Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Tập Ký Sự Văn Học: Một Lời Mời Mọc

Nguyễn Tấn Hưng



* * *

Mục Lục
01. Mời đọc Trầm Hương Hạnh Phúc 02. Mời đọc Chuyện Miệt Vườn 03. Mời đọc Thơ Luân Hoán 04. Mời đọc Tình Nghĩa Thầy Trò 05. Mời đọc Bên Này Bức Tường Bá Linh 06. Mời đọc Sau Cuộc Ðổi Ðời 07. Kỷ Niệm Với "Sư Phụ" 08. Mời đọc Cuối Nẻo Ðường Hạnh Phúc 09. Xuân Vũ, Người Anh Xứ Dừa 10. Mời đọc Tiếng Sóng 11. Mời đọc Việt Nam Lục Bát Sử Ca 12. *****
   back to top

01. MỜI ÐỌC: TẬP TRUYỆN TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC CỦA HOÀNG DU THỤY

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Trước 75, Hoàng Du Thụy có bài viết ở các báo Lướt Sóng, Tuổi Ngọc và một vài tờ báo của các binh chủng khác. Ở hải ngoại, chị bắt đầu cầm bút trở lại với báo Phổ Thông trong năm 86, rồi chính thức được giới thiệu là người viết mới trên Làng Vă n với bài Ðời Ta vào tháng 10, năm 87 và trên Văn với bài Sông Không Ra Biển vào tháng 10, năm 88.

     Sự xuất hiện của Hoàng Du Thụy ngay bước đầu thật ra cũng chẳng gây một tiếng vang nào lớn. Nhưng với loạt bài liên tiếp sau đó đăng trên Làng Văn gồm Bông Hồng Trên Ðường Walkley, Một Ngày Rất Mới, Buổi Chợ Tan, Giấc Miên Trường, Ngày Ðầu Ðưa Con Ði Nhà Trẻ (Thơ) ... và trên Văn với những bài Ðêm Trăng, Chúc Mừng Năm Mới, Ðếm (Thơ), Giá Tình Yêu ... Hoàng Du Thụy nghiễm nhiên là một ngôi sao sáng trên văn đàn. Dù chỉ trong một thời gian rất ngắn.

     Trong lá thư đề ngày 30 tháng 5 1989, Hoàng Du Thụy nhắn nhủ với tôi rằng: Số là do sự xúi bảo của anh, bỗng nhiên Thụy có ý định ra một tập truyện... Sẵn đây, Thụy gửi đến anh xấp bản thảo cuốn TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC , nhờ anh đọc và nhuận sắc giùm. Xong, nếu có thể được, xin anh viết cho Thụy vài dòng giới thiệu...

     Viết bài giới thiệu? Sao lại có chuyện này? Vậy chớ những nhà văn lớn xưa nay vẫn thường hay viết tựa như Võ Phiến, Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, Hồ Trường An... đâu, sao không nhờ mà lại nhờ tôi? Thiệt tình, ngoài sự ngạc nhiên ra tôi còn gặp phải cái lúng túng! Vì tôi tự biết thân phận mình chưa đủ lông đủ cánh thì làm sao mà làm chuyện bay bổng như vầy. Tôi viết thư giải bày cùng chị và có thêm một câu thòng: Tôi chưa hiểu rõ ý chị ở chỗ vài dòng giới thiệu là như thế nào... Với khả năng của tôi, có với cao cho lắm thì chỉ viết nổi cho chị cái Bạt mà thôi, coi như là cảm nghĩ của một độc giả sau khi đọc tác phẩm vậy.

     Thư phúc đáp đề ngày 21, tháng 6 1989, Hoàng Du Thụy thân tình cho tôi biết: Chắc mình chỉ xin anh cái Bạt thôi, vấn đề giới thiệu thấy ra không cần thiết cho lắm. Có hai lý do. Lý do thứ nhất là Thụy thích tung tác phẩm mình ra theo kiểu "thả nổi," tùy độc giả phê phán. Nếu có lời giới thiệu, không nhiều thì ít độc giả sẽ bị ảnh hưởng bởi ông hay bà giới thiệu. Còn lý do thứ hai, lý do mà Thụy nhờ anh viết Bạt là... tại vì... Vì sao? Vì văn phong của chị là văn phong miền Nam và tôi là một cây bút miền Nam? Vậy chớ những bậc đàn anh của tôi như Hồ Trường An, Kiệt Tấn, Võ Kỳ Ðiền, Nguyễn Văn Sâm... không ai hội đủ điều kiện sao? Nhưng thiệt tình nếu đem tôi ra mà so sánh và chiếu theo công tâm mà nói, rõ ràng các bậc đàn anh này không ai có một tầm mức, kích thước đúng với tiêu chuẩn do chị đề ra, mới khổ. Bởi... tại vì anh là lính biển, mà truyện của Thụy nghiêng về lính biển nhiều hơn. Vả lại, anh là người đầu tiên được hân hạnh làm bạn văn với Thụy đó .

     Thì ra vậy. Số phần tôi dù ở đâu, dù ở lãnh vực nào rồi như cũng có người dành sẵn cho mình một chỗ... đứng. Tôi ngang nhiên có được cái cơ hội học làm người viết Bạt. Kinh nghiệm từ ông Mai Thảo cho biết để rút ngắn lại những đường đất và nối liền lại những xa cách, văn chương vẫn có được cho nó và cho người cái hiệu lực tuyệt vời , cái "hữu duyên thiên lý" giữa những người cầm bút với nhau. Bằng thư từ. Và bằng điện thoại, với một giọng nói rất còn e ấp. Cũng như kinh nghiệm từ Hồ Trường An cho biết phải đọc cuốn sách hai lần mới viết nổi cho Hưng một cái Bạt có hồn . Vậy tôi phải đọc TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC đến bao nhiêu lần đây? Học thuộc lòng luôn chăng? Nói gì thì nói, tôi không lợi dụng việc viết Bạt cho một người bạn để nói lên cái quan điểm rộng lớn của mình đối với văn chương, cũng không trình bày những nhận xét của thầy dành cho học trò hay của đàn anh nói với đàn em như nhiều người đi trước đã làm. Ở đây, dù khen hay chê thì cũng chỉ là những tâm tình giữa một người cầm bút với một người cầm bút, của một bạn văn đối với văn chương của bạn mình mà thôi. Ðó, âu cũng là cái điểm rất hay của sự "thả nổi" vậy.

     Hoàng Du Thụy thuộc dòng dõi hoàng tộc, một Công Tằng Tôn Nữ. Thêm vào những Công Tằng Tôn Nữ đi trước như Công Tằng Tôn Nữ Hỷ Khương (Tôn Nữ Hỷ Khương), Công Tằng Tôn Nữ Tri Túc (Cỏ Tháng Giêng), Công Tằng Tôn Nữ Ðoan Trang (Quỳnh Giao), Công Tằng Tôn Nữ Như Ý (Quỳnh Như), Công Huyền Tôn Nữ Nha Trang (Thanh Nhung)... cho vườn văn nghệ hải ngoại thêm phần hương sắc. Nhưng, Công Tằng Tôn Nữ... Hoàng Du Thụy là một Công Tằng Tôn Nữ mất gốc, một quận chúa chưa hề đặt chân lên đất thần kinh bao giờ. Trong quá khứ có thể nói Hoàng Du Thụy chỉ là một học sinh duyên dáng của trường nữ Gia Long và là một sinh viên có vẻ đẹp mặn mà dễ gây sóng gió của trường Ðại Học Sư Phạm mà thôi.

     Nhưng, đọc xong TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC tôi có cảm nghĩ gì đây? Nhiều lắm!

     Trước hết, TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC gồm mười ba truyện ngắn rất dễ thương, mười ba đóa hoa có sức quyến rủ muôn loài ong bướm xa gần, đã ngoi lên từ tấm lòng bao la của biển. Hoàng Du Thụy, qua mười ba truyện ngắn tiêu biểu này, đã chứng tỏ là một nhà văn có vốn sống rất dồi dào và phong phú về mặt tình cảm. Không riêng gì tình yêu mà luôn cả tình mẫu tử, tình vợ chồng, tình bạn bè, tình chòm xóm, tình đồng hương, tình nhân loại..., và tình bồng bềnh với chữ nghĩa với mơ mộng gió trăng... đều thoát ra ngùn ngụt trong văn chương của chị. Ðiểm cũng nên biết là ngoại trừ cái truyện ngắn dạt dào yêu thương đầu tiên, Sông Không Ra Biển , đã được giới thiệu trên tập san Văn , mười hai truyện ngắn còn lại chưa hề đăng báo, chưa hề trình làng. Ðiều này cho thấy sức sáng tác của Hoàng Du Thụy rất mạnh, rất vững cho một bước đăng trình dài, đầy hứa hẹn trong tương lai.

     Với lối văn kể chuyện rất giản dị và trong sáng, Hoàng Du Thụy đã dễ dàng lôi cuốn người đọc vào truyện của mình, những truyện có tính cách sống thật như ở ngoài đời. Bạn đọc cảm thấy gần gũi với tác giả hơn qua từng nhân vật, qua từng hoàn cảnh trạng huống đang xảy ra trước mắt như một đoạn phim. Có thể nói bên nam có Kiệt Tấn và tôi, bây giờ bên nữ có chị, thích phơi bày trần truồng cái tôi của mình. Cái tôi thường rất đáng ghét như nhiều người quan niệm, nhưng biết sử dụng đúng chỗ đúng lúc, thì cái đáng ghét kia đôi khi lại thành cái dễ thương. Cũng như tôi cảm thấy gần gũi Nguyễn Xuân Hoàng với Tự Truyện Của Một Người Vô Tích Sự hơn là những truyện khác của anh. Hoặc với một Nguyễn Ý Thuần cũng vậy, Người Lính Còn Lại . Chỉ khác Kiệt Tấn và tôi ở điểm là Hoàng Du Thụy đã cố tình gói ghém và đưa cái tôi của mình vào nhiều nhân vật chính khác nhau, trong nhiều không gian và thời gian khác nhau. Tuy nhiên, với một cái khéo nhìn, người đọc sẽ nhận ra ngay. Bởi vậy mặc dù không hoàn toàn là tự truyện, truyện của Hoàng Du Thụy mang nặng tính chất tự truyện. Và chính cái tính chất tự truyện chân thật đó nó đã tạo nên giá trị cho quyển sách.

     Hoàng Du Thụy là nhà văn có khiếu viết về truyện tình. Dựng lại những mối tình xa xưa cũng như làm nên những mối tình thời đại. Nhưng, những tình tiết và những xảy đến trong các truyện tình này đều không thể tìm thấy trong mấy quyển tiểu thuyết viết theo kiểu feuilleton . Vì nó sống thực. Vì nó không là hư cấu, tưởng tượng. Trong mười ba truyện, hết sáu truyện đã là truyện tình. Và với một tâm hồn lãng mạn và dám sống, Hoàng Du Thụy bằng một diễn tả trân trọng và thiết tha, đã đưa độc giả vào tuổi tình yêu vụng dại, hồn nhiên của thời học trò ( Sông Ơi, Chảy Về Ðâu ), vào những lần đùa giỡn với tình yêu cùng những anh chàng lính tàu trong thời trái chín ( Sông Không Ra Biển Chuyện Kể Sau Mười Lăm Năm ), vào những theo đuổi, tìm tòi, cân nhắc trong già dặn tình đời nơi xứ lạ quê người ( Cánh Cửa Chưa Khép Kín Màu Quan San ), cũng như vào một lần nào đó đã bị lợi dụng trân tráo trong cảnh buôn bán chợ trời ở Việt Nam ( Vết Chàm ). Truyện tình của Hoàng Du Thụy nhìn chung không mấy gì thác loạn, chỉ là những khơi khơi buông thả theo dòng đời. Nhưng, theo tôi, những chuyện tình này rất đẹp. Ðẹp như những gì còn sót lại, cô đọng lại thành một kỷ niệm khó quên, của một thời sống qua trong tuổi tình yêu mà chúng ta ai ai cũng có. Giọng văn cũng chừng mực, tự chủ, kìm giữ không cho bị cuốn hút vào một xô đẩy nào của tâm hồn. Vậy mà cảm động. Và cái đẹp là sự thu tròn lại, không cho rớt xuống của một hạt lệ long lanh. Truyện tình viết được như thế là hay . Chính ông Mai Thảo đã có lời khen như vậy.

     Hoàng Du Thụy là nhà văn thích lăn xả vào cuộc đời. Bằng những kinh nghiệm sống có thể từ chính bản thân mình, chị viết lại những sinh hoạt bên lề xã hội một cách rất trung thực. Trong số mười ba truyện ngắn, gần phân nửa đã bắt đầu từ một bối cảnh Việt Nam và kết thúc trên xứ người, Canada. Cảnh sống quê nhà sau 75 hiện ra mồn một. Một cách tang thương, tủi nhục. Nhưng chị không hề chĩa mũi dùi vào chế độ và bọn cầm quyền, chị chỉ đưa ra những hậu quả não nề mà người dân phải chịu. Bằng hình ảnh những tên sinh viên ba mươi nhảy ra lên lớp làm trò hề trong các trường Ðại học ( Truyện Viết Lại Từ Bản Thảo Bỏ Quên Ché Sấm ). Bằng các vụ lường gạt tận tình của bọn đầu nậu vượt biên. Sự tán tận lương tâm không những xảy ra trong xóm giềng thân thuộc với nhau ( Truyện Viết Lại Từ Bản Thảo Bỏ Quên ) mà luôn cả cho những người tù cô thế vừa mới được thả về ( Lòng Tin ). Bằng những ân oán giang hồ trên đất chợ trời đã dần dà trở thành như một phong tục mới ( Vết Chàm ). Bằng những tính toán, lợi dụng không tình người trong những gia đình có cảnh Bắc Nam sum hợp trong Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ( Nữ Sanh Ngoại Tộc ). Và bằng cái cảnh cha mẹ già tựa cửa trông con, chờ cháu. Những đứa con vượt biên đã ra đi không bao giờ trở lại, cũng như những đứa cháu mới sinh ra trên đất người không bao giờ được thấy mặt ( Cho Buổi Chiều Sắp Tắt ). Với ngần ấy hỗn độn của sân khấu cuộc đời, vụt đến sau cuộc đổi đời, đã được Hoàng Du Thụy diễn tả sắc nét ở mọi phương diện. Bởi chị là nhà văn sành tâm lý, không những ở người trẻ kẻ già mà luôn cả nam lẫn nữ nữa.

     Ðêm Chong Ðèn là một tùy bút viết về một ngày trôi qua cho một tâm hồn trơ trọi nơi đất lạ quê xa, gợi ý từ một cơ hội bất ngờ đã dẫn dắt tác giả đến giây phút được phải chong đèn, say sưa đọc quyển Ðêm Chong Ðèn của Hồ Trường An.

     Và sau cùng, Trầm Hương Hạnh Phúc là một kết cuộc rất tuyệt vời, rất nên thơ. Của một gia đình nửa chừng xuân nói chung và của một người cầm bút nói riêng. Tâm sự thầm kín của một người vợ, người mẹ là sự lén lút dấn thân vào văn chương, lấp lánh trong toàn bộ tập truyện, đã được giải tỏa một cách tốt đẹp nhẹ nhàng như những vần thơ ru con. Một mình cặm cụi sáng tác trong âm thầm che dấu, nhưng rồi cũng có ngày bộc lộ ra. Vì đã đến lúc cần phải chứng tỏ cho người bạn đời, cho đấng phu quân của mình biết qua một điều. Thế nào là nỗi vinh hạnh của một người đàn ông đang nắm trong tay mình một trái tim mộng mơ quyến rủ của một nhà văn nữ... Thử hỏi ai dám nói đây không phải là tự truyện của Hoàng Du Thụy?

     Bây giờ, nếu đi sâu vào chi tiết thì tác phẩm nào lại không có những đoạn văn bóng bẩy, trong sáng, gây xúc động trong lòng người đọc đáng trích dẫn làm bằng, cũng như những đoạn văn rườm rà, tối nghĩa độc giả đọc lên đôi khi không hiểu ý tác giả muốn nói gì, gởi gấm tâm sự mình cho ai... Nhưng tôi không thể làm việc điểm sách trong khi viết Bạt được, cho nên chỉ biết nhường chỗ cho bạn đọc lướt qua cánh cửa vừa hé mở, bước vào một thế giới mới có hoa thơm cỏ lạ của vườn văn.

     Lời nói sau cùng của riêng tôi với Hoàng Du Thụy, TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC tuy là tác phẩm đầu tay nhưng là tác phẩm để đời của một nhà văn nữ.

     Winston-Salem, NC, vào Thu năm Kỷ Tỵ

   back to top

02. MỜI ÐỌC: TẬP TRUYỆN CHUYỆN MIỆT VƯỜN CỦA HỒ TRƯỜNG AN

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Xưa nay, Tựa hay Bạt thường do những người đi trước viết để giới thiệu những kẻ đi sau. Nhưng dạo gần đây, nhiều người đi sau cũng hay viết Bạt cho những người đi trước. Bởi lẽ, ngoài phần giới thiệu, còn để ghi lại một thân tình, một kỷ niệm giữa những bằng hữu thâm giao.

     Với Hồ Trường An, vợ chồng chúng tôi có cái may mắn được gặp anh một lần tại tư gia nhà văn nữ Nguyễn thị Thanh Bình. Một đêm hội ngộ thì đúng hơn, vì cùng với gia chủ, chúng tôi bàn luận chuyện văn chương, đấu láo chuyện trong làng đến gần sáng trắng mới chịu tan hàng đi ngủ. Tuy một lần thôi mà từ đó anh em chúng tôi đã coi nhau như đào viên kết nghĩa. Ðó cũng là lần duy nhất cho đến nay, Hồ Trường An đã đến Hoa Kỳ, thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, nhân dịp buổi ra mắt sách Giai Thoại Hồng của anh, do Trung tâm văn bút Miền đông bảo trợ. Có lẽ chính vì vậy mà sau Nguyễn Ngọc Bích, Thích Như Ðiển, Võ Ðình, Võ Phiến... thì đến phiên tôi, riêng tôi, được cái hân hạnh viết vài dòng cho tác phẩm của anh chăng?

     Cũng đồng thời với văn phong miền Nam, điểm chung; nhưng, những cây bút miền Nam đều có vị trí riêng biệt của mình vì nếp sống và suy tư của họ không giống nhau, điểm riêng. Lê Bảo Trân, Phạm Thăng, Xuân Tước... nghiêng về phong tục tập quán và tâm tình người dân miền Nam; qua các anh, độc giả sẽ tìm được đời sống và kiến thức của dân quê miền Nam thời trước. Anh Vân, Hải Bằng, Võ Kỳ Ðiền, Xuân Vũ... cũng diễn tả về xã hội miền Nam và đời sống dân miền Nam nhưng thiên về chống Cộng, chống Xã hội chủ nghĩa. Hứa Hoành, một mình một cõi, với sử ký và địa lý lồng trong văn chương nhằm ghi lại những địa linh, những nhân kiệt, những chứng tích đậm nét ở miền Nam. Nguyễn văn Sâm, Trần Long Hồ... như cố đi tìm những khắc khoải, suy tư qua hình ảnh người dân miền Nam trong nếp sống thị thành lẫn nơi thôn dã. Những người còn lại, cũng rất quen thuộc với độc giả, như Cao Bình Minh, Hoàng Du Thụy, Huỳnh Hữu Cửu, Kiệt Tấn, Ngô Nguyên Dũng, Nguyễn Ðức Lập, Nguyễn Lê Hồng Hưng, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn thị Long An, Nguyễn thị Ngọc Diễm, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Nguyễn văn Ba, Phan thị Trọng Tuyến, Phùng Nhân, Sĩ Liêm, Trần Kim Vy, Trần thị Kim Lan, Vũ Nam, Ý Ngôn... đều có ít nhiều kể lại những buồn vui, những riêng tư, những xâm nhập từ ngoại cảnh, những bộc phá từ nội tâm của mình.

     Ðặc biệt hơn hết, ở cõi văn chương của Hồ Trường An, chúng ta lại rơi vào một thế giới khác, rất khác: thế giới của đàn bà, rất đàn bà miền Nam. Ở cõi văn chương đó, khi độc giả đọc Hồ Trường An nghĩ sao tôi không biết, chớ riêng tôi, tôi cảm thấy chung quanh mình quây quần bởi một bầy tiên nữ lẫn lộn với một đám hồ ly tinh. Kẻ lẳng lơ mơ mộng, người hiền thục dịu dàng. Kẻ chằng ăn trăn quấn, người chân chỉ hạt bột. Kẻ nhanh nhẩu liếng thoắng, người cục mịch quê mùa. Kẻ ngồi lê đôi mách, người ít nói nghiêm minh... Với tôi, ai cũng đáng yêu hết. Và tất cả đều được xây dựng trên nền tảng gia đình thân tộc, đất nước quê hương thắm đượm tình người.

     Nhưng, đó chỉ là nói đến những người như tôi, đã đọc và biết qua văn phong của Hồ Trường An; chớ còn ai đó không cần biết Bắc Trung Nam, đàn ông hay đàn bà, người già hay kẻ trẻ mà mới đọc anh lần đầu, tác phẩm đầu, quyển sách đầu thì chắc chắn họ sẽ bị anh mê hoặc, hớp hồn bởi lối diễn tả tinh vi tỉ mỉ nhưng phong phú và hấp dẫn về những son phấn lụa là, áo quần nón nảy, màu mè kiểu vở, nữ trang vòng vàng, hoa quả cây kiểng, bánh trái món ăn... Ai cũng bị giọng kèn tiếng quyển của văn chương anh làm cho say sưa, no đủ như chung quanh mình không thấy thiếu một thứ gì trên cõi đời này. Tác phẩm anh, theo tôi, có thể là những liều thuốc an thần rất tốt cho những người đang sống lây lất trong thế giới cộng sản, xã hội chủ nghĩa ngày nay. Không cần cao lương mỹ vị gì hết, chỉ cần "giáo đầu" bằng mấy con mắm thôi (truyện ngắn Lửa Hương Ðêm Tìm Lại ), thì cũng đủ thèm chảy nước miếng và "nhức nhối" lắm rồi:

     Sống vùng quê gần vòng đai thành phố, con cá lá rau có sẵn, vợ chồng em đề huề hưởng thú điền viên. Gần Tết em mua cá cơm để làm mắm nêm, mắm phệt, mua cá linh để làm mắm cá linh bán lai rai trong vùng và bán cho vùng lân cận. Món nem cá cơm của em do bà ngoại em truyền lại làm dân trên tỉnh mê lắm, tìm tới để mua về nhà ăn với bún, thịt phay, rau xắt ghém. Em còn làm món mắm tép chua trộn đu đủ. Món nầy làm bằng tép bạc còn sống nhảy loi choi, chớ bằng không, dùng tép đã chết thì kể như hỏng nặng. Con tép còn sống thả vào rượu nếp hương thì thịt nó ngã nên màu hường như san hô. Khi được ướp muối, cùng tỏi, riềng thì toàn thân con tép dậy lên men dần dần, ngon nhức nhối, màu hường san hô khi lẫn vào đu đủ chín hườm xắt chỉ vẫn còn giữ sắc thắm nguyên sơ trong keo, trong hũ thủy tinh trong vắt. Nhờ chút hoa tay làm mắm mà em kiếm bộn tiền song song với huê lợi ở ruộng vườn.

     Tác phẩm Chuyện Miệt Vườn của Hồ Trường An gồm: Lửa Hương Ðêm Tìm Lại; Xuân Trắng Vườn Mộc Lan; Trầu Xanh Cau Thắm; Tình Ghen Thôn Dã; Sông Lũ Suối Hiền; Xuân Tết Vợ Chồng; Xuân Thời Sông Trong Biển Lặng; Chiếc Vòng Bát Bửu; Thuở Nguyên Ðán Tươi Hồng; Thai Nghén; Học Trò Mụ Hoạn; Ðiệu Huê Tình Ngày Xuân; Tên, Thứ, Hỗn Danh; Khởi Ðầu Cơn Gió Bụi; Hai Nàng Ca Sĩ; Anh Suôi Trai, Chị Suôi Gái . Trong đó, xen kẽ với những truyện ngắn, Tình Ghen Thôn Dã; Chiếc Vòng Bát Bửu; Ðiệu Huê Tình Ngày Xuân; Anh Suôi Trai, Chị Suôi Gái là những kịch thơ có tầm vóc.

     Tôi nghĩ anh Hồ Trường An chắc đã có dụng ý gì đây khi trao tuyển tập truyện ngắn và kịch thơ này cho tôi, một dân miệt vườn tầm thường như mọi dân miệt vườn khác, viết Bạt. Vì tôi thấy hình như anh đang chọn lọc toàn những truyện độc đáo, những kịch thơ giá trị để đóng lại thành một cuốn sách để đời. Với tôi, xúc động hơn nữa, vì phần lớn những sáng tác này được lấy bối cảnh trên phần đất Mỹ Tho, quê hương của tôi mà cũng là quê ngoại của anh. Những địa danh Trung Lương, Ðạo Thạnh, Ðạo Ngạn, Bến Chùa, Vĩnh Kim, Xoài Hột, Cai Lậy, Cái Bè... rất gần gũi thân thương. Rồi từ đó anh mới đưa tâm tình mình băng qua kinh Chợ Gạo chạy xuống Gò Công, vượt dòng Tiền Giang xuôi về Vĩnh Long, quê nội của anh, lần qua sông Hậu thẳng tới ruộng đồng Cần Thơ, Rạch Giá... Và, hiển nhiên, nào có thiếu Sài thành hoa lệ. Nhứt là Sài thành hoa lệ trong thời Ðệ nhị thế chiến, thời bảo hộ Pháp phồn hoa giả tạo sắp đến ngày tàn (truyện Khởi Ðầu Cơn Gió Bụi Hai Nàng Ca Sĩ )... Ðã thiệt! Có phải vì vậy, thêm một lý do nữa, tôi được anh dành cho cái hân hạnh viết vài đòng về tác phẩm Chuyện Miệt Vườn của anh?

     Cách dựng truyện của Hồ Trường An xem ra thật rất dễ dàng. Cốt chuyện hầu như không đáng kể. Vì lắm khi chỉ dưới dạng thức một bức thư, một lời tâm sự, một độc thoại một chiều... cứ cho nhân vật của mình thao thao bất tuyệt kể lại chuyện đời riêng tư cùng với một người chị dâu hay một cô em chồng, hoặc một người bà con đang sống ở xa. Nhưng mà rồi đủ hết, nhờ cái nọ xọ cái kia, dây cà ra dây muống. Trong đó, nào là tình cảnh gia đình, cha mẹ, anh chị em, cô bác, láng giềng, chòm xóm cho đến những đám cưới đám hỏi, những ngồi lê đôi mách, những tai vách mạch rừng, những nấu nướng lửa củi, những ăn trưa ăn chiều, những tắm rửa giặt giũ... Ôi thôi, rất là đàn bà, hơn cả đàn bà, đọc thét chỉ sợ... đầu óc, suy tư của mình và của độc giả nữa chớ, rồi lại phải hóa ra... đàn bà luôn!

     Ðây, thêm một đoạn làm quà, dưới ngòi bút Hồ Trường An trong truyện Thai Nghén , cái ăn uống hùng dũng, hung bạo của mấy bà ốm nghén (hai chị em bạn dâu, trong trường hợp này) đang cơn thèm mà bị bà già chồng ra lịnh ăn chay cầu phước cho con, đã như thế này:

     Hai cái gỏi cuốn chấm tương trộn tỏi ớt chưa đã đâu. Cho thêm hai cái bì cuốn nữa đi bà Năm. Chà, nước mắm ớt đệm dưa kiệu xé nhỏ trông ngon mắt quá! Chưa thấm tháp gì sau khi ăn hai cái bì cuốn. Thôi thì cho con mãng xà nầy một tô bún bò xào đi. Có xá xị đó không? Cho một chai đi, nhớ cho thêm nước đá nghen. Thịt bò xào củ hành, sả ớt, đã thơm điếc mũi, lại còn thêm mùi đậu phọng rang giã nhỏ nữa. Ủa, tui mới vừa lủm vài miếng mà tô bún hết mau quá. Thôi thì bà Năm cho thêm cái bánh xèo, nhớ lấy thêm rau sống, dưa leo. Ý chu choa, bụng mình bắt đầu nặng như chiếc ghe chở khẳm rồi đây. Mình ăn như La Sát, Chằng Tinh. Cái miệng mình là miệng cá mập, cá xà, nhưng cái bao tử của mình thì có giới hạn. Ngày mai mình sẽ ra đây tìm ăn bánh cống, ăn mì, hoành thánh, cháo thập cẩm... ăn cho tới tán gia bại sản, bán chồng đợ con luôn... Chỉ có một bữa ngả mặn mà óc hài hước của mình bắt đầu khai triển giống như óc đức ông chồng trời ơi đất hỡi của mình. Bây giờ mình no cành hông, mình yêu đời quá! Kìa có hai chiếc nem chua, để làm chi cho xốn mắt? Bán luôn cho con mẹ chửa nầy đi bà Năm. Bộ bà chê tui ăn không nổi nữa hả? Nè, bà coi nè... Hôm nay tui ngã mặn mà. Tui ăn ngoạn mục, ăn hào hùng cũng như Tống Giang, Lý Quỳ ăn thịt trâu, uống rượu vậy. Một khi đàn bà chửa ăn hàng, tức là đứa con trong bụng mẹ cũng được ăn luôn. Bởi vậy tui mau đói lắm. Hổng chừng chút nữa tui quay trở lại "ních" thêm một chục bánh khọt cuốn rau sống, chấm nước mắm cay, hoặc tui "khỉa" thêm vài cuốn chả giò. Tui không ăn thì thôi, chớ một khi mà nhúng mỏ vào rồi thì tôi ăn như tằm ăn lên, tui táp nuốt như heo nái táp cám sú trong ảng vậy.

     Tiếp theo việc đẻ chửa thì, đối với đàn bà, không gì khác hơn là chuyện ghen. Mỗi người ghen một cách, kẻ dữ dằn như sư tử Hà Ðông, người hiền lành như Ma Sơ, nhưng vào lúc đó tất cả đều trở nên trầm tĩnh, mưu mô, xảo quyệt. Tuy nhiên, kết quả của chuyện bắt ghen, đánh ghen đôi khi cũng cười ra nước mắt như trong truyện Học Trò Mụ Hoạn (Hoạn Thư nói rõ hơn):

     Mỹ Phẩm như cây chuối bị đốn ngọt, ngã rạp xuống. Vợ viên đại úy ré lên:

     - Quỉ thần thiên địa ơi, chị nầy té xỉu trên đống cứt chó rồi. Ði bắt ghen kiểu nầy coi bộ xệ quá xá.

     Mặt Mỹ Phẩm trắng bệch bạc, mắt nhắm nghiền. Một mụ bành kéo nàng ngồi dậy. Một mảng phân chó dính sau lưng chiếc áo dài màu xám vảy cá thu của nàng.

     Trong khi đó vợ Hai Pháp đâu có thì giờ săn sóc, khuyên nhủ em dâu của mình? Chị xông tới thằng chồng dâm bôn và người đàn bà lạ. Hai Pháp cả kinh vớ lộn chiếc quần sa-teng của mụ tình nhơn mặc vào rồi chạy vô đám lau sậy. Mụ tình nhơn bình tĩnh hơn, với chiếc quần tẹc-gan của Hai Pháp mặc vào chạy theo sau, không quên ôm theo mớ quần áo giày dép. Họ lủi vào đám sậy rộng minh mông. Vợ Hai Pháp hò hét lũ bạn rượt theo, nhưng họ chỉ dám xông vào đám bắp. Và trước cảnh tượng khôi hài đó, họ ôm bụng cười lăn, cười tróc mỡ bụng, chảy nước mắt, không nghĩ tới việc truy nã Năm Lịch và cô bồ nhỏ của anh ta.


     Văn chương Hồ Trường An là văn chương chuyện kể, nhưng sở dĩ không khi nào độc giả cảm thấy đơn điệu hay phát ngán là tại vì những phần chuyện kể đó được nối liền với nhau bằng một chất men ướt át cảnh tình. Chính những đoạn văn tả tình, tả cảnh lấp lánh lung linh trong sáng đó đã làm cho văn chương anh trở nên có hồn, có thần, có khí phách. Rải rác ở khắp mọi nơi mọi chỗ, chúng ta luôn luôn bắt gặp hàng hàng lớp lớp những dòng chữ tiêu biểu tuy ngắn ngủi, gọn gàng nhưng đánh mạnh vào con tim người đọc. Những dòng chữ mà (lấy trong truyện ngắn Xuân Thời Sông Trong Biển Lặng làm thí dụ), theo tôi, không thể nào không làm độc giả sững sờ, ngẩn ngơ:

     Một năm qua, thơ từ đôi bên trao đổi với nhau thưa thớt. Giờ đây, nhìn cây mai đơm những chấm nụ nhỏ như mũi kim đan áo, cô Tư Tuyết Nga cảm thấy giấc mộng lứa đôi của mình tuy có hồng hào nắng mới, nhưng hy vọng của mình thỏn mỏn tàn phai như ánh tà dương...

     Rồi ca dao, truyện tàu, sách tướng, tuồng vọng cổ, tuồng hát bội, sách nghiên cứu đồ cổ, sưu tầm dĩa hát xưa, v.v. tất cả đều nằm gọn trong trí nhớ của anh. Chính những thứ này đã giúp cho anh có một kiến thức sâu rộng bao trùm lên nhiều lãnh vực, địa hạt mà đôi lúc, anh không ngần ngại đưa luôn vào truyện mình (trong Trầu Xanh, Cau Thắm ), cho nhân vật mình lên tiếng làm nũng với chồng như vầy:

     Giọng cô Tư Bé (trong dĩa hát) nhõng nhẽo, dễ thương chi lạ. Khi vừa chạy dứt mặt dĩa thì thầy y tá Cảnh về tới. Cô Hai Phụng Kiều trước đó đã để dành sẵn mâm rượu thịt tươm tất cho chồng. Thầy Cảnh vừa cởi giày, tròng đôi giép vào là cô múc thau nước mát, chìa tấm khăn thơm sạch cho chồng rửa mặt. Cô bắt chước giọng cô Tư Bé (trong dĩa hát) để hỏi chồng đánh xập xám ăn hay thua:

     - Muôn tâu bệ hạ, vừa thấy bệ hạ nhập thành thì lòng thiếp vui mừng không xiết kể. Chẳng hay trận tiền đối chiến với Châu binh, thắng bại lẽ nào vậy a bệ hạ?


     Một đoạn văn độc đáo khác của Hồ Trường An nhằm diễn tả những giọng hát "quỉ khốc thần sầu" của thời đại 20 câu vọng cổ năm xưa (chớ không phải 6 câu ngắn gọn như bây giờ), đã từng vang bóng một thời với những hãng dĩa Pathé, Béka, Asia (truyện Hai Nàng Ca Sĩ ):

     Giọng hát của Năm Hảo Phối lạ lắm, sang sảng mà nhừa nhựa, hát theo dây lòn theo nghĩa tầm nguyên là dây chui theo dây đờn bà, tức là dây dành cho đờn bà hát. Hễ kép nào ca vọng cổ chung với Năm Hảo Phối, tới phiên đương sự hát là nhạc công phải đổi đờn bắt sang dây dành cho đờn ông, phải lên cao cung bậc, nếu không, đương sự hát nghẹt hơi nghẹt họng. Năm Hảo Phối vốn có cặp mắt xanh, biết giá ngọc. Qua thân hình khô khan như cái mo cau của con Lài, y ta bắt gặp một nhơn dáng rất thơ, rất nghệ thuật. Và giọng hát của con nhỏ là một chất thép quí báu có thể đúc rèn nên thanh gươm trứ danh. Y chỉ cho con Lài những cái lắt léo của nhịp nội, nhịp ngoại, song lan. Y giảng cho nó biết cách sử dụng hơi, phải bào mỏng làn hơi cách nào, lúc nào trong câu hát, phải hát cách nào cho tiếng thêm vang lộng và nẩy bật những âm hưởng làm tê điếng người nghe, và phải hát thế nào tạo nên một cảm giác chơi vơi cho thính giả với từng thoáng đồng vọng như từ cõi xa xăm đưa về.

     Và thỉnh thoảng có nhiều bức thư viết rất hay, ngôn từ chí lý, ân oán tỏ phân (nhất là trong truyện ngắn Xuân Tết Vợ Chồng ). Tôi nghĩ độc giả, nhất là độc giả đàn bà, dám có người sẽ sử dụng những bức thư này như một thứ kim chỉ nam, để viết thư cho bạn bè, bằng hữu và những người thân lắm!

     Bước sang lãnh vực kịch thơ, nếu không mất nước, với các màn kịch thơ của Hồ Trường An, chắc hẳn sẽ có một cải cách lớn trong làng sân khấu trình diễn kịch thơ của miền Nam, nối tiếp theo dòng kịch thơ gây tiếng vang từ miền Bắc, với những ngôi sao soạn kịch thơ sáng chói trong thời tiền chiến như Trần Tử Anh ( Nửa Ðêm Truyền Hịch ), Thao Thao ( Quán Biên Thùy ), Nguyễn Bính ( Bóng Giai Nhân ), Vũ Hoàng Chương ( Vân Muội ), Khái Hưng ( Tục Lụy ), Hoàng Công Khanh ( Bến Nước Ngũ Bồ ), Bình Nguyên Lộc (trong Tâm Trạng Hồng )... Rấc tiếc, sân khấu và kịch thơ không có đất dụng võ ở hải ngoại, không thể đương đầu với những show nhạc vàng, nhạc rock-and-roll, nhạc new-waves. Tuy nhiên, nếu ở truyện ngắn không đặt trọng tâm vào cốt chuyện, ở kịch thơ, cốt chuyện lắm lúc gây xúc động bất ngờ. Như vở Chiếc Vòng Bát Bửu chẳng hạn, bà mẹ chồng dùng "chiếc vòng vàng chạm hình bát bửu" để thử thách ba nàng dâu, bằng cách ra cuộc thi thêu mặt gối và ai thắng sẽ được tặng làm quà. Nhưng kết cuộc lại như sau:

     Bà Phủ Thọ (vui vẻ):
     Má mừng chẳng biết nói sao
     Ba dâu tương ái trước sau một lòng

         (mở chiếc hộp sơn son thếp vàng lấy thêm hai chiếc vòng)

     Thiệt ra má có ba vòng
     Thưởng lòng hiếu thảo, nữ công sá gì
     Má già như bóng tà huy
     Nay còn, mai mất, âm ty sẵn chờ
     Mừng nhà chia sớt ấm no
     Vui cảnh hòa thuận, trước giờ buông xuôi
     Con Hai, con Ba, bớ bây
     Cùng con dâu Út xòe tay nhận vòng


     Nhìn chung, kịch thơ của Hồ Trường An mang sắc thái những câu ca dao, câu hò miền Nam nhưng có ngụ ý. Ca dao nào lại không ngụ ý, có phải? Chúng ta có thể xem đây là những bài ngụ ngôn văn vần, để răn đời hay diễn tả những tình cảm chân thật hiền hòa, những cách tỏ tình dung dị mộc mạc của trai tốt gái lành quanh năm sống ở miền quê sông nước phù sa.

     Trong một bài viết ngắn, quả thật, không cách gì nói lên hết được những cái hay cái đẹp của một quyển sách ba bốn trăm trang.

     Giờ, nếu đi xa hơn một chút nữa, nên nói thêm về triết lý sống trong văn chương Hồ Trường An. Với sự hiểu biết hạn hẹp của tôi, tôi có thể nhận ra hai luồng tư tưởng chính. Thứ nhất, tác phẩm Hồ Trường An đã đưa ra cái triết lý sống, cái nhân sinh quan của người miền Nam. Một cách sống, một cách nhìn rất gần gũi, rất hòa hợp với thiên nhiên và tư tưởng Lão Trang. Cái tính xuề xòa, bộc trực, đói ăn khát uống, không thích đẻ ra lắm việc phải làm của người miền Nam, há không phải là sự kết đọng của nguồn tư tưởng vô vi đó hay sao? Và tư tưởng đó, chắc ai ai cũng công nhận, nó bàng bạc và trải khắp mọi tầng lớp, góc cạnh của chữ nghĩa Hồ Trường An! Kế đến là tinh thần Bất nhị của nhà Phật. Có thể nói không một sáng tác nào của Hồ Trường An mà không vẽ lên đôi bờ thiện ác, tốt xấu cận kề, đen trắng phân minh. Ðể rồi lần nào cũng vậy, tác giả luôn luôn đi vào cái kết luận có hậu, phảng phất "tuy hai mà một" kia! Ðúng là Hồ Trường An đã rọi sáng triết lý Phật giáo, thuyết pháp cùng người đọc mà không hề và không cần vẽ lên hình ông Phật hay đắp tượng Bụt!

     Sau hết, văn chương chữ nghĩa viết theo lối chung chung thường sẽ dễ bị lẫn lộn, mờ phai rồi dần dần rơi vào quên lãng. Muốn có một chỗ đứng riêng cho mình trên văn đàn, nhà văn phải có một hướng đi riêng, một lối nhìn riêng và một cách viết riêng. Vậy thì để kết luận, qua tác phẩm Chuyện Miệt Vườn , những gì tôi trình bày trên đây há không phải là những cái riêng của Hồ Trường An, duy nhất cho Hồ Trường An, cậu Ba Thiềng Ðức (xem truyện Tên, Thứ, Hỗn Danh ), mà không ai có thể làm hoặc thay thế được hay sao?

     Winston-Salem, ngày Lao động Quốc tế, 1992

   back to top

03. MỜI ÐỌC: CÁC TẬP THƠ CỦA LUÂN HOÁN

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Rất là tình cờ, tôi được nhà thơ gửi tặng cùng một lúc ba tập thơ: Ngơ Ngác Cõi Người, Ðưa Nhau Về Ðến Ðâu , và Cảm Ơn Ðất Ðá Trổ Thơ, Lòng Ta Hạt Bụi Vu Vơ Bám Hoài . Ðáng lẽ bốn, cho đủ bộ vừa xuất bản tại hải ngoại như anh cho biết, nhưng vì tập thơ Hơi Thở Việt Nam đã bán hết từ lâu. Kèm theo thơ riêng còn có một câu thòng, đại để: "Ðọc đi và lượm ra những cái vụng về, đập thẳng tay cho một bài thật rát da, đừng vị nể như các bạn khác..."

     Thiệt tình mà nói, tôi có hơi ngạc nhiên và mừng rỡ. Cho chính bản thân tôi thôi. Thì ra mình viết riết cũng có người biết đến, tìm kiếm làm quen. Nhất là được một nhà thơ lớn như anh. Không lớn sao được khi anh đã có đến hơn mười tập thơ đã xuất bản trong và ngoài nước, trước và sau 75! Nhưng đằng sau cái vui đó tôi còn đụng phải cái lo! Cái bổn phận phải "đập" hay "gõ" hoặc "vỗ" nên vài dòng cảm tưởng đáp lễ. Không đáp lễ sao được khi bạn thơ đã có tình nghĩ đến bạn văn! Có thể nói niềm đau thương ray rứt nhứt của kẻ cầm bút chính là lúc nâng niu mang tác phẩm mình đem tặng cho người, mà người được tặng không thèm ghé mắt đọc một chữ, thậm chí, hững hờ đến độ không buồn buông một tiếng cám ơn.

     Có người nói: "Mười người cầm bút, nếu có chút chút thực tài và chịu khó kiên trì cố gắng, thì trong năm bảy năm sau có thể sẽ trở thành mười nhà văn." Câu này hình như chẳng có gì sai. Rồi: "Trong năm bảy năm nữa, mười nhà văn đó sẽ trở thành ba nhà phê bình, năm nhà vừa phê bình vừa viết văn, và còn lại vỏn vẹn chỉ có hai người viết văn thuần túy thôi." Câu này thì chưa chắc đã hoàn toàn đúng hẳn. Tuy nhiên, mặc dù không hoàn toàn đúng hẳn, tôi vẫn muốn được làm một trong hai "ông thần" viết văn thuần túy còn lại đó! Tôi không muốn làm... nhà phê bình. Ðối với tôi, thơ ai làm cũng hay hết và văn ai viết cũng giỏi hết. Hình như càng tránh ra xa cái vòng khen chê lẩn quẩn thì càng đỡ phiền, tôi nghĩ!

     Nhưng muốn là một việc mà làm được hay không là một việc khác. Vì nếu tôi cam tâm làm như vậy thì hóa ra tôi là kẻ đứng bên lề, chẳng có bằng hữu tâm giao gì với ai ráo trọi, có phải? Bởi thế cho nên, có lẽ trước sau gì tôi cũng sẽ rơi vào trường hợp của năm "ông thánh" vừa viết văn vừa phê bình kia. Còn việc vui chơi với ba ông "thái thượng lão quân" thì chắc còn lâu, họa hoằn mười lăm hai chục năm kế tiếp nữa, và chỉ khi nào tôi hết ý cạn lời để viết văn thì tôi mới tính sang chuyện đó được... À quên, xin lỗi, riêng về hoàn cảnh của các nhà phê bình chuyên nghiệp thì lại khác một trời một vực, tôi không dám lạm bàn ở đây.

     Tánh tôi lại thích cà kê dê ngỗng về ba cái giao tình, kỷ niệm vui buồn giữa bằng hữu với nhau. Ký sự văn học, viết theo kiểu Một Lần Xuống Núi cho đời thêm vui vậy thôi. Thành thử, với tôi, phần nói về văn thơ của bạn bè tôi quen, chỉ là phần phụ thuộc. Trật trúng chẳng màng. Lắm khi chỉ là vài lời "bốc thơm" cho bạn mình vui là đủ rồi. Vả lại khi nói đến thơ, như trường hợp của anh Luân Hoán ở đây, coi vậy chớ mà khó. "Bốc thơm" không phải chỗ lại càng thêm trật đường rầy à nghen. Ối, mà cũng đâu ai dám bắt bẻ gì mình điều gì, vì với thơ, mỗi người có quyền thưởng thức một cách mà lị.

     Ðể coi, Ngơ Ngác Cõi Người là tập ghi lại tâm sự hơi đau thương của một người rời bỏ quê hương đất nước, ra đi... bằng máy bay, và nỗi niềm ngơ ngác khi lao đao sống gửi nơi xứ lạ quê người. Ðưa Nhau Về Ðến Ðâu , đúng là tập thơ tình chính hiệu con nai vàng. Và Cảm Ơn Ðất Ðá Trổ Thơ, Lòng Ta Hạt Bụi Vu Vơ Bám Hoài là những dòng hoài hương, nối tiếp nhau bằng nhiều hình ảnh, địa danh quen thuộc. Nhiều nhất ở quanh vùng Ðà Nẵng - Quảng Nam, dĩ nhiên, nơi chôn nhau cắt rốn của nhà thơ. Và có một đôi lần lang bang tới Sài Gòn, Bình Dương, Bến Tre...

     Nhìn chung, qua ba tập thơ tiêu biểu vừa kể trên, theo tôi, thơ Luân Hoán có nét "thơ học trò" của Nguyên Sa qua "áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc, áo nàng xanh anh mến lá sân trường," và "thơ tiền chiến" của Hữu Loan trong niềm đau thời đại "nhưng không chết người trai khói lửa, mà chết người gái nhỏ hậu phương..." Với anh, rằng thì là:

     Em có nhớ trong sân trường bữa ấy
     Giờ ra chơi em phơi nắng chiều đông


     hoặc:

     Thôi đừng nói ta đi đây, tạm biệt
     Nhớ vô cùng dù nhớ để buồn nôn
     Vở kịch lớn diễn trong nhà hát lớn
     Hình ảnh cuối cùng tặng kẻ cô đơn


     Ðành rằng, mốt "thơ học trò" và "thơ tiền chiến" của Luân Hoán, cũng như của Phan Ni Tấn, Trần Mộng Tú, Ðặng thị Quế Phượng, Cao Bình Minh..., chưa chắc đã làm hài lòng những người đã và đang đi tìm những đường nét mới lạ - lắm khi đi đến cầu kỳ quái đản hoặc khó hiểu - trong thơ... chẳng hạn từ những tiếng thơ đã có chỗ đứng riêng trên văn đàn hải ngoại như Trân Sa, Hàn Song Tường, Nguyễn thị Thanh Bình, Nguyễn Ðức Bạt Ngàn, Thường Quán, Ðỗ Khiêm..., nhưng với riêng tôi, tôi vẫn còn thấy thích lắm. Vì nếu tôi không thích, không mến yêu cái tuổi học trò và cái thời tiền chiến, thì chắc tôi đã không viết lên Một Ðời Ðể Học ! Cái không khí học trò và tiền chiến đó nó vẫn còn nhẹ nhàng và gợi cảm như dạo nào. Bởi vậy, có rất nhiều câu thơ của Luân Hoán hễ đọc qua một lần là tôi cứ nhớ hoài, tỉ như:

     Mua trăm vui lấp một sầu
     Phờ râu lấp mãi gốc sầu vẫn xanh


     Ối mà thôi, nếu bàn kỹ thơ Luân Hoán thì chắc phải viết thành sách. Và hiển nhiên tôi không khoái làm việc này. Tôi muốn nói chuyện riêng tư giữa Luân Hoán và tôi thôi... Lúc tôi có ý sắp "đập" vài chữ cảm tưởng cho thơ anh thì tôi được điện thoại.

     - Hello.

     - Hello, "ông Trùm" đó hả?

     Trời đất, giờ này thì còn ai gọi giây nói cho tôi vậy cà! Mắt nhắm mắt mở, tôi cũng ù ù cạt cạt:

     - Hưng đây, xin lỗi ai đầu giây vậy?

     - Luân Hoán! Anh đang làm gì đó? Có nhận được mấy tập thơ tôi gửi tặng chưa?

     Thôi chết rồi, nhận hổm rày cũng đã hai ba tuần, nhưng đinh ninh là cứ để đó, chừng nào làm xong "bổn phận công dân" thì sẽ gửi qua thông báo luôn. Không ngờ anh đang băn khoăn lo lắng dữ. Mà nói cho ngay, gì chớ chuyện thư từ, sách vở từ bên Gia Nã Ðại gửi qua Mỹ bị thất lạc liên miên, hoặc trục trặc vì nhân viên bưu điện đình công, vẫn xảy ra dài dài nên anh gọi hỏi thăm cho chắc ăn thì cũng phải. Tôi trả lời ngay:

     - Dạ, nhận được rồi anh. Sắp đọc xong!

     - Vậy cũng mừng... À, bên anh bây giờ mấy giờ rồi?

     Tôi liếc qua những con số trên đồng hồ dạ quang:

     - Dạ, gần hai giờ.

     - Chết cha, bộ đang ngủ hả? Thôi ngủ lại đi! Xin lỗi nghen, tôi cứ tưởng bên anh cùng giờ với giờ Cali...

     Lại thêm một đêm mơ mơ màng màng! Ðâu làm sao ngủ lại dễ dàng khi mà đã... nửa khuya thức giấc! Mà kể cũng lạ, tuồng như là có huông vậy. Vì dạo gần đây tôi cứ bị bằng hữu, bà con bên trời Âu buồn tình riêng dựng dậy vào lúc canh hai, canh ba lia chia. Ðể anh khỏi ngỡ ngàng, tôi hỏi lại:

     - Anh đang làm gì bên đó?

     - Ði chơi mới về.

     Chẳng biết vì ngáy ngủ hay vì lẽ gì khác, tôi bỗng tự nhiên nói khơi khơi:

     - Mới đi chợ về à!

     - Ði chơi chớ không phải đi chợ. Chợ búa gì giờ này. Thôi, ngủ đi. Bye.

     - Bye.

     Ðặt lưng nằm xuống giường, ngẫm nghĩ hoài, không hiểu vì sao mà tôi nghe chữ "chơi" ra chữ "chợ" cho được chớ? Chẳng lẽ mình bị hearing problem ? Một hồi lâu, tôi nghiệm ra, có thể tại vì thơ của anh hình như đã phần nào ăn sâu vào tâm trí của tôi. Từ lúc mới đăng báo, trong nhiều trường hợp. Vì vậy, mặc dù chưa gặp anh lần nào nhưng trong đầu tôi có lẽ cũng đã vẽ ra một Luân Hoán, một anh chàng tối ngày chỉ biết lo việc chợ búa, cơm nước, giặt giũ cho vợ nhà. Bởi lẽ:

     Trộn chút tình ta vào bột giặt
     Vò nhẹ nhàng bởi lo sợ em đau


     Rồi nếu có rảnh rỗi thì lại thả hồn mình hướng về quê hương làm thơ thương nhớ:

     Treo lòng lên mũi Chân Mây
     Lim dim nghe tiếng lá cây trở mình
     . . .
     Treo lòng lên đỉnh Hải Vân
     Nghe sa diệp thạch bần thần thở ra
...

     hoặc là làm thơ tình:

     Mỗi lần sắp sửa yêu ai
     Tự nhiên mặt mũi tóc tai lạ lùng
     Tưởng như có triệu vi trùng
     Ngo ngoe đòi được nhớ nhung với mình
...

     Vậy thì thử hỏi làm sao mà anh không quên giờ giấc cho được? Làm sao mà không làm thơ thiệt nhiều và dễ dàng như thở cho được? Thôi thì, tôi phải để anh hãy tiếp tục thơ thẩn nữa đi, đi chợ, đi chơi nữa đi...

   back to top

04. MỜI ÐỌC: TẬP TRUYỆN TÌNH NGHĨA THẦY TRÒ CỦA SĨ LIÊM

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Với những ai khác thì sao tôi không biết, chớ riêng tôi, được đọc bản thảo và viết bạt cho một tác phẩm, kể ra, phải nói đó là một hân hạnh không nhỏ cho người cầm bút. Nhất là khi viết bạt cho tác phẩm đầu tay của một bạn văn mà mình yêu mến. Ðó là trường hợp giữa Sĩ Liêm và tôi.

     Sĩ Liêm là một cây bút miền Nam, với văn phong miền Nam rõ rệt, cho nên cũng cần nhắc sơ qua các cây bút miền Nam để ít ra thấy được vị trí của anh trong bút nhóm này, và sau đó, trên văn đàn hải ngoại.

     Nếu tính theo tuổi tác thì những người chào đời vào thập niên 21-30 trở về trước còn cầm bút sáng tác, và đôi khi sáng tác mạnh nữa là khác, thì có Phạm Thăng, Thừa Phong, Xuân Tước, Xuân Vũ. Lớp sinh ra vào khoảng 31-40 thì có Anh Vân, Hải Bằng, Hồ Trường An, Huỳnh Hữu Cửu, Hứa Hoành, Kiệt Tấn, Lê Bảo Trân, Nguyễn thị Long An, Nguyễn văn Sâm, Sĩ Trung, Thụy Khanh. Lớp đầu thai trong thời chinh chiến từ 41-50 có Ngô văn Thọ, Nguyễn Bạch Mai, Nguyễn Ðức Lập, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn văn Ba, Phùng Nhân, Trần thị Kim Lan, Võ Kỳ Ðiền, Ý Ngôn, và mới đây còn có... Hồng Lan. Lớp sanh sau đẻ muộn hơn một chút, từ 51-60, có Cao Bình Minh, Hoàng Du Thụy, Ngô Nguyên Dũng, Nguyễn Lê Hồng Hưng, Nguyễn thị Ngọc Diễm, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Phan thị Trọng Tuyến, Trần Kim Vy, Trần Long Hồ, Vũ Nam. Và sau cùng, lớp chào đời trễ nữa, từ 61 trở đi, thì duy nhất, có lẽ chỉ có mỗi một mình... Sĩ Liêm, con của tiểu thuyết gia nổi tiếng Sĩ Trung, mà thôi. Ðồng lứa, đồng thời với Ngọc Khôi và Trần Vũ, hai bầu bạn tâm giao cùng với anh trên đất Pháp.

     Với tôi, Sĩ Liêm đã tỏ ra rất thân tình qua những lần thư từ, điện thoại xuyên Ðại Tây Dương. Và có lẽ vì vậy mà anh giành cho tôi cái nhiệm vụ đề bạt cho đứa con tinh thần đầu đời của anh chăng?

     Tác phẩm Tình Nghĩa Thầy Trò gồm mười truyện ngắn Ví Dầu Tình Bậu Muốn Thôi, Ðau Ðớn Phận Già, Trăng Xế Ðèn Mờ, Giựt Giàn, Thương Nhớ Một Tờ, Xứ Lạ Quê Người, Tình Buồn Câu Vọng Cổ, 425 Quan, Tình Nghĩa Thầy Trò, Con Chim Thời Tiết . Phần lớn các truyện ngắn này đã được đăng tải trên các tạp chí văn học nghệ thuật thuần túy, đứng đắn như Làng Văn, Văn, Văn Học .

     Nếu cho rằng "đọc văn biết người" thì trường hợp Sĩ Liêm cũng đã không thoát ra khỏi thông lệ đó, mà trái lại còn hằn lên đậm nét, vì hầu hết truyện của anh đều có tính chất sống thực giống như tự truyện. Qua tác phẩm Tình Nghĩa Thầy Trò chúng ta thấy anh là một con người chân thật, quả cảm, chưa làm mất gia phả miền Nam (truyện ngắn Giựt Giàn ), giàu sức chịu đựng, luôn luôn chống chọi cùng nghịch cảnh với thái độ canh cánh bên lòng câu: Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả. Lâm nguy bất cứu mạc anh hùng . Và anh cũng đã từng không quên lời thầy dặn, dốc tâm sống theo kiểu: Nghèo cho sạch, rách cho thơm. Trọng nghĩa khinh tài. Sau này có công thành danh toại thì phải khiêm nhường với mọi người chung quanh. Nghe khen đừng nên mừng vội và chê cũng đừng lấy đó làm buồn. Tiền bạc, vật chất là phù du ảo ảnh. Có đó rồi mất đó. Chỉ có cái tình là còn lại... (truyện ngắn Tình Nghĩa Thầy Trò ).

     Với tôi, hình như nhà văn có tầm vóc không thể hình thành trong bóng mát, tháp ngà mà chỉ có thể và phải được un đúc, dày công tôi luyện trong trường đời đầy sóng gió. Trong chiều hướng đó, bằng một vốn sống dồi dào ngay từ thuở nhỏ cộng với một giọng văn trong sáng, gẫy gọn, dí dỏm, dễ đọc dễ hiểu, cũng như những nhận xét tỉ mỉ tinh vi, sự thấu đáo tâm lý nhân vật kẻ trẻ người già, đàn ông lẫn đàn bà, và một bụng ca dao bình dị mộc mạc... Sĩ Liêm đã đưa vào tác phẩm đầu tay của mình một dàn trải sâu rộng về xã hội và bối cảnh lịch sử Việt Nam ở vào cuối thế kỷ. Qua mười truyện ngắn tiêu biểu này, độc giả sẽ buông mình vào cảnh giới êm ả và tâm tình hiền hòa của người miền Nam, để dễ dàng nhận ra sự biến dạng của thế thái nhơn tình, của trò đời bạc bẽo, khi mà con người ta phải sống theo lối giam lỏng trong ngục tù xã hội chủ nghĩa hoặc bắt buộc phải trôi nổi theo kiếp ly hương. Tuy nhiên, chính trong những hoàn cảnh đau thương đó, những đóa hoa tâm cảm của cuộc đời, những cái "chỉ có cái tình là còn lại" đó, mới có dịp nghiệm chứng và đã lặng lẽ, âm thầm, bàng bạc nở ra trong tận cùng bóng đêm tăm tối.

     Cái "tình" đó là gì? Ở đây, theo tôi, có lẽ tác giả đã muốn nói đến nhiều thứ lắm!

     Phải chăng đó là tình nghĩa vợ chồng ? Với sự hy sinh vô bờ bến và lòng thủy chung gắn bó đối với chồng con của người phụ nữ Việt Nam, cho dù người chồng có phản bội mình đến thế nào đi nữa, rằng: Nhưng tánh cô hiền lành không muốn có chuyện rùm beng e thiên hạ chê cười. Cô ráng cắn răng chịu đựng không than phiền, đánh ghen tùm lum tà la, xấu hổ cho chồng con. Cô chỉ còn biết cầu trời khẩn Phật cho cậu Ba Ðực trở về với gia đình... (trong Ví Dầu Tình Bậu Muốn Thôi ). Hoặc qua sự thương yêu, đùm bọc, hủ hỉ có nhau ở cái tuổi tóc bạc da mồi, cô đơn tẻ lạnh nơi xứ tạm dung, vì: Từ ngày di tản sang Tây, xứ người đâu còn như bên nhà, tình lối xóm láng giềng mất hẳn. Ai ở nhà nấy. Lỡ gặp thì gật đầu chào cho có lệ chớ thân thiết gì. Sáng bảnh mắt ra thì mọi người đã đi làm, chẳng ai có thì giờ để ý đến ai. Thậm chí có những người ở cùng một chung cư mà không bao giờ thấy mặt nhau. Ông bà Tám sang đây thấy cảnh tình như vậy mà phát ớn... (trong Xứ Lạ Quê Người ).

     Phải chăng đó là tình cha mẹ con cái ? Ðã không còn nguyên vẹn trong vòng lễ giáo, kính cha hiếu mẹ như ở quê nhà, mà là phải thay đổi, hội nhập, và lắm khi phải chịu đựng nữa trước sự đồng hóa mãnh liệt của nếp sống và văn hóa mới trên quê hương thứ hai, bởi vì: Bà Năm The sống mà tâm hồn như người chết. Bà lại đi ra, đi vào than vắn, than dài. Có cái ti-vi mà bà đâu có bao giờ rớ tới. Bà có hiểu tụi nó nói cái gì ở trỏng đâu nè. Tối ngày bà cứ ôm cái máy cassette nghe toàn là cải lương, hồ quảng. Nghe đã rồi bà khóc, khóc đã rồi bà nghe. Nhiều lúc bà thấy bà giống như một con ở của cô Hai Lượt. Bà nấu cơm cho nó ăn, nó còn chê mặn, chê lạt. Ăn xong nó không thèm dọn xuống phụ, nó xách mông đi lại ghế sa lông nằm dài, nằm ngửa coi ti-vi, mặc cho Bà Năm dọn dẹp, rửa chén. Bà Năm The cũng đâu có thèm phàn nàn. Bà thương con, thấy con làm cực khổ, bà sẵn sàng phụng sự "má chồng" của bà. Cô Hai Lượt thiệt là tệ lậu hết sức. Thấy mẹ mình già cả như vậy, đáng lẽ phải chính tay cô làm mới đúng. Chớ đâu để... Thiệt là hết chỗ nói! (trong Ðau Ðớn Phận Già ).

     Phải chăng đó là tình bằng hữu ? Trong tuổi trẻ vui đùa, thèm làm chuyện "anh hùng tử chớ chí hùng nào tử," để lắm lúc không ngần ngại hy sinh tấm thân ốm yếu của mình cho những bầm dập roi đòn, tại vì: Trong lòng đứa nào cũng dậy cao ngọn sóng tham lam: phải giựt cho bằng được mấy cỗ số lớn nhứt. Ðó là của tao, của riêng tao. Dù bị đạp chết giữa cuộc giựt giàn tao cũng chịu! Chiến thắng và trở thành "anh hùng" hay chiến bại, hóa ra vô dụng, gà chết đều do nơi kết quả của trận chiến giựt giàn sắp nổ ra trong chốc lát nữa đây. Khỏe mạnh, to con như trâu cui, như bò mộng chưa đủ. Gầy yếu mà gan lì, giỏi chịu đựng sự đau đớn dưới hàng tấn thịt người và dám đánh nhau với các tay du đảng, đủ những đặc tánh đó mới trở thành anh hùng. (trong Giựt Giàn ). Hoặc một mình cô đơn nơi gác trọ trên xứ lạ quê xa, gặp lúc kẹt tiền đóng tiền nhà mà không tìm đâu ra bè bạn, để phải lao đao lận đận: Tính tới, tính lui, tính hoài, tính mãi cũng chưa tìm ra biện pháp nào hữu hiệu, an toàn hơn là đi mượn. Nói thiệt đi mượn là một điều đau khổ cho tôi vô cùng. Có thể nói đó là một điều nhục nhã cho tôi thì đúng hơn. Nhưng giờ phút này, đã một tây rồi, ngày mai là bà chủ nhà sẽ gõ cửa phòng tôi cộp cộp. Nếu tôi không thanh toán đúng kỳ hạn, bà sẽ không ngần ngại gì mà mời tôi đi. Không và không, tôi không để cho người Tây họ khi dễ người Việt Nam mướn phòng mà không có tiền trả. Trong hai cái nhục, tôi phải chọn một cái nhục là đi mượn. Mà mượn ai? (trong 425 Quan ).

     Phải chăng đó là tình thầy trò ? Ðể cho thấy một gần gũi, thương mến, thông cảm lẫn nhau giữa thầy và trò như hai người bạn đồng hành tay trong tay trên một đoạn đường khó khăn, khổ ải ở cõi đời này (phảng phất cái hơi hướm buồn buồn kỷ niệm của hai bạn đồng môn trong Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư của Sơn Nam), bằng cái nhập đề buâng khuâng dịu vợi:

     Mấy năm qua, cứ mỗi lần Tết sắp đến, tôi nhận được tấm thiệp Xuân của thầy Năm từ bên Texas gửi qua Pháp cho tôi. Tấm thiệp đặc biệt, do chính tay thầy vẽ. Năm đầu, thầy vẽ một cậu trai mới lớn, khuôn mặt giống như khuôn mặt tôi đang vịn cành mận hồng đào sai trái. Năm thứ hai, thầy vẽ cậu trai đó ngồi vá vỏ xe đạp dưới gốc mận hồng đào. Năm thứ ba, thầy vẽ cậu trai đó xách giỏ mận đi bán. Kèm các hình vẽ luôn luôn là chữ Cung Chúc Tân Xuân tô kim nhũ lóng lánh.

     Năm thứ tư, thầy vẽ cái dĩa đựng bốn trái mận, và thầy ghi trong tấm thiệp: "Cô em và hai em của em đã vượt biển đến trại Songkla, thầy đã bảo lãnh cô em đến Texas rồi."

     Năm nay thầy vẽ cái dĩa đựng tới năm trái mận. Tôi đoán là cô tôi sắp có thêm tí nhau nữa. Quả vậy, thầy cho biết cô đang mang bầu.

     Thầy trò tôi gửi thư cho nhau rất ít, nhưng thư nào cũng dài như một truyện ngắn...
(trong Tình Nghĩa Thầy Trò ).

     Phải chăng đó là tình gia đình thân tộc ? Giữa cậu cháu, bà con xa với nhau, cho dù có xấu xa ghẻ lở đi nữa, chỉ vì một sở thích chung không thể thiếu được: Xuyên qua ánh trăng mờ nhạt, tôi thấy cậu Tờ cắt từng miếng xoài xếp hàng lên dĩa bàn. Cậu một miếng, tôi một miếng. Tiếng xoài tượng vỡ giữa hai hàm răng nghe thật dòn. Vị chua chua cộng với vị mằn mặn, ngọt ngọt, cay cay làm tôi ngây ngất. Vừa nhai vừa hít hà, tôi nghe khẩu vị mình trào dâng một cảm giác đê mê lạ lùng. Thoáng một cái hai cậu cháu đã nuốt gần hết trái xoài tượng lớn bằng cổ chân. Cậu Tờ nhường cái hột cho tôi. Chấm hột xoài vào nước mắm đường đặc kẹo, tôi cạp sạch đến tận vỏ cứng của nó. Cậu Tờ bảo tôi đưa hột xoài cho cậu rồi cậu túm hết vỏ xoài đi thẳng ra ngoài vườn. (trong Thương Nhớ Một Tờ ).

     Phải chăng đó là tình đồng nghiệp ? Chỉ có trong cảnh buôn bán chợ trời của xã hội chủ nghĩa? Tuy nhiên, cho dù khổ cực, gian truân thế nào đi nữa họ vẫn luôn tìm cách đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, nhờ vào món hàng đặc biệt: Từ ngày mua được con chim thời tiết, dân bán chợ trời thoát được cái cảnh trời mưa bất thường. Tôi thường lấy bài "Tương Tư" của Nguyễn Bính mà cảm đề như thế này:

     Chợ trời buôn bắc, bán đông
     Một người ngồi bán ngồi trông mọi người
     Nắng mưa là bệnh của trời
     Con chim thời tiết biết trời nắng mưa.

     Cứ hễ con chim đổi màu hường, tôi tức tốc chạy ra khỏi gian hàng la lớn:

     - Trời sắp mưa bà con ơi! Con chim đổi màu hường rồi!
(trong Con Chim Thời Tiết ).

     Và sau nữa, phải chăng đó là tình yêu trai gái ? Nhất là ở mối tình đầu tiên của một người con gái ngây thơ, chẳng biết đua đòi, sống đơn giản trong con phố nhỏ, bỗng dưng một hôm nọ bị tiếng sét ái tình và đã gửi con tim cho người trai cùng xóm, vì: Nói xong cậu Ba chạy lẹ về nhà. Cô Hai Kim Hoa đứng nhìn theo cười sung sướng. Từ nhỏ tới lớn đây là lần đầu tiên cô bị con trai "dê" nên vui quá chừng, quá đỗi. Ðờn bà con gái cũng kỳ cục lắm! Không ai "dê" thì buồn, mà "dê" thì chửi, chửi đã rồi tiếc hùi hụi. Cô Hai giủ quần áo vừa phơi, vừa mong cho thời gian qua lẹ để ngày mai xem cậu Ba đóng phim. (trong Ví Dầu Tình Bậu Muốn Thôi ). Hoặc là mối tình trẻ thơ trong nỗi cô đơn mang thân đi ở đợ và trong hoàn cảnh xem như côi cút cả mẹ lẫn cha, để: Tôi liền kể cho con Tí (tên con bé ranh mãnh) nghe tự sự, không dấu một điều gì. Cả hai như đã quen nhau từ lâu lắm rồi vậy. Con Tí nghe tôi kể, nước mắt nó cũng rưng rưng. Từ ngày bà tôi chết cháy cho đến bây giờ, chỉ có con Tí là người đầu tiên nhỏ cho tôi những giọt nước mắt thành thật. Từ đó tôi có một người bạn tâm đầu. Hai đứa kết thân với nhau. Con Tí là nguồn an ủi của tôi sau những ngày tháng cơ cực ... Vậy mà rồi sau đó, người bạn trẻ vô phước kia lại chẳng đã đi đến một quyết định chọn cái đau khổ cho riêng mình, là đành phải xa nhau, chỉ vì không muốn một nghịch cảnh của cuộc đời lại phải tái diễn lần thứ hai, thứ ba như số kiếp vay trả trả vay, như luân hồi mãi mãi (trong Trăng Xế Ðèn Mờ ). Và thêm một mối tình ngang trái khác, mặc dầu có cái kết cuộc thật là tang thương vì cả hai cùng chết, nhưng lại thấp thoáng cái hơi hướm buồn buồn kỷ niệm của Sơn Nam trong tuyệt tác giai nhân sao nỡ mắc bệnh nan y Hương Rừng Cà Mau , như ở đoạn dưới đây:

     Anh Tư Du lắc đầu, mặt buồn hiu:

     - Em còn nhỏ em hổng hiểu đâu!

     Thấy anh không muốn nói, tôi cũng không gặng hỏi nữa. Nhưng từ khi chuyển về đây, lúc nào anh cũng trầm ngâm. Anh không rủ tôi hái bần ăn với mắm sống, ớt xanh, cơm nguội nữa. Tối ngày anh cứ ngâm nga ca vọng cổ, toàn là những câu buồn sầu ai oán, nghe muốn đứt ruột, nát gan. Tôi chỉ có nước nhìn anh rồi thở dài thườn thượt.

     Còn chị Hai Búp vì cha mẹ ép uổng, phải lấy ông chủ Ðáo, lớn hơn chị mười sáu tuổi, xấu không ra xấu, đẹp không ra đẹp, nhưng khuôn mặt lầm lì, cách ăn nói phách lối nên xóm giềng đều ghét. Chủ Ðáo giàu có nhờ biết làm áp phe với Mỹ. Ông ta bỏ tiền ra để má chị Hai Búp mua máy xay trái cây và mở quán bán nước sinh tố, và các thứ giải khát khác...
(trong Tình Buồn Câu Vọng Cổ ).

     Xuyên qua những thứ "tình" ơ hờ, còn sót lại đó, chúng ta còn thấy cũng đồng thời với một văn phong miền Nam, nhưng lấp lánh trên toàn bộ tập truyện, Sĩ Liêm đã sử dụng nhiều ngôn từ và một lối diễn tả mới lạ, dễ đi sâu vào cảm xúc, trí nhớ của độc giả. Chẳng hạn như: Bà Năm The đã già cả thể xác lẫn tâm hồn. Nước mắt bà đã tuôn chảy thành giòng nhưng không đủ sức làm ấm lại cái lạnh tẻ buốt giá của xứ người (truyện ngắn Ðau Ðớn Phận Già ). Chẳng hạn như: Thím hà tiện ngay với bản thân mình. Nhà chú thím mà có tòa cao lẫm lớn là do tài bòn tro đãi trấu, vắt chày ra nước của thím Năm (truyện ngắn Trăng Xế Ðèn Mờ ). Chẳng hạn như: Tôi cầm cuốn sách nhét vô lưng quần xà lỏn, nắm tay con Tí kéo ngồi xuống bờ ao. Chiếc lục bình đứng lại ngắm hai tâm hồn trẻ thơ như muốn nói một điều gì, nhưng không nói, rồi lặng lẽ trôi đi (truyện ngắn Trăng Xế Ðèn Mờ ). Chẳng hạn như: vân vân và vân vân.

     Xen kẽ trong đó, có những đoạn tả món ăn phải nói cũng hấp dẫn như Vũ Bằng, Hồ Trường An! Chỉ cần đọc qua ba đoạn tả ăn xoài sống nước mắm đường (tuyện ngắn Thương Nhớ Một Tờ ), ăn bần chua, mắm sống, ớt xanh, cơm nguội (truyện ngắn Tình Buồn Câu Vọng Cổ ) và ăn xôi trét đậu xanh tán nhuyễn, rắc dừa nạo, đậu phọng giả nhỏ, muối mè và đường cát mở gà (truyện ngắn Con Chim Thời Tiết ) là chúng ta đủ thấy cái hương vị, cái thèm thuồng đã làm nước miếng chảy ra đầy miệng.

     Và còn nhiều điều đáng nói nữa trong tập truyện đa dạng này, nhưng xin nhường lại cho độc giả để tự khám phá, thưởng thức lấy! Luôn cả những chỗ đôi lúc hơi vô tình lập ý, hay cường điệu, nói quá, lắm khi không cần thiết!

     Tóm lại, ở Sĩ Liêm, chúng ta đã bắt gặp một vốn sống riêng, một lối dựng truyện riêng, một cách diễn đạt riêng, và một niềm tin riêng nhằm vào những giá trị của cuộc đời phiền toái này, và chính những thứ đó đã giúp anh có một chỗ đứng riêng trên văn đàn.

     Một lời cuối cho Sĩ Liêm, giống như hồi nào tôi nhắn nhủ với Hoàng Du Thụy, rằng, tuy đây là tác phẩm đầu tay nhưng sẽ là tác phẩm để đời của một nhà văn trẻ, vì tác giả của nó đã sáng tác bằng tất cả con tim, bằng với tất cả nhiệt tình của thuở ban đầu thành công rực rỡ khi vừa mới bước chân vào vườn văn muôn màu nghìn sắc.

     Winston-Salem, Hè 1992

   back to top

05. MỜI ÐỌC: TẬP TRUYỆN BÊN NÀY BỨC TƯỜNG BÁ LINH CỦA VŨ NAM

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Sau hai tác phẩm được trình làng là Sau Ngày Tang Bên Dòng Sông Donau do Viên Giác, trung tâm văn hóa xã hội Phật giáo Việt Nam tại Ðức, xuất bản và phát hành, tên tuổi của Vũ Nam đã không còn xa lạ gì với độc giả bốn phương. Trong văn giới cũng vậy, qua các truyện ngắn ấm áp tình người, tình quê hương, tình yêu trai gái đăng rải rác những mười năm qua trên các tạp chí văn học nghệ thuật thuần túy, đứng đắn như Văn, Làng Văn, Văn Học, Sóng, Nắng Mới, Ðộc Lập, Viên Giác ... bút hiệu Vũ Nam cũng đã dần dần trở nên quen thuộc với mọi người.

     Tuy nhiên, một điều đáng nêu lên là không phải Ngô Nguyên Dũng, không phải Thế Giang, cũng không phải bất cứ một người cầm bút nào ở Ðức..., mà thật ra chúng ta có thể nói, chính Vũ Nam mới là người đã ghi lại được nhiều hình ảnh và chi tiết nhất về cái hoạt cảnh xã hội của cộng đồng người Việt tị nạn tại Ðức. Ðáng kể hơn nữa là trong những năm gần đây, với sự sụp đổ của bức tường Bá Linh, biểu tượng một thời của ngăn chia giữa Tự Do và Cộng Sản, đã gây chấn động không riêng gì ở vùng Ðông Âu mà là khắp thế giới năm châu, thì sự ra đời của tác phẩm Bên Này Bức Tường Bá Linh của Vũ Nam đã không những đáp ứng được đòi hỏi về phía người Việt mà còn là một đánh dấu khá rõ nét về bản chất u mê, ù lì, gian xảo của cái tập đoàn hết thời Cộng Sản Việt Nam, đầu dây mối nhợ cho những lầm than, khổ đau, nghèo đói của cả dân tộc trong gần suốt hai thập niên qua.

     Bên Này Bức Tường Bá Linh là tập truyện gồm mười truyện ngắn với truyện đầu tiên cùng tên lấy làm tựa sách và các truyện Bức Thư Nhờ Nhà Báo Chuyển, Bước Trên Thềm Cũ, Những Dòng Sông Chảy Ngược, Ðêm Rồi Cũng Qua, Ðêm Bá Linh, Mùa Xuân Ðến Muộn, Hai Mảnh Ðời Bên Ðây Cánh Rừng, Dưới Rặng Albe , và Người Kỹ Sư Tâm Hồn . Mười truyện ngắn tình cảm, chất chứa thương yêu, có vóc dáng của những đóa hoa hồng vươn lên từ khô cằn sỏi đá, những bất hạnh của cuộc đời.

     Một trong những bất hạnh đó là cuộc sống thê lương, vô vị trong cảnh "gái thiếu trai thừa" của những đứa con trai tị nạn độc thân. Thê lương và vô vị đến độ chỉ khi nào bức tường Bá Linh sụp đổ mới mong có cơ hội được lập gia đình. Vì các cô em đi "lao động xứ người" đã không ngần ngại lánh xa Bác Ðảng và chủ thuyết bần cùng hóa nhân dân, vượt qua những hàng rào ngăn cách để đổ xô tìm đám trai trẻ, đàn ông lấy làm chồng hầu được ở lại với Tự Do. Vậy mà trong thế "lẹ tay còn chậm tay mất" đó bạn vẫn còn tiếc thương cho hoàn cảnh hẩm hiu của bạn:

     Từ lâu, Cương vẫn nghĩ, dù không nói ra, bạn mình vẫn luôn luôn bị cái thương tật ấy nó dày vò, dù anh có tạo cho mình một đời sống lạc quan, không phiền muộn. Nhưng làm sao bạn có thể che đậy, dửng dưng, với cái thương tật ấy trong mỗi giờ khắc đi qua. Bạn như một thân cây hư đứng chen trong đám rừng đầy cây cỏ quanh năm tươi tốt, vì thế bạn phải cố ẩn nhẫn, chịu đựng sự thua thiệt của mình trong yên lặng. Thế nên khi vừa nghe chính từ miệng bạn mình tha thiết nói đến chuyện thương yêu, chàng hơi ngỡ ngàng. (truyện ngắn Bên Này Bức Tường Bá Linh , trang 32)

     Rõ ràng, có sống trong cảnh cô đơn mới thấy chuyện lứa đôi là hạnh phúc, vàng ngọc. Có sống trong thiếu thốn tận cùng mới thấy những cần thiết vụn vặt là quý giá, trân châu. Thử hỏi, có mấy ai nghiệm được cái nghèo khó trong cảnh giàu sang bao giờ? Ðàn bà, cho dù là đĩ điếm đi nữa, vẫn luôn luôn là những hào quang chói lọi trong thế giới con trai độc thân:

     Nàng nhỏ hơn tôi năm bảy tuổi. Tôi quen nàng ở giây phút thật kỳ lạ trong một cái bar. Ðời sống tôi là như vậy đó! Những buổi chiều cuối tuần buồn bã, tôi thường mua vui ở những nơi này! Ngồi xem trên màn ảnh nhỏ những phim "con heo" rẻ tiền, lu câm, cũ mèm, đến độ muốn mờ mắt. Nhưng những khi ấy, chuyện phim không còn là chuyện quan trọng, mà cái quan trọng chính là có một vài tiếng người, hơi người là những người con gái, dù mình xức đầy nước hoa nồng nực vẫn cho tôi cái hơi hướng xác thịt đàn bà, còn hơn là cái mùi máy móc cả tuần trong hãng, hoặc mùi tường vách trong căn phòng tôi cư ngụ. (trích trong Mùa Xuân Ðến Muộn , trang 127)

     Một trong những bất hạnh đó là cảnh ngang trái của tình yêu, em ở nơi này anh ở nơi kia. Rất là thường tình, cái gì đã vuột khỏi tầm tay thì mới gây cho mình niềm nuối tiếc. Có sống trong cảnh xa nhau mới thấy những nhớ nhung, ray rứt, bộc phá của tâm hồn. Nhưng, những dòng chữ sau đây đã không khỏi làm người đọc xúc động, ngậm ngùi:

     Em sợ sệt đối diện mọi người, ngay cả với người thân trong gia đình. Em khép đời mình trong căn phòng độc thân do trại phát. Em chỉ ra ngoài khi cần đi mua sắm, đi bác sĩ hoặc đi vòng vòng quanh trại những trưa hè nóng nực hoặc khi chiều xuống. Những buổi như thế, bà con trong trại thường ùa ra ngồi trên cỏ, dưới bóng mát của những tàn cây lớn, nướng thịt, chuyện trò, ăn uống... Riêng em một mình lủi thủi gần hàng rào. Ở đó em sẽ nhìn ngắm cái khung cảnh bao la vắng vẻ của đồng ruộng, ánh nắng rải trên những đám bắp, trên những đóa hoa mặt trời vàng rực. Trời cao, xanh thăm thẳm, vài đám mây trắng mỏng trôi lặng lẽ... Cảnh vật nơi đây vẫn vậy, hết đông sang hè, chỉ có lòng em thay đổi với khổ não muôn trùng. (truyện Bức Thư Nhờ Nhà Báo Chuyển , trang 48)

     Hoặc ngược dòng thời gian, trở về một nơi chốn xa xưa, khi người yêu của mình là lính trận tiền đồn, để thấy lòng người đang yêu luôn mỏi mòn bâng khuâng bên hình bóng cũ:

     Qua những lời thư của anh tôi càng thấm thía cho cuộc đời của những người lính, vì thế lòng tôi càng dâng lên niềm thương mến anh đậm đà. Tôi đã yêu anh, tôi nghĩ rằng cả đời tôi không thể rời gương mặt anh đang chập chờn trong trí não. Tình anh đối với tôi như đã ăn sâu vào ký ức, như những viên kẹo ngọt ngào trong tấm giấy thời gian, chỉ cần bóc giở tấm giấy thời gian ấy ra, tôi sẽ tìm thấy ngay cái ngọt ngào của viên kẹo kỷ niệm tuổi thơ ngày trước. (trong Những Dòng Sông Chảy Ngược , trang 84)

     Hoặc hồi tưởng lại trong cảnh tiễn đưa, kẻ ở người đi:

     Gần một tháng sau, kể từ ngày tiễn Trang lên phi cơ về Việt Nam, đây là lần đầu tiên Thiết nhận được thư này. Nét chữ rất đẹp viết trên khổ giấy học trò màu ngà. Chàng cứ ngỡ là sẽ không bao giờ nhận được thư Trang, vì thời gian qua đã lâu, bỗng đâu lại nhận được. Tâm thần chàng lại thấy sảng khoái, như mặt đất khô cằn nứt nẻ trong hè, giờ liền lạc lại sau những cơn mưa. (truyện ngắn Ðêm Bá Linh , trang 115)

     Một trong những cảnh bất hạnh đó là sự lỡ làng duyên phận. Của biết bao nhiêu người vợ hiền, trên đường vượt biển, đã không còn thấy mặt chồng khi đến bến. Bỗng dưng trở thành son giá, góa bụa một đời vì bọn hải tặc Thái Lan dạ thú hình người. Cái giá phải trả cho Tự Do đôi khi quá đắc, vậy mà cũng không ngăn cản được hằng trăm ngàn, hàng triệu người bỏ xứ ra đi chỉ vì không ngửi nổi mùi thiên đường Cộng Sản... Rồi với liều thuốc thời gian nhiệm mầu, lòng người lắm lúc cũng lắng đọng, nguôi ngoai:

     Nhưng dần dà, cứ lâu lâu gặp gỡ, cứ bạn bè lại nói ra nói vào, cứ gặp những cử chỉ ân cần và những lời thăm hỏi chân tình của Hào, rồi nàng cũng thấy lòng xao xuyến thật. Nỗi xao xuyến như cánh hoa căng nở trước cánh bướm đẹp. Sự thật, khi nàng còn sống bằng nhịp thở, bằng con tim; khi máu vẫn còn lưu thông trong cơ thể thì nàng vẫn còn cảm nhận được những cay đắng, ngọt bùi trong cuộc đời. Ðể rồi từ từ, mỗi ngày, cái xúc động càng tăng tiến mỗi khi gặp Hào; rồi dần dần cũng thèm muốn một vòng tay đàn ông ôm ấp, chở che, nhất là những ngày cuối tuần yên vắng, những chiều hôm khi trời đổ tuyết bên ngoài. Thời gian cứ qua, hình bóng chồng càng ngày càng mờ phai, thì hình bóng Hào ngược lại càng ngày càng hiện rõ, rõ đến nỗi như Hào đã hòa nhập vào hình bóng chồng nàng, và che nó mờ khuất. (trích trong Ðêm Rồi Cũng Qua , trang 94)

     Cùng không thiếu hình ảnh các cô giáo làng đã âm thầm sống trong cảnh "tựa bóng trông chồng" đằng đẵng bao năm, để rồi lần hồi dòng đời lặng lẽ trôi qua, thêm một lần nữa chuyển mình trong ngang trái, trớ trêu:

     Rồi chàng lại sợ cha mẹ chàng sẽ buồn, khi hay tin chàng đang theo đuổi một cô gái đã có chồng là lính chết trận. Nên cái yêu thương Liễu chỉ ầm ĩ trong lòng chàng, chớ chàng chưa dám tiết lộ với ai. Những ngày sau đó khi đi dạy, những lúc phải gặp Liễu, Tùng hay giả đò làm những động tác và nói những câu nói thừa thãi, để khỏa lấp cái tiếng lòng chàng đã thúc giục bên trong, khi đối diện với nàng. Chàng vẫn phải cứ tiếp tục đóng kịch là một người đồng nghiệp gương mẫu trước người bạn gái góa chồng. Nhưng thực ra thì Liễu đã biết và để ý đến việc đó rồi. Nàng cũng thấy lòng lâng lâng, cái xúc động thật nhẹ nhàng. Mỗi khi gặp Tùng, lòng nàng rung động như giọt sương lung linh trong ánh nắng. (truyện Người Kỹ Sư Tâm Hồn , trang 181-182)

     Và những bất hạnh ấy còn nhiều, bàng bạc trong toàn bộ tác phẩm. Như cảnh mang bầu rồi phá thai vì sợ cán bộ gởi trả về Việt Nam của những thiếu nữ bắt buộc phải đi truyền bá khẩu hiệu "lao động là vinh quang" nơi xứ lạ quê người. Như cảnh chui rúc trong những căn nhà tị nạn xập xệ, cũ mục, không đủ ấm dưới băng giá mùa đông mà các cơ quan thiện nguyện đã cấp cho. Như vân vân và vân vân...

     Tóm lại không cần phải nói nhiều, qua những dòng chữ nên thơ êm đềm, tuy đôi lúc có hơi u buồn rời rã, vừa trích dẫn như trên, một lần nữa chúng ta có thể xác nhận rằng, thế giới văn chương của Vũ Nam là thế giới của tình yêu trong nghịch cảnh. Những nghịch cảnh xem ra vời vợi, lung linh như những cánh hoa tơi tã trong mùa tuyết rơi. Những nét chấm phá đẹp đẽ của cuộc đời có pha trộn ít nhiều tính chất thương đau cho thân phận con người.

     Trong thân phận ấy, qua Vũ Nam, chúng ta còn biết thêm rằng những người đi làm lao công ở xứ ngoài không phải là những người nghèo khổ, mà phần lớn chính ra là con cháu của những kẻ đã có "hồng hơn chuyên" trong quá khứ:

     Du đến Tiệp Khắc làm việc không phải vì nàng là một công nhân viên hay cán bộ nhà nước xuất sắc; không phải con của "anh hùng liệt sĩ"; cũng không phải là người đã từng tham gia cách mạng. Nàng được đi đến Tiệp Khắc làm việc chỉ vì trước năm 75 cha nàng là một người nằm vùng cho Việt cộng. Cái tinh thần cách mạng từ trước ấy cứ dây mơ rễ má kéo dài mãi cho đến sau này. Và ba nàng cũng vì có cái lý lịch cách mạng ấy mà đã "mè nheo" ở Ủy Ban Nhân Dân huyện để cho nàng đi Tiệp lao động. (trong Dưới Rặng Albe , trang 165)

     Ðể rồi, tiếp theo đó, mới có những cảnh vượt biên đường bộ trên xứ người giữa biên giới Tiệp Khắc và Ðông Ðức với Tây Ðức:

     Những con đường mòn hiện trên bản đồ giữa đám rừng, là những đường dài màu trắng đan chéo nhau. Nhưng vì Quang một phần đã để ý trước khi đi, một phần vì nhìn theo ánh mặt trời, nên cuộc vượt biên bằng đường rừng cũng không vất vả lắm. Từ Tiệp qua Tây Ðức, thì rừng thật vắng và lạnh đến rợn người. Nhờ mùa hè, mặt trời lên sớm, nên cảnh rừng đã sớm tràn trề sinh khí, ánh mặt trời len qua những ngọn cây như những hỏa châu đêm chiếu sáng, tạo thêm cái vui cho hai người. Ði đến đâu mệt thì ngồi nghỉ, uống nước, rồi tiếp tục đi. Khi đã qua mười hai giờ trưa thì trong đường rừng đang đi bỗng đâu nghe tiếng xe hơi từ xa chạy lại. Lẹ làng, Quang đã nắm tay Sương kéo vội vàng núp vào ở bên lề đường. Xe chạy qua, hai người nhìn theo thì ôi, còn gì vui mừng bằng! Chiếc xe mới toanh mang bảng hiệu Tây Ðức. (truyện Hai Mảnh Ðời Bên Ðây Cánh Rừng , trang 153)

     Và ở Vũ Nam, cũng không thiếu một tấm từ tâm. Hãy nghe anh gói trọn tâm tình mình về một cảnh chùa ở quê hương khuất lấp:

     Hình ảnh các bậc thang đá từ dưới chân núi để đi lên các ngôi chùa màu xám bóng, bị mài nhẵn dưới bước chân phật tử, khách thập phương, vẫn còn lộng đầy trong đầu chàng. Những cọng cỏ xanh non xen trong những kẽ đá, đội trên đầu long lanh những giọt sương đêm, chỉ cần một sự đụng chạm nhỏ bởi các bước chân cũng có thể rơi xuống thấm lả tả trên các phiến đá. Những con cuốn chiếu màu nâu bóng bò ngang qua các bậc tam cấp để đi, khi đụng chạm vội cuốn vào y hệt như một tấm thảm tròn màu nâu nho nhỏ, được dệt với những đường nét màu trắng ngà. Thường thì hai bên lối đi những loại hoa rừng vươn lên trên những cánh lá, cho một ít hương thơm. Thỉnh thoảng một vài cây mai nở muộn với cành nhánh thật thanh thật dịu... (truyện ngắn Bước Trên Thềm Cũ , trang 60-61)

     Sau cùng, để kết luận, lại thêm một nhận xét có phần chủ quan, là mặc dù thỉnh thoảng có vài chỗ hơi rối rấm, luộm thuộm tuồng như tác giả viết vội vàng và không có thì giờ kịp sửa chữa, nhưng Bên Này Bức Tường Bá Linh , với giá trị lịch sử của nó, rồi sẽ là một trong những tác phẩm để đời của Vũ Nam. Winston-Salem, Hè 1993

   back to top

06. MỜI ÐỌC: TẬP TRUYỆN SAU CUỘC ÐỔI ÐỜI CỦA DƯƠNG TIẾN ÐÌNH

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Sau những lần đề bạt cho Hoàng Du Thụy, Hồ Trường An, Luân Hoán, Sĩ Liêm, Vũ Nam..., lâu lắm rồi tôi không có cơ hội đọc bản thảo và viết lời giới thiệu cho một tác phẩm đầu tay nào. Một dấu hiệu cho thấy sự mệt mỏi của thế hệ trẻ đang cầm bút ở hải ngoại? Rất có thể, với đà sáng tác tuột dốc và mức in ấn chìm lỉm như hiện nay!

     Tuy nhiên, bên cạnh những ngôi sao đang từ từ lu mờ thì cũng có những ngôi sao đang lóe lên bóng sắc. Và đây là trường hợp của anh bạn tôi, nhà văn Dương Tiến Ðình. Anh xuất hiện trên văn đàn kể ra cũng đã lâu, từ năm 1985, nhưng vì không có cộng tác với các tạp chí tạm gọi là văn học nghệ thuật thuần túy như Văn của Mai Thảo, Văn Học của Nguyễn Mộng Giác, Làng Văn của Nguyên Hương & Nguyễn Hữu Nghĩa, Thế Kỷ 21 của Ðỗ Ngọc Yến..., nên ít người để ý, biết tới.

     Lúc anh có nhã ý nhờ tôi đề tựa cho tập truyện đầu tay, tôi có hơi ngạc nhiên. Vì anh là dân Huế, chẳng lẽ không quen biết gì với những Võ Ðình, Túy Hồng, Ðiệp Mỹ Linh, Nguyễn thị Hoàng Bắc, Hoàng Xuân Sơn, Hồ Ðình Nghiêm... Well, có lẽ bà con xa không bằng láng giềng gần! Và cũng may là trong thời gian quân ngũ, tôi lại được đi và sống nhiều ở miền Trung nên tôi mới dám nhận! Trong thư đề ngày 9 tháng 10, 1996 anh có vài dòng vắn tắt với tôi... "như đã trình bày với anh trên điện thoại, hôm nay tôi xin gửi đến anh tập bản thảo Sau Cuộc Ðổi Ðời , mong anh viết cho tôi cái tựa càng sớm càng tốt để in cho kịp trong năm nay..." Thế là tôi, mặc dù rất bận bịu với đủ thứ văn thơ nhạc họa, cũng phải bắt tay vào việc đọc và viết cho bạn bè!

     Tập truyện Sau Cuộc Ðổi Ðời gồm 12 truyện ngắn mang tựa đề Anh Sáu Hồ Hỡi, Bò Cải Tạo, Ngây Thơ, Miếu Linh Ông, Vượt Biển, Gái Nào Là Gái Chẳng Ghen, Ðiếm Chảy, Tiếng Chuông Ngân Ðêm Thánh Vô Cùng, Ghép "Form", Ðổi Ðời, Tỉnh Mộng Bà Chủ Tịch Mất Tích Ðêm Giáng Sinh , hầu hết đều viết về đề tài... chuyện dài xã hội chủ nghĩa sau 75. Ðại cương, cũng giống giống như những mẩu truyện ngắn chống Cộng của đông Ðiền, Võ Kỳ Ðiền, tây Ngạn, Nguyễn Ngọc Ngạn, một thời nào trên báo Làng Văn .

     Tôi đọc tập truyện suốt một lèo không phải vì chịu khó hay nể bạn mà là vì sự hấp dẫn, lôi cuốn của tác phẩm. Rất có thể đây chỉ là trường hợp của riêng tôi vì tôi không ở lại sau 75, không đi tù cải tạo nên có nhu cầu tìm hiểu, học hỏi! Nhưng với giọng văn gãy gọn trong sáng, không cầu kỳ rắc rối, dễ đọc dễ hiểu, cộng thêm phần dí dỏm..., bảo đảm, người đọc không bị nhàm chán.

     Nhìn chung, giọng văn của anh có âm hưởng của giọng văn miền Nam. Có lẽ vì anh đã sống nhiều ở Sài Gòn, trong tuổi trưởng thành, hơn là ở thành phố Huế, với tuổi học trò nội trú, bị cấm cung. Ngoài những đối thoại có tính cách địa phương "mô tê răng rứa," đậm nét trong truyện Miếu Linh Ông , rải rác khắp tập truyện anh sử dụng những từ ngữ bình dân của miền Nam, như "biểu ", "lấn cấn," "cười giả lả," "cắc ca cắc củm," "buồn rười rượi,"... xem ra rất nhuần nhuyễn.

     Thứ đến, cũng là một điểm ảnh hưởng bởi văn chương miền Nam, là truyện của anh viết đều... có hậu. Ân đền oán trả, trời cao có mắt. Con người càng điêu ngoa, gian ác bao nhiêu thì sẽ nhận lãnh những nghiệp quả càng ê chề, đau đớn, dở khóc dở cười... do chính họ tạo ra bấy nhiêu. Ðọc những truyện có hậu, mặc dầu truyện của Dương Tiến Ðình đôi khi có nhiều chỗ quá ư... "cay đắng mùi đời," xin lỗi nhà văn Hồ Biểu Chánh, nhưng cuối cùng rồi người đọc sẽ cảm thấy tâm hồn mình thoải mái, dễ chịu hơn.

     Tiếp theo, truyện của anh viết là... truyện có cốt chuyện đàng hoàng. Rất sống thật, rất gần gũi. Không mấy bịa đặt, thêm bớt. Ðiều này chứng tỏ Dương Tiến Ðình có nhiều vốn sống và, nhờ vậy, đã dàn trải tâm tình mình trên trang giấy một cách dễ dàng, linh động hơn. Gần như mỗi truyện là một ngụ ngôn cho các "đỉnh cao trí tuệ loài người," một thiên bi ký sự của cái "xã hội từ người xuống vượn," xin lỗi nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam.

     Ngoài ra, đi sâu vào chi tiết, anh còn có biệt tài tả nhân vật và tâm lý nhân vật. Rất có hồn, chẳng hạn như đoạn sau đây:

     Anh Sáu có cái biệt danh là "Sáu Hồ Hỡi." Trong trại nầy tiếng tăm anh đã nổi như cồn. Anh là người chững chạc, thẳng thắn, cởi mở và luôn luôn lạc quan. Chưa bao giờ thấy anh Sáu buồn rầu lo lắng. Anh quan niệm chính nghĩa là lẽ tất thắng. Anh thường mang niềm tin và hy vọng đến cho người chung quanh, cho nên khi thấy ai đau khổ, anh liền tìm cách an ủi vỗ về. Trong khi mọi người tuyệt vọng, chán nản thì anh vẫn tin tưởng vào ngày mai tươi sáng. Anh tổng hợp, phân tích một cách sắc bén tình hình quốc tế, quốc nội với lập trường vững chắc. Anh không bao giờ buộc tội Mỹ bỏ rơi chúng ta. Anh nói đấy chỉ là một chiến lược giai đoạn, "bất chiến tự nhiên thành" bằng cách dùng "miếng thịt bò tẩm thuốc độc để tiêu diệt con cọp hung tàn." Anh Sáu ví miền Nam như miếng thịt bò, miền Bắc nói riêng và Cộng Sản nói chung là con cọp... (trong truyện Anh Sáu Hồ Hỡi ).

     Anh còn có khả năng, không phải "nhân" mà là "vật cách hóa," biến đám tù cải tạo thành... bầy bò, đồng thời tạo nên những cái vô lý, bất ngờ rất lý thú. Như đoạn này của... bò Y-Bun:

     "Tui đâu phải là Fulro. Rồi họ đánh đau quá, tui phải nhận là lính Fulro. Rồi họ cũng chẳng chịu, đánh thêm, tui phải nhận là Trung sĩ Fulro. Họ cũng chẳng chịu, đánh nữa, tui phải nhận là Thiếu úy Fulro. Họ cũng chưa chịu, đánh mãi, tui phải nhận là Thiếu tá Fulro. Lúc đó họ mới thôi đánh. Mà thiệt tình tui có biết Fulro là cái gì đâu? Họ đánh càng đau thì tui càng nhận thêm cho họ đừng đánh nữa." (trong truyện Bò Cải Tạo ).

     Và, thêm vào đó, anh diễn tả tâm tình của một kẻ đi xa vừa trở lại quê nhà cũng rất là thấm thiết tình người. Không kém phần ngậm ngùi, man mác như sau:

     Máy vừa nổ, đò được đẩy lui rồi từ từ rời bến. Tôi nhìn lại từng hòn đá, ụ đất, từng lùm cây, mái nhà và từng cánh đồng lúa ngô chạy dọc theo giòng sông đâm ra biển. Tôi cố quay về với kỷ niệm. Ðây là bến Ðình, nơi hò hẹn đầu tiên với người tình bé bỏng lúc còn cắp sách đến lớp, kia là nóc giáo đường cổ kính, mẹ tôi thường đứng nhìn tôi rơm rớm nước mắt đi qua chuyến đò Sình đến trường nội trú Tiểu học theo niên học mới. Chẳng có gì thay đổi cả. Mấy ngàn năm cảnh vật vẫn như vậy, nhưng sao con người chóng đổi thay, đến nỗi những đồng hương ngồi trên đò chẳng nhận được ra tôi, và chính tôi cũng chẳng còn nhận ra tôi nữa là!" (trong truyện Miếu Linh Ông ).

     Vì không muốn làm chuyện tóm lượt cốt chuyện từng truyện một giúp độc giả, nên tôi chỉ nêu lên những điểm son chung, thấp thoáng trong toàn tập, và trích ra một vài đoạn tiêu biểu như trên, để mời bạn đọc thẩm định, thưởng thức sơ qua. Phần còn lại, lớn lao và đầy đủ hơn, xin dành cho những khám phá riêng tư của từng người.

     Thêm một điều nữa tôi muốn nêu ra là, mặc dù đây là tác phẩm đầu tay, nhưng rất tròn đầy, không có nhiều khuyết điểm và điều này chứng tỏ tác giả đã nắm vững phần kỹ thuật.

     Sau hết, tôi có lời cám ơn anh đã vẽ lên, đã cho tôi thấy rõ hơn... cái xã hội chủ nghĩa quá ư là tồi tệ, bi đát, thống khổ với những nghịch lý lắm khi không thể tưởng tượng được của nó. Rất mong chủ nghĩa và chế độ ngoại lai này sẽ sụp đổ trong một sớm một chiều để mọi người còn tìm lại những giá trị nhân bản mà tự mình bắt buộc phải đánh mất để sống còn trong thời gian qua.

     Với riêng nhà văn Dương Tiến Ðình, tôi có lời chúc anh bền lòng với chữ nghĩa văn chương để tiến triển và thành công hơn nữa trong những tác phẩm sắp tới.

     Naperville, IL, ngày 14 tháng 10 năm 1996

   back to top

07. KỶ NIỆM VỚI "SƯ PHỤ"*

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Liên tiếp mấy ngày sau khi hay tin ông Mai Thảo mất, tôi gọi điện thoại nhiều lần cho anh Nguyễn Xuân Hoàng mà không gặp. Rồi đến lúc gặp, khi cô thơ ký trao phone, tôi liền vọt miệng:

     - Ậy, anh Nguyễn Xuân Hoàng phải hôn? Muốn gặp anh khó quá mà...

     - Dạ dạ..., thưa ông... ông cần điều chi ạ...

     Tôi cười:

     - Nguyễn Tấn Hưng đây, anh không nhận ra tiếng thằng em à?

     Anh nói:

     - Ủa, Hưng hả? Mấy ngày qua anh bận quá Hưng ơi. Một chút nữa đây anh phải chạy ra nhà quàn. Bây giờ các anh em văn nghệ sĩ coi anh như con thừa tự, anh phải phò săng, đọc điếu văn...

     Tôi ngắt ngang:

     - Vậy chớ anh xem còn ai có thể thế chỗ cho anh được đây? Anyway , định gọi anh xem bên đó có làm cái gì chung chung cho mình ké hay không, nhưng trễ quá, tụi này đã gọi FTD gởi hoa cúng riêng tiễn đưa "sư phụ" rồi. Anh biết đó, ở hải ngoại này ông Mai Thảo viết cho tựa sách đầu tay có mấy người thôi. Hình như Nguyễn thị Ngọc Nhung với Ðêm Rồi Cũng Ði Qua , Nguyễn thị Thanh Bình với Ở Ðời Sống Này , rồi mình với Một Ðời Ðể Học và Nguyễn thị Long An với Bên Sông Vàm Cỏ ...

     Chẳng biết anh Hoàng có để tâm vào câu chuyện tôi đang kể hay không, hay là đầu óc còn vẩn vơ ở nhà quàn, mà tôi nghe anh cứ "Vậy sao, vậy sao..." Tôi tiếp tục tả oán:

     - Chớ anh không theo dõi, đọc báo gì hết à? Tụi này còn gọi ổng là "sư phụ," không những ở ngoài đời mà trong bài viết nữa...

     Như chợt nhớ ra điều gì, anh Hoàng cắt:

     - Hưng ơi..., viết gấp một bài cho ông Mai Thảo đi. Mình dự trù số Văn tới sẽ là số đặc biệt cho ổng...

     Tôi đáp ngay:

     - Biết viết gì bây giờ? Mấy anh lớn sống nhiều với ổng, kỷ niệm nhiều với ổng thì nên viết chớ thằng em thì chỉ qua lại sơ sài thôi. Ối, mà bạn bè trang lứa, cùng thời với ổng thiếu gì... anh sao khéo lo...

     Anh Hoàng góp ý:

     - Thì những người đi trước viết về ổng hổng thiếu gì nên cần có những bài viết của những người đi sau. Viết lẹ lên đi nghen, trong vòng một hai tuần thôi đó...

     Lúc cúp phone tôi ngẫm nghĩ lại anh Hoàng nói đúng... Bài của những người đi sau viết cho ông Mai Thảo chắc không nhiều. Tôi là một trong những "đại đệ tử" ( wow! ) của ổng mà không viết thì ai viết đây? Thanh Bình đã có bài, đã rất trang trọng bàn đến Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Ðền , còn tôi thì rải rác đó đây trong các bài ký sự văn học về các chuyến du hành qua Cali, đều có bóng dáng "sư phụ," nhưng chưa có một bài viết riêng. Thôi thì lần này, nên ngồi lại vậy...

     Có thể nói trong thập niên 85-95, những tờ báo văn học nghệ thuật thuần túy được nhiều người cộng tác, nhiều người biết đến phải kể là Văn của Mai Thảo, Làng Văn của Nguyên Hương - Nguyễn Hữu Nghĩa, Văn Học của Nguyễn Mộng Giác, Thế Kỷ 21 của Ðỗ Ngọc Yến... Những người cầm bút khởi viết ở hải ngoại thường theo dõi các bạn văn cùng thời và hay kháu nhau rằng... cô ấy, bà ấy, ông ấy, bạn ấy... "xuất thân" từ "lò" nào vậy? Nhằm vào sự đăng bài đầu tiên hoặc giả được giới thiệu là người viết mới của mấy tờ báo kể trên. Và với riêng tôi, tôi vẫn hãnh diện là mình xuất thân từ lò Văn , rồi mới viết lần sang Làng Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21 ..., đại khái như vậy. Cũng theo thứ tự này, tờ Văn , do công của ông Mai Thảo, là tờ dẫn đầu về việc khám phá và giới thiệu các cây bút mới, những tài năng mới. Bây giờ ai đó rảnh rang chịu khó làm một thống kê nhỏ thì chắc... vui lắm!

     Mà thật sự, nếu đi ngược thời gian xa hơn một chút, thì từ khuya tôi đã nằm trong lò Văn rồi. Vì tôi có bài đăng trên Văn trước năm 75, khoảng 70-71 gì đó. Truyện ngắn Những Ngày... , viết về cái chết trận của ông anh, Phục vị vọng Nguyễn văn Tân chánh vị thần chủ, tử ư sơ bát nhật ngũ ngoạt, Mậu Thân niên ... Số là do bà chị tôi mê đọc Văn , mua Văn trọn bộ, và tôi đọc ké. Từ đọc ké sang viết ké (chưa dám viết thiệt đâu) cũng gần. Cho nên lúc bắt gặp Văn tục bản ở hải ngoại, vì tình cờ bước vào một tiệm sách ở Washington D. C., tôi mừng quá trời.

     Nhưng ngay ở bước đầu, tôi định... ngưng bút, không viết nữa. Tôi gom góp bản thảo của những gì tôi viết trước 75, mà may phước hồi chạy loạn bà xã tôi có mang theo, gởi cho ông Mai Thảo và hỏi ổng tôi muốn in thành sách để kỷ niệm thì tôi phải làm sao? Rồi mặc dù chẳng biết mặt, chẳng nghe tên nhưng có lẽ thấy tôi là người cũ của Văn nên ổng viết thư thân tình trả lời, rằng thì là, đại khái... "bao nhiêu đó chưa đủ cho một cuốn sách mỏng, nên viết tiếp thì hay hơn..."

     Tôi cũng làm ngơ, dửng dưng, vì biết viết gì nữa đây? Trong khi công ăn việc làm, vợ con nheo nhóc, đầu tắt mặt tối? Tuy nhiên, bỗng một hôm tôi thấy ổng đăng truyện ngắn Dòng Sông Của Tùng trích trong tập bản thảo đó. Ðể rồi tình cờ ngồi đọc lại sáng tác của mình sau mười mấy năm, tôi nghiệm ra... ừa, mình viết cũng được quá mà, nhưng chẳng gặp thời nên không lên nổi (mèo khen mèo dài đuôi)! Thật sự, cũng chẳng dễ gì lên ở Việt Nam nếu không có ai dẫn dắt, đỡ đầu! Hừm, biết đâu gặp thời thế thế thời phải thế! Cái số tôi tuồng như phải chạy ra xứ người làm lại cuộc đời, làm lại sự nghiệp văn chương hay sao ấy!

     Thế là tôi bắt đầu viết! Viết lại! Khởi đầu từ thời đi học của mình! Sơ học lên tiểu học, trung học, đại học, sĩ quan hải quân, sĩ quan tình báo..., rồi chạy qua Mỹ học tiếp ban cán sự, cử nhơn, cao học, v.v.... Nói nào ngay, không hẳn là chuyện học hành thi cử mà là chuyện gì lớn lao, hằn sâu trong ký ức ở thời điểm đó, giai đoạn đó mà thôi. Chỉ những người nào tự tôn tự đại, tự hào mình là thiên tài thì họ mới dừng lại, chớ những ai đó chịu khó tìm tòi, học hỏi thì sẽ tiến mãi, tôi quan niệm như vậy.

     Và không ngờ lại thành công, ông Mai Thảo đăng dài dài hết chương này qua chương khác. Không mấy chốc tôi hoàn thành tập truyện dài đầu tay Một Ðời Ðể Học . Sở dĩ tôi gọi là tập truyện dài vì mỗi chương là một truyện ngắn độc lập hoàn toàn muốn ngắt ra đem đi đăng báo nào cũng được. Nhưng chương này tiếp chương kia vì cùng những nhân vật và xảy ra liên tục theo thứ tự thời gian. Sau này, tôi viết trường thiên cũng theo lối... nhiều tập truyện dài kết lại. Giờ nhìn lại quá trình sáng tác của mình, ngoài việc tôi dám đặt bút làm thơ viết nhạc từ hồi trung học, những gì tôi có được ngày hôm nay sẽ không có nếu vợ tôi không đem theo xấp bản thảo, và ông Mai Thảo không nâng đỡ, khuyến khích.

     Dạo đó hình như các hãng VN Lab, VNI chưa thành lập nhưng tôi đã nghiên cứu, sáng chế ra cách đánh máy và làm typesetting chữ Việt, có đăng mấy bài trên báo Văn Học . Thành thử chuyện in tác phẩm ra giấy trắng mực đối với tôi không có gì trở ngại cả. Tôi in ra một bổn trước gởi cho ông Mai Thảo nhờ viết tựa vì dầu sao Văn đã đăng gần hết. Và ông Mai Thảo nhận lời ngay. Tôi cũng in thêm một bổn khác gởi qua Làng Văn để thương lượng giá cả. Khi hai bên đồng ý thì chờ cả tháng không thấy cái tựa của ông Mai Thảo. Nguyễn Hữu Nghĩa bày kế:

     - Ông gởi cho ổng một cặp rượu là ổng viết liền hà...

     Trời đất, tôi nghe nói ổng thích uống rượu nhưng đâu biết ổng "cần" rượu đến độ như vậy. Gì chớ một cặp rượu đi lễ thì dễ dàng quá mà. Và, thiệt tình, khi có rượu vô rồi ổng ngoái lẹ lắm và còn gởi bài viết cho tôi next-day express-mail nữa (hết nửa chai rượu rồi). Kể cũng vui...

     Bây giờ ai nói tôi thiếu tự tin, viết xong tác phẩm đầu tay phải tìm người viết tựa cho chắc ăn, thì tôi xin chịu. Song, được một nhà văn lớn như ông Mai Thảo, người đã từng ảnh hưởng trực tiếp cho rất nhiều người đi sau, viết tựa giới thiệu là một hãnh diện chớ chẳng phải chơi. Một "cầu chứng tại tòa," theo tôi, nữa là đằng khác. Vì sau này, qua kinh nghiệm bản thân trong vấn đề viết bạt viết tựa cho những người đi sau, tôi cũng đã năm ba bận từ chối khéo. Cỡ như ông Mai Thảo, Võ Phiến... thì các bậc tiền bối này đã từ chối khéo biết bao nhiêu người rồi... Thành thử, ngoài chuyện quen biết thân tình, viết tựa hay không viết tựa phần lớn là do... chính tác phẩm đó có giá trị hay không. Chẳng ai ngu dại gì mà viết tựa, đề bạt cho một tác phẩm dưới trung bình.

     Có điều, không biết mấy "đồ đệ" kia nghĩ như thế nào về những lời ông Mai Thảo viết cho mình, với riêng tôi thì sau này Bùi Bảo Trúc, Võ Ðình, Lê Nhật Thăng, Phạm Thăng... khi giới thiệu tác phẩm của tôi, đều trích những lời vàng ngọc của ổng. Và, lẽ tất nhiên, còn là lời chỉ dạy, khuyên bảo mà suốt đời tôi cần phải noi theo gìn giữ nữa. Chẳng hạn như:

     ... Mặc dầu đã mười mấy năm trôi dạt, một trôi dạt rất dễ dàng đẩy vào thất lạc, mặc dầu Việt Nam đã nghìn dặm, quê nhà đã nghìn trùng, bàn viết Nguyễn Tấn Hưng, giữa thổ ngơi lữ thứ xa lạ, vẫn đặt được vào đúng hướng đúng tầm với giống nòi và đất nước ở xa. Không bao giờ tôi xa, chẳng bao giờ tôi quên, chẳng bao giờ tôi khác. Thế giới có nghìn biển nghìn trời nhưng tôi chỉ có và chỉ sống với một trời một biển.

     ... Ðể chứng về cái bến đậu một đời không rời bỏ của Nguyễn Tấn Hưng, với một bàn viết dựng ở đâu thì cũng là phần đất quê hương, với một hướng viết hướng tới hướng nào thì cũng từ một tâm thể Việt Nam mà viết.


     Thì cho đến giờ phút này tôi đã cố giữ gìn, nên "vẫn đặt được vào đúng hướng đúng tầm với giống nòi và đất nước ở xa" và lúc nào "cũng từ một tâm thể Việt Nam mà viết."

     Well , những điều nêu trên là thuộc thế giới văn chương. Còn ở ngoài đời thì bà xã tôi và tôi có dịp đến thăm "sư phụ" hai lần. Lần thứ nhứt, khoảng hè 1991, khi ổng còn ở trên lầu. Có gặp anh Ðỗ Quý Toàn rồi thầy trò cùng nhau ra quán Song Long ăn nhậu, tán gẫu. Giai đoạn này tôi đã viết nhiều trong bài ký sự Tây Du Ký, Ðoạn Kết giờ không kể lại làm chi. Lần thứ hai, khoảng hè 1996, khi ổng dọn xuống đất. Có gặp anh Ðỗ Ðình Tuân. Lúc này "sư phụ" yếu quá như da bọc xương, ngồi một chỗ, lưng dựa vào tường phì phà khói thuốc. Giai đoạn này tôi cũng đã kể rõ trong bài ký sự Về Cali nên cũng không lập lại làm gì. Nhưng rốt cuộc rồi bà xã tôi lại có tấm hình chụp chung với "sư phụ" mà tôi lại không có mới là lạ thiệt...

     Nhìn chung, quyển sách thành công lớn của tôi không phải là cuốn Một Ðời Ðể Học do ông Mai Thảo viết tựa mà thật ra là quyển Một Thuở Làm "Trùm" do anh Hồ Trường An viết bạt, đến độ bàng quang độc giả cũng như văn giới thường biết tôi qua biệt danh "ông Trùm." Tuy nhiên, nói gì thì nói, không có bước đầu thì làm sao có bước thứ hai, bước thứ ba...

     Tôi không dám lạm bàn về chữ nghĩa văn chương của "sư phụ", dành lại cho những ai có thẩm quyền hơn. Chỉ ghi lại đây vài dòng kỷ niệm với "sư phụ" như thắp lên một nén nhang làm hành trang tiễn đưa "sư phụ" bước qua thế giới mới, thế giới không còn khen chê, nguyền rủa, thị phi...

     * Giai thoại "sư phụ" khởi đi từ bài ký sự Một Lần Xuống Núi đăng trên Văn số 85.

   back to top

08. MỜI ÐỌC: TẬP THƠ CUỐI NẺO ÐƯỜNG HẠNH PHÚC CỦA VŨ THI AN

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Cầm một bản thảo tập thơ còn thơm mùi giấy mực lên đọc. Ðọc hết, đọc kỹ. Xong, bạn nghĩ gì? Khi bạn là người sẽ viết lời vào tập? Bạn có thể từ chối khéo vì tập thơ chưa đạt được tầm vóc. Theo ý riêng rất chủ quan của bạn, lẽ dĩ nhiên. Hoặc giả, bạn lại hoang mang không biết phải viết gì đây để gói trọn tâm tình của tác giả trong một bài viết ngắn, vì là một tập thơ hay, có thể rất hay. Lẽ dĩ nhiên, cũng theo ý riêng rất chủ quan của bạn! Tôi hiện đang ở trong tâm trạng hoang mang đó!

     Trước đây, tôi đã có dịp viết tựa, viết bạt, lời giao cảm cho các bạn văn thơ thân quen. Các tác phẩm văn xuôi hay tạp ghi của những Hoàng Du Thụy, Sĩ Liêm, Vũ Nam, Luân Hoán, Hồ Trường An, Dương Tiến Ðình... Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên tôi mon men viết bạt cho một tập thơ, Cuối Nẻo Ðường Hạnh Phúc , thi phẩm thứ hai của nhà thơ nữ, trẻ đẹp, duyên dáng, hồn nhiên Vũ Thi An. Em cô cậu ruột của Thụy Vũ, Hồ Trường An và em cô cậu họ với Trần Long Hồ, những tên tuổi quen thuộc trong làng chữ nghĩa, văn chương. Thật quả là một hân hạnh và khó khăn không nhỏ!

     Xét về mặt kỹ thuật, đọc qua lời đề bạt của một tập truyện ngắn, một quyển truyện dài, bạn đọc dễ nhận ra tấm lòng của người giới thiệu đối với tác giả! Ðại để, sơ sài và dễ dàng nhất là tóm lược từng cốt truyện. Chịu khó hơn một chút thì tìm ra những đoạn văn hay để trích và khen. Tức là chỉ dẫn chỗ này hay và tại sao hay. Chỉ có nhập tâm với tác phẩm và có khả năng mới ra công viết một bài lột trần hết nỗi lòng, cảm nghĩ, tư tưởng... của tác giả mà chẳng thèm trích một câu... Các bạn có đồng ý với tôi không? Nhưng đây là nói về văn xuôi, về thi ca thì chắc phải có một ngoại lệ nào chớ?

     Khác với tản văn, nếu bỏ qua phần vần điệu kỹ thuật căn bản phải có, nói chung thơ là những tâm tình cô đọng mà tác giả đã ít nhiều dấu giếm, có ẩn ý trong từng chữ, từng câu. Cảm thông được thơ là giải rõ được tấm lòng của tác giả chất chứa trong đó. Tự đặt mình vào bối cảnh, nhân vật, đối tượng của bài thơ. Nam ra nữ hoặc nữ ra nam, những khi cần. Và hiểu theo ý mình, hiển nhiên. Lắm khi hiểu sai hoặc ngược lại những gì tác giả muốn gởi gấm. Nhưng cũng không sao, chẳng hề gì hết. Gần 200 năm qua, tốn biết bao nhiêu giấy mực để tranh luận bàn cãi, liệu các nhà biên khảo, bình giảng đã biết chắc được những gì Nguyễn Du đã thật sự gởi gấm trong Kiều? Ngoại trừ chính tác giả?

     Trong chiều hướng đó tôi mời bạn cùng tôi đi tìm kiếm những điểm son trong vườn thơ Cuối Nẻo Ðường Hạnh Phúc ...

     Trước tiên, có thể nói tác giả là một trong những người cầm bút đại diện cho thế hệ trẻ đã có tấm lòng với chữ nghĩa và giống nòi. Thử hỏi có bao nhiêu trẻ em rời nước vào thời 75, với tuổi 12, 13 mà còn nói và viết thông thạo tiếng Việt? Huống hồ bàn đến chuyện tìm ý, ghép chữ, lựa vần để làm thơ rặc ròng tiếng mẹ mà thế hệ "già" xem qua phải tỏ lòng ngưỡng mộ? Âu cũng là một điều đáng ngợi khen! Và âu cũng là giòng máu nghệ sĩ đã được un đúc bởi tiền nhân, ông bà, cha mẹ!

     Rồi từ đó bạn càng sững sờ hơn khi chạm trán với những vần thơ tình tự quê hương. Ơ hay, lạ thay, tuổi trẻ ngày nay đâu có tệ. Tuồng như các bậc cha chú, cô dì đi trước chưa có dịp tìm hiểu thấu đáo hay sao ấy. Thì đây, sau bao năm dồi mài kinh sử, công ăn việc làm ổn định, tuổi trẻ đã biết tìm về cội nguồn, muốn đóng góp một chút gì cho quê mẹ Việt Nam:

     Tôi người Việt nhập tịch vào dân Mỹ
     Tiếng Mỹ chưa rành, chữ Việt đã quên
     Tuổi trẻ nhiệt thành, tôi muốn vươn lên
     Giúp tổ quốc đỡ nghèo nàn khốn khổ...
     ...
     Người này nói ra, người kia chụp mũ
     Dân vẫn nghèo, nước vẫn kém vẫn thua
     Gà nhà đá nhau, kẻ xúi giục làm vua
     Vết Trịnh Nguyễn ngày xưa bày lối cũ...


     (trong Tôi Chỉ Muốn , trang 24)

     Khởi đi từ những đêm thao thức, trở trăn, thương nhớ quê nhà. Tưởng chừng như thân xác nằm đây mà linh hồn thì đã gởi trọn về nơi chốn xa xưa:

     Những kỷ niệm như que diêm bỏ túi
     Thắp sáng lòng khi giá lạnh cô đơn
     Ðêm thật buồn trên con đường dong rủi
     Ta âm thầm tìm mảnh vỡ linh hồn...


     (trong Những Que Diêm Kỷ Niệm , trang 64)

     Vì những mảnh vỡ linh hồn đó dường như lúc nào cũng gắn liền với quê ngoại, nơi mà hầu như mọi người đều cảm thấy bình yên, thanh thản:

     Trả lại em dòng sông miền quê ngoại
     Có hàng dừa soi bóng nước nghiêng nghiêng
     Theo nhịp võng mẹ hiền ru êm ái
     Dòng phẳng gương, đời lặng lẽ bình yên


     (trong Xin Trả Cho Em Một Ngày Thôi , trang 68)

     Quê hương thân thương đó còn gợi lên qua hình ảnh đơn sơ của một cô bán chè hiền lành mộc mạc. Với đủ thứ chè nghe mà bắt thèm: chè đậu đen, chè hột sen bạch quả, chè đậu xanh nước cốt dừa, chè thưng, v.v.:

     Anh thèm chè đậu đỏ
     Cô bán chè ba màu
     Anh mua, lòng hớn hở
     Ðể dành đâu có sao...
     ...
     Anh vượt biên qua Mỹ
     Lâu lắm không ăn chè
     Chiều ngoảnh về cố lý
     Thương cô bán chè ghê...


     (trong Cô Bán Chè , trang 92)

     Ði xa hơn, tuổi trẻ chợt nhận ra những nghịch lý của bể dâu. Bởi vì đâu mà có sự cách biệt của các thế hệ, vì hoàn cảnh, mà phải sống tha hương. Bởi vì đâu mà con cháu không cảm thông, đồng điệu với cha ông:

     Ngày qua đi, cha già thêm
     Chân hết cứng, đá không mềm
     Tiếng Mỹ không rành, chữ Mỹ không viết
     Cháu con không cần biết
     Trong nhà hiện có một ông già
     Tai dần điếc, mắt dần lòa
     Lơ đảng như lắng tiếng gọi bên trời xa tắp
     Quên hiện tại dồn dập
     Sống hoàn toàn trong dĩ vãng xa xăm
     Như bóng ma trong góc tối âm thầm...


     (trong Cha Già Vượt Thái Bình Dương , trang 20)

     Chính vì những uẩn khúc nêu trên mà không riêng gì tuổi già, tuổi trẻ cũng muốn trở lại quê hương sau bao ngày xa cách. Ðể nhìn tận mắt mình những đổi thay. Những đổi thay, lắm khi, lại xé nát lòng người:

     Sao cứ mãi nhìn lên tháp chuông?
     Nhìn ngôi trường cũ hắt hiu buồn?
     Phải chăng kỷ niệm còn vương nặng
     Chưa nhạt nhòa theo kiếp gió sương?

     Này ông khách lạ ngắm trời mây
     Lưu lạc từ đâu đến chỗ này?
     Ðôi mắt ngóng về thung lũng tối
     Có người đứng cạnh vẫn không hay...


     (trong Ông Khách Lạ , trang 61)

     Ngay cả tuổi thơ vô tội cũng không còn những ngày thơ mộng cũ. Mà đổi lại chỉ là những giọt nước mắt rưng rưng trong lòng độc giả:

     Em bé Việt Nam thèm đi học
     Em chỉ có một bộ đồ thôi:
     cái áo vá vai
     và cái quần cộc
     mốc cời...
     ...
     Vừa đi làm vừa đi học
     em bé Việt Nam ơi!
     Cát bụi che mờ tuổi ngọc
     hệ lụy đè trên vai...


     (trong Em Bé Việt Nam , trang 13)

     Hãy bỏ qua phần quá khứ chiến tranh, hận thù của cha ông mà chính mình chưa từng tham dự, sống qua. Giờ đây tuổi trẻ đã trưởng thành, đã là chứng nhân hùng hồn nhất cho lịch sử, cho những trào lưu văn hóa chính trị hiện đại. Bởi vậy, khi trở lại bến bờ có tự do và độc lập thật sự, cũng tự mình cảm thấy phải có bổn phận gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh, gọi đàn:

     Ðứng dậy đi anh, nhiệt huyết tràn
     Sau lưng bỏ lại cuộc truy hoan
     Sao anh vui được khi dân tộc
     Trong cảnh lầm than uất hận tràn?
     ...
     Ðứng dậy đi thôi, tôi với anh
     Giúp bao người Việt tuổi còn xanh
     Bất công thối nát, bao xiềng xích
     Dần vỡ tan theo bước quân hành...


     (trong Dậy Mà Ði , trang 22)

     Rồi đến chủ đề muôn thuở: tình yêu! Có khác gì không ở thế hệ trẻ sau này? Có lẽ không! Vì, phải chăng, tình yêu là một phần của tính giác? Sự yêu nào khác gì sự nghe, sự thấy, sự ngửi, sự nếm, sự rờ? Ðã không sanh không diệt, không nở rộ không tàn phai! Có khác chăng là do người mình yêu và yêu mình! Có khác chăng là nhà thơ có thể có cùng một lúc rất nhiều người yêu, thánh thiện có trần tục có, nhưng cứu cánh sẽ là hình thành một người yêu chung và duy nhất của mình: những bài thơ còn đọng lại với thiên thu. Với nỗi nhớ không rời, với niềm thương không vơi. Tuy hằn sâu trong tiềm thức, nhưng vẫn luôn luôn chực chờ sống dậy với những tức cảnh sinh tình, với những kỷ niệm xưa chợt về trong chớp mắt xa xăm.

     Nhưng với nhà thơ trẻ đẹp của chúng ta thì sao? Trước hết, có lẽ bạn cũng không lấy gì làm lạ, khi tác giả đã tỏ ra muốn từ chối cả yêu đương. Vì những lý do rất dễ hiểu:

     Xót xa lắm là khi mình từ khước
     Dù vẫn mơ những hò hẹn yêu đương
     Bên tình anh, em còn có quê hương
     Những hoài bão đã từ lâu ôm ấp...


     (trong Em Sẽ Chẳng Yêu Ai , trang 88)

     Và, có thoát được không nào? Khi bên mình có những cảnh đẹp đêm trăng, an nhiên thư thái, làm lòng chùng xuống tưởng như người yêu vừa mới đi khuất:

     Ðêm hạ trắng, ngang lưng đồi trăng sáng
     Sương dịu dàng hôn lá biếc rừng mơ
     Mây bay bay từng cơn gió hững hờ
     Ngàn sao sáng rơi âm thầm trong mắt

     Trong bóng tối, gió lạnh về hiu hắt
     Gợn hồ gương lác đác lá sầu rơi
     Trên trời cao trăng vằng vặc sáng ngời
     Ðêm hạ trắng, điểm hồn thơ diễm tuyệt...


     (trong Ðêm Hạ Trắng , trang 86)

     Thêm nữa, làm sao ngoảnh mặt và làm ngơ với những dòng thư mực tím mơ hồ nhưng không kém phần mời mọc. Ðể lòng buồn chợt nghĩ đến người thương:

     Thư anh viết cho ai, ai chẳng biết
     Mà lời thư tha thiết ngỡ mình yêu
     Ôi, sóng lòng luôn vọng âm tha thiết
     Khi soi gương gặp nét mặt buồn thiu...


     (trong Hoa Ngâu Và Mồng Tơi Tím , trang 90)

     Rồi thêm bước nữa, từ thư từ nhắn gởi dẫn đến hẹn hò, gặp gỡ, chia tay nào có đâu xa? Mà, phải chăng, chỉ là trong đường tơ kẻ tóc? Ðể người về âm thầm nhỏ lệ khóc người đi:

     Anh tiễn em về không nói gì
     Ðèn vàng trải lạnh lối em đi
     Anh đà quay gót, em còn đứng
     Cô bé ngày xưa chớm ướt mi...


     (trong Lại Ướt Mi , trang 58)

     Có phải tình yêu nào cũng vậy, "chỉ trong giây phút mà thành thiên thu"? Cho dù với những chi tiết rất ư là tầm thường, như một nụ hôn bất chợt, đi nữa:

     Thiên thu vẫn cánh chim buồn
     Bay đi tìm một yêu thương nhạt màu
     Rồi xa... người ấy về đâu?
     Nhớ môi hôn ấm cho sầu ngất ngây
     Mưa giăng trắng xóa chân mây
     Rồi xa... một mảnh tình gầy tiêu hao...


     (trong Rồi Xa , trang 91)

     Và có thể "nhờ vào" những giây phút chia ly cách biệt, vò võ hai phương trời, nhà thơ bỗng dưng... mới thấy nhớ thương vời vợi, mới thấy tương tư chới với, mới thấy thèm khát khơi khơi:

     Khuya chợt tỉnh, hồn trống như mở cửa
     Ðèn úa vàng, song quạnh hắt hiu buồn
     Trong ảo mộng, mong hẹn hò lần nữa
     Một đêm tình sóng gió dậy trên giường

     Từ hơi thở dạt dào bao nhựa sống
     Ào ạt về cho tim đập rùng mình
     Muốn trò chơi như bao người hào phóng
     Chỉ một đêm xin đen đỏ cuộc tình...


     (trong Thao Thức , trang 69)

     Như vậy thì nhà thơ của chúng ta đã yêu nhiều quá đi chớ! Hơn cả những tình yêu đời thường, có phải? Ðúng vậy, vì chưa hết đâu, hãy lắng nghe tác giả đã dám thốt ra "tuyên ngôn tình yêu" như thế này:

     Là một phút ngại ngần rồi buông thả
     Là một giây trong đắm đuối quay cuồng
     Là thiên thu của thác đổ mưa nguồn
     Trao tất cả cho người em yêu dấu

     Ðêm chơi vơi với muôn ngàn tinh đẩu
     Ngày đê mê với rạo rực yêu đương
     Xin đưa nhau đến ngưỡng cửa thiên đường
     Hái quả cấm, cây tình yêu thần thánh

     Trên thảm cỏ ướt hạt sương lóng lánh
     Xin cuộn tròn trong hơi ấm vòng tay
     Giữa thiên nhiên nếm mật ngọt môi đầy
     Yêu như thể hôm nay ngày tận thế...


     (trong Yêu Như Thể Hôm Nay Ngày Tận Thế , trang 89)

     Thơ là để viết lên cái tình, nói chung. Ngoài tình yêu thiên nhiên vạn vật, tình yêu nhân loại, tình đồng chủng đồng hương, tình gia đình thân tộc, tình bằng hữu tri âm, v.v.... mà bạn có thể tìm thấy rải rác trong toàn tập thơ, tôi chỉ nêu lên đây hai điểm son của Cuối Nẻo Ðường Hạnh Phúc là tình yêu quê hương và tình yêu đôi lứa. Chính hai điểm son này đã tạo nên những giá trị hiếm có cho tập thơ.

     Qua thi tập thứ hai, Vũ Thi An đã tiến xa và có chỗ đứng vững vàng trong làng thơ hải ngoại. Nhưng, như một lời cầu chúc, tôi vẫn mong nhà thơ trẻ đẹp của chúng ta còn tiếng xa hơn nữa, với những đóng góp ngoạn mục trong tương lai. Và bây giờ, mời quí bạn hãy tự khám phá ra những điểm hay hơn, lớn hơn cho riêng mình mà, phần nào, có thể tôi đã vô tình bỏ quên, thiếu sót...

     Chicago, những ngày vào đông 1998

   back to top

09. XUÂN VŨ, NGƯỜI ANH XỨ DỪA

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Trên báo Non Nước, kể từ số 17, tôi để ý và có hơi ngạc nhiên khi thấy ngoài chủ bút Xuân Vũ ra còn có hai phụ tá chủ bút là Hải Bằng và Nguyễn Thị Thanh Bình. Thì ra cũng chẳng ai xa lạ. Với anh Hải Bằng, tác giả Gia Ðình Bác Tám , mặc dầu chưa gặp mặt lần nào nhưng tôi cũng đã liên lạc qua thư từ, điện thoại từ lâu. Còn với Thanh Bình, hiển nhiên khỏi nói rồi, thân nhau từ dạo mới có tác phẩm đầu tay, Ở Ðời Sống Này . Tôi nghĩ việc lo lắng bài vở cho tờ báo chắc cũng cần nhiều công sức nên một mình anh Xuân Vũ không kham nổi chăng?

     Bỗng dưng, chẳng hiểu do ai đề nghị, Thanh Bình ngỏ ý muốn làm một số báo đặc biệt cho anh Xuân Vũ. Công việc mà hình như từ trước đến nay chưa ai làm. Biết tôi có quen thân với anh Xuân Vũ nên Thanh Bình đề nghị tôi viết vài dòng tâm sự cho số báo sắp tới. Giờ đây ngồi gõ lọc cọc cho vui...

     Nhớ lại mấy dạo gần đây, các bạn hữu viết tựa, bạt, lời giới thiệu hoặc cảm nghĩ cho sách của tôi, trong số có BS Nguyễn Ðức An, hay than vắn, thở dài là viết cho... ông "Trùm" mệt quá. Vì phải đọc tròm trèm hai mươi tác phẩm bắt đầu bằng chữ Một để... nắm vững sự tình. Bây giờ viết cho anh Xuân Vũ, một tác giả có gần bảy mươi tựa sách, thì... mệt đến cỡ nào? Làm sao đọc cho hết! Nhất là trong một thời gian ngắn! Well , thôi thì nghĩ đến đâu viết đến đó, vì tôi không phải làm công việc phê bình, mổ xẻ, điểm sách gì ráo... mà chỉ nghĩ đến anh ở cái tình anh em với nhau thôi. Phơn phớt ngoài da, vì thật ra, muốn viết về anh cho đúng tầm mức chắc chắn phải cần nhiều chương sách...

     Ngẫm nghĩ lại, với ngần ấy sáng tác phẩm đã trình làng bởi những nhà xuất bản có tiếng như Người Việt, Ðại Nam, Xuân Thu, Trời Nam, Văn Khoa, Thằng Mõ... v.v., mỗi cuốn có lời viết tựa, bài đề bạt... thật sự làm nhiệm vụ phê bình văn học, thì tổng số những người viết cho anh, ca tụng anh đã lên hàng trăm rồi... Ðâu cần gì đến những câu... "mặc áo thụng vái anh" của tôi, đàn em của anh, đâu nào... Sự nghiệp của một người cầm bút chẳng phải chỉ là những lời khen, tiếng chê... mà thực sự chính là những tác phẩm để lại đời của họ cho từng độc giả, tôi nghĩ...

     Trước tiên, phàm làm một người cầm bút mà không đi, không sống thì chắc hẳn... chẳng đi tới đâu, chẳng làm nên trò trống gì! Riêng với anh Xuân Vũ thì vốn đi, vốn sống của anh nhiều quá! Chỉ nhìn sơ qua từ năm 1945, gia nhập Kháng Chiến chống Pháp, đến năm 1975, mất nước và di tản sang Hoa Kỳ, ba chục năm trời khói lửa... anh đã đi từ Nam chí Bắc rồi từ Bắc trở về Nam, từ miền quê ra thành thị rồi xuất ngoại..., sống trong cả ba chế độ Thực dân phong kiến, Cộng sản bần cùng, và Cộng hòa tự do... thì chất liệu được anh ghi lại bắt buộc phải sống động, trung thực, và hấp dẫn thôi! Nhất là được thể hiện dưới một tâm hồn nghệ sĩ, luôn gắn bó với quê hương đất nước, giống nòi dân tộc như anh! Kháng chiến Nam bộ trong miền Lục Tỉnh, tập kết ra Bắc ở vùng Hà Thành ngàn năm văn vật, làm phóng viên chiến trường dọc Duyên hải bắc phần, hồi kết trên đường mòn Hồ Chí Minh, hồi chánh về Sài Gòn hòn ngọc viễn đông, đại diện văn giới Việt Nam đi thăm các trung tâm văn hóa khắp các nước Âu Mỹ như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Ðức, Ý Ðại Lợi... thì cõi đời này đã dễ có mấy ai...

     Thường thì tôi đọc bài anh rải rác trên các báo, trước khi đọc toàn bộ quyển sách, lúc anh gởi tặng sau. Ngoài tác phẩm nổi tiếng, chiếm giải văn học toàn quốc năm 1972, Ðường Ði Không Ðến , đã đọc lúc còn trong nước... tôi gặp lại anh lần đầu tiên ở hải ngoại với bài Trận Ðịa Lún đăng nhiều kỳ trên báo Văn Học. Thuở anh Nguyễn Mộng Giác đứng ra chăm sóc tiếp theo ông Võ Phiến và anh Lê Tất Ðiều. Thuở tôi tập tễnh viết những bài... Làm Ðẹp Chữ Việt . Thì cũng là giọng văn quen thuộc, như đã từng diễn tả trong cảnh bộ đội đi B trên đường mòn Hồ Chí Minh, vẫn luôn luôn làm người đọc chới với, dễ lạc vào... mê hồn trận. Vì coi vậy mà không phải vậy, khó lòng đoán được kết cuộc. Tưởng là chấm dứt ở đó nhưng còn dài dài với những nút thắt, mở... Sau này, Trận Ðịa Lún nằm trong quyển Thiên Ðàng Treo , Người Việt xuất bản năm 1990...

     Cuốn sách anh gởi tặng tôi đầu tiên là tập truyện Con Người Vốn Quý Nhất , Văn Khoa xuất bản năm 1989. Mới lần vào truyện ngắn đầu Hạnh Ngộ Bọt Bèo , chuyện kể cán bộ Bác Ðảng chở các thương bệnh binh lên tàu, nói dối là đưa ra chữa trị trên các bệnh viện hạm Liên Xô đậu ngoài khơi, nhưng thực ra đem quăng sống xuống biển... Mèn ơi, nó gian ác, rùng rợn làm sao. Ðặc biệt là cảnh sống trên tàu hiện rõ mồn một. Như đang xảy ra trước mắt, vì tôi là dân Hải Quân. Anh không phải là lính tàu mà tả cảnh lên tàu, xuống tàu, biển cả mông mênh trong đêm khuya khoắc được như vậy thì phải gọi là... có tài viết văn thôi... Nguyễn Công Hoan đã chẳng bảo, đại để, anh nào bịa giỏi như thật là ăn tiền. Tôi học lại anh câu nói đó của người xưa...

     Kế đến, tôi đọc sang loạt bài Nguyễn Tuân và cành hoa mai bên bờ sông Nhật Lệ, Nguyễn Xuân Khoát liệm trong tiếng chuông nhà thờ, Nguyễn Bính sang sông đắm đò ... v.v. và v.v. Những bài này nằm trong tập Văn Nghệ Sĩ Miền Bắc Như Tôi Biết tập I, Người Việt xuất bản năm 1991. Những bài viết có tính chất... ký sự văn học. Như anh Hồ Trường An viết Thông Ðiệp Hồng, Giai Thoại Hồng ... về các nhà văn, nhà thơ nữ, hoặc Chân Trời Lam Ngọc I, II ... cho phần lớn các nhà văn, nhà thơ nam... Chính tôi cũng mon men viết loại ký sự văn học này trong Một Lần Xuống Núi, Một Phen Lận Ðận ... kể lại những chuyến đi, gặp gỡ bằng hữu. Lẽ dĩ nhiên, ký sự văn học của anh Xuân Vũ đặc biệt hơn vì ngoài anh ra đâu còn ai đã từng sống qua, sống với những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ miền Bắc trong thời gian chiến tranh Quốc Cộng? Nhờ vậy... những người cầm bút miền Nam trước cũng như sau 75 có cơ hội thấy và hiểu qua cách nhìn, nếp sống và hoạt động của văn nghệ sĩ miền Bắc như thế nào. Nhìn chung thì anh viết cho ai đều cũng quý trọng, thân tình bằng cả tấm lòng. Song, cũng không riêng gì những văn nghệ sĩ miền Bắc, khi viết về các văn nghệ sĩ miền Nam, như Võ Phiến, Phạm Duy... anh cũng một mực rộng mở vòng tay. Hay viết về người xưa, cụ Ðào Tấn là một chẳng hạn, anh đã không ngần ngại tuyên dương cụ là... Sếch Pia của Việt Nam...

     Lần lữa, anh chuyển đề tài, viết về... đồng quê miền Nam với Sóng Nước Hậu Giang, Dưới Bóng Dừa Xanh, Vàng Mơ Bông Lúa, Tấm Lụa Ðào, Ông Lão Thổi Bong Bóng ... tôi lại có dịp hình dung ra cảnh sống và thả hồn vào những phong tục, tập quán của thời đại trước, thời của địa chủ tá điền, phong kiến lẫn phong lưu... tuy không xa lắm nhưng rất khác với thời đại 50, 60 mà tôi sống. Giai đoạn này anh Lê Bảo Trân cũng có dựng lại trong hai bộ trường thiên Chiều Chiều Lại Nhớ Chiều Chiều Cỏ Nội Mây Ngàn đăng độc quyền, dài hạn gần 20 năm qua trên báo Văn Nghệ Tiền Phong của anh Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng. Cũng như anh Hứa Hoành với nhiều giai thoại lịch sử trong bộ Nam Kỳ Lục Tỉnh , 5 quyển do nhà Văn Hóa của Vũ Ngự Chiêu xuất bản. Nhưng, anh Xuân Vũ lại khác ở một điểm là... chỗ nào thuận tiện, vẫn không quên "ngắt, nhéo" Cộng Sản và Bác Ðảng một cách tận tình. Ngoài ra còn có quyển Những Ðộ Gà Nòi đã là vẽ lại một... nghề chơi cũng lắm công phu tưởng như đã một thời vang bóng! Và đó là chưa kể những tác phẩm viết thẳng bằng tiếng Anh!

     Trong khoảng thời gian "cực thịnh" của nền văn học hải ngoại, khoảng 10 năm từ 1985 đến 1995, thuở viết bài còn có nhuận bút (không phải viết chùa như bây giờ), thuở in sách còn có trả tiền tác quyền (không phải tự bỏ tiền ra in như bây giờ), thuở còn nhiều người mua sách đọc (không phải chỉ mua video, audio như bây giờ), thuở người cầm bút còn được quý trọng (không bị coi thường hơn người thường như bây giờ)... thì việc liên lạc giữa các bạn văn như là một tập thể riêng được coi là rất thường xuyên và rất thân tình (không lạc lõng mạnh ai nấy sống hay bè phái như bây giờ)! Thư tay dán tem cò trong tuần, trong tháng nhiều vô số kể (không làm biếng chỉ... email khi cần như bây giờ)! Nhờ vậy, việc trao đổi và học hỏi lẫn nhau... có cơ hội phát triển và được duy trì tốt đẹp. Ngoài anh Hồ Trường An tôi có dịp quen trước, tôi học hỏi nhiều điều từ anh Xuân Vũ...

     Về mặt thư từ, anh viết cho tôi những lời khuyến khích, khuyên nhũ rất... chí tình, thẳng thắng, bộc trực! Một đoạn tiêu biểu như sau đây.

     Hưng em... Viết đi! Ðời là chó đẻ ba con chó chớ chẳng gì khác. Nhà văn có nghĩa là sáng tác. Em cứ cặm cụi viết đi. Với tác phẩm cao cả chồng thì em chỉ còn mỉm cười nhìn thiên hạ. Có đứa mới chập chững bơi mà muốn vượt đại dương. Rồi em sẽ thấy nó sẽ chẳng bơi tới đâu khi những bàn tay tập cho nó bơi buông nó ra... Em gắng lên. Tự tin, tự lực, tự cường. Ðừng tự ti nhưng cũng đừng tự phụ. Tự phụ là tự tử. Ðó là kinh nghiệm của nhiều nhà văn. Kẻ tự phụ chỉ thấy mình là số một nên chẳng cần đi xa nữa mà đứng đó... ngủ!

     Ở một thư khác, anh lại nhắc:

     Hưng em... Em ráng cố gắng thêm. Chỉ nhắc em một câu (từ Nguyễn Công Hoan) mà anh đã nói với em trên điện thoại: thằng nào bịa giỏi thằng đó ăn. Viết! Chỉ có thế thôi! Còn hay hay dở là trời cho không phải ai muốn mà cũng được. Anh viết như một thói quen của người ghiền thuốc lá. Ðưa ra độc giả mới biết giá trị của tác phẩm mà thôi em à. Có nhiều người kênh kiệu tự phụ quá, không có tốt. Anh luôn luôn tìm học ở bất cứ ai, ở mỗi người một chút, gom lại thành của mình. Như Mỹ nó nuôi tị nạn bốn phương vậy. Rốt cuộc nó lấy hết tinh hoa thế giới.

     Chính những lời ân cần thúc đẩy đó của anh mà tôi cũng đã, đang, và sẽ dốc tâm, miệt mài viết, viết, viết... Kể cũng vui...

     Trong một lần điện thoại, tôi hỏi anh đôi điều, đại khái là muốn học hỏi kỹ thuật, kinh nghiệm viết truyện dài ở anh... thì anh lại hỏi ngược lại tôi... "vậy chớ nẵm nay em viết cái giống gì, em viết nhiều rồi mà còn hỏi lôi thôi gì nữa, cứ cái sở trường của mình mà xông tới..." Mèn ơi, bỗng dưng tôi... ngộ! Nẵm nay em viết cái giống gì? Trời, tôi biết quá tôi đã viết những gì chớ! Nhưng có thành công hay không cái đã, à, thì ra... mình thiếu tự tin! Cứ cái sở trường mà xông tới! Hừm, tôi biết quá cái sở trường của tôi mà, à, thì ra... cứ thế mà tiếp tục! Tôi, đột nhiên, tìm ra con đường tráng nhựa thênh thang của riêng tôi! Ðã quá! Cám ơn anh những lời... điểm nhãn có thể rất là... tình cờ!

     Ngồi nghiệm lại, tôi tự biết cái sở đoản của mình là... không tài nào viết theo kiểu feuilleton. Mà chính thật ra, tôi cũng không thích viết như vậy. Feuilleton luôn luôn kèm theo những đoạn lõng lẽo, lấp trang, lắm khi chẳng ăn nhập vào đâu... thì uổng công mình suy nghĩ, uổng công mình viết quá. Vả lại, thời buổi này có mấy ai sống với nghề viết feuilleton đâu, nhất là ở hải ngoại này. Họa may còn các anh Xuân Vũ, Hồ Trường An, Lê Bảo Trân, Hứa Hoành... cho đến bây giờ, chỉ viết cho những nơi nào có trả nhuận bút! Với riêng tôi, viết không phải là... cần câu cơm, cho nên tôi viết... thận trọng, không buông thả! Và sở trường của tôi vẫn là truyện ngắn! Viết cô đọng, súc tích xem ra còn khó viết hơn truyện dài, tôi nghĩ! Nhưng rồi... lại nghiệm lại, hai tác phẩm đầu của tôi, Một Ðời Ðể Học do Làng Văn xuất bản năm 1989, và Một Thuở Làm "Trùm" do Văn Nghệ xuất bản năm 1990... chính là một chuỗi truyện ngắn theo thứ tự thời gian, kết thành truyện dài! Thế thôi! Cứ thế mà xông tới, thành thử, sau bao... cố gắng, miệt mài, cặm cụi, viết như... thói quen của người ghiền thuốc lá , từ từ ló dạng... hai bộ trường thiên Một Giấc Mơ Tiên (xong 4 quyển đầu), và Một Trời Một Biển (xong 2 quyển đầu)... Cũng vui thôi...

     Vậy thì, để kết cuộc, nội dung bài này... không phải là những lời biết ơn anh, Xuân Vũ, người anh xứ dừa... cùng quê Bến Tre với bà xã Hồng Lan của tôi, tuy chưa gặp nhau lần nào, nhưng đàn em vẫn luôn kính mến, quý trọng hay sao?

   back to top

10. MỜI ÐỌC: TẬP THƠ, TRUYỆN TIẾNG SÓNG CỦA NGỌC THIÊN HOA

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Sau Hoàng Du Thụy, tác giả Trầm Hương Hạnh Phúc, Bạn Trầm, Bức Tượng Thanh Nữ, Dừng Lại Bên Hồ ..., Ngọc Thiên Hoa là cây bút nữ thứ hai mà tôi có dịp đề Bạt cho tuyển tập đầu tay. Hoàng Du Thụy cho biết, đã "chấm" tôi bởi vì tôi có nhiều "hệ lụy" với lính tàu. Còn với Ngọc Thiên Hoa thì sao? Rất có thể cũng chỉ vì tôi quá "nặng tình" với thành phố Nha Trang, một trong những thành phố nên thơ dọc duyên hải miền Trung, đã một thời là thành phố của lính, và đặc biệt nhứt là lính thủy? Âu cũng là những duyên may văn nghệ qua màu áo trắng hải hồ!

     Tuyển tập văn thơ Tiếng Sóng gồm 22 bài đoản văn, tùy bút, nhật ký và 52 bài thơ viết dưới nhiều thể loại, ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát, tự do. Cảm nghĩ đầu tiên của riêng tôi, sau khi đọc xong bản thảo, là tác giả quả có năng khiếu diễn đạt tâm tình, cảm xúc của mình qua chữ nghĩa, văn chương. Và, riêng về phần kỹ thuật, cũng có thể tạm gọi là ở mức độ rất vững vàng cho những ai mới cầm bút.

     Có một điểm hơi lý thú tôi muốn nêu ra đây là giữa chị Thúy Trúc, tác giả các tập thơ, đoản văn, tùy bút như Thơ Thúy Trúc, Thương Thương Nhớ Nhớ, Viết Cho Người Tình, Tuổi Hồng ..., và Ngọc Thiên Hoa đã có sự trùng hợp ly kỳ, có thể nói theo kiểu không hẹn mà gặp hoặc là chí lớn gặp nhau qua nửa vòng cầu trái đất. Vì cách viết của Ngọc Thiên Hoa coi như tương tợ với cách viết của chị Thúy Trúc. Chỉ khác một điểm là, ở chị Thúy Trúc, người ta tìm thấy những tư tưởng, cảm nghĩ đượm mùi thiền vị lẫn tục trần của một Phật tử thuần thành đứng tuổi, trong khi đó người ta tìm được ở Ngọc Thiên Hoa những gì hồn nhiên, ngây thơ, trong trắng của tuổi học trò.

     Nhìn chung, trong toàn bộ tuyển tập, Ngọc Thiên Hoa đã ghi lại cuộc đời mình từ lúc mới lớn, đi học tiểu học ở trường làng, trường Diên Toàn ở làng Thành, rồi tiếp tục qua trung học ở trường quận, trường Hoàng Hoa Thám thuộc quận Diên Khánh, và sau cùng đi học "làm cô giáo" ở trường Ðại học sư phạm Qui Nhơn. Suốt quãng đời mài mòn đũng quần ở nhà trường này, Ngọc Thiên Hoa đã cho độc giả tìm lại rất nhiều kỷ niệm thân thương mà ai ai cũng có, cũng đã từng trải qua. Với đám bạn cùng lớp, cùng trường đã sống và lớn lên với nhau trong chuỗi ngày xa xưa thân ái đó. Và, hiển nhiên, hầu hết những đoản văn và tùy bút này rất thích hợp cho các báo Tuổi Ngọc, Tuổi Hoa, Tuổi Hồng ..., hoặc ngay cả những trang bích báo của các trường trung, đại học.

     Qua từng chặng đường đời và cảnh sống, Ngọc Thiên Hoa cũng không quên vẽ lên những phong cảnh, tập tục êm đẹp ở vùng thôn quê cũng như những mẫu chuyện đời trái tai, gai mắt ở chốn thị thành.

     Giai đoạn sống ở đồng quê rất thích hợp với tôi, nói riêng, và những ai đã từng lớn lên ở miền ruộng đồng vườn tược, nói chung. Ngoài chuyện đã gợi lại trong tôi những kỷ niệm đẹp về Thành, một thị trấn nhỏ nhoi nằm cách xa Nha Trang khoảng mười cây số. Cái nơi chốn mà hơn 30 năm qua, tôi và các bạn thân cùng khóa đã có dịp đến thăm nhiều lần trong thời còn là một sinh viên sĩ quan Hải Quân. Lẽ dĩ nhiên, từ lâu, đã trở nên không bao giờ quên và, hiện thời, qua tác phẩm Tiếng Sóng của Ngọc Thiên Hoa, lại càng thêm rõ ràng, đậm nét. Vì đã mang đến cho tôi một cái nhìn xâu xa hơn để cảm mến hơn cái làng quê mộc mạc, êm đềm đó. Nơi mà, đối với tác giả, công ơn cha mẹ đã lấy làm nâng niu, bảo trọng:

         Quê hương dấu yêu! Là nơi có mẹ
         Vất vả nhiều hơn khi vắng Ba
         Nỗi đau xưa dễ gì quên lãng
         Gánh nỗi đoạn trường phải riêng mang!

     Vườn cây chắc lá sầu rụng hết!
     Người trồng cây chưa ăn quả đầu mùa
     Ba ơi! Sao số người ngắn vậy
     Ðể Má sầu, thao thức suốt canh thâu!

         Quê hương dấu yêu! Là nơi có Mẹ
         Ngồi nghe Má kể chuyện "Ngày xưa..."
         Má đã gặp ba, rồi ly biệt
         Ðời con rồi chẳng biết ra sao!


         (trong Ngày Xưa, Ngày Sau )

     Hoặc là tình anh chị em thắm thiết, mến thương cho dù cứ phải tìm cách lấn lướt hay chơi gác lẫn nhau:

     Tôi ngắm nó trên hai ngón tay. Nó nằm yên, thỉnh thoảng rè rè trong đôi cánh. Hai mắt nó bự, con ngươi thẳng đứng. Cái bụng õng nước. Loài ve sạch nhất vì nó ăn toàn sương. Ban đêm bước ra khỏi nhà, đi dưới vòm cây là thế nào cũng bị những tia nước hoa sen bé xíu tưới lên đầu. Khi nghe tôi kể như vậy. Chị tôi nghiêm mặt, trịnh trọng nói:

     - Ðó là phật bà Quan Âm lấy nhành dương liễu tưới nước cam lồ cho mày đó! Hên lắm. Vậy là mày thuộc bài nhanh cho coi. Học thử đi, tao không nói xạo đâu.

     - Thiệt hả? Thế là tôi lại lật sách, gào lên. Tôi quăng hết mấy chiếc lá thuộc bài đang ép trong sách để coi lời chị tôi nói có đúng không. Quả thiệt linh! Tôi học thuộc hết mấy bài một lúc. Từ đó, ăn quen, đêm nào tôi cũng ra vườn cây chờ phật bà cho nước phép và nghe ve quạnh... quạnh... re... trong vườn.

     Một hôm, Má tôi bắt gặp tôi đang đứng ngoài hiên. Má quát:

     - Tối rồi! Ði ngủ, mày làm cái giống gì ngoài vườn cây hả?

     - Con chờ phật tưới nước phép! Nhưng bữa nay sao lâu quá!

     -!!?

     - Ha... ha... ha... hắc... hắc... ặt... Các chị tôi cười phá lên, sặt sụa, khi hiểu chuyện, Má quay lại "quạt" mấy "bả":

     - Lũ mày gạt em nó. Cho nó đứng ngoài sương nhiễm bịnh vậy hả!


         (trong Cứ Mỗi Ðộ Hè Về )

     Hay có tình bạn bè trong lứa tuổi "ăn chưa no lo chưa tới," suốt ngày chỉ biết rong chơi, vui đùa, khắng khít:

     Những buổi trưa, tôi lén Má chạy đi rủ mấy nhóc dạo xóm hái dưa chuột mọc hoang ở hàng rào. Nói "dưa chuột" chớ thiệt ra nó chỉ bằng hột bí nhưng tròn hơn. Trái nhỏ vậy mà lắm hạt. Hình nó như bom hỏa tiễn. Toàn thân màu xanh đậm. Trái lẫn trong lá cũng màu như thế, khó thấy. Chúng tôi thi nhau hái - trong im lặng vì nếu chỉ cần ứ hừ lên là đám chó xóm rượt chạy có cờ. Hái xong, chúng tôi rủ nhau xuống cuối ngõ có một bãi cát và bãi cỏ gấu xanh um ngồi thưởng thức dưa chuột. Ðứa thì cho từng trái một vào miệng, tôi thì khoái cho cả nắm vào mồm để nhai một lúc nghe cái "rộp" mới ngon...

         (trong Xóm Vườn Trầu, Còn Ðâu )

     Và đặc biệt nhứt là cây cối tươi tốt trong vườn cho đầy bóng mát, đã giúp tác giả có nhiều cơ hội thì thầm, nhỏ to, tình tự với lá mỗi khi có chuyện buồn phiền:

     Vậy mà vườn cây nhà tôi xanh um như vậy đấy! Khi Ba tôi ăn được mùa cam, bưởi, sa cô chê thì mấy anh chị tôi lần lượt ra đời và lớn lên theo mùa cây trái. Ðến khi tôi muộn màng chun ra thì hỡi ôi! vườn cam già rồi, chết ngủm. Mấy cây "bưởi thanh trà ngọt lịm mùi thơm" cũng không còn. Chỉ còn mấy cây bưởi dây, bưởi bánh xe trái bự tổ chảng và tròn như bánh xe, ruột đỏ mộng nước, ăn đỡ ghiền. Còn sa cô chê cũng bị bồ sè ăn hết trọi. Má nói khi Ba bị bắt thì cây cối cũng buồn bã chết theo. Tôi không biết đúng hay sai nhưng tôi tin là cây trái cũng biết buồn, biết vui, biết lắng nghe. Mỗi khi tôi buồn, tôi thường hay leo lên cây chôm chôm ngọt, nằm trên đó kể lể với lá. Khi ấy, tôi cảm thấy cây lá xung quanh run lên như muốn chia xẻ... Vậy mà cũng làm tôi quên buồn.

         (trong Vườn Xanh Xanh Cây Trái )

     Dường như chỉ những ai có tấm lòng đối với thân bằng quyến thuộc, bạn hữu xa gần, cũng như nơi chôn nhau cắt rốn của mình mới có thể viết lên được những lời văn chơn chất, chân thành như vậy.

     Rồi trong giai đoạn tiếp nối, rời xa gia đình và sống nội trú ở trường Sư phạm Qui Nhơn, Ngọc Thiên Hoa lại vẽ ra những cảnh đời cũng không xa lạ gì đối với tôi, nói riêng, và cho những ai đã có cơ may đến viếng thăm ngôi trường Sư phạm nổi tiếng ở miền Trung này, nói chung. Ngoài chuyện đã gợi lại trong tôi một thời lênh đênh, trôi nổi đến vùng biển mặn xứ Hời qua các cuộc thực tập hải hành, mà những bến bờ bỏ neo tạm nghỉ, hiểu theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, lại là những cô giáo sinh duyên dáng, trẻ đẹp của trường Sư phạm Qui Nhơn. Một trong những trường kết nghĩa hậu phương, tiền tuyến với trường Hải Quân. Ở đây, tác giả cũng đã ghi lại những nụ tình vừa chớm nở của thời mới biết yêu, tuy có rắn mắt, lém lỉnh nhưng cũng không kém phần e ấp, dịu dàng:

     - Em còn quá bé để buồn mà! Hắn thôi đàn, xua tan im lặng. Tôi mỉm cười. Hắn chỉ cho tôi những ngôi sao và giảng giải vì sao có chúng. Chúng "chết" và "sống" thế nào. Hắn là giáo viên vật lý mà. Hắn bảo tôi cũng giống như ngôi sao. Chỉ về đêm mới có! Tôi cãi: "Thế tại sao người ta gọi sao Mai?" Hắn phì cười mắng tôi "lém lỉnh." Giữa sân có hai cái lon. Hắn thách:

     - Em quẳng trúng nó?

     - Thử cái đã. Tôi chọi một cục gạch. Cái lon kêu "ách" một tiếng, văng ra xa. Hắn đâu có biết tôi "trùm" quăng đất lộn hồi nhỏ và quăng xoài số dzách?

     - Em mà ném hoa kén chồng, chắc không trật! Hắn trố mắt, đùa.

     - Chưa biết vì hoa không giống gạch và chồng không phải lon! Nhưng bây giờ thì em muốn chọi cho anh một gạch, nói tầm bậy không ờ!

     Hắn còn hiền lành. Mắt hắn thiệt đẹp, thiệt có hồn. Hắn chẳng tán tôi mà tôi cũng chẳng cần phải làm duyên, làm dáng với hắn. Trời sắp sáng. Vậy là chúng tôi sắp sửa chia tay...


         (trong Còn Bao Lần Ðể Nhớ )

     Hoặc không kém phần thiết tha, tiếc nuối qua mấy vần thơ sau cảnh phân ly:

         Tôi lặng bước tiễn em về hiu quạnh
         Trời tang thương, em để lại cho anh
         Cây vẫn xanh mà lá đã xa cành
         Bơ vơ bước, nghe lòng se sắt lại!

     Tôi lặng bước tiễn em về, tê tái
     Chút ân tình ngày cũ chẳng hề phai
     Trời không thương nên chia rẽ cả hai
     Cho gót nhỏ, dịu dàng, em đi mãi...

         Rồi từng chiều, gió sầu khêu nỗi nhớ
         Từng bờ vai, từng sợi tóc, mắt thơ...
         Em đi rồi mang hết những giấc mơ
         Cho kỷ niệm ùa về réo gọi...


         (trong Một Lần Biết... Bơ Vơ... )

     Ðặc điểm sau cùng của Tiếng Sóng là Ngọc Thiên Hoa đã trình bày rất linh động những kinh nghiệm sống, tuy đau thương nhưng rất trung thực, của mình khi phải chịu đựng những gian lao, khổ nhọc, thiếu thốn khắp mọi bề dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa ngoại lai của Bác và Ðảng. Lời nói thật của lớp trẻ ở lứa tuổi 15, 17 đối với tôi là một biện chứng hùng hồn nhứt để xác nhận một điều, rằng thì là, các "đỉnh cao trí tuệ" có thể biến đổi cái diện mạo bên ngoài của con người, thậm chí đến việc bần cùng hóa nhân dân, nhưng không thể nào biến đổi được cái nhân tính tiềm tàng ở bên trong, cũng như những giá trị nhân bản đã thấm sâu vào tận xương tủy, máu huyết của từng người dân Việt. Qua đôi ba dòng nhật ký như sau:

     Tháng 9, 1982

     Trời ơi! Số mình xui như con rệp. Nằm dài chờ sự may mắn từ trên trời rớt xuống như chờ sung rụng, Mẹ cha nó. Giờ này lũ nhóc đang lên giảng đường học đây. Sướng điên chưa. Tổ bà cái lý lịch. Ưa mà mình tự dưng hỗn hào bỏ xừ. Lý lịch không có tội lỗi chi ráo.

     Má ngồi tụng kinh thấy mà thương chi lạ, bả hết la hét, cũng đỡ. "Chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm" quả đúng. Mình chả thích cái nghề gõ đầu trẻ này chút nào. Thời này mà "gõ" coi bộ "khó" ăn, đầu mình chắc... móp trước. Thôi sắc chuối nấu cơm ăn cho qua ngày. Cha mày con chuột. Hết hồn.

     ...

     Tháng 1, 1983

     Tết tây. Giờ này bên kia, chị mình đang ăn tết đấy. Chắc chỉ nhớ nhà. Ôi! cái bà chị tội nghiệp của mình. Những đồng đô la, những thùng quà cứu khổ, cứu nạn như Phật bà Quan âm giá lâm sao mình đón nhận cũng đầy nước mắt!


         (trong Ðoản Khúc... Tào Lao Ký )

     Vì không thể đi sâu vào từng chi tiết một như tâm lý trẻ con, sự ghen tuông của đời con gái, nhân cách hóa cành phượng con kiến, những đoạn tả cảnh tả tình, những lời thơ trau chuốt văn hoa..., trên đây tôi chỉ đưa ra vài ba điểm son tiêu biểu cho toàn tập để độc giả lượng giá, thẩm định sơ qua. Phần còn lại chắc chắn phải đậm đà, thâm trầm, thấm thía hơn, xin dành riêng cho từng bạn đọc tự thưởng thức và khám phá lấy.

     Lời chúc riêng với Ngọc Thiên Hoa, nhà văn nữ đẹp đẽ trẻ trung đi sau tôi gần tròn một thế hệ, là hãy bền lòng gắn bó với chữ nghĩa văn chương, hầu cống hiến cho đời nhiều tác phẩm có giá trị hơn nữa và hơn nữa.

     Naperville, IL, ngày 28 tháng 1 năm 1997

   back to top

11. MỜI ÐỌC: TẬP THƠ VIỆT NAM LỤC BÁT SỬ CA CỦA NGỌC THIÊN HOA

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Kể cũng lâu lắm rồi, sáu năm hơn, tôi mới có dịp đọc thêm tác phẩm thứ hai của Ngọc Thiên Hoa. Những tưởng cây viết trẻ này chỉ viết mỗi một tác phẩm để... kỷ niệm với đời, rồi thôi. Ai dè, vẫn còn nặng mang nghiệp dĩ, vẫn còn âm thầm sáng tác dài dài.

     Khi tác giả nhờ tôi viết lời giới thiệu, tôi có hơi ngạc nhiên và đề nghị nên tìm một ai khác, bởi chẳng lẽ bắt tôi lại phải đóng tuồng "độc diễn" này hoài! Ðộc giả thêm nhàm chán. Nhưng tác giả tình thiệt: "Thôi đi, người nào viết một người... cho khỏi lộn xộn!" Lạ nhỉ!

     Lạ một điều nữa là tác phẩm thứ hai này không phải gồm các đoản văn, tùy bút, thơ thẩn với những hoàn cảnh buồn vui, những tình cảm riêng tư do cuộc đời trần tục này mang lại! Mà là một Ngọc Thiên Hoa mê đọc sử, nghiền ngẫm quyển "Việt Nam Sử Lược" của cụ Trần Trọng Kim, rồi cảm hứng hay nổi hứng cũng được, viết lại bằng văn vần. Thế nên mới có chuyện đặt tựa cho sách là "Việt Nam Lục Bát Sử Ca." Tuổi trẻ mà "chịu" nghiên cứu "sử" để "ôn cố tri tân" thì cũng là một điểm son đáng khen.

     Có lẽ hầu hết chúng ta, khi học về "văn học sử" ở những năm trung học, đều không ít thì nhiều thuộc lòng vài đoạn dễ nhớ trong quyển "Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca", đại khái như:

         Bà Trưng quê ở Châu Phong
         Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên
         Chị em nặng một lời nguyền
         Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân
         Ngàn Tây nổi áng phong trần
         Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên...


     hay là:

         Sắc sai Hưng Ðạo tổng binh
         Với Trần Quang Khải các dinh tiến vào
         Chương Dương một trận phong đào
         Kìa ai cướp giáo ra vào có công
         Hàm Quan một trận ruổi giong
         Kìa ai bắt giặc uy phong còn truyền...


     Trong sách giáo khoa "Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu", xuất bản năm 1949, giáo sư Nghiêm Toản có liệt kê bốn bộ thơ trường thiên có giá trị là "Nhị Thập Tứ Hiếu" của Lý Văn Phức, "Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca" của Lê Ngô Cát, "Lục Vân Tiên" của Nguyễn Ðình Chiểu, và "Ðoạn Trường Tân Thanh" của Nguyễn Du. Riêng quyển thứ hai ông còn viết thêm:

     "Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca cũng không phải là tiểu thuyết mà là một tập ca trường thiên; ông Lê Ngô Cát (đời Tự Ðức) phụng chỉ soạn ra, rồi các ông Phạm Xuân Quế, Phạm Ðình Toái, Phan Ðình Thực cùng các danh sĩ đồng thời nhuận sắc; ông Phạm Ðình Toái đem xuất bản.

     Quyển sử ca này chép từ đời Hồng Bàng cho đến hết đời Hậu Lê, theo thể lục bát; các việc thu gọn, trình bày minh bạch, có thứ tự, lời văn giản dị, nhiều đoạn lâm ly hùng tráng; thực là một cuốn sách quý có thể dùng cho trẻ con và dân chúng dễ học, dễ nhớ qua loa lịch sử nước nhà..."


     Những lời khen trên đây, thiệt tình mà nói, tôi cũng có thể mang ra áp dụng cho trường hợp "Việt Nam Lục Bát Sử Ca" của Ngọc Thiên Hoa, vì... "các việc thu gọn, trình bày minh bạch, có thứ tự..." vân vân và vân vân...

     Tuy không được "chỉnh vận" cho lắm nhưng điều đáng nêu là công trình của một người, một cây viết trẻ, suốt gần hai năm trời cặm cụi từng dòng. Hơn nữa, sách viết từ đời Hồng Bàng cho đến hết thời Pháp thuộc, xem như là một cập nhật hóa đáng kể cho bộ "Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca" vậy. Rồi lẽ dĩ nhiên... "lời văn giản dị, nhiều đoạn lâm ly hùng tráng..." vân vân và vân vân... để thấy công lao "dựng nước, giữ nước và mở mang bờ cõi" của tiền nhân là đầy máu và nước mắt, lưu lại cho chúng ta một dãy giang sơn gấm vóc như ngày nay. Và cả các thế hệ con cháu mai sau, nếu chúng ta làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mình. Thế mà, tuồng như thời nào cũng vậy, bên cạnh những công thần luôn tận trung báo quốc còn có bè lũ bọ dòi chuyên mãi quốc cầu vinh...

     Khác với những người viết sử chân chính thật sự, đặt nặng tính cách khách quan, Ngọc Thiên Hoa, theo thiển ý của riêng tôi, chỉ là người đọc sử cho nên có những đoạn viết theo cảm tình riêng, xúc động riêng. Rất chân thành, tỉ dụ như khi Nguyễn Trãi bị hại:

         Ðời người một tấm lòng son
         Hết lòng giúp Chúa lấy về non sông
         Hay cho cái giống "lọt tròng"
         Thời nào chẳng có muỗi mòng vo ve...


     hoặc lúc tả về trường hợp vua Trần dụ Tông:

         Nhằm khi vua trẻ băng hà
         Người em lên kế hiệu là Thiệu Phong
         Thượng hoàng định việc ngoài trong
         Nhưng khi ngài mất Dụ Tông rượu chè
         Ðào hồ, đắp núi đâu dè
         Ăn chơi, bài bạc... chẳng khe dân nghèo
         Giặc giã cướp phá ì xèo
         Cơ đồ Trần đã đi vèo từ đây...


     Ậy da, "... chẳng khe dân nghèo?" Tôi lấy làm lạ ở chữ "khe" này, khác nghĩa với khe hở, nên tôi hỏi lại tác giả cho chắc, đại khái, có phải từ "khe" là Việt hóa chữ "care" của Mỹ? Và nếu đúng như vậy thì nên viết trong ngoặc kép! Ngọc Thiên Hoa phân trần, đại để, bây giờ nói như vậy, viết như vậy thì ai ai cũng hiểu liền, khỏi cần ngoặc đơn ngoặc kép gì hết! Chịu thua! Từ ngữ văn học, hiển nhiên, vẫn thay đổi và làm mới theo thời cuộc, trào lưu; nhưng sau thời 75, có nhiều cái đổi mới xem ra hay nghe ra không được ổn cho lắm!

     Well , giới thiệu chỉ là phần phụ thuộc. Phần chính vẫn là đọc tác phẩm. Hi vọng rằng quý độc giả sẽ tìm ra nhiều điều thích thú, mới lạ, bổ ích hơn.

     Naperville, IL, ngày 26 tháng 10 năm 2004

   back to top

12....

             NGUYỄN TẤN HƯNG

   back to top


Tác Phẩm Trước Trang Chính Tác Phẩm Kế Tiếp