột biết uống nước dừa nầy phải là Chuột Bạch mao,
hồng nhĩ, mắt đỏ như cườm, dễ thương như vậy, ai nở
đem Ngũ vị hương và Tàu vị yểu ướp vào ăn cho uổng.
Vậy để cám ơn "ông Trùm" "hải quân" "lái xe xuống núi" nầy,
tôi liền ngồi vào bàn để viết gởi sang... không phải lời
Tựa mà chỉ một câu:
Một lần đi là biết bao lần nhung
nhớ
...
Calgary, tháng 5 năm 1991
back to top
01. MỘT LẦN XUỐNG NÚI
NGUYỄN TẤN HƯNG
Hồ Trường An ơi Hồ Trường An, xin anh cảm
phiền cho tôi lấn anh một cái để xen vô
lãnh vực "giao lưu văn hóa" một chút coi! Anh
phải biết tôi định viết bài này để anh
bớt "đía" về việc làm như... chỉ có mỗi
mình anh là quen hết văn nghệ sĩ Việt Nam. Ðủ
mọi thời kỳ từ tiền chiến, cận đại,
hiện đại, và luôn cả đến hải ngoại. Tối
ngày anh hết
giai thoại hồng
thì lại giai thoại
xanh, hết tâm trạng vàng thì lại tâm trạng
tím. Tôi chỉ muốn làm "người viết mới
tháng này" trong bộ môn hồng xanh vàng tím của
anh thôi.
Câu chuyện phải nói là bắt đầu từ thầy
Từ Mẫn. Số là trong lúc nói chuyện về
một cuốn sách tôi định nhờ thầy xuất
bản giùm, thầy đã khuyên tôi nhiều điều
rất quý giá. Ðại để là trong khi viết văn
phải chú ý, đừng để cho sự ảnh hưởng
của cá nhân mình hoặc miền của mình sinh
trưởng hay đang sống lấn át cái căn bản
của văn chương chữ nghĩa. Ðừng để câu
đối thoại lấn át dòng văn. Chẳng hạn như
trong đối thoại có thể dùng chữ "biểu,"
"... đã biểu anh làm giúp em cái này tại sao anh
không làm?," thí dụ như vậy. Nhưng, chữ
"biểu" không thể sử dụng trong dòng văn, vì
nó đụng chạm với chữ "bảo" căn bản của
ngôn ngữ Việt, tiếng nói chung cho cả ba Miền,
cho toàn quân toàn dân, cho quốc gia lẫn cộng
sản. Rồi cụ thể hơn thầy nói rằng cuốn
sách của Hồ Ðình Nghiêm đã bị những
"thợ đọc" của nhà Văn Nghệ sửa chữa rất
nhiều về lỗi địa phương trước khi
in. Thầy cũng cho biết chính Kiệt Tấn cũng
mắc phải lỗi này (nhưng chẳng biết có
"bị" sửa hay không?). Tôi giựt mình, bèn
hỏi thăm số phần của tôi, số phần của
Một Ðời Ðể Học
. Không biết thầy
"nịnh" tôi ở điểm nào, chẳng lẽ tôi sắp
Vào Thiền
chăng, mà thầy nói ngay rằng
"chưa thấy." Tôi mừng thầm vậy thôi chớ
tôi không tin lời thầy đâu, làm gì một
cây bút miền Nam trật trờ như tôi lại
không phạm lỗi này!
Nhưng cái "khổ nạn" của tôi không nằm tại
đó, mà ở chỗ thầy Từ Mẫn có lòng
thăm hỏi về việc phát hành cuốn sách của
tôi. Tình thiệt, tôi khoe "hình như khả quan
lắm, Nguyễn Hữu Nghĩa cho biết như
vậy." Nhưng thầy đã làm tôi buồn hiu ngay
sau đó. Thầy bảo "vậy à, ở bên này sách
của anh phát hành chậm lắm." Thôi chết
rồi, không buồn hiu sao được khi mà sách
bán không chạy ở Cali, một trung tâm văn hóa
văn học lớn nhất ở hải ngoại!
Rồi có lẽ kiếp trước tôi khéo tu, căn duyên
nhân quả của tôi chắc cũng được vuông tròn,
cho nên tôi không thèm than trời trách đất chi
hết, mà tôi than thở với anh bạn đàn anh, rằng
"sách của thằng em bán ế qua anh ơi, điệu
này chắc phải dẹp nghề..." Chẳng biết anh
có sợ tôi dẹp nghề hoặc đổi nghề nhảy
ra lo làm giàu thiệt như tôi nói hay không, anh
bèn khuyên tôi vài câu và tống cho tôi một
đạo bùa hộ mạng: Hưng... Ðạo Vương phải
làm như vầy như vầy. Tôi liền làm theo,
đúng như lời căn dặn: gửi mây cho gió.
Ngày anh Bùi Bảo Trúc gọi điện thoại cho tôi trong
sở tôi rất ngạc nhiên và hồi hộp. Ngạc
nhiên và hồi hộp đây không phải chỉ vì nghe
tả cảnh làm việc ở đài VOA. Hoặc là quan
điểm làm việc khách quan của anh đối với
các tác giả, người mới nổi hay kẻ đang
chìm. Cũng như quan điểm làm việc độc
lập của anh ít ra trên bình diện nhà xuất
bản, cái đang hưng thịnh và cái sắp sập
tiệm. Và kinh nghiệm đọc năm ba quyển sách
mới tìm được một cuốn cần phải
điểm..., (cũng nên biết tánh anh Trúc ảnh
nói chuyện điện thoại theo kiểu mệt không
chịu nghỉ). Mà là sự ngạc nhiên và hồi hộp
về thân phận của tôi, của đứa con tinh thần
của tôi. Anh cho biết anh đã mua và đọc sách
của tôi rồi và có chương trình nói về nó
vào trung tuần tháng tư tới. Tôi tự kết
luận suông, như vậy mình viết cũng đâu
đến nỗi tệ, chỉ tại mình không biết
cách bán sách của mình thôi. Hóa ra câu châm
ngôn này của Mỹ cũng chí lý lắm:
It takes
a foul to paint a picture, but it takes a wiser man to sell
it
. Có lẽ sự phát hành không thành công vì
sự quảng cáo không đúng chỗ đúng
mức? Ôi, chữ nghĩa văn chương mà đem
đặt kế bên vấn đề thương mại nghe
ra nó rẻ tiền làm sao, rẻ như bèo vậy.
Cuối tuần đó giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, mới
bay về từ Chicago, lại gọi điện thoại cho tôi
cho biết anh đã nhận được sách tặng và
có nhã ý mời tôi về thủ đô Hoa Thịnh Ðốn
chơi. Ðể luôn thể gặp bạn bè văn nghệ sĩ
trong vùng nhân dịp anh tổ chức buổi thuyết
trình về văn học, với thuyết trình viên là
anh Nguyễn Hưng Quốc từ bên Pháp sang. Ðề
tài và cũng là tựa sách của anh Quốc:
Tìm
Hiểu Nghệ Thuật Thơ Việt Nam
. Tôi trả
lời anh rằng để tôi sắp xếp, rồi nếu
lên được tôi sẽ cho anh hay. Thật ra tôi không
muốn mình làm cái bóng mờ trước một
người dù trong tương lai sẽ là một nhân
tài lớn cho văn học Việt Nam. Nhưng, cuối
cùng hai vợ chồng tôi quyết định cùng đi
vì tôi biết đây là dịp tốt nhất để
tôi có thể gặp hết một lần các anh
chị em trong Văn Bút Miền Ðông Hoa Kỳ. Tôi
không thể bỏ lỡ cơ hội bằng vàng này
được.
Sau khoảng 6 giờ lái xe và 15 phút lạc đường
(quẹo về phía Tây theo exit chỉ qua vùng Springfield
từ xa lộ I-95 theo mạn Nam đi lên), tôi tìm
được nhà anh chị Bích. Người ra cửa đón
tụi tôi không phải là ông bà chủ nhà mới
là lạ. Qua vài câu chào hỏi tôi biết ngay người
mình đang tay bắt mặt mừng là người hiền
(hiền nhân) từ Paris, vì anh Quốc đã đến
đấy từ ngày hôm trước. Tụi tôi kéo nhau
vào phòng khách nói chuyện. Một lúc sau chị Bích
mới ra hỏi thăm và lại mất hút trở
vào trong để... makeup. Như vậy kể ra người
bạn văn nghệ đầu tiên tôi gặp trong đời
là anh chàng trẻ tuổi tài hoa này. Vì hồi xưa
khi còn ở quê nhà, mặc dù tôi có vài lần
ghé báo quán Văn ở số 38 Phạm Ngũ Lão (trong
đó có một lần tôi mặc quân phục tới đòi
tiền nhuận bút), tôi có giáp mặt với một
số anh em tại đó nhưng tôi không rõ ai là
ai, kể cả Trần Phong Giao đang làm tổng thư ký
tòa soạn. Không biết sao mấy ông nhà văn hồi
đó ít nói và hờ hững với tôi quá xá!
Tôi thấy Nguyễn Hưng Quốc là người dễ
làm quen, dễ kết bạn, dễ làm thân qua cách
thức nói chuyện hết sức là bình dân và
cởi mở của anh. Tôi không biết anh có một
cái nhìn tương tự ngược lại cho tụi tôi hay
không. Nếu không được như vậy thì tội
cho tụi tôi quá! Anh cho biết qua
tên thật, tuổi tác và hoàn cảnh gia đình
hiện thời. Cũng như một vài chi tiết về
nơi sinh trưởng, nơi vật lộn với đời
lúc trưởng thành và sự học hành đỗ
đạt, v.v.. Những chi tiết cá nhân này dĩ
nhiên tôi không được phép tiết lộ ra
đây. Phần tôi thì dễ quá, tôi tặng anh
cuốn sách của tôi và đại khái nói như
ngụ ý: đọc đi, văn là người mà lị, cả
cuộc đời tôi nằm hết trong đó đó.
Ngay lúc ấy có thân nhân của anh Quốc tới
thăm. Những người này đang sống tại Hoa Kỳ,
trong số có anh Tuấn, em bà con chú bác với anh
Quốc đến từ New York. Anh Tuấn có mang theo một
cái máy quay phim cầm tay để quay phim video tape
cho anh Quốc làm kỷ niệm chuyến viếng thăm
nước Mỹ của anh. Chắc chắn một trong
những minh tinh thượng hạng trong cuốn băng
đó là tôi.
Anh Bích bận công chuyện chắc còn lâu mới
về. Chị Bích đưa tụi tôi đi vòng vòng xem
nhà. Một cái thư viện thì đúng hơn vì đâu
đâu cũng có kệ sách và sách, tầng chính
cũng như basement. Nói không ngoa, hai ba chục ngàn cuốn
thì có. Xong, chị xuống bếp làm cơm cho tụi tôi
ăn. Món thịt ram mặn, món thịt xào với đậu
dẹp (snow peas) và củ cải trắng, và món canh chua tép
lột vỏ nấu với đậu bắp, khóm và cà
chua. Khác với món canh chua miền Nam, món canh chua
này có mùi sả, có những tép sả chặt khúc dài
độ ba lóng tay bỏ vô làm gia vị. Anh Quốc và
vợ chồng tôi ăn ngon miệng lắm, nói xin lỗi,
không biết vì chị Bích làm món ăn ngon hay là
vì tụi tôi đói bụng.
Khoảng ba giờ chiều thì có anh Giang Hữu Tuyên, chủ
báo
Hoa Thịnh Ðốn Việt Báo
, và anh Ngô Vương
Toại, chủ báo
Diễn Ðàn Tự Do
đến chơi. Ban
đầu tôi tưởng hai anh này tới chơi không thôi
ai dè họ tới chơi có mục đích. Lúc họ bày ra
máy thâu băng cassette loại bỏ túi tôi mới chưng
hững. Làm cái gì đây? Phỏng vấn, họ định
phỏng vấn anh Quốc! Tôi xin rút lui có trật
tự vì thấy mình không hợp với cái ngữ
này. Nhưng hai anh Toại và Tuyên không cho, bảo là:
tới đây thì phải ở lại đây
... Anh Quốc
yêu cầu chỉ xem đây là buổi hội thảo về
thơ, tay tư khơi khơi vậy thôi, chớ đừng cho
là một cuộc phỏng vấn chính thức. Nhờ vậy
lâu lâu tôi mới xía vô một vài điều cho ra
vẻ tay tư. Bây giờ đụng vô thơ, tôi mới
thấy mình thật sự là một cái bóng hết
sức mờ trước một túi thơ có quá nhiều
ngăn như anh Quốc. Trong buổi nói chuyện khơi
khơi này coi vậy mà có nhiều cái hay, những
cái hay mà ngay cả những người đi dự buổi
thuyết trình chính thức của anh ngày hôm sau cũng
không được thưởng lãm. Như bốn sự thay
đổi chính của cộng sản đối với nền văn
học hiện nay trong nước chẳng hạn.!
Cuộc hội thảo đang đi đến phần kết thúc
thì cũng vừa lúc anh Bích về. Anh là một tâm
hồn trẻ, hăng say hoạt động với tiếng nói
điềm đạm và mái tóc đã hoa râm. Tôi xiết
chặt tay anh thân mật chào hỏi. Nhưng, công tác
chính bây giờ là gấp rút chuẩn bị mọi thứ
cho buổi đại hội quần hùng, văn hào thi bá
ngay tối hôm đó. Món ăn chính sẽ không là bê
thui mà là thịt bò (tender loin?) ướp ngũ vị hương
(của Ðại Hàn pha chế?) nướng than (charcoal) ngoài
trời. Có lẽ biết có anh Quốc và vợ chồng
tôi đến nên sau nhiều ngày liên tiếp mưa dầm
gió bấc, ông trời thương tình thưởng cho Hoa
Thịnh Ðốn hai ngày nắng ấm cuối tuần rất
thích hợp cho việc nướng barbecue. Món phụ thì
có bánh cuốn Bắc nhưn thịt, với củ hành
thái mỏng chiên vàng như tôm chấy rải lên
mặt. Thêm món chả lụa và rau cải tươi ăn
sống như cần tây, carrot, cà chua, olive. Ðặc
biệt có nồi canh chua ăn với bún rau sống,
lúc nào như cũng sẵn sàng trên lo than, ăn dài
hạn như ăn bún riêu...
Trong giới cầm bút tại địa phương, người tôi
gặp trước tiên là chị Trương Anh Thụy, đi cùng
với phu quân là anh Long. Chị Bích vồn vã giới
thiệu "đây chị Thụy đây, ối giời ơi,
người ta còn là một nhà thơ đấy, thi sĩ
đấy."
Tôi chào chị
Tôi thấy chị đẹp và hiền
Ðã vậy còn có nốt ruồi duyên dưới cằm
Rồi tất cả chúng tôi cùng đi xuống basement
là chỗ sẽ nhập tiệc, vì sắp đến giờ
thiên hạ rủ nhau kéo đến. Dặn kỹ là sáu giờ,
nhưng bây giờ đã bảy giờ hơn, giờ Việt
Nam vẫn là giờ dây thung. Người đến kế
chị Thụy cũng là một nhà thơ, đồng thời là
một nhà văn: Phan Tấn Hải. Lại hiền, nói năng
chậm rãi hòa nhã. Rồi tới giáo sư dạy võ
Hồ Bửu, to con đạo mạo, nhưng trên gương mặt
tôi nào thấy đao kiếm, roi quyền gì của
Tây Sơn đâu.
Tới phiên anh chị Quỳnh Giao và Dương Ngọc
Hoán. Qua vài câu xã giao tôi thấy chị Quỳnh Giao
có cách nói của một người quý phái,
khác hẳn với anh Hoán. Hình như tôi thấy có
điều gì không ổn, mà thôi chưa tiết
lộ bây giờ được, để dành đó, sẽ trở
lại vấn đề này. Tưởng là gặp bồ nhà
trong đoàn người áo trắng, vì tôi có đọc
bài của Quỳnh Giao trong một số
Lướt
Sóng
. Ai dè chị cho biết chị chưa hề
viết cho báo Hải Quân bao giờ làm tôi... xụi
lơ. Thì ra có nhiều người lấy trùng bút
hiệu Quỳnh Giao của chị. Nhưng nếu nội dung bài
viết có liên quan đến nhạc thì mới có thể
là bài của chị thôi, chị phụ đề thêm cho tôi
rõ. Anh Bích (tưởng tôi không biết) nói Quỳnh
Giao là ca sĩ nổi tiếng ở Sài Gòn trước
đây. Không nhớ nổi là đã có lần nào
tôi làm khán thính giả nhìn chị đang hát ở
trên sân khấu hay không, nhưng bây giờ thì tôi
cảm thấy rất hân hạnh được dịp làm quen
và thấy tận mắt người ca sĩ duyên dáng
này. Vẫn trẻ đẹp như thuở nào phải không
anh chị em? Tôi quý chị!
"Thấy mặt là tôi biết ngay, giống cái hình,"
một câu nói vui như tiếng chim sâu văng vẳng
bên tai tôi, trong lúc tôi, anh Long, và anh Bửu đang
phụ ăn (chớ không phải nướng) mấy miếng
thịt chín tới ngoài patio. Người phụ trách
nướng thịt là Giang Hữu Tuyên. Tôi nhủ thầm
giống cái hình trên sách của mình thì đỡ
chớ giống cái hình "the most wanted" thì... "bỏ
mẹ" (nháy theo giọng đãi bôi của ai đây?). "Như
vậy tôi đoán chị là...," "Nguyễn thị Hoàng
Bắc," anh Bích nói thay tôi. "Vậy à, rất hân
hạnh được biết chị." Tôi ngạc nhiên cũng
phải vì chị Hoàng Bắc có nét mặt dễ thương
trong vóc dáng nhỏ con mảnh khảnh. Tôi trau đổi
với chị vài câu xã giao.
Cầm dĩa thịt trở vào trong tôi đi tìm bà xã tôi,
may quá, nàng đang nói chuyện với chị Thụy. Anh
Bích chuẩn bị màn giới thiệu anh Quốc và hai
đứa tôi với mọi người. Khách khứa lúc này
coi như đã tới đông đủ, đứng chật cả căn
phòng rộng. Tụi tôi biết qua anh Ðặng Ðình
Khiết, chủ nhà sách
Thế Hệ
kiêm phó nhòm
đêm nay. Anh Khiết xông xáo, bặt thiệp ra phết,
vậy mà hỏi ra cũng còn độc thân. Ngô Vương
Toại sau màn hội thảo tay tư xin phép vọt đi có
công chuyện riêng, chắc về nựng bà xã, cũng
đã trở lại. Anh Bùi Bảo Trúc thì dễ nhận ra
lắm vì anh cao hơn ai hết. Nhưng cây trúc này hơi
mập và những lá trúc đầu cành lại quăn và
dài tự nhiên như Trần văn Trạch vậy. Rồi
Hoàng Xuân Sơn, hiền lành và bình dân hơn cái
hình trong tập
Viễn Phố
nhiều (cái hình này
trông vừa già vừa
mean
). Rồi đến Ngọc Dũng
với mái tóc trắng nhiều hơn đen. Lẽ ra tôi
phải gọi Ngọc Dũng bằng bác vì anh cùng thời
với Mai Thảo (tôi vẫn gọi ông Võ Phiến, ông
Mai Thảo bằng bác), nhưng thấy lớn nhỏ ai cũng
gọi Ngọc Dũng bằng anh nên tôi cũng gọi anh bằng
anh luôn. Ngọc Dũng ít nói. Chỉ có Nguyễn Mạnh
Hùng là không có một điểm gì đặc sắc
ngoài cái dáng dấp nhỏ con, tép riu, vậy mà là
công thần rất lớn trong vùng. Vì không có anh
thì không có trường đại học George Mason. Mà
không có trường đại học George Mason thì không
có cái trung tâm ra mắt sách khang trang, sang trọng
đó cho dân cầm bút. Dân cầm bút không những
ở miền Ðông, ở Canada mà luôn cả miền Tây
Hoa Kỳ nữa.
Rồi thêm một nhóm vừa tới muộn: vợ chồng
anh Trương Hồng Sơn, vợ chồng chuyên viên tin
tức đài VOA Nguyễn Thiên Ân (em của đại tá Nguyễn
văn Ánh, tham mưu trưởng dài hạn của Hải Quân),
và nhạc sĩ đẹp trai, trẻ tuổi Trần Lãng Minh...
Lợi dụng lúc anh chị em đông đủ, tôi làm một
phát ra mắt sách không kèn không trống. Tôi mang
cả thùng sách ra ký tặng từng người, tặng
luôn mấy đứa cháu con anh Trương Hồng Sơn
mặc dù tụi nó đòi trả tiền. Ðã mang tiếng
Hưng... Ðạo Vương thì lâu lâu cũng phải biết
xài giấy Trần Hưng Ðạo chớ. Tôi theo thứ
tự do anh Bích sắp đặt, hiển nhiên người
nào coi như ngồi chiếu cạp điều mới được
tặng trước (bây giờ tôi quên mất ai tiếp
theo ai), nhưng lần này quả không có vụ nịnh đầm
nữa. Chỉ có một vụ nịnh đầm là trường
hợp của anh Dương Ngọc Hoán thôi. Thuở đời
nay tôi mới viết bốn chữ "Mến tặng anh
chị...," thì anh Bích cho ý kiến... "Quỳnh Giao và
Dương Ngọc Hoán." Tôi phân trần "đã nói anh
chị thì phải để anh trước chị mới hợp
chớ." Anh Bích ngăn "không được, không
được... cứ phải để Quỳnh Giao trước,
không riêng gì chị ấy mà anh ấy vẫn thích
thế hơn." Chết cửa tử cho đấng râu mày,
qua bên này không còn là số một nữa. Nếu
vậy, theo tôi, phải viết lại "Mến tặng
chị anh..." Bởi như tôi đã nói ở trên,
hình như có sự không ổn (hay là rất yên
ôn) giữa hai vợ chồng văn nghệ sĩ này.
Trong lúc đàm đạo, thông thường việc đáng
bàn vẫn là
những sự thực cần được
nói ra
. Ngặt một nỗi chỉ toàn là phe ta
không mới khổ. Chính anh Nguyễn Hưng Quốc
cũng tiết lộ là đã nghe đầy hai lỗ
tai. Còn riêng tôi thì thú thiệt chắc cũng
sắp... điếc. Bây giờ dẫu có ba đầu
sáu tay tôi cũng không dám nói ra những chuyện
này. Những chuyện mà người trong làng hầu
như ai cũng biết, chỉ có tôi thân phận... ếch
ngồi đáy giếng nên chưa biết mà thôi. Không
biết anh Nguyễn Hưng Quốc thì sao, chớ tấm
lòng của tôi vốn mở ra như tờ giấy trắng,
vì đây là lần... xuống núi đầu đời
của tôi. Trang giấy này nay như đã mang những
dòng chữ, rất tiếc có những dòng đục bên
những dòng trong, dù phải đứng bên bờ vực
nào. Ðó có phải là những gì đã làm nên
thơ phú, văn chương? Có hay không có một dòng
thơ văn không trong không đục?
"Bài phỏng vấn trả lời trên
Làng Văn
hay
lắm, nhưng phe đảng quá, nhắc toàn là dân
gốc miền Nam," chị Hoàng Bắc "kê" tôi như
vậy. Tôi biết là chị chỉ nói đùa với
tôi thôi. Nhưng có hay không có một sự phe
đảng trong văn nghệ chớ? Tôi nghĩ là có, nhưng
với cá nhân mà thôi, không phải ở chính văn
chương, thi ca. Trong văn chương, thi ca, theo tôi nghĩ,
người cầm bút đều muốn tiến tới cái
không có Trung Nam Bắc, không có Chúa cũng không
có Phật..., nói chung là không biên giới. Tôi
nhớ đại khái tôi nói với chị Hoàng Bắc "tại
vì tôi chưa biết chị nên chưa dám nhắc đến
chị thôi, sợ chị phiền bất tử..." Biết
đâu sau khi đọc bài này lại có người chẳng
khiếu nại tôi rằng "khi răng mà không bênh mấy
o
lớp lớp phù sa
của mình, ai lại dựa hơi
mấy mụ nói giọng cay xè như bún bò..., câu
nào câu nấy cứ "un point final" bằng... "nhá,
nhá." Thấy chưa chị Hoàng Bắc, lần sau
chị làm ơn đừng có kê tui nữa nhá. Nhưng
thực sự tôi nhá chị Hoàng Bắc ở một
chỗ khác tuyệt vời hơn. Số là tôi kề,
sát quá thành hôn, tai chị và rất thiệt tình
hỏi "có phải chị sinh năm 1942 hôn?," chị như đi
guốc trong bụng tôi hỏi lại liền "bộ tui khai
gian hả?" Cho tới bây giờ tôi không biết phải
khen chị Hoàng Bắc giữa đẹp với trẻ cái nào
trước hà. Mà thôi, tôi sợ bà con hiểu
lầm "chị chị em em" (tại tuổi tôi nhỏ hơn bả
thôi nghen) nói mãi "thành cà rem nước dừa,"
nên xin ngưng bà Hoàng Bắc ở đây đi. Nhưng
trước khi ngưng thì tôi cũng vái trời bà xã
tôi đừng kiểm duyệt đoạn này.
Giờ tâm tình cá nhân lẻ tẻ coi như chấm dứt
khi chị Hoàng Bắc (lại bả nữa) dám nhảy ra làm
thiên sứ đi một vòng phát bánh thánh cho từng
người (Moravian cookies, loại bánh nhỏ như bánh bèo
Búng của Bình Dương, mỏng như bánh tráng Thành của
Nha Trang, chỉ có bán tại tiểu bang North Carolina do tụi
tôi mang lên từ nhà). Vì tiếp theo đó là chương
trình văn nghệ bỏ túi do anh Bích khởi xướng.
Chị Quỳnh Giao được mọi người đồng ý mời
lên hát trước. Chị bắt đầu bằng một bài
thơ của Thanh Tâm Tuyền do Phạm Ðình Chương phổ
nhạc, bài gì nhỉ? À, bài
Ðêm Màu Hồng
,
một đoạn thơ trích trong
Bài Ca Ngợi Tình Yêu
thì phải. Với một giọng ca thính phòng như vậy
và với lối đệm dương cầm như vậy chẳng
trách tại sao chị có cái nhìn lên. Hình như trong
tôi ngoài sự khen ngợi ra còn có lòng mến
phục. Vỗ tay và bis, bis là chuyện đương
nhiên. Chị hát cho anh chị em nghe tiếp bài "Kỷ
Niệm," chỉ tổ làm cho lòng người thêm vương
vấn. Kế đến là anh Trần Lãng Minh với
một bài do chính anh phổ nhạc từ thơ của một
người bạn. Mặc dù sở trường của anh là
Tây ban cầm nhưng với lối đệm dương cầm
đó, theo tôi, anh cũng lả lướt lắm. Tuy nhiên,
có lẽ không muốn phô trương cái sở đoản của
mình (?) anh đệm đàn và ngâm tiếp một bài thơ,
bài
Trở Về
(chỉ tại vì nhà anh Bích không
có Tây ban cầm?). Rồi đến lượt cặp song
ca Quỳnh Giao, Dương Ngọc Hoán hát bài rất đặc
biệt chính... vợ đã dạy chồng từ thuở bơ
vơ mới về. Bài này hay, và tất nhiên sau bao
năm dạy dỗ anh Hoán hát bè, hát chẻ rất
vững. Ðến phiên anh Hoàng Xuân Sơn ca hai bài
với sự phụ họa dương cầm của chị Quỳnh
Giao. Phải nói là anh Sơn ca rất có giọng. Tới
đây, tài năng ca cũng như ngâm đã bắt
đầu... xuống dốc. Anh Giang Hữu Tuyên ngâm
bài
Tôi Thấy Tôi Về
của anh, rồi anh Bích
hát một bài nữa với... vắng bóng tiếng
đàn. Những ngôi sao sáng chói kể như
đã... rụng hết. Sang phần đọc thơ, chỉ đọc
thôi, khởi đầu là anh Bùi Bảo Trúc với bài
Lời Gửi Một Mối Tình 40
. Rồi anh Phan
Tấn Hải đọc tiếp thơ "tiền chiến" của
mình (tại vì thơ "hậu chiến" của anh nhiều quá
nên anh không nhớ nổi?). Buổi hợp mặt chấm
dứt khi anh Nguyễn Thiên Ân từ chối không chịu
làm gì hết kể cả ca... vọng cổ. Và vì
trời đã khuya quá khuya...
Ðêm hôm đó vợ chồng tôi tá túc ở nhà
anh chị Bích, còn anh Nguyễn Hưng Quốc đi theo
mấy người bà con. Ðặt lưng xuống giường
mới hay mệt lã cả người.
Ngày hôm sau, trưa trờ trưa trật tôi mới
đưa bà xã ra nhà hàng Sài Gòn Deli, như đã
hứa. Sài Gòn Deli là quán ăn đặc biệt của
các bạn văn nghệ. Nơi đó, có Ngô Vương Toại
giử két, có Hoàng Xuân Sơn chạy bàn. Giang Hữu
Tuyên và một người bạn mới nữa mới quen
là Nguyễn Ðình Hùng đang... làm khách ăn
sáng. Không ngại ngùng chút nào hết, mấy anh
bạn của tôi bàn chuyện văn nghệ văn gừng,
sách vở báo chí vang rân. Tôi hơi ngượng
với những thực khách đang ngồi xung quanh,
họ lom lom ngó hai vợ chồng tôi quá chừng. Khổ
nỗi bà xã của tôi không ăn được món bún
ốc của người Bắc. Không phải vợ tôi chê
món Bắc, mà sở dĩ không ăn được là
tại vì bộ đồ đang mặc, trắng như tuyết
từ đầu đến chân. Lơ tơ mơ, cô nàng
đã bị hai ba đốm vàng vàng của nước sốt
cà văng lên áo. Rốt cuộc tôi phải lãnh trọng
trách làm láng hai tô. Ý là có báo động,
có đề phòng mà tôi cũng bị vài đốm vàng
văng lên áo. Tôi cũng đang mặc áo trắng. Mới
hay có ăn bún ốc được hay không cũng phải
coi ngày giờ và lựa áo quần.
Nguyễn Ðình Hùng còn trẻ, độc thân nhưng
tóc đã bạc không thua gì anh Ngọc Dũng. Hùng thành
thật, tự nhiên và rất dễ kết thân. Anh dám
lãnh sứ mạng làm tài xế đưa vợ chồng tôi
đi "tham quan" đây đó. Và theo kinh nghiệm cho biết,
cứ giao nhiệm vụ lái xe cho một "thổ địa
thổ công" là an toàn nhất. Vợ chồng tôi rất
đỗi ngạc nhiên thấy khu thương xá Eden trên
đại lộ Wilson không khác gì một trung tâm thương
mãi riêng của Việt Nam, trên xứ Việt Nam. Toàn
là dân da vàng, mắt nâu, mũi tẹt, tóc đen dập
dìu như chợ Tết mặc dù bây giờ là ngày
lễ Phục Sinh. Tôi ghé vào nhà sách
Thế Hệ
của Ðặng Ðình Khiết và nhà sách
Alpha
của
Trần Phùng Linh Duyên. Lần đầu tiên thấy sách
mình bày bán ở tiệm sách, nằm đúng vị trí
của nó, tôi thực sự lấy làm hân hoan mãn
nguyện. Tôi lựa mua mấy cuốn sách và mấy
cuốn vần trong khi vợ tôi lựa hột xoàn và
nữ trang. So hai thứ, rõ ràng văn chương... hải
ngoại rẻ... hơn bèo Mỹ nhiều.
Không hẹn mà gặp, Nguyễn Hưng Quốc cũng mò
vào mấy tiệm sách. Và rốt cuộc, gần đến
giờ diễn thuyết, anh Quốc nhờ Nguyễn Ðình
Hùng đưa tới trường đại học George Mason luôn
cho khỏi lạc đường. Bỏ đám em út đi sau. Biết
giờ Việt Nam vẫn là giờ dây thung, mặc dù
đây là buổi nói chuyện chính thức có giấy
mời và thông báo cho tất cả đồng bào trong
vùng, Hùng vẫn đủ thì giờ đưa tụi tôi trở
về lấy xe và ăn bữa ăn trưa ở Sài Gòn
Deli. Tụi tôi đến phòng hội ít ra cũng còn
sớm hơn anh Ngọc Dũng và phu nhân. Tôi chỉ còn
một chút thì giờ đủ để tặng sách cho anh
Võ Ðình và chị Nguyễn thị Thanh Bình rồi ngồi
vào hàng ghế đầu (tụi tôi "được" anh Bích
xếp ngồi hàng ghế "danh dự" cho tiện việc
giới thiệu).
Nội dung bài diễn thuyết của Nguyễn Hưng Quốc
thì không thể nói hết ra đây được, chỉ phải
đọc cuốn sách của anh là tiện nhất. Nhưng về
hình thức thì rõ ràng anh không thiếu cái phong
cách diễn giảng của một giáo sư đại học Việt
Nam. Tôi không biết phải đọc lại cuốn
Nghệ Thuật Nói Trước Công Chúng
của
Nguyễn Hiến Lê bao nhiêu lần nữa thì mới
nói thao thao bất tuyệt, không cần giấy tờ
như anh. Bởi vậy số tôi từ nhỏ đến lớn
không bao giờ được làm thầy, chỉ được
làm học trò thôi, học cho đến cả một
đời. Có lẽ anh Quốc xài giờ Việt Nam làm
tại Paris nên không có gắn dây thung, anh dừng
lại sau đúng một tiếng đồng hồ để
chuyển sang phần hội thảo và tranh luận. Phần
này hào hứng không kém. Và một lần nữa
tôi mến phục tài xoay sở khéo léo của anh
Quốc khi trả lời những câu hỏi hơi có
phần nặng ký.
Trong phần bổ túc thêm về cái "ta" và cái "tôi"
khác biệt giữa thơ tiền chiến và thơ cận
đại của anh Quốc, anh Võ Ðình đã cho tôi thấy
anh có những nhận xét rất sâu sắc và có tài
hùng biện. Còn chị Nguyễn thị Thanh Bình, nghe
vậy chớ không thanh bình chút nào hết cho những
ai bị chị chất vấn. Chị Thanh Bình trẻ đẹp. Bây
giờ nói ra câu này tôi chỉ sợ bạn đọc
cười tôi là dân nịnh đầm thôi, làm như
hễ là nhà văn nữ thì phải trẻ đẹp. Nhưng
mà tôi nói thiệt. Và lần này khác với
trường hợp chị Hoàng Bắc, tôi khen chị Thanh
Bình trẻ trước đẹp sau. Cái đẹp của người
đàn bà bao giờ cũng rắc rối quá đi
thôi. Tôi thấy chị đẹp ở mái tóc Sylvie Vartan
đen mượt đó. Rất tiếc nếu chị để
dài thêm tí nữa thì Thanh Bình của Xóm Mới
này có lẽ sẽ thành Thùy Trang (nữ ca sĩ trong ban
nhạc Lực Lượng Ðặc Biệt) nhà thờ Núi ngày
xưa, đã một thời hớp hồn tôi.
Well
,
có nịnh đầm hay không là anh Nguyễn Hưng Quốc
kia, anh dám cho chị Nguyễn thị Thanh Bình lên cao
hơn thần tượng thơ, Phạm Thiên Thư, của
chị. Theo anh Quốc, thơ của Phạm Thiên Thư không
có gì mới lạ hết (xin dừng lại ở tập
Ðộng Hoa Vàng mà thôi).
Buổi hội thảo chấm dứt lúc sáu giờ
hơn. Vợ chồng tôi có lẽ là người ở xa
nhất phải về ngay trong đêm. Tôi chỉ nói chuyện
với anh Võ Ðình vài lời rồi phải quay ra lo
chuyện khác. "Cuối tháng tới anh phải lên đây
dự buổi ra mắt sách của Thanh Bình, anh không lên
thì làm sao làm bạn văn với Thanh Bình
được." "Ðể anh chị sắp xếp rồi nếu
thuận tiện thì anh chị sẽ lên" vợ tôi trả
lời thay cho tôi. "Anh lái xe hay chị lái xe? Nhưng
chị phải xúi vô cho ảnh đi, rồi tới nhà tụi
em chơi... À, có ông Mai Thảo qua nữa đó, ông Mai
Thảo viết tựa sách cho anh phải không?" Tôi gật
đầu, "ừa, mình chung một sư phụ hả?" "Anh có
quen anh Nguyễn Mộng Giác không? Anh Giác so với
ông Mai Thảo..." Ấy chết, lại
những sự thật
cần được nói ra...
Hai vợ chồng tôi phải vọt gấp vì trời bên
ngoài đã tối, không kịp bắt tay từ giã
nhiều người. Với sáu tiếng bồng bềnh
trên xa lộ, tụi tôi dự trù sẽ về đến
nhà lúc một giờ khuya. Chẳng biết có nên
khai bệnh nghỉ ngày hôm sau không? Trên đường
đi hai vợ chồng tôi lấy làm thích thú nhắc
lại những gì đã xảy ra trong hai ngày vừa
qua. Tựu trung, tấm thâm tình của anh chị em đã
dành cho anh Quốc và hai đứa tôi thật là sâu
đậm không sao tả nổi. Tôi bỗng có cái cảm
giác như tôi đang thực sự bước vào một
đại gia đình mới. Bây giờ với một số
anh chị em ở đây, và trong tương lai với thật
nhiều anh chị em khác ở khắp các phương
trời. Những người đã tự nhiên coi nhau như
ruột thịt, chân tay thủ túc, mặc dù nhiều
người chưa biết được mặt mũi, tánh tình
như thế nào. Như những khóa sinh của một khóa
sĩ quan chẳng hạn, đúng là huynh đệ chi binh,
sống chết có nhau.
"Chị đoán coi em bao nhiêu tuổi," vợ tôi đưa
đề nghị. "Tôi trông chị khoảng ba mươi trở
lại," chị Bích cho ý kiến. "Còn chú Quốc nữa,
chú đoán xem chị bao nhiêu tuổi nè." "Em nghĩ
chị khoảng hai mươi lăm." "Thôi đi, chú nịnh
vừa vừa chớ, chị hai mươi lăm tuổi làm
sao có con mười tám tuổi được." "Thiệt
mà, trông chị trẻ cỡ đó..." Những câu nói
này làm tôi nở lỗ mũi nhiều hơn là
vợ tôi. Tôi biết vợ tôi nhan sắc dễ coi
bởi vậy tôi hay "xách" đi khoe. Chỉ kẹt cái
vợ tôi ít khi chịu đi chung với... hoàng tử
lọ lem của mình (nói vậy chớ tôi nào có
lọ lem cho lắm phải không?). Sở dĩ vợ tôi
không chịu đi chung với tôi cũng có nhiều lý
do. Thứ nhất là hợp hành ở đâu cũng
vậy, khói thuốc mù mịt, cay xé mắt là chỗ
vợ tôi không thích (chị Bích chắc cũng chạy
làng vụ này luôn). Thứ đến là sự bơ vơ
lạc lõng bên cạnh những tâm hồn đã không
những lớn mà còn nặng về... văn chương
thi phú. Tôi không biết các đấng phu quân của
các văn nghệ sĩ phái nữ có cảm thấy như
vậy hay không? Tội cho vợ tôi quá. May là mấy
chị Hoàng Bắc, Thanh Bình, Trương Anh Thụy, Quỳnh
Giao... có lòng để tâm săn sóc đến. "Chị có
cảm nghĩ như thế nào khi có anh viết văn,"
chị Thanh Bình hỏi vợ tôi như vậy. "Thì cũng
hãnh diện lây vậy thôi..." vợ tôi trả
lời. Câu trả lời này có vẻ khiêm tốn
quá. Thật ra, trong trường hợp riêng tôi
(không biết có trùng hợp với ai khác không),
tâm hồn vợ tôi rõ ràng đã dự phần,
ảnh hưởng đến và lấp lánh trên dòng
"văn chương" (nếu được gọi là văn chương)
của tôi. Chính vợ tôi phản đối và kiểm
duyệt những đoạn tôi định lăm le làm một
Kiệt Tấn thứ hai. "Anh không nên viết như
vậy," vợ tôi rầy. Dĩ nhiên những đoạn
Kiệt Tấn của tôi đã không là Kiệt Tấn cho
nên mới bị cái hậu quả thật là tang thương
đó. Và có lẽ chính vì thế mà một vài
bạn tâm giao chê "văn chương" của tôi viết
hiền quá. Ðành chịu, mặc dù tôi chưa biết
chữ hiền đây là để đối chiếu với
chữ nào: dữ, bạo, trật búa, ác ôn côn
đồ, v.v. Miễn "hiền" mà được tiếp
tục viết là được rồi. Vì từ khi trở
lại với bút giấy mực, hình như tôi hay quên
những công việc sơn nhà, sửa nhà, dọn vườn,
cắt cỏ, rửa nhà tắm, chùi cầu tiêu...
Những gì tôi ghi vội lại đây chẳng qua là
những phút sơ giao cùng bằng hữu mà thôi, cho
nên nếu có gì thiếu sót, hiển nhiên có
rồi, thì chỉ mong anh chị em nghĩ tình bỏ qua
cho. Có lẽ tôi chưa thật sự được thức
khuya nên chẳng biết đêm dài. Nhưng, điều
tôi mong mỏi là đừng ai vì những dòng chữ
này mà tự mình biến thể. Thử hỏi nếu
cắt "tai mũi họng" của chị Hoàng Bắc (danh xưng
riêng của chị đó), thì than ôi Hoàng Bắc còn
đâu là Hoàng Bắc nữa.
Chuyến hành hương đầu đời của tôi đương
nhiên là chuyến đi thành công. Mặc dù trong
chuyến hành hương này tôi chưa gặp Phật
gặp Chúa, nhưng ít ra tôi đã gặp những
người bạn hiền không những mang dáng dấp
tiên phong đạo cốt mà còn chất chứa những
tâm hồn vương lên vượt thoát. Có lẽ tôi
nên bỏ cái am Winston-Salem của tôi để thường
xuyên xuống núi hành hương, cho ngòi bút của
mình được thêm phần chất liệu.
back to top
02. ÐÔI LỜI VỀ VĂN CHƯƠNG MIỆT VƯỜN*
NGUYỄN TẤN HƯNG
Trước khi lên đường đi Washington D.C. vài
ngày, tôi được anh Nguyễn Ngọc Bích điện
thoại cho biết trong kỳ ra mắt quyển sách
Giai Thoại Hồng
của anh Hồ Trường An, do
cơ sở Cành Nam của Tổ Hợp Miền Ðông xuất
bản, nhiệm vụ của tôi là nói đôi lời về
cái gọi là
Văn chương Miệt Vườn
.
Well
,
biết mình không thể xuất khẩu thành thơ, xuất bút
thành văn, rồi lại không có cái tài thao thao bất
tuyệt của một thầy giáo dạy học trò như phần lớn
những nhà văn nhà thơ thường có cho nên tôi phải
chuẩn bị giấy tờ trước cho chắc ăn.
Tôi hơi lấy làm lạ về đề tài anh Bích đã
nêu lên. Tại sao không nói về
Văn chương
Miệt Ruộng
mà lại nói về
Văn chương Miệt
Vườn
. Có lẽ anh Bích cũng như mọi người
chúng ta đây đều bị ảnh hương bởi cuốn sách
mang tựa đề
Văn minh Miệt Vườn
của nhà
văn Sơn Nam chăng? Nếu nói đến Văn chương
Miệt Vườn là không có tôi rồi đó đa. Miệt
Vườn, hai tiếng này dường như nói lên cái phong
cảnh của Bến Tre, Vĩnh Long, Sa Ðéc, Cần
Thơ, v.v. chớ không phải của Mỹ Tho, Gò Công
chút nào hết. Vì nói nào ngay Mỹ Tho, Gò Công
ném về Miệt Ruộng. Và nếu nói chi tiết hơn
một chút thì ruộng cũng có nhiều thứ ruộng
như ruộng cao ruộng trũng, ruộng gò, ruộng
bùn, ruộng cát, ruộng cỏ, ruộng lác...
Mỹ Tho ngoài ruộng ra còn có bưng. Và theo
tôi hiểu bưng là vùng ruộng ngập nước quanh
năm, muốn làm mùa phải đắp bờ, đắp đập
tháo bớt nước ra. Hai chữ
vô bưng
tôi
nghĩ có lẽ xuất phát từ Mỹ Tho vì như ai cũng
biết quận Cai Lậy của Mỹ Tho là cửa ngõ đi
vào Ðồng Tháp Mười. Cũng nên hiểu cho
vô
bưng
đây có nghĩa là theo Kháng chiến vào
thời chống Pháp cũng như theo Việt cộng vào
thời Cộng hòa.
Ðó là Mỹ Tho, còn ở Gò Công thì sao đây? Ở
Gò Công ngoài ruộng ra còn có biền. Và theo như
anh An nói trong tác phẩm
Lúa Tiêu Ruộng Biền
thì biền là vùng ruộng gần sông nước mặn
(lờ lợ) rất hợp với lúa tiêu, sóc nâu, nếp
than. Ở điểm này tôi xin phụ đề thêm, biền
đúng ra là ruộng lác. Lác mọc cao và dầy hơn
lúa trong những tháng không làm mùa. Muốn dọn
đất làm mùa, thông thường người ta phải phát
lác rạp xuống bằng cái phảng, rồi trở đất
bằng cuốc chớ không phải bằng cày. Không có
trâu nào đủ sức kéo cái cày qua lớp rễ lác ăn
chặt xuống đất còn hơn rễ dừa. Ðến mùa
gặt lúa xong, lúc gốc rạ vừa rủ xuống và lác
chưa kịp mọc là lúc còng lên làm hang đặc
biền. Ðó là loại còng gió, lớn bằng ngón tay
cái này, màu đỏ. Lúc này thì dân biền mặc
sức ăn còng, còng luộc còng rang, còng nướng còng
kho, còng nấu canh chua. Và làm mắm, thành mắm
còng. Ðó là miền biền thuộc làng Ðồng Sơn,
Chợ Dinh, Chợ Giồng (Ông Huê?) mà tôi có dịp
biết qua tại vì đây là quê ngoại của tôi. Tôi
không tin anh An đã đặt chưn tới những vùng
này. Vậy mà anh viết lên được, vẽ lên được
trên mảnh đất đó những nhân vật rất đỗi tình
người trong cái cảnh đời nửa chợ nửa quê đó
mới là hay. Anh làm tôi bỗng dưng thích cái loại
lúa tiêu nho nhỏ hột tròn nhiều hơn nữa.
Rồi anh nhắc tới những địa danh quen thuộc như
Tân Niên Ðông, Tân Niên Tây, Vàm Láng, Vĩnh Hựu,
Vĩnh Lợi, Ðập Ông Canh. Nhưng, rất tiếc một
điều là hình như anh chưa một lần nhắc đến
bãi biển Gò Công, bãi biển Tân Thành. Tuy là bãi
cát đen như bùn nhưng đôi khi cũng có du khách xa
gần đến tắm, như tôi đây chẳng hạn. Và cây
cầu Long Chánh nữa. Ðây là một cái tên không
thể thiếu trong tâm tư dân Gò Công. Cũng như
cầu Trường Tiền đối với người Huế
vậy. Một điểm sơ xuất nhỏ về phương hướng
là từ Gò Công đến Chợ Gạo phải nói là
đi
lên
thay vì
đi ra
.
Thực ra toàn quyển truyện chẳng có gì lớn lao
đâu, chỉ là câu chuyện xoay quanh mấy mối duyên
tình, mấy vụ gả cưới của bốn năm cặp trai gái
đồng quê. Nhưng mà rất lôi cuốn và rất khác
xa với mấy mối duyên tình, mấy vụ gả cưới rất
ồn ào trong quyển
Hợp Lưu
. Ở đây, nhân
vật nào mối tình nào dù gặp cảnh éo le, ngang
trái buổi ban đầu, sau cùng rồi cũng có một
happy ending
trong không khí an bình, thanh
thản. Ðiểm lớn lao của cuốn sách họa chăng là
điểm giác ngộ, thí phát quy y cửa Phật của một
nhân vật chính trong truyện. Ðiểm này làm quyển
sách có chiều sâu, có triết lý sống. Có lẽ
chính vì vậy mà nhà Viên Giác ấn hành quyển
sách này chăng? Thôi, đến đây quý vị kể như
tôi đã lạc đề đi. Khi không mà vô tình (hay cố
ý), tôi lại bắt chước hành động của anh Võ Ðình,
hé mở cánh cửa cho quý vị thấy sơ sơ cái thế
giới của
Lúa Tiêu Ruộng Biền
, cái thế
giới mà tôi đã lạc vào đó trong say sưa, thích
thú. Rồi còn
Ngát Hương Mật Ong
nữa chi,
ai có nhiệm vụ đẩy nhẹ cánh cửa đây?
Bà
già trầu
rõ thiệt dài hơi, cho in một lúc
những ba tác phẩm.
Trở lại vấn đề Văn chương Miệt Vườn thay
vì Miệt Ruộng đi. Không biết cái tâm lý của
các anh chị em cầm bút khác thì sao, chớ tôi
thường gặp sự bất an, bất ổn mỗi khi ai đó
bắt tôi đưa ra nhận xét này hay phê bình nọ về
chữ nghĩa, văn chương. Trước tiên, tôi thấy
mình có nặng cân nặng ký gì đâu mà dám huênh
hoang trình bày những nhận xét bảo đảm là
rất... chủ quan của mình. Vả lại tôi không muốn
(hay chưa muốn?) mình trở thành nhà phê bình văn
học. Mặc dù có nhiều người nói phê bình tức
là sáng tác, nhưng tôi không khoái lâm vào tình
trạng bị sáng tác kiểu như vậy. Sáng tác
một bài mà phải đọc hàng chục cuốn sách, có
khi nhiều hơn nữa, với những người thiếu kiên
nhẫn như tôi thì đừng sáng tác kiểu này có lẽ
sướng hơn, đỡ mất thì giờ hơn. Bởi vậy
nếu tôi có điều gì thiếu sót ở đây, thì xin
quý vị cùng các anh chị em cứ tự nhiên bổ túc
hay tu chỉnh lại vậy.
Trước hết tôi phải đặt vấn đề là sau năm
54, đất nước bị chia đôi, chúng ta có một nền
văn học riêng gọi là Văn chương miền Nam. Văn
chương miền Nam là một danh từ dùng để đối
chiếu với Văn chương miền Bắc, và nhập chung
với Văn chương miền Bắc để trở thành Văn
chương Việt Nam trong thời nội chiến Quốc
Cộng. Khỏi cần nói ai cũng biết hai nền văn
chương Nam và Bắc trong thời kỳ này khác nhau như
thế nào.
Rồi sau năm 75, giai đoạn thống nhất đất nước
nói theo phía Cộng sản và mất nước nói theo phía
chúng ta, Văn chương Việt Nam cũng có hai thành
phần rõ rệt: tạm gọi là Văn chương Hải ngoại và
Văn chương Quốc nội. Mặc dù chúng ta chỉ có
khoảng một triệu rưỡi so với sáu chục triệu trong
xứ, nhưng tôi vẫn thấy Văn chương Hải ngoại
phồn thịnh hơn. Người viết mới càng ngày càng
nhiều và ai cũng sắc nét cả.
Bây giờ mới tới Văn chương Miệt Vườn, nãy giờ
tại tôi lạc đường nên đi vòng vo tam quốc vậy
thôi chớ không phải lạc đề đâu. Theo tôi nghĩ
Văn chương Miệt Vườn chỉ có trong Văn chương
miền Nam chớ không có trong Văn chương miền
Bắc. Là một khuynh hướng văn chương rõ rệt
trong Văn học miền Nam, Văn chương miền Nam. Ðến
đây, tôi nghĩ tôi phải nên định nghĩa thế nào
là Văn chương Miệt Vườn, vì tôi biết danh từ
không chuyên môn này có thể mỗi người hiểu
một ý. Theo tôi, Văn chương Miệt Vườn là
văn chương viết về đồng quê miền Nam Việt
Nam. Nếu xét đúng theo nghĩa này thì sau Hồ
Biểu Chánh, Phi Vân, Sơn Nam, Bình Nguyên
Lộc... cho đến bây giờ tôi thấy chỉ có hai
người viết thôi, đó là anh Hồ Trường An
(không kể
Hợp Lưu, Giai Thoại Hồng
...)
và anh Nguyễn Ðức Lập (không kể
Kiếm
Ðạo
...), qua các tạp chí
Văn, Làng Văn,
Văn Học
. Kiệt Tấn, không phải. Võ Kỳ
Ðiền, cũng không phải. Nguyễn văn Sâm, lại
càng không phải. Như vậy Văn chương Miệt Vườn
phải nói chỉ là một khuynh hướng nhỏ (hay lớn?)
trong cái tôi tạm gọi hơi dài dòng là Văn chương
viết theo văn phong miền Nam.
Tôi xin mạng phép nói sơ qua cái nhóm người cầm
bút đang viết văn theo lối này. Mặc dù không
ai chủ trương nhưng ngòi viết của những người
trong nhóm luôn luôn thắm đượm hơi hướm miền
Nam qua phong tục tập quán, cách ăn lối nói. Ðọc
vô là biết ngay. Và ai cũng công nhận đây là cái
nhóm đang làm ồn ào, đang gây tiếng vang trong nền
Văn chương Hải ngoại. Lẽ dĩ nhiên trong nhóm này
số người sinh trưởng trong gia đình có cha mẹ là
người gốc miền Nam chiếm đa số. Phạm Thăng,
Huỳnh Hữu Cửu, Hồ Trường An, Kiệt Tấn, Võ
Kỳ Ðiền, Nguyễn văn Sâm, Võ Hoàng, Nguyễn
văn Ba, Ngô Nguyên Dũng, Sỹ Liêm, Phan thị Trọng
Tuyến, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Cao Bình Minh, Trần
thị Kim Lan, Nguyễn thị Ngọc Diễm... và tôi. Tuy
nhiên, cái lằn ranh bao quanh nhóm này rất là mong
manh và phải tế nhị lắm mới nhìn thấy
được. Vì nhiều người không sinh trưởng trong
gia đình gốc miền Nam như Nguyễn Ðức Lập, Bùi
Thanh Liêm, Vũ Phương Nam, Ngọc Khôi, Trần Vũ,
Hoàng Du Thụy... mà viết với giọng văn toàn miền
Nam hay ít ra cũng nặng văn phong hoặc tâm tình
miền Nam. Ngược lại, có người gốc Nam rặc
như Xuân Vũ, Ngô Nguyên Dũng... lại đôi khi viết
sang giọng văn miền Bắc. Bởi vậy nhận xét này
chỉ có giá trị một phần nào thôi. Không ai cấm
người cầm bút lúc viết giọng này, lúc lại đổi
sang giọng khác.
Nhưng cái nhóm tôi vừa nêu trên đã làm cái gì mà
gọi là ồn ào hoặc gây tiếng vang chớ? Bộ tác
phẩm của họ viết ra toàn là những tác phẩm
lớn không sao? Thiệt ra đâu có phải vậy, và
cũng đâu có gì gọi là lớn lao đâu. Lớn hay
không là ở số độc giả thích đọc những tác
phẩm có văn phong miền Nam của họ đó thôi. Hình
như quan niệm thưởng thức của độc giả, không
riêng gì người Việt mình mà tất cả trên thế
giới đều vậy, đã thay đổi rất nhiều. Trong
thời buổi điện tử chớp nhoáng ngày hôm nay,
thì giờ còn lại sau giờ làm việc rất là hiếm
và quý báu, cho nên hễ cái gì gọn gàng, mộc
mạc, dễ hiểu, dễ cảm thông thì hiển nhiên dễ
có người đọc. Còn cái gì gút mắc, mới đụng
vô mà cái đầu đã thấy mệt cầm canh, phải
vận dụng trí óc, ba điều suy bốn chuyện nghĩ
rồi mới hiểu nổi thì nói thiệt, phải có can
đảm lắm độc giả mới chịu đọc tiếp.
Mặc dù giản dị, chân thành nhưng tác phẩm của
Văn nhóm đậm nét văn phong miền Nam này không phải
là không có chiều sâu. Chính ở cái chiều sâu
đó mà tác phẩm của họ mang nhiều sắc thái và
nhiều khuynh hướng khác nhau. Như chống Cộng ở
một Võ Kỳ Ðiền, chẳng hạn. Như hồn nhiên cho
nhục xác của một Kiệt Tấn, chẳng hạn. Như
thôn quê đầy tình người của một Hồ Trường
An, chẳng hạn. Như vừa thôn quê đầy tình
người vừa chống Cộng cho Cộng quê đặc sệt
một cục của một Nguyễn Ðức Lập, chẳng
hạn. Như triết lý khoảng không của một Nguyễn
văn Sâm chẳng hạn. Và còn nhiều thứ nữa...
Nói tóm lại Văn chương Miệt Vườn, rộng hơn
một chút là Văn chương viết theo văn phong miền
Nam không phải là thứ văn chương chỉ để nói lên
cái quê mùa, cục mịch của người dân quê, qua
lối đối thoại của những nhân vật trong truyện
như nhiều người lầm tưởng, mà chính là thứ
văn chương với những truyện ngắn, truyện dài,
và thơ thắm đượm tình người đẹp như ca dao.
Nguyễn Hưng Quốc có lần nói với tôi rằng:
Phần lớn những cây bút viết văn hay bây giờ
lại là những cây bút gốc miền Nam, viết với
văn phong miền Nam
. Chẳng biết mọi người có
đồng ý với anh điều này hay không, nhưng tôi cứ
xin nhắc lại lời nói này để thay lời chấm dứt
buổi nói chuyện nhỏ hẹp về Văn chương Miệt
Vườn của tôi ngày hôm nay.
* Bài nói chuyện tại trường đại học George
Mason, thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, vào ngày 25-06-1989.
back to top
03. BẮT MẠCH ÔNG LANG
NGUYỄN TẤN HƯNG
Ðể "bồi dưỡng" cho cái đầu càng ngày càng lú lẫn
của tôi, hãng đưa tôi đi dự đại hội. Một đại hội dành
riêng cho các chuyên nghiệp gia trong ngành điện toán.
The
Software Developer Conferences
, cái tên mới nghe rất xôm trò
như vậy mà thực ra chỉ là tên của một khóa học. Có
thầy dạy đàng hoàng. Một trăm phần trăm không phải là
đại hội như nhiều anh bạn của tôi cũng như tôi đã lầm
tưởng. Thì ra hãng đưa tôi đi tu nghiệp. Ghi nhận và
học hỏi thêm những gì người ta mới phát minh phụ trợ cho
UNIX Operating Systems (hệ thống máy chạy với UNIX).
Học học hoài chán thấy mồ! Ở đời, phàm hễ bắt người
ta làm một điều gì thì người ta lại không thích. Ngay cả
việc học cũng vậy. Cứ để tự nhiên cho con người ta
tự tìm tòi khám phá, nhiều khi người ta lại bỏ ăn bỏ ngủ
để mà lo lấy thân. Ðằng này khác, phải làm một cái gì
đó để có vài dòng ghi vô hồ sơ bình điểm hằng
năm. Bởi vậy tôi cũng cưu mang một căn bệnh chung của
mấy tên Mỹ làm cùng sở, sẵn sàng vướng vào cái tâm
trạng "bị dồn ép" rất thường tình đó mỗi khi "được"
xếp chỉ định đi xa. Nhất là về mạn Bắc, New Jersey chẳng
hạn, và chui vô thành phố lớn, Newark chẳng hạn.
Lần này chẳng biết hai người bạn đồng hành của tôi, hai
thằng Mỹ con rặc nòi Nam Kỳ Quốc, có ngại mấy cô gái Bắc
lái xe ẩu như cua đinh hay không mà giao nhiệm vụ "quản lý"
chiếc xe mid-size thuê của hãng National cho tôi. Có lẽ bọn nó
nghĩ rằng người ta ai ai cũng vậy, hễ càng lớn tuổi
thì càng cẩn thận. Không đứa nào tin tưởng ở đứa
nào hết thì việc "giao khoán" cho bậc đàn anh được coi
là thượng sách. Tụi nó đâu ngờ mấy anh chàng muối
tiêu nhiều khi cũng ẩu can không vô.
Tôi đã cẩn thận phác họa chương trình ẩu xị của mình
ngay từ lúc chưa bước chân lên phi cơ kia. Nhiều lần
trước đây, trừ trường họp đi một mình chẳng nói làm
chi, mỗi khi đi công tác chung thành một nhóm, tôi thường
hay mướn tài xế Mỹ không lương. Ít khi được hân hạnh
đi lái thuê, ăn lương vợ như lần này. Bởi vậy, với
lần duy nhất tôi được giữ xe này thì tội gì tôi không
biết xé lẻ.
Nhưng xé lẻ rồi xách xe chạy đi đâu?
Tôi cố moi móc trong trí nhớ coi có ai là thân bằng quyến
thuộc của mình trong cái vùng ô dề tạp nhạp mà tôi sắp
tới hay không? Cái vùng được coi là chứa hầu hết các
cơ quan quan trọng của Bell Laboratories, bộ óc của AT&T. Rất
tiếc, bà con chẳng những không có mà bạn bè nối khố
cũng tìm không ra. Ðám em út, bồ bịch xa xa thì cũng chỉ
làm tôi thêm đỏ con mắt. Ôi, cái cảnh bơ vơ nơi xứ
lạ quê người sao mà khổ vậy!
Nhưng tôi bỗng loé lên một tia sáng. Hình như ông lang Ta
(hay Tây?), Bác sĩ Lê văn Lân, hiện cư ngụ ở tiểu bang
New Jersey? Tôi bèn check lại với chủ lò, chủ bếp và quả
thiệt, đúng như vậy. Tôi gọi điện thoại liên lạc với
anh ngay và anh cũng hâm hở gửi liền cho tôi một lô nào
là bản đồ New Jersey, bản đồ vùng Trenton thành phố anh
đang ở, và bản đồ vẽ tay chỉ rõ đường nào dẫn vô
nhà. Bạn văn (khác với bạn dân) mà không sốt sắng với
bạn văn thì coi sao được. Nhất là đã biết rành nhau
trên mặt báo, qua những bài viết đã được đọc cẩn
thận. Tôi khoái quá.
Dạo ấy bác lang ta mới nổi thôi. Mới đăng một hai bài
nói về rau giấp cá và những đạo bùa trên
Làng
Văn
. Nhưng người giữ làng liền bồng ông lang để
vô ban biên tập ngay. Chẳng bằng tôi viết những mấy
năm trời, rồi có in sách tại làng nữa, cuốn thứ hai
sắp sửa nối đuôi cuốn thứ nhất, vậy mà tôi nào có
tên trong "danh sách cộng tác" nói gì đến "ban biên tập
chủ lực." Nhìn đi nhìn lại, "tên tuổi nổi đình nổi
đám của tôi" hình như không bao giờ xuất hiện trong một
ban biên tập chủ lực của một tờ báo nào hết. Nghĩ
cũng buồn. Buồn đây là buồn cho mấy anh chị bạn văn
của tôi thôi, họ hay phàn nàn giùm tôi trong thư từ hay
những lúc nói chuyện điện thoại, chớ riêng tôi tôi thích
được như vậy hơn. Coi như mình độc lập với tất cả
các báo (ai dè sau đó "bị" dính vào lia chia).
Mà nói đến tất cả các báo làm chi cho nó lớn lao. Chỉ
cần ba tờ
Văn, Làng Văn, Văn Học
là đủ chuyện nói
rồi.
Văn
không có danh sách ban biên tập chủ lực
(mấy năm đầu không tính). Chỉ có danh sách "trong số
này."
Làng Văn
có một ban biên tập chủ lực và danh
sách góp bài góp tranh thay đổi thường xuyên.
Văn
Học
có một ban chủ biên chết cứng với một nhóm nhỏ,
hình như không bao giờ thay đổi (thời Nguyễn Mộng Giác).
Thử hỏi quý vị bạn văn thích mấy ông bà chủ bút, chủ
báo hành xử quyền của mình theo kiểu nào đây? Lẽ dĩ
nhiên, bá nhơn bá bao tử. Nhưng điểm đáng nói là có
nhiều người có tên trong ban biên tập chủ lực, chủ biên
mà cả năm không có một bài thì sao gọi là chủ biên, chủ
lực cho được?
Nhưng bác lang ta chắc phải có cái gì dữ dằn lắm cho nên
mới đó mà đã ào ào, phất cờ giống trống nhào vô ban
biên tập chủ lực của làng ta? Sao hay vậy? Ðể rồi
coi! Phải đến tận nhà bắt mạch, hốt cho bác ta một thang
thuốc thứ thiệt thì mới biết bác ta phỏng đá hay vàng.
Bởi có dự tính trước cho nên lúc phái đoàn bộ ba một
Việt hai Mỹ của tôi đáp xuống phi trường Newark thì mặt
trời còn nằm trên cao. Nhưng rủi cho hôm đó là cái hàng
nối đuôi nhau tại quầy thuê xe của hãng National quá dài.
Mất cả tiếng đồng hồ mới xong mục check out. Một tiếng
đồng hồ tôi phải đứng xếp hàng vì tôi làm tài xế,
còn hai thằng Mỹ cứ thong dong tìm chỗ vắng ngồi nghỉ xả
hơi (tiếc là tụi này không biết làm thơ). Coi bộ cái
nghề làm tài xế ở nước nào cũng vậy, không khá mấy.
Bản đồ chỉ dẫn lối đi từ phi trường ra xa lộ dù có rõ
ràng cách mấy đi nữa, lúc trên đường,
on the road
,
cũng sẽ bị lọng cọng. Nhất là cho những ai mới lái lần
đầu tiên ở một phi trường xa lạ, một thành phố xa
lạ như tôi. Ðã vậy chiếc Chevrolet hiệu cao bồi Beretta,
loại đồng hồ digital một trăm phần dầu mới ngồi vô ghế
lái tưởng như ngồi vô cockpit trên phi cơ, lại chết máy
ngay giữa đường mới ngặt. Ðám chạy sau bóp kèn vài
tiếng õm tỏi rồi không đợi ai bảo sàng hàng ngang vọt qua
mặt vù vù. Phải biết đám con gái Mỹ ở New Jersey chạy xe
ngang hơn cua đinh như tôi đã nói ở trên. Làm tôi cũng
hơi quê với mấy cái nhìn trừng trừng, liếc háy.
Không biết thằng Mỹ con ngồi băng trước với tôi tốt
nghiệp ở trường nào mà vấn đề làm hoa tiêu, navigator,
của nó dở quá mạng. Phải chi chuyển được nó về trường
Hải quân học thêm vài khóa cấp tốc trước khi đi thì đỡ
tôi rồi. Nó chỉ sợ nằng nằng một điều là lỡ tôi
lạc đường, chạy tuốt qua bên New York thì nguy. Lọt vô khu
Central Park, Harlem thì càng thêm khốn khổ nữa. Bởi vậy
lúc đến ngã rẽ tâm tình, một chỉ đi về New York và một
chỉ đi về Elizabeth, thì nó đưa đề nghị cho tôi là cứ
đi theo bà nữ hoàng. Chừng lọt ra xa lộ 1 tôi mới thấy
trật đường rầy. Vì theo lối này tôi đang chạy về
hướng Nam. Tôi bèn phải tìm đường quành đầu trở lại.
Mới hay ở thành phố Newark này (mà có lẽ luôn khắp cả tiểu
bang New Jersey không chừng) cảnh sát không cho quẹo trái. Muốn
quẹo trái phải quẹo phải. Rồi mới tìm đường băng qua
phía bên trái. Chịu không chịu thì thôi, rõ cái xứ ăn ở
ngược đời.
Bởi lạng quạng ba cái vụ xe cộ, đường xá mà lúc tụi tôi
tới được hotel thì mặt trời đang từ từ lặn. Nhá nhem
tối. Thế thôi, không còn thì giờ để tả cảnh, tả tình
nữa. Vô được phòng riêng, tôi gọi liền cho bác lang ta,
báo động cho ảnh biết là tôi chưa bị nổ tan tành trên máy
bay. Chắc anh cũng sốt ruột chờ cú điện thoại này vì quá
giờ hẹn đến những hai ba tiếng.
Tôi lần tay tính nhẩm con đường từ hotel đến nhà ông
lang. Tám dặm trên xa lộ 78 về hướng Ðông sẽ bắt gặp
Garden State Parkway. Mười hai dặm trên Parkway này về hướng
Nam thì xắn ngay vô xa lộ 1. Thêm ba chục dặm trên xa lộ 1
nữa thì tới Trenton. Vị chi chỉ có năm chục dặm đường
trường, khoảng một giờ lái xe là cùng. Ai dè chạy trời
không khỏi nắng, tôi lại bị trục trặc lần thứ hai, ở
khoảng đường ba chục dặm chót bét đó. Xa lộ gì mà hàng
trăm cái stop light, đèn xanh đèn đỏ nhấp nháy tư bề.
Lúc tôi đến Trenton thì trời đã tối hẳn. Nhìn hai bên
đường nhà gạch cũng giống nhà cây. Tôi bắt đầu theo bản
chỉ dẫn vẽ tay sau khi bắt vô xa lộ 1 alternate (nếu cứ giữ
theo xa lộ 1 thì đi tuốt luốt qua bên thành phố Philadelphia
thuộc tiểu bang Pennsylvania). Sau sáu cái stop light, đi thêm
độ một khoảng ngắn nữa sẽ thấy tiệm Burger King nằm bên
phía tay mặt. Quẹo trái ngay ở ngã tư sắp tới. Lại quẹo
trái? Luật cấm quẹo trái của tiểu bang có được áp dụng
chặt chẻ đứng đắn ở vùng này không đây? Nhưng mà hên
quá, phen này tôi rất tự nhiên như một người bản xứ,
một thổ công thổ địa không bằng.
Nhưng thổ công thổ địa tìm nhà không ra. Cái số nhà bỗng
nhiên bị nhảy vọt, cách khoảng. Hai bận vòng tới vòng lui
chỉ thấy miếng đất trống, buộc lòng tôi phải nhảy xuống
xe bấm chuông nhà người Mỹ kế bên, trình cái note có ghi
địa chỉ và phân trần:
- Ê, cha nội có biết nhà số này nằm ở đâu không?
Ông Mỹ sồn sồn cười hề hề, trả lời:
- Ðường này không phải là đường Putnam ông ơi. Ðường
kế kìa, đi thêm một block nữa.
Hừm, thì ra vậy. Lỗi tại ban đêm, chẳng trách ai được...
Lúc anh Lân và tôi tay bắt mặt mừng thì cũng dám đến chín
giờ tối. Anh mặc áo sơ mi trắng dài tay, quần đen, chân
đi giày hàm ếch trông có vẻ giống như một ông đồ hơn
là một Bác sĩ. Với khuôn mặt tròn, sáng, nhưng hiền.
Dáng người anh vừa tầm, không thấp không cao, cao hơn tôi
một chút thì có. Cũng không mập không ốm, chỉ lớn con
hơn tôi một chút thôi. Tóc phía trước trán bạc trắng,
phần còn lại muối nhiều hơn tiêu... Ðại khái thân hình
bồ liễu của anh dưới mắt tôi như vậy. Ai muốn hiểu rõ
hơn thì phải biết qua thân hình mặt mũi tôi như thế nào cái
đã, rồi mới so sánh được.
- Ban đêm mà tìm nhà trúng phoóc. Hay thật. Mà có đi
lạc không?
Cái anh này rắc rối, đã khen mình tìm nhà trúng phoóc, rồi
lại hỏi có đi lạc không nghĩa là làm sao? Tôi cũng trả lời
cho qua câu chuyện:
- Dạ, nhà anh dễ tìm mà. Cũng không đến nỗi khó khăn cho
lắm. Tôi cứ theo lời căn dặn của anh mà đi thì tới thôi.
Anh và tôi sà vào bàn ăn cạnh phòng khách. Trên bàn bày rình
rang nhiều món ăn chắc đã nguội lạnh từ lâu. Anh nhờ cậu
con trai, có lẽ là út, khoảng mười sáu mười bảy tuổi đang
coi tivi:
- Con con, con đi luộc cho bố mấy cái trứng vịt lộn này
nhé.
- Con không biết luộc đâu!
Tôi hơi ngạc nhiên với câu nói có vẻ hơi thẳng thừng
đó. Rồi mới nhớ ra là cỡ chạng này thì lúc mới qua Mỹ
năm 75 cũng chỉ mới một hai tuổi là cùng. Cũng giống như
đám con của tôi thôi, nên tôi hiểu. May là anh chàng này
còn biết nói tiếng Việt. Rồi như tánh người Bắc hay coi
trọng con cái (vẫn hay gọi con cái bằng anh bằng chị cơ mà),
tôi thấy anh Lân làm hòa:
- Thì con đổ vô xoong một ít nước, thả trứng vịt vào
và đun cho nó sôi lên... Ðang bận xem phim hở? Thôi, cứ
xem hết phim đi rồi hãy luộc.
Anh quay sang tôi, tiếp luôn:
- Anh Hưng muốn uống bia hay là làm rượu mạnh?
- Dạ, uống bia được rồi anh. Tôi còn lái xe về đường
xa nữa.
- Ngủ lại đây chớ về làm gì trong đêm. Sáng dậy đi
sớm. Phòng ốc ta đã lo hết rồi mà.
Ðến bây giờ chị Nhàn, vợ anh Lân, mới bước ra. Trong
một bộ đồ bộ màu xanh nhạt có thêu những bông hồng nho
nhỏ. Không son phấn sửa soạn gì hết. Chị có khuôn mặt
trái soan, phúc hậu. Với nước da trắng mát. Tuổi
chị chắc cũng đã năm mươi ngoài nhưng nhan sắc trông vẫn
còn mặn mà, chưa thấy nếp nhăn và trẻ hơn anh Lân nhiều.
Hay chỉ tại hình bóng của chị ăn đèn chăng? Ban đêm
mà! Cũng như anh Lân, vóc dáng của chị vừa người, không
ốm không mập. (Viết đến đoạn này, tôi nhớ hồi anh
Lân đọc xong bài
Một Lần Xuống Núi
trên
Văn
có
điện thoại hỏi tôi như vầy: Mà mấy bà anh tả trong đó
có thiệt đẹp như vậy hay không? Tôi nghĩ cũng tức cười,
lắm lúc mình nói thiệt hổng ai tin. Bây giờ anh Lân có
đọc những dòng chữ này chắc ảnh... hơi run. Tôi đã
bảo cái đẹp của người đàn bà bao giờ cũng rắc rối.
Mà thật sự, tôi nào có tả thêm tả bớt ai đâu, chỉ
thấy sao nói vậy thôi).
Ðiểm đặc biệt hơn nữa là giọng nói của chị. Không phải
trong trẻo như tiếng chim sâu, cũng không phải réo rắt như
tiếng suối reo, mà chỉ nồng nàn, ấm áp của một giọng nói
miền Nam. Giọng Cái Mơn, Mõ Cày gì gì đó mặc dù chị cho
biết chị sinh trưởng ở miệt vườn Vĩnh Long. Nhưng giọng
của anh Lân còn ngọt ngào hơn nữa:
- Em, em làm ơn luộc cho anh mấy cái trứng vịt lộn đi.
Tình chưa? Càng già càng tình đấy chứ! Ðâu cần phải càng
dẽo càng dai! Thì ra anh Lân coi vậy mà thuộc nằm lòng
bài Khúc Hát Ân Tình của Song Hương (lời) và Xuân Tiên
(nhạc).
Ơi, tình Bắc duyên Nam, là duyên muôn đời ta
đắp xây. Tình tính tang, tang tình, tang tính tang
... Mà
cũng lạ, chẳng nghe ai ca tụng đến những mối tình "tình
Nam duyên Bắc" bao giờ nhỉ (chắc phải chờ Xuân Vũ)! Riêng
chính bản thân tôi, tôi có lần tâm sự với một người
bạn Bắc rằng tôi hụt cưới vợ Bắc đến mấy lần, anh
bạn bèn tống cho một câu choáng váng: "Ối giời ơi, thôi
đừng có tiếc rẻ ông ơi. Ông mà không lấy được
vợ Bắc là hên. Ông mà lấy được nó là ông tiêu. Ối
cái thứ đàn bà Bắc, nó chanh chua đanh đá và nó đì
thằng chồng khéo lắm cơ. Cứ như tôi đây mà tôi
cưỡng còn không lại huống hồ gì ông." Cái này là của
ông bạn tôi nói chớ không phải tôi à nghen. Mà có thật
như vậy hay không đây những cô Bắc kỳ nho nhỏ (mà tôi đã
có lần yêu muốn chết)? Tôi chẳng làm sao biết được,
đoạn trường này tôi chưa có qua cầu! Mà thôi, cho tôi stop
lại đây đi. Viết cái điệu này hoài chắc có ngày bị bà
con... dũa.
Lúc chị Nhàn đem hột vịt trở ra thì anh Lân và tôi đã thiểm
xực không biết bao nhiêu món vừa mới hâm nóng lại bằng lò
microwave. Nào là bánh hỏi thịt nướng, lòng heo đủ bộ (không
hiểu còm măng từ lò nào đây) chấm mắm nêm, thịt bò xào
rau cần bông cải. Hột vịt lộn kèm với rau răm muối tiêu
có lẽ là món chót. Anh Lân vui miệng:
- Cái anh Hưng này coi vậy mà món gì cũng ăn được ha.
Trời đất, công của chị làm cả buổi trời dọn lên đãi
khách, khách quí từ ngàn xa vạn dặm, mà chẳng lẽ tôi
không đụng đũa tới. Nói nào ngay, những món thuần túy
miền Nam cũng đang hấp dẫn tôi lắm lắm. Ý chết, sao
tuyệt nhiên không thấy một món Bắc nào hết vậy
cà! Lạ không? Ai nói đàn bà Nam không biết "đì" chồng
đây? Tôi trả lời đưa hơi:
- Tại mấy món này nhậu bắc quá phải không anh?
Mà trước khi ký hiệp đồng bỏ bớt rau đay, cà pháo
(quyết không bớt rau muống), lậm qua giá sống, anh Lân đã
từng lột lưỡi bằng ớt chỉ thiên đến những hai mươi
năm cơ. Bởi vậy chuyện cố đô từ vua chúa (anh Lân
rành về vua Minh Mạng nhất) đến dân giả (phong tục, tập
quán) anh đều thấm nhuần. Anh có chân trong hội Ái hữu
cố đô Huế gì gì đó và anh đem khoe với tôi mấy quyển
đặc san
Tiếng Sông Hương
. Trước khi đưa cho tôi
anh còn nói đùa một câu:
- Ðây này, thấy danh sách dài sọc của mấy trăm người
thương Huế, nhớ Huế, sống chết với Huế chưa? Ai mà
đụng tới Huế là cả đám này nhảy ra ăn thua đủ đấy!
Tôi lật lật xem, thấy hai trang bìa trong dày đặc những
tên của các nhân vật tên tuổi của chốn thần kinh. Văn sĩ,
thi sĩ, họa sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, điêu khắc gia, học
giả... thì khỏi nói rồi, những thân hào nhân sĩ tướng tá
cũng được liệt kê hàng hàng lớp lớp trong đó nữa.
Tôi cũng đùa theo:
- Khiếp! Ai mà dám đụng tới mấy ông bà hoàng tộc!
Thấy hai anh em tôi bàn qua chuyện văn chương chữ nghĩa,
chị Nhàn đưa ý kiến "dời đô" qua phòng khách, để chị lo
dọn dẹp đặng chị đi ngủ sớm. Tưởng chuyện gì khó làm
chớ chuyện này thì anh Lân bảo tôi cứ tỉnh khô như người
Hà Nội, đê đầu vâng lời nội tướng.
Rồi anh Lân mang ra một lô báo chí sách vở để bàn tiếp.
Tấp vô cái cộng đồng Y sĩ Hải ngoại của anh. Cũng tương
tự như tôi có cộng đồng Hải quân vậy.
Nội San Y Sĩ
của Hội Y Sĩ VN tại Canada bài vở súc tích, in trên giấy
đắt tiền. Hội viên toàn là dân hái ra bạc không mà. Trên
tờ báo này, anh Lân đã nhiều lần cho đăng lại những bài
thảo luận viết bằng tiếng Anh mà anh có dịp trình bày
trước đám đông khán thính giả ngoại quốc tại các trường
Ðại học Mỹ. (Tôi thích bài
Folk Medicine among the Southeast
Asia Refugees in the U.S.A., Risk, Benefits, and Uncertainties
.
Trong đó anh Lân có nói qua về vấn đề "cạo gió," sắc
(chưng) thuốc, và thuốc viên như thuốc dưỡng thai "bảo
thái hoàn," thuốc trị độc "giải độc hoàn"). Mò
sang tạp chí
Việt Nam Tự Do
ở Cali, đã qua năm thứ
sáu, với nhiều bài của anh, viết dưới nhiều bút hiệu
khác nhau mà tôi không tiện nói ra đây. (Tôi thích loạt
bài anh viết về Hàn Mặc Tử. Và điều này chứng tỏ rằng
ngoài việc yêu thơ, anh Lân còn là một cây bình thơ tài
tử rất độc đáo nữa). Rồi lần tới báo Chùa, báo
Chúa... Nếu ngược dòng thời gian xa hơn một chút nữa,
anh cũng đã có tác phẩm xuất bản ở Việt Nam trước 75,
quyển
Les Principes De Déontologie Me'dicale D'après L'ouvrage
Ngư Tiều Vấn Ðáp Y Thuật (Dialogue Entre Le Pêcheur Ét Le
Bucheron Sur La Me'decine) Du Nguyễn Ðình Chiểu
, nguyên bản
tiếng Pháp soạn chung với giáo sư Nguyễn Ðình Cát. Ðến
đây, khỏi cần nói quý vị cũng biết anh Lân thông thạo
cả ba ngoại ngữ: Anh, Pháp, và chữ Nho. Nói tóm lại,
anh Lân đã nổi tiếng trên văn đàn trước khi gia nhập
Làng Văn
, một trong những tờ báo mà bây giờ anh coi
là trụ cột để dồn hết mọi sáng tác về đó.
Phàm làm việc gì phải có kẻ đồng hành, đồng chí hướng
cùng nâng đỡ an ủi lẫn nhau mới thấy hăng hái, lên tinh
thần. Như người này tung thì có kẻ kia hứng trong một
trận giao cầu vậy. Ở nơi tôi, tôi có một bè rất lớn
văn nghệ sĩ gốc miền Nam, nam cũng như nữ, mà tôi hay
nhắc đến hoài thét mỏi miệng. Thì ở nơi anh, anh cũng
có một nhóm nhỏ (hay lớn?) chuyên về biên khảo mà anh sống
rất gần, rất thân. Như các học giả Thái văn Kiểm,
Trần văn Tích...
Ở gần
bà già trầu
không phải bị ăn ống ngoáy, chìa
vôi mà không nhiều thì ít tôi dồn vô đầu một mớ ca dao
và câu hò miền Nam. Còn ở gần ông lang ta không phải bị ăn
ống nghe, kim chích mà tôi cũng được dịp dồn vô đầu
nhiều câu nói rất có ý nghĩa của người xưa.
Quân tử
thực bất cầu báo cư bất cầu an
(trong Khổng Học Ðăng
của Phan Bội Châu phải không ông lang?), đại để như vậy.
Câu này nếu đọc luôn một lèo không ngưng nghỉ thì thành ra
phản nghĩa lại ý người xưa muốn nói gì. Phải hiểu là "quân
tử thực bất cầu, báo (miễn no bao tử thôi), cư bất cầu,
an (miễn an nhàn thư thả là được rồi)." Bỗng nhiên tôi tìm
gặp được một người có thể bổ túc cho cái vốn liếng
chữ nghĩa thiếu hụt quá trầm trọng của tôi thì thử hỏi làm
sao tôi không chịu ông lang ta cho được.
- Bây giờ lên đây tôi chỉ cho anh thấy chỗ mà chiều nào
tôi cũng bỏ vợ bỏ con, một mình chui rúc vô đó, sống hết
mình trong đó.
Tôi lót tót theo anh leo lên căn gác xép (nhà anh cất theo kiểu
colonial, tầng trên có những cửa sổ cất thụt ra ngoài như
những cái lồng cu). Ở một gian phòng nhỏ, tôi bắt gặp
cái kệ sách và bàn viết sáng tác của anh kê gần cửa
sổ. Những dòng chữ tung bay khắp muôn phương trong gió lộng
đã xuất phát từ đây? Lúc đó tôi cảm thấy hai anh em tôi
đã gần gũi nhau quá sức dù chỉ mới gặp nhau lần đầu
(cái cảm giác này tôi còn nhớ mãi đến ngày hôm nay). Ðời
người cầm bút có mấy lần biết nhau trong từng ngõ
ngách. Vì trong phòng có mỗi một cái ghế nên hai anh em
ngồi bẹp xuống sàn gác tâm sự tiếp, bên cạnh rừng sách
chữ Nho tôi đọc không được mà vẫn thích. Mãi đến quá
nửa khuya...
- Thôi trễ quá rồi anh ơi, tôi phải về hotel nghỉ
lấy sức.
- Chớ không ngủ lại thiệt sao?
- Không được đâu anh à, ba cái đèn xanh đèn đỏ trên
đường số 1 nó dám làm tôi trễ tàu lắm. Vả lại tôi còn
phải đi chung với bọn Mỹ nữa. Thôi để tôi về trong đêm
cho chắc ăn.
Anh gom góp đưa cho tôi một số báo bạn và một lô bản thảo
đem về nhà đọc trước mà lần lượt tôi đã thấy xuất
hiện hầu hết trên các báo sau này. Có quý nhau lắm bạn
mới đưa bản thảo cho bạn đọc phải không? Cái thú được
xem cuốn phim trước khi đem ra trình chiếu ngoài công cộng
cho quần chúng nghĩ lại cũng muôn vàn khoái cảm.
Lúc chia tay dưới sương đêm lành lạnh, anh Lân còn nói
vói với tôi một câu:
- Tiếc là thời gian ngắn ngủi quá. Tôi chưa kịp hỏi qua
anh về kỹ thuật viết truyện ngắn...
Kỹ thuật viết truyện ngắn? Mèn ơi, có kỹ thuật kỹ thiết
gì đâu anh, hễ đặt bút là cứ ngoáy tứ tung (hoặc hễ
đặt tay lên keyboard là cứ gõ lia chia, nói theo kiểu bây
giờ), tôi định trả lời anh như vậy nhưng thôi. (Giờ,
đọc qua bài này chắc anh biết qua "nghệ thuật dựng truyện"
của tôi nó đã tiến tới mức "siêu việt" như thế nào rồi).
Ðêm hôm đó tôi về tới hotel cũng đến gần hai giờ
sáng. Quá đủ cho một cuộc xé lẻ!
Tôi còn ở New Jersey thêm vài ngày nữa nhưng không có dịp
nào trở lại thăm anh. Tôi bận làm tài xế đưa hai tên Mỹ
đi ăn, đi nhậu mỗi chiều. Cũng nên biết qua New Jersey
là tiểu bang mà hai anh bạn Mỹ đồng xuồng của tôi hay gọi là
"dry state," tiểu bang hạn hán khô cằn. Muốn uống bia,
uống rượu phải tự mua lấy ở đâu đó mang vào, chủ quán
ăn chỉ biết bán thức ăn thôi. Tuy nhiên, đó là tình trạng
vòng vòng ở những nơi dân cư đông đúc.
Muốn thưởng thức trọn vẹn cái không khí của quán nhậu Mỹ
trong vùng này, tụi tôi phải đi xa xa ra ngoài mấy thành phố
nhỏ. Như quán bò bít-tết
Arthur's
ở thành phố Morris
Plains chẳng hạn, cũng là một quán nên ghé qua một lần cho
biết. Lần đầu tiên tôi gọi một miếng bít-tết nặng
một cân, 16 ounces (ở đây chỉ có hai loại 16 và 24 ounces).
Lúc bồi đem ra mới thấy miếng bít-tết to lớn dềnh dàng,
dày một chóng 2 lóng tay. Và chẳng biết có phải được
nướng bằng lửa ngọn hay không mà cháy khét đen khét đỏ.
Nhưng, cái hương vị thì tuyệt, quả không chỗ chê. Với
giá 9 đồng 99 xu ai cũng nói tụi này không ăn lời bằng
thịt, mà vét túi thiên hạ bằng bia, 2 đồng một chai thì
phải. Thực khách lúc nào cũng đông nghẹt và ồn ào hơn
cái chợ chồm hổm...
Bởi trong một đêm quá ngắn, cho nên tôi nghe mạch ông lang
nhảy lộn xộn chỉ có mấy dòng vậy thôi. Toàn là mạch
nổi. Còn những mạch chìm, những mạch quái đản gì gì
nữa nằm sâu trong lớp bì bạch cuộc đời này của ông
thì tôi không tài nào cảm nhận được. Dành phần đó cho
những ông lang ta thấm nhuần lẽ tuần hoàn trong Ngư Tiều
Vấn Ðáp Y Thuật vậy.
back to top
04. NÓI CHUYỆN VỚI "ÐÀN EM"
NGUYỄN TẤN HƯNG
Tôi có một lô đàn anh trong nghề viết lách gốc miền
Nam mà tôi không muốn nhắc tới nữa, nhắc hoài thét mắc
cở... cái lỗ miệng. Chỉ đại khái nào là Phạm Thăng,
Huỳnh Hữu Cửu, Hồ Trường An, Kiệt Tấn, Võ Kỳ Ðiền,
Nguyễn văn Sâm...
Dạo sau này tôi bắt liên lạc được với anh Lê Mỹ Hương.
Cũng là dân gốc miền Nam, nhưng anh có nếm biết mùi tập
kết. Ðể công bằng, ở chỗ này tôi nghĩ tôi cũng nên gạt
ông Xuân Vũ, tác giả
Ðường Ði Không Ðến
, qua một
bên. Tại vì cái ông này... lai Bắc Kỳ nhiều quá. Toàn "nói
tốt" cho dân cầm bút gốc Bắc không thôi. Chỉ cần đọc một
vài đoạn của
Văn Nghệ Sĩ Miền Bắc Như Tôi Biết
thì sẽ
rõ. Nào là Xuân Diệu với
Mặt trời đi ngủ sớm
. Nào
là Nguyễn (Bất) Tuân với
Cành hoa mai trên bờ sông Nhật
Lệ
. Nào là Nguyễn Bính với
Sang sông đắm đò
.
Nào là Nguyên Hồng với
Năm Sài Gòn
. Nào là Nguyễn
Xuân Khoát với
Liệm trong tiếng chuông nhà thờ
... Phải
công nhận mõ nhà Xuân Vũ thiệt dài hơi. Mới một vài năm
qua mà đã hoàn tất một hai ngàn trang truyện ngắn, truyện
dài, hồi ký chưa ráo mực. Một lô sách thuộc loại tạt
nước lạnh vô mặt Bác và Ðảng đã và đang rầm rộ xuống
đường:
Con Người Vốn Quý Nhất, Kẻ Sống Sót, Xương
Trắng Trường Sơn, Thiên Ðàng Treo, Ánh Chớp Trong
Ðêm
... Ðó là chưa kể
Mấy Khúc Ruột Tằm
, những
bức thư nhắn nhủ Trần văn Giàu, Nguyên Ngọc, Trần Bạch
Ðằng, Lưu Hữu Phước, Nguyễn Ðình Thi... Bởi vậy Vũ Huy
Quang có nói anh "đã là một trong những nhà văn có sức sáng
tác mạnh mẻ nhất của hải ngoại từ 75 đến nay" thì quả chẳng
sai. Nhưng mà, lẽ dĩ nhiên, tôi thích Lê Mỹ Hương qua
Những độ gà nòi, Vàng mơ bông lúa, Gánh bầu
rệp
... hơn, vì có cái gì đậm đà tha thiết trong khung
cảnh đồng quê miền Nam ở trong đó. Và đó cũng là tấm
thân tình ấm cúng mà anh đã gửi cho tôi qua giây nói điện
thoại. Tuy đã lớn tuổi nhưng giọng anh vẫn còn rổn
rảng, rắn chắc.
Ðồng thời anh Nguyễn Hữu Chung ở tận bên Canada cũng lại
bắt được nhịp cầu sang tôi. Bỏ qua phần làm báo ở Việt
Nam, ở hải ngoại Nguyễn Hữu Chung hình như bắt đầu nhảy vô
làng với bài viết về cây Sa-Kê. Bài này đặc sắc đến
nỗi, theo tôi biết, ông Võ Phiến cũng có viết thư khen anh.
Sau đó anh cũng sắm được
Chiếc Xe Honda Màu Ðỏ
và đã
gửi tặng cho
Làng Văn
. Chiếc xe này cũng màu mè, ướt
át lắm. Chỉ sơ sài như vậy. Bởi như anh cho biết, anh chỉ
viết lai rai, tài tử thôi. Chữ nghĩa văn chương chưa lậm
vào xương tủy như mấy anh em khác của tôi. Nhưng, cái ông
già Ba Tri này (quê quán của Nguyễn Hữu Chung ở Ba Tri mà) chưa
già mà đã lẩm cẩm. Thuở đời nay trong lá thư đầu
anh viết cho tôi, anh nói rằng anh đỗ tú tài đôi hồi
năm 68. Vậy mà anh đòi làm đàn anh tôi, bày đặt Hưng này
Hưng nọ nữa chớ... Phải biết dân đậu tú tài đôi năm
68 là đàn em xa lắc xa lơ của tôi, sau tôi những bốn năm
cấp. Tôi bèn dộng cho anh mấy lời xếp anh vào lớp "lội
nước đi sau." Phủi tay cái rột. Ðến chừng gặp anh Hồ
Trường An, anh An cho biết Nguyễn Hữu Chung là bạn học cùng
một cấp với anh hồi xưa ở Nguyễn Ðình Chiểu. Thôi chết
rồi, rõ ràng ông già Ba Tri đã viết lộn hai số 58 thành ra hai
chữ Mậu Thân. Làm tôi phải một màn viết thư đính chính.
Như vậy tôi quen thêm hai ông anh bên quê hương đồng khổ
(quê hương đồng khởi là nói theo kiểu cộng sản). Không
đồng khổ sao được cho những người cùng cam lòng bỏ
xứ... dừa ra đi? Mà rõ ràng cái xứ đồng khổ này đặc
biệt đã đẻ ra lắm văn nhân kiêm thi sĩ. Tôi tự hỏi chẳng
biết nước dừa xiêm ở Bến Tre có ngọt hơn dừa xiêm Tam Quan,
Bồng Sơn hay không mà giọng văn nào xuất phát từ đó cũng
đều mát mẻ, ngọt lịm vậy? Nếu bắt phải kể những người
tôi quen biết thì sơ sơ cũng có Lê Mỹ Hương (quê ở làng
Hương Mỹ, quận Mỏ Cày (?)), nhà thơ Hữu Phương (tức cố
Phó đề đốc Nguyễn Hữu Chí quê ở Trúc Giang, tác giả bốn
tập thơ
Luống Biển, Tâm Sự Người Ði Biển, Neo Tuổi
Vàng
, và
Tha Hương
), và Nguyễn Hữu Chung... bên nam,
rồi thêm Cao Bình Minh và ba chị em Phan thị Trong Tuyến,
Nguyễn thị Ngọc Diễm, Nguyễn thị Ngọc Nhung (theo thứ
tự chị em đàng hoàng à nghen)... bên nữ. Tóm lại, nữ
vẫn nhiều hơn nam, bởi vậy hình như ở một lần trước
đây tôi có nói cái xứ sản xuất "bàn nạo" là xứ âm thịnh
dương suy. (Không riêng gì bên Quốc gia mà bên Cộng sản
cũng vậy. Nguyễn thị Bình cộng với tiểu đoàn Bạch Thu
Hà thì phải đông dân hơn Ðồng văn Cống chớ).
Rồi bây giờ nếu đem Mỹ Tho ra mà so sánh với cái xứ Bến
Tre láng giềng của tôi thì thiệt tôi tủi thân tôi, cô đơn
thấy rõ. Nhưng nếu ngược dòng thời gian hơi xa xa một chút
thì để đối chọi với bên nớ, bên ni ta cũng có một Phạm
Công Thiện lẫy lừng tên tuổi kia chớ. Mà lỡ ai đó lạng
quạng như tôi, chưa thông thiền mà cũng chưa thuộc triết,
đụng vô những "pho kinh mới" đó là sẽ bắt nhức đầu luôn.
Cũng nên hiểu cái xứ Vĩnh Kim, Xoài Hột (Xoài Mút, Rạch Gầm
là tên gọi vào thời Tây Sơn-Gia Long (?)) cũng là nơi phát xuất
nhiều nhân tài. Chỉ cần mỗi một gia phả của nhạc sĩ Trần
văn Trạch là cũng đủ lấy làm hãnh diện, thơm lây rồi. Nói
gì thì nói, cái xứ Bến Tre đối với Mỹ Tho cũng giống như
Cao Miên đối với Việt Nam vậy. Người anh em bên kia bắc
Rạch Miễu muốn lên Sài Gòn thì bắt buộc phải chịu phép bước
ké qua xứ (chớ không phải xác) Mỹ Tho của tôi thôi. Tuy nhiên,
chính vì vậy hồi xưa tôi và đám bạn cũ vẫn có cái thú nói
rủ nhau đi vào xứ Chùa Tháp (xứ Ngã ba Tháp thì đúng hơn) thay
vì nói rủ nhau đi qua xứ Kiến Hòa.
Thôi, hãy bỏ cái miệt vườn, miệt ruộng, miệt bưng, miệt
biền, miệt trên, miệt dưới, miệt trong, miệt ngoài,
miệt gì gì đó của đồng bằng sông Cửu Long đi. Hãy đi
xa xa về hướng Nam một chút để tiến đến một miệt mới
nữa, đó là: miệt rừng. Nếu có người không thích "bị"
gọi như vậy thì tôi sẽ hà hồi phân giải. Sửa đổi lại
mấy hồi, chẳng hại ai hết. Ở đó, tôi gặp thêm bà
chị Trần thị Kim Lan. Lúc nói chuyện điện thoại tôi cứ
tưởng chị là Bắc Kỳ mới khổ. Giọng nói gì mà véo von,
trong vắt mắt mèo như tiếng... con gái.
Trong như tiếng
gió thoảng qua
, mà không có đục nên không có
tiếng suối
mới sa nửa vời
. Tới chừng chị cho biết chị là dân Cà
Mau, chị ruột của nhà văn nữ hiện sinh Trần thị Nguyệt
Hồng, tôi mới chưng hửng. Tá hỏa. Thì ra tại bả uống
nước mặn sông Năm Căn, sông Trèm Trẹm nhiều quá chăng? Khỏi
cần nói thêm nói bớt làm chi cho mất công, tôi đặc biệt
thấy Trần thị Kim Lan được nhà
Văn Học
đưa lên tận
chín tầng mây xanh. Với loạt truyện ngắn rất đỗi tình
người. Tình người đây không riêng gì giữa các cộng
đồng người Việt mà luôn cả cộng đồng thế giới. Sắp
ra sách nữa chớ. Tập truyện gì?
Gió Ðêm
phải
không chị?
Ôi thôi rồi, nãy giờ tôi lại nói tới những bậc đàn anh
đàn chị nữa rồi. Quỉ đưa đường, ma dẫn lối? Ðã
bảo mắc cỡ... cái lỗ miệng mà cứ nói hoài, nói mãi.
Phải nói chuyện với đàn em thôi! Nói chuyện với đàn em?
Bây giờ nhìn xuống tôi mới thấy tôi có một lô "đàn em"
dễ thương (phía nữ?), dễ mến (phái nam?) đông dễ
sợ. Ðến đây tôi cũng xin quý vị độc giả cũng như bằng
hữu nên hiểu là mấy chữ đàn anh đàn chị đàn em tôi dùng
ở đây chỉ có nghĩa trên phương diện tuổi tác thôi nghen.
Không có đụng chạm gì gì tới văn chương chữ nghĩa hết.
Tôi đánh liều, tự lôi mình ra để làm cái mốc thời gian
cho nó có thứ tự trên dưới một chút vậy mà. Bởi tôi
không thích cái quan niệm "hễ con viết văn hay hơn cha thì
con lên làm ông nội" ở trong làng văn. Ở điểm này nếu ai
không đồng ý cái mốc thời gian của tôi thì cũng dễ lắm,
tôi sẽ bàn lại sau. Hoặc giả điều chỉnh mấy hồi, chẳng
thiệt cho ai hết. Rồi nếu bắt phải liệt kê ra những đàn
em của tôi thì thôi... nào là Lâm Hảo Dũng, Nguyễn văn Ba,
Võ Hoàng, Vũ Nam, Ngô Nguyên Dũng, Trần văn Sanh, Ý Ngôn,
Nguyễn Lê Hồng Hưng, Sỹ Liêm... phía bên nam, còn về phía
bên nữ thì hình như quanh đi quẩn lại cũng chỉ có "bốn con
chuột dừa" của xứ Bến Tre thì phải.
Tôi nghĩ tôi phải nói chuyện với bên nữ trước,
lady
first
. Sang bên này lâu rồi, lâu lâu cũng nên học thói
cho đàn bà lên làm đầu tàu phải không các đấng mày
râu? Xem thử coi mấy bà có kéo nổi con tàu hay không và
luôn thể để coi ai mệt đây cho biết.
Cao Bình Minh, nhà văn nữ có tiếng viết bạo nhứt ở hải
ngoại, với lối hành văn sống động, hâm hấp nóng. Phần
lớn các nhân vật nữ thường có tánh "du côn... cái" (chữ
của chính chị) trong người. Nhưng đó chính là đặc điểm
của Cao Bình Minh, hình như càng du côn (trong văn chương) lại
càng có nhiều người mến mộ. Trồng cây si nữa chớ,
kẻ đòi hóa cá người lại mong thành sư theo như lời đồn
đãi cũng đã hóa thành thơ.
Thiên hạ mười phương đã
ngất ngư. Kẻ mong thành cá, kẻ thành sư. Tên bay một phát
chim bầy rớt. Khoái chí chưa tề, bớ tiểu thư
. Thơ
Cung Vũ. Tuy nhiên, đến khi cần viết cảm động thì ngòi
bút của chị lại làm cho biết bao nhiêu người rơi nước mắt.
Năm 89 vừa qua chị chỉ cần hai truyện ngắn lớn
Mùa Xuân
Sau Lưng
trên
Làng Văn
, và
Ðiệp Khúc
trên
Văn
là đủ ăn tiền rồi. Mặc dù chị chưa có sách
nhưng những sáng tác có đường nét riêng của chị đã tự nó
đưa tiếng tăm Cao Bình Minh lên rất cao. Tôi cứ xúi chị hoài
hãy in cuốn sách đầu tay để có "quà tặng với chữ ký của
tác giả" với người ta mà chị cứ chần chờ mãi. Nói gì
thì nói, Cao Bình Minh ngoài đời quả khác hẳn với Cao Bình
Minh trong văn chương. Cái tánh du côn đã không còn nữa mà
nhường chỗ cho những dịu dàng dễ mến qua những lời thư
duyên dáng mặn mà hơn cả giọng nói của... con gái Bắc.
Kế đến là tác giả
Mùa Hè Một Nơi Khác
, Phan thị Trọng
Tuyến. Chị thuộc lò Võ Phiến, do ông Võ Phiến viết tựa
tác phẩm đầu tay. Như ông Võ Phiến đã nói
truyện của
chị Phan thật nhiều vẻ. Chị viết về tâm lý người già,
về cuộc sống của giới trẻ; chị viết về sinh hoạt xã hội
bên nhà, về đời sinh viên du học hải ngoại; chị viết về
chuyện tâm tình ái ân, lại viết về những vấn đề triết
lý chính trị
... Và thêm vào cái nhiều vẻ đó, theo tôi,
văn của chị có phần có chiều sâu hơn cả, nếu đem so với
các bạn cùng quê, cùng phái. Như tình quê hương chẳng hạn,
bỗng dưng dào dạt trong tâm hồn người đọc đến nỗi
Tưởng Năng Tiến trong lúc di hành bên Thái Lan đã phải nhớ
mãi
những mương tôm dầy tăm mặt nước
ở vùng Mỹ
Lồng, quê ngoại của chị. Vậy mà hình như nghe thầy Từ
Mẫn nói sách chị phát hành chỉ ở mức trung bình thì tôi cũng
chẳng hiểu tại sao. Với tôi, không biết chị có bị ảnh
hưởng bởi cái chiều sâu đó hay không mà chị lặn sâu
dữ lắm. Chỉ một hai lần thư cho tôi rồi mất tiêu luôn.
Kể như dây chuông từ nay đã bị cắt đứt.
Ði vào thơ trước khi viết văn có lẽ là trường hợp khác
biệt của Nguyễn thị Ngọc Diễm. Tập thơ nhỏ loại con đuông
(chưa phát hành, chỉ dành riêng cho bạn bè(?)) mang tựa đề
Gánh Tình Yêu
là một điển hình. Lúc nhảy qua văn trên
báo
Văn
, đi từ thế giới ảo tưởng (như
Xuân
Ảo
...) qua thế giới hiện thực (như
Chuyện Mùa Hè
...)
chị đều đã gặt hái được nhiều cảm tình và sự chú ý
của độc giả. Sau đó chị lại chuyển sang những dòng tùy bút
mang nặng tính chất thơ (như
Người Ði Trên Mây, Ðã Tàn
Giấc Mộng
...) cũng là bay bướm lắm. Nhưng theo tôi,
những bài tùy bút này sẽ hay hơn nếu chị bỏ đi những dòng
ghi chú lẩm cẩm phía sau. Ối mà thôi, tôi không thèm nói
nhiều về chị đâu. Chị chỉ được cái tổ... làm biếng,
chỉ có việc viết thư cho tôi mà phải đợi có người nhắc
chị mới chịu cầm bút thì phải biết.
Nguyễn thị Ngọc Nhung, tác giả
Ðêm Rồi Cũng Ði Qua
,
thuộc lò Mai Thảo, do ông Mai Thảo đề tựa tác phẩm đầu
tay. Như ông Mai Thảo đã nói
đặt mình vào cùng một tầm
nhìn với Nguyễn thị Ngọc Nhung về đời sống hiện giờ,
đất nước và giống nòi hiện giờ, trên những bờ xa
trên những bờ gần, tôi chỉ thấy đó là một minh họa
đúng và không thể khác. Về sự thật
... Viết như
thật thì bảo đảm hiếm có người làm được. Riêng tôi,
mặc dù chị diễn tả tâm lý người khác phái rất hay, như
trong
Lối Thoát
chẳng hạn, nhưng tôi vẫn thấy gần
gũi với chị hơn qua những sáng tác mà nhân vật chính là
phái nữ, như trong
Câu Chuyện Của Thành Phố
. Ðầu
năm qua,
Trông Về Quê Mẹ
của chị trên
Văn Học
một lần nữa đã làm tình chị em giữa những người đàn
bà có tuổi ở hải ngoại càng thêm mặn mòi, gắn bó. Có
người bạn nói với tôi rằng Nguyễn thị Ngọc Nhung viết càng
ngày càng sắc nét, không hiểu có đúng như vậy chăng? Nhưng
mức sáng tác của chị vẫn một mực sung mãn. Sắp ra tác
phẩm thứ hai nữa chớ. Tựa là gì? Cho đến bây giờ
chị cũng chưa cho tôi biết được, tại vì chị cứ đổi ý
như chong chóng. Hay là
Truyện Ngắn Nguyễn thị Ngọc
Nhung
vậy? Tôi đã hân hạnh được chị dành cho những
trang thư dài.
Ngoài "bốn con chuột dừa" thiệt không còn cây bút nữ nào
gốc miền Nam nữa sao? Nói vậy chớ không phải vậy, vì dạo
sau này tôi có làm quen và kết thân với một "múi
bưởi." Bưởi Biên Hòa chính gốc con nai vàng. Người đẹp
này tuy nhỏ con nhưng "làm lớn" lắm: chủ nhiệm báo Ðẹp ở
Houston, Texas.
Lỡ Một Chuyến Ði
là tác phẩm đầu
tay của múi bưởi Trần Kim Vy, dầy những 400 trang, trong đó
có đầy đủ tình yêu, thù hận, ghen tuông... như lời quảng
cáo. Có lối viết đượm mùi Quỳnh Dao, anh Hồ Trường An
cho biết đại khái như vậy. Riêng tôi thì "người đẹp Thanh
trà" quả có tài biến sự thật thành... tiểu thuyết.
Bây giờ mới bắt sang qua phái nam. Trước hết là tiếng
thơ Lâm Hảo Dũng. Cùng một năm sinh với tôi nhưng cứ vẫn
kể như là... đàn em đi cho tiện. Khác với các bạn văn
trong bút nhóm miền Nam, thông thường phe ta hễ quơ bút ngọc
lên là viết văn trước thơ tính sau, anh lại đi ngược lại,
thẳng vào thơ. Là tác giả của nhiều tập thơ, trong đó có
sáng tác đã được sử dụng trong chương trình dạy Việt ngữ
ở Úc, thì tôi cũng xin miễn lạm bàn về tài thơ của tác
giả
Tóc Em Dài Em Cài Bông Hoa Lý
, một tập thơ mới
nữa của anh trong năm 89 vừa do
Làng Văn
xuất bản. Tôi
chỉ viết riêng cho anh mấy dòng:
Lâm chẳng ở rừng ở Sóc Trăng
Hảo ý tìm thơ chốn đồng bằng
Dũng thay sĩ khí nào ai sánh
Bạn Nguyễn Tấn Hưng đề thân tặng.
Kế đến là Nguyễn văn Ba (tức Thái Minh Kiệt, Bạch
Mai,... sao lắm bút hiệu thế!), tác giả
Làm Mai Lãnh
Nợ Gác Cu Cầm Chầu
. Hồi chưa biết anh tôi cứ tưởng
anh đi lính Hải quân như tôi. Tại vì nhiều nhân vật trong
truyện anh là lính thủy chính tông. Anh lại rành các hải
đảo, quần đảo, cù lao, và hòn trong vịnh Rạch Giá không
kém gì các ngư phủ trong vùng. Ai dè anh chỉ vẽ lại những
hình ảnh của bạn bè và làm sống lại cuộc đời hải hồ
của họ. Mức sáng tác của Nguyễn văn Ba lúc nào cũng vững
mạnh có lẽ tại vì "người nâng khăn sửa túi" của anh còn
là một văn tài. Nhà văn nữ Kim Anh. Trong nhóm "miệt
vườn," duy nhất chỉ có cặp này là được phép đi biển
có đôi, không phải mồ côi như những anh chị em khác. Nghe
đâu hai người sắp sửa đồng trình làng tuyển tập
Phận
Ðàn Bà
trong năm nay. Phận Ðàn Bà? Vậy còn cái "Số
Ðàn Ông" thì hai bạn sẽ tính sao đây?
Võ Hoàng thì tôi không rành về anh mấy, nhưng biết tiếng
anh là người đi trước. Những năm đầu của thập niên 80.
Nhưng, hình như sau khi trình các tuyển tập
Măng Ðầu
Mùa, Ðất Lạ, Trong Lòng Cách Mạng
(viết chung với
Tưởng Năng Tiến),
Góc Bể Bên Trời
..., thì anh
viết chậm lại.
Vũ Nam là tác giả của "Ông già chống gậy." Bài này có tựa
là
Ðường Cùng
, nhưng bạn bè cứ hay gọi đùa là "Ông
già chống gậy" vì bức minh họa độc đáo của họa sĩ Nguyễn
Nhật Tân. Trong năm qua anh có bài nói về
Quê Hương Nước
Ngọt
trong mục Xóm Cũ cũng ở
Làng Văn
rất là quê
hương, rất là xóm cũ. Nhưng phải đợi đến
Chiếc Lá
Giữa Dòng
trên
Văn
, chúng ta mới thấy văn phong của
anh rất là bay bổng, lã lướt. Sao, tiếp theo tập truyện
Sau Ngày Tang
do nhà Viên Giác bên Tây Ðức xuất bản
thì anh sẽ cho trình làng quyển gì nữa đây?
Bây giờ đến tác giả hai tập truyện
Dòng Chữ Tâm Tình,
Mười Hai Hoa Cúc
, và truyện dài mới phát hành cuối năm
89
Ðêm
, Ngô Nguyên Dũng. Và cũng là người chủ biên,
chủ bút hai tờ
Ðộc Lập
và
Măng Non
bên Tây Ðức.
Sao mà nhiều nghề! Truyện của anh hầu như truyện nào cũng
hấp dẫn, gay cấn, lôi cuốn. Nhưng với riêng tôi, tôi hơi
bị ngộp thở với những đoạn không phải là... trần truồng,
mà là đôi khi anh hay "làm tày khôn," phô trương kiến thức
của mình về hoa, về nhạc, về đào ciné... (hay chỉ tại vì
kiến thức của tôi về cái ngữ này nông cạn quá nên không cảm
được chăng (?)). Dạo sau này anh có ý chuyển hướng sáng
tác của anh về phía có tình dục, có đồng tính luyến ái.
Tuy nhiên, để cho cảnh đời thật sự bên ngoài bớt... trần
tục, thỉnh thoảng anh còn nêm nếm cái chất vị Thiền vô văn
chương nữa. Nhìn chung, trong bút nhóm miền Nam, Ngô Nguyên
Dũng có lẽ là người có nhiều triển vọng đi thật xa, thật
tới. Nhờ ở tài viết rất khỏe, rất dài hơi. Có thể
nói chỉ sau Xuân Vũ Lê Mỹ Hương và Hồ Trường An thôi. Năm
này định trình làng mấy tác phẩm nữa nè?
Rồi đến Ý Ngôn. Cũng là dân "miệt vườn," Sa Ðéc, nhưng
ít người muốn tìm đến anh. Theo tôi nghĩ, chỉ tại vì cái
bút hiệu có phần "mập mờ đánh lận con đen" theo kiểu Diệu
Tần, Cao Bình Minh. Mà nói nào ngay, anh "giả gái" cũng hay ra
phết đó chớ. Ðọc các bài
Hai chị em, Ði biển một
mình, Lá trầu đã héo, Khung cửa mùa Xuân, Kiếp nào có yêu
nhau, Phi trường, Chiếc thánh giá
, và gần đây
Như dạo
ấy như bây giờ
thì đủ biết. Nhưng tôi thích bài
Nỗi
nhớ
hơn, không phải tại vì nhân vật chính là phái nam, mà
bài này được viết với những cảm xúc chân thật, dịu
dàng. Với hơn mười truyện ngắn rất có nét trên
Văn
,
nếu anh gom lại in thành sách thì đã có một tập truyện dầy
cộm rồi nhưng anh cũng chưa màng đến việc này. Việc anh
đang màng là định viết mấy tuồng cải lương thứ thiệt,
mặc dù không biết bài bản nhứt một, không hề biết ca nam ai,
nam xuân, bình bán, thủ phong nguyệt... gì gì ráo trọi mới
là ngộ. Thôi thì cứ viết thử đi, coi có thành một Hà
Triều Hoa Phượng thứ hai nổi hay không đây!
Trần văn Sanh viết nhiều về đời sống ở thế giới hải
ngoại hơn là về quê hương Việt Nam. Anh thích dùng "bố"
thay "ba," "mẹ" thay "má" nên lúc đọc lên có vẽ như văn
Bắc thôi, chớ thật ra cả linh hồn lẫn thể phách của bài
viết đều là miền Nam rặc. Ðiểm đặc biệt là đề tài
của anh thường hướng về giới trẻ và cuộc hội nhập vào
xã hội mới bên này.
Kế đến là Nguyễn Lê Hồng Hưng. Nhỏ hơn tôi hơn một con
giáp nhưng văn anh rất là chững chạc, rất là người lớn.
Chính tôi, tôi cũng lầm về điều này trước khi quen biết
thư từ với anh. Có một điểm lạ là có nhiều điều trùng
hợp giữa Nguyễn Lê Hồng Hưng và tôi. Trước tiên, Nguyễn
Lê Hồng Hưng tên thật là Nguyễn Tấn Hưng. Y chang như tôi,
từ tên, họ, cho đến chữ lót. Nhưng anh hơi chậm chân,
nhảy vô làng lỡ sau tôi một bước, cho nên phải chịu phép
nấu nồi chè đặt bút hiệu. Ðến chừng biết được Lê
Hồng là tên của người yêu cũ của anh (qua thư của Nguyễn
Hữu Nghĩa), bà xã tôi lại mè nheo cho rằng Nguyễn Tấn Hưng
bên xứ Hòa Lan coi bộ... cưng vợ hơn Nguyễn Tấn Hưng bên
xứ Mỹ. Kế đến, Nguyễn Lê Hồng Hưng lại thích sống
đời hải hồ, thích đi tàu như tôi. Chỉ khác là tôi đi
tàu chiến còn anh thì đi tàu buôn. Rồi mặc dù anh sinh
trưởng ở Rạch Giá, nhưng quê nội và quê ngoại đều nằm
trong quận Chợ Gạo, Mỹ Tho, thuộc hai xã Qươn Long và Bình
Phục Nhứt cũng lại là nơi chôn nhau cắt rốn của tôi. Biết
đâu hồi xưa song thân của anh và gia đình ba má tôi ở khít
vách với nhau cũng không biết chừng (giờ chỉ còn lại hai bà
bô đã trên 70 tuổi). Trên bước đường văn nghệ, Nguyễn
Lê Hồng Hưng do
Làng Văn
giới thiệu, tuy nhiên hiện thời
bài của anh đã thấy xuất hiện trên nhiều mặt báo. Vừa
rồi, anh có bài
Thư không viết
rất sống thực trên
Văn Học
, vẽ lại cảnh đời nổi trôi của những "người
đi biển thích nhìn cánh hải âu." Tôi hi vọng tác phẩm đầu
tay của anh, cuốn
Dòng Sông Sữa Mẹ
sắp sửa trình làng
nay mai, sẽ được sự tiếp đón nồng nhiệt của độc giả
bốn phương.
Có thể nói Sỹ Liêm là người trẻ tuổi nhất trong những
người cầm bút gốc miền Nam hiện nay (sinh năm 1965, nếu
có ai không đồng ý thì cứ xin lên tiếng). Sỹ Liêm nhảy vô
làng rất xuất sắc với bài
Thương Nhớ Một Tờ
trên
Làng Văn
. Một hai bài sau đó, theo tôi, anh viết hơi
xuống tay một chút. Nhưng bây giờ đã lấy lại phong độ,
với bài
425 Quan
trên
Văn
mới đây chẳng hạn. Lại
cũng dài hơi. Theo tôi biết thì anh đã hoàn tất và sắp cho
in truyện dài sau tập truyện ngắn đầu tay đã giao cho
Làng
Văn
. Rõ ràng "hổ phụ sinh hổ tử." Nhưng chừng nào bóp
kèn tin tin qua mặt... ông già (tiểu thuyết gia Sĩ Trung)
đây? Con hơn cha là nhà có phước à nghen!
Bây giờ đến những ai nữa đây? Những người viết lách
gốc miền Nam? Có lẽ còn nhiều lắm, không sao kể hết.
Có nhiều người tôi đã biết tiếng qua bài viết, bạn bè,
bằng hữu nhưng chưa có dịp... làm quen như Xuân Tước, Hứa
Hoành, Trần Trung Quân, Nguyễn thị Long An, Trần Long
Hồ... Thôi để dành khi khác vậy.
Rồi còn những bạn văn gốc Bắc gốc Trung thân thiết của
tôi nữa chi? Lại phải để dành cho một dịp khác nữa!
Trên đây chỉ là một cái nhìn thoáng qua. Mỗi bạn một vài
dòng, đôi khi dăm ba chữ. Tránh sao khỏi thiếu sót. Biết
bao nhiêu sáng tác nhưng chỉ nói đến một vài bài. Mà nào
đã trúng đâu. Chẳng qua chỉ là những tâm tình, sơ giao cùng
các bạn. Có lẽ tôi khác với hai anh Xuân Vũ và Hồ Trường
An ở điểm là hai anh hay nói chuyện... năm xưa, còn tôi,
tôi khoái nói chuyện bây giờ nên chắc chắn có nhiều điều
dễ làm ai đó... không chịu, không ưa. Nè, hãy bỏ qua đi và
nghe đây vài câu nhắn nhủ:
Ðôi lời nói chuyện với "đàn em"
Nghiệp bút mau mau trả mạnh lên
Nối gót theo đàn anh chị đó
Vườn văn hương sắc ngày một thêm.
back to top
05. VĂN VÕ SONG TOÀN
NGUYỄN TẤN HƯNG
Thấy thiên hạ ùn ùn ra mắt sách tôi cũng nôn. Thường
thì người ta làm cho tác phẩm đầu tay, mục đích lấy
tiếng. Phần tôi, cuốn đầu tay đã im lìm trôi qua như cơn
gió thoảng, thì thôi, làm cho cuốn đầu chân cũng được.
Lẽ tất nhiên tôi chỉ muốn nếm qua một lần cho biết mùi
vị với người ta, chớ giống trống phất cờ cái nỗi gì
nữa, cũ rồi. Mà những ai chưa làm lần nào thì cũng nên
đừng bắt chước tôi, đừng tưởng vậy mà ham. Ðôi khi
cần phải đặt một câu hỏi thiệt bự như vầy: Hỡi ôi, có
phải làm
một lần thì tởn tới già, đừng đi nước mặn
cho hà ăn chân
không đây?
Cớ sự xuất phát từ buổi ra mắt sách của anh Hồ Trường An
đâu vào giữa năm 89. Trong dịp này tôi có đóng góp sơ sơ
về đề tài
Văn chương Miệt Vườn
. Kể như tôi đã
thành công chút chút đi. Vì sau đó có người khen, có tiếng
vang như lời đồn. Cũng vui. Bởi vậy tôi mới bắt bén,
làm tới.
Tôi ngõ lời với anh Nguyễn Ngọc Bích và rỉ tai với các anh
chị em trong Văn Bút Miền Ðông rằng sau lần ra mắt sách của
chị Thanh Bình là tới phiên tôi. Nhờ quý vị giúp giùm một
tay nghen. Mười người như một, ai ai cũng sẵn lòng, ai ai
cũng khuyến khích. Ðại khái:
- Ừa, làm đi. Dễ mà.
Dễ thiệt. Coi như xong, vì mọi người đều đã đồng
ý. Trên nguyên tắc. Việc lớn là phải có cuốn sách để
ra mắt hay không mới là chuyện đáng nói, đáng bàn. Hiển
nhiên chuyện này là chuyện của riêng tôi, tôi phải
đích thân tự đứng ra lo liệu lấy. Anh chị em Miền Ðông
không xen vô được.
Tôi đã có một quan hệ bình thường với thầy Từ Mẫn từ
lâu nên biết hễ thầy hứa là như đinh đóng cột. Biết như
vậy nhưng tôi vẫn lo. Tôi xác nhận, tôi khẳng định, tôi
nhấn mạnh với thầy rằng lần này tôi sẽ làm lớn. Tôi sẽ
ra mắt sách. Và thầy luôn luôn êm ái trả lời:
- Yên chí, yên chí.
- Nhưng thầy có biết chắc ngày nào sách sẽ in xong
không? Tôi dự trù vào giữa tháng 10 có được không?
Thầy từ tốn:
- Ðược. Vào giữa tháng mười thì tốt lắm. Ðừng
để trễ sang tháng 11, rủi có tuyết, người ta làm biếng
đi. Cứ gửi bản xếp chữ qua đây vào đầu tháng 9 là
xong ngay. In có lâu lắm cũng chỉ mất khoảng một tuần.
Tôi làm đúng như lời thầy dặn. Rủi thay, vì sẵn có
thùng sách gửi xuống Port Arthur, Texas cho người bạn, tôi
gửi luôn xấp bản thảo cho thầy theo đường UPS (United Parcel
Services). Nhân viên kiểm soát quầy hàng thấy địa chỉ của
người nhận ghi bằng P.O. BOX liền khuyến cáo tôi rằng:
- Có biết địa chỉ tư gia của ông ấy không? Nếu không
thì phải ghi vào đây số điện thoại của ông ta để dễ
bề liên lạc!
Làm biếng viết lại cái tấm biên lai mới, với những sáu
dòng ghi nơi gửi nơi nhận, tôi lật bìa sau tờ báo
Văn
Học
có cầm theo tay, ghi vội số phôn ngay trên gói hàng.
Ðinh ninh là đám đưa thư phát hàng của hãng tư nhân Mỹ cũng
không đến nỗi khật khùng mà không giải quyết được những
chuyện lỉnh kỉnh như vậy.
Ðợi cuối tuần cho đỡ tốn tiền, tôi gọi thầy Từ Mẫn
định hỏi thầy nhận được xấp bản thảo của tôi chưa? Mẫu
chữ mới của tôi design có đẹp hay không? Nhưng mới hỏi câu
đầu thì thầy đã trả lời:
- Có thấy trời trăng gì đâu. À, Tôi quên dặn anh là
đừng gửi qua UPS. Tụi này không chun vô hộp thư của nhà
Bưu điện được. Tụi nó có gọi điện thoại nhắn tôi
đến lấy và tôi có ghé tạt ngang qua đó một lần, nhưng
tụi nó tìm chưa ra, không biết cuốn sách đã thất lạc đi
đường nào.
- Vậy thì để thứ hai tôi check lại với UPS, coi nó nằm
đâu rồi tôi cho thầy hay. Tôi còn giữ cái biên nhận đây,
có số bảo đảm ghi trên giấy đàng hoàng.
Qua ngày sau đi làm trong sở tôi có gọi điện thoại khiếu
nại với UPS thật. Chờ độ chừng vài giây cho người
đẹp, không thấy dung nhan nhưng nghe được tiếng nói, gõ
gõ vào computer, thì đầu giây bên kia có câu trả lời:
- Sai địa chỉ (bad address). Ðã gọi phôn và gửi thư (card)
thông báo nơi nhận. Ðang chờ người đến lãnh.
Ông vãi cha mầy chớ sai địa chỉ, tôi rủa thầm như vậy! Sai
địa chỉ mà đã gửi thư thông báo được thì cũng giỏi? Tôi
gạt ngang:
- Ông bạn của tao đã cho tao biết là đến lãnh rồi nhưng
tụi nó tìm không ra gói hàng. Mầy làm ơn check lại lần
nữa coi. Tao gửi ngày mốt tới (second day air) mà bữa nay
đã hơn một tuần. Bây giờ mầy tính sao đây?
- Ðể tao check với thằng xếp của tao coi có tin tức gì
thêm không rồi tao sẽ gọi lại cho mày hay. Nếu dựa vào các
dữ kiện ghi nhận bởi computer thì tao chỉ biết có vậy.
Tôi cầm cái biên lai đọc lướt qua phần bảo đảm. Ðại
để nếu không xác nhận trị giá của gói hàng thì hãng sẽ
đương nhiên trả đồng hạng cho khổ chủ 100 đô la nếu gói
hàng bị thất lạc. Hai hoặc ba tháng gì gì nữa đó sau
ngày gởi. Tôi chợt nhớ là thường thường tôi chỉ ghi
có 50 đồng thôi. Bậy quá, không ghi thì được 100, bày
đặt ghi ẩu vô đó làm chi bây giờ chỉ được hưởng có
phân nửa tiền bồi thường. Mà nói cho ngay, ở trường
hợp này thiệt tình 100 đồng cũng không đáng giá là bao
đối với tôi, nếu xấp bản thảo của tôi bị mất thiệt.
Lại đợi cuối tuần cho đỡ tốn tiền, tôi gọi thầy Từ
Mẫn. Tôi chỉ mới xưng tên thôi, chưa hỏi câu nào thì
thầy đã phát thanh trước:
- Sao kêu gửi bản thảo qua hồi đầu tháng mà tới nay
chưa thấy gì hết vậy ông?
Tôi quýnh quáng:
- Thôi rồi, tụi UPS làm ăn trật trờ rồi. Ðiệu này
tôi phải làm gấp một bản thứ hai gửi qua ngay cho thầy mới
được. Bản kia có tới hay không cũng không thành vấn đề.
- Lẹ lẹ lên. Cứ gửi qua đường con ó bay là chắc ăn
hơn. Không cần phải gửi ngày trước ngày sau tới, hai ba
ngày tới cũng được.
Quả là một bài học khôn. Chỉ còn đúng một tháng nữa là
sách sẽ ra mắt mà bây giờ mọi chuyện đều đang lơ lửng
giữa trời. Anh Bích có hỏi tôi sách đã in xong chưa, tôi
cũng bạo dạn bảo rằng:
- Thầy Từ Mẫn đã hứa thì anh khỏi phải lo.
Nhưng, thiệt tình lần này tôi chỉ sợ thầy Từ Mẫn mang
tiếng thất hứa là vì tôi. Anh Bích còn trách nhẹ thêm
một câu:
- Thường thì có sách cầm trong tay rồi người ta mới
dám tính chuyện ra mắt, tôi cũng tưởng là anh đã có
sách rồi.
Tôi trấn an anh Bích:
- Không sao đâu anh, chỉ một tuần là in xong, thầy
Từ Mẫn có nói với tôi như vậy.
Ðể anh chị em trong Văn Bút Miền Ðông hiểu qua tác phẩm, tôi
cũng đã gửi về anh Bích một bản thảo giống như bản tôi đã
gửi qua thầy Từ Mẫn, và cũng cùng một ngày đầu tháng 9.
Chỉ mong anh Bích đọc gấp gấp rồi chuyền tay cho mọi người.
Nhưng, có lẽ vì điểm lơ lơ lửng lửng nói trên mà anh Bích
cũng chưa quyết định được ngày triệu tập đại hội Miền
Ðông. Anh lại bận nhiều việc quá, nào là đại hội Cộng
đồng người Việt Hải Ngoại, nào là đại hội Văn Bút Hải
Ngoại sắp tới ở xứ Cờ Phong.
Cho mãi đến ngày sắp sửa lên đường đi dự đại hội Văn
Bút, anh Bích mới đọc xong tác phẩm và đã tổ chức một
buổi hội thảo chớp nhoáng với các anh chị em Miền Ðông để
lấy quyết định chung, rằng có yểm trợ cuộc ra mắt sách
của tôi hay không. Sau đó anh Bích có điện thoại cho tôi biết:
- Tất cả đã xong xuôi hết rồi anh. Ngày chúa nhật 15
tháng 10 tới là ngày N. Phòng ốc ở trường đại học cũng
đã được đặt cọc giữ chỗ sẵn. Bây giờ cần nhất là
anh phải tìm người đứng ra để nói về tác giả và tác
phẩm. Phần tôi thì thế nào tôi cũng phải có đôi lời
giới thiệu đại cương về tình hình chung, sinh hoạt chung của
Văn Bút Hải Ngoại cũng như Văn Bút Miền Ðông của mình, nên
không lo được chuyện đó cho anh. Anh cứ coi ai mà anh cảm
thấy là chỗ thân tình thì nhờ họ làm giúp.
Nếu nói là chỗ thân tình thì tôi chỉ có hai nơi, gia đình
anh Bích và gia đình chị Thanh Bình. Vì hai vợ chồng tôi
đã có dịp tá túc ở đó. Tuy nhiên, tôi vẫn trả lời
phân hai:
- Anh cũng biết ở D.C. thì tôi chỉ quen thôi chớ còn
thân thì chắc chưa thân với ai hết. Thú thiệt, tôi coi ai
cũng như ai. Chỉ gặp nhau một hai lần, nói dăm ba câu chào
hỏi, đâu có dịp nào tâm sự thâu đêm đâu mà bảo là thân.
Nhưng, để rồi tôi sẽ tìm người rồi tôi cho anh hay.
Nói nào ngay, nói chuyện với anh Bích tôi cũng phải cả nể
một chút. Không dám giỡn cợt, cười đùa. Không phải
là vì anh mới được bầu vào chức chủ tịch Văn Bút Miền
Ðông, mà là vì tánh anh có phần đôn hậu nghiêm túc. Tôi
lại thích ba hoa chích chòe với đám nhỏ tuổi hơn mình. Bởi
vậy tôi kết với chị Thanh Bình. Bề gì chị cũng nể tôi
là đàn anh (vì lớn tuổi hơn thôi chớ không phải trong văn
chương chữ nghĩa đâu nghen), nên tôi cũng khoái. Tôi lại
muốn học hỏi kinh nghiệm ở chị trong lần ra mắt sách vừa
qua. Tôi bèn gọi chị Thanh Bình:
- Hello...
- Hello, Thanh Bình phải hôn Thanh Bình?
- Anh Hưng đó hả?
- Sao mà đoán hay dữ vậy? Anh Hưng đây. Sao, đi họp
Văn Bút Miền Ðông về vụ ra mắt sách của anh có gì vui
không? Kết quả ra sao mà không thông báo cho anh gì hết ráo
trọi vậy. Phe ta làm ăn coi bộ bết bát lắm rồi nha.
- Thanh Bình vừa định gọi anh đây. Xong hết rồi, mọi
người đều đã đồng ý. Chắc anh Bích đã nói cho anh biết
rồi phải không? Cũng gay go lắm đó!
Tôi giật mình:
- Cái gì mà gay go?
- Chớ anh không biết thật sao? Có người nêu ý kiến là
không đồng ý bảo trợ ra mắt sách của anh nữa đó. Họ nói
trong đó anh tố mấy ông lớn tùm lum. Họ sợ bị đụng chạm.
- Gì mà tố tùm lum? Họ đã đọc sách của anh chưa cái đã
chớ. Theo anh biết chỉ có mỗi mình anh Bích đọc thôi mà,
chưa hề chuyền tay cho ai hết. Ngay cả Thanh Bình, Thanh Bình
cũng đâu đã được đọc phải không?
- Thì vậy mới nói. Mới đó mà họ đồn lẹ ghê đi anh
Hưng ơi. Nhưng mà đã thông qua hết rồi, đa số thắng
thiểu số. Tự nhiên bây giờ lại đẻ ra cái vụ xét lại
giá trị của tác phẩm trước khi được bảo trợ nữa chớ.
Hồi chị Hoàng Bắc, rồi đến Thanh Bình có ai nói tiếng nào
đâu. Hễ ra mắt sách thì anh chị em hợp lại, mỗi người
đóng góp một tay.
Tôi chưng hửng. Thì ra có điều trắc trở đó mà anh Bích
không muốn nói cho tôi nghe. Thiệt tình lúc đó tôi hơi
phân vân, nên hay không nên ra mắt sách lần này. Tôi còn
đủ thì giờ để quyết định mà, những đến... hai tuần
rưỡi cơ. Nhưng chị Thanh Bình tiếp luôn (Thanh Bình nói
chuyện điện thoại là phải một trăm dặm một giờ, hundred
miles per hour):
- Bây giờ anh phải tìm người nói về tác giả và tác phẩm
đi. Lẹ lên chớ không kịp nữa rồi. Anh phải trực tiếp
nói chuyện thẳng với người ta, không có ai đứng ra volunteer
mấy cái vụ này đâu. Hồi Thanh Bình cũng vậy. Nhờ mà chưa
chắc họ đã làm. Anh có thể nhờ anh Bích, anh Võ Ðình, anh
Bùi Bảo Trúc... người nào anh thấy thích. Cần nhất là
người nói về tác phẩm thôi, còn nói về tác giả thì ai nói
lại không được. Mà muốn nói về tác phẩm thì anh phải
gửi tác phẩm của anh cho người ta đọc chớ. Trễ quá rồi.
Làm sao anh gửi kịp cho người ta đây? Mà anh có một extra
copy giống như của anh Bích không? Hay là nói anh Bích đưa cho
người ta vậy hả?
Hai lần ra mắt sách trước của chị Hoàng Bắc và Thanh Bình
tôi đều không có dự. Không học hỏi được một kinh nghiệm
nào hết. Chỉ có mỗi một lần duy nhất vừa rồi của anh An
thì tôi lại không để ý ai nói cái gì cho "bà già trầu" mới
chết. Chỉ nhớ mang máng chị Trương Anh Thụy, anh Ngô Vương
Toại, anh Bùi Bảo Trúc... người nào cũng nói tốt cho anh An
hết thôi, không giới hạn ở tác giả, tác phẩm gì cả (chắc
tại lúc đó tôi không màng đến những chi tiết lỉnh kỉnh nhưng
lớn lao này). Tôi đề nghị:
- Anh thấy như vầy.
- Anh thấy sao?
- Anh nghĩ anh là người miền Nam, vậy anh phải tìm một
người miền Bắc và một người miền Trung để nói về tác
giả và tác phẩm cho nó đề huề. Miền Nam mà lên đó tâng
bốc miền Nam thì coi bộ không giống ai.
- Cũng được. Nhưng anh đã chọn người nào chưa?
- Từ từ đã. Anh chọn rồi. Anh chọn chị Thụy nói về
tác giả và anh Ðình nói về tác phẩm. Thanh Bình biết sao
không?
- Sao?
- Không những anh đã chọn được một người Bắc và một
người Trung, mà anh còn chọn được một người nữ và một
người nam nữa. Có lý hôn?
- Nhưng biết chị Thụy và anh Ðình có chịu không? Anh Ðình
coi vậy chớ mà khó tánh lắm à. Không dễ gì nhờ ảnh đâu
nghen.
- Thì để anh ráng o bế ảnh xem sao. Ai thì anh không biết,
chớ anh Ðình thì anh biết ảnh mến anh. Lần rồi dọn bàn
khiêng ghế chung với ảnh, ảnh có nói Hưng này coi bộ làm
việc hợp với tôi lắm đó.
- Vậy thì anh nên liên lạc gấp với chị Thụy và anh Ðình
đi. Ðược hay không được gì cũng cứ gọi cho Thanh Bình
hay với. Phần Thanh Bình để Thanh Bình lo phụ với chị Hưng
mấy vấn đề tiếp tân, trà nước, bánh trái vậy. Chị Hưng
ngày đó phải là nhân vật quan trọng lắm à nha. Phu nhân của
nhà văn mà. Hồi Thanh Bình ông xã được giới thiệu là phu
quân, anh ấy e dè rụt rè làm sao. Thôi Thanh Bình ngưng nghen,
nói lâu quá tốn tiền điện thoại chết. À, mà nhớ gọi lại
cho Thanh Bình biết kết quả nha.
Tôi lập tức gọi điện thoại cho anh Ðình. Anh cũng rất
đỗi ngạc nhiên là vừa mới nghe phong phanh về việc ra mắt
sách của tôi. Vụ
Ba mươi năm tranh Võ Ðình
, anh phải
chuẩn bị xong xuôi đâu đó trước những 6 tháng. Bây giờ
kề cận bên ngày, làm sao giải quyết đây. Tôi bèn kể lể
sự tình. Nước rút thì cũng có nước rút đó nhưng không
phải lỗi tại tôi hoàn toàn. Thời thế đưa đẩy nữa chi.
Hiển nhiên anh Ðình hiểu tâm sự của tôi, thiệt tình tôi
không có ý "chơi ép ông già" như anh nói đùa, cho nên anh mới
kết luận như vầy:
- Vấn đề Trung Nam Bắc cũng như nam với nữ, theo tôi,
tôi thấy chẳng có gì là quan trọng hết. Ðiểm quan trọng
là hãy nhờ những người có lòng sốt sắng lo cho mình. Thôi
thì cứ gửi bản thảo lên đây cho tôi xem đã rồi hẵng
tính sau.
Kể như được một mối. Tôi quây tiếp nói chuyện với
chị Thụy. Lại ca bài ca con cá sống vì nước. Rất
tiếc, chị Thụy cho biết cuối tuần ra mắt sách của tôi
chị không có mặt ở Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn. Chị phải đi
sang xứ Cờ Phong để dự đại hội của "Hội Báo Nguy Giúp
Người Vượt Biển" mà chị vừa mới được bầu làm Tổng
Thơ Ký.
Nếu giữ đúng theo ý định của tôi thì bây giờ tìm đâu ra
một cây bút nữ, người gốc Bắc, sống trong vùng
D.C. đây? Khó quá! Vậy thì phải nghe lời anh Ðình,
tìm một người có lòng sốt sắng lo cho mình là tốt
hơn hết. Tôi nhắm vào chị Thanh Bình. Ðược điểm thứ
nhứt chị là nhà văn nữ. Còn Nam Trung Bắc thì cũng rất
là đề huề. Người gốc Huế, lớn lên ở Nha Trang, sắp
sửa tốt nghiệp Sư Phạm ở Sài Gòn. Tóm lại là chị đã
lai tùm lum. Tốt. Bởi trước sau gì tôi cũng phải gọi
điện thoại thông báo cho chị cái kết quả chạy quanh nhờ vã
của tôi, nên sẵn đó tôi quây tiếp, luôn thể nhờ
chị giúp một tay. Tôi thuật sơ lại tự sự và đưa ra câu
thăm dò:
- Hay là Thanh Bình lo cho anh phần tác giả đi. Phe ta bốc
thơm cho phe ta cũng được mà. Thanh Bình mà không nhận thì
chắc anh chỉ có nước kêu chị Hưng bước lên diễn đàn thôi.
Tôi nghe tiếng chị hơi ngập ngừng:
- Thanh Bình nói cho anh thì cũng được...
Rồi chị bắt đầu tăng vận tốc:
- Ấy mà chết, làm sao Thanh Bình chuẩn bị cho kịp. Thanh
Bình phải đọc tác phẩm của anh nữa chớ. Anh có bản thảo
gửi liền cho Thanh Bình không? Hay là để Thanh Bình qua nhà
anh Bích lấy tiện hơn hả? Nhưng rồi tìm đâu ra tiểu sử
và quá trình sáng tác của anh? À, mà Thanh Bình có thể dựa
vào bài phỏng vấn của anh trên báo
Làng Văn
. Vậy thì
cũng không sao.
- Có sao với không sao cái gì! Dễ mà. Ngày mai anh gửi
gấp lên Thanh Bình một bản copy nữa, giống như anh gửi
cho anh Ðình vậy.
- Mà anh sao nhờ được anh Ðình hay vậy ha. Anh Ðình
có nói sau khi làm cho chị Hoàng Bắc thì anh Ðình không làm
cho ai nữa mà. À, mà như vậy thì anh nhờ ai vẽ giùm tấm
bích chương gắn ở bục gỗ đây?
- Ðể anh nhờ anh Ðình vẽ luôn cho tiện.
- Không được đâu. Anh ấy ít khi làm cho ai hai thứ hết.
Hồi chị Hoàng Bắc cũng vậy. Chị Hoàng Bắc phải nhờ người
khác vẽ giúp vì anh Ðình đã lo phần tác phẩm đó.
- Lúc nói chuyện điện thoại với ảnh, Thanh Bình biết
hôn, anh vẫn nhớ điều này. Nhưng đang lo vụ tác phẩm mà
nói tới chuyện vẽ vời nữa e nó trật đường rầy. Nhưng
để anh viết khéo trong thư, có giấy trắng mực đen đàng
hoàng thế nào anh Ðình cũng nhận.
- Vậy thì mọi việc kể như cũng xong xuôi hết rồi. Anh
Hưng hay ha. Chuyến này chắc đông người tới dự à nghen.
Thanh Bình sẽ dẫn một lô bạn người Nam giới thiệu anh luôn.
Ðộc giả chân thành đấy, mến mộ văn tài của anh lắm đấy.
- Thôi đi Thanh Bình ơi, làm ăn trật vuột như vậy mà
bảo đông với không đông. Anh sợ bữa đó không có ma nào
tới mới quê.
- À, có chị Hưng đó không? Cho Thanh Bình nói chuyện với
chị Hưng một chút coi.
- Có đây. Chờ một chút nghen.
Tôi trao cái te'léphone cho bà xã. Nghe lõm bõm hai người đang
bàn đến y phục, trang sức, mặc áo dài hay mặc dress, đeo
bông gì, dây chuyền loại nào. Rồi sang phần tiếp tân, bánh
trái trà nước đãi đằng. Nhờ ai giúp một tay đây? Bàn
với chị Bích là việc trước tiên rồi. Chị ấy rành việc
này, có thể sẽ rủ rê mấy bà bạn quen với chị.
Tôi cứ phỏng theo phần số tử vi của tôi nên tôi bắt đầu
ăn no ngủ kỹ trở lại. Tiền vận long đong thì hậu vận
phải được an nhàn mà. Nhưng chỉ được có mấy ngày thôi
thì tai họa lại đến. Ðó là lúc bước qua tháng 10, còn
chưa đầy hai tuần trước khi ra mắt sách. Lần này không
phải anh Bích mà chị Thanh Bình gọi điện thoại cho tôi:
- Anh Hưng đó hả? Thôi chết rồi anh Hưng ơi. Anh có tin
rằng mấy tờ báo bạn của mình không ai đăng tin quảng cáo ra
mắt sách cho anh hết trơn á. Sao mấy ông làm ăn kỳ cục quá
vậy hả?
Tôi bán tín bán nghi. Không lẽ có người muốn ra tay hại
bạn? Tôi nửa đùa nửa thật với Thanh Bình:
- Thiệt hôn đó cô? Tôi đã trực tiếp nói chuyện điện
thoại với mấy ông ấy về vụ này mà, ai cũng đồng ý hết,
không lẽ họ quên lời.
- Thiệt mà. Thanh Bình đang xem từng trang báo đây. Không
có. Không có chỗ nào hết, dù trong một góc kẹt đi nữa.
Vậy thì mình phải tính làm sao đây?
Thôi, thật như vậy rồi. Thanh Bình đã quả quyết. Tôi
lặng người, chết trân trên te'léphone không trả lời được
cho chị tiếng nào hết. Trong đầu tôi nhiều câu hỏi vụt
hiện ra. Thiệt vậy sao? Chẳng ai nghĩ tình đến tôi,
vợ chồng tôi hết sao? Kỳ ha. Hừ, kỳ ha... Thấy tôi
im lặng hơi lâu, Thanh Bình tiếp luôn:
- Hay là anh làm một lô quảng cáo loại bươm bướm ca vũ
nhạc gửi lên cho Thanh Bình, để Thanh Bình với anh Hoàng mang
đi dán các tiệm ăn, tiệm sách, tiệm thực phẩm vậy.
Anh biết làm typesetting mà. Làm gấp đi anh, còn nước còn
tát mà. Chừng một hai trăm tờ là đủ.
- Anh nghĩ bước đường cùng thì cũng còn có cách đó
thôi. Nếu mình không muốn nhìn quanh quất chỉ thấy... toàn
là người trong ban tổ chức. Nhưng anh thiệt không ngờ.
Làm cái điệu này tai tiếng không riêng gì cho anh, mà cho
cả Văn Bút Miền Ðông nữa chớ. Ðể anh bàn lại với anh
Bích coi, nếu xét ra không cần thiết thì nên dẹp luôn cho
rồi.
- Không được đâu anh. Phòng ốc người ta đã dặn
rồi. Thanh Bình cũng đã gọi ông Túc lo phần thâu băng và
chụp hình cho anh. Cứ tiến hành đi. Biết đâu mình
đi rải bươm bướm quảng cáo lại thành công hơn cũng không
biết chừng. Mấy ông nhà báo không làm tròn bổn phận của
họ thì mình cũng không trách họ làm chi. Thanh Bình nghĩ, nếu
họ sợ đụng chạm, hư hại đến chuyện làm ăn của họ thì
thôi, chuyện mình mình cứ lo. Anh Hưng nghĩ sao?
- Ðược rồi, anh sẽ làm gấp hai trăm bản bươm bướm
gửi priority mail lên Thanh Bình. Nhờ hai vợ chồng Thanh Bình
chịu khó đi dán giùm cho anh nghen. Tuy nhiên, chắc anh sẽ gọi
liền cho anh Bích để tham khảo ý kiến anh ấy về việc này.
Kết quả thế nào thì anh sẽ gọi cho Thanh Bình hay sau.
Nói thì nói vậy thôi chớ tôi không gọi. Phải chờ anh Bích
nghỉ xả hơi sau cơn hội hè ở xứ Canada nữa chớ. Tôi cứ
xúc tiến việc tự in quảng cáo gửi lên cho chị Thanh Bình.
Rồi đợi qua chiều ngày sau tôi mới gọi điện thoại cho các
anh đàn anh. Tôi gọi anh Ðình trước, báo động tình hình
cho anh chuẩn bị. Anh Ðình cũng không ngờ cớ sự xảy ra
bất thuận lợi như vậy. Tuy nhiên, anh không đồng ý về
vấn đề đi rải bươm bướm ca vũ nhạc của chị Thanh Bình và
tôi. Anh nói vắn tắt:
- Chuyện văn học nghệ thuật nó khác, không làm như
vậy được.
Tôi quây sang anh Bích, anh mới về từ phương Bắc được
một hai ngày. Anh biết hết rồi và cũng rất đổi ngạc
nhiên về vụ này. Nhưng, anh trấn an tôi:
- Không quảng cáo trên báo cũng không sao đâu, vì tôi sẽ
(sẽ chớ chưa đã) in thiệp và gửi riêng cho khoảng hai trăm
địa chỉ tôi quen biết thì cũng sẽ có nhiều người đến
dự lắm. Tôi rất đồng ý với anh Võ Ðình, là không nên
đi quảng cáo ở các tiệm ăn, tiệm thực phẩm. Những
người yêu thích văn nghệ quanh đây thật ra chỉ nằm trong
một thành phần selected nào đó thôi. Mình không cần phải
bung ra thị trường theo kiểu như hàng tôm hàng cá.
Chưa bao giờ hoạt động te'léphone của tôi lại dồn dập như
lúc này. Lúc tôi định gọi chị Thanh Bình bàn lại vấn đề
rải bươm bướm thì có bác sĩ Lê văn Lân gọi tôi:
- Nhớ gửi thiệp lên nghen, bạn hiền. Phen này tôi phải
xuống dự buổi ra mắt sách của Hưng mới được à. Gửi
luôn thiệp cho anh Trần văn Tâm về địa chỉ của tôi. Anh Tâm
viết cùng với Hưng trong báo Lướt Sóng đó.
- Có ngay, có ngay. Ưu tiên một cho anh với niên trưởng
của tôi mà. Mà có thiệp hay không có thiệp gì cũng phải
đi nghen. Tôi chỉ sợ thiệp tới trễ đó thôi. Mới đặt
in ngày hôm nay mà. Anh Bích cho biết như vậy và ảnh sẽ
gửi xuống tôi một mớ.
Tiếp chuyện bác sĩ Lê văn Lân xong, tôi lại quây cho chị Thanh
Bình, bàn tiếp:
- Thanh Bình đó hả?
- Anh Hưng phải không? Anh đã bàn với anh Bích về kế
hoạch của mình chưa?
- Có. Bàn rồi. Không ai đồng ý hết. Không riêng gì
anh Bích mà cả anh Ðình cũng vậy. Thôi, một trăm năm chục
tờ bươm bướm anh lỡ gửi lên Thanh Bình thì tùy, muốn
dán thì dán, không dán thì vứt đi.
- Vứt đi sao được. Công của của mình làm ra mà. Hay là
để Thanh Bình đem ra để ở hai nhà sách thôi. Nhà sách cũng
là nơi văn nghệ văn gừng vậy, mấy anh lớn không rầy mình
đâu.
- Ừa, thôi phen này phe ta cứ làm... như vậy như vậy đi.
Xong đâu đó, tôi lại phải quây sang thầy Từ Mẫn để check
vấn đề in sách. Không có cuốn sách để ra mắt thì càng
ngặt nghèo hơn nữa. Chắc thầy Từ Mẫn không linh cảm
được nỗi điêu đứng của tôi bên này, nên thầy vẫn điềm
nhiên trả lời:
- Yên chí, yên chí. Ðang ngồi coi cái bìa (trời đất,
mới có cái bìa thôi) mới in xong đây. Tôi tính là sách sẽ
(cái gì cũng sẽ) in xong ngày 3 tây, cắt một mớ ngày 4 tây
thì tôi gửi cho anh ngay. Chậm lắm là 10 tây sách sẽ (lại
sẽ) nằm ở bên đó (nếu UPS chuyến này làm ăn đàng hoàng).
Cứ lo phần ở bển đi, bên này không gì trở ngại hết...
Sau cùng, bần đạo chấm dứt bằng một câu:
- Yên chí. Chúc ra mắt sách thành công.
Thành công hay không đối với tôi lúc này thiệt ra không mấy
cần thiết nữa. Mệt óc quá rồi nên kể từ giờ phút đó,
tôi nghĩ đây như là một cuộc chơi, không thắng thì thua.
Vậy thôi. Và hễ mình còn sống thì còn chơi. Thế thôi.
Không cần phải quan trọng quá vấn đề. Vả lại như trước
đây như tôi nói, tôi cũng chỉ có ý định là làm một lần
cho biết mùi vị với người ta chớ đâu có đòi hỏi một
điều gì khác. Biết mùi vị thì đâu có ăn nhập gì với hai
chữ thành công hay thất bại. Bởi vậy, bắt đầu từ đó
cho mãi đến lúc vợ chồng tôi sắp sửa lên đường, tôi
đã không gọi điện thoại bàn bạc với ai nữa hết. Chính
ngay cả khi nhận được sách thầy Từ Mẫn gửi qua, tôi cũng
không buồn thông báo.
Bất thần, ngày N trừ 1 đến.
Ngày thứ bảy, trời ui ui không nắng không mưa suốt cả ngày,
rất thích hợp cho việc lái xe đường trường xa. Bổn cũ
soạn lại, vợ chồng tôi từ xứ Dương Ðào thân chinh Bắc
tiến, đại náo Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn một lần nữa. Lòng
cũng bâng khuâng, nôn nao rộn rã như ngày nào mới xuất chinh
lần đầu tiên. Tưởng tượng đến ngày mai, một ngày của
riêng mình, đang lơ lơ lửng lửng ở trên mây.
Như mọi khi, vợ chồng tôi ghé vào nhà anh Bích trước. Anh
chị Bích vồn vã chào đón. Bảo đi ăn. Ra ngoài quán
Sàigòn Deli
, anh chị sẽ đãi một chầu. Còn chị Thanh
Bình thì sao? Thanh Bình cũng đãi nữa. Ðiệu này lại không
xong. Tôi bèn gọi điện thoại cho chị, nói vài câu xác định
vị thế rồi trao điện thoại cho anh Bích thảo luận tiếp. Cứ
nghe anh Bích nói "cà tưng cà tưng":
- Ðược rồi. Hứa. Không cho anh chị Hưng ăn gì hết.
Ðể bụng về dưới nhà với Thanh Bình... Nghe rồi, khổ
quá nói mãi... ha ha. Ừ, sẽ làm thế. Nhưng phải đi ngay
bây giờ. Người ta còn phải ra quán để xem báo quảng cáo
ra mắt sách như thế nào nữa kìa. Thôi, nói chuyện với
Thanh Bình sau.
Tôi nghe anh Bích nói có quảng cáo trên báo cũng mừng. Muộn
quá rồi nhưng có còn hơn không. Mà khổ nỗi, ai mà chuẩn
bị cho kịp đây. Thử hỏi có mấy người đọc quảng cáo
ngày trước qua ngày sau khăn gói quả mướp đi dự. Bộ họ ăn
ở không ở nhà, ngồi chờ ra mắt sách hay sao? Chỉ hi vọng
vào hơn trăm tấm thiệp của anh Bích. Tôi dốc lòng muốn
coi mặt mũi hình thù của cái quảng cáo nó ra làm sao!
Ðến quán
Sàigòn Deli
, anh Bích và tôi lo đi kiếm báo.
Lúc dở ra tôi không khỏi ngạc nhiên thấy tờ bươm bướm ca
vũ nhạc của tôi gửi lên cho chị Thanh Bình nằm nguyên con trong
đó. Hóa ra văn học nghệ thuật đã nắm bắt được cái
đuôi của phường hàng cá hàng tôm. Chán quá! Rồi tìm
đọc qua bản tin tức mới hiểu, sở dĩ có sự dám đăng quảng
cáo là nhờ anh Bích đánh tiếng. Ðại để:
Tôi cũng có
thưa với các anh chị em trong Văn Bút Miền Ðông là mình bảo
trợ một sinh hoạt văn học không có nghĩa là mình đồng ý
100% với tác giả hay diễn giả
. À, thì ra vậy. Tôi rất
tiếc là có người đã đánh giá quá thấp
Một Thuở Làm
"Trùm"
của tôi ngay từ trong trứng nước. Có lẽ họ chỉ
vội đưa ra kết luận theo tin đồn mập mờ mà chưa hề đọc
một chữ nào hết cũng không biết chừng? Hoặc giả họ bị ai
đó giựt dây cũng không biết chừng? Thôi thì nồi cơm ai
người nấy giữ. Sợ đụng chạm, bể nồi tắt bếp thì
phải tránh xa vậy! Tôi nào dám trách phiền ai!
Vì ăn xong rồi còn nói chuyện khào với bạn bè, các anh Bùi
Bảo Trúc, Trương Hồng Sơn, Ngô Vương Toại, Hoàng Xuân
Sơn... cho nên lúc về đến nhà chị Thanh Bình thì trời đã
chạng vạng tối. Thanh Bình và Hoàng niềm nỡ chào đón phe
ta. Nhà Thanh Bình bây giờ lại đông người hơn. Có thân
nhân vừa mới qua từ Việt Nam theo lối đoàn tụ gia đình.
Hai bác thầy mẹ của anh Hoàng và chú Thuận, em Hoàng (mẹ anh
Hoàng là chị ruột nhà văn Cao Xuân Lý bên Úc). Không khí
trong nhà Thanh Bình, đối với vợ chồng tôi, lúc nào như
cũng quen thuộc, dễ thở. Như ai muốn làm gì thì làm,
kể cả mấy đứa nhóc.
Việc đầu tiên là chị Thanh Bình đãi tôi ly bia lạnh và đưa
tôi xem bài nói về tác giả. Ðọc đã thiệt. Không biết
chị tốn bao nhiêu thì giờ để nghiên cứu về tôi mà viết
hay quá mạng. Tôi chịu hết sức. Nhưng, tôi hơi hơi không
chịu ở cái điểm không biết chị bàn bạc với vợ tôi ra sao
mà kết luận nho nhỏ như vầy:
- Em cũng như chị luôn. Mới ngày hôm qua nè, thiệt tức
ơi là tức.
Thôi rồi, lần ra mắt sách của tôi kỳ này kể như có mời
Hiến binh gác cửa. Luôn cả hai người đàn bà support tôi
nhiều nhứt mới chết (bởi tôi là một người đàn ông bình
thường, cho nên, xin lỗi, những chuyện bình thường này nó
hay đập vào mắt tôi lắm). Tôi cười một mình rồi thầm
kết luận: Hừ, sá gì chuyện thành công hay thất bại!
Bỗng nhiên chị Thanh Bình lại đề nghị:
- Anh chị Hưng ơi, em có con nhỏ bạn mời tụi mình đi nghe
nhạc. Bữa nay đặc biệt có Hùng Cường và Mai Lệ Huyền
đến trình diễn lần đầu tiên tại Thủ Ðô. Anh chị đi với
mình nha.
Tôi hỏi:
- Bộ rạp hát ở gần đây hả?
Chị Thanh Bình giải bày tâm sự:
- Ở xứ Cầu Gỗ (Woodbridge) này làm gì có vũ trường. Ở
tuốt trên Thủ Ðô lận, nhưng mình cứ lái xe lên. Ði chơi
mà. Ði nha. Em cũng muốn get away một chút. Em sẽ kêu chú
Thuận đi theo với em cho có bạn, để anh Hoàng ở nhà coi con.
Mặc dù mệt vì lái xe cả ngày trời không chút đặt lưng nằm
nghỉ, nhưng nghe nói tới vũ trường thì tôi cũng khoái. Lâu
lâu cũng ngứa giò ngứa cẳng. Tôi hỏi vợ tôi cho có lệ:
- Ði nha em. Mấy thuở mình về Thủ Ðô mà được đi nghe
nhạc. Ừa? Chị Hưng ừa rồi đó Thanh Bình. Chừng nào mình
đi.
- Ði ngay bây giờ nè. Trễ rồi. Con nhỏ bạn nó réo
Thanh Bình từ trên Chef's Choice đó.
- Cái gì "choi choi."
- Chef's Choice là tên của vũ trường. Chef là ông thợ nấu
đó. Còn Choice là sự lựa chọn. Chị Hưng vô đây chị Hưng,
chị định mặc đồ gì?
Tôi ngồi ở phòng khách chờ không bao lâu thì thấy chị Thanh
Bình và vợ tôi trở ra. Thanh Bình son phấn nhẹ, mặc cái dress
màu hường nhạt loại đắc tiền, loại để dành đi đám
cưới. Vợ tôi không son phấn gì hết, mặc áo nhung đỏ,
loại robe một thân như bên Việt Nam. Thuận mặc sơ-mi trắng,
quần xám tro. Tôi cũng mặc sơ-mi trắng nhưng vận quần
jean cho thoải mái.
Lẽ dĩ nhiên tôi phải làm tài xế theo sự hướng dẫn của
chị Thanh Bình. Nói cho ngay, chỉ khúc đường chạy vô thương
xá Bảy Góc thôi, chớ từ I-95, qua I-495, rồi vô xa lộ 50 thì
tôi rành rồi. Ðến nơi, tôi còn phải làm một vòng quẹo
hình chữ U quay đầu trở lại về hướng Tây mới rẽ vào
được chốn ăn chơi. Tại quầy bán vé tôi hơi ngạc nhiên
với câu nói đầu tiên của người đẹp soát vé, nổ điếc
con ráy, còn hơn tiếng nhạc rock and roll trên sàn nhảy:
- Bốn người hả? Hai mươi lăm đồng một người, bốn
người một trăm.
Trời đất, vậy là ai đó kéo cổ mình tới đây đòi nợ chớ
có mời thỉnh gì đâu. Chị Thanh Bình và vợ tôi móc bóp hùn
nhau trả. May là có đem đủ tiền. Lúc bước vào trong, bóng
tối và ngộp mùi thuốc lá, tôi đang bang bang thẳng tiến
theo người hướng dẫn vào bàn thì có người, người đẹp,
chận tôi lại:
- Anh là anh Hưng phải hôn? Anh đi theo tụi em về phía
này. Tụi em đã dành sẵn bàn cho anh chị và Thanh Bình rồi.
Theo thì theo. Theo người đẹp bề gì vẫn sướng hơn theo
thằng bồi. Chị Thanh Bình tiến lại gần tôi rồi vì tiếng
nhạc ồn quá, chị kề môi sát vào tai tôi nhỏ giọng:
- Nó là Chu Sa, bạn Thanh Bình đấy. Người Mỹ Tho của anh
mà, mê văn của anh lắm à nha. Ðộc giả yêu quý đấy.
- Thiệt vậy không Thanh Bình? Cái gì mà Sa Sa, Tiên Sa,
Trân Sa, Châu Sa... Úi chà, nội cái tên mới nghe qua là đã
thấy có mùi lãng mạn.
- À há, nó dữ lắm đó. Anh Hưng coi chừng nó hớp hồn
anh bây giờ.
Xuyên qua lối đi chật cả người độ vài mươi bước thì
bọn tôi tới một dãy bàn dài ken sẵn, thay vì bàn rời bốn
người một như những người khác. Chu Sa làm một màn
giới thiệu:
- Ðây là anh Hoàn, Hoàn không g, ông xã của em. Anh Ðại,
anh của anh Hoàn. Chị Kathy bồ của anh Ðại, chị ấy người
Ðại Hàn. Kế đến là anh Tua, bạn của em mà cũng của anh
Hoàn. Mấy người ngồi đằng kia xa quá, xin miễn đi, đều
là bạn của tụi em hết. Còn kế bên đây là chị Hoàng Dung,
chị của em. Ông xã của chị mắc bận ở nhà giữ con.
Tôi cứ "hai-ho" và bắt tay lia lịa chớ không nhớ ai là ai
dưới ánh đèn dầu phọng mờ mờ, lung linh, ảo ảo.
Hoàn, chồng của Chu Sa, lập tức mời:
- Anh uống gì, chị uống gì, Thanh Bình và anh đây uống
gì cứ kêu tự nhiên đi nghen.
Vợ tôi uống nước lạnh, còn tôi kêu một ly bảy và bảy,
seven and seven. Chẳng để ý Thanh Bình và Thuận kêu gì nữa.
Thanh Bình có ý thầm trách vợ tôi không kêu cái gì đặc biệt
hơn là nước lạnh. Có người bao mà, mấy thuở. Sàn nhảy
chật người nhún nhảy theo điệu nhạc và lời ca kích
động...
Em ơi em ơi, chiều nay một trăm phần
trăm
... của Hùng Cường. Tôi thấy thấp thoáng bóng người
ca sĩ đang mặc đồ trận đội mũ đỏ xuyên qua kẽ hở của các
thân hình uốn éo. Qua mấy câu xã giao hỏi thăm về nơi ăn
chốn ở khi xưa ở quê nhà, ở Mỹ Tho, tôi thấy nói chuyện
văng qua mặt bàn trong tiếng nhạc ồn ào coi bộ bất tiện
quá. Tôi đưa tay kéo cái ghế gần mình và nói:
- Chu Sa, em qua đây ngồi với anh, ở bên đó xa quá em
nói anh không nghe gì hết.
Chu Sa vọt qua, rất tự nhiên ngồi sát bên tôi. Mùi thơm
từ tóc và da thịt người đàn bà làm tôi ngây ngất. Chu
Sa thủ thỉ:
- Em đọc sách của anh em thích quá. Trời ơi, sao có người
ở Mỹ Tho viết văn. Hồi nào giờ đâu có nghe. Bởi vậy em
mong có ngày được gặp anh hết sức. Nhiều chỗ em không
biết, như đoạn anh tả đường rầy xe lửa đó. Nhưng má em
biết, bà già đã bảy mươi bốn tuổi rồi mà cũng mê đọc
văn anh dữ lắm. Bả nói cảnh ngoài đời y chang như anh tả
trong sách. Em thích nhứt đoạn anh đi ăn cắp xoài, ăn cắp
bưởi tại vì hồi nhỏ em cũng vậy. Em tom-boy lắm à nha.
Nhưng mà em cũng dễ xúc động, đọc nhiều chỗ em muốn khóc.
- Vậy sao? Thôi đừng khóc, anh ngại lau nước mắt người
đẹp lắm...
Tôi định nói nhiều nữa cái tâm trạng lâng lâng mới có, do
một độc giả, một đồng hương yêu mến vừa đem lại cho
tôi, nhưng chị Thanh Bình đã xen vào cắt ngang luồng tư tưởng:
- Thôi chết rồi chị Hưng ơi, điệu này chắc anh Hưng
bị ai bắt cóc rồi, chị chuẩn bị tiền chuộc đi là vừa.
Thiệt là lửa đang cháy âm ĩ mà Thanh Bình còn tưới thêm
dầu. Bà xã tôi nhướn mắt trừng tôi, rồi khuyến cáo
bằng một cái nguýt dài thòng. Trong bóng tối mà tôi vẫn
thấy rõ như ban ngày. Nhưng bả vẫn ôn tồn trả lời
Thanh Bình:
- Không sao đâu em, chị biết ảnh từ hồi còn đi lính Hải
quân mà.
Chị Hoàng Dung, chị của Chu Sa, ngồi phía bên kia ngó tôi cười
cười. Tôi kề tai bà xã thì thầm trấn an:
- Không có gì quan trọng hết. Em hãy để cho anh đi tìm
chị suôi cho em coi. Con cái của người ta mười bốn mười
lăm tuổi rồi. Anh có nghe Thanh Bình nói như vậy.
Tôi lại quay sang với Chu Sa, nàng ngồi sát vô tôi thỏ thẻ:
- Chị coi bộ khó phải không anh?
Tôi bấm bụng, kề tai Chu Sa:
- Ừa, khó thì có khó. Nhưng nếu biết tánh bả thì cũng
dễ thôi. Mà anh coi bộ em bị ảnh hưởng đời sống bên này
dữ quá. Coi bộ tự do, buông thả, dễ dàng dữ quá mà.
- Không đâu anh, em coi vậy chớ mà good girl lắm đó. Em
khó chớ không phải dễ đâu. Anh thấy mấy anh ngồi quanh
đây hồi xưa theo đuổi em dữ lắm đó, bây giờ đều là
bạn thân không riêng gì của em, mà của chồng em nữa. Không
hề có chuyện gì xảy ra.
- Bộ ông xã em không ghen sao?
- Ghen chớ. Hồi mới cưới anh Hoàn ảnh cứ theo em kè kè
tối ngày, giữ như ma giữ của. Bực mình, em nói lắm nên
bây giờ đỡ rồi. Mình sống đôi lúc cũng muốn có những
giây phút riêng tư cho mình phải không anh? Vợ chồng ăn ở
với nhau mười mấy năm rồi, mình phải tin tưởng, phải trust
nhau mới sống được chớ. Cứ theo tò tò hoài thì làm ăn
cái nông nỗi gì... À, hồi nhỏ em có đi hát nữa đó. Em
có quen với Hùng Cường, em kêu ổng bằng chú, chú Cường.
Ðể lát nữa hát xong em đi gặp chú coi chú có còn nhớ em
không?
- Ngon lành ha. Mà hồi nhỏ em hát tân nhạc hay ca vọng
cổ? Anh ở gần nhà của kép Minh Cảnh à nghen.
- À há, em cũng có quen với Minh Cảnh nữa. Quen thôi chớ
không thân như chú Cường.
- Vậy sao? Anh nhớ hồi đó nhà của bà già Minh Cảnh ở
gần am Cô Sáu trong xóm Hàng Còng của anh mà anh viết trong sách
anh đó. Lúc đó Minh Cảnh còn nhỏ xíu, bà già của hắn ta
bán cá nhưng lại bị bịnh ho lao, thường xuyên tới nhà anh
mua lá thuốc vòi về đâm uống. Trước sân nhà anh trọ học,
bà chủ có trồng hai vạt thuốc vòi lớn lắm. Hai loại, loại
lá xanh và loại lá tím đều có đủ. Sau Mậu Thân khu đó cháy
hết trơn. Mà lúc đó chắc em còn con nít, không biết đâu.
- Anh nhắc Mỹ Tho làm em nhớ nhà quá trời. Nhưng em vẫn
thích khu chợ Vòng Nhỏ của em hơn. Từ đó chạy dọc lên Cầu
Dầu, Ðồng Xanh, Ðồng Tâm, có sông có vườn có ruộng,
phong cảnh hữu tình hơn, phải vậy không anh?
- Thôi đi cô nương, đừng có làm tàng khoe khoang cái hay
cái đẹp của mình rồi chê cái dở cái xấu của người ta.
Ai mà nghe được người ta cười cho.
Hùng Cường hát hết bản nhạc thì cũng đến lúc break cho ban
nhạc nghỉ xả hơi. Nhạc băng new wave theo kiểu Mỹ lại nổi
lên. Chu Sa liền kéo Thanh Bình đi tìm Hùng Cường ở phía
sau hậu trường.
Thể theo lời mời của đám đông bạn bè ngồi xung quanh,
tôi và bà xã cũng ra nhảy một mách cho nó dãn gân dãn
cốt. Nhạc giựt gân giựt cốt mà. Nhưng thiệt ra cả bọn
nhảy "xoan." Tất cả tụm lại làm thành một vòng tròn nhỏ,
thanh phiên nhau đẩy một người vô giữa làm nhưn. Mặc dù
mới quen nhau nhưng nhờ tiếng nhạc phập phình ai nấy đều
rất là tự nhiên.
Có cô nào đó xinh xinh trong chiếc áo cánh huyết dụ đầy
kim tuyến, tôi không biết tên gì nhưng để ý biết ngồi
cuối bàn lúc nãy, cô nàng dạn dễ sợ thò tay ngọc đẩy tôi
vào giữa. Tôi vừa nhảy vừa xoay người ngó cô ta. Ðẹp
và sexy lắm. Chiếc áo cánh hở cổ thấy nửa phần trên
vú không xú chiên trắng nõn dưới ánh đèn, tưng tưng bồng
bềnh. Ðàn bà ác thiệt. Trong vài cái tít tắt, tôi rút
lui ra ngoài về vị trí cũ cạnh người đẹp của tôi với mục
đích định đẩy cô ta vào trả lễ. Tôi đưa tay phải ấn
nhẹ vào hông cô. Cô trờ ra được nửa bước, tôi chợt
thấy có người đã ra làm nhưn rồi tôi lại cản lại. Bằng
một cử chỉ phản xạ, tay trái tôi tấp ngang lên ngực đẩy
cô vào mới khổ. Một cảm giác lạ chạy vào tim tôi như một
luồng điện mạnh. Ngây ngất. Choáng váng. Nhưng cái êm
êm, mềm mềm khó tả của cái vú nửa trần trụi đó như
vẫn còn dính chặt vào bàn tay tôi. Chỉ một cái ấn nhẹ vào
thôi, không bóp, nhưng đã để lại một vết sẹo, một cái
núm nhỏ, muôn đời không phai. Muôn đời thành kỷ niệm.
Tôi có nói nhỏ, xin lỗi. Cô ta lườm tôi một cái như bảo
tôi cố tình ăn gian. Tôi cười tình, đành chịu.
Chu Sa và Thanh Bình trở lại bàn. Chu Sa khoe với tôi miếng
giấy ghi được địa chỉ và số phone của chú Hùng Cường.
Thì ra chú không bao giờ quên cháu. Nhạc new wave tắt và bây
giờ cả hai, Hùng Cường và Mai Lệ Huyền, cùng xuất hiện
với bản
Túp lều lý tưởng
. Nhờ lúc chưa có ai ra
sàn nhảy, tôi có dịp nhìn kỹ cặp song ca này. Dưới ánh
đèn cũng không thay đổi gì mấy. Hùng Cường vẫn bô trai
trong bộ đồ thiên thần mũ đỏ. Mai Lệ Huyền, trong bộ jupe
hai mảnh màu hoàng yến, vẫn tươi mát tròn trịa như thuở nào.
Sau bản
Túp lều lý tưởng
, Mai Lệ Huyền hát riêng một
bài cha cha cha. Tôi lịch sự mời chị Thanh Bình. Phải nhảy
với nhà văn nữ một lần chớ. Cho biết. Ít ra cũng có
cơ hội biết qua những ngón tay búp măng cầm bút đó mềm
mại đến mức nào. Phải không Thanh Bình? Tụi tôi vừa nhảy
vừa đấu láo. Tôi đùa với chị:
- Thanh Bình nè, hôm nào mình rủ anh Bích vào đây cho ảnh
biết với người ta.
- Á, anh Bích thích cái mục nhạc nhiếc này lắm nghen. Anh
không thấy anh ấy hay nổi hứng hát một vài câu anh ấy thích
trong khi ngồi nói chuyện với mình sao?
- Ừa, anh cũng bắt gặp một đôi lần. Nhưng ảnh có chịu
nhót hay không cái đã?
- Cái đó không biết à.
- Chắc không ai ngờ Thanh Bình với anh Hưng đi nhảy đầm
trước ngày ra mắt sách hả?
- Anh Hưng always đặc biệt mà...
Lúc đưa chị Thanh Bình trở lại bàn, vì đi phía sau nên thêm
một lần nữa, nỗi niềm bất chợt đó lại đập vào mắt
tôi. Lần này mạnh hơn vì Thanh Bình đã vô tình rắc hoa
lên áo cưới của mình. Những bông hoa lớn nhỏ đỏ tươi
màu... máu. Tôi sà vào ghế, nghiêng mình nói nhỏ với
vợ tôi để nàng signal cho chị ấy hay. Kể từ đó Thanh Bình
không dám bước ra sàn nhảy nữa.
Mà cũng hên, vì chẳng bao lâu không còn ai nhảy nhót gì nữa
hết. Những gợi nhớ về quê hương qua hai giọng ca tài danh
đã lôi những bước chân điên rồ man dại từ từ ngừng
lại. Rồi đứng hẳn. Tất cả xếp hàng thành vòng tròn,
vòng tròn đứng luôn trên sàn nhảy để thưởng thức lời ca
tiếng nhạc của quê hương mà thôi. Lạ thật. Lần đầu
tiên tôi mới thấy một màn đại nhạc hội tại chỗ trong khung
cảnh vũ trường thuần túy. Hình như đang có cái gì lắng
đọng, ngỡ ngàng đập mạnh vào những tâm hồn choai choai,
đang còn quá trẻ để biết hướng về hoặc tìm về với
cố hương.
Sắp đến giờ vãn hát, Chu Sa đề nghị với bọn tôi:
- Sau khi đóng cửa dẹp tiệm, tụi em mời anh chị, Thanh Bình
và anh Thuận cùng đi ăn khuya với tụi em rồi hãy về nhà
nghen.
Tôi đồng ý ngay:
- Ði chớ. Mình phải vui cho trọn đêm nay để đánh dấu
buổi gặp gỡ rất tình cờ này.
Nhưng chị Thanh Bình lắc đầu nguầy nguậy:
- Thôi đi anh Hưng ơi, mình phải về sớm nghỉ ngơi để
còn lo cho công việc ngày mai nữa chớ. Bây giờ đã hơn một
giờ khuya rồi anh biết không?
Tôi biện bạch:
- Ðược mà. Thanh Bình phải để cho anh lãng bạc giang hồ,
đi cho biết đó biết đây với người ta một chút.
Rồi quay sang vợ tôi:
- Ði nha em.
Vợ tôi nhìn Thanh Bình mỉm cười:
- Tùy anh hà.
Chu Sa bồi thêm:
- Anh chị mà không đi tụi em buồn lắm đó. Mấy thuở
gặp lại người Mỹ Tho...
Tôi biết Thanh Bình cũng muốn đi lắm chớ chẳng phải không.
Chị nói không muốn đi là tại vì đang lo vấn đề sút mối,
hở hàn kia thôi. Nhưng rồi cuối cùng chị đành chiều theo
ý muốn của tôi. Lúc ra xe chị nói nhỏ lắm nhưng tôi vẫn
nghe:
- Chị Hưng à, chị đi sau lưng em, chị che lại giùm em.
Mèn ơi, giữa đêm khuya thanh vắng, vằng vặt ánh trăng rằm
như đêm nay, ai người ta cũng muốn ngước nhìn sao trời cho
thoải mái tâm thần, có ai nhìn xuống đâu mà sợ. Tôi cứ
nói thầm trong bụng, Thanh Bình ơi là Thanh Bình, chuyến này
giặc tới chớ thanh bình cái nỗi gì nữa. (Mà cũng tức
cười, chuyện này nó còn kéo dài qua đến ngày sau. Chỉ mình
tôi để ý thôi, mới kỳ. Lúc tàn cuộc tụm lại chụp hình
chung kỷ niệm, không biết có ông bạn văn nghệ độc thân
nào đó cắc cớ chịu khó ngồi dưới chân Thanh Bình cho đủ
chỗ. Anh Ngô Vương Toại, đang làm phó nhòm đùa một câu:
Ối giời ơi, cô Thanh Bình cô ấy mặc cái jupe mới đẹp quá
trời mà anh ngồi anh che hết lại thì cô ấy sao chịu cho
được. Làm ông bạn văn nghệ phải vọt ra phía ngoài. Tôi
cười thiếu điều muốn ra tiếng).
Tôi chạy nối đuôi theo xe anh Hoàn, vòng đường nào không
biết, chỉ biết có vượt ngang qua dòng sông lớn và đi về
hướng Bắc. Cả bọn dừng lại ở một phố Tàu là cái chắc,
vì tôi thấy tên đường có phụ đề chữ Tàu. Ðường
H. Và tiệm Big Wong. Với mấy bực thang đi xuống. Nghe
đâu khu phố Tàu này có nhiều tiệm ăn mở cửa đến ba bốn
giờ sáng. Ðúng là vạc ăn đêm. Y chang như hồi ở Sài
Gòn. Chỉ có Mỹ là có giới hạn giờ giấc ăn chơi, Tàu và
Việt Nam ta vẫn hay đốt đuốc thâu đêm. Cuộc đời này
ngắn ngủi quá mà.
Những món ăn bữa hôm đó rất ngon, có lẽ vì Chu Sa và Hoàn
đã đến đây nhiều lần. Ðiều đáng nói là rất hợp với
khẩu vị của tôi vì tôi thích ăn đồ biển. Nào là tôm
rang muối, cua rang muối, ốc xào dầu hào, cá hấp... Món
đặc biệt nhứt phải nói là món tôm rang muối. Ướp cách
sao mà vừa mặn mặn, vừa ngọt ngọt, vừa thanh thanh. Tuyệt
vị.
Cái hợp nào rồi cũng dẫn đến cái tan. Bọn tôi chia tay
nhau trên xa lộ I-95, bóp kèn inh õi giữa trời sương. Hoàn
rẽ vào exit và tôi thẳng về hướng Nam. Về đến nhà
chị Thanh Bình, tôi không ngờ là đã quá 4 giờ sáng. Chị
Thanh Bình tính chạy tội:
- Em nghĩ tụi mình phải đi vòng cửa sau anh chị Hưng ơi.
Mình ráng đi nhẹ nhẹ nha. Em không muốn anh Hoàng biết mình
về lúc mấy giờ.
Tôi vô phòng, chỉ cởi được đôi giày rồi để nguyên
"đồ trận" thả thác lác trên giường. Mệt quá chừng chừng.
Vợ tôi còn chịu khó đi rửa mặt rửa tay, một lúc sau mới
vào. Không bao lâu thì nàng ngủ mất. Phần tôi, tôi cứ
mơ mơ màng màng, nhắm mắt để đó mà không sao ngủ được.
Rõ ràng là tôi không nghĩ đến ai hết. Ngay cả những bóng
hồng trong cuộc vui vừa qua. Ngay cả những "chị" rất gần rất
thân với tôi mà tôi thương mến như em hay như một người
tình nhỏ, Thanh Bình, Chu Sa... Vợ con nằm kế bên tôi thì
không thể mơ tưởng được rồi.
Bởi không ngủ được mà tôi miên mang suy nghĩ vẫn vơ. Hình
như giữa một ngòi bút nam và một ngòi bút nữ đã được
thiêng liêng nối với nhau bằng một sợi dây vô hình: tình.
Tình văn nghệ. Vì hễ tôi cứ quen ai là tôi như "phải lòng"
người đó. Ít ra trong tâm hồn "đa cảm, đa sầu, và lắm
lúc đa tình" của tôi. Bất kỳ người lớn tuổi hơn tôi
một chút hay nhỏ hơn tôi rất nhiều cũng vậy. Bất kỳ kẻ
chân trời người góc biển, tận bên Úc bên Tây, bên Cali hay
Canada, hay kề cận bên mình cũng vậy. Bởi xui cho tôi là
lần lang thang đầu đời tôi gặp toàn những nhà văn nữ,
văn nghệ sĩ nữ đẹp không mới khổ. Cái ấn tượng hễ ai
cầm bút, phái nữ, là phải đẹp, đẹp cả thể xác lẫn tâm
hồn, vẫn còn vướng mãi trong đầu tôi.
Nhà văn nữ thì vậy, huống hồ gì độc giả nữ. Ðộc giả
gửi thư liên lạc, ca tụng, khích lệ người cầm bút là
chuyện thường tình. Tôi cũng có đôi lần nhận những cánh
thư xa lạ khắp bốn phương trời, kể cả bên đảo tỵ nạn. Và
có lần biết được độc giả đã photocopy bài của mình gửi
về Việt Nam, khoanh tròn tên thầy dạy lớp nhì lớp nhứt của
tôi với lời ghi chú: Ông ngoại mình. Những điều đó đối
với tôi thiệt là muôn vàn cảm kích. Nhưng tôi chưa từng
bị độc giả nào chận bắt tận mặt như đêm hôm nay theo kiểu
của Chu Sa. Cái tình thương đem đến cho tôi hình như nàng
đã dành sẵn đâu đó từ đời kiếp trước nào rồi. Ôi,
một mối tình vui.
Ở tôi, lẽ dĩ nhiên tôi phải có một giới hạn nào đó,
không thể đi quá đà. Phải biết dừng lại ở một thời
điểm nào đó tạm gọi là đúng lúc đúng chỗ. Từ ngày tôi
có "chút chút tiếng tăm," rõ ràng vợ tôi cứ như sợ mất
tôi luôn. Vợ tôi không hiểu rằng nàng đã cùng tôi
vượt biết bao nhiêu sống chết cho đến ngày này sao? Tôi
nhiều lần bảo:
- Với đời sống ở bên này, lẽ ra anh là người sợ mất
em mới phải. Sao em lại đi nghĩ ngược lại. Anh biết bổn
phận của anh mà.
Trăm lần như một, vợ tôi gạt ngang:
- Thôi đi ông ơi, bảy mươi chưa gọi là lành. Phòng bệnh
hơn là chữa bệnh.
Tôi nghĩ lại thiệt tôi thương vợ tôi hết sức. Người
sao mà khờ. Lúc nào cũng ham chịu đựng, hy sinh cho những đam
mê, tham lam của chồng. Thiệt tình mà nói, vợ tôi mà tánh
như một bà chằn lửa nào đó thì chắc tôi cũng khó sống cho
đến ngày hôm nay.
Cuối cùng tôi nghĩ tôi có tội, mặc dù hoàn cảnh có đẩy
đưa, rằng tôi đã phụ lòng tất cả anh chị em đang hết
lòng lo lắng cho ngày đại lễ của mình. Nhất là đối với
anh Bích và anh Ðình. Xin hãy tha thứ cho tôi, xin hãy bỏ qua
cho tôi. Và cũng tội cho Thanh Bình vì tôi mà như mang tội
đồng lõa...
Ngày N đã điểm. Một ngày đẹp trời như chưa từng có bao
giờ ở Thủ Ðô Hoa Thịnh Ðốn. Từng giọt nắng như tơ vàng
óng ả trong cái gió nhè nhẹ, man mác làm vừa lòng người.
Cảnh đời như sáng sủa hơn bao giờ hết, nhưng tâm hồn tôi
vẫn còn mênh mang vương vấn tận đâu đâu. Những bước
chân của tôi hướng về trường đại học George Mason quen thuộc
chắc cũng không khác gì những bước chân của một người bạn
thơ trong những câu thật dễ thương:
Nắng về thương dấu chân đi
Sầu lung lay bóng đâu vì gió bay
Tơ vàng tỏ giọt cay cay
Chiều hây hẩy chảy theo ngày đổ xiêu...*
Một ngày đổ xiêu cho Thanh Bình và cho tôi rồi cũng trôi
qua. Tôi muốn nhắc đến Thanh Bình trước vì chính chị là
người hầu như từ đầu đến cuối đã góp phần rất đắc
lực trong công trình engineering cho ngày ra mắt sách của tôi.
Thành công hay thất bại? Nhiều khi tôi thấy lằn ranh giữa
hai từ ngữ này chỉ là một đường tơ quá nhỏ, nếu muốn
nhìn ở một khía cạnh này hay ở phương diện kia. Với số
người tham dự rất khiêm nhường thì không thể gọi là một
thành công được. Nhưng không thể gọi là thất bại với
những điều kiện tổ chức hơi gấp rút và nội bộ lủng củng
như vậy. Luộm thuộm cho đến giờ phút chót không tìm ra
được tấm băng-đơ-rôn kẻ tên tác giả và tựa tác phẩm.
Ðể anh Bích phải làm một khối hình lập thể treo ngay
chính giữa tấm phong hội trường. Hóa ra lại hay, vì tôi
thích cái gì đó đặc biệt cho riêng tôi, cho khỏi bị đồng
hóa vào đám đông. Không ngờ anh Bích có óc sáng tạo
không thua gì Picasso (xin lỗi anh Ðình). Và phước đức cho
tôi là anh Ðình lần đầu tiên đã làm luôn những hai việc,
vừa nói về tác phẩm và vừa vẽ bích chương bục gỗ... Vả
lại không thể gọi là thất bại được vì hầu hết tất cả
văn nghệ sĩ trong vùng đều có mặt đầy đủ. Cộng thêm
ông bạn văn quý mến của tôi, bác sĩ Lê văn Lân, đã bỏ
công lặn lội thân hành từ "dry state," New Jersey. Bên Hàng
hải thương thuyền có cựu thuyền trưởng tàu Trường Xuân,
Phạm Ngọc Lũy. Bên Hải quân có cựu Tham mưu phó Quân Huấn
Bùi Hữu Thư, cựu Hạm trưởng Dương Hồng Võ, cựu Duyên
đoàn trưởng Trần văn Tâm...
Nhưng đặc biệt nhứt là có sự hiện diện của cụ bà
Ðức Thụ. Cụ ân cần nắm lấy tay tôi:
- Tặng cho ông bốn chữ: Văn võ song toàn.
Văn võ song toàn? Trời đất, cái bản mặt tôi vậy mà văn
võ song toàn? Tôi định nói: "Dạ, không dám, thưa cụ." Nhưng
kịp nghĩ lại nếu nói như thế thì phụ lòng cụ bà quá. Không
được. Thôi thì đành nhận đại:
- Dạ, cám ơn cụ. Cụ quá khen đó thôi!
* Thơ của Nguyễn thị Thanh Bình
back to top
06. MỘT CHÚT HỒNG HỒNG
NGUYỄN TẤN HƯNG
Sau một vài bài ký sự văn học của tôi được trình
làng, như
Một Lần Xuống Núi, Nói Chuyện Với Ðàn Em,
Bắt Mạch Ông Lang...
, không biết "bà già trầu" nghĩ sao
về tài môi mép của tôi mà dám cả gan xúi dại đàn em rằng:
- Sao "ông Trùm" không viết riêng một quyển về giao tình
giữa mấy bà với mình. Bảo đảm những chuyện riêng tư cá
nhân, thư từ lẩm cẩm trong giới nghệ sĩ, kể cả các văn
nhân thi sĩ của mình, rất là ăn khách. Ðộc giả, nhất là
độc giả đàn bà, xưa nay vẫn thích tìm hiểu tận cùng tim
gan, phèo phổi của những người mà họ coi là thần tượng.
Tôi đã đọc kỹ những quyển sách hồng, không dành riêng cho
nhóm tuổi hồng mà đặc biệt dành riêng cho người lớn,
của Hồ Trường An như
Giai Thoại Hồng, Thông Ðiệp
Hồng...
, cho nên tôi thấy "bà già trầu" nói có lý. Ai
dám nói bên trong những quyển sách này toàn là những chuyện
cá nhân riêng tư, thư từ lẩm cẩm không đáng đọc? Theo
tôi nghĩ, không những rất đáng đọc mà còn chất chứa,
tiềm tàng trong đó biết bao nhiêu chất liệu sống có giá
trị văn học nữa. Nhất là trên bình diện văn học sử. Với
những ghi nhận rất là Hồ Trường An, rất tinh tường cặn
kẽ nhưng không thiếu thắm đượm thân tình.
Mặc dầu giá trị của cuốn sách không thể căn cứ hoàn toàn
vào sức bán, nhưng những cuốn sách bán đắc như tôm tươi
đó tự nó đã nói lên cái giá trị của nó cũng như sự ủng
hộ, hợp "gu" của nhiều thành phần độc giả. Hiển
nhiên tôi cũng mong ước có một ngày nào đó mình cũng sẽ
trình làng một tác phẩm để đời tương tự như vậy.
Trong lãnh vực này, dù chỉ là một bóng mờ của Hồ Trường
An như nhiều người đã dự đoán đi nữa, tôi cũng lấy
làm vui là đã nói lên được tiếng nói, tấm lòng của mình
đối với bạn bè bằng hữu. Tôi bèn phân trần với "bà
già trầu" như sau:
- Tìm hiểu về bản sắc và chất liệu của các nhà văn nhà
thơ nữ thì nẫm nay "bà già trầu" đã tắm rửa kỳ cọ sạch
sẽ hết trơn trên các mặt báo, thì làm sao "ông Trùm" có thể
bí mật thò bàn tay ngọc thọc bàn tay vàng vào đó, đặng mà
mò mẫm sờ nắn thêm cho được nữa đây? Tuy nhiên, sẽ
không phụ lòng đưa đường dẫn lối của Phù Lưu Lão Thái,
"Trùm" này sẽ ra quân đóng góp thêm tập "Một Chút Hồng
Hồng." Hãy chờ xem "ông Trùm" phóng bút coi có ngoạn mục hay
không. Nhưng sở dĩ chỉ có một chút hồng hồng thôi vì
"Trùm" này tự lượng sức không thể làm hồng nổi những
giai thoại, những thông điệp, những... gì gì nữa của
đàn bà.
Lời giải bày của tôi rất là rõ ràng và chí lý, nhưng
không ngờ bất thình lình tôi bị "bà già trầu" can gián:
- Cái gì hồng hồng? Coi chừng bị phe chống cộng quá
khích chụp mũ tác giả là thân cộng à nghen. Tốt hơn hết
nên đổi cái tựa khác đi là hơn, cho đỡ khỏi phải hoạn
nạn về sau. À, mà nhớ có "Một" gì thì "Một," đừng
để "Một phen bị bà già trầu xúi dại" là tui phải bay qua
NC làm dữ đa!
Tôi lại nghĩ khác. Cái tựa chưa đã làm nên quyển sách,
mà cái nội dung mới chính là quyển sách. Vả lại,
trời
hồng hồng, sáng trong trong...
thì nào của riêng ai? Của
toàn dân toàn quân mới đúng chớ! Thôi, cũng chẳng màng
phải thay đổi cái tựa... hay hay đó làm gì cho nó mất hết
đi cái ý nghĩ, cái cảm xúc buổi ban đầu.
Tự biết không tài nào viết như máy theo kiểu Hồ Trường
An, chỉ đôi ba tháng mà hoàn tất năm bảy trăm trang nhỏ
to về các nữ sĩ, tôi đành phải đi chậm chạp, chập
chững từng bước một. Trước tiên, tôi phải gửi tặng
sách làm quen với một số nữ sĩ mà tôi sẵn có địa chỉ.
Nhà văn nhà thơ nữ tự tôi quen lấy cũng đã bộn nhưng còn
một số phải nhờ "bà già trầu" làm mai. Một lô sách ào
ạt chạy vào nhà bưu điện và tôi ung dung tự tại, thả thác
lác nằm nhà chờ đọc thư hồi âm và sách tặng trả lại.
Mời đọc. Rồi được mời đọc. Có qua có lại mới toại
lòng nhau. Bảo đảm những "nhà văn nhà thơ thành danh" đều
biết tiếng và đọc bài lẫn nhau trên các mặt báo. Ðọc sách
tặng, chỉ là đọc thêm những bài chưa được đọc, những
đoạn chưa đọc. Ðọc sách tặng, cái thích thú nhất là thấy
được sự hình thành của tác phẩm từ những bài rời rạc.
Thấy được cái chủ đề chung và nỗi niềm gửi gấm chung
cho toàn bộ tác phẩm của tác giả. Khám phá ra được những
thôi thúc, những suy tư lớn hơn. Rồi thấy hay, thấy quí
mến.
Mời đọc? Phải, mời đọc! Không riêng gì những nhà văn
nhà thơ lớn, những cây bút mới thành danh cũng vậy, nên
hiểu là thư từ, sách báo gửi về nhà hàng ngày, hàng
tuần, hàng nửa tháng, hàng tháng... đọc không kịp, không
hết. Riết rồi tranh thủ thì giờ chỉ đủ để đọc qua các
bài viết của bạn bè quen. Không quen không đọc hoặc họa
hoằn lắm mới đọc. Vì vậy có mấy ai chịu bỏ tiền ra mua
thêm vài cuốn sách nữa để về nhà chất đống? Hiển
nhiên trừ trường hợp những người đang thành lập tủ sách
gia đình như tôi! Người thành lập tủ sách, lắm lúc, không
mua sách để đọc, mà để chưng cho có.
Rồi hình như bắt chước những nhà văn nhà thơ lớn, những
nhà văn nhà thơ mới thành danh cũng cứ hay nằm nhà chờ bạn
bè gửi sách tặng tới đọc. Không tặng không đọc hoặc họa
hoằn lắm mới chịu mua đọc. Mỗi tác giả đọc một vài cuốn
tiêu biểu là được rồi. Lẽ thường muốn viết thì phải
đọc, nhưng đừng nói đọc hoài không biết ngán, không phát
khùng. Bên cạnh đọc, cuộc đời này còn cống hiến cho
người cầm bút nhiều thú vui và hưởng thụ khác không kém
phần quan trọng, không thể bỏ qua. Tâm trạng chung này hẳn
có đúng hay không vậy quý vị? Trước hết, thay vì
đọc... sướng (hoặc lắm khi bị hành tội) con mắt (và
thoải mái tâm hồn?), cứ để dành thì giờ viết cho đã
cái tay.
Nhưng số phần tôi coi vậy mà thật hẩm hiu. Chờ đợi đâu
độ hơn một tháng hơn, tôi hiểu ra là mình không có số
đào hoa như "bà già trầu." Không ai thèm "nặng tình" với
tôi hết. Thậm chí có người không thèm trả lời thư một
chữ nhứt một. Thất bại thấy rõ. Chẳng lẽ các bà các
cô lại bận đến thế? Bận hơn cả bọn đàn ông hay làm
hùn hục của chúng tôi? Công trình nghiên cứu văn học
về... các cây bút đàn bà của tôi bỗng dưng bế tắc.
Vạn sự khởi đầu nan là còn đỡ, đằng này rõ ràng là
bế tắc. Thế thôi. Rồi tôi nghĩ có lẽ anh Hồ Trường
An khác tôi ở một điểm: độc thân vui tính. Thì ra các bà
các cô chê tôi có vợ, không thèm chơi với married-man.
Nhưng nghĩ cho cùng, married-man mà xa xôi cách trở, chỉ có
thư từ qua lại thì làm gì có chuyện... hẹn hò, chấm mút
hoặc đổ vỡ, ghen tuông mà sợ? Tôi xụi lơ, bàn trớt
với "bà già trầu":
- Mấy bà thiệt là vô tình. Không thèm chơi với hàng
vô danh tiểu tốt như tôi. Thôi, kể như tôi không duyên
không nợ gì với mấy bà hết cho xong.
Chẳng biết nghĩ sao, "bà già trầu" đẩy đưa tiếp:
- Chuyện gì chớ chuyện đó đúng là nhi nữ thường tình
mà, có gì đâu mà "ông Trùm" phải than thân trách phận. Không
có gì trở ngại hết. Ðể bà già trầu bày cho một chước
nhỏ. Tống thêm một lá thư nữa hỏi đã nhận được sách
tôi gửi tặng chưa và luôn tiện nói thêm rằng tôi định viết
"Một Chút Hồng Hồng." Bảo đảm với "Trùm" rằng khi nghe "Trùm"
nói vậy bà nào, mệ nào, mụ nào, chị nào, em nào, con mén
nào cũng sảng quàng hết. Bà già trầu đã bao phen thành bà
già hù rồi mà. Ðụng vô đàn bà là phải hù, bồ đâu rành
đàn bà bằng tui. Có một lần một bà chủ báo định ăn
quịt của bà già trầu mấy trăm bạc tiền nhuận bút, bà làm
cho một mách ẵm tiền ngon ơ.
Trời đất, trai độc thân mà dám chê đàn ông có vợ không
rành đàn bà. Mà nói nào ngay, có ai rành đàn bà hơn "bà
già trầu" đâu. Chính đàn bà còn không rành đàn bà hơn
"bà già trầu" nữa kia mà. Nói gì tới "ông Trùm." Vậy
thì phe ta lại thừa thắng xông lên (hay chuyển bại thành xụi
đây cũng không biết chừng) cho nhà bưu điện Mỹ ẵm thêm
một mớ tiền tem.
Thiệt đúng y chang như "bà già trầu... lựu đạn... sét" tiên
liệu, hầu hết các bà các cô đều có sảng quàng thiệt.
Thư bay về tôi tới tấp như bươm bướm, hầu hết lại
viết có phần dài ra nếu không nói là tràng giang đại hải.
Có người còn gửi tặng hình, khoe cái dung nhan mùa hạ của
mình nữa kìa (lẽ dĩ nhiên trước đó tôi có tặng hình màu
của tôi đăng ở bìa sau cuốn
Một Ðời Ðể Học
hoặc
cuốn
Một Thuở Làm "Trùm"
). Nhưng, sử dụng độc cước
vô âm chưởng thì chỉ có mỗi một mình người đẹp Tiểu
Muội mang họ Vua mà thôi. Không hề trả lời trả vốn gì
hết. Như thể:
Dù ai nói ngã nói nghiêng
Thì ta cũng vững như kiềng ba chân
Kể cũng đau điếng, nên tôi đành phải cố moi trí viết
lên mấy câu đáp lời sông núi:
Kiềng ba chân vững như bàn thạch?
Bỏ chuyện người tọc mạch ngoài tai?
Nè, sông sâu thì có sào dài!
Ai cầm bị gậy ăn mày nên thân
.
Tóm lại, phen này "Trùm" tôi coi như mất cả chì lẫn
chài!
Oh well
, cũng có thể chị bận gì đó rồi lỡ
quên tôi luôn cũng không biết chừng, chớ bạn văn nghệ mà,
đâu ai vô tình đến nỗi như vậy hỉ?
Nhưng nếu muốn nói đến thân tình và hậu hỉ thì thiệt
không ai bằng một bà chị mới quen của tôi. Lời nhắn nhủ
của chị ngẫm ra cũng linh lắm. Ðáng đóng thùng gửi về
bên kia làm quà thân tặng chủ tịch nhà nước Nguyễn văn Linh.
Thuở đời nay, chị dám đang tâm cười mũi với tôi rằng:
- Viết về đàn bà mà anh lấy tựa gì mà... một chút
hồng hồng, một chút đỏ đỏ, tôi nghe nó kỳ kỳ làm sao
ấy. Anh nên đổi cái tựa khác là hơn.
Chu mẹt ơi, quả là có sự trùng hợp hơi bất ngờ. Tôi nào
có thấy ra cái màu cờ của cộng sản lại là cái màu... sắc
máu tanh tưởi đến là như thế. Hèn chi bọn chúng điêu ngoa
tráo trở, giết người cướp của không gớm tay! Nhưng nếu
như vậy thì tôi có thêm một lý do chính đáng nữa để giữ
cái tựa "Một Chút Hồng Hồng" mà không sợ phải bị ai chụp
mũ!
Phàm làm người nghệ sĩ nói chung, người cầm bút nói riêng,
không ít thì nhiều đã đứng trên một chiến tuyến. Khi
thì chống hủ hóa, thực dân, phong kiến. Khi thì chống Tây,
chống Việt Minh. Và bây giờ tiếp tục chống cộng sản.
Bởi tánh tôi đại kỵ cộng sản nên cứ mỗi lần bắt trúng
đài là kể như tôi quá nản, đâm ra... tịt ngòi. Không nản
sao được khi bạn ta đã kêu gào hết lời mà bọn chúng cứ
ngu ngơ như thể nước đổ đầu vịt? Không nản sao được
khi tình hình Ðông Âu đang ồ ạt biến động, gia tăng vận
tốc quay về với chủ nghĩa tư bản, mà bọn chúng vẫn chưa
chịu mở to mắt ra, nhìn nhận cái lỗi thời của chủ nghĩa
cộng sản? Chưa chịu thấy sự cách biệt về đời sống
dân chúng cũng như tiến trình văn minh giữa các nước Ðài
Loan, Nam Hàn, Thái lan... và nước Việt Nam mến yêu của
mình đã rộng lớn đến mức độ nào? Biết bao giờ người
mình mới chế được xe hơi, computer bán qua Mỹ, Âu
Châu? Tịt ngòi! Thành thử thay vì viết một cuốn hồng
hồng cho giao tình giữa tôi và các nhà văn nhà thơ nữ tôi
quen, tôi chỉ viết được một bài hồng hồng ngắn gọn
này thôi.
Vả lại chẳng có "bà nào, mệ nào, mụ nào, chị nào, em
nào, con mén nào..." chịu "bơm" tôi hết thì làm sao tôi có
hơi để viết được đây? Rồi tôi còn phải hỏi lại bà xã
tôi coi bả có chịu bựt cái đèn xanh hay không nữa chớ! Mệt
quá, mệt thiệt! Chịu không thấu! Thôi thì ba cái vụ hồng
hồng, đỏ đỏ này tôi xin nhường phức lại cho đàn anh Hồ
Trường An vậy.
back to top
07. TÂY DU KÝ
NGUYỄN TẤN HƯNG
Có người hỏi tại sao Ðường tăng Tam Tạng lại phải đi
Tây phương thỉnh kinh, cầu Phật? Há chẳng lẽ ở Ðông
phương này không Phật, không kinh? Cha, chắc phải có một
vài lý do nào đó, quan trọng hơn cả kinh lẫn Phật. Thí
dụ như giá trị văn chương, truyền kỳ mạn lục, lôi cuốn
hấp dẫn... gì gì nữa chẳng hạn. Song song với chuyện kể
lại cuộc hành hương. Bằng không, chuyện thỉnh kinh cầu
Phật há chẳng phải chỉ là chuyện... tề thiên?
Chẳng biết thầy Từ Mẫn có bị ảnh hưởng gì bởi thầy
Tam Tạng hay không mà có lần thầy khuyên bảo tôi rằng:
- Ở phương Ðông thiên hạ đã "biết tiếng anh rồi." Anh
không cần phải đi lên đi xuống bên đó nữa. Tốt hơn hết
là nên làm một chuyến "Tây Du" qua bên này giao thiệp, quen
biết, bạn bè với người ta. Văn nhân thi sĩ bên này đông
lắm, vui lắm. Mà cũng "nhiều chuyện" lắm, hì hì... Ở
đâu cũng vậy!
Chuyện "biết tiếng anh rồi" thì kể ra cũng không đúng gì cho
lắm. Tôi có linh cảm rằng "tiếng tăm" của mình vẫn còn thưa
rơ thưa rỉnh, ở một xó xỉnh nào đó thôi. Nhưng, cái mục
"Tây Du" thì tôi có ý định từ lâu. Mặc dù tôi có nghe qua
mấy vụ "Tây Du" ồn ào của những bạn hữu khác như... Nguyễn
Hưng Quốc, Nguyễn Hữu Nghĩa. Chẳng biết nhị vị đến từ
nước ngoài này, một bên Tây và một bên Gia Nã Ðại, được
tiếp đón nồng hậu long trọng ra sao mà người này nói "nghe
đầy lỗ tai" và người kia than "ớn mấy ông lớn lắm!" Nghe
vậy thì hay vậy, đằng nào tôi cũng phải làm một chuyến cho
riêng tôi. Ngoài việc gặp những tai to mặt lớn trong làng,
những người xưa nay mình chỉ biết tiếng qua thơ văn mà chưa
hề diện kiến, tôi còn phải dạo chợ Sài Gòn Nhỏ nữa chớ.
Cho biết đó biết đây với người ta. Ðể ở nhà
với... vợ miết, biết đời nào thuỗn được cái
sàng khôn!
Số là qua anh Võ Ðình tôi có quen với chị Hương. Nữ họa sĩ
Thu Hương, nếu muốn nói rõ hơn về tên tuổi và sở trường,
hiện đóng đô ở tiểu bang Arizona. Thì ra đây là Thu Hương
Arizona chớ không phải Hương Alaska. Chị được gửi đi du học
bên này vào thời nhà Ngô mới bị lung lay chớ chưa bị lật
đổ, trong chương trình trao đổi sinh viên giữa hai quốc gia.
Chị cho biết chị là người duy nhất gốc miền Nam, quê ở Cái
Vồn, Cần Thơ, trong nhóm sinh viên được tuyển. Chị chọn
ngành họa và đã tốt nghiệp tại trường Macalester College, thành
phố St. Paul, tiểu bang Minnesota.
Tuy chị đi học ở tiểu bang Minnesota, nhưng tiểu bang nhà của
chị là tiểu bang Arizona. Thành phố nhà của chị là thành phố
Mesa, một thành phố cỏn con nằm ven ngoại ô Phoenix. Sở dĩ
có sự xa xôi cách trở giữa nơi cư ngụ và chốn học hành là
gì chị được nhận làm con nuôi trong gia đình Norton. Một
gia đình có truyền thống rất sốt sắng trong việc gia nhập
"hội những người xem chim," bird watchers' association. Bởi
vậy, đối với Mỹ, tên chị là Thu Hương Norton thay vì Nguyễn
Thu Hương. Bây giờ tên chị là Thu Hương Payson vì chị có
chồng người bản xứ. Chồng chị, bác sĩ Russell Payson.
Một bác sĩ thường trú cho 3 bệnh viện quanh vùng Mesa.
Có một điều lạ là ba người con gái của chị lại được đặt
tên hoàn toàn bằng tiếng Việt: Kim Châu, Bạch Liên, và Mỹ
Lan. Ðám con chị giờ đã lớn, dĩ nhiên. Nhưng thời con nít
của chúng đã được chị ghi lại đầy đủ trên nhiều tác phẩm
treo đầy nhà. Ðối với tôi, là một người không rành xem
tranh cho lắm, nhưng trong hàng hàng lớp lớp những bức tranh
của chị, tôi chỉ "chấm" bức tranh mang tên "người cào sò"
(the clams digger) mà chị vẽ Mỹ Lan lúc mới lên ba. Người cào
sò? Người vọc cát vọc đất ở ngoài bãi biển thì đúng
hơn! Phải nói đây là bức tranh truyền cảm, truyền thần.
Mới nhìn vô tôi hơi giựt mình, bất chợt bắt gặp cái hình
ảnh rất quen thuộc mà tôi đã từng thấy một vài lần ở
đâu đó. Ai dè nó là bản chính của bức tranh dễ thương in
trên những tấm postcard. Phải chăng chị đã dồn hết tình
mẫu tử thiêng liêng, vô biên, vô cùng tận vào bức tranh
này?
Trở lại buổi ban đầu, trước khi "phái đoàn" của tôi, gồm
hai vợ chồng tôi và cô em vợ đi theo cho có bạn, đến với
gia đình chị, chị có cho biết chị cũng vừa mới tiếp đón
những tay cọ nổi tiếng, quen thuộc trong làng hội họa Việt
Nam. Như Nguyên Khai, Võ Ðình, Ðinh Cường, Nguyễn
Quỳnh... Hóa ra tôi là người được cái hân hạnh làm người
đầu tiên trong làng văn đến với chị. Mà sở dĩ có
vụ viếng thăm này là chỉ do đề nghị của chị thôi. Lúc tôi
ngõ ý muốn về Cali chơi một chuyến và ước mong có dịp
được gặp chị ở bên đó, thì chị đã không ngần ngại:
- Hay là Hưng và bầu đoàn thê tử ghé nhà chị chơi một vài
ngày cho biết Arizona cái đã, rồi hãy đi Cali. Chị sẽ lái xe
đưa tụi em đi vòng lên hướng bắc thăm Grand Canyon, một thắng
cảnh nổi tiếng của tiểu bang mà cũng của cả thế giới. Xong
mình ghé qua Las Vegas đánh bài xả xui một mách, cho mấy em biết
qua cái không khí cờ bạc với người ta.
Nói tới thắng cảnh thiên nhiên thì tôi chịu liền, chớ còn
chuyện
cờ bạc là bác thằng bần
thì tôi không màng cho
lắm. Nhưng có điều tôi hơi ngạc nhiên vì sự tiếp đãi
có vẽ rất ư là sốt sắng, tận tình đó. Tôi bèn bàn lại
cho chắc:
- Ðề nghị của chị nghe hấp dẫn quá. Mà thiệt chị có dám
bỏ chồng, bỏ con, bỏ hết thì giờ vàng ngọc của chị để đưa
tụi này đi du hí không đây?
- Thiệt mà. Tại Hưng hổng biết chớ chân chị là chân
đi. Nhứt là ba tháng hè này, hết hai tháng rưỡi là
chị không có ở nhà. Năm nào cũng vậy, chị phải làm một
vòng ở miền Ðông. Chị phải về Boston, Massachussets, thăm
lại những hòn đảo riêng của gia đình, thân tộc, rồi vòng
xuống Florida xem chim cho đã mắt. Chị đi chơi với mấy em
chỉ mới một tuần mà nhằm nhò, thấm thía gì.
Nghe qua mấy hòn đảo riêng, tôi đoán gia đình chồng chị chắc
cũng thuộc loại quyền quý, vọng tộc của một thời xa xưa.
Thời mà di dân từ Âu Châu ồ ạt đổ qua thềm lục địa mới.
Thôi thì cũng có dịp giao du với đám con cháu của một dòng
dõi
noble
xuất phát từ bên Tây hay bên Anh Cát Lợi một
phen. Vả lại vé máy bay đi Phoenix cũng có phần rẻ hơn so
với đi Los Angeles.
Ngày tụi tôi đáp xuống phi trường quốc tế Sky Harbor là một
trong những ngày nóng nhất trong lịch sử của xứ xương rồng,
Arizona. Nhiệt độ vượt qua mức 120 độ F, tức trên dưới
49 độ C. Tôi nghĩ chỉ cần chạy bộ chân không một khoảng
ngắn trên vỉa hè xi măng thì đôi bàn chân sẽ thành trứng
ốp-la hoặc là trứng luộc ngay. Chín thịt. Nói không ai tin
nhưng điều này cũng đã xảy ra cho nhiều người bị đái
đường, diabetes, ở cái xứ sa mạc này. Họ không có mấy
cảm giác ở bàn chân, chỉ khi nào nghe mùi khét của thịt thì
mới hay mình bị phỏng. Dễ sợ chưa. Trong người lúc nào
như cũng phừng phừng than hồng. Ngay trên làn da trần
hay dưới lớp vải mỏng mùa hè. Cái nóng như thiêu như đốt
của mùa hè ở xứ dầu hỏa, Texas, mà tôi đã có lần trải
qua, quả còn thua xa. Họa may chỉ có cái nóng giết người của
những mùa hè đỏ lửa ở núi rừng Việt Nam thì mới mong so
sánh nổi? Bởi vậy, không nhà nào ở đây là không có máy
lạnh. Nằm lềnh khênh trên những mái ngói, mái gỗ (gỗ
khúc chẻ ra từng lát mỏng), mái sạn (đá nhuyển rải trên từng
miếng nhựa mỏng vuông cạnh), đã phần nào làm mất đi cái
thẫm mỹ của một ngôi nhà.
Tôi hơi ngạc nhiên khi thấy người đàn bà đón tôi ở phi
trường nhỏ xíu con. Trong chiếc áo sơ mi màu vàng hoàng tộc
và chiếc quần thời trang cắt khéo cùng màu. Với khuôn mặt
thon thỏn, phơn phớt phấn son. Chị Hương là đây? Người
đàn bà hay đùa vui, cười rổn rảng trên te'léphone là
đây? Rõ ràng chị chỉ bằng nửa vóc dáng của đấng ông
chồng, anh Russell. Chúng tôi dễ nhận ra nhau vì những cái
hân hạnh, may mắn mà tổ tiên đã dành lại: mái tóc đen,
mũi tẹt, mắt hai mí...
Xuyên qua thành phố với vòm trời có lửa trong tia nắng, tôi
bắt gặp những khu nổi tiếng dành cho minh tinh màn bạc Mỹ đi
sắm đồ như Glendale, Scottsdale. Thì cũng vậy thôi, chẳng
có gì khác so với những siêu thị rộng lớn của Mỹ ở khắp
mọi nơi. Có khác chăng, chỉ là cái giá tiền rất xa lạ ghi
trên những món hàng rất quen thuộc, tôi nghĩ. Và tôi có
dịp nhìn tận mắt con sông Muối (Salt River). Thì nào có khác
gì những con sông khác, cầu kiều đầy ấp hai bên bờ. Chỉ
ngặt một nỗi là dòng sông này không có nước. Ðáy sông
phơi bày thân xác, đất đá, trần truồng như một thung lũng
cạn. Tại vì trên đầu nguồn người ta đã đấp một cái
đập, mà sau này tôi biết là Stuart Mountain Dam, để ngăn
nước cho hồ Roosevelt. Nghe nói năm mười năm thỉnh thoảng
một lần, nước dư thừa trong hồ được xả ra cho chảy
vào sông nếu mực nước lên quá cao. Trong khi đó, nước
cung cấp thực sự cho dân xài trong những thành phố sa mạc lại
được dẫn về bằng những con kinh xây bằng xi măng cốt
sắt. Phỏng chừng mươi thước bề rộng hai thước bề sâu.
Nước chảy lừ đừ như muốn đứng một chỗ. Ðược một
điểm chỉ nhìn vào màu nước trong xanh đó, bảo đảm ai ai cũng
như tôi, có cảm giác mát mát trong người.
Tôi ngạc nhiên hơn khi bước vào khuôn viên gia trang của chị.
Cảnh vật rất khác thường. Với một cây xương rồng to
lớn, cao vút trên không, thân độ một tay ôm, đứng sừng
sững trước nhà. Bên cạnh là một nền đất cao, xung
quanh có tấn mấy gộp gỗ vuông làm vách thành, trong đó
trồng ôi thôi đủ thứ rau thơm: cần tàu, ngò gai, tía tô,
thìa là (tiểu hồi, đại hồi?)... Lẫn lộn một vài cành
hoa dại, hoa hướng dương, hoa cúc. Nhìn quanh sân trước,
tôi thấy rải rác đây đó những loại cây chỉ sống được
ở những sa mạc hoang vu, như những chòm đậu mè (mesquite),
đậu vẹt (paloverde, cây của tiểu bang, state tree, một loại
cây cho đầy những cánh hoa màu vàng tươi vào mùa
xuân)... Nhưng, bỗng dưng có tiếng chào xa lạ:
- Hello, how are you? Hello...
Rồi lại tiếp theo ngay:
- Bye bye... Bye bye...
Thì ra ở trước thềm nhà chị có nuôi hai con két nói sỏi
tiếng người, tiếng Mỹ dĩ nhiên. Tôi buộc miệng phải
trả lời bằng tiếng Việt:
- Bài bai... Bài bai...
- What's your name? Hello, what's your name?
Tôi bắt tức cười. Thiệt tình, hai con két rất đỗi thông
minh, nhưng chỉ biết nói như két.
Và tôi hết sức ngạc nhiên khi bước vào tư dinh của chị.
Dạo một vòng, thú thật, tôi chưa từng thấy nhà ai mà bê
bối, bề bộn như nhà chị bao giờ. Mặc dù tôi biết tánh
người Mỹ thường hay làm biếng, không khoái dọn dẹp tối
ngày như người mình. Không thích "nghèo cho sạch rách cho thơm"
gì ráo trọi. Nhưng, nhà của chị phải nói là xô bồ. Hình
như ai cũng như ai, đụng đâu vất đó. Từ áo quần đến
sách vở. Từ tranh ảnh đến giấy má. Từ phòng khách đến
phòng ăn. Từ phòng ngủ đến phòng tắm. Từ bàn dài đến
ghế vuông. Ðâu đâu cũng hàng hàng lớp lớp, đủ thứ thập
vật, chồng chất lên nhau. Xô bồ. Tôi chỉ dám nói xô bồ
thôi chớ không dám nói "bầy hầy," thiếu vệ sinh. Nhà bác
sĩ mà lị. Sau này tôi mới biết rõ hơn, đó là cái cách
sống của chị. Một life style. Ðã hấp thụ từ gia đình cha
mẹ nuôi của chị. Nhà ông bà Norton thì nào có khác gì đâu.
Có lần, chị đã phân trần:
- Tại nó quen như vậy rồi mấy em à. Tội nghiệp cho
Russell. Nếu mà không phải Russell thì chắc chị đã bị chồng
bỏ từ mấy mươi đời rồi.
Quả thiệt, anh Russell hiền như cục bột.
Phía vườn sau nhà chị có một hồ tắm và một sân chim. Hồ
tắm thì dễ hiểu rồi nhưng sân chim thì tôi mới biết. Ðó
là một khu đất rộng đầy bóng mát, với cây cỏ để mọc
tự nhiên nhằm quyến rủ chim chóc xa gần. Trong đó treo
lủng lẳng nhiều lồng đựng thức ăn, nước uống cho nhiều
loại chim khác nhau. Lồng chứa mật hồng dành cho chim
honeysucker, hummingbird. Lồng chứa hạt hướng dương,
sunflowers, dành cho chim sẻ, chim sâu. Ðại khái như vậy.
Dưới đất, có một bồn nước cạn dùng làm chỗ cho chim
tắm. Cạnh bên có ống nước nhỏ bằng mút đũa uốn cong hình
con hạc, với cái mỏ nhọn nhỏ từng giọt nước lỏn tỏn vào
bồn. Cũng nên biết rằng muốn duy trì một chòm cây xanh ở
vùng sa mạc không phải dễ. Thường người ta bắt luôn
hệ thống tưới nước tự động, hễ đến giờ là
a-lê-hấp, bật nấp phún ra. Và nước ở sa mạc thì hiển
nhiên, không rẻ như những nơi khác.
Kể ra xem chim là một thú vui trưởng giả dành riêng cho những
người có thì giờ nhàn rỗi. Nhưng không bắt buộc phải là
người già. Tuổi càng trẻ càng tốt, đường dài mới biết
ngựa hay. Miễn sao có chút đam mê và lòng kiên nhẫn là
được rồi. Trước hết, làm đơn xin gia nhập hội xem
chim. Kế đó, mua một hai cuốn sách căn bản, chỉ dẫn về
chim chóc ở nước Mỹ, của R. T. Peterson chẳng hạn. Ðể nghiên
cứu sơ qua vùng nào ta sẽ tìm thấy những con chim nào. Thế
thôi. Rồi đi xem chim. Bằng mắt trần hay ống dòm, tùy
ý. Vô rừng hay lên núi, tùy hỉ. Cứ mỗi lần thấy một
loài chim mà mình chưa từng thấy thì dở sổ xem chim ra, ghi
vào. Làm bảng liệt kê các loài chim do chính mình trông thấy.
Nhớ là đừng có ăn gian. Cả đời mình, nếu ghi được vài
trăm loài chim thì đã là một kỳ công. Bảng dài mới biết
người hay, tuổi càng trẻ càng tốt là vậy.
Có một sự trùng hợp hơi ly kỳ là ngày bọn tôi đến chơi,
ở sân chim của chị Hương lại xuất hiện một con chim rất
hiếm: con chim bói ruồi cổ xám, pale throated flycatcher. Tôi
gọi tạm như vậy vì ở Việt Nam mình có con chim bói cá, tức
chim thằng chài. Lẽ dĩ nhiên ở Arizona có nhiều loại chim bói
ruồi, nhưng con cổ xám này chỉ được ghi nhận một vài lần
trong lịch sử xem chim mà thôi. Lịch sử xem chim? Ðúng vậy,
chỉ cần mình khám phá ra một con chim lạ, nghĩa là chưa ai từng
thấy trước đó (có sự công nhận, làm chứng của bạn bè
cùng xem), là tên tuổi mình đã đi vào lịch sử... xem chim.
Mà nói chớ chim chóc thì nào có khác gì... tình yêu hay dễ
hiểu hơn... con chuồn chuồn,
khi vui nó đậu khi buồn nó
bay
. Bởi vậy anh Russell bèn đem dàn máy chụp hình tối tân
của ảnh ra canh sẵn. Phải lặng lẽ chờ cho nó tới, rồi chụp
cho nó một pô coi cái cổ của nó có xám hay không. Trước khi
gọi điện thoại cho bạn xem chim tới thưởng lãm và nhận ân
sũng của mình (được phép ghi thêm vào sổ xem chim một loài
chim lạ).
Rõ, nghề chơi nào cũng lắm công phu. Ðó là chỉ mới nói
đến hội xem chim trong địa phận Bắc Mỹ thôi, chớ còn nói
tới hội xem chim quốc tế thì phải đến bực nào? Chẳng lẽ
họ không ngần ngại bỏ tiền mua vé máy bay qua xứ Phù Tang để
xem tận mắt những cặp hạc mình trắng cánh đen?
Tương tự như có lần trước đây chị Hương đã khuyên tôi
nên học qua ngành họa, bây giờ chị lại có ý "dụ" tôi nhảy vô
làng bird watchers:
- Hưng cũng nên vô hội xem chim để tìm thú vui nhàn nhã
với người ta. Hợp với tuổi già, phải hôn?
Hợp với tuổi già thì chí lý lắm. Vì tuổi "tri thiên mệnh"
đối với tôi, tương đối, cũng đang trên đường sồng sộc
đi tới. Nhưng tôi tự hỏi, không biết những người xem chim
bên nước Mỹ này có ai chịu khó tìm hiểu về con chim mắt khoen
ở Việt Nam mình hay không? Một loài chim nhỏ, có lông màu
vàng vàng hoàng yến, mà tôi rất yêu mến một dạo nào! Rồi
bỗng dưng thấy lòng bâng khuâng!
Buổi chợ chiều ngày hôm đó chị Hương đưa tụi tôi đi tới
tiệm thực phẩm Á Ðông, do một người Mỹ biết nói nhiều
tiếng Việt làm chủ. Lại một màn chít-chát diễn ra của
những người như... nửa đồng hương với nhau. Tôi nghĩ
chuyện khác, hừm, ở sa mạc mà nào có thiếu món gì
đâu? Và nhờ vậy chiều đó bọn tôi có được tô canh tập
tàng với mồng tơi, rau dền, bù ngót nấu với tôm lột vỏ
đập dập thiệt ngon, thiệt ngọt. Cộng thêm dĩa rau ghém
thiệt tươi với đủ loại rau thơm kèm những lát chuối chát
xắt mỏng và tô tôm càng rim, nước gạch đỏ ối, thấy
bắt thèm.
Nhưng bọn tôi rồi cũng phải rời sân chim của chị Hương và anh
Russell, như rời một ốc đảo Ðào Hoa, để tiếp tục cuộc
hành trình về phương Tây. Hành trang đem theo được xếp đầy
phía sau chiếc xe Van hiệu Dodge của chị. Lãnh phần làm tài
xế, chị Hương cho xe chạy theo đường Lưng Lạc Ðà, Camelback
Road, rồi vòng lên phía bắc để hướng về Grand Canyon. Phải
đi thăm một trong những kỳ quan của thế giới.
Ra khỏi Phoenix một đỗi độ vài mươi dặm thì phong cảnh đã
khác hẳn. Vì hai bên đường đã bắt đầu thấy màu xanh.
Thiệt chẳng khác gì từ biển cát đất khô cằn mà đi lên
miền núi thẳm. Rồi tùy theo cao độ mà thảo mộc cũng
thay đổi theo. Mới đầu là loại hắc-ín-hương (creosote),
mọc từng bụi tròn tròn khắp đó đây. Tôi gọi như vậy vì
loại cây này cho múi hắc-ín, nhựa đường, khi vò lá trong
tay. Hoặc sau một đám mưa lớn, người ta có thể nghe mùi
hăng hăng trong gió.
Cao hơn một chút nữa mới có xương rồng. Loài xương rồng
thuộc nhóm bàn tay năm ngón chơ vơ, saguaro cactus, được thấy
trước tiên. Nhiều bàn tay có tật, có luôn cả ngón thứ
sáu, thứ bảy. Nhưng cũng có nhiều bàn tay từ cha sanh mẹ đẻ
đã cô độc. Chỉ có mỗi một ngón, ngón giữa, thật
dài. Trên đỉnh đầu mỗi ngón hoặc dọc theo thân, nở ra
những chùm hoa lớn màu trắng ngà có thể thấy rõ từ đàng
xa. Cũng nên biết, những cây xương rồng này đang được
chính phủ Hoa Kỳ bảo vệ tối đa. Ðừng có ngừng xe và xuống
bứng ẩu vài cây, vài cụm đem về nhà trồng chơi mà bị cảnh
sát bắt bất tử. Ối, mà những cây xương rồng của xứ
Giang Tây này đâu làm sao sống vui, sống đẹp ở xứ Giang
Ðông? Vì chỉ cần lên cao thêm một chút nữa thì những
bàn tay năm ngón chơ vơ của ta bỗng dưng cùi cụt, rụi tàn,
rồi biến đâu mất hết. Nhường chỗ cho nhiều loại xương
rồng mọc sát mặt đất. Loại tai-bèo, lá dầy bản rộng.
Loại tay-nấm, nhô lên từng khối tròn tròn. Cũng cho hoa màu
trắng ngà (họa hoằn lắm mới có màu hồng tươi), nở
từng mảng lớn khắp mọi nơi. Rồi lên cao nữa mới thấy
loại xương rồng ít gai. Tức loại có lá dài ra như lưỡi
bà già vợ (hoặc chồng), mother-in-law-tongue, giống giống như
những khóm nha đam, aloe, bên nhà. Loại xương rồng này có
tên là agave (đọc là a-gá-vi), cho bông màu vàng nhạt kết
thành chùm, trên một cọng mọc cao như cọng bông huệ.
Lên cao thêm một đỗi nữa, mặc dù vẫn còn sa mạc, xương
rồng đột nhiên vắng bóng. Thay vào đó, người ta thấy
những cây thuộc loài dương xỉ, tùng bách, mọc lẫn với
những cây sồi miền núi. Rải rác đó đây nhiều cây
junifer (tùng?) hoặc ponderosa pine (bách?) mọc chênh vênh bên
triền đá, sườn đồi. Có nhiều cây trông giống giống
như cây bonsai, loại thông trồng làm kiểng, lớn. Nhưng
đặc biệt không hề thấy cây joshua, một loại thông sa
mạc nhiều cành ít lá, thường sống ở vùng sa mạc California,
Nevada. Loại này, trông từ đàng xa giống như những bàn
tay cùi. Thập thò giơ ra chào đón khách thập phương.
Dọc đường lên Flagstaff, chị Hương cho xe rẽ vào khu du lịch
Sedona. Nơi nổi tiếng có nhiều thắng cảnh và cũng là nơi
tụ tập của nhiều văn nghệ sĩ. Nhất là các nhà họa sĩ
và điêu khắc gia. Mỹ gọi đó là lãnh địa của văn nghệ sĩ,
artist's and writer's colony. Lãnh địa đâu chưa thấy, tôi chỉ
thấy mình bỗng đi lạc vào miền viễn tây. Trong những phim
cao bồi có bắn súng giết người như một trò tiêu khiển.
Thì ra đây là chỗ quay phim. Những ngọn núi trọc màu đỏ
như đất nung thỉnh thoảng nhô lên chênh vênh giữa trời.
Những vách núi dựng đứng màu trắng như đất sét, nối
tiếp với bìa rừng xanh lá rải rác đó đây. Hai bên đường
và ngay cả trước mặt. Ðặc biệt nhất là có trái núi hình
quả chuông to lớn (Bell Rock), như trên trời mới rơi xuống
chắn ngang lối đi khi từ xa nhìn tới. Lúc xe đến gần và
chạy vòng quanh chân núi, tôi cứ mải miết tìm kiếm một hình
bóng quen quen, thần thông quảng đại có thừa, mà rất tiếc
không thấy đâu hết. Có phải chăng thầy Tam Tạng đã giải
cứu Tề Thiên Ðại Thánh ngay tại cái núi màu đỏ ối này?
Sau đó, bọn tôi ghé vào khu thủ công nghệ, Sedona Arts and
Crafts Village. Ðể xem tranh. Bày bán đầy trong những tiệm
tranh cũng có mà trong những phòng vẽ cá nhân, personal studio,
cũng có. Ðể xem những bức tượng. Tạc bằng thạch cao
cũng có mà điêu khắc bằng đồng, đen cũng như đỏ, cũng
có. Ðể xem đá quý. Phần lớn mang về từ vùng sa mạc
Sơn Màu, Painted Desert, và công viên quốc gia Petrified Forest
National Park. Trong số đó có những phiến mỏng cưa ngang từ
những cây hóa thạch. Chỉ mỗi một việc chà láng, đánh bóng
lên thôi mà bán với giá rất cao. Ðôi ba trăm là thường.
Ðể xem những món kỷ niệm làm bằng tay của dân thiểu số,
dân Indians thuộc bộ lac Hobi đã sống ở đây từ mấy ngàn
năm qua. Với thánh địa, sacred land, là đỉnh núi San
Francisco. Những món đồ làm bằng da thuộc, hoặc chỉ sợi,
hoặc đá mài đá đẽo, đủ màu đủ cỡ đủ loại. Chị Hương
có khoe nhẹ với tôi một câu:
- Ở sa mạc mà đầy đủ như vầy thì chị cần gì phải đi
đâu xa, phải không Hưng? Bởi vậy chị đã đi khắp chân
trời góc biển rồi mà chị cũng vẫn trở về Arizona để
mà sống.
Tôi định nói với chị:
- Ừa, cái gì ở Arizona trông cũng ngoạn mục hấp dẫn
hết, ngoại trừ cái nóng. Tôi không ưa cái nóng...
Ấy vậy mà cái nóng này vẫn còn vất vưởng, lê gót theo
bọn tôi cho mãi đến vùng Grand Canyon. Bấy giờ trời có
phần dịu dịu lại vì không khí núi rừng nơi đây khô và
loãng hơn không khí sa mạc nhiều. Vả lại trời đã về
chiều. Chị Hương tìm chỗ cấm trại, chỗ đậu xe tắm
rửa và ngủ qua đêm thì đúng hơn, rồi mới đi xem thắng
cảnh. Thì cũng lái xe, khoảng đường vài mươi dặm
như một cái hành lang bọc theo miền đất lạ. Với nhiều
vị trí nhìn ra (look out) được xây cất cẩn thận. Miền
đất lạ? Phải! Lạ, vì nó quá hùng vĩ, bao la, sâu thẳm.
Lạ, là vì chóa mắt, nhìn ra phương nào cũng thấy ngộp.
Lạ, là vì nó đủ màu. Từ đỏ đến đen, từ vàng đến
cam, từ tím đến hồng, từ xám đến trắng, hàng hàng lớp
lớp chồng chất lên nhau. Hằn lên những lằn ngăn cách trong
hàng nhiều triệu năm. Trên vách núi và dưới lũng sâu.
Như có bàn tay mầu nhiệm nào đó ngoài không gian thái dương
hệ, cầm con dao thật to, khía lên quả địa cầu những nét
điêu khắc ngoạn mục. Tạc lên đó một nhánh rong rêu. Bằng
những đường ngang lối dọc ngoằn ngoèo, đậm nét. Sâu
đến chảy máu. Sâu đến nhìn mút mắt mới thấy dòng Colorado
uốn khúc, lúc ẩn lúc hiện trong chốn khôn cùng. Lạ, là
vì... lạ, thế thôi. Không có cái huyền bí, linh thiêng
như ở vùng Yellow Stone mà tôi đã đi qua trước đây.
Cho đến cuối con đường làm hành lang bên lề miền đất lạ,
tụi tôi chỉ còn đủ thì giờ nhảy vội lên chuyến xe bus cuối
cùng để đưa khách thập phương đi nhìn cảnh mặt trời lặn
trên Grand Canyon. Bằng những đóng góp của những người
thám hiểm dòng Colorado, bằng những nghiên cứu tìm tòi của
những người đã từng sống chết bao nhiêu năm với miền
đất lạ, người ta đã chọn một vị trí đặc biệt cho khách
nhàn du. Ðể cho họ học được cái cảm giác thoát tục trong
cảnh nửa bừng sáng, nửa âm u trong khung trời mờ mờ hơi
sương, long lanh ngũ sắc. Khi nắng chiều chạm phải đường
chân trời, đang nằm im lìm muôn đời trên mặt phẳng đóng
dầy lớp bụi thời gian của Grand Canyon. Hàng ngàn người kiên
nhẫn đợi chờ trong im lặng cái giây phút thoát tục đó. Tôi
cũng vậy. Nhưng chị Hương bỗng vô tình phá tan bầu không
khí u mê:
- Hưng nè, em có thấy cái trạm xe lửa ở dưới chân đồi
kia không?
- Thấy. Sao chị?
- Ðể chị kể cho em nghe một mối tình...
Và chị kể thiệt. Ðó là mối tình giữa chị và người
cháu đích tôn của Fred Harvey, ông triệu phú đã thiết lập
hệ thống đường xe lửa nối liền khắp mọi nơi với Grand
Canyon cho du khách xa gần. Hiển nhiên hệ thống đường xe
lửa này từ từ lỗi thời, không còn ăn khách nữa, khi
hệ thống xa lộ thành hình. Dòng dõi Harvey giờ chỉ còn
giữ lại một đoạn đường xe lửa ngắn vòng quanh vùng Grand
Canyon, như muốn giữ lại một dấu vết làm kỷ niệm. Vì
sau đó họ đã thực sự chuyển sang và thành công trong ngành
mở khách sạn và quán ăn. Ðiều đáng nói là khi cậu hoàng
tử mất ăn mất ngủ, muốn đánh đổi ngai vàng để lấy
cô gái lọ lem nước Việt, thì chị lại đang bận chạy
theo tiếng gọi của một tình yêu khác.
- Tuổi trẻ mà em...
Chị kết luận như vậy, rồi tiếp luôn:
- Kỷ niệm giữa chị với Harvey giờ chỉ còn cái tượng
Phật bằng đồng, nằm trên bàn con ở nhà chị mà em thấy
khi mới ở ngoài cửa bước vô. Cái tượng Phật đó cũng
là một chuyện ly kỳ, hi hữu. Mà thôi, chị không kể cho
em nghe làm chi, chuyện này nó vòng vo tam quốc dữ lắm.
Tôi cứ nghĩ chị Hương là người có phước. Ðược nhiều
người săn sóc chiều chuộng, mà toàn là dân giàu có, quý
tộc. Nhưng không, chị là người có gan. Thích làm chuyện
động thiên đình. Vì nếu không có gan thì chị đâu dám viết
lá thư gửi thẳng cho tổng thống Ngô Ðình Diệm để xin mấy
trăm bạc tiền học bỗng. Rồi với kết quả không ngờ của
lá thư đó, cuộc đời của một người con gái học trò nhà
quê đã hoàn toàn đổi thay...
Xế chiều ngày hôm sau chị Hương đã đưa bọn tôi đến thành
phố cờ bạc Las Vegas, tiểu bang Neveda. Trời lại nóng như
đổ lửa, không thua gì nắng hạ ở dưới miệt Arizona. Nóng
đến nhựa đường chảy ra, mềm xùi mềm nhũn. Thì ra sa
mạc nào cũng là sa mạc. Vậy mà mới dọn hành lý vô khách
sạn xong, chị giục bọn tôi tắm rửa và thay đồ mới đi
chơi. Kể cũng phục chị sát đất ở điểm giàu sức chịu
đựng, dẽo dai. Mình ngồi không, chẳng có lái xe lái cộ gì
hết, mà mệt muốn chết. Trong khi đó, chị lúc nào cũng
tỉnh queo, tươi rói như người máy không bằng. Phải đợi
chị giục tới giục lui, năm lần bảy lượt bọn tôi mới chịu
lê gót xuống đường.
Chỉ cần rảo lên rảo xuống đại lộ Las Vegas vài bận là đủ
hết bài bản. Vì tất cả các casino, tên gọi chung cho các
khách sạn nhiều tầng có chỗ chơi bài ở tầng trệt, đều
nằm trên đại lộ này. Hoặc thụt vô trong một chút xíu.
Chị Hương phân vân, bày tỏ tâm tình:
- Cái gì vậy cà? Excalibur? Cách đây hai năm chị có ghé
đây, đâu có thấy. Chắc là mới cất. Ðẹp quá hén.
Mấy em nghĩ coi, với mớ tiền ăn bài từ các con bạc mà tụi
nó có thể xây dựng một thành phố đồ sộ vĩ đại như thế
này, ngay giữa sa mạc, thì số tiền đó thiệt quá khổng
lồ. Mỗi ngày hổng biết bao nhiêu người tới đây nạp mạng
cúng dường cho tụi nó?
Trước mặt tôi Excalibur là một tòa lâu đài cổ, cất theo
kiểu Disney Land (California) hoặc Disney World (Florida). Với
những tháp tròn, nhọn, màu mè xanh đỏ. Mà chẳng riêng gì
Excalibur, những khách sạn chọc trời Casino, Riviera, Stardust,
Frontier, Sands, Holiday Inn, Imperial Palace, Flamingo Hilton, Mirage,
Ceasars Palace, Dunes, Aladin, La Quinta, Marina, Tropicana,... tất
cả đối với tôi đều mới lạ.
Bên ngoài trông đã vĩ đại, bên trong càng vĩ đại hơn. Ðại
thế giới là đây? Ngoài những khu thương mại, thời trang,
tiệm quán bao bọc xung quanh, phần rộng lớn mênh mông ở ngay
giữa chính là chỗ dành riêng cho cờ bạc. Hàng hàng lớp lớp,
hàng mấy chục ngàn cái máy chơi hên xui theo kiểu xổ số,
slot machine. Ấn nút có, kéo cần có. Dễ lắm, ai chơi
cũng được. Không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt
thông minh hay ngu dốt. Ðối với máy, tất cả đều như nhau,
đồng hạng, nhà lá như nhà ngói. Cứ việc nhét tiền vào
kẽ hở rồi ấn nút, kéo cần. Bạc cắc cũng xong mà bạc
đồng cũng được.
Chị Hương làm sang đổi một mớ xu hào rủng rỉnh đưa cho tụi
tôi chơi cho biết với người ta. Tưởng gì chớ chuyện này
muốn biết thì lẹ lắm. Biết ngay. Lúc chưa đã đứt chếnh
đầu. Biết luôn cái công thức mười đồng bỏ vô bảy tám
đồng lấy ra của nó nữa. Không chóng thì chầy mình sẽ sạch
túi. Nếu may mắn được trúng số, jackpot, với tỷ lệ một
ăn một trăm hay năm trăm chẳng hạn, thì hãy khôn ngoan một
chút, đứng dậy chuồn đi cho lẹ thì họa may còn giữ được
vốn với tí tí tiền lời. Hoặc tối thiểu cũng nên bỏ cái
máy đó mà nhảy sang máy khác chơi tiếp cầu may. Mặc cho các
tay chơi có khi ăn (vì hên), có khi thua (vì xui, ghiền, tức,
mê, giận, khùng, nóng, ỷ y...), máy chỉ biết có ăn chớ
không bao giờ biết thua. Vì nó đã được programmed sẵn như
vậy.
Bởi chơi với máy thì chỉ có một đường ăn mà đến
hàng trăm đường thua, cho nên muốn trổ tài cao thấp, dân
đen đỏ phải tìm những bàn có tay cái tay con. Có chia bài gom
bài. Có tài có xỉu. Có hoắc có sì. Rồi mặc dầu tuy có
suy nghĩ đó, có cân nhắc đó, có tính toán đó mà rốt cùng
số thua cũng nhiều hơn số thắng. Tại sao kỳ vậy?
Cũng nên biết có rất nhiều người sống hẳn với nghề cờ
bạc. Với năm ba ngàn vốn trong túi, họ có thể sống vững
vàng một thời gian. Tuy nhiên, thời gian đó ngắn hay dài
hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng cờ bạc của họ. Với một
con bạc trung bình, họ có thể kiếm mỗi ngày vài trăm bạc dễ
như chơi. Ðủ để trả tiền phòng thuê khách sạn, tiền ăn
uống tẩm bổ và sống mái cùng người đẹp, v. v. Cho đến
một lúc nào đó vì bốc đồng, vì say rượu hoặc say tình,
hay chỉ vì một lý do riêng... họ lại phải lang thang (lắm lúc
phải đón xe quá giang dọc đường) trở về quê cũ, làm lại
từ đầu.
Sau vài ba tiếng ngụp lặn trong chốn bạc tiền, trước mua vui
sau đứt vốn, chị Hương nhắn nhủ với bọn tôi:
- Thành phố Las Vegas là thành phố sống về đêm. Mấy em
hãy gắng sức mà đi cho suốt đêm nay.
Tôi ngạc nhiên hỏi lại:
- Ði nữa? Bộ chị không thấy mệt sao?
Chị phân trần:
- Mệt thì có mệt, nhưng mục đích của mấy em ngàn dặm xa
xôi đi đến đây chỉ có bấy nhiêu đó thôi, không đi chơi
uổng lắm.
Lại tiếp tục đi. Lông bông, lòng vòng. Cho đến chiều
tối, bọn tôi quay lại Ceasars Palace. Thiệt ra, có nhiều lối
dẫn về trung tâm cờ bạc và du hí sầm uất bậc nhất này.
Bằng những đường thang máy nằm ngang chằng chịt, dưới
đất cũng như trên không. Chẳng khác gì những cánh tay tìm
mồi trải dài ra xa của một con mực. Ðể cạnh tranh, ở mặt
tiền giáp ranh với Mirage Hotel, chính vua Ceasars đã ra lệnh
cho đàn em của mình biểu diễn trò đặc biệt riêng, ngay trên
đường phố. Thì cũng chẳng gì, một nhóm quan quân triều
đình mặc áo giáp, với đầy đủ kiếm cung cờ xí theo thời
La Mã hồi xưa (trong đó có một anh chàng đi cà khêu cao nghều
nghệu), gióng lên ba hồi chiên trống và khua môi múa mỏ:
- Các thần dân của ta hãy lại đây mà nghe cho rõ...
Sau một vài câu truyền chỉ, làm ra vẻ hết sức trịnh trọng
cho một vị đại đế lừng danh, tên quan lại đầu sỏ khoác
kiếm ra lệnh:
- Hãy theo ta.
Theo thì theo. Tưởng đâu theo ta làm cái gì chớ chỉ theo ta
đi dọc theo hành lang cung điện, với hai hàng cột to tướng
hai bên có chạm trổ nhiều hình tượng, để vào chốn... ăn
chơi thì xưa nay ai làm chẳng được. (Và cũng nhằm giựt
khách, lối dẫn vào bên Mirage Hotel đi ngang một khuôn viên
tưởng như là vườn thượng uyển của vua với đầy dẫy hoa
thơm cỏ lạ, và đặc biệt có cặp bạch hổ nuôi trong một sở
thú lồng kiếng rộng lớn).
Bước qua khỏi cổng chính, người ta thấy ngay nhiều bức
tượng khác của vua quan La Mã, nam có nữ có, đứng trên những
chiếc bàn đang quay tròn đều đặn. Cho thần dân đứng xung
quanh chiêm ngưỡng. Những bức tượng này được programmed
thay đổi vị thế từng vài phút một. Một cánh tay đưa lên
ra hiệu hoặc một cánh tay hạ xuống cầm đốc kiếm, chẳng
hạn. Nhưng hai mắt vẫn nhắm nghiền như tượng chết. Chẳng
bao lâu, độ nửa giờ trở lại, những bức tượng đó bỗng
nhiên sống dậy, co chân nhảy xuống đất nói cười vui vẻ.
Trời đất, thì ra bọn họ giỏi đóng kịch, trông như thiệt.
Hèn gì mình bán tín bán nghi. À, mà không bị chóng mặt,
kể cũng tài.
Chóng mặt hay không chính ra là bọn tôi đây. Số là không
dễ gì gặp được những người đầu đen, mắt hai mí y như
mình, trong cái cảnh người và người điệp trùng kiến cỏ
như thế này. Cho nên, khi được dịp, chúng tôi đã thăm
hỏi rất ân cần một gia đình trông rất là quen thân.
Chị Hương làm gan:
- Anh chị mới ở Cali lên chơi?
- Dạ phải.
- Anh chị hồi trước quê ở đâu? Qua đây được bao lâu
rồi?
- Tụi tui ở tỉnh Ðồng Tháp, mới qua đây được năm ngày.
Tôi vọt miệng:
- Mèn đét ơi, mới năm ngày mà anh chị đã biết tìm
đường lên đây thử thời vận rồi. Hay thiệt. Vậy chớ
bác năm nay bao nhiêu tuổi rồi anh chị?
- Dạ, má tui tám mươi lăm. Cả nhà đi hết một lần theo
diện đoàn tụ gia đình...
Hàn huyên một hồi lâu rồi sau cùng cũng phải chia tay. Ðường
ai người nấy cứ vui chơi. Vậy mà chị Hương cứ thắc mắc
hoài:
- Mấy em có thấy gia đình đó thế nào không? Họ ăn mặc
coi lèng xèng vậy chớ mà là dân có tiền đó. Thấy bà già
hông, lụm cụm gần đất xa trời rồi mà hai lỗ tai đeo đôi
bông hột xoàn chọi chó chó cũng chết.
Tôi nào có để ý mấy thứ nữ trang, vòng vàng lẩm cẩm
đó. Tôi đói bụng. Tôi muốn tìm một chỗ để có thể
nhét vô bụng cái gì hầu tiếp tục giữ vững cặp giò. Tiện
thể, có chỗ ngồi nghỉ chân. Hai cẳng tôi mỏi rụng. Tôi
chịu thua đàn bà ở cái nước đi lông nhông xem quần áo, giày
dép trong các khu shopping. Xem thôi chớ nào đã mua. Vòng tới
vòng lui chịu không thấu. Ðó là tôi đã ăn gian, vô tiệm
nào tôi cũng lăm le ngó chừng mấy cái ghế trống. Và hên
quá, thiệt tình trời bất dung nhơn đảng, mắt tôi sáng lên:
- Chị Hương nè, hay là mình vào đây ăn cơm Nhật một
bữa đi.
May phước, chị đồng ý. Mọi người đồng ý. Kabuto, tên
của tiệm. Một cửa tiệm có tính cách vỉa hè. Với một
quày rượu và bốn năm bàn vuông bày trên sàn gỗ thấp. Ăn
ở đây nhìn thiên hạ đi qua lại kể cũng thú. Có cái không
khí Sài Gòn. Ngồi chờ một hồi lâu, cô chiêu đãi viên,
tuy không mặc kimono nhưng giống y chang người Nhật, có đeo
bảng tên Tammy trên ngực áo mời bọn tôi vào trong. Thì ra
nãy giờ bọn tôi chỉ ngồi ngoài hành lang, patio, chớ chưa
vô quán. Tammy, cô chiêu đãi viên riêng của bọn tôi, cho
biết như vậy. Lọt vào trong, cảnh trí bỗng khác hẳn. Có
dòng nước trong, có con cá lội. Có cây rừng, có lá
xanh. Có hoa tươi, có cỏ tốt... Nhưng, bỗng dưng cô
Tammy đổi giọng:
- Mấy anh chị phải là người Việt không?
Tôi giựt mình:
- Ủa, cô biết nói tiếng Việt hả?
- Em là người Việt mà không biết nói tiếng Việt sao
được.
- Cô tên gì cho dễ kêu.
- Em tên Tâm nên tụi Mỹ kêu em là Tammy.
- Cô làm ở đây lâu chưa, cô Tâm?
- Dạ, cũng hơn một năm rồi.
- Nói thiệt cô nghe, tôi chưa từng ăn món Nhật, nên cũng
chẳng rành cái quán này có món gì. Ðâu cô làm ơn giải thích
sơ sơ cho tụi tôi nghe qua coi.
- Dạ, ăn ở trong này gọi là ăn full meal. Tức là ăn hết
mấy món nó liệt kê trong thực đơn. Em sẽ cook tại bàn cho anh
chị...
- Trên cái bếp này đây?
Tôi vừa nói vừa chỉ lên mặt bàn. Cô Tâm gật đầu, rồi
tình thiệt, giải thích tiếp:
- Nhưng mà không có rẻ đâu nghen. Năm sáu chục đồng một
đầu người.
- Gì mà mắc dữ vậy, bốn người ăn đã hơn hai trăm
đô. Như vậy tại sao trong thực đơn có ghi mấy món tay cầm,
chín mười đồng một bữa này đây?
- Ô, đó là mấy món ăn chơi dành cho những người ngồi
ở ngoài patio thôi.
- Ý trời, ăn chơi mà tính tiền như ăn thiệt! Chị Hương,
chị nghĩ sao? À, mà cô Tammy nè, mình lỡ vô đây rồi bây
giờ mình đi trở ra có hề gì không?
- Không, không sao đâu. Nhiều người cũng tưởng lầm như
anh chị vậy.
- Thiệt hả? Thôi, cô cảm phiền để cho tụi này ra ngồi
ngoài hàng ba cho nó nhẹ thở một chút nghen.
- Dạ được, không có chi hết.
- Vậy rồi tiền "típ" tính sao đây.
- Dạ khỏi cần. Ðâu có ăn uống gì đâu mà cho "típ."
Mừng, kể như thoát được nạn học đòi làm ông hoàng, hăm he
tìm chốn nhất dạ đế vương. Vậy mà nào đã xong đâu. Bây
giờ đến phiên cô chiêu đãi viên khu hàng ba, dù không phải là
dân Nhật đi nữa trông cũng giống Nhật vì cô mặc áo kimono,
chịu khó từ tốn dời gót ngọc đến thăm hỏi khách phương xa:
- Thưa, các ông bà muốn ăn món gì? Muốn gọi ngay bây
giờ hay chờ một chút cho dễ chọn lựa? Ăn su-shi đi, ngon
lắm!
- Ngon thiệt hả, cô? Ừa, hãy cho tôi ăn thử món su-shi
đi.
Không ai rành các món ăn của Nhật (in bằng tiếng Mỹ trên thực
đơn), nhưng có lẽ vì ảnh hưởng bởi lời mời mọc duyên dáng
của cô gái Nhật (hay Ðại Hàn?), mà rốt cuộc ai cũng đòi ăn
thử su-shi như tôi. Cũng tiện. Nhưng chẳng biết vì sự bất
đồng ngôn ngữ hay là sự cố tình muốn cho bọn tôi nếm thêm
mùi tân khổ, mà lúc mang thức ăn ra, ngoài món su-shi còn có
một lô lỉnh kỉnh khác nữa như mực, tôm... Vò thành lọn
tròn bọc bên trong một miếng cơm nếp. Như một cuốn chả giò
nho nhỏ. Không riêng gì su-shi (cá thu), tất cả các món kia
đều, đương nhiên, sống. Ðặc biệt một điểm là không
nghe mùi tanh hôi gì hết. Ði kèm theo những dĩa đồ biển trân
quí (delicacies) của Nhật kia, chỉ có mỗi một món độc nhất là
hột cải (mustard) để làm món chấm. Tôi lấy chai hắc-xì-dầu
tại bàn pha với hột cải cho nó có thêm chất vị mặn.
Tôi gắp một miếng su-shi, chấm chấm, bỏ vô miệng làm
thử. Chu mẹt ơi, tá hỏa. Phỏng họng. Nghẹt thở. Nồng
ơi là nồng. Bảo đảm dẫu có mùi cá mắm, rong rêu gì gì
đi nữa thì cũng vụt bay đi ngay. Dộng lên óc, và giữ
chặt trong não bộ duy nhất một điều: cay. Mèn ơi, thôi
chết. Ông bà ông vải cũng chết. Thè lưỡi, hà hơi,
đưa tay lên, quạt.
- Sao chị Hương? Chị thấy thế nào?
- Ngon mà. Mấy em ăn thử đi cho biết. Chị có ăn rồi,
ha ha ha...
Vợ tôi than phiền:
- Cay quá chị Hương ơi. Ðiệu này chắc em không ăn
được nữa đâu.
Cô em vợ tôi tiếp luôn:
- Em cũng vậy.
Rốt cuộc rồi chỉ còn chị Hương và tôi thanh toán trận đồ.
Ăn thì ăn chớ tôi chưa cảm thấy cái ngon của su-shi, tôm
sống, mực sống như thế nào. Tôi còn hơi ớn ớn su-shi
vì nó mềm xùi như tàu hũ non, phải chi nó cứng nó giòn thì
cũng đỡ. Gõi cá của mình tuy cũng sống, nhưng có chanh,
có rau thơm, có đậu phọng. Ðằng này chỉ có mỗi
cái... hột cải. Cay quá trời cay. Ðừng ai bảo tôi ăn
cơm Tàu ở nhà Tây lấy gái Nhật là nhất. Gái Nhật chắc
rồi cũng mềm xùi như miếng su-shi và cay như hột cải thôi.
Cay đến nỗi như muốn đốt cháy thân người chỉ còn lại trái
tim. Giống như Na-Tra đốt cháy Tề Thiên khi anh chàng dám
ngang nhiên đại náo thủy cung của Long vương vậy.
Xong bữa ăn Nhật đầu đời, tôi đề nghị với tất cả là
nên vọt ra ngoài một chút cho đỡ ngộp. Tuy cũng ngập đầy
bụi trần thế, nhưng thà là hít thở cái không khí ít hơi
người vẫn tốt hơn. Hên quá, mọi người đều đồng ý.
Và bên ngoài trời lại mát mẻ hơn tôi tưởng. Las Vegas về
đêm quả thật muôn màu. Bầu trời thành phố như thắp sáng
bởi hàng hà sa số những vì sao nhân tạo, néon cũng có mà bong
bóng tròn cũng có, chớp nháy liên hồi. Dọc theo đại lộ Las
Vegas, hai dòng xe ngược chiều chật nghẹt như xếp cá mòi,
nhích nhích từng khoảng một. Người đi bộ trên vỉa hè chen
chúc nhau như đi hội chợ, chợ Tết không bằng. Tay trong tay,
ôi, những cặp tình nhân. Tôi cũng hân hạnh có được cái
diễm phúc đó.
Ngựa xe như nước áo quần như nêm
là
vầy? Có lẽ vậy!
Thực ra, sở dĩ không khí Las Vegas rất ồn ào náo nhiệt là
tại vì đêm nay là đêm Ðộc Lập, July Fourth, của Mỹ. Thiên
hạ tụ về đây, khu Mirage Hotel và Ceasars Palace, không những
để xem cuộc trình diễn pháo bông mà còn được xem luôn cuộc
lửa dậy có một không hai nữa. Bập bùng trong đêm thâu vì
đèn đuốc bỗng dưng tắt ngúm. Lửa từ đâu không biết bốc
cháy khắp mặt hồ nhân tạo, khắp các lạch suối, khắp các
thác nước, khắp các hòn non bộ, khắp cả khu rừng già có
cây cao bóng cả bằng plastic. Tiếng cầm thú hòa lẫn với
tiếng pháo chuột, pháo đại nổ tí tách, đì đùng. Hỏa vọng
thủy cung mà làm kinh động luôn cả địa đàng trần giới...
Ðêm đã quá khuya. Nửa đường về Tây Trúc coi như bọn tôi
đã vượt qua. Giờ, phải quay lui về khách sạn, ngủ lấy sức
để ngày mai còn tiếp nối cuộc hành trình tìm đến... quận
Cam và thành Los Angeles. Nghe đồn rằng nơi đó có lắm Phật
nhiều kinh! Ðể rồi xem!
back to top
08. TÍNH CHẤT CHUNG QUYẾT TRONG VĂN CHƯƠNG MIỆT VƯỜN *
NGUYỄN TẤN HƯNG
Tôi đã nghiệm ra là mỗi lần tôi về D.C. họp mặt với
bạn bè bằng hữu, là hình như tôi đều có "đóng góp" một
cái gì đó trên lãnh vực chữ nghĩa văn chương. Bị chỉ
định cũng có mà tự nguyện cũng có. Nhớ lại lần "xuống
núi" đầu tiên, khi Nguyễn Hưng Quốc qua bên này nói chuyện
về thơ, tôi đã âm thầm làm một màn ra mắt (tặng) sách
làm quen, quyển
Một Ðời Ðể Học
, ở nhà anh Nguyễn
Ngọc Bích. Lần thứ hai khi Hồ Trường An ra mắt quyển
Giai Thoại Hồng
tôi đã "gánh vác" đề tài
Ðôi Lời
Về Văn Chương Miệt Vườn
. Lần thứ ba thì bổn phận
tôi phải có
Ðôi Lời Cảm Tạ
vì đây là lần đầu
tiên ra mắt sách của chính tôi. Và lần này thì ra mắt
Tuyển Tập Những Cây Viết Miền Nam
và ké vào, quyển
Một Chuyến Ra Khơi
của tôi, như quý vị đã biết và
đã có mặt nơi đây.
Trong lần ra mắt sách trước, cuốn
Một Thuở Làm "Trùm"
,
tôi đã pháo kích anh Võ Ðình và cho anh chỉ có hai tuần lễ
để lo về phần nói về tác phẩm. Anh Ðình than: "Vậy là
Hưng định chơi ép `ông già' rồi." Lần này anh Nguyễn Ngọc
Bích ngon lành hơn và chơi trội hơn tôi một bực, anh cho tôi
được vỏn vẹn có một tuần đúng. Tôi chỉ nói tới anh Bích
thôi là tại vì Nguyễn văn Ba ở xa quá nên đã "giao khoán" cho
anh. Vậy thì chẳng lẽ hóa ra lần này "ông già" định chơi
khâm "bạn trẻ" ta đây? Có đúng phải như vậy không quý vị?
Tôi cầm hai cuốn sách lên, tập một rồi tập hai, mà ngao
ngán. Tổng cộng có đến những 700 trang chớ ít ỏi gì sao.
Ðọc từng chữ chắc cũng mất cả tháng. Thôi, khỏi ra mắt
sách cho rồi. Mà nếu không đọc từng chữ thì làm sao mà
nắm vững vấn đề để mà ăn nói đây? Nói thì nói vậy
chớ tôi cũng rán thức đêm thức hôm để đọc. Ðã hứa
với anh Bích rồi mà không làm thì coi sao được. Vả lại có
lần anh Bích cũng đã khen tôi... làm việc cẩn thận, kỹ
lưỡng thì tôi đâu nỡ phụ lòng anh. Nhưng mà nói vậy chớ
không phải vậy. Tại vì tôi có đọc thiệt đó, nhưng chỉ
đọc được có mỗi cái tựa bài (vì phần lớn đã đọc rồi
trên các báo) và đôi dòng tiểu sử cùng quá trình sáng tác
của các tác giả thôi. Nghe tới đây chắc trong bụng anh Ba
đánh lô tô. Ðừng có run vội. Coi vậy chớ cũng còn
nhiều lớp lang, tình tiết để diễn lắm mà. Thiếu gì
chuyện để bàn, để nói.
Tôi biết tôi khác với anh Võ Ðình ở điểm này: Anh thì
thích "nhắm vào đâu trúng vào đó" còn tôi thì thích "ba hoa
thiên địa," "nhắm vào đâu không bắt buộc phải trúng vào
đó" hoặc giả lâu lâu trúng một cái cho nó vui vẻ cuộc đời
là được rồi. Bởi vậy lát nữa đây lúc chuyển qua phần
thảo luận xin quý vị đừng có chất vấn tôi về những chuyện
trật trúng làm chi cho thêm phiền nghen. Có muốn chất vấn
thì chất vấn anh Nguyễn văn Ba kia kìa, vì anh là người
đứng ra chủ biên bộ tuyển tập.
Trở lại cái số 59 người nhập cuộc lần này. Số là trong
khi chuẩn bị cho tuyển tập, anh Ba có khoe với tôi rằng:
"Tuyển tập chắc chắn sẽ thành công rực rỡ anh ơi, kêu gọi
ai người ta cũng sẵn sàng đóng góp hết, đã lên đến... hơn
60 người rồi." Tôi có biên thư cho anh và có hỏi như sau: "Anh
đào ở đâu ra mà có nhiều những cây viết miền Nam dữ
vậy?" Vì tôi đã tính sơ sơ trên đầu ngón tay. Bốn
con "chuột dừa" tức Cao Bình Minh và ba chị em Phan thị Trọng
Tuyến, Nguyễn thị Ngọc Diễm, Nguyễn thị Ngọc Nhung, cộng
với năm ông "ngũ vị (quê) hương" tức là Phạm Thăng, Hồ
Trường An, Kiệt Tấn, Nguyễn văn Ba, và, bắt chước anh
Võ Ðình, có "kẻ hèn" này đây, vị chi chỉ mới chín mống.
Rồi cộng thêm "hắc xì dầu" tức Nguyễn văn Sâm và "tàu
vị yễu" tức Võ Kỳ Ðiền thì chỉ mới mười một
người... Xin lỗi, "bốn con chuột dừa" là do tôi đặt,
còn "ngũ vị (quê) hương, hắc xì dầu, tàu vị yễu" là do
mấy anh bạn của tôi đặt tiếp theo. Họ định quay chảo mấy
con chuột dừa của tôi hay sao hổng biết nữa? Rồi còn nhiều
món gia vị như tiêu hành tõi ớt... dành cho nhiều nhân vật
quan trọng cầm bút trong làng miền Nam, nhưng đâu làm sao
mà lên đến sáu mươi người. Tôi bèn đánh tiếng với anh
Ba, bồi thêm một đòn chí tử: "Anh cũng nên phân biệt một
người làm luận với một người viết văn, và cũng nên
phân biệt một người đặt vè với một người làm thơ
chớ!" Không biết lời nhắn nhủ của tôi có ảnh hưởng gì
đến sự chọn lựa, sắp xếp của anh không. Giờ nhìn lại
tuyển tập, trong số 59 vị, hết 58 vị đã thành danh, tài hoa
năng khiếu đều lấn lướt, qua mặt cả "ông Trùm" thì tôi
phải khen Nguyễn văn Ba ta có tài... móc nối. Tuy vậy, vẫn
còn thiếu sót. Vì một số người tên tuổi, thành danh của
miền Nam như Phạm Công Thiện, Lê Giang Trần, Lữ Mộc Sinh,
Võ Hoàng, Ý Ngôn, Phạm Việt Cường, Trần Kim Vy, Nguyễn
thị Long An, Phan Ni Tấn (quê nội ở Cần Giuộc)... lại không
có mặt trong tuyển tập.
Tuyển tập bao giờ cũng hấp dẫn và được độc giả ưa
chuộng. Vì giống như đại nhạc hội vậy, những người
đóng góp ai cũng như ai đều muốn đem hết tài năng của mình
ra trình diễn. Bảo đảm không ai dám gửi đi một bài xoàng
xoàng để dự một cuộc tranh tài. Có phải không, thưa
quý vị? Tiện đây, tôi cũng xin nêu lên một lần, danh tánh
của 59 người cộng tác, theo vần abc cho công bằng. Xin mời
quý vị nghe qua để xem có ai bà con hay là thần tượng của
mình hay không. Ðây, tập một có 25 "phương trượng," gồm:
An Khê, Anh Vân, Cao Bình Minh, Chân Phương, Ðặng thị Quế
Phượng, Hải Bằng, Hoàng Du Thụy, Hồ Trường An, Hồng
Hoang, Huỳnh Hữu Cửu, Hứa Hoành, Kiệt Tấn, Kiều Mỹ
Duyên, La Toàn Vinh, Lâm Hảo Dũng, Lê Bảo Trân, Ngô Lâm,
Ngô Nguyên Dũng, Ngô văn Thọ, Nguyên Nghĩa, Nguyễn Ang Ca,
Nguyễn Bạch Mai, Nguyễn Ðức Lập, Nguyễn Hữu Chung,
Nguyễn Lê. Và tập hai có 34 "chơn nhơn," gồm: Nguyễn Lê
Hồng Hưng, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn Thanh, Nguyễn thị Ngọc
Diễm, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Nguyễn Thuyết Phong, Nguyễn
văn Ba, Nguyễn văn Sâm, Nguyễn Viết Phạm Hy, Phạm Dũng Lộc,
Phạm Thăng, Phan thị Trọng Tuyến, Phùng Nhân, Sĩ Liêm, Sĩ
Trung, Song Thi, Thư Sinh Quằn Quại, Trần Long Hồ, Trần
Minh Xuân, Trần thị Kim Lan, Trần Thiện Hiệp, Trần Trung
Quân, Trần văn Sanh, Trịnh Gia Mỹ, Tú Hoa, Tưởng Năng
Tiến, Viễn Du, Vĩnh Liêm, Võ Kỳ Ðiền, Võ Phước Hiếu,
Vũ Nam, Xuân Tước, và Xuân Vũ.
Tuyển tập mang tên là
Tuyển Tập Những Cây Viết Miền
Nam
. Không nói ra thì ai ai cũng hiểu là tuyển tập của
những cây viết gốc miền Nam, sinh trưởng trong một gia đình
có tổ tiên ba đời sống ở chốn đồng bằng lục tỉnh.
Miền Nam đây không có nghĩa là từ vĩ tuyến 17 trở vào.
Nhưng, thoạt nhìn vào danh sách 59 người nhập cuộc thì cái
tên của tuyển tập có thể nói là không đúng lắm. Vì
thực ra có vài vị gốc Bắc gốc Trung trong đó. Theo tôi,
tuyển tập này phải được gọi là "Tuyển Tập Những Cây
Viết Miền Nam và Thân Hữu (do Nguyễn văn Ba chọn lựa)" thì
đúng hơn.
Well
, chuyện tôi vừa nêu ra cũng chẳng lấy
gì làm quan trọng. Chuyện quan trong cần nói đến là lý do tại
sao có sự hình thành tuyển tập. Tôi thiết nghĩ, đó chẳng
qua chỉ là một hiện tượng xuống đường rầm rộ của
những cây bút miền Nam ở hải ngoại mà thôi. Và hiện
tượng này cần phải được đánh dấu, được ghi lại trong
lịch sử văn học. Cũng như hai hiện tượng khác không kém
phần quan trọng đã được đánh dấu, ghi lại bằng những
tuyển tập. Như tuyển tập
Trăng Ðất Khách
dành cho
hiện tượng nhiều cây bút nữ xuất hiện ở hải ngoại. Và
nhiều tuyển tập khác dành cho hiện tượng những cây bút
mới sau 75. Tuyển tập cho những cây viết miền Nam quả là
một việc đáng làm và chính vì vậy anh Nguyễn văn Ba đã không
ngần ngại bỏ công bỏ của để làm việc lớn, việc chung
này. Xin quý vị thưởng cho anh ấy một tràng pháo tay khích
lệ.
Nhìn chung, tuyển tập này bao gồm cả một trào lưu văn học,
dàn trải qua hai ba thế hệ của những người cầm bút. Ðược
viết dưới nhiều dạng thức và dưới mọi thể đề tài.
Rải rác trong những áng văn chọn lọc, những vần thơ nên thơ
vẫn là phần chính, thỉnh thoảng có những bài biên khảo về
âm nhạc miền Nam, về cây cỏ miền Nam. Thậm chí có những
bài phóng sự về thể thao, về báo chí, và ngay cả lịch
sữ. Rồi còn phụ bản, tranh, ảnh nữa chi.
Ðọc và nói về một tác phẩm, một tác giả theo kiểu "nhắm
vào đâu trúng vào đó" đã là một chuyện rất khó. Bây giờ
với những 59 vị, dẫu có đọc và nói theo kiểu "nhắm vào đâu
trật đến đấy" thì cũng không phải là chuyện dễ, phải
không thưa anh Võ Ðình? Thành thử nếu ai bắt tôi bàn qua
văn chương giá trị bài viết của 59 vị này thì thiệt tình
tôi xin đầu hàng vô điều kiện. Nhưng có một điểm chung
chung, tuy nhỏ thôi nhưng không kém phần hấp dẫn, mà tôi
muốn đề cập ra đây. Ðó là sự tìm hiểu "tính chất chung
quyết trong văn chương miệt vườn." Tôi hi vọng là sau lời
phát biểu của tôi thì không riêng gì anh Võ Ðình, anh Nguyễn
Ngọc Bích mà tất cả quý vị hiện diện nơi đây đều sẽ có
dịp bàn thêm, viết thêm những "Bên lề của cuộc ra mắt
tuyển tập..." Thì cũng tương tự như lần trước đây,
chúng ta có những
Bên lề cuộc ra mắt sách của Nguyễn
Tấn Hưng
với đề tài "nhà văn trống trơn, nhà văn nữ,
nhà văn không quân, nhà văn hải quân..." mà tôi cho là rất
thích thú và rất có ý nghĩa vậy.
Nói đi nói lại thì cũng quay về đề tài "Văn Chương Miệt
Vườn." Nhưng lần này tôi xin xác nhận rằng văn chương
miệt vườn hay văn chương miệt ruộng, hay văn chương miệt
biền, hoặc giả miệt... gì gì đi nữa thì cũng chỉ là một
mà thôi. Ðó là thứ văn chương xuất phát và viết về
miền Nam Việt Nam, một miền Nam phố thị cũng như thôn quê.
Quý vị có đồng ý với tôi không? Có một lần tôi "kê" bà
chị Trần thị Kim Lan, đại khái tôi đã "vô tình" bảo văn
chương của bả là "văn chương miệt rừng" kia kìa mới khổ.
Mà nói nào ngay, văn chương của một người gốc Cà Mau,
miệt Thới Bình, Sông Trèm Trẹm, U Minh Thượng, U Minh
Hạ... mà không gọi là văn chương miệt rừng thì phải gọi
là văn chương miệt gì đây? Chẳng biết bả có giận tôi
tím gan vàng mật hay không mà nẫm nay bả bặt vô âm tín.
Xin lỗi quý bạn văn ở đây sao tôi không biết, chớ tôi mà
đọc lại mấy truyện tình lẩm cẩm của tôi viết là tôi bắt
tức cười. Cười đây là cười thiệt chớ không phải tôi
sợ bà xã tôi mà tôi không dám khóc đâu nghen. Khóc vì tình
hoặc khóc vì truyện tình mình viết thì nghe sao nó quê quê,
nhảm nhí quá hả? Bởi vậy, từ hồi cha sanh mẹ đẻ cho đến
nay, tôi chưa hề có một lần nào uống thuốc chuột tự tử
vì tình. Tôi còn thề độc một câu rằng tôi không thèm khóc
khi bị "bồ đá" nữa. Tôi chỉ lòng dặn lòng một điều:
"Ðược, thua keo này ta bày keo khác." Thế thôi. Nhưng...,
bởi cái chữ nhưng ngặt nghèo này mới có chuyện nói, rằng:
nhiều lần tôi đã khóc ngon ơ khi đọc lại những bài, những
đoạn tôi viết về quê hương. Tôi khóc mùi mẫn. Và bây
giờ tôi có kinh nghiệm, hễ tôi muốn đọc lại những bài,
những đoạn đầy kỷ niệm thân thương đó thì tôi xách sách
chạy vô cầu tiêu. Khóc một mình nó đã hơn là khóc... với
một người thứ hai. Nếu tôi đoán không sai thì hầu hết
các bạn văn có mặt hôm nay đây đều có ít nhất một lần
trải qua cái kinh nghiệm mà tôi vừa nói, có phải?
Có lần tôi nói chuyện điện thoại với anh Nguyễn Mộng Giác
về những bài viết thắm đượm tình quê hương, đại để anh
nói: "Người miền Nam thường hay viết về quê hương và viết
rất hay." Rồi anh tiếp luôn: "Tôi nói như vậy không phải
người miền Bắc hay người miền Trung không viết về quê
hương. Họ có viết đó nhưng đọc lên nghe nó gượng ép,
màu mè làm sao..." Tôi chen vào: "Anh muốn nói đọc lên nghe
lãng xẹt." "Thì đại khái như vậy," anh bảo. Bây giờ ngẫm
nghĩ lại, theo thiển ý của tôi, có lẽ cái thời viết về
quê hương miền Bắc, cái thời mà
Hà Nội Băm Sáu Phố
Phường, Miếng Ngon Hà Nội, Ðêm Giã Từ Hà Nội, Chuyến
Tàu Trên Sông Hồng, Người Ðàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến
... phải
chăng nó đã qua rồi, nó đã vang bóng một thời rồi? Giờ,
sở dĩ người ta không viết nữa là vì liệu nếu viết tiếp
theo chiều hướng đó biết có còn ăn khách hay không? Còn
viết về quê hương miền Trung thì có đó chớ đâu phải không,
nhưng hình như ít quá. Thỉnh thoảng mới có một Võ Ðình,
với "mấy món Tết mặn mà," một Túy Hồng với "hạt gạo
Huyền Trân," hoặc một Huyền Châu với "mùa Xuân trên Gò
Bồi" chẳng hạn... Còn đối với những người miền Nam,
sở dĩ có sự rầm rộ vác bút xuống đường là tại vì đây
là lần đầu tiên trong lịch sử, dân Nam ta mới "được"
nếm mùi bỏ xứ ra đi. Dám nói nếu không có cuộc đại
loạn, đổi đời thì trong văn học Việt Nam sẽ không có
những áng văn chương, biết đâu sau này sẽ trở thành bất
hủ, cho quê hương miền Nam được viết lên từ hải ngoại.
Còn cái sự đọc lên nghe có "lãng xẹt" hay không thì chẳng
qua chỉ vì những ngòi bút miền Nam đã thường xuyên chấm
vào bình mực... "hồn nhiên, xuề xòa, dễ hiểu, dễ cảm
thông" (chữ của anh Hồ Trường An) cộng với bàn tay luôn
luôn nâng niu "tấm lòng thành thật" (chữ của tôi) thì bảo
sao những dòng chữ tuôn ra trên giấy lại không giống những
giọt máu đào rỉ ra từ những con tim thắm đượm tình người
cho được?
Tóm lại, với tôi, chỉ riêng miền Nam mới có "Văn Chương
Miệt Vườn." Và chất liệu chung quyết của văn chương miệt
vườn có phải chăng chính là tình yêu quê hương? Tình yêu
ấy đã phảng phất thể hiện qua một cuộc đặt trúm bắt
lươn ở một làng gần Cái Răng, một chuyến quá giang trên
phà Rạch Miễu, một lần làm rể ở bên nhà vợ, một con
sóng ở bãi biển Vũng Tàu, một trái bần chua bên cồn Rồng,
một con rắn vú nàng trong gốc tre già, một tuồng hát bội
ở Lăng Ông Bà Chiểu, một căn nhà bỏ lại sau lưng, một
cô nhi viện ở Sa Ðéc, một đứa em xấu số trong gia đình,
một giấc mơ trở thành văn sĩ, một đời làm bầu gánh cải
lương, một tâm tình của bà mẹ già lo cho đứa con tật
nguyền, một buổi hái cau hay một màn đánh đáo... Và còn
nhiều nữa không sao kể xiết mà tôi dành lại cho quý vị.
Ðể quý vị tự mình khám phá ra và cảm thấy thích thú hơn
trong những giờ đọc sách.
Ðến đây, để khỏi làm mất thì giờ của quý vị và để
kết luận, nếu quý vị muốn tìm lại quê hương miền Nam
như gần trong gang tấc, quý vị muốn nhìn lại quê hương
miền Nam như ngay trong tầm mắt của mình, quý vị không thể
nào để cho tủ sách gia đình của quý vị thiếu
Tuyển Tập
Những Cây Viết Miền Nam
. Và xin nhớ cho, bên cạnh tuyển
tập đồ sộ đó còn có thân phận nhỏ nhoi của
Một Chuyến
Ra Khơi
.
* Bài nói chuyện ra mắt
Tuyển Tập Những Cây Viết
Miền Nam
tại thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, ngày 18-11-1990.
back to top
09. TÂY DU KÝ, ÐOẠN KẾT
NGUYỄN TẤN HƯNG
Cuộc hành trình về phương Tây của chúng tôi rốt cuộc
rồi cũng chấm dứt tại... Cali. Vùng Los Angeles nói chung, hay
quận Cam (Orange County) nói riêng. Nơi có cái khí hậu tương
đối điều hòa, mát mẻ. Không nóng lắm, không lạnh lắm
và dĩ nhiên, không có bốn mùa rõ rệt. Ðặc biệt, chỉ có
mỗi cái bầu trời lúc nào cũng như mù mù sương khói, smog,
thì Cali ta đang chiếm ngôi vị hàng đầu. Rồi tại nơi đây,
nếu bước thêm một bước nữa, vượt Thái Bình Dương, thì
về lại quê nhà. Mà vẫn chưa làm sao làm được. Bởi còn
nhiều lý do.
Trưa ngày đó, theo bảng chỉ dẫn trên xa lộ 22, Garden Grove
Highway, bọn tôi tấp vào khu Sài Gòn nhỏ. Chỉ năm mười
phút sau là đến nơi mình muốn tìm. Ðại lộ Bolsa là
đây? Hai bên phố xá tấp nập không khác gì một Bonard của
Sài Gòn lớn, một Sài Gòn năm xưa trong tâm trí mọi
người? Có lẽ vậy! Có khác chăng là nơi đây không có
nhà lầu cao, vì phải tuân theo luật giang hồ của xứ động
đất. Chị Thu Hương, tài xế lái xe đường trường quý
mến của chúng tôi, tìm chỗ đậu rồi cả bọn bắt đầu
lang thang đây đó. Cho biết với người ta. Vòng tới vòng
lui khu Phước Lộc Thọ (Little Sài Gòn), Làng Á Châu (Asian
Village), Chợ Mang Qua (Man Wha Center). Chỉ thấy toàn là Việt
Nam. Phố xá Việt Nam và rừng người Việt Nam. Một Việt
Nam trên xứ người. Ðừng dại gì mở miệng nói tiếng Mỹ
mà thành nhà quê.
Ðến lúc tôi thấy coi bộ hơi mỏi chân thì may thay, chị Thu
Hương đề nghị:
- Hay là mình vào đây ăn phở đi mấy em. Ðể biết mùi
vị của phở Cali ra làm sao với người ta chớ!
Phở Hòa, đối diện với khu ba ông... Tàu, xéo xéo bên kia
đường. Một vị trí làm ăn có vẻ rất là thuận lợi. Vì
bảo đảm, bà con mình ở xa mới tới cứ nhìn quanh quất là
thấy ngay, biết ngay. Khỏi cần phải hỏi thăm ai đường đi
nước bước. Tiệm đang đông nghẹt thực khách, tìm một bàn
trống không phải dễ. Mà nhìn kia, nào có ít đâu, ba bốn
dãy tổng cộng cũng đến ba bốn chục bàn có dư. Nhưng hên
quá có người vừa ăn xong. Nhào vô chiếm chỗ, đóng đô.
Một người bồi bàn xông tới lau dọn ngay tức khắc, sạch sẽ
trong nháy mắt. Một người khác liền phân phát thực đơn,
và moi trong túi lôi ra cuốn sổ nhỏ sẵn sàng ghi món gọi. Nhìn
vào thực đơn thì ôi thôi đủ cả: tái, nạm, gầu, xe lửa,
xe hơi, tàu bay, tàu lặn, tàu bò... như hồi nào. Gọi
liền, không thắc mắc. Chữ Việt, tiếng Việt mà. Rụp
rụp, mang ra. Lẹ thiệt. Làm như đã nấu sẵn hàng mấy chục
tô để sắp lớp trên quầy. Có điều là mới nhìn qua đã
thấy khiếp. Tô phở đã quá cỡ thợ mộc khắp mọi bề,
bề tròn bề rộng và bề sâu. Thịt thà đầy ối. Xứ không
có hộ khẩu mà sao khẩu phần của ai cũng vậy, nếu không dư
dã thì phải thừa mứa. Ðến nỗi rất là tai hại cho những
kẻ đang khéo ăn khem, cố giữ cái eo con kiến càng. Phần
tôi, điệu này chắc phải ăn lấy no. Trước sau gì cũng có
màn ăn giùm, ăn phụ. Bụng đâu mà chứa cho hết đây. Họa
may bụng Mỹ. Mà bụng Mỹ thì chưa thèm bánh phở, chỉ mới
thích spaghetti của Ý hoặc chowmien của Tàu thôi. Bao giờ thì
tình trạng này thay đổi đây hỡi các ông bà nấu phở?
Ðang ăn nửa chừng tôi chợt nhận ra người quen. Từ đàng
xa kia. Bảo đảm chẳng ai khác. Rồi như không dằn được
nỗi mừng vui lẫn ngạc nhiên, tôi bất kể thực khách xung
quanh, đứng lên làm trò hề vừa khoác tay vừa réo:
- Ê, Nghĩa... Nghĩa...
Người quen tôi quay lại. Ô, đúng là đàn em thân tín năm
xưa, gần mười lăm năm trời không gặp. Nghĩa nhìn tôi
sững sờ, chợt la lên:
- Trời đất, ông đi đâu đây?
Ðợi Nghĩa bang bang đến gần, tôi cười nói:
- Thì ở xa, mới sang đây du lịch Việt Nam vậy mà...
Trong phút chốc, bao nhiêu mánh mung mà Nghĩa giúp tôi một thời
nào ở đất Phú Quốc bỗng như bừng sống dậy. Rồi tôi
thầm nhủ, với cái khả năng xốc vác, khéo xoay sở đó,
chắc chắn Nghĩa phải thành công ở cái xứ văn minh tân tiến
này. Chẳng ngần ngại, tôi hỏi tới:
- Bộ anh đang làm chủ tiệm này hả?
Nghĩa cười hề hề:
- Ðâu có được may mắn như vậy ông, làm quản lý thôi.
Tôi đứng trông coi một chi nhánh cho thằng Hòa. Hồi trước
nó cũng ở trong Hải quân như mình. Bây giờ nó làm ăn khá
lắm, giàu to. Vòng vòng Cali đây khoảng hai chục tiệm của
nó, mỗi ngày thu vô biết bao nhiêu tiền. Rồi còn các chi
nhánh ở các tiểu bang khác nữa chi. Qua Mỹ này nhiều người
thành triệu phú dễ như trở bàn tay ông ơi...
Nghĩa quay sang qua vợ tôi, tiếp:
- Dạ chào chị, chị mạnh giỏi? Mấy thằng nhóc đâu rồi?
- Dạ, tụi này để mấy đứa nó ở nhà, chú. Lâu ngày
không gặp chú trông chú cũng đâu có gì khác. Thiếm Nghĩa
có làm ở đây không? Qua bên này chắc là bả phải phát
tướng, phát tài!
- Cũng vậy thôi, chị. Bả đang phụ coi nhà bếp ở phía
sau. Ðể chút nữa tôi cho người gọi bả ra đây nhìn bà con.
Tôi ngồi xuống ghế và quay qua giới thiệu với chị Hương:
- Nghĩa đấy chị, đệ tử ruột một thời ở Phú Quốc
của em đó.
Chị Hương gạt ngang, dặn nhỏ:
- Thôi mà em, qua đây rồi thì còn đệ tử với thầy bà
gì nữa.
Tôi cũng hơi giựt mình, sững sờ với lời nhắc khéo đó
của chị. Phải, cái thời vàng son của mình như đã qua rồi.
Cứ hãy để cho nó nằm im trong dĩ vãng vậy. Nhưng Nghĩa lại
"mánh mung" tiếp với tôi:
- À, mà ông phải ủng hộ thuyền nhân. Tối thứ bảy này
Hải quân ta có tổ chức party, để bán vé gây quỹ giúp đồng
bào tỵ nạn bên đảo. Mỗi vé hai mươi tì và có xổ số trúng
quà độc đắc. Ông phải mua đi chớ.
- Cái gì? Tôi mới gặp lại anh mà bị anh... đòi nợ thì
coi sao được nè?
- Hì, hì... Sẵn gặp ông đây thì cần phải thanh toán
cho lẹ. Ðể lỡ ông đi luôn với bạn bè thì tui biết tìm
đâu ra.
- Nói chớ mua vé ủng hộ thì tôi mua, chớ còn đi dự được
hay không thì không chắc. Vì tụi này sang đây chơi chỉ có mấy
ngày thôi, mọi việc đều gấp rút như đi chạy giặc vậy.
Lại còn phải dành nhiều thì giờ cho mấy ông bà... nổi tiếng
bên này.
Tôi định nói là "mấy ông bà văn nhân thi sĩ nổi tiếng bên
này," nhưng nghĩ lại chắc Nghĩa cũng chẳng ở không đâu mà
để tâm theo dõi sách báo nên mới nói trớ qua một bên. Tôi
quay sang qua vợ tôi, đề nghị:
- Thôi kệ, mua cho chú Nghĩa nó hai vé đi em.
Bà xã tôi phản ứng ngay:
- Chú Nghĩa ở đâu cũng vậy à nghen. Thời nào, chỗ nào
cũng làm tiền ông Hưng được hết. Chú bây giờ ăn nên làm
ra, giàu có quá rồi mà cũng không đổi được cái tánh cũ.
Nghĩa nhìn tôi cười hề hề:
- Ðó, bả cũng vậy ông thấy hôn? Ông phải làm sao kiếm
thêm một bà nữa, bả mới ngán. Hì, hì... Nhưng mà nói gì
thì nói, ông phải tới chơi, nhảy đầm nhảy tây với người
ta chớ. Dân cựu trào của Phú Quốc mình ở đây đông lắm.
Ông thần Nghĩa của tôi lại ăn nói bạt mạng nữa rồi. Qua bên
này thì làm sao có cảnh bà nọ bà kia cho được chớ. Bộ muốn
đóng đô dài hạn ở garage hay sao đây. Tôi cười giả lả:
- Ừa, anh phải để tôi nghiên cứu tình hình, thăm dò
đường đi nước bước coi ra sao cái đã.
Chưa cho người đi gọi, mà thời may, thiếm Nghĩa đã
tự động lù lù mang tới. Chắc là đang đi tìm ông quản
lý. Một phút giựt mình khi gặp lại bà xã tôi, rồi thôi
thiếm cứ đem chuyện xa xưa, đời cố hỉ cố lai nào đâu
mà bàn tới. Bà xã tôi cũng phải nói chừng, đưa hơi theo.
Tôi thấy thiếm trông có phần mập ra và sáng sủa hơn so với
ngày nào quanh quẩn bên Xóm Ðạo, xứ Cây Dừa (một tên gọi
khác của vùng An Thới, Phú Quốc). Thật tình mà nói, giữa
Nghĩa và tôi, tình thầy trò huynh đệ chi binh vẫn còn đó.
Vẫn còn âm ĩ tình thân. Tuy đã không thuần túy, nguyên
chất vì đã pha lẫn nhiều thứ tình khác như tình đồng
hương, động hội đồng thuyền chẳng hạn.
Rời Phở Hòa, chúng tôi quay trở về bãi đậu xe, tìm lại
chiếc Van thân quen. Và sau đó, chị Hương lái một mạch thẳng
đến nhà anh Nguyễn Mộng Giác. Lần này không phải đi lạc.
Cũng không phải mất công vòng tới vòng lui đôi ba bận như
mọi khi. Có lẽ chị Hương đã đến đây một đôi lần rồi.
Từ ngoài lộ nhìn vô, nhà anh Giác là một nhà hai tầng, trông
nhỏ và hẹp. Vậy mà có một thời đã từng được sử dụng
làm tòa soạn báo Văn Học, cũng như bản doanh nhà xuất bản
Văn Nghệ mới là lạ. Trong lòng tôi có hơi nôn nao cho cái
phút giây gặp gỡ đầu tiên. Nhưng xui quá, không có ai ở
nhà hết. Buổi tiếp đón khách phương xa ở nhà anh bỗng
trở nên tẻ nhạt, buồn hiu. Vì đám con cháu của anh Giác vẫn
cứ một thưa, hai trình những gì chị Hương và chúng tôi hỏi
đến. Mỗi người một ly nước mát uống cầm hơi. Thế
thôi.
Tiện thể, tôi mượn điện thoại gọi người bạn vàng của
tôi ở vùng Nam Cali, chị Nguyễn thị Ngọc Nhung:
- Hello.
- Hello, cô Ngọc Nhung đó hả?
Hên quá, người bạn vàng của tôi đang ở đầu dây:
- Tôi đây. Anh chị và cô em đến nơi bình yên rồi
hả? Ðang ở nhà anh Giác phải không? Ðể tụi này đem xe
đến đón anh chị.
- Từ chỗ cô lại đây khoảng bao lâu lận?
- Gần mà, độ chừng nửa tiếng trở lại thôi.
Tôi bây giờ hễ nghe ai nói sao thì tin vậy chớ có biết trời
trăng gì. Thêm một lần nữa lại cảm thấy bơ vơ nơi xứ
lạ quê người. Nhưng quả thật, y như lời chị Ngọc Nhung nói,
độ nửa giờ thì có người đến đón bọn tôi. Không phải
một mà đến hai giai nhân. Bởi chưa gặp nhau lần nào nên
tôi đoán mò:
- Cô đây là Ngọc Nhung và cô đây là... Ngọc Diễm.
Cả hai cùng cười, nhưng một người chợt lên tiếng:
- Anh đoán cũng đúng lắm. Nhưng chỉ đúng được có
phân nửa. Tại vì tôi không phải là Ngọc Diễm mà là... Trọng
Tuyến.
- Thôi chết rồi, đoán dở quá hén. Ủa, mới nghe nói
còn đang ở bên Tây mà, sao bây giờ có mặt bên này lẹ vậy?
- Dạ, cũng mới qua được một hai ngày thôi anh.
- Hèn chi.
Tôi đứng giữa làm một màn giới thiệu. Chị Hương kết
luận:
- Khỏi cần giới thiệu cũng biết mà. Tiếng tăm của mấy
cô đã được thiên hạ đồn đi xa lắm.
Hai chị khiêm nhường:
- Dạ, đâu có tiếng tăm gì đâu chị.
Vì cùng một quê hương Bến Tre, bà xã tôi và cô em dễ dàng
bắt chuyện với hai chị Trọng Tuyến và Ngọc Nhung. Tuy nhiên,
dù có cùng một nơi chốn cũ đó, nhưng một đàng thì đã
sống qua kinh nghiệm của chính bản thân mình, còn một đàng
thì viết qua kinh nghiệm của những người thân trong gia đình
mình, cho nên sự thông cảm cũng chỉ ở mức độ chừng mực
thôi. Có nhiều địa danh một đàng nói lên với tất cả niềm
thương đặc sệt dành cho quê ngoại thì một đàng đón nhận
với vẻ... lơ tơ mơ. Cũng chẳng trách ai được, vì hai
người cầm bút hình như đã sống gần hết tuổi thơ của
mình ở Sài Gòn thì phải.
Nhờ rảnh... tay chân lẫn miệng mồm nên tôi có dịp ngắm qua
dáng vóc hai nhà văn nữ, những người mà tôi cứ đọc tác
phẩm miết nhưng chưa hề thấy mặt. Cả hai đều có nước
da trắng mát của con gái xứ dừa ít hay dang nắng. Mà nói nào
ngay, nói như vậy là nói cho dễ nghe thôi, chớ bóng dừa Bến
Tre vẫn rợp nắng quanh năm thì có nắng đâu để mà dang? Vả
lại hai chị là dân Bến Tre lai Sài Gòn mà! Khuôn mặt hai
chị hơi thỏn phù hợp với mái tóc cắt ngắn, phía sau gáy cao
lên như con trai. Thời trang bây giờ là vậy? Trẻ trung! Trong
khi vợ tôi vẫn để tóc dài uốn dợn quá vai. Hợp với
người đứng tuổi? Thục nữ! Thêm nữa, hai bên thái dương
chị Ngọc Nhung còn chừa hai cái bát to và đậm, mới trông tôi
cứ mường tượng như hai cánh chim ưng trên những bức tượng
nữ thần Ai Cập. Chị mặc chiếc áo sơ-mi màu đỏ thẳm bỏ
vô trong jupe đen, cắt ngắn vừa ngang tầm đầu gối, nên
trông có vẻ sexy lắm. Trông khi chị Trọng Tuyến chỉ mặc
chiếc robe dài một mảnh, màu vàng nhạt điểm bông xanh bông
hồng nho nhỏ.
Chẳng biết là để tiết kiệm thì giờ, vốn rất eo hẹp
đối với dân Cali, hay là chẳng còn gì để giải bày tâm
sự, chị Ngọc Nhung đề nghị:
- Chiều rồi, hay là bây giờ mình đi về đi. Ðồ đạc
của anh chị và chị đây có nhiều lắm không?
Tôi nói gọn:
&