Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Tập Ký Sự Văn Học: Một Lời Mời Mọc
Nguyễn Tấn Hưng
* * *
Mục Lục
01. Mời đọc
Trầm Hương Hạnh Phúc
02. Mời đọc
Chuyện Miệt Vườn
03. Mời đọc
Thơ Luân Hoán
04. Mời đọc
Tình Nghĩa Thầy Trò
05. Mời đọc
Bên Này Bức Tường Bá Linh
06. Mời đọc
Sau Cuộc Ðổi Ðời
07. Kỷ Niệm Với "Sư Phụ"
08. Mời đọc
Cuối Nẻo Ðường Hạnh Phúc
09. Xuân Vũ, Người Anh Xứ Dừa
10. Mời đọc
Tiếng Sóng
11. Mời đọc
Việt Nam Lục Bát Sử Ca
12. *****
back to top
01. MỜI ÐỌC: TẬP TRUYỆN TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC CỦA HOÀNG DU THỤY
NGUYỄN TẤN HƯNG
Trước 75, Hoàng Du Thụy có bài viết ở các báo
Lướt
Sóng, Tuổi Ngọc
và một vài tờ báo của các binh chủng khác.
Ở hải ngoại, chị bắt đầu cầm bút trở lại với báo
Phổ
Thông
trong năm 86, rồi chính thức được giới thiệu là
người viết mới trên
Làng Vă
n
với bài
Ðời Ta
vào
tháng 10, năm 87 và trên
Văn
với bài
Sông Không Ra
Biển
vào tháng 10, năm 88.
Sự xuất hiện của Hoàng Du Thụy ngay bước đầu thật ra cũng
chẳng gây một tiếng vang nào lớn. Nhưng với loạt bài liên
tiếp sau đó đăng trên
Làng Văn
gồm
Bông Hồng Trên
Ðường Walkley, Một Ngày Rất Mới, Buổi Chợ Tan, Giấc Miên
Trường, Ngày Ðầu Ðưa Con Ði Nhà Trẻ (Thơ)
... và trên
Văn
với những bài
Ðêm Trăng, Chúc Mừng Năm Mới,
Ðếm (Thơ), Giá Tình Yêu
... Hoàng Du Thụy nghiễm nhiên là
một ngôi sao sáng trên văn đàn. Dù chỉ trong một thời gian
rất ngắn.
Trong lá thư đề ngày 30 tháng 5 1989, Hoàng Du Thụy nhắn nhủ
với tôi rằng:
Số là do sự xúi bảo của anh, bỗng nhiên
Thụy có ý định ra một tập truyện... Sẵn đây, Thụy gửi
đến anh xấp bản thảo cuốn
TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC
, nhờ
anh đọc và nhuận sắc giùm. Xong, nếu có thể được, xin
anh viết cho Thụy vài dòng giới thiệu...
Viết bài giới thiệu? Sao lại có chuyện này? Vậy chớ
những nhà văn lớn xưa nay vẫn thường hay viết tựa như Võ
Phiến, Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, Hồ Trường An... đâu,
sao không nhờ mà lại nhờ tôi? Thiệt tình, ngoài sự ngạc
nhiên ra tôi còn gặp phải cái lúng túng! Vì tôi tự biết thân
phận mình chưa đủ lông đủ cánh thì làm sao mà làm chuyện bay
bổng như vầy. Tôi viết thư giải bày cùng chị và có thêm
một câu thòng:
Tôi chưa hiểu rõ ý chị ở chỗ vài dòng
giới thiệu là như thế nào... Với khả năng của tôi, có
với cao cho lắm thì chỉ viết nổi cho chị cái Bạt mà thôi,
coi như là cảm nghĩ của một độc giả sau khi đọc tác phẩm
vậy.
Thư phúc đáp đề ngày 21, tháng 6 1989, Hoàng Du Thụy thân tình
cho tôi biết:
Chắc mình chỉ xin anh cái Bạt thôi, vấn đề
giới thiệu thấy ra không cần thiết cho lắm. Có hai lý do.
Lý do thứ nhất là Thụy thích tung tác phẩm mình ra theo kiểu
"thả nổi," tùy độc giả phê phán. Nếu có lời giới thiệu,
không nhiều thì ít độc giả sẽ bị ảnh hưởng bởi ông hay bà
giới thiệu. Còn lý do thứ hai, lý do mà Thụy nhờ anh viết
Bạt là... tại vì...
Vì sao? Vì văn phong của chị là văn
phong miền Nam và tôi là một cây bút miền Nam? Vậy chớ
những bậc đàn anh của tôi như Hồ Trường An, Kiệt Tấn,
Võ Kỳ Ðiền, Nguyễn Văn Sâm... không ai hội đủ điều kiện
sao? Nhưng thiệt tình nếu đem tôi ra mà so sánh và chiếu theo
công tâm mà nói, rõ ràng các bậc đàn anh này không ai có một
tầm mức, kích thước đúng với tiêu chuẩn do chị đề
ra, mới khổ. Bởi...
tại vì anh là lính biển, mà truyện
của Thụy nghiêng về lính biển nhiều hơn. Vả lại, anh là
người đầu tiên được hân hạnh làm bạn văn với Thụy
đó
.
Thì ra vậy. Số phần tôi dù ở đâu, dù ở lãnh vực nào
rồi như cũng có người dành sẵn cho mình một chỗ... đứng.
Tôi ngang nhiên có được cái cơ hội học làm người viết
Bạt. Kinh nghiệm từ ông Mai Thảo cho biết để
rút ngắn
lại những đường đất và nối liền lại những xa cách, văn
chương vẫn có được cho nó và cho người cái hiệu lực
tuyệt vời
, cái "hữu duyên thiên lý" giữa những người
cầm bút với nhau. Bằng thư từ. Và bằng điện thoại,
với một giọng nói rất còn e ấp. Cũng như kinh nghiệm từ
Hồ Trường An cho biết
phải đọc cuốn sách hai lần mới
viết nổi cho Hưng một cái Bạt có hồn
. Vậy tôi phải
đọc TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC đến bao nhiêu lần đây? Học
thuộc lòng luôn chăng? Nói gì thì nói, tôi không lợi dụng
việc viết Bạt cho một người bạn để nói lên cái quan điểm
rộng lớn của mình đối với văn chương, cũng không trình bày
những nhận xét của thầy dành cho học trò hay của đàn anh nói
với đàn em như nhiều người đi trước đã làm. Ở đây,
dù khen hay chê thì cũng chỉ là những tâm tình giữa một
người cầm bút với một người cầm bút, của một bạn văn
đối với văn chương của bạn mình mà thôi. Ðó, âu cũng
là cái điểm rất hay của sự "thả nổi" vậy.
Hoàng Du Thụy thuộc dòng dõi hoàng tộc, một Công Tằng Tôn
Nữ. Thêm vào những Công Tằng Tôn Nữ đi trước như Công
Tằng Tôn Nữ Hỷ Khương (Tôn Nữ Hỷ Khương), Công Tằng Tôn
Nữ Tri Túc (Cỏ Tháng Giêng), Công Tằng Tôn Nữ Ðoan Trang
(Quỳnh Giao), Công Tằng Tôn Nữ Như Ý (Quỳnh Như), Công Huyền
Tôn Nữ Nha Trang (Thanh Nhung)... cho vườn văn nghệ hải ngoại
thêm phần hương sắc. Nhưng, Công Tằng Tôn Nữ... Hoàng
Du Thụy là một Công Tằng Tôn Nữ mất gốc, một quận chúa
chưa hề đặt chân lên đất thần kinh bao giờ. Trong quá khứ
có thể nói Hoàng Du Thụy chỉ là một học sinh duyên dáng của
trường nữ Gia Long và là một sinh viên có vẻ đẹp mặn mà
dễ gây sóng gió của trường Ðại Học Sư Phạm mà thôi.
Nhưng, đọc xong TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC tôi có cảm nghĩ gì
đây? Nhiều lắm!
Trước hết, TRẦM HƯƠNG HẠNH PHÚC gồm mười ba truyện ngắn
rất dễ thương, mười ba đóa hoa có sức quyến rủ muôn loài
ong bướm xa gần, đã ngoi lên từ tấm lòng bao la của biển.
Hoàng Du Thụy, qua mười ba truyện ngắn tiêu biểu này, đã
chứng tỏ là một nhà văn có vốn sống rất dồi dào và phong
phú về mặt tình cảm. Không riêng gì tình yêu mà luôn cả
tình mẫu tử, tình vợ chồng, tình bạn bè, tình chòm xóm,
tình đồng hương, tình nhân loại..., và tình bồng bềnh với
chữ nghĩa với mơ mộng gió trăng... đều thoát ra ngùn ngụt
trong văn chương của chị. Ðiểm cũng nên biết là ngoại trừ
cái truyện ngắn dạt dào yêu thương đầu tiên,
Sông Không
Ra Biển
, đã được giới thiệu trên tập san
Văn
,
mười hai truyện ngắn còn lại chưa hề đăng báo, chưa hề
trình làng. Ðiều này cho thấy sức sáng tác của Hoàng Du
Thụy rất mạnh, rất vững cho một bước đăng trình dài,
đầy hứa hẹn trong tương lai.
Với lối văn kể chuyện rất giản dị và trong sáng, Hoàng Du
Thụy đã dễ dàng lôi cuốn người đọc vào truyện của mình,
những truyện có tính cách sống thật như ở ngoài đời.
Bạn đọc cảm thấy gần gũi với tác giả hơn qua từng nhân
vật, qua từng hoàn cảnh trạng huống đang xảy ra trước mắt
như một đoạn phim. Có thể nói bên nam có Kiệt Tấn và tôi,
bây giờ bên nữ có chị, thích phơi bày trần truồng cái tôi
của mình. Cái tôi thường rất đáng ghét như nhiều người
quan niệm, nhưng biết sử dụng đúng chỗ đúng lúc, thì cái
đáng ghét kia đôi khi lại thành cái dễ thương. Cũng như tôi
cảm thấy gần gũi Nguyễn Xuân Hoàng với
Tự Truyện Của
Một Người Vô Tích Sự
hơn là những truyện khác của anh.
Hoặc với một Nguyễn Ý Thuần cũng vậy,
Người Lính Còn
Lại
. Chỉ khác Kiệt Tấn và tôi ở điểm là Hoàng Du Thụy
đã cố tình gói ghém và đưa cái tôi của mình vào nhiều nhân
vật chính khác nhau, trong nhiều không gian và thời gian khác
nhau. Tuy nhiên, với một cái khéo nhìn, người đọc sẽ nhận
ra ngay. Bởi vậy mặc dù không hoàn toàn là tự truyện,
truyện của Hoàng Du Thụy mang nặng tính chất tự truyện. Và
chính cái tính chất tự truyện chân thật đó nó đã tạo nên
giá trị cho quyển sách.
Hoàng Du Thụy là nhà văn có khiếu viết về truyện tình. Dựng
lại những mối tình xa xưa cũng như làm nên những mối tình
thời đại. Nhưng, những tình tiết và những xảy đến trong
các truyện tình này đều không thể tìm thấy trong mấy quyển
tiểu thuyết viết theo kiểu
feuilleton
. Vì nó sống
thực. Vì nó không là hư cấu, tưởng tượng. Trong mười
ba truyện, hết sáu truyện đã là truyện tình. Và với một
tâm hồn lãng mạn và dám sống, Hoàng Du Thụy bằng một diễn
tả trân trọng và thiết tha, đã đưa độc giả vào tuổi tình
yêu vụng dại, hồn nhiên của thời học trò (
Sông Ơi, Chảy
Về Ðâu
), vào những lần đùa giỡn với tình yêu cùng
những anh chàng lính tàu trong thời trái chín (
Sông Không Ra
Biển
và
Chuyện Kể Sau Mười Lăm Năm
), vào những theo
đuổi, tìm tòi, cân nhắc trong già dặn tình đời nơi xứ
lạ quê người (
Cánh Cửa Chưa Khép Kín
và
Màu Quan
San
), cũng như vào một lần nào đó đã bị lợi dụng trân
tráo trong cảnh buôn bán chợ trời ở Việt Nam (
Vết Chàm
).
Truyện tình của Hoàng Du Thụy nhìn chung không mấy gì thác loạn,
chỉ là những khơi khơi buông thả theo dòng đời. Nhưng, theo
tôi, những chuyện tình này rất đẹp. Ðẹp như những gì còn
sót lại, cô đọng lại thành một kỷ niệm khó quên, của một
thời sống qua trong tuổi tình yêu mà chúng ta ai ai cũng có.
Giọng văn cũng chừng mực, tự chủ, kìm giữ không cho
bị cuốn hút vào một xô đẩy nào của tâm hồn. Vậy mà cảm
động. Và cái đẹp là sự thu tròn lại, không cho rớt xuống
của một hạt lệ long lanh. Truyện tình viết được như thế
là hay
. Chính ông Mai Thảo đã có lời khen như vậy.
Hoàng Du Thụy là nhà văn thích lăn xả vào cuộc đời. Bằng
những kinh nghiệm sống có thể từ chính bản thân mình,
chị viết lại những sinh hoạt bên lề xã hội một cách rất
trung thực. Trong số mười ba truyện ngắn, gần phân nửa
đã bắt đầu từ một bối cảnh Việt Nam và kết thúc trên
xứ người, Canada. Cảnh sống quê nhà sau 75 hiện ra mồn
một. Một cách tang thương, tủi nhục. Nhưng chị không hề
chĩa mũi dùi vào chế độ và bọn cầm quyền, chị chỉ đưa ra
những hậu quả não nề mà người dân phải chịu. Bằng hình
ảnh những tên sinh viên ba mươi nhảy ra lên lớp làm trò hề
trong các trường Ðại học (
Truyện Viết Lại Từ Bản Thảo Bỏ
Quên
và
Ché Sấm
). Bằng các vụ lường gạt tận tình
của bọn đầu nậu vượt biên. Sự tán tận lương tâm không
những xảy ra trong xóm giềng thân thuộc với nhau (
Truyện
Viết Lại Từ Bản Thảo Bỏ Quên
) mà luôn cả cho những
người tù cô thế vừa mới được thả về (
Lòng Tin
).
Bằng những ân oán giang hồ trên đất chợ trời đã dần dà
trở thành như một phong tục mới (
Vết Chàm
). Bằng
những tính toán, lợi dụng không tình người trong những gia
đình có cảnh Bắc Nam sum hợp trong Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam (
Nữ Sanh Ngoại Tộc
). Và bằng cái cảnh cha mẹ già
tựa cửa trông con, chờ cháu. Những đứa con vượt biên
đã ra đi không bao giờ trở lại, cũng như những đứa cháu
mới sinh ra trên đất người không bao giờ được thấy mặt
(
Cho Buổi Chiều Sắp Tắt
). Với ngần ấy hỗn độn
của sân khấu cuộc đời, vụt đến sau cuộc đổi đời, đã
được Hoàng Du Thụy diễn tả sắc nét ở mọi phương diện.
Bởi chị là nhà văn sành tâm lý, không những ở người trẻ
kẻ già mà luôn cả nam lẫn nữ nữa.
Ðêm Chong Ðèn
là một tùy bút viết về một ngày trôi qua
cho một tâm hồn trơ trọi nơi đất lạ quê xa, gợi ý từ
một cơ hội bất ngờ đã dẫn dắt tác giả đến giây phút
được phải chong đèn, say sưa đọc quyển Ðêm Chong Ðèn của
Hồ Trường An.
Và sau cùng,
Trầm Hương Hạnh Phúc
là một kết cuộc rất
tuyệt vời, rất nên thơ. Của một gia đình nửa chừng xuân
nói chung và của một người cầm bút nói riêng. Tâm sự thầm
kín của một người vợ, người mẹ là sự lén lút dấn thân
vào văn chương, lấp lánh trong toàn bộ tập truyện, đã
được giải tỏa một cách tốt đẹp nhẹ nhàng như những vần
thơ ru con. Một mình cặm cụi sáng tác trong âm thầm che dấu,
nhưng rồi cũng có ngày bộc lộ ra. Vì đã đến lúc cần
phải chứng tỏ cho người bạn đời, cho đấng phu quân của mình
biết qua một điều. Thế nào là nỗi vinh hạnh của một
người đàn ông đang nắm trong tay mình một trái tim mộng mơ
quyến rủ của một nhà văn nữ... Thử hỏi ai dám nói đây
không phải là tự truyện của Hoàng Du Thụy?
Bây giờ, nếu đi sâu vào chi tiết thì tác phẩm nào lại không
có những đoạn văn bóng bẩy, trong sáng, gây xúc động trong
lòng người đọc đáng trích dẫn làm bằng, cũng như những
đoạn văn rườm rà, tối nghĩa độc giả đọc lên đôi khi không
hiểu ý tác giả muốn nói gì, gởi gấm tâm sự mình cho
ai... Nhưng tôi không thể làm việc điểm sách trong khi viết
Bạt được, cho nên chỉ biết nhường chỗ cho bạn đọc lướt
qua cánh cửa vừa hé mở, bước vào một thế giới mới có
hoa thơm cỏ lạ của vườn văn.
Lời nói sau cùng của riêng tôi với Hoàng Du Thụy, TRẦM HƯƠNG
HẠNH PHÚC tuy là tác phẩm đầu tay nhưng là tác phẩm để
đời của một nhà văn nữ.
Winston-Salem, NC, vào Thu năm Kỷ Tỵ
back to top
02. MỜI ÐỌC: TẬP TRUYỆN CHUYỆN MIỆT VƯỜN CỦA HỒ TRƯỜNG AN
NGUYỄN TẤN HƯNG
Xưa nay, Tựa hay Bạt thường do những người đi trước
viết để giới thiệu những kẻ đi sau. Nhưng dạo gần đây,
nhiều người đi sau cũng hay viết Bạt cho những người đi
trước. Bởi lẽ, ngoài phần giới thiệu, còn để ghi lại
một thân tình, một kỷ niệm giữa những bằng hữu thâm giao.
Với Hồ Trường An, vợ chồng chúng tôi có cái may mắn
được gặp anh một lần tại tư gia nhà văn nữ Nguyễn
thị Thanh Bình. Một đêm hội ngộ thì đúng hơn, vì cùng
với gia chủ, chúng tôi bàn luận chuyện văn chương, đấu
láo chuyện trong làng đến gần sáng trắng mới chịu tan hàng
đi ngủ. Tuy một lần thôi mà từ đó anh em chúng tôi đã
coi nhau như đào viên kết nghĩa. Ðó cũng là lần duy nhất
cho đến nay, Hồ Trường An đã đến Hoa Kỳ, thủ đô Hoa
Thịnh Ðốn, nhân dịp buổi ra mắt sách
Giai Thoại Hồng
của anh, do Trung tâm văn bút Miền đông bảo trợ. Có lẽ
chính vì vậy mà sau Nguyễn Ngọc Bích, Thích Như Ðiển,
Võ Ðình, Võ Phiến... thì đến phiên tôi, riêng tôi,
được cái hân hạnh viết vài dòng cho tác phẩm của anh
chăng?
Cũng đồng thời với văn phong miền Nam, điểm chung; nhưng,
những cây bút miền Nam đều có vị trí riêng biệt của mình
vì nếp sống và suy tư của họ không giống nhau, điểm
riêng. Lê Bảo Trân, Phạm Thăng, Xuân Tước... nghiêng về
phong tục tập quán và tâm tình người dân miền Nam; qua
các anh, độc giả sẽ tìm được đời sống và kiến thức
của dân quê miền Nam thời trước. Anh Vân, Hải Bằng, Võ
Kỳ Ðiền, Xuân Vũ... cũng diễn tả về xã hội miền Nam
và đời sống dân miền Nam nhưng thiên về chống Cộng, chống
Xã hội chủ nghĩa. Hứa Hoành, một mình một cõi, với
sử ký và địa lý lồng trong văn chương nhằm ghi lại những
địa linh, những nhân kiệt, những chứng tích đậm nét ở
miền Nam. Nguyễn văn Sâm, Trần Long Hồ... như cố đi tìm
những khắc khoải, suy tư qua hình ảnh người dân miền Nam
trong nếp sống thị thành lẫn nơi thôn dã. Những người
còn lại, cũng rất quen thuộc với độc giả, như
Cao Bình Minh,
Hoàng Du Thụy,
Huỳnh Hữu Cửu,
Kiệt Tấn,
Ngô Nguyên Dũng,
Nguyễn Ðức Lập,
Nguyễn Lê Hồng Hưng,
Nguyễn Tấn Hưng,
Nguyễn thị Long An,
Nguyễn thị Ngọc Diễm,
Nguyễn thị Ngọc Nhung,
Nguyễn văn Ba,
Phan thị Trọng Tuyến,
Phùng Nhân, Sĩ Liêm,
Trần Kim Vy, Trần thị Kim Lan,
Vũ Nam, Ý Ngôn...
đều có ít nhiều kể lại những buồn vui, những riêng
tư, những xâm nhập từ ngoại cảnh, những bộc phá từ
nội tâm của mình.
Ðặc biệt hơn hết, ở cõi văn chương của Hồ Trường An,
chúng ta lại rơi vào một thế giới khác, rất khác: thế
giới của đàn bà, rất đàn bà miền Nam. Ở cõi văn
chương đó, khi độc giả đọc Hồ Trường An nghĩ sao tôi
không biết, chớ riêng tôi, tôi cảm thấy chung quanh mình
quây quần bởi một bầy tiên nữ lẫn lộn với một đám hồ
ly tinh. Kẻ lẳng lơ mơ mộng, người hiền thục dịu dàng.
Kẻ chằng ăn trăn quấn, người chân chỉ hạt bột. Kẻ
nhanh nhẩu liếng thoắng, người cục mịch quê mùa. Kẻ ngồi
lê đôi mách, người ít nói nghiêm minh... Với tôi, ai
cũng đáng yêu hết. Và tất cả đều được xây dựng
trên nền tảng gia đình thân tộc, đất nước quê hương
thắm đượm tình người.
Nhưng, đó chỉ là nói đến những người như tôi, đã đọc
và biết qua văn phong của Hồ Trường An; chớ còn ai đó
không cần biết Bắc Trung Nam, đàn ông hay đàn bà, người
già hay kẻ trẻ mà mới đọc anh lần đầu, tác phẩm đầu,
quyển sách đầu thì chắc chắn họ sẽ bị anh mê hoặc, hớp
hồn bởi lối diễn tả tinh vi tỉ mỉ nhưng phong phú và hấp dẫn
về những son phấn lụa là, áo quần nón nảy, màu mè kiểu
vở, nữ trang vòng vàng, hoa quả cây kiểng, bánh trái món
ăn... Ai cũng bị giọng kèn tiếng quyển của văn chương anh
làm cho say sưa, no đủ như chung quanh mình không thấy thiếu
một thứ gì trên cõi đời này. Tác phẩm anh, theo tôi, có
thể là những liều thuốc an thần rất tốt cho những người
đang sống lây lất trong thế giới cộng sản, xã hội chủ
nghĩa ngày nay. Không cần cao lương mỹ vị gì hết, chỉ cần
"giáo đầu" bằng mấy con mắm thôi (truyện ngắn
Lửa Hương
Ðêm Tìm Lại
), thì cũng đủ thèm chảy nước miếng và
"nhức nhối" lắm rồi:
Sống vùng quê gần vòng đai thành phố, con cá lá rau có
sẵn, vợ chồng em đề huề hưởng thú điền viên. Gần
Tết em mua cá cơm để làm mắm nêm, mắm phệt, mua cá linh
để làm mắm cá linh bán lai rai trong vùng và bán cho vùng lân
cận. Món nem cá cơm của em do bà ngoại em truyền lại làm dân
trên tỉnh mê lắm, tìm tới để mua về nhà ăn với bún,
thịt phay, rau xắt ghém. Em còn làm món mắm tép chua trộn
đu đủ. Món nầy làm bằng tép bạc còn sống nhảy loi choi,
chớ bằng không, dùng tép đã chết thì kể như hỏng nặng.
Con tép còn sống thả vào rượu nếp hương thì thịt nó ngã
nên màu hường như san hô. Khi được ướp muối, cùng
tỏi, riềng thì toàn thân con tép dậy lên men dần dần, ngon
nhức nhối, màu hường san hô khi lẫn vào đu đủ chín hườm
xắt chỉ vẫn còn giữ sắc thắm nguyên sơ trong keo, trong hũ
thủy tinh trong vắt. Nhờ chút hoa tay làm mắm mà em kiếm
bộn tiền song song với huê lợi ở ruộng vườn.
Tác phẩm
Chuyện Miệt Vườn
của Hồ Trường An gồm:
Lửa Hương Ðêm Tìm Lại;
Xuân Trắng Vườn Mộc Lan;
Trầu Xanh Cau Thắm;
Tình Ghen Thôn Dã;
Sông Lũ Suối Hiền;
Xuân Tết Vợ Chồng;
Xuân Thời Sông Trong Biển Lặng;
Chiếc Vòng Bát Bửu;
Thuở Nguyên Ðán Tươi Hồng;
Thai Nghén;
Học Trò Mụ Hoạn;
Ðiệu Huê Tình Ngày Xuân;
Tên, Thứ, Hỗn Danh;
Khởi Ðầu Cơn Gió Bụi;
Hai Nàng Ca Sĩ;
và
Anh Suôi Trai, Chị Suôi Gái
. Trong đó, xen kẽ với những
truyện ngắn,
Tình Ghen Thôn Dã;
Chiếc Vòng Bát Bửu;
Ðiệu Huê Tình Ngày Xuân;
và
Anh Suôi Trai, Chị Suôi Gái
là những kịch thơ có tầm vóc.
Tôi nghĩ anh Hồ Trường An chắc đã có dụng ý gì đây khi
trao tuyển tập truyện ngắn và kịch thơ này cho tôi, một
dân miệt vườn tầm thường như mọi dân miệt vườn khác,
viết Bạt. Vì tôi thấy hình như anh đang chọn lọc toàn
những truyện độc đáo, những kịch thơ giá trị để đóng
lại thành một cuốn sách để đời. Với tôi, xúc động
hơn nữa, vì phần lớn những sáng tác này được lấy
bối cảnh trên phần đất Mỹ Tho, quê hương của tôi mà
cũng là quê ngoại của anh. Những địa danh Trung Lương,
Ðạo Thạnh, Ðạo Ngạn, Bến Chùa, Vĩnh Kim, Xoài Hột,
Cai Lậy, Cái Bè... rất gần gũi thân thương. Rồi từ
đó anh mới đưa tâm tình mình băng qua kinh Chợ Gạo chạy
xuống Gò Công, vượt dòng Tiền Giang xuôi về Vĩnh Long,
quê nội của anh, lần qua sông Hậu thẳng tới ruộng
đồng Cần Thơ, Rạch Giá... Và, hiển nhiên, nào có thiếu
Sài thành hoa lệ. Nhứt là Sài thành hoa lệ trong thời
Ðệ nhị thế chiến, thời bảo hộ Pháp phồn hoa giả tạo
sắp đến ngày tàn (truyện
Khởi Ðầu Cơn Gió Bụi
và
Hai Nàng Ca Sĩ
)... Ðã thiệt! Có phải vì vậy,
thêm một lý do nữa, tôi được anh dành cho cái hân hạnh
viết vài đòng về tác phẩm
Chuyện Miệt Vườn
của anh?
Cách dựng truyện của Hồ Trường An xem ra thật rất dễ
dàng. Cốt chuyện hầu như không đáng kể. Vì lắm khi
chỉ dưới dạng thức một bức thư, một lời tâm sự, một
độc thoại một chiều... cứ cho nhân vật của mình thao thao
bất tuyệt kể lại chuyện đời riêng tư cùng với một
người chị dâu hay một cô em chồng, hoặc một người bà
con đang sống ở xa. Nhưng mà rồi đủ hết, nhờ cái
nọ xọ cái kia, dây cà ra dây muống. Trong đó, nào là
tình cảnh gia đình, cha mẹ, anh chị em, cô bác, láng giềng,
chòm xóm cho đến những đám cưới đám hỏi, những ngồi
lê đôi mách, những tai vách mạch rừng, những nấu nướng
lửa củi, những ăn trưa ăn chiều, những tắm rửa giặt
giũ... Ôi thôi, rất là đàn bà, hơn cả đàn bà, đọc
thét chỉ sợ... đầu óc, suy tư của mình và của độc giả
nữa chớ, rồi lại phải hóa ra... đàn bà luôn!
Ðây, thêm một đoạn làm quà, dưới ngòi bút Hồ Trường
An trong truyện
Thai Nghén
, cái ăn uống hùng dũng, hung
bạo của mấy bà ốm nghén (hai chị em bạn dâu, trong trường
hợp này) đang cơn thèm mà bị bà già chồng ra lịnh ăn chay
cầu phước cho con, đã như thế này:
Hai cái gỏi cuốn chấm tương trộn tỏi ớt chưa đã đâu.
Cho thêm hai cái bì cuốn nữa đi bà Năm. Chà, nước mắm
ớt đệm dưa kiệu xé nhỏ trông ngon mắt quá! Chưa thấm
tháp gì sau khi ăn hai cái bì cuốn. Thôi thì cho con mãng
xà nầy một tô bún bò xào đi. Có xá xị đó không? Cho
một chai đi, nhớ cho thêm nước đá nghen. Thịt bò xào
củ hành, sả ớt, đã thơm điếc mũi, lại còn thêm mùi
đậu phọng rang giã nhỏ nữa. Ủa, tui mới vừa lủm vài
miếng mà tô bún hết mau quá. Thôi thì bà Năm cho thêm
cái bánh xèo, nhớ lấy thêm rau sống, dưa leo. Ý chu
choa, bụng mình bắt đầu nặng như chiếc ghe chở khẳm
rồi đây. Mình ăn như La Sát, Chằng Tinh. Cái miệng
mình là miệng cá mập, cá xà, nhưng cái bao tử của mình
thì có giới hạn. Ngày mai mình sẽ ra đây tìm ăn bánh
cống, ăn mì, hoành thánh, cháo thập cẩm... ăn cho tới
tán gia bại sản, bán chồng đợ con luôn... Chỉ có một
bữa ngả mặn mà óc hài hước của mình bắt đầu khai
triển giống như óc đức ông chồng trời ơi đất hỡi
của mình. Bây giờ mình no cành hông, mình yêu đời quá!
Kìa có hai chiếc nem chua, để làm chi cho xốn mắt? Bán
luôn cho con mẹ chửa nầy đi bà Năm. Bộ bà chê tui ăn
không nổi nữa hả? Nè, bà coi nè... Hôm nay tui ngã mặn
mà. Tui ăn ngoạn mục, ăn hào hùng cũng như Tống Giang,
Lý Quỳ ăn thịt trâu, uống rượu vậy. Một khi đàn bà
chửa ăn hàng, tức là đứa con trong bụng mẹ cũng được
ăn luôn. Bởi vậy tui mau đói lắm. Hổng chừng chút
nữa tui quay trở lại "ních" thêm một chục bánh khọt cuốn
rau sống, chấm nước mắm cay, hoặc tui "khỉa" thêm vài
cuốn chả giò. Tui không ăn thì thôi, chớ một khi mà
nhúng mỏ vào rồi thì tôi ăn như tằm ăn lên, tui táp nuốt
như heo nái táp cám sú trong ảng vậy.
Tiếp theo việc đẻ chửa thì, đối với đàn bà, không gì
khác hơn là chuyện ghen. Mỗi người ghen một cách, kẻ dữ
dằn như sư tử Hà Ðông, người hiền lành như Ma Sơ, nhưng
vào lúc đó tất cả đều trở nên trầm tĩnh, mưu mô, xảo
quyệt. Tuy nhiên, kết quả của chuyện bắt ghen, đánh ghen
đôi khi cũng cười ra nước mắt như trong truyện
Học Trò
Mụ Hoạn
(Hoạn Thư nói rõ hơn):
Mỹ Phẩm như cây chuối bị đốn ngọt, ngã rạp xuống.
Vợ viên đại úy ré lên:
- Quỉ thần thiên địa ơi, chị nầy té xỉu trên đống cứt
chó rồi. Ði bắt ghen kiểu nầy coi bộ xệ quá xá.
Mặt Mỹ Phẩm trắng bệch bạc, mắt nhắm nghiền. Một
mụ bành kéo nàng ngồi dậy. Một mảng phân chó dính sau
lưng chiếc áo dài màu xám vảy cá thu của nàng.
Trong khi đó vợ Hai Pháp đâu có thì giờ săn sóc, khuyên
nhủ em dâu của mình? Chị xông tới thằng chồng dâm bôn
và người đàn bà lạ. Hai Pháp cả kinh vớ lộn chiếc
quần sa-teng của mụ tình nhơn mặc vào rồi chạy vô đám lau
sậy. Mụ tình nhơn bình tĩnh hơn, với chiếc quần tẹc-gan
của Hai Pháp mặc vào chạy theo sau, không quên ôm theo mớ
quần áo giày dép. Họ lủi vào đám sậy rộng minh mông.
Vợ Hai Pháp hò hét lũ bạn rượt theo, nhưng họ chỉ dám
xông vào đám bắp. Và trước cảnh tượng khôi hài đó,
họ ôm bụng cười lăn, cười tróc mỡ bụng, chảy nước
mắt, không nghĩ tới việc truy nã Năm Lịch và cô bồ nhỏ
của anh ta.
Văn chương Hồ Trường An là văn chương chuyện kể, nhưng
sở dĩ không khi nào độc giả cảm thấy đơn điệu hay phát
ngán là tại vì những phần chuyện kể đó được nối liền
với nhau bằng một chất men ướt át cảnh tình. Chính những
đoạn văn tả tình, tả cảnh lấp lánh lung linh trong sáng đó
đã làm cho văn chương anh trở nên có hồn, có thần, có
khí phách. Rải rác ở khắp mọi nơi mọi chỗ, chúng ta
luôn luôn bắt gặp hàng hàng lớp lớp những dòng chữ tiêu
biểu tuy ngắn ngủi, gọn gàng nhưng đánh mạnh vào con tim
người đọc. Những dòng chữ mà (lấy trong truyện ngắn
Xuân Thời Sông Trong Biển Lặng
làm thí dụ), theo tôi,
không thể nào không làm độc giả sững sờ, ngẩn ngơ:
Một năm qua, thơ từ đôi bên trao đổi với nhau thưa
thớt. Giờ đây, nhìn cây mai đơm những chấm nụ nhỏ
như mũi kim đan áo, cô Tư Tuyết Nga cảm thấy giấc mộng
lứa đôi của mình tuy có hồng hào nắng mới, nhưng hy
vọng của mình thỏn mỏn tàn phai như ánh tà dương...
Rồi ca dao, truyện tàu, sách tướng, tuồng vọng cổ,
tuồng hát bội, sách nghiên cứu đồ cổ, sưu tầm dĩa
hát xưa, v.v. tất cả đều nằm gọn trong trí nhớ của
anh. Chính những thứ này đã giúp cho anh có một kiến
thức sâu rộng bao trùm lên nhiều lãnh vực, địa hạt mà
đôi lúc, anh không ngần ngại đưa luôn vào truyện mình
(trong
Trầu Xanh, Cau Thắm
), cho nhân vật mình lên
tiếng làm nũng với chồng như vầy:
Giọng cô Tư Bé
(trong dĩa hát)
nhõng nhẽo, dễ thương
chi lạ. Khi vừa chạy dứt mặt dĩa thì thầy y tá Cảnh về
tới. Cô Hai Phụng Kiều trước đó đã để dành sẵn mâm
rượu thịt tươm tất cho chồng. Thầy Cảnh vừa cởi giày,
tròng đôi giép vào là cô múc thau nước mát, chìa tấm
khăn thơm sạch cho chồng rửa mặt. Cô bắt chước giọng
cô Tư Bé
(trong dĩa hát)
để hỏi chồng đánh xập xám
ăn hay thua:
- Muôn tâu bệ hạ, vừa thấy bệ hạ nhập thành thì lòng
thiếp vui mừng không xiết kể. Chẳng hay trận tiền đối
chiến với Châu binh, thắng bại lẽ nào vậy a bệ hạ?
Một đoạn văn độc đáo khác của Hồ Trường An nhằm diễn
tả những giọng hát "quỉ khốc thần sầu" của thời đại 20 câu
vọng cổ năm xưa (chớ không phải 6 câu ngắn gọn như bây
giờ), đã từng vang bóng một thời với những hãng dĩa
Pathé, Béka, Asia (truyện
Hai Nàng Ca Sĩ
):
Giọng hát của Năm Hảo Phối lạ lắm, sang sảng mà nhừa
nhựa, hát theo dây lòn theo nghĩa tầm nguyên là dây chui theo
dây đờn bà, tức là dây dành cho đờn bà hát. Hễ kép
nào ca vọng cổ chung với Năm Hảo Phối, tới phiên đương
sự hát là nhạc công phải đổi đờn bắt sang dây dành cho
đờn ông, phải lên cao cung bậc, nếu không, đương sự hát
nghẹt hơi nghẹt họng. Năm Hảo Phối vốn có cặp mắt xanh,
biết giá ngọc. Qua thân hình khô khan như cái mo cau của con
Lài, y ta bắt gặp một nhơn dáng rất thơ, rất
nghệ thuật. Và giọng hát của con nhỏ là một chất thép
quí báu có thể đúc rèn nên thanh gươm trứ danh. Y chỉ
cho con Lài những cái lắt léo của nhịp nội, nhịp ngoại,
song lan. Y giảng cho nó biết cách sử dụng hơi, phải bào
mỏng làn hơi cách nào, lúc nào trong câu hát, phải hát
cách nào cho tiếng thêm vang lộng và nẩy bật những âm
hưởng làm tê điếng người nghe, và phải hát thế nào
tạo nên một cảm giác chơi vơi cho thính giả với từng
thoáng đồng vọng như từ cõi xa xăm đưa về.
Và thỉnh thoảng có nhiều bức thư viết rất hay, ngôn từ
chí lý, ân oán tỏ phân (nhất là trong truyện ngắn
Xuân
Tết Vợ Chồng
). Tôi nghĩ độc giả, nhất là độc giả
đàn bà, dám có người sẽ sử dụng những bức thư này
như một thứ kim chỉ nam, để viết thư cho bạn bè, bằng
hữu và những người thân lắm!
Bước sang lãnh vực kịch thơ, nếu không mất nước, với
các màn kịch thơ của Hồ Trường An, chắc hẳn sẽ có một
cải cách lớn trong làng sân khấu trình diễn kịch thơ của
miền Nam, nối tiếp theo dòng kịch thơ gây tiếng vang từ
miền Bắc, với những ngôi sao soạn kịch thơ sáng chói trong
thời tiền chiến như Trần Tử Anh (
Nửa Ðêm Truyền
Hịch
), Thao Thao (
Quán Biên Thùy
), Nguyễn Bính
(
Bóng Giai Nhân
), Vũ Hoàng Chương (
Vân Muội
),
Khái Hưng (
Tục Lụy
), Hoàng Công Khanh (
Bến Nước
Ngũ Bồ
), Bình Nguyên Lộc (trong
Tâm Trạng
Hồng
)... Rấc tiếc, sân khấu và kịch thơ không có
đất dụng võ ở hải ngoại, không thể đương đầu với
những show nhạc vàng, nhạc rock-and-roll, nhạc new-waves. Tuy
nhiên, nếu ở truyện ngắn không đặt trọng tâm vào cốt
chuyện, ở kịch thơ, cốt chuyện lắm lúc gây xúc động
bất ngờ. Như vở
Chiếc Vòng Bát Bửu
chẳng hạn,
bà mẹ chồng dùng "chiếc vòng vàng chạm hình bát bửu" để
thử thách ba nàng dâu, bằng cách ra cuộc thi thêu mặt gối
và ai thắng sẽ được tặng làm quà. Nhưng kết cuộc lại
như sau:
Bà Phủ Thọ (vui vẻ):
Má mừng chẳng biết nói sao
Ba dâu tương ái trước sau một lòng
(mở chiếc hộp sơn son thếp vàng lấy thêm hai chiếc
vòng)
Thiệt ra má có ba vòng
Thưởng lòng hiếu thảo, nữ công sá gì
Má già như bóng tà huy
Nay còn, mai mất, âm ty sẵn chờ
Mừng nhà chia sớt ấm no
Vui cảnh hòa thuận, trước giờ buông xuôi
Con Hai, con Ba, bớ bây
Cùng con dâu Út xòe tay nhận vòng
Nhìn chung, kịch thơ của Hồ Trường An mang sắc thái những
câu ca dao, câu hò miền Nam nhưng có ngụ ý. Ca dao nào lại
không ngụ ý, có phải? Chúng ta có thể xem đây là những
bài ngụ ngôn văn vần, để răn đời hay diễn tả những
tình cảm chân thật hiền hòa, những cách tỏ tình dung
dị mộc mạc của trai tốt gái lành quanh năm sống ở miền
quê sông nước phù sa.
Trong một bài viết ngắn, quả thật, không cách gì nói lên
hết được những cái hay cái đẹp của một quyển sách ba
bốn trăm trang.
Giờ, nếu đi xa hơn một chút nữa, nên nói thêm về triết
lý sống trong văn chương Hồ Trường An. Với sự hiểu
biết hạn hẹp của tôi, tôi có thể nhận ra hai luồng
tư tưởng chính. Thứ nhất, tác phẩm Hồ Trường
An đã đưa ra cái triết lý sống, cái nhân sinh quan của
người miền Nam. Một cách sống, một cách nhìn rất gần
gũi, rất hòa hợp với thiên nhiên và tư tưởng Lão Trang.
Cái tính xuề xòa, bộc trực, đói ăn khát uống, không
thích đẻ ra lắm việc phải làm của người miền Nam, há
không phải là sự kết đọng của nguồn tư tưởng vô vi đó
hay sao? Và tư tưởng đó, chắc ai ai cũng công nhận, nó
bàng bạc và trải khắp mọi tầng lớp, góc cạnh của chữ
nghĩa Hồ Trường An! Kế đến là tinh thần Bất nhị của
nhà Phật. Có thể nói không một sáng tác nào của Hồ
Trường An mà không vẽ lên đôi bờ thiện ác, tốt xấu
cận kề, đen trắng phân minh. Ðể rồi lần nào cũng
vậy, tác giả luôn luôn đi vào cái kết luận có hậu,
phảng phất "tuy hai mà một" kia! Ðúng là Hồ Trường An
đã rọi sáng triết lý Phật giáo, thuyết pháp cùng người
đọc mà không hề và không cần vẽ lên hình ông Phật hay
đắp tượng Bụt!
Sau hết, văn chương chữ nghĩa viết theo lối chung chung thường
sẽ dễ bị lẫn lộn, mờ phai rồi dần dần rơi vào quên
lãng. Muốn có một chỗ đứng riêng cho mình trên văn đàn,
nhà văn phải có một hướng đi riêng, một lối nhìn riêng
và một cách viết riêng. Vậy thì để kết luận, qua tác
phẩm
Chuyện Miệt Vườn
, những gì tôi trình bày
trên đây há không phải là những cái riêng của Hồ Trường
An, duy nhất cho Hồ Trường An, cậu Ba Thiềng Ðức (xem
truyện
Tên, Thứ, Hỗn Danh
), mà không ai có thể làm
hoặc thay thế được hay sao?
Winston-Salem, ngày Lao động Quốc tế, 1992
back to top
03. MỜI ÐỌC: CÁC TẬP THƠ CỦA LUÂN HOÁN
NGUYỄN TẤN HƯNG
Rất là tình cờ, tôi được nhà thơ gửi tặng cùng
một lúc ba tập thơ:
Ngơ Ngác Cõi Người, Ðưa Nhau Về
Ðến Ðâu
, và
Cảm Ơn Ðất Ðá Trổ Thơ, Lòng Ta Hạt Bụi
Vu Vơ Bám Hoài
. Ðáng lẽ bốn, cho đủ bộ vừa xuất bản
tại hải ngoại như anh cho biết, nhưng vì tập thơ
Hơi Thở
Việt Nam
đã bán hết từ lâu. Kèm theo thơ riêng còn có
một câu thòng, đại để: "Ðọc đi và lượm ra những cái
vụng về, đập thẳng tay cho một bài thật rát da, đừng
vị nể như các bạn khác..."
Thiệt tình mà nói, tôi có hơi ngạc nhiên và mừng rỡ. Cho
chính bản thân tôi thôi. Thì ra mình viết riết cũng có
người biết đến, tìm kiếm làm quen. Nhất là được một
nhà thơ lớn như anh. Không lớn sao được khi anh đã có đến
hơn mười tập thơ đã xuất bản trong và ngoài nước, trước
và sau 75! Nhưng đằng sau cái vui đó tôi còn đụng phải cái
lo! Cái bổn phận phải "đập" hay "gõ" hoặc "vỗ" nên vài
dòng cảm tưởng đáp lễ. Không đáp lễ sao được khi bạn
thơ đã có tình nghĩ đến bạn văn! Có thể nói niềm đau
thương ray rứt nhứt của kẻ cầm bút chính là lúc nâng niu mang
tác phẩm mình đem tặng cho người, mà người được tặng
không thèm ghé mắt đọc một chữ, thậm chí, hững hờ đến
độ không buồn buông một tiếng cám ơn.
Có người nói: "Mười người cầm bút, nếu có chút chút
thực tài và chịu khó kiên trì cố gắng, thì trong năm bảy
năm sau có thể sẽ trở thành mười nhà văn." Câu này hình
như chẳng có gì sai. Rồi: "Trong năm bảy năm nữa, mười
nhà văn đó sẽ trở thành ba nhà phê bình, năm nhà vừa phê
bình vừa viết văn, và còn lại vỏn vẹn chỉ có hai người
viết văn thuần túy thôi." Câu này thì chưa chắc đã hoàn
toàn đúng hẳn. Tuy nhiên, mặc dù không hoàn toàn đúng hẳn,
tôi vẫn muốn được làm một trong hai "ông thần" viết văn
thuần túy còn lại đó! Tôi không muốn làm... nhà phê bình.
Ðối với tôi, thơ ai làm cũng hay hết và văn ai viết cũng
giỏi hết. Hình như càng tránh ra xa cái vòng khen chê lẩn
quẩn thì càng đỡ phiền, tôi nghĩ!
Nhưng muốn là một việc mà làm được hay không là một việc
khác. Vì nếu tôi cam tâm làm như vậy thì hóa ra tôi là kẻ
đứng bên lề, chẳng có bằng hữu tâm giao gì với ai ráo
trọi, có phải? Bởi thế cho nên, có lẽ trước sau gì tôi
cũng sẽ rơi vào trường hợp của năm "ông thánh" vừa viết
văn vừa phê bình kia. Còn việc vui chơi với ba ông "thái
thượng lão quân" thì chắc còn lâu, họa hoằn mười lăm hai
chục năm kế tiếp nữa, và chỉ khi nào tôi hết ý cạn lời
để viết văn thì tôi mới tính sang chuyện đó được... À
quên, xin lỗi, riêng về hoàn cảnh của các nhà phê bình
chuyên nghiệp thì lại khác một trời một vực, tôi không dám
lạm bàn ở đây.
Tánh tôi lại thích cà kê dê ngỗng về ba cái giao tình, kỷ
niệm vui buồn giữa bằng hữu với nhau. Ký sự văn học,
viết theo kiểu
Một Lần Xuống Núi
cho đời thêm vui
vậy thôi. Thành thử, với tôi, phần nói về văn thơ của
bạn bè tôi quen, chỉ là phần phụ thuộc. Trật trúng chẳng
màng. Lắm khi chỉ là vài lời "bốc thơm" cho bạn mình vui
là đủ rồi. Vả lại khi nói đến thơ, như trường hợp của
anh Luân Hoán ở đây, coi vậy chớ mà khó. "Bốc thơm" không
phải chỗ lại càng thêm trật đường rầy à nghen. Ối, mà
cũng đâu ai dám bắt bẻ gì mình điều gì, vì với thơ, mỗi
người có quyền thưởng thức một cách mà lị.
Ðể coi,
Ngơ Ngác Cõi Người
là tập ghi lại tâm sự hơi
đau thương của một người rời bỏ quê hương đất nước, ra
đi... bằng máy bay, và nỗi niềm ngơ ngác khi lao đao sống
gửi nơi xứ lạ quê người.
Ðưa Nhau Về Ðến Ðâu
,
đúng là tập thơ tình chính hiệu con nai vàng. Và
Cảm Ơn
Ðất Ðá Trổ Thơ, Lòng Ta Hạt Bụi Vu Vơ Bám Hoài
là những
dòng hoài hương, nối tiếp nhau bằng nhiều hình ảnh, địa
danh quen thuộc. Nhiều nhất ở quanh vùng Ðà Nẵng - Quảng
Nam, dĩ nhiên, nơi chôn nhau cắt rốn của nhà thơ. Và có
một đôi lần lang bang tới Sài Gòn, Bình Dương, Bến Tre...
Nhìn chung, qua ba tập thơ tiêu biểu vừa kể trên, theo tôi,
thơ Luân Hoán có nét "thơ học trò" của Nguyên Sa qua
"áo nàng
vàng anh về yêu hoa cúc, áo nàng xanh anh mến lá sân
trường,"
và "thơ tiền chiến" của Hữu Loan trong niềm đau
thời đại
"nhưng không chết người trai khói lửa, mà chết
người gái nhỏ hậu phương..."
Với anh, rằng thì là:
Em có nhớ trong sân trường bữa ấy
Giờ ra chơi em phơi nắng chiều đông
hoặc:
Thôi đừng nói ta đi đây, tạm biệt
Nhớ vô cùng dù nhớ để buồn nôn
Vở kịch lớn diễn trong nhà hát lớn
Hình ảnh cuối cùng tặng kẻ cô đơn
Ðành rằng, mốt "thơ học trò" và "thơ tiền chiến" của Luân
Hoán, cũng như của Phan Ni Tấn, Trần Mộng Tú, Ðặng thị Quế
Phượng, Cao Bình Minh..., chưa chắc đã làm hài lòng những
người đã và đang đi tìm những đường nét mới lạ - lắm
khi đi đến cầu kỳ quái đản hoặc khó hiểu - trong
thơ... chẳng hạn từ những tiếng thơ đã có chỗ đứng
riêng trên văn đàn hải ngoại như Trân Sa, Hàn Song Tường,
Nguyễn thị Thanh Bình, Nguyễn Ðức Bạt Ngàn, Thường Quán,
Ðỗ Khiêm..., nhưng với riêng tôi, tôi vẫn còn thấy thích
lắm. Vì nếu tôi không thích, không mến yêu cái tuổi học
trò và cái thời tiền chiến, thì chắc tôi đã không viết
lên
Một Ðời Ðể Học
! Cái không khí học trò và tiền
chiến đó nó vẫn còn nhẹ nhàng và gợi cảm như dạo nào. Bởi
vậy, có rất nhiều câu thơ của Luân Hoán hễ đọc qua một
lần là tôi cứ nhớ hoài, tỉ như:
Mua trăm vui lấp một sầu
Phờ râu lấp mãi gốc sầu vẫn xanh
Ối mà thôi, nếu bàn kỹ thơ Luân Hoán thì chắc phải viết
thành sách. Và hiển nhiên tôi không khoái làm việc này. Tôi
muốn nói chuyện riêng tư giữa Luân Hoán và tôi thôi... Lúc
tôi có ý sắp "đập" vài chữ cảm tưởng cho thơ anh thì tôi
được điện thoại.
- Hello.
- Hello, "ông Trùm" đó hả?
Trời đất, giờ này thì còn ai gọi giây nói cho tôi vậy
cà! Mắt nhắm mắt mở, tôi cũng ù ù cạt cạt:
- Hưng đây, xin lỗi ai đầu giây vậy?
- Luân Hoán! Anh đang làm gì đó? Có nhận được mấy
tập thơ tôi gửi tặng chưa?
Thôi chết rồi, nhận hổm rày cũng đã hai ba tuần, nhưng
đinh ninh là cứ để đó, chừng nào làm xong "bổn phận công
dân" thì sẽ gửi qua thông báo luôn. Không ngờ anh đang băn
khoăn lo lắng dữ. Mà nói cho ngay, gì chớ chuyện thư từ,
sách vở từ bên Gia Nã Ðại gửi qua Mỹ bị thất lạc liên
miên, hoặc trục trặc vì nhân viên bưu điện đình công,
vẫn xảy ra dài dài nên anh gọi hỏi thăm cho chắc ăn thì cũng
phải. Tôi trả lời ngay:
- Dạ, nhận được rồi anh. Sắp đọc xong!
- Vậy cũng mừng... À, bên anh bây giờ mấy giờ rồi?
Tôi liếc qua những con số trên đồng hồ dạ quang:
- Dạ, gần hai giờ.
- Chết cha, bộ đang ngủ hả? Thôi ngủ lại đi! Xin lỗi
nghen, tôi cứ tưởng bên anh cùng giờ với giờ Cali...
Lại thêm một đêm mơ mơ màng màng! Ðâu làm sao ngủ lại dễ
dàng khi mà đã... nửa khuya thức giấc! Mà kể cũng lạ,
tuồng như là có huông vậy. Vì dạo gần đây tôi cứ bị bằng
hữu, bà con bên trời Âu buồn tình riêng dựng dậy vào lúc
canh hai, canh ba lia chia. Ðể anh khỏi ngỡ ngàng, tôi hỏi lại:
- Anh đang làm gì bên đó?
- Ði chơi mới về.
Chẳng biết vì ngáy ngủ hay vì lẽ gì khác, tôi bỗng tự nhiên
nói khơi khơi:
- Mới đi chợ về à!
- Ði chơi chớ không phải đi chợ. Chợ búa gì giờ này.
Thôi, ngủ đi. Bye.
- Bye.
Ðặt lưng nằm xuống giường, ngẫm nghĩ hoài, không hiểu
vì sao mà tôi nghe chữ "chơi" ra chữ "chợ" cho được
chớ? Chẳng lẽ mình bị
hearing problem
? Một hồi lâu,
tôi nghiệm ra, có thể tại vì thơ của anh hình như đã phần
nào ăn sâu vào tâm trí của tôi. Từ lúc mới đăng báo,
trong nhiều trường hợp. Vì vậy, mặc dù chưa gặp anh lần
nào nhưng trong đầu tôi có lẽ cũng đã vẽ ra một Luân Hoán,
một anh chàng tối ngày chỉ biết lo việc chợ búa, cơm
nước, giặt giũ cho vợ nhà. Bởi lẽ:
Trộn chút tình ta vào bột giặt
Vò nhẹ nhàng bởi lo sợ em đau
Rồi nếu có rảnh rỗi thì lại thả hồn mình hướng về quê
hương làm thơ thương nhớ:
Treo lòng lên mũi Chân Mây
Lim dim nghe tiếng lá cây trở mình
. . .
Treo lòng lên đỉnh Hải Vân
Nghe sa diệp thạch bần thần thở ra
...
hoặc là làm thơ tình:
Mỗi lần sắp sửa yêu ai
Tự nhiên mặt mũi tóc tai lạ lùng
Tưởng như có triệu vi trùng
Ngo ngoe đòi được nhớ nhung với mình
...
Vậy thì thử hỏi làm sao mà anh không quên giờ giấc cho
được? Làm sao mà không làm thơ thiệt nhiều và dễ dàng
như thở cho được? Thôi thì, tôi phải để anh hãy tiếp
tục thơ thẩn nữa đi, đi chợ, đi chơi nữa đi...
back to top
04. MỜI ÐỌC: TẬP TRUYỆN TÌNH NGHĨA THẦY TRÒ CỦA SĨ LIÊM
NGUYỄN TẤN HƯNG
Với những ai khác thì sao tôi không biết, chớ riêng
tôi, được đọc bản thảo và viết bạt cho một tác phẩm,
kể ra, phải nói đó là một hân hạnh không nhỏ cho người
cầm bút. Nhất là khi viết bạt cho tác phẩm đầu tay
của một bạn văn mà mình yêu mến. Ðó là trường hợp
giữa Sĩ Liêm và tôi.
Sĩ Liêm là một cây bút miền Nam, với văn phong miền Nam
rõ rệt, cho nên cũng cần nhắc sơ qua các cây bút miền
Nam để ít ra thấy được vị trí của anh trong bút nhóm
này, và sau đó, trên văn đàn hải ngoại.
Nếu tính theo tuổi tác thì những người chào đời vào
thập niên 21-30 trở về trước còn cầm bút sáng tác, và
đôi khi sáng tác mạnh nữa là khác, thì có Phạm Thăng, Thừa
Phong, Xuân Tước, Xuân Vũ. Lớp sinh ra vào khoảng 31-40 thì
có Anh Vân, Hải Bằng, Hồ Trường An, Huỳnh Hữu Cửu, Hứa
Hoành, Kiệt Tấn, Lê Bảo Trân, Nguyễn thị Long An, Nguyễn
văn Sâm, Sĩ Trung, Thụy Khanh. Lớp đầu thai trong thời
chinh chiến từ 41-50 có Ngô văn Thọ, Nguyễn Bạch Mai, Nguyễn
Ðức Lập, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn văn Ba, Phùng Nhân,
Trần thị Kim Lan, Võ Kỳ Ðiền, Ý Ngôn, và mới đây còn
có... Hồng Lan. Lớp sanh sau đẻ muộn hơn một
chút, từ 51-60, có Cao Bình Minh, Hoàng Du Thụy, Ngô Nguyên
Dũng, Nguyễn Lê Hồng Hưng, Nguyễn thị Ngọc Diễm, Nguyễn
thị Ngọc Nhung, Phan thị Trọng Tuyến, Trần Kim Vy, Trần Long
Hồ, Vũ Nam. Và sau cùng, lớp chào đời trễ nữa, từ
61 trở đi, thì duy nhất, có lẽ chỉ có mỗi một mình... Sĩ
Liêm, con của tiểu thuyết gia nổi tiếng Sĩ Trung, mà thôi.
Ðồng lứa, đồng thời với Ngọc Khôi và Trần Vũ, hai bầu
bạn tâm giao cùng với anh trên đất Pháp.
Với tôi, Sĩ Liêm đã tỏ ra rất thân tình qua những lần
thư từ, điện thoại xuyên Ðại Tây Dương. Và có lẽ vì
vậy mà anh giành cho tôi cái nhiệm vụ đề bạt cho đứa con
tinh thần đầu đời của anh chăng?
Tác phẩm
Tình Nghĩa Thầy Trò
gồm mười truyện ngắn
Ví Dầu Tình Bậu Muốn Thôi, Ðau Ðớn Phận Già, Trăng
Xế Ðèn Mờ, Giựt Giàn, Thương Nhớ Một Tờ, Xứ Lạ Quê
Người, Tình Buồn Câu Vọng Cổ, 425 Quan, Tình Nghĩa Thầy
Trò,
và
Con Chim Thời Tiết
. Phần lớn các truyện
ngắn này đã được đăng tải trên các tạp chí văn học
nghệ thuật thuần túy, đứng đắn như
Làng Văn, Văn,
Văn Học
.
Nếu cho rằng "đọc văn biết người" thì trường hợp Sĩ
Liêm cũng đã không thoát ra khỏi thông lệ đó, mà trái lại
còn hằn lên đậm nét, vì hầu hết truyện của anh đều
có tính chất sống thực giống như tự truyện. Qua
tác phẩm
Tình Nghĩa Thầy Trò
chúng ta thấy anh là một
con người chân thật, quả cảm,
chưa làm mất gia phả miền
Nam
(truyện ngắn
Giựt Giàn
), giàu sức chịu đựng,
luôn luôn chống chọi cùng nghịch cảnh với thái độ canh cánh
bên lòng câu:
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả. Lâm nguy
bất cứu mạc anh hùng
. Và anh cũng đã từng không quên
lời thầy dặn, dốc tâm sống theo kiểu:
Nghèo cho sạch, rách cho thơm. Trọng nghĩa khinh tài. Sau
này có công thành danh toại thì phải khiêm nhường với mọi
người chung quanh. Nghe khen đừng nên mừng vội và chê
cũng đừng lấy đó làm buồn. Tiền bạc, vật chất là
phù du ảo ảnh. Có đó rồi mất đó. Chỉ có cái tình là
còn lại...
(truyện ngắn
Tình Nghĩa Thầy Trò
).
Với tôi, hình như nhà văn có tầm vóc không thể hình thành
trong bóng mát, tháp ngà mà chỉ có thể và phải được un
đúc, dày công tôi luyện trong trường đời đầy sóng gió.
Trong chiều hướng đó, bằng một vốn sống dồi dào ngay
từ thuở nhỏ cộng với một giọng văn trong sáng, gẫy gọn,
dí dỏm, dễ đọc dễ hiểu, cũng như những nhận xét tỉ mỉ
tinh vi, sự thấu đáo tâm lý nhân vật kẻ trẻ người già,
đàn ông lẫn đàn bà, và một bụng ca dao bình dị mộc
mạc... Sĩ Liêm đã đưa vào tác phẩm đầu tay của mình một
dàn trải sâu rộng về xã hội và bối cảnh lịch sử Việt
Nam ở vào cuối thế kỷ. Qua mười truyện ngắn tiêu biểu
này, độc giả sẽ buông mình vào cảnh giới êm ả và tâm tình
hiền hòa của người miền Nam, để dễ dàng nhận ra
sự biến dạng của thế thái nhơn tình, của trò đời bạc
bẽo, khi mà con người ta phải sống theo lối giam lỏng trong
ngục tù xã hội chủ nghĩa hoặc bắt buộc phải trôi nổi
theo kiếp ly hương. Tuy nhiên, chính trong những hoàn cảnh
đau thương đó, những đóa hoa tâm cảm của cuộc đời,
những cái
"chỉ có cái tình là còn lại"
đó, mới có
dịp nghiệm chứng và đã lặng lẽ, âm thầm, bàng bạc nở
ra trong tận cùng bóng đêm tăm tối.
Cái
"tình"
đó là gì? Ở đây, theo tôi, có lẽ tác giả
đã muốn nói đến nhiều thứ lắm!
Phải chăng đó là
tình nghĩa vợ chồng
? Với sự hy
sinh vô bờ bến và lòng thủy chung gắn bó đối với chồng
con của người phụ nữ Việt Nam, cho dù người chồng có
phản bội mình đến thế nào đi nữa, rằng:
Nhưng tánh cô hiền lành không muốn có chuyện rùm beng e
thiên hạ chê cười. Cô ráng cắn răng chịu đựng không than
phiền, đánh ghen tùm lum tà la, xấu hổ cho chồng con. Cô
chỉ còn biết cầu trời khẩn Phật cho cậu Ba Ðực trở về
với gia đình...
(trong
Ví Dầu Tình Bậu Muốn Thôi
).
Hoặc qua sự thương yêu, đùm bọc, hủ hỉ có nhau ở cái
tuổi tóc bạc da mồi, cô đơn tẻ lạnh nơi xứ tạm dung, vì:
Từ ngày di tản sang Tây, xứ người đâu còn như bên nhà,
tình lối xóm láng giềng mất hẳn. Ai ở nhà nấy. Lỡ
gặp thì gật đầu chào cho có lệ chớ thân thiết gì. Sáng
bảnh mắt ra thì mọi người đã đi làm, chẳng ai có thì giờ
để ý đến ai. Thậm chí có những người ở cùng một
chung cư mà không bao giờ thấy mặt nhau. Ông bà Tám sang
đây thấy cảnh tình như vậy mà phát ớn...
(trong
Xứ Lạ Quê Người
).
Phải chăng đó là
tình cha mẹ con cái
? Ðã không còn
nguyên vẹn trong vòng lễ giáo, kính cha hiếu mẹ như ở quê
nhà, mà là phải thay đổi, hội nhập, và lắm khi phải
chịu đựng nữa trước sự đồng hóa mãnh liệt của nếp
sống và văn hóa mới trên quê hương thứ hai, bởi vì:
Bà Năm The sống mà tâm hồn như người chết. Bà lại
đi ra, đi vào than vắn, than dài. Có cái ti-vi mà bà đâu
có bao giờ rớ tới. Bà có hiểu tụi nó nói cái gì ở
trỏng đâu nè. Tối ngày bà cứ ôm cái máy cassette nghe
toàn là cải lương, hồ quảng. Nghe đã rồi bà khóc, khóc
đã rồi bà nghe. Nhiều lúc bà thấy bà giống như một con
ở của cô Hai Lượt. Bà nấu cơm cho nó ăn, nó còn chê
mặn, chê lạt. Ăn xong nó không thèm dọn xuống phụ, nó
xách mông đi lại ghế sa lông nằm dài, nằm ngửa coi ti-vi,
mặc cho Bà Năm dọn dẹp, rửa chén. Bà Năm The cũng đâu
có thèm phàn nàn. Bà thương con, thấy con làm cực khổ,
bà sẵn sàng phụng sự "má chồng" của bà. Cô Hai Lượt
thiệt là tệ lậu hết sức. Thấy mẹ mình già cả như vậy,
đáng lẽ phải chính tay cô làm mới đúng. Chớ đâu
để... Thiệt là hết chỗ nói!
(trong
Ðau Ðớn Phận Già
).
Phải chăng đó là
tình bằng hữu
? Trong tuổi trẻ vui
đùa, thèm làm chuyện "anh hùng tử chớ chí hùng nào tử,"
để lắm lúc không ngần ngại hy sinh tấm thân ốm yếu của
mình cho những bầm dập roi đòn, tại vì:
Trong lòng đứa nào cũng dậy cao ngọn sóng tham
lam: phải giựt cho bằng được mấy cỗ số lớn nhứt.
Ðó là của tao, của riêng tao. Dù bị đạp chết giữa cuộc
giựt giàn tao cũng chịu! Chiến thắng và trở thành "anh
hùng" hay chiến bại, hóa ra vô dụng, gà chết đều do nơi
kết quả của trận chiến giựt giàn sắp nổ ra trong chốc
lát nữa đây. Khỏe mạnh, to con như trâu cui, như bò
mộng chưa đủ. Gầy yếu mà gan lì, giỏi chịu đựng sự
đau đớn dưới hàng tấn thịt người và dám đánh nhau
với các tay du đảng, đủ những đặc tánh đó mới trở
thành anh hùng.
(trong
Giựt Giàn
).
Hoặc một mình cô đơn nơi gác trọ trên xứ lạ quê xa, gặp
lúc kẹt tiền đóng tiền nhà mà không tìm đâu ra bè bạn,
để phải lao đao lận đận:
Tính tới, tính lui, tính hoài, tính mãi cũng chưa tìm ra
biện pháp nào hữu hiệu, an toàn hơn là đi mượn. Nói
thiệt đi mượn là một điều đau khổ cho tôi vô cùng.
Có thể nói đó là một điều nhục nhã cho tôi thì đúng
hơn. Nhưng giờ phút này, đã một tây rồi, ngày mai là
bà chủ nhà sẽ gõ cửa phòng tôi cộp cộp. Nếu tôi không
thanh toán đúng kỳ hạn, bà sẽ không ngần ngại gì mà mời
tôi đi. Không và không, tôi không để cho người Tây họ
khi dễ người Việt Nam mướn phòng mà không có tiền trả.
Trong hai cái nhục, tôi phải chọn một cái nhục là đi
mượn. Mà mượn ai?
(trong
425 Quan
).
Phải chăng đó là
tình thầy trò
? Ðể cho thấy một
gần gũi, thương mến, thông cảm lẫn nhau giữa thầy và
trò như hai người bạn đồng hành tay trong tay trên một
đoạn đường khó khăn, khổ ải ở cõi đời này (phảng
phất cái hơi hướm buồn buồn kỷ niệm của hai bạn đồng
môn trong
Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư
của Sơn Nam), bằng
cái nhập đề buâng khuâng dịu vợi:
Mấy năm qua, cứ mỗi lần Tết sắp đến, tôi nhận
được tấm thiệp Xuân của thầy Năm từ bên Texas gửi qua Pháp
cho tôi. Tấm thiệp đặc biệt, do chính tay thầy vẽ. Năm
đầu, thầy vẽ một cậu trai mới lớn, khuôn mặt giống
như khuôn mặt tôi đang vịn cành mận hồng đào sai trái.
Năm thứ hai, thầy vẽ cậu trai đó ngồi vá vỏ xe đạp
dưới gốc mận hồng đào. Năm thứ ba, thầy vẽ cậu trai
đó xách giỏ mận đi bán. Kèm các hình vẽ luôn luôn là chữ
Cung Chúc Tân Xuân tô kim nhũ lóng lánh.
Năm thứ tư, thầy vẽ cái dĩa đựng bốn trái mận, và
thầy ghi trong tấm thiệp: "Cô em và hai em của em đã
vượt biển đến trại Songkla, thầy đã bảo lãnh cô em
đến Texas rồi."
Năm nay thầy vẽ cái dĩa đựng tới năm trái mận. Tôi
đoán là cô tôi sắp có thêm tí nhau nữa. Quả vậy,
thầy cho biết cô đang mang bầu.
Thầy trò tôi gửi thư cho nhau rất ít, nhưng thư nào cũng
dài như một truyện ngắn...
(trong
Tình Nghĩa Thầy Trò
).
Phải chăng đó là
tình gia đình thân tộc
? Giữa cậu
cháu, bà con xa với nhau, cho dù có xấu xa ghẻ lở đi nữa,
chỉ vì một sở thích chung không thể thiếu được:
Xuyên qua ánh trăng mờ nhạt, tôi thấy cậu Tờ cắt từng
miếng xoài xếp hàng lên dĩa bàn. Cậu một miếng, tôi
một miếng. Tiếng xoài tượng vỡ giữa hai hàm răng nghe
thật dòn. Vị chua chua cộng với vị mằn mặn, ngọt ngọt,
cay cay làm tôi ngây ngất. Vừa nhai vừa hít hà, tôi nghe
khẩu vị mình trào dâng một cảm giác đê mê lạ lùng. Thoáng
một cái hai cậu cháu đã nuốt gần hết trái xoài tượng
lớn bằng cổ chân. Cậu Tờ nhường cái hột cho tôi.
Chấm hột xoài vào nước mắm đường đặc kẹo, tôi cạp
sạch đến tận vỏ cứng của nó. Cậu Tờ bảo tôi đưa
hột xoài cho cậu rồi cậu túm hết vỏ xoài đi thẳng ra
ngoài vườn.
(trong
Thương Nhớ Một Tờ
).
Phải chăng đó là
tình đồng nghiệp
? Chỉ có trong cảnh
buôn bán chợ trời của xã hội chủ nghĩa? Tuy nhiên, cho dù
khổ cực, gian truân thế nào đi nữa họ vẫn luôn tìm cách
đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, nhờ vào món hàng đặc biệt:
Từ ngày mua được con chim thời tiết, dân bán chợ trời
thoát được cái cảnh trời mưa bất thường. Tôi thường
lấy bài "Tương Tư" của Nguyễn Bính mà cảm đề như thế
này:
Chợ trời buôn bắc, bán đông
Một người ngồi bán ngồi trông mọi người
Nắng mưa là bệnh của trời
Con chim thời tiết biết trời nắng mưa.
Cứ hễ con chim đổi màu hường, tôi tức tốc chạy ra khỏi
gian hàng la lớn:
- Trời sắp mưa bà con ơi! Con chim đổi màu hường rồi!
(trong
Con Chim Thời Tiết
).
Và sau nữa, phải chăng đó là
tình yêu trai gái
? Nhất
là ở mối tình đầu tiên của một người con gái ngây thơ,
chẳng biết đua đòi, sống đơn giản trong con phố nhỏ, bỗng
dưng một hôm nọ bị tiếng sét ái tình và đã gửi con tim cho
người trai cùng xóm, vì:
Nói xong cậu Ba chạy lẹ về nhà. Cô Hai Kim Hoa đứng nhìn
theo cười sung sướng. Từ nhỏ tới lớn đây là lần
đầu tiên cô bị con trai "dê" nên vui quá chừng, quá
đỗi. Ðờn bà con gái cũng kỳ cục lắm! Không ai
"dê" thì buồn, mà "dê" thì chửi, chửi đã
rồi tiếc hùi hụi. Cô Hai giủ quần áo vừa phơi, vừa
mong cho thời gian qua lẹ để ngày mai xem cậu Ba đóng phim.
(trong
Ví Dầu Tình Bậu Muốn Thôi
).
Hoặc là mối tình trẻ thơ trong nỗi cô đơn mang thân đi ở
đợ và trong hoàn cảnh xem như côi cút cả mẹ lẫn cha, để:
Tôi liền kể cho con Tí (tên con bé ranh mãnh) nghe tự sự,
không dấu một điều gì. Cả hai như đã quen nhau từ lâu
lắm rồi vậy. Con Tí nghe tôi kể, nước mắt nó cũng
rưng rưng. Từ ngày bà tôi chết cháy cho đến bây giờ,
chỉ có con Tí là người đầu tiên nhỏ cho tôi những giọt
nước mắt thành thật. Từ đó tôi có một người bạn
tâm đầu. Hai đứa kết thân với nhau. Con Tí là nguồn
an ủi của tôi sau những ngày tháng cơ cực
...
Vậy mà rồi sau đó, người bạn trẻ vô phước kia lại chẳng
đã đi đến một quyết định chọn cái đau khổ cho riêng mình,
là đành phải xa nhau, chỉ vì không muốn một nghịch cảnh
của cuộc đời lại phải tái diễn lần thứ hai, thứ ba
như số kiếp vay trả trả vay, như luân hồi mãi mãi
(trong
Trăng Xế Ðèn Mờ
).
Và thêm một mối tình ngang trái khác, mặc dầu có cái kết
cuộc thật là tang thương vì cả hai cùng chết, nhưng lại
thấp thoáng cái hơi hướm buồn buồn kỷ niệm của Sơn Nam
trong tuyệt tác giai nhân sao nỡ mắc bệnh nan y
Hương
Rừng Cà Mau
, như ở đoạn dưới đây:
Anh Tư Du lắc đầu, mặt buồn hiu:
- Em còn nhỏ em hổng hiểu đâu!
Thấy anh không muốn nói, tôi cũng không gặng hỏi nữa.
Nhưng từ khi chuyển về đây, lúc nào anh cũng trầm ngâm.
Anh không rủ tôi hái bần ăn với mắm sống, ớt xanh, cơm
nguội nữa. Tối ngày anh cứ ngâm nga ca vọng cổ, toàn
là những câu buồn sầu ai oán, nghe muốn đứt ruột, nát
gan. Tôi chỉ có nước nhìn anh rồi thở dài thườn
thượt.
Còn chị Hai Búp vì cha mẹ ép uổng, phải lấy ông chủ
Ðáo, lớn hơn chị mười sáu tuổi, xấu không ra xấu,
đẹp không ra đẹp, nhưng khuôn mặt lầm lì, cách ăn nói
phách lối nên xóm giềng đều ghét. Chủ Ðáo giàu có
nhờ biết làm áp phe với Mỹ. Ông ta bỏ tiền ra để má
chị Hai Búp mua máy xay trái cây và mở quán bán nước sinh
tố, và các thứ giải khát khác...
(trong
Tình Buồn Câu Vọng Cổ
).
Xuyên qua những thứ
"tình"
ơ hờ, còn sót lại đó, chúng
ta còn thấy cũng đồng thời với một văn phong miền Nam,
nhưng lấp lánh trên toàn bộ tập truyện, Sĩ Liêm đã sử
dụng nhiều ngôn từ và một lối diễn tả mới lạ, dễ đi
sâu vào cảm xúc, trí nhớ của độc giả. Chẳng hạn như:
Bà Năm The đã già cả thể xác lẫn tâm hồn. Nước mắt
bà đã tuôn chảy thành giòng nhưng không đủ sức làm ấm lại
cái lạnh tẻ buốt giá của xứ người
(truyện ngắn
Ðau
Ðớn Phận Già
). Chẳng hạn như:
Thím hà tiện ngay
với bản thân mình. Nhà chú thím mà có tòa cao lẫm lớn là
do tài bòn tro đãi trấu, vắt chày ra nước của thím Năm
(truyện ngắn
Trăng Xế Ðèn Mờ
). Chẳng hạn như:
Tôi
cầm cuốn sách nhét vô lưng quần xà lỏn, nắm tay con Tí kéo
ngồi xuống bờ ao. Chiếc lục bình đứng lại ngắm hai tâm
hồn trẻ thơ như muốn nói một điều gì, nhưng không nói,
rồi lặng lẽ trôi đi
(truyện ngắn
Trăng Xế Ðèn
Mờ
). Chẳng hạn như: vân vân và vân vân.
Xen kẽ trong đó, có những đoạn tả món ăn phải nói cũng hấp
dẫn như Vũ Bằng, Hồ Trường An! Chỉ cần đọc qua ba đoạn
tả ăn xoài sống nước mắm đường (tuyện ngắn
Thương
Nhớ Một Tờ
), ăn bần chua, mắm sống, ớt xanh, cơm
nguội (truyện ngắn
Tình Buồn Câu Vọng Cổ
) và ăn xôi
trét đậu xanh tán nhuyễn, rắc dừa nạo, đậu phọng giả
nhỏ, muối mè và đường cát mở gà (truyện ngắn
Con Chim
Thời Tiết
) là chúng ta đủ thấy cái hương vị, cái thèm
thuồng đã làm nước miếng chảy ra đầy miệng.
Và còn nhiều điều đáng nói nữa trong tập truyện đa dạng
này, nhưng xin nhường lại cho độc giả để tự khám phá,
thưởng thức lấy! Luôn cả những chỗ đôi lúc hơi vô tình
lập ý, hay cường điệu, nói quá, lắm khi không cần thiết!
Tóm lại, ở Sĩ Liêm, chúng ta đã bắt gặp một vốn sống
riêng, một lối dựng truyện riêng, một cách diễn đạt
riêng, và một niềm tin riêng nhằm vào những giá trị của
cuộc đời phiền toái này, và chính những thứ đó đã giúp
anh có một chỗ đứng riêng trên văn đàn.
Một lời cuối cho Sĩ Liêm, giống như hồi nào tôi nhắn
nhủ với Hoàng Du Thụy, rằng, tuy đây là tác phẩm đầu
tay nhưng sẽ là tác phẩm để đời của một nhà văn trẻ,
vì tác giả của nó đã sáng tác bằng tất cả con tim, bằng
với tất cả nhiệt tình của thuở ban đầu thành công rực
rỡ khi vừa mới bước chân vào vườn văn muôn màu nghìn
sắc.
Winston-Salem, Hè 1992
back to top
05. MỜI ÐỌC: TẬP TRUYỆN BÊN NÀY BỨC TƯỜNG BÁ LINH CỦA VŨ NAM
NGUYỄN TẤN HƯNG
Sau hai tác phẩm được trình làng là
Sau Ngày Tang
và
Bên Dòng Sông Donau
do Viên Giác, trung tâm văn hóa xã
hội Phật giáo Việt Nam tại Ðức, xuất bản và phát hành,
tên tuổi của Vũ Nam đã không còn xa lạ gì với độc giả
bốn phương. Trong văn giới cũng vậy, qua các truyện ngắn
ấm áp tình người, tình quê hương, tình yêu trai gái đăng
rải rác những mười năm qua trên các tạp chí văn học nghệ
thuật thuần túy, đứng đắn như
Văn, Làng Văn, Văn
Học, Sóng, Nắng Mới, Ðộc Lập, Viên Giác
... bút hiệu
Vũ Nam cũng đã dần dần trở nên quen thuộc với mọi người.
Tuy nhiên, một điều đáng nêu lên là không phải Ngô Nguyên
Dũng, không phải Thế Giang, cũng không phải bất cứ một
người cầm bút nào ở Ðức..., mà thật ra chúng ta có thể
nói, chính Vũ Nam mới là người đã ghi lại được nhiều
hình ảnh và chi tiết nhất về cái hoạt cảnh xã hội của cộng
đồng người Việt tị nạn tại Ðức. Ðáng kể hơn nữa là
trong những năm gần đây, với sự sụp đổ của bức tường
Bá Linh, biểu tượng một thời của ngăn chia giữa Tự Do và
Cộng Sản, đã gây chấn động không riêng gì ở vùng Ðông
Âu mà là khắp thế giới năm châu, thì sự ra đời của
tác phẩm
Bên Này Bức Tường Bá Linh
của Vũ Nam đã không
những đáp ứng được đòi hỏi về phía người Việt mà còn
là một đánh dấu khá rõ nét về bản chất u mê, ù lì, gian
xảo của cái tập đoàn hết thời Cộng Sản Việt Nam, đầu
dây mối nhợ cho những lầm than, khổ đau, nghèo đói của cả
dân tộc trong gần suốt hai thập niên qua.
Bên Này Bức Tường Bá Linh
là tập truyện gồm mười
truyện ngắn với truyện đầu tiên cùng tên lấy làm tựa
sách và các truyện
Bức Thư Nhờ Nhà Báo Chuyển, Bước
Trên Thềm Cũ, Những Dòng Sông Chảy Ngược, Ðêm Rồi Cũng
Qua, Ðêm Bá Linh, Mùa Xuân Ðến Muộn, Hai Mảnh Ðời Bên
Ðây Cánh Rừng, Dưới Rặng Albe
, và
Người Kỹ Sư Tâm
Hồn
. Mười truyện ngắn tình cảm, chất chứa thương
yêu, có vóc dáng của những đóa hoa hồng vươn lên từ khô
cằn sỏi đá, những bất hạnh của cuộc đời.
Một trong những bất hạnh đó là cuộc sống thê lương, vô
vị trong cảnh "gái thiếu trai thừa" của những đứa con trai
tị nạn độc thân. Thê lương và vô vị đến độ chỉ khi
nào bức tường Bá Linh sụp đổ mới mong có cơ hội được
lập gia đình. Vì các cô em đi "lao động xứ người" đã
không ngần ngại lánh xa Bác Ðảng và chủ thuyết bần cùng
hóa nhân dân, vượt qua những hàng rào ngăn cách để đổ
xô tìm đám trai trẻ, đàn ông lấy làm chồng hầu được
ở lại với Tự Do. Vậy mà trong thế "lẹ tay còn chậm tay
mất" đó bạn vẫn còn tiếc thương cho hoàn cảnh hẩm hiu
của bạn:
Từ lâu, Cương vẫn nghĩ, dù không nói ra, bạn mình vẫn
luôn luôn bị cái thương tật ấy nó dày vò, dù anh có tạo cho
mình một đời sống lạc quan, không phiền muộn. Nhưng làm
sao bạn có thể che đậy, dửng dưng, với cái thương tật
ấy trong mỗi giờ khắc đi qua. Bạn như một thân cây hư
đứng chen trong đám rừng đầy cây cỏ quanh năm tươi tốt,
vì thế bạn phải cố ẩn nhẫn, chịu đựng sự thua thiệt
của mình trong yên lặng. Thế nên khi vừa nghe chính từ
miệng bạn mình tha thiết nói đến chuyện thương yêu,
chàng hơi ngỡ ngàng.
(truyện ngắn
Bên Này Bức Tường Bá Linh
, trang 32)
Rõ ràng, có sống trong cảnh cô đơn mới thấy chuyện lứa
đôi là hạnh phúc, vàng ngọc. Có sống trong thiếu thốn
tận cùng mới thấy những cần thiết vụn vặt là quý giá,
trân châu. Thử hỏi, có mấy ai nghiệm được cái nghèo
khó trong cảnh giàu sang bao giờ? Ðàn bà, cho dù là đĩ
điếm đi nữa, vẫn luôn luôn là những hào quang chói lọi
trong thế giới con trai độc thân:
Nàng nhỏ hơn tôi năm bảy tuổi. Tôi quen nàng ở giây
phút thật kỳ lạ trong một cái bar. Ðời sống tôi là
như vậy đó! Những buổi chiều cuối tuần buồn bã,
tôi thường mua vui ở những nơi này! Ngồi xem trên màn
ảnh nhỏ những phim "con heo" rẻ tiền, lu câm, cũ mèm,
đến độ muốn mờ mắt. Nhưng những khi ấy, chuyện
phim không còn là chuyện quan trọng, mà cái quan trọng chính
là có một vài tiếng người, hơi người là những người
con gái, dù mình xức đầy nước hoa nồng nực vẫn cho
tôi cái hơi hướng xác thịt đàn bà, còn hơn là cái
mùi máy móc cả tuần trong hãng, hoặc mùi tường vách
trong căn phòng tôi cư ngụ.
(trích trong
Mùa Xuân Ðến Muộn
, trang 127)
Một trong những bất hạnh đó là cảnh ngang trái của tình
yêu, em ở nơi này anh ở nơi kia. Rất là thường tình,
cái gì đã vuột khỏi tầm tay thì mới gây cho mình niềm
nuối tiếc. Có sống trong cảnh xa nhau mới thấy những nhớ
nhung, ray rứt, bộc phá của tâm hồn. Nhưng, những dòng
chữ sau đây đã không khỏi làm người đọc xúc động,
ngậm ngùi:
Em sợ sệt đối diện mọi người, ngay cả với người
thân trong gia đình. Em khép đời mình trong căn phòng độc
thân do trại phát. Em chỉ ra ngoài khi cần đi mua sắm, đi
bác sĩ hoặc đi vòng vòng quanh trại những trưa hè nóng nực
hoặc khi chiều xuống. Những buổi như thế, bà con trong
trại thường ùa ra ngồi trên cỏ, dưới bóng mát của những
tàn cây lớn, nướng thịt, chuyện trò, ăn uống... Riêng
em một mình lủi thủi gần hàng rào. Ở đó em sẽ nhìn ngắm
cái khung cảnh bao la vắng vẻ của đồng ruộng, ánh nắng
rải trên những đám bắp, trên những đóa hoa mặt trời
vàng rực. Trời cao, xanh thăm thẳm, vài đám mây trắng
mỏng trôi lặng lẽ... Cảnh vật nơi đây vẫn vậy, hết
đông sang hè, chỉ có lòng em thay đổi với khổ não muôn
trùng.
(truyện
Bức Thư Nhờ Nhà Báo Chuyển
, trang 48)
Hoặc ngược dòng thời gian, trở về một nơi chốn xa xưa,
khi người yêu của mình là lính trận tiền đồn, để thấy
lòng người đang yêu luôn mỏi mòn bâng khuâng bên hình bóng cũ:
Qua những lời thư của anh tôi càng thấm thía cho cuộc
đời của những người lính, vì thế lòng tôi càng dâng
lên niềm thương mến anh đậm đà. Tôi đã yêu anh, tôi
nghĩ rằng cả đời tôi không thể rời gương mặt anh đang
chập chờn trong trí não. Tình anh đối với tôi như đã ăn
sâu vào ký ức, như những viên kẹo ngọt ngào trong tấm
giấy thời gian, chỉ cần bóc giở tấm giấy thời gian ấy
ra, tôi sẽ tìm thấy ngay cái ngọt ngào của viên kẹo kỷ niệm
tuổi thơ ngày trước.
(trong
Những Dòng Sông Chảy Ngược
, trang 84)
Hoặc hồi tưởng lại trong cảnh tiễn đưa, kẻ ở người đi:
Gần một tháng sau, kể từ ngày tiễn Trang lên phi cơ về
Việt Nam, đây là lần đầu tiên Thiết nhận được thư
này. Nét chữ rất đẹp viết trên khổ giấy học trò màu
ngà. Chàng cứ ngỡ là sẽ không bao giờ nhận được thư
Trang, vì thời gian qua đã lâu, bỗng đâu lại nhận
được. Tâm thần chàng lại thấy sảng khoái, như mặt
đất khô cằn nứt nẻ trong hè, giờ liền lạc lại sau
những cơn mưa.
(truyện ngắn
Ðêm Bá Linh
, trang 115)
Một trong những cảnh bất hạnh đó là sự lỡ làng duyên
phận. Của biết bao nhiêu người vợ hiền, trên đường
vượt biển, đã không còn thấy mặt chồng khi đến bến.
Bỗng dưng trở thành son giá, góa bụa một đời vì bọn hải
tặc Thái Lan dạ thú hình người. Cái giá phải trả cho Tự
Do đôi khi quá đắc, vậy mà cũng không ngăn cản được
hằng trăm ngàn, hàng triệu người bỏ xứ ra đi chỉ vì
không ngửi nổi mùi thiên đường Cộng Sản... Rồi với
liều thuốc thời gian nhiệm mầu, lòng người lắm lúc cũng
lắng đọng, nguôi ngoai:
Nhưng dần dà, cứ lâu lâu gặp gỡ, cứ bạn bè lại nói
ra nói vào, cứ gặp những cử chỉ ân cần và những lời
thăm hỏi chân tình của Hào, rồi nàng cũng thấy lòng xao
xuyến thật. Nỗi xao xuyến như cánh hoa căng nở trước
cánh bướm đẹp. Sự thật, khi nàng còn sống bằng
nhịp thở, bằng con tim; khi máu vẫn còn lưu thông trong
cơ thể thì nàng vẫn còn cảm nhận được những cay
đắng, ngọt bùi trong cuộc đời. Ðể rồi từ từ,
mỗi ngày, cái xúc động càng tăng tiến mỗi khi gặp
Hào; rồi dần dần cũng thèm muốn một vòng tay đàn
ông ôm ấp, chở che, nhất là những ngày cuối tuần
yên vắng, những chiều hôm khi trời đổ tuyết bên
ngoài. Thời gian cứ qua, hình bóng chồng càng ngày
càng mờ phai, thì hình bóng Hào ngược lại càng ngày
càng hiện rõ, rõ đến nỗi như Hào đã hòa nhập vào
hình bóng chồng nàng, và che nó mờ khuất.
(trích trong
Ðêm Rồi Cũng Qua
, trang 94)
Cùng không thiếu hình ảnh các cô giáo làng đã âm thầm
sống trong cảnh "tựa bóng trông chồng" đằng đẵng bao năm,
để rồi lần hồi dòng đời lặng lẽ trôi qua, thêm một
lần nữa chuyển mình trong ngang trái, trớ trêu:
Rồi chàng lại sợ cha mẹ chàng sẽ buồn, khi hay tin chàng
đang theo đuổi một cô gái đã có chồng là lính chết trận.
Nên cái yêu thương Liễu chỉ ầm ĩ trong lòng chàng, chớ
chàng chưa dám tiết lộ với ai. Những ngày sau đó khi đi
dạy, những lúc phải gặp Liễu, Tùng hay giả đò làm những
động tác và nói những câu nói thừa thãi, để khỏa lấp
cái tiếng lòng chàng đã thúc giục bên trong, khi đối
diện với nàng. Chàng vẫn phải cứ tiếp tục đóng kịch
là một người đồng nghiệp gương mẫu trước người bạn
gái góa chồng. Nhưng thực ra thì Liễu đã biết và để
ý đến việc đó rồi. Nàng cũng thấy lòng lâng lâng,
cái xúc động thật nhẹ nhàng. Mỗi khi gặp Tùng, lòng
nàng rung động như giọt sương lung linh trong ánh nắng.
(truyện
Người Kỹ Sư Tâm Hồn
, trang 181-182)
Và những bất hạnh ấy còn nhiều, bàng bạc trong toàn bộ
tác phẩm. Như cảnh mang bầu rồi phá thai vì sợ cán bộ
gởi trả về Việt Nam của những thiếu nữ bắt buộc phải đi
truyền bá khẩu hiệu "lao động là vinh quang" nơi xứ lạ quê
người. Như cảnh chui rúc trong những căn nhà tị nạn xập
xệ, cũ mục, không đủ ấm dưới băng giá mùa đông mà
các cơ quan thiện nguyện đã cấp cho. Như vân vân và
vân vân...
Tóm lại không cần phải nói nhiều, qua những dòng chữ nên
thơ êm đềm, tuy đôi lúc có hơi u buồn rời rã, vừa trích
dẫn như trên, một lần nữa chúng ta có thể xác nhận rằng,
thế giới văn chương của Vũ Nam là thế giới của tình yêu
trong nghịch cảnh. Những nghịch cảnh xem ra vời vợi, lung
linh như những cánh hoa tơi tã trong mùa tuyết rơi. Những nét
chấm phá đẹp đẽ của cuộc đời có pha trộn ít nhiều tính
chất thương đau cho thân phận con người.
Trong thân phận ấy, qua Vũ Nam, chúng ta còn biết thêm rằng
những người đi làm lao công ở xứ ngoài không phải là
những người nghèo khổ, mà phần lớn chính ra là con cháu
của những kẻ đã có "hồng hơn chuyên" trong quá khứ:
Du đến Tiệp Khắc làm việc không phải vì nàng là một
công nhân viên hay cán bộ nhà nước xuất sắc; không phải
con của "anh hùng liệt sĩ"; cũng không phải là người đã
từng tham gia cách mạng. Nàng được đi đến Tiệp Khắc
làm việc chỉ vì trước năm 75 cha nàng là một người nằm
vùng cho Việt cộng. Cái tinh thần cách mạng từ trước
ấy cứ dây mơ rễ má kéo dài mãi cho đến sau này. Và ba
nàng cũng vì có cái lý lịch cách mạng ấy mà đã "mè nheo"
ở Ủy Ban Nhân Dân huyện để cho nàng đi Tiệp lao động.
(trong
Dưới Rặng Albe
, trang 165)
Ðể rồi, tiếp theo đó, mới có những cảnh vượt biên
đường bộ trên xứ người giữa biên giới Tiệp Khắc và
Ðông Ðức với Tây Ðức:
Những con đường mòn hiện trên bản đồ giữa đám
rừng, là những đường dài màu trắng đan chéo nhau.
Nhưng vì Quang một phần đã để ý trước khi đi, một
phần vì nhìn theo ánh mặt trời, nên cuộc vượt biên
bằng đường rừng cũng không vất vả lắm. Từ Tiệp qua
Tây Ðức, thì rừng thật vắng và lạnh đến rợn
người. Nhờ mùa hè, mặt trời lên sớm, nên cảnh
rừng đã sớm tràn trề sinh khí, ánh mặt trời len qua
những ngọn cây như những hỏa châu đêm chiếu sáng, tạo
thêm cái vui cho hai người. Ði đến đâu mệt thì ngồi
nghỉ, uống nước, rồi tiếp tục đi. Khi đã qua mười
hai giờ trưa thì trong đường rừng đang đi bỗng đâu nghe
tiếng xe hơi từ xa chạy lại. Lẹ làng, Quang đã nắm tay
Sương kéo vội vàng núp vào ở bên lề đường. Xe chạy
qua, hai người nhìn theo thì ôi, còn gì vui mừng bằng! Chiếc
xe mới toanh mang bảng hiệu Tây Ðức.
(truyện
Hai Mảnh Ðời Bên Ðây Cánh Rừng
, trang 153)
Và ở Vũ Nam, cũng không thiếu một tấm từ tâm. Hãy
nghe anh gói trọn tâm tình mình về một cảnh chùa ở quê
hương khuất lấp:
Hình ảnh các bậc thang đá từ dưới chân núi để
đi lên các ngôi chùa màu xám bóng, bị mài nhẵn dưới
bước chân phật tử, khách thập phương, vẫn còn lộng
đầy trong đầu chàng. Những cọng cỏ xanh non xen trong
những kẽ đá, đội trên đầu long lanh những giọt sương
đêm, chỉ cần một sự đụng chạm nhỏ bởi các bước chân
cũng có thể rơi xuống thấm lả tả trên các phiến đá.
Những con cuốn chiếu màu nâu bóng bò ngang qua các bậc tam
cấp để đi, khi đụng chạm vội cuốn vào y hệt như một
tấm thảm tròn màu nâu nho nhỏ, được dệt với những
đường nét màu trắng ngà. Thường thì hai bên lối đi
những loại hoa rừng vươn lên trên những cánh lá, cho một
ít hương thơm. Thỉnh thoảng một vài cây mai nở muộn
với cành nhánh thật thanh thật dịu...
(truyện ngắn
Bước Trên Thềm Cũ
, trang 60-61)
Sau cùng, để kết luận, lại thêm một nhận xét có phần
chủ quan, là mặc dù thỉnh thoảng có vài chỗ hơi rối rấm,
luộm thuộm tuồng như tác giả viết vội vàng và không có
thì giờ kịp sửa chữa, nhưng
Bên Này Bức Tường Bá
Linh
, với giá trị lịch sử của nó, rồi sẽ là một trong
những tác phẩm để đời của Vũ Nam.
Winston-Salem, Hè 1993
back to top
06. MỜI ÐỌC: TẬP TRUYỆN SAU CUỘC ÐỔI ÐỜI CỦA DƯƠNG TIẾN ÐÌNH
NGUYỄN TẤN HƯNG
Sau những lần đề bạt cho Hoàng Du Thụy, Hồ Trường
An, Luân Hoán, Sĩ Liêm, Vũ Nam..., lâu lắm rồi tôi không
có cơ hội đọc bản thảo và viết lời giới thiệu cho một
tác phẩm đầu tay nào. Một dấu hiệu cho thấy sự mệt
mỏi của thế hệ trẻ đang cầm bút ở hải ngoại? Rất có
thể, với đà sáng tác tuột dốc và mức in ấn chìm lỉm
như hiện nay!
Tuy nhiên, bên cạnh những ngôi sao đang từ từ lu mờ thì cũng
có những ngôi sao đang lóe lên bóng sắc. Và đây là trường
hợp của anh bạn tôi, nhà văn Dương Tiến Ðình. Anh xuất
hiện trên văn đàn kể ra cũng đã lâu, từ năm 1985, nhưng vì
không có cộng tác với các tạp chí tạm gọi là văn học nghệ
thuật thuần túy như
Văn
của Mai Thảo,
Văn Học
của
Nguyễn Mộng Giác,
Làng Văn
của Nguyên Hương & Nguyễn
Hữu Nghĩa,
Thế Kỷ 21
của Ðỗ Ngọc Yến..., nên ít
người để ý, biết tới.
Lúc anh có nhã ý nhờ tôi đề tựa cho tập truyện đầu tay,
tôi có hơi ngạc nhiên. Vì anh là dân Huế, chẳng lẽ không
quen biết gì với những Võ Ðình, Túy Hồng, Ðiệp Mỹ Linh,
Nguyễn thị Hoàng Bắc, Hoàng Xuân Sơn, Hồ Ðình
Nghiêm... Well, có lẽ bà con xa không bằng láng giềng
gần! Và cũng may là trong thời gian quân ngũ, tôi lại được
đi và sống nhiều ở miền Trung nên tôi mới dám nhận! Trong
thư đề ngày 9 tháng 10, 1996 anh có vài dòng vắn tắt với
tôi... "như đã trình bày với anh trên điện thoại, hôm nay
tôi xin gửi đến anh tập bản thảo
Sau Cuộc Ðổi Ðời
,
mong anh viết cho tôi cái tựa càng sớm càng tốt để in cho
kịp trong năm nay..." Thế là tôi, mặc dù rất bận bịu với
đủ thứ văn thơ nhạc họa, cũng phải bắt tay vào việc đọc
và viết cho bạn bè!
Tập truyện
Sau Cuộc Ðổi Ðời
gồm 12 truyện ngắn mang
tựa đề
Anh Sáu Hồ Hỡi, Bò Cải Tạo, Ngây Thơ, Miếu
Linh Ông, Vượt Biển, Gái Nào Là Gái Chẳng Ghen, Ðiếm
Chảy, Tiếng Chuông Ngân Ðêm Thánh Vô Cùng, Ghép "Form",
Ðổi Ðời, Tỉnh Mộng
và
Bà Chủ Tịch Mất Tích Ðêm
Giáng Sinh
, hầu hết đều viết về đề tài... chuyện dài
xã hội chủ nghĩa sau 75. Ðại cương, cũng giống giống như
những mẩu truyện ngắn chống Cộng của đông Ðiền, Võ Kỳ
Ðiền, tây Ngạn, Nguyễn Ngọc Ngạn, một thời nào trên báo
Làng Văn
.
Tôi đọc tập truyện suốt một lèo không phải vì chịu khó hay
nể bạn mà là vì sự hấp dẫn, lôi cuốn của tác phẩm. Rất
có thể đây chỉ là trường hợp của riêng tôi vì tôi không
ở lại sau 75, không đi tù cải tạo nên có nhu cầu tìm hiểu,
học hỏi! Nhưng với giọng văn gãy gọn trong sáng, không cầu kỳ
rắc rối, dễ đọc dễ hiểu, cộng thêm phần dí dỏm..., bảo
đảm, người đọc không bị nhàm chán.
Nhìn chung, giọng văn của anh có âm hưởng của giọng văn miền
Nam. Có lẽ vì anh đã sống nhiều ở Sài Gòn, trong tuổi
trưởng thành, hơn là ở thành phố Huế, với tuổi học
trò nội trú, bị cấm cung. Ngoài những đối thoại có tính
cách địa phương "mô tê răng rứa," đậm nét trong truyện
Miếu Linh Ông
, rải rác khắp tập truyện anh sử dụng
những từ ngữ bình dân của miền Nam, như "biểu ", "lấn
cấn," "cười giả lả," "cắc ca cắc củm," "buồn rười
rượi,"... xem ra rất nhuần nhuyễn.
Thứ đến, cũng là một điểm ảnh hưởng bởi văn chương
miền Nam, là truyện của anh viết đều... có hậu. Ân đền
oán trả, trời cao có mắt. Con người càng điêu ngoa, gian
ác bao nhiêu thì sẽ nhận lãnh những nghiệp quả càng ê chề,
đau đớn, dở khóc dở cười... do chính họ tạo ra bấy
nhiêu. Ðọc những truyện có hậu, mặc dầu truyện của
Dương Tiến Ðình đôi khi có nhiều chỗ quá ư... "cay đắng
mùi đời," xin lỗi nhà văn Hồ Biểu Chánh, nhưng cuối cùng
rồi người đọc sẽ cảm thấy tâm hồn mình thoải mái, dễ
chịu hơn.
Tiếp theo, truyện của anh viết là... truyện có cốt chuyện
đàng hoàng. Rất sống thật, rất gần gũi. Không mấy bịa
đặt, thêm bớt. Ðiều này chứng tỏ Dương Tiến Ðình có
nhiều vốn sống và, nhờ vậy, đã dàn trải tâm tình mình
trên trang giấy một cách dễ dàng, linh động hơn. Gần như
mỗi truyện là một ngụ ngôn cho các "đỉnh cao trí tuệ loài
người," một thiên bi ký sự của cái "xã hội từ người
xuống vượn," xin lỗi nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, chưa từng
thấy trong lịch sử Việt Nam.
Ngoài ra, đi sâu vào chi tiết, anh còn có biệt tài tả nhân
vật và tâm lý nhân vật. Rất có hồn, chẳng hạn như đoạn
sau đây:
Anh Sáu có cái biệt danh là "Sáu Hồ Hỡi." Trong trại nầy
tiếng tăm anh đã nổi như cồn. Anh là người chững chạc,
thẳng thắn, cởi mở và luôn luôn lạc quan. Chưa bao giờ
thấy anh Sáu buồn rầu lo lắng. Anh quan niệm chính nghĩa
là lẽ tất thắng. Anh thường mang niềm tin và hy vọng đến
cho người chung quanh, cho nên khi thấy ai đau khổ, anh liền
tìm cách an ủi vỗ về. Trong khi mọi người tuyệt vọng,
chán nản thì anh vẫn tin tưởng vào ngày mai tươi sáng. Anh
tổng hợp, phân tích một cách sắc bén tình hình quốc tế,
quốc nội với lập trường vững chắc. Anh không bao giờ
buộc tội Mỹ bỏ rơi chúng ta. Anh nói đấy chỉ là một
chiến lược giai đoạn, "bất chiến tự nhiên thành" bằng
cách dùng "miếng thịt bò tẩm thuốc độc để tiêu diệt
con cọp hung tàn." Anh Sáu ví miền Nam như miếng thịt bò,
miền Bắc nói riêng và Cộng Sản nói chung là con cọp...
(trong
truyện
Anh Sáu Hồ Hỡi
).
Anh còn có khả năng, không phải "nhân" mà là "vật cách hóa,"
biến đám tù cải tạo thành... bầy bò, đồng thời tạo nên
những cái vô lý, bất ngờ rất lý thú. Như đoạn này
của... bò Y-Bun:
"Tui đâu phải là Fulro. Rồi họ đánh đau quá, tui phải
nhận là lính Fulro. Rồi họ cũng chẳng chịu, đánh thêm,
tui phải nhận là Trung sĩ Fulro. Họ cũng chẳng chịu, đánh
nữa, tui phải nhận là Thiếu úy Fulro. Họ cũng chưa chịu,
đánh mãi, tui phải nhận là Thiếu tá Fulro. Lúc đó họ mới
thôi đánh. Mà thiệt tình tui có biết Fulro là cái gì
đâu? Họ đánh càng đau thì tui càng nhận thêm cho họ đừng
đánh nữa."
(trong truyện
Bò Cải Tạo
).
Và, thêm vào đó, anh diễn tả tâm tình của một kẻ đi xa
vừa trở lại quê nhà cũng rất là thấm thiết tình người.
Không kém phần ngậm ngùi, man mác như sau:
Máy vừa nổ, đò được đẩy lui rồi từ từ rời bến.
Tôi nhìn lại từng hòn đá, ụ đất, từng lùm cây, mái
nhà và từng cánh đồng lúa ngô chạy dọc theo giòng sông
đâm ra biển. Tôi cố quay về với kỷ niệm. Ðây là bến
Ðình, nơi hò hẹn đầu tiên với người tình bé bỏng lúc
còn cắp sách đến lớp, kia là nóc giáo đường cổ kính,
mẹ tôi thường đứng nhìn tôi rơm rớm nước mắt đi qua
chuyến đò Sình đến trường nội trú Tiểu học theo niên
học mới. Chẳng có gì thay đổi cả. Mấy ngàn năm cảnh
vật vẫn như vậy, nhưng sao con người chóng đổi thay, đến
nỗi những đồng hương ngồi trên đò chẳng nhận được
ra tôi, và chính tôi cũng chẳng còn nhận ra tôi nữa là!"
(trong truyện
Miếu Linh Ông
).
Vì không muốn làm chuyện tóm lượt cốt chuyện từng truyện
một giúp độc giả, nên tôi chỉ nêu lên những điểm son
chung, thấp thoáng trong toàn tập, và trích ra một vài đoạn
tiêu biểu như trên, để mời bạn đọc thẩm định, thưởng
thức sơ qua. Phần còn lại, lớn lao và đầy đủ hơn, xin
dành cho những khám phá riêng tư của từng người.
Thêm một điều nữa tôi muốn nêu ra là, mặc dù đây là
tác phẩm đầu tay, nhưng rất tròn đầy,
không có nhiều khuyết điểm và điều
này chứng tỏ tác giả đã nắm vững phần kỹ thuật.
Sau hết, tôi có lời cám ơn anh đã vẽ lên, đã cho tôi thấy
rõ hơn... cái xã hội chủ nghĩa quá ư là tồi tệ, bi đát,
thống khổ với những nghịch lý lắm khi không thể tưởng
tượng được của nó. Rất mong chủ nghĩa và chế độ ngoại
lai này sẽ sụp đổ trong một sớm một chiều để mọi người
còn tìm lại những giá trị nhân bản mà tự mình bắt buộc phải
đánh mất để sống còn trong thời gian qua.
Với riêng nhà văn Dương Tiến Ðình, tôi có lời chúc anh
bền lòng với chữ nghĩa văn chương để tiến triển và thành
công hơn nữa trong những tác phẩm sắp tới.
Naperville, IL, ngày 14 tháng 10 năm 1996
back to top
07. KỶ NIỆM VỚI "SƯ PHỤ"*
NGUYỄN TẤN HƯNG
Liên tiếp mấy ngày sau khi hay tin ông Mai Thảo mất, tôi
gọi điện thoại nhiều lần cho anh Nguyễn Xuân Hoàng mà không
gặp. Rồi đến lúc gặp, khi cô thơ ký trao phone, tôi liền
vọt miệng:
- Ậy, anh Nguyễn Xuân Hoàng phải hôn? Muốn gặp anh khó
quá mà...
- Dạ dạ..., thưa ông... ông cần điều chi ạ...
Tôi cười:
- Nguyễn Tấn Hưng đây, anh không nhận ra tiếng thằng
em à?
Anh nói:
- Ủa, Hưng hả? Mấy ngày qua anh bận quá Hưng ơi. Một
chút nữa đây anh phải chạy ra nhà quàn. Bây giờ các anh
em văn nghệ sĩ coi anh như con thừa tự, anh phải phò săng,
đọc điếu văn...
Tôi ngắt ngang:
- Vậy chớ anh xem còn ai có thể thế chỗ cho anh được
đây?
Anyway
, định gọi anh xem bên đó có làm cái gì
chung chung cho mình ké hay không, nhưng trễ quá, tụi này đã
gọi FTD gởi hoa cúng riêng tiễn đưa "sư phụ" rồi. Anh
biết đó, ở hải ngoại này ông Mai Thảo viết cho tựa
sách đầu tay có mấy người thôi. Hình như Nguyễn thị
Ngọc Nhung với
Ðêm Rồi Cũng Ði Qua
, Nguyễn thị Thanh
Bình với
Ở Ðời Sống Này
, rồi mình với
Một
Ðời Ðể Học
và Nguyễn thị Long An với
Bên Sông
Vàm Cỏ
...
Chẳng biết anh Hoàng có để tâm vào câu chuyện tôi đang
kể hay không, hay là đầu óc còn vẩn vơ ở nhà quàn, mà
tôi nghe anh cứ "Vậy sao, vậy sao..." Tôi tiếp tục tả oán:
- Chớ anh không theo dõi, đọc báo gì hết à? Tụi này còn
gọi ổng là "sư phụ," không những ở ngoài đời mà trong
bài viết nữa...
Như chợt nhớ ra điều gì, anh Hoàng cắt:
- Hưng ơi..., viết gấp một bài cho ông Mai Thảo đi.
Mình dự trù số
Văn
tới sẽ là số đặc biệt cho
ổng...
Tôi đáp ngay:
- Biết viết gì bây giờ? Mấy anh lớn sống nhiều với
ổng, kỷ niệm nhiều với ổng thì nên viết chớ thằng
em thì chỉ qua lại sơ sài thôi. Ối, mà bạn bè trang lứa,
cùng thời với ổng thiếu gì... anh sao khéo lo...
Anh Hoàng góp ý:
- Thì những người đi trước viết về ổng hổng thiếu
gì nên cần có những bài viết của những người đi sau.
Viết lẹ lên đi nghen, trong vòng một hai tuần thôi đó...
Lúc cúp phone tôi ngẫm nghĩ lại anh Hoàng nói đúng... Bài
của những người đi sau viết cho ông Mai Thảo chắc không
nhiều. Tôi là một trong những "đại đệ tử" (
wow!
)
của ổng mà không viết thì ai viết đây? Thanh Bình đã có
bài, đã rất trang trọng bàn đến
Ta Thấy Hình Ta Những
Miếu Ðền
, còn tôi thì rải rác đó đây trong các bài ký
sự văn học về các chuyến du hành qua Cali, đều có bóng
dáng "sư phụ," nhưng chưa có một bài viết riêng. Thôi
thì lần này, nên ngồi lại vậy...
Có thể nói trong thập niên 85-95, những tờ báo văn học
nghệ thuật thuần túy được nhiều người cộng tác,
nhiều người biết đến phải kể là
Văn
của Mai Thảo,
Làng Văn
của Nguyên Hương - Nguyễn Hữu Nghĩa,
Văn
Học
của Nguyễn Mộng Giác,
Thế Kỷ 21
của Ðỗ Ngọc
Yến... Những người cầm bút khởi viết ở hải ngoại
thường theo dõi các bạn văn cùng thời và hay kháu nhau
rằng... cô ấy, bà ấy, ông ấy, bạn ấy... "xuất
thân" từ "lò" nào vậy? Nhằm vào sự đăng bài đầu
tiên hoặc giả được giới thiệu là người viết mới
của mấy tờ báo kể trên. Và với riêng tôi, tôi vẫn hãnh
diện là mình xuất thân từ lò
Văn
, rồi mới viết
lần sang
Làng Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21
..., đại khái
như vậy. Cũng theo thứ tự này, tờ
Văn
, do công
của ông Mai Thảo, là tờ dẫn đầu về việc khám phá và
giới thiệu các cây bút mới, những tài năng mới. Bây
giờ ai đó rảnh rang chịu khó làm một thống kê nhỏ thì
chắc... vui lắm!
Mà thật sự, nếu đi ngược thời gian xa hơn một chút,
thì từ khuya tôi đã nằm trong lò
Văn
rồi. Vì tôi có
bài đăng trên
Văn
trước năm 75, khoảng 70-71 gì đó.
Truyện ngắn
Những Ngày...
, viết về cái chết trận
của ông anh,
Phục vị vọng Nguyễn văn Tân chánh vị thần
chủ, tử ư sơ bát nhật ngũ ngoạt, Mậu Thân niên
... Số
là do bà chị tôi mê đọc
Văn
, mua
Văn
trọn bộ,
và tôi đọc ké. Từ đọc ké sang viết ké (chưa dám viết
thiệt đâu) cũng gần. Cho nên lúc bắt gặp
Văn
tục
bản ở hải ngoại, vì tình cờ bước vào một tiệm sách ở
Washington D. C., tôi mừng quá trời.
Nhưng ngay ở bước đầu, tôi định... ngưng bút, không
viết nữa. Tôi gom góp bản thảo của những gì tôi viết
trước 75, mà may phước hồi chạy loạn bà xã tôi có mang
theo, gởi cho ông Mai Thảo và hỏi ổng tôi muốn in thành
sách để kỷ niệm thì tôi phải làm sao? Rồi mặc dù chẳng
biết mặt, chẳng nghe tên nhưng có lẽ thấy tôi là người
cũ của
Văn
nên ổng viết thư thân tình trả lời, rằng
thì là, đại khái...
"bao nhiêu đó chưa đủ cho một cuốn
sách mỏng, nên viết tiếp thì hay hơn..."
Tôi cũng làm ngơ, dửng dưng, vì biết viết gì nữa
đây? Trong khi công ăn việc làm, vợ con nheo nhóc, đầu
tắt mặt tối? Tuy nhiên, bỗng một hôm tôi thấy ổng
đăng truyện ngắn
Dòng Sông Của Tùng
trích trong tập bản
thảo đó. Ðể rồi tình cờ ngồi đọc lại sáng tác của
mình sau mười mấy năm, tôi nghiệm ra... ừa, mình viết
cũng được quá mà, nhưng chẳng gặp thời nên không lên
nổi (mèo khen mèo dài đuôi)! Thật sự, cũng chẳng dễ
gì lên ở Việt Nam nếu không có ai dẫn dắt, đỡ
đầu! Hừm, biết đâu gặp thời thế thế thời phải
thế! Cái số tôi tuồng như phải chạy ra xứ người làm
lại cuộc đời, làm lại sự nghiệp văn chương hay sao ấy!
Thế là tôi bắt đầu viết! Viết lại! Khởi đầu từ
thời đi học của mình! Sơ học lên tiểu học, trung học, đại
học, sĩ quan hải quân, sĩ quan tình báo..., rồi chạy qua Mỹ
học tiếp ban cán sự, cử nhơn, cao học, v.v.... Nói
nào ngay, không hẳn là chuyện học hành thi cử mà là chuyện
gì lớn lao, hằn sâu trong ký ức ở thời điểm đó, giai
đoạn đó mà thôi. Chỉ những người nào tự tôn tự đại,
tự hào mình là thiên tài thì họ mới dừng lại, chớ những
ai đó chịu khó tìm tòi, học hỏi thì sẽ tiến mãi, tôi quan
niệm như vậy.
Và không ngờ lại thành công, ông Mai Thảo đăng dài dài hết
chương này qua chương khác. Không mấy chốc tôi hoàn thành
tập truyện dài đầu tay
Một Ðời Ðể Học
. Sở dĩ tôi
gọi là tập truyện dài vì mỗi chương là một truyện ngắn
độc lập hoàn toàn muốn ngắt ra đem đi đăng báo nào cũng
được. Nhưng chương này tiếp chương kia vì cùng những
nhân vật và xảy ra liên tục theo thứ tự thời gian. Sau
này, tôi viết trường thiên cũng theo lối... nhiều tập
truyện dài kết lại. Giờ nhìn lại quá trình sáng tác của
mình, ngoài việc tôi dám đặt bút làm thơ viết nhạc từ
hồi trung học, những gì tôi có được ngày hôm nay sẽ
không có nếu vợ tôi không đem theo xấp bản thảo, và ông
Mai Thảo không nâng đỡ, khuyến khích.
Dạo đó hình như các hãng VN Lab, VNI chưa thành lập nhưng
tôi đã nghiên cứu, sáng chế ra cách đánh máy và làm
typesetting
chữ Việt, có đăng mấy bài trên báo
Văn Học
. Thành thử chuyện in tác phẩm ra giấy
trắng mực đối với tôi không có gì trở ngại cả. Tôi
in ra một bổn trước gởi cho ông Mai Thảo nhờ viết tựa
vì dầu sao
Văn
đã đăng gần hết. Và ông Mai Thảo
nhận lời ngay. Tôi cũng in thêm một bổn khác gởi qua
Làng Văn
để thương lượng giá cả. Khi hai bên
đồng ý thì chờ cả tháng không thấy cái tựa của ông
Mai Thảo. Nguyễn Hữu Nghĩa bày kế:
- Ông gởi cho ổng một cặp rượu là ổng viết liền hà...
Trời đất, tôi nghe nói ổng thích uống rượu nhưng đâu
biết ổng "cần" rượu đến độ như vậy. Gì chớ một
cặp rượu đi lễ thì dễ dàng quá mà. Và, thiệt tình,
khi có rượu vô rồi ổng ngoái lẹ lắm và còn gởi bài
viết cho tôi
next-day express-mail
nữa (hết nửa chai
rượu rồi). Kể cũng vui...
Bây giờ ai nói tôi thiếu tự tin, viết xong tác phẩm đầu
tay phải tìm người viết tựa cho chắc ăn, thì tôi xin chịu.
Song, được một nhà văn lớn như ông Mai Thảo, người đã
từng ảnh hưởng trực tiếp cho rất nhiều người đi sau,
viết tựa giới thiệu là một hãnh diện chớ chẳng phải
chơi. Một "cầu chứng tại tòa," theo tôi, nữa là đằng
khác. Vì sau này, qua kinh nghiệm bản thân trong vấn đề
viết bạt viết tựa cho những người đi sau, tôi cũng đã
năm ba bận từ chối khéo. Cỡ như ông Mai Thảo, Võ
Phiến... thì các bậc tiền bối này đã từ chối khéo
biết bao nhiêu người rồi... Thành thử, ngoài chuyện
quen biết thân tình, viết tựa hay không viết tựa phần
lớn là do... chính tác phẩm đó có giá trị hay không. Chẳng
ai ngu dại gì mà viết tựa, đề bạt cho một tác phẩm dưới
trung bình.
Có điều, không biết mấy "đồ đệ" kia nghĩ như thế nào
về những lời ông Mai Thảo viết cho mình, với riêng tôi
thì sau này Bùi Bảo Trúc, Võ Ðình, Lê Nhật Thăng, Phạm
Thăng... khi giới thiệu tác phẩm của tôi, đều trích
những lời vàng ngọc của ổng. Và, lẽ tất nhiên, còn
là lời chỉ dạy, khuyên bảo mà suốt đời tôi cần phải noi
theo gìn giữ nữa. Chẳng hạn như:
... Mặc dầu đã mười mấy năm trôi dạt, một trôi dạt
rất dễ dàng đẩy vào thất lạc, mặc dầu Việt Nam đã
nghìn dặm, quê nhà đã nghìn trùng, bàn viết Nguyễn Tấn
Hưng, giữa thổ ngơi lữ thứ xa lạ, vẫn đặt được vào
đúng hướng đúng tầm với giống nòi và đất nước ở
xa. Không bao giờ tôi xa, chẳng bao giờ tôi quên, chẳng
bao giờ tôi khác. Thế giới có nghìn biển nghìn trời
nhưng tôi chỉ có và chỉ sống với một trời một biển.
... Ðể chứng về cái bến đậu một đời không rời
bỏ của Nguyễn Tấn Hưng, với một bàn viết dựng ở đâu
thì cũng là phần đất quê hương, với một hướng viết
hướng tới hướng nào thì cũng từ một tâm thể Việt
Nam mà viết.
Thì cho đến giờ phút này tôi đã cố giữ gìn, nên "vẫn
đặt được vào đúng hướng đúng tầm với giống nòi và
đất nước ở xa" và lúc nào "cũng từ một tâm thể Việt
Nam mà viết."
Well
, những điều nêu trên là thuộc thế giới văn
chương. Còn ở ngoài đời thì bà xã tôi và tôi có dịp
đến thăm "sư phụ" hai lần. Lần thứ nhứt, khoảng hè
1991, khi ổng còn ở trên lầu. Có gặp anh Ðỗ Quý Toàn
rồi thầy trò cùng nhau ra quán Song Long ăn nhậu, tán gẫu.
Giai đoạn này tôi đã viết nhiều trong bài ký sự
Tây Du
Ký, Ðoạn Kết
giờ không kể lại làm chi. Lần thứ hai,
khoảng hè 1996, khi ổng dọn xuống đất. Có gặp anh Ðỗ
Ðình Tuân. Lúc này "sư phụ" yếu quá như da bọc xương,
ngồi một chỗ, lưng dựa vào tường phì phà khói thuốc.
Giai đoạn này tôi cũng đã kể rõ trong bài ký sự
Về
Cali
nên cũng không lập lại làm gì. Nhưng rốt cuộc
rồi bà xã tôi lại có tấm hình chụp chung với "sư phụ"
mà tôi lại không có mới là lạ thiệt...
Nhìn chung, quyển sách thành công lớn của tôi không phải
là cuốn
Một Ðời Ðể Học
do ông Mai Thảo viết tựa mà
thật ra là quyển
Một Thuở Làm "Trùm"
do anh Hồ Trường
An viết bạt, đến độ bàng quang độc giả cũng như văn
giới thường biết tôi qua biệt danh "ông Trùm." Tuy nhiên,
nói gì thì nói, không có bước đầu thì làm sao có bước
thứ hai, bước thứ ba...
Tôi không dám lạm bàn về chữ nghĩa văn chương của "sư
phụ", dành lại cho những ai có thẩm quyền hơn. Chỉ ghi
lại đây vài dòng kỷ niệm với "sư phụ" như thắp lên một
nén nhang làm hành trang tiễn đưa "sư phụ" bước qua thế
giới mới, thế giới không còn khen chê, nguyền rủa,
thị phi...
* Giai thoại "sư phụ" khởi đi từ bài ký sự
Một Lần
Xuống Núi
đăng trên
Văn
số 85.
back to top
08. MỜI ÐỌC: TẬP THƠ CUỐI NẺO ÐƯỜNG HẠNH PHÚC CỦA VŨ THI AN
NGUYỄN TẤN HƯNG
Cầm một bản thảo tập thơ còn thơm mùi giấy
mực lên đọc. Ðọc hết, đọc kỹ. Xong, bạn
nghĩ gì? Khi bạn là người sẽ viết lời vào
tập? Bạn có thể từ chối khéo vì tập thơ
chưa đạt được tầm vóc. Theo ý riêng rất
chủ quan của bạn, lẽ dĩ nhiên. Hoặc giả, bạn
lại hoang mang không biết phải viết gì đây để
gói trọn tâm tình của tác giả trong một bài viết
ngắn, vì là một tập thơ hay, có thể rất
hay. Lẽ dĩ nhiên, cũng theo ý riêng rất chủ
quan của bạn! Tôi hiện đang ở trong tâm trạng
hoang mang đó!
Trước đây, tôi đã có dịp viết tựa, viết bạt,
lời giao cảm cho các bạn văn thơ thân quen. Các
tác phẩm văn xuôi hay tạp ghi của những Hoàng Du
Thụy, Sĩ Liêm, Vũ Nam, Luân Hoán, Hồ Trường An,
Dương Tiến Ðình... Tuy nhiên, đây là lần đầu
tiên tôi mon men viết bạt cho một tập thơ,
Cuối
Nẻo Ðường Hạnh Phúc
, thi phẩm thứ hai của nhà
thơ nữ, trẻ đẹp, duyên dáng, hồn nhiên Vũ Thi
An. Em cô cậu ruột của Thụy Vũ, Hồ Trường An
và em cô cậu họ với Trần Long Hồ, những tên
tuổi quen thuộc trong làng chữ nghĩa, văn chương.
Thật quả là một hân hạnh và khó khăn không nhỏ!
Xét về mặt kỹ thuật, đọc qua lời đề bạt của
một tập truyện ngắn, một quyển truyện dài, bạn
đọc dễ nhận ra tấm lòng của người giới thiệu
đối với tác giả! Ðại để, sơ sài và dễ dàng
nhất là tóm lược từng cốt truyện. Chịu khó
hơn một chút thì tìm ra những đoạn văn hay để
trích và khen. Tức là chỉ dẫn chỗ này hay và
tại sao hay. Chỉ có nhập tâm với tác phẩm và
có khả năng mới ra công viết một bài lột trần
hết nỗi lòng, cảm nghĩ, tư tưởng... của tác
giả mà chẳng thèm trích một câu... Các bạn có
đồng ý với tôi không? Nhưng đây là nói về
văn xuôi, về thi ca thì chắc phải có một ngoại
lệ nào chớ?
Khác với tản văn, nếu bỏ qua phần vần điệu kỹ
thuật căn bản phải có, nói chung thơ là những tâm
tình cô đọng mà tác giả đã ít nhiều dấu giếm,
có ẩn ý trong từng chữ, từng câu. Cảm thông
được thơ là giải rõ được tấm lòng của tác
giả chất chứa trong đó. Tự đặt mình vào bối
cảnh, nhân vật, đối tượng của bài thơ. Nam
ra nữ hoặc nữ ra nam, những khi cần. Và hiểu
theo ý mình, hiển nhiên. Lắm khi hiểu sai hoặc
ngược lại những gì tác giả muốn gởi gấm. Nhưng
cũng không sao, chẳng hề gì hết. Gần 200 năm qua,
tốn biết bao nhiêu giấy mực để tranh luận bàn
cãi, liệu các nhà biên khảo, bình giảng đã biết
chắc được những gì Nguyễn Du đã thật sự gởi
gấm trong Kiều? Ngoại trừ chính tác giả?
Trong chiều hướng đó tôi mời bạn cùng tôi đi tìm
kiếm những điểm son trong vườn thơ
Cuối Nẻo
Ðường Hạnh Phúc
...
Trước tiên, có thể nói tác giả là một trong những
người cầm bút đại diện cho thế hệ trẻ đã có tấm
lòng với chữ nghĩa và giống nòi. Thử hỏi có bao
nhiêu trẻ em rời nước vào thời 75, với tuổi 12,
13 mà còn nói và viết thông thạo tiếng Việt? Huống
hồ bàn đến chuyện tìm ý, ghép chữ, lựa vần
để làm thơ rặc ròng tiếng mẹ mà thế hệ "già"
xem qua phải tỏ lòng ngưỡng mộ? Âu cũng là một
điều đáng ngợi khen! Và âu cũng là giòng máu nghệ
sĩ đã được un đúc bởi tiền nhân, ông bà, cha mẹ!
Rồi từ đó bạn càng sững sờ hơn khi chạm trán với
những vần thơ tình tự quê hương. Ơ hay, lạ thay,
tuổi trẻ ngày nay đâu có tệ. Tuồng như các bậc
cha chú, cô dì đi trước chưa có dịp tìm hiểu thấu
đáo hay sao ấy. Thì đây, sau bao năm dồi mài kinh
sử, công ăn việc làm ổn định, tuổi trẻ đã biết
tìm về cội nguồn, muốn đóng góp một chút gì cho
quê mẹ Việt Nam:
Tôi người Việt nhập tịch vào dân Mỹ
Tiếng Mỹ chưa rành, chữ Việt đã quên
Tuổi trẻ nhiệt thành, tôi muốn vươn lên
Giúp tổ quốc đỡ nghèo nàn khốn khổ...
...
Người này nói ra, người kia chụp mũ
Dân vẫn nghèo, nước vẫn kém vẫn thua
Gà nhà đá nhau, kẻ xúi giục làm vua
Vết Trịnh Nguyễn ngày xưa bày lối cũ...
(trong
Tôi Chỉ Muốn
, trang 24)
Khởi đi từ những đêm thao thức, trở trăn, thương
nhớ quê nhà. Tưởng chừng như thân xác nằm đây
mà linh hồn thì đã gởi trọn về nơi chốn xa xưa:
Những kỷ niệm như que diêm bỏ túi
Thắp sáng lòng khi giá lạnh cô đơn
Ðêm thật buồn trên con đường dong rủi
Ta âm thầm tìm mảnh vỡ linh hồn...
(trong
Những Que Diêm Kỷ Niệm
, trang 64)
Vì những mảnh vỡ linh hồn đó dường như lúc nào
cũng gắn liền với quê ngoại, nơi mà hầu như mọi
người đều cảm thấy bình yên, thanh thản:
Trả lại em dòng sông miền quê ngoại
Có hàng dừa soi bóng nước nghiêng nghiêng
Theo nhịp võng mẹ hiền ru êm ái
Dòng phẳng gương, đời lặng lẽ bình yên
(trong
Xin Trả Cho Em Một Ngày Thôi
, trang 68)
Quê hương thân thương đó còn gợi lên qua hình ảnh
đơn sơ của một
cô bán chè
hiền lành mộc
mạc. Với đủ thứ chè nghe mà bắt thèm: chè đậu
đen, chè hột sen bạch quả, chè đậu xanh nước cốt
dừa, chè thưng, v.v.:
Anh thèm chè đậu đỏ
Cô bán chè ba màu
Anh mua, lòng hớn hở
Ðể dành đâu có sao...
...
Anh vượt biên qua Mỹ
Lâu lắm không ăn chè
Chiều ngoảnh về cố lý
Thương cô bán chè ghê...
(trong
Cô Bán Chè
, trang 92)
Ði xa hơn, tuổi trẻ chợt nhận ra những nghịch lý của
bể dâu. Bởi vì đâu mà có sự cách biệt của các
thế hệ, vì hoàn cảnh, mà phải sống tha hương. Bởi
vì đâu mà con cháu không cảm thông, đồng điệu với
cha ông:
Ngày qua đi, cha già thêm
Chân hết cứng, đá không mềm
Tiếng Mỹ không rành, chữ Mỹ không viết
Cháu con không cần biết
Trong nhà hiện có một ông già
Tai dần điếc, mắt dần lòa
Lơ đảng như lắng tiếng gọi bên trời xa tắp
Quên hiện tại dồn dập
Sống hoàn toàn trong dĩ vãng xa xăm
Như bóng ma trong góc tối âm thầm...
(trong
Cha Già Vượt Thái Bình Dương
, trang 20)
Chính vì những uẩn khúc nêu trên mà không riêng gì tuổi
già, tuổi trẻ cũng muốn trở lại quê hương sau bao ngày
xa cách. Ðể nhìn tận mắt mình những đổi thay. Những
đổi thay, lắm khi, lại xé nát lòng người:
Sao cứ mãi nhìn lên tháp chuông?
Nhìn ngôi trường cũ hắt hiu buồn?
Phải chăng kỷ niệm còn vương nặng
Chưa nhạt nhòa theo kiếp gió sương?
Này ông khách lạ ngắm trời mây
Lưu lạc từ đâu đến chỗ này?
Ðôi mắt ngóng về thung lũng tối
Có người đứng cạnh vẫn không hay...
(trong
Ông Khách Lạ
, trang 61)
Ngay cả tuổi thơ vô tội cũng không còn những ngày thơ
mộng cũ. Mà đổi lại chỉ là những giọt nước mắt
rưng rưng trong lòng độc giả:
Em bé Việt Nam thèm đi học
Em chỉ có một bộ đồ thôi:
cái áo vá vai
và cái quần cộc
mốc cời...
...
Vừa đi làm vừa đi học
em bé Việt Nam ơi!
Cát bụi che mờ tuổi ngọc
hệ lụy đè trên vai...
(trong
Em Bé Việt Nam
, trang 13)
Hãy bỏ qua phần quá khứ chiến tranh, hận thù của cha
ông mà chính mình chưa từng tham dự, sống qua. Giờ
đây tuổi trẻ đã trưởng thành, đã là chứng nhân
hùng hồn nhất cho lịch sử, cho những trào lưu văn hóa
chính trị hiện đại. Bởi vậy, khi trở lại bến bờ
có tự do và độc lập thật sự, cũng tự mình cảm
thấy phải có bổn phận gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh,
gọi đàn:
Ðứng dậy đi anh, nhiệt huyết tràn
Sau lưng bỏ lại cuộc truy hoan
Sao anh vui được khi dân tộc
Trong cảnh lầm than uất hận tràn?
...
Ðứng dậy đi thôi, tôi với anh
Giúp bao người Việt tuổi còn xanh
Bất công thối nát, bao xiềng xích
Dần vỡ tan theo bước quân hành...
(trong
Dậy Mà Ði
, trang 22)
Rồi đến chủ đề muôn thuở: tình yêu! Có khác gì
không ở thế hệ trẻ sau này? Có lẽ không! Vì, phải
chăng, tình yêu là một phần của tính giác? Sự yêu
nào khác gì sự nghe, sự thấy, sự ngửi, sự nếm,
sự rờ? Ðã không sanh không diệt, không nở rộ không
tàn phai! Có khác chăng là do người mình yêu và yêu
mình! Có khác chăng là nhà thơ có thể có cùng một
lúc rất nhiều người yêu, thánh thiện có trần tục có,
nhưng cứu cánh sẽ là hình thành một người yêu chung và
duy nhất của mình: những bài thơ còn đọng lại với
thiên thu. Với nỗi nhớ không rời, với niềm thương
không vơi. Tuy hằn sâu trong tiềm thức, nhưng vẫn luôn
luôn chực chờ sống dậy với những tức cảnh sinh tình,
với những kỷ niệm xưa chợt về trong chớp mắt xa xăm.
Nhưng với nhà thơ trẻ đẹp của chúng ta thì sao? Trước
hết, có lẽ bạn cũng không lấy gì làm lạ, khi tác giả
đã tỏ ra muốn từ chối cả yêu đương. Vì những lý
do rất dễ hiểu:
Xót xa lắm là khi mình từ khước
Dù vẫn mơ những hò hẹn yêu đương
Bên tình anh, em còn có quê hương
Những hoài bão đã từ lâu ôm ấp...
(trong
Em Sẽ Chẳng Yêu Ai
, trang 88)
Và, có thoát được không nào? Khi bên mình có những
cảnh đẹp đêm trăng, an nhiên thư thái, làm lòng chùng
xuống tưởng như người yêu vừa mới đi khuất:
Ðêm hạ trắng, ngang lưng đồi trăng sáng
Sương dịu dàng hôn lá biếc rừng mơ
Mây bay bay từng cơn gió hững hờ
Ngàn sao sáng rơi âm thầm trong mắt
Trong bóng tối, gió lạnh về hiu hắt
Gợn hồ gương lác đác lá sầu rơi
Trên trời cao trăng vằng vặc sáng ngời
Ðêm hạ trắng, điểm hồn thơ diễm tuyệt...
(trong
Ðêm Hạ Trắng
, trang 86)
Thêm nữa, làm sao ngoảnh mặt và làm ngơ với những dòng
thư mực tím mơ hồ nhưng không kém phần mời mọc. Ðể
lòng buồn chợt nghĩ đến người thương:
Thư anh viết cho ai, ai chẳng biết
Mà lời thư tha thiết ngỡ mình yêu
Ôi, sóng lòng luôn vọng âm tha thiết
Khi soi gương gặp nét mặt buồn thiu...
(trong
Hoa Ngâu Và Mồng Tơi Tím
, trang 90)
Rồi thêm bước nữa, từ thư từ nhắn gởi dẫn đến
hẹn hò, gặp gỡ, chia tay nào có đâu xa? Mà, phải chăng,
chỉ là trong đường tơ kẻ tóc? Ðể người về âm thầm
nhỏ lệ khóc người đi:
Anh tiễn em về không nói gì
Ðèn vàng trải lạnh lối em đi
Anh đà quay gót, em còn đứng
Cô bé ngày xưa chớm ướt mi...
(trong
Lại Ướt Mi
, trang 58)
Có phải tình yêu nào cũng vậy, "chỉ trong giây phút mà
thành thiên thu"? Cho dù với những chi tiết rất ư là
tầm thường, như một nụ hôn bất chợt, đi nữa:
Thiên thu vẫn cánh chim buồn
Bay đi tìm một yêu thương nhạt màu
Rồi xa... người ấy về đâu?
Nhớ môi hôn ấm cho sầu ngất ngây
Mưa giăng trắng xóa chân mây
Rồi xa... một mảnh tình gầy tiêu hao...
(trong
Rồi Xa
, trang 91)
Và có thể "nhờ vào" những giây phút chia ly cách biệt,
vò võ hai phương trời, nhà thơ bỗng dưng... mới thấy
nhớ thương vời vợi, mới thấy tương tư chới với,
mới thấy thèm khát khơi khơi:
Khuya chợt tỉnh, hồn trống như mở cửa
Ðèn úa vàng, song quạnh hắt hiu buồn
Trong ảo mộng, mong hẹn hò lần nữa
Một đêm tình sóng gió dậy trên giường
Từ hơi thở dạt dào bao nhựa sống
Ào ạt về cho tim đập rùng mình
Muốn trò chơi như bao người hào phóng
Chỉ một đêm xin đen đỏ cuộc tình...
(trong
Thao Thức
, trang 69)
Như vậy thì nhà thơ của chúng ta đã yêu nhiều quá đi
chớ! Hơn cả những tình yêu đời thường, có
phải? Ðúng vậy, vì chưa hết đâu, hãy lắng nghe
tác giả đã dám thốt ra "tuyên ngôn tình yêu" như thế
này:
Là một phút ngại ngần rồi buông thả
Là một giây trong đắm đuối quay cuồng
Là thiên thu của thác đổ mưa nguồn
Trao tất cả cho người em yêu dấu
Ðêm chơi vơi với muôn ngàn tinh đẩu
Ngày đê mê với rạo rực yêu đương
Xin đưa nhau đến ngưỡng cửa thiên đường
Hái quả cấm, cây tình yêu thần thánh
Trên thảm cỏ ướt hạt sương lóng lánh
Xin cuộn tròn trong hơi ấm vòng tay
Giữa thiên nhiên nếm mật ngọt môi đầy
Yêu như thể hôm nay ngày tận thế...
(trong
Yêu Như Thể Hôm Nay Ngày Tận Thế
, trang 89)
Thơ là để viết lên cái tình, nói chung. Ngoài tình
yêu thiên nhiên vạn vật, tình yêu nhân loại, tình đồng
chủng đồng hương, tình gia đình thân tộc, tình bằng
hữu tri âm, v.v.... mà bạn có thể tìm thấy rải rác
trong toàn tập thơ, tôi chỉ nêu lên đây hai điểm son
của
Cuối Nẻo Ðường Hạnh Phúc
là tình yêu quê
hương và tình yêu đôi lứa. Chính hai điểm son này
đã tạo nên những giá trị hiếm có cho tập thơ.
Qua thi tập thứ hai, Vũ Thi An đã tiến xa và có chỗ đứng
vững vàng trong làng thơ hải ngoại. Nhưng, như một lời
cầu chúc, tôi vẫn mong nhà thơ trẻ đẹp của chúng ta còn
tiếng xa hơn nữa, với những đóng góp ngoạn mục trong
tương lai. Và bây giờ, mời quí bạn hãy tự khám phá ra
những điểm hay hơn, lớn hơn cho riêng mình mà, phần nào,
có thể tôi đã vô tình bỏ quên, thiếu sót...
Chicago, những ngày vào đông 1998
back to top
09. XUÂN VŨ, NGƯỜI ANH XỨ DỪA
NGUYỄN TẤN HƯNG
Trên báo Non Nước, kể từ số 17, tôi để ý và có
hơi ngạc nhiên khi thấy ngoài chủ bút Xuân Vũ ra còn có hai phụ
tá chủ bút là Hải Bằng và Nguyễn Thị Thanh Bình. Thì ra cũng
chẳng ai xa lạ. Với anh Hải Bằng, tác giả
Gia Ðình Bác
Tám
, mặc dầu chưa gặp mặt lần nào nhưng tôi cũng đã
liên lạc qua thư từ, điện thoại từ lâu. Còn với Thanh
Bình, hiển nhiên khỏi nói rồi, thân nhau từ dạo mới có
tác phẩm đầu tay,
Ở Ðời Sống Này
. Tôi nghĩ việc
lo lắng bài vở cho tờ báo chắc cũng cần nhiều công sức nên
một mình anh Xuân Vũ không kham nổi chăng?
Bỗng dưng, chẳng hiểu do ai đề nghị, Thanh Bình ngỏ ý
muốn làm một số báo đặc biệt cho anh Xuân Vũ. Công việc
mà hình như từ trước đến nay chưa ai làm. Biết tôi có
quen thân với anh Xuân Vũ nên Thanh Bình đề nghị tôi viết
vài dòng tâm sự cho số báo sắp tới. Giờ đây ngồi gõ
lọc cọc cho vui...
Nhớ lại mấy dạo gần đây, các bạn hữu viết tựa, bạt,
lời giới thiệu hoặc cảm nghĩ cho sách của tôi, trong số có
BS Nguyễn Ðức An, hay than vắn, thở dài là viết cho... ông
"Trùm" mệt quá. Vì phải đọc tròm trèm hai mươi tác phẩm
bắt đầu bằng chữ Một để... nắm vững sự tình. Bây
giờ viết cho anh Xuân Vũ, một tác giả có gần bảy mươi
tựa sách, thì... mệt đến cỡ nào? Làm sao đọc cho
hết! Nhất là trong một thời gian ngắn!
Well
, thôi
thì nghĩ đến đâu viết đến đó, vì tôi không phải làm
công việc phê bình, mổ xẻ, điểm sách gì ráo... mà chỉ
nghĩ đến anh ở cái tình anh em với nhau thôi. Phơn phớt
ngoài da, vì thật ra, muốn viết về anh cho đúng tầm mức
chắc chắn phải cần nhiều chương sách...
Ngẫm nghĩ lại, với ngần ấy sáng tác phẩm đã trình làng
bởi những nhà xuất bản có tiếng như Người Việt, Ðại Nam,
Xuân Thu, Trời Nam, Văn Khoa, Thằng Mõ... v.v., mỗi cuốn có
lời viết tựa, bài đề bạt... thật sự làm nhiệm vụ phê
bình văn học, thì tổng số những người viết cho anh, ca
tụng anh đã lên hàng trăm rồi... Ðâu cần gì đến những
câu... "mặc áo thụng vái anh" của tôi, đàn em của anh, đâu
nào... Sự nghiệp của một người cầm bút chẳng phải chỉ
là những lời khen, tiếng chê... mà thực sự chính là những
tác phẩm để lại đời của họ cho từng độc giả, tôi nghĩ...
Trước tiên, phàm làm một người cầm bút mà không đi,
không sống thì chắc hẳn... chẳng đi tới đâu, chẳng làm
nên trò trống gì! Riêng với anh Xuân Vũ thì vốn đi, vốn
sống của anh nhiều quá! Chỉ nhìn sơ qua từ năm 1945, gia
nhập Kháng Chiến chống Pháp, đến năm 1975, mất nước
và di tản sang Hoa Kỳ, ba chục năm trời khói lửa... anh đã
đi từ Nam chí Bắc rồi từ Bắc trở về Nam, từ miền quê
ra thành thị rồi xuất ngoại..., sống trong cả ba chế độ
Thực dân phong kiến, Cộng sản bần cùng, và Cộng hòa tự
do... thì chất liệu được anh ghi lại bắt buộc phải sống
động, trung thực, và hấp dẫn thôi! Nhất là được thể
hiện dưới một tâm hồn nghệ sĩ, luôn gắn bó với quê
hương đất nước, giống nòi dân tộc như anh! Kháng chiến
Nam bộ trong miền Lục Tỉnh, tập kết ra Bắc ở vùng Hà Thành
ngàn năm văn vật, làm phóng viên chiến trường dọc Duyên hải
bắc phần, hồi kết trên đường mòn Hồ Chí Minh, hồi chánh
về Sài Gòn hòn ngọc viễn đông, đại diện văn giới Việt
Nam đi thăm các trung tâm văn hóa khắp các nước Âu Mỹ như
Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Ðức, Ý Ðại Lợi... thì cõi đời này
đã dễ có mấy ai...
Thường thì tôi đọc bài anh rải rác trên các báo, trước khi
đọc toàn bộ quyển sách, lúc anh gởi tặng sau. Ngoài tác
phẩm nổi tiếng, chiếm giải văn học toàn quốc năm 1972,
Ðường Ði Không Ðến
, đã đọc lúc còn trong nước... tôi
gặp lại anh lần đầu tiên ở hải ngoại với bài
Trận Ðịa
Lún
đăng nhiều kỳ trên báo Văn Học. Thuở anh Nguyễn
Mộng Giác đứng ra chăm sóc tiếp theo ông Võ Phiến và anh Lê
Tất Ðiều. Thuở tôi tập tễnh viết những bài...
Làm
Ðẹp Chữ Việt
. Thì cũng là giọng văn quen thuộc, như
đã từng diễn tả trong cảnh bộ đội đi B trên đường mòn
Hồ Chí Minh, vẫn luôn luôn làm người đọc chới với, dễ
lạc vào... mê hồn trận. Vì coi vậy mà không phải vậy,
khó lòng đoán được kết cuộc. Tưởng là chấm dứt ở
đó nhưng còn dài dài với những nút thắt, mở... Sau này,
Trận Ðịa Lún
nằm trong quyển
Thiên Ðàng Treo
,
Người Việt xuất bản năm 1990...
Cuốn sách anh gởi tặng tôi đầu tiên là tập truyện
Con
Người Vốn Quý Nhất
, Văn Khoa xuất bản năm 1989. Mới
lần vào truyện ngắn đầu
Hạnh Ngộ Bọt Bèo
, chuyện
kể cán bộ Bác Ðảng chở các thương bệnh binh lên tàu,
nói dối là đưa ra chữa trị trên các bệnh viện hạm Liên
Xô đậu ngoài khơi, nhưng thực ra đem quăng sống xuống
biển... Mèn ơi, nó gian ác, rùng rợn làm sao. Ðặc
biệt là cảnh sống trên tàu hiện rõ mồn một. Như đang
xảy ra trước mắt, vì tôi là dân Hải Quân. Anh không phải
là lính tàu mà tả cảnh lên tàu, xuống tàu, biển cả mông
mênh trong đêm khuya khoắc được như vậy thì phải gọi
là... có tài viết văn thôi... Nguyễn Công Hoan đã chẳng
bảo, đại để, anh nào bịa giỏi như thật là ăn tiền. Tôi
học lại anh câu nói đó của người xưa...
Kế đến, tôi đọc sang loạt bài
Nguyễn Tuân và cành hoa mai
bên bờ sông Nhật Lệ, Nguyễn Xuân Khoát liệm trong tiếng
chuông nhà thờ, Nguyễn Bính sang sông đắm đò
... v.v. và
v.v. Những bài này nằm trong tập
Văn Nghệ Sĩ Miền Bắc
Như Tôi Biết
tập I, Người Việt xuất bản năm 1991. Những
bài viết có tính chất... ký sự văn học. Như anh Hồ Trường
An viết
Thông Ðiệp Hồng, Giai Thoại Hồng
... về các nhà
văn, nhà thơ nữ, hoặc
Chân Trời Lam Ngọc I, II
... cho
phần lớn các nhà văn, nhà thơ nam... Chính tôi cũng mon men
viết loại ký sự văn học này trong
Một Lần Xuống Núi,
Một Phen Lận Ðận
... kể lại những chuyến đi, gặp gỡ
bằng hữu. Lẽ dĩ nhiên, ký sự văn học của anh Xuân Vũ
đặc biệt hơn vì ngoài anh ra đâu còn ai đã từng sống qua,
sống với những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ miền
Bắc trong thời gian chiến tranh Quốc Cộng? Nhờ vậy... những
người cầm bút miền Nam trước cũng như sau 75 có cơ hội thấy
và hiểu qua cách nhìn, nếp sống và hoạt động của văn nghệ
sĩ miền Bắc như thế nào. Nhìn chung thì anh viết cho ai đều
cũng quý trọng, thân tình bằng cả tấm lòng. Song, cũng
không riêng gì những văn nghệ sĩ miền Bắc, khi viết về
các văn nghệ sĩ miền Nam, như Võ Phiến, Phạm Duy... anh
cũng một mực rộng mở vòng tay. Hay viết về người xưa,
cụ Ðào Tấn là một chẳng hạn, anh đã không ngần ngại tuyên
dương cụ là... Sếch Pia của Việt Nam...
Lần lữa, anh chuyển đề tài, viết về... đồng quê miền
Nam với
Sóng Nước Hậu Giang, Dưới Bóng Dừa Xanh, Vàng
Mơ Bông Lúa, Tấm Lụa Ðào, Ông Lão Thổi Bong Bóng
... tôi
lại có dịp hình dung ra cảnh sống và thả hồn vào những phong
tục, tập quán của thời đại trước, thời của địa chủ tá
điền, phong kiến lẫn phong lưu... tuy không xa lắm nhưng rất
khác với thời đại 50, 60 mà tôi sống. Giai đoạn này anh
Lê Bảo Trân cũng có dựng lại trong hai bộ trường thiên
Chiều
Chiều Lại Nhớ Chiều Chiều
và
Cỏ Nội Mây Ngàn
đăng
độc quyền, dài hạn gần 20 năm qua trên báo Văn Nghệ Tiền
Phong của anh Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng. Cũng như anh Hứa Hoành
với nhiều giai thoại lịch sử trong bộ
Nam Kỳ Lục Tỉnh
, 5
quyển do nhà Văn Hóa của Vũ Ngự Chiêu xuất bản. Nhưng,
anh Xuân Vũ lại khác ở một điểm là... chỗ nào thuận
tiện, vẫn không quên "ngắt, nhéo" Cộng Sản và Bác Ðảng
một cách tận tình. Ngoài ra còn có quyển
Những Ðộ
Gà Nòi
đã là vẽ lại một... nghề chơi cũng lắm công
phu tưởng như đã một thời vang bóng! Và đó là chưa kể
những tác phẩm viết thẳng bằng tiếng Anh!
Trong khoảng thời gian "cực thịnh" của nền văn học hải ngoại,
khoảng 10 năm từ 1985 đến 1995, thuở viết bài còn có nhuận
bút (không phải viết chùa như bây giờ), thuở in sách còn có
trả tiền tác quyền (không phải tự bỏ tiền ra in như bây
giờ), thuở còn nhiều người mua sách đọc (không phải chỉ
mua video, audio như bây giờ), thuở người cầm bút còn được
quý trọng (không bị coi thường hơn người thường như bây
giờ)... thì việc liên lạc giữa các bạn văn như là một
tập thể riêng được coi là rất thường xuyên và rất
thân tình (không lạc lõng mạnh ai nấy sống hay bè phái như
bây giờ)! Thư tay dán tem cò trong tuần, trong tháng nhiều
vô số kể (không làm biếng chỉ... email khi cần như bây
giờ)! Nhờ vậy, việc trao đổi và học hỏi lẫn nhau... có
cơ hội phát triển và được duy trì tốt đẹp. Ngoài anh
Hồ Trường An tôi có dịp quen trước, tôi học hỏi nhiều
điều từ anh Xuân Vũ...
Về mặt thư từ, anh viết cho tôi những lời khuyến khích,
khuyên nhũ rất... chí tình, thẳng thắng, bộc trực! Một
đoạn tiêu biểu như sau đây.
Hưng em... Viết đi! Ðời là chó đẻ ba con chó chớ
chẳng gì khác. Nhà văn có nghĩa là sáng tác. Em cứ cặm
cụi viết đi. Với tác phẩm cao cả chồng thì em chỉ còn
mỉm cười nhìn thiên hạ. Có đứa mới chập chững bơi
mà muốn vượt đại dương. Rồi em sẽ thấy nó sẽ chẳng
bơi tới đâu khi những bàn tay tập cho nó bơi buông nó
ra... Em gắng lên. Tự tin, tự lực, tự cường. Ðừng
tự ti nhưng cũng đừng tự phụ. Tự phụ là tự tử. Ðó
là kinh nghiệm của nhiều nhà văn. Kẻ tự phụ chỉ thấy mình
là số một nên chẳng cần đi xa nữa mà đứng đó... ngủ!
Ở một thư khác, anh lại nhắc:
Hưng em... Em ráng cố gắng thêm. Chỉ nhắc em một câu
(từ Nguyễn Công Hoan) mà anh đã nói với em trên điện
thoại: thằng nào bịa giỏi thằng đó ăn. Viết! Chỉ
có thế thôi! Còn hay hay dở là trời cho không phải ai
muốn mà cũng được. Anh viết như một thói quen của
người ghiền thuốc lá. Ðưa ra độc giả mới biết giá
trị của tác phẩm mà thôi em à. Có nhiều người kênh
kiệu tự phụ quá, không có tốt. Anh luôn luôn tìm học ở
bất cứ ai, ở mỗi người một chút, gom lại thành của
mình. Như Mỹ nó nuôi tị nạn bốn phương vậy. Rốt cuộc
nó lấy hết tinh hoa thế giới.
Chính những lời ân cần thúc đẩy đó của anh mà tôi cũng
đã, đang, và sẽ dốc tâm, miệt mài viết, viết, viết...
Kể cũng vui...
Trong một lần điện thoại, tôi hỏi anh đôi điều, đại
khái là muốn học hỏi kỹ thuật, kinh nghiệm viết truyện
dài ở anh... thì anh lại hỏi ngược lại tôi... "vậy chớ
nẵm nay em viết cái giống gì, em viết nhiều rồi mà còn
hỏi lôi thôi gì nữa, cứ cái sở trường của mình mà xông
tới..." Mèn ơi, bỗng dưng tôi... ngộ! Nẵm nay em viết
cái giống gì? Trời, tôi biết quá tôi đã viết những
gì chớ! Nhưng có thành công hay không cái đã, à, thì
ra... mình thiếu tự tin! Cứ cái sở trường mà xông
tới! Hừm, tôi biết quá cái sở trường của tôi mà,
à, thì ra... cứ thế mà tiếp tục! Tôi, đột nhiên,
tìm ra con đường tráng nhựa thênh thang của riêng tôi! Ðã
quá! Cám ơn anh những lời... điểm nhãn có thể rất
là... tình cờ!
Ngồi nghiệm lại, tôi tự biết cái sở đoản của mình
là... không tài nào viết theo kiểu feuilleton. Mà chính thật
ra, tôi cũng không thích viết như vậy. Feuilleton luôn luôn
kèm theo những đoạn lõng lẽo, lấp trang, lắm khi chẳng ăn
nhập vào đâu... thì uổng công mình suy nghĩ, uổng công mình
viết quá. Vả lại, thời buổi này có mấy ai sống với
nghề viết feuilleton đâu, nhất là ở hải ngoại này. Họa
may còn các anh Xuân Vũ, Hồ Trường An, Lê Bảo Trân, Hứa
Hoành... cho đến bây giờ, chỉ viết cho những nơi nào có
trả nhuận bút! Với riêng tôi, viết không phải là... cần
câu cơm, cho nên tôi viết... thận trọng, không buông
thả! Và sở trường của tôi vẫn là truyện ngắn! Viết
cô đọng, súc tích xem ra còn khó viết hơn truyện dài, tôi
nghĩ! Nhưng rồi... lại nghiệm lại, hai tác phẩm đầu của
tôi,
Một Ðời Ðể Học
do Làng Văn xuất bản năm 1989,
và
Một Thuở Làm "Trùm"
do Văn Nghệ xuất bản năm
1990... chính là một chuỗi truyện ngắn theo thứ tự thời
gian, kết thành truyện dài! Thế thôi! Cứ thế mà xông
tới, thành thử, sau bao... cố gắng, miệt mài, cặm cụi,
viết như...
thói quen của người ghiền thuốc lá
, từ
từ ló dạng... hai bộ trường thiên
Một Giấc Mơ Tiên
(xong 4 quyển đầu), và
Một Trời Một Biển
(xong 2
quyển đầu)... Cũng vui thôi...
Vậy thì, để kết cuộc, nội dung bài này... không phải
là những lời biết ơn anh, Xuân Vũ, người anh
xứ dừa... cùng quê Bến Tre với bà xã Hồng Lan của tôi,
tuy chưa gặp nhau lần nào, nhưng đàn em vẫn luôn kính mến,
quý trọng hay sao?
back to top
10. MỜI ÐỌC: TẬP THƠ, TRUYỆN TIẾNG SÓNG CỦA NGỌC THIÊN HOA
NGUYỄN TẤN HƯNG
Sau Hoàng Du Thụy, tác giả
Trầm Hương Hạnh Phúc,
Bạn Trầm, Bức Tượng Thanh Nữ, Dừng Lại Bên Hồ
...,
Ngọc Thiên Hoa là cây bút nữ thứ hai mà tôi có dịp đề
Bạt cho tuyển tập đầu tay. Hoàng Du Thụy cho biết, đã
"chấm" tôi bởi vì tôi có nhiều "hệ lụy" với lính
tàu. Còn với Ngọc Thiên Hoa thì sao? Rất có thể cũng
chỉ vì tôi quá "nặng tình" với thành phố Nha Trang, một
trong những thành phố nên thơ dọc duyên hải miền Trung, đã
một thời là thành phố của lính, và đặc biệt nhứt là
lính thủy? Âu cũng là những duyên may văn nghệ qua màu áo
trắng hải hồ!
Tuyển tập văn thơ
Tiếng Sóng
gồm 22 bài đoản văn,
tùy bút, nhật ký và 52 bài thơ viết dưới nhiều thể loại,
ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát, tự do. Cảm nghĩ đầu tiên
của riêng tôi, sau khi đọc xong bản thảo, là tác giả quả
có năng khiếu diễn đạt tâm tình, cảm xúc của mình qua
chữ nghĩa, văn chương. Và, riêng về phần kỹ thuật,
cũng có thể tạm gọi là ở mức độ rất vững vàng cho
những ai mới cầm bút.
Có một điểm hơi lý thú tôi muốn nêu ra đây là giữa
chị Thúy Trúc, tác giả các tập thơ, đoản văn, tùy bút
như
Thơ Thúy Trúc, Thương Thương Nhớ Nhớ, Viết Cho
Người Tình, Tuổi Hồng
..., và Ngọc Thiên Hoa đã có sự
trùng hợp ly kỳ, có thể nói theo kiểu không hẹn mà gặp
hoặc là chí lớn gặp nhau qua nửa vòng cầu trái đất. Vì
cách viết của Ngọc Thiên Hoa coi như tương tợ với cách viết
của chị Thúy Trúc. Chỉ khác một điểm là, ở chị Thúy
Trúc, người ta tìm thấy những tư tưởng, cảm nghĩ đượm
mùi thiền vị lẫn tục trần của một Phật tử thuần thành
đứng tuổi, trong khi đó người ta tìm được ở Ngọc Thiên
Hoa những gì hồn nhiên, ngây thơ, trong trắng của tuổi
học trò.
Nhìn chung, trong toàn bộ tuyển tập, Ngọc Thiên Hoa đã ghi
lại cuộc đời mình từ lúc mới lớn, đi học tiểu học ở
trường làng, trường Diên Toàn ở làng Thành, rồi tiếp tục
qua trung học ở trường quận, trường Hoàng Hoa Thám thuộc
quận Diên Khánh, và sau cùng đi học "làm cô giáo" ở trường
Ðại học sư phạm Qui Nhơn. Suốt quãng đời mài mòn đũng
quần ở nhà trường này, Ngọc Thiên Hoa đã cho độc giả
tìm lại rất nhiều kỷ niệm thân thương mà ai ai cũng có,
cũng đã từng trải qua. Với đám bạn cùng lớp, cùng
trường đã sống và lớn lên với nhau trong chuỗi ngày xa
xưa thân ái đó. Và, hiển nhiên, hầu hết những đoản
văn và tùy bút này rất thích hợp cho các báo
Tuổi Ngọc,
Tuổi Hoa, Tuổi Hồng
..., hoặc ngay cả những trang bích báo
của các trường trung, đại học.
Qua từng chặng đường đời và cảnh sống, Ngọc Thiên Hoa
cũng không quên vẽ lên những phong cảnh, tập tục êm đẹp
ở vùng thôn quê cũng như những mẫu chuyện đời trái tai,
gai mắt ở chốn thị thành.
Giai đoạn sống ở đồng quê rất thích hợp với tôi, nói
riêng, và những ai đã từng lớn lên ở miền ruộng đồng
vườn tược, nói chung. Ngoài chuyện đã gợi lại trong tôi
những kỷ niệm đẹp về Thành, một thị trấn nhỏ nhoi nằm
cách xa Nha Trang khoảng mười cây số. Cái nơi chốn mà hơn
30 năm qua, tôi và các bạn thân cùng khóa đã có dịp đến
thăm nhiều lần trong thời còn là một sinh viên sĩ quan Hải
Quân. Lẽ dĩ nhiên, từ lâu, đã trở nên không bao giờ
quên và, hiện thời, qua tác phẩm
Tiếng Sóng
của Ngọc
Thiên Hoa, lại càng thêm rõ ràng, đậm nét. Vì đã mang
đến cho tôi một cái nhìn xâu xa hơn để cảm mến hơn cái
làng quê mộc mạc, êm đềm đó. Nơi mà, đối với tác
giả, công ơn cha mẹ đã lấy làm nâng niu, bảo trọng:
Quê hương dấu yêu! Là nơi có mẹ
Vất vả nhiều hơn khi vắng Ba
Nỗi đau xưa dễ gì quên lãng
Gánh nỗi đoạn trường phải riêng mang!
Vườn cây chắc lá sầu rụng hết!
Người trồng cây chưa ăn quả đầu mùa
Ba ơi! Sao số người ngắn vậy
Ðể Má sầu, thao thức suốt canh thâu!
Quê hương dấu yêu! Là nơi có Mẹ
Ngồi nghe Má kể chuyện "Ngày xưa..."
Má đã gặp ba, rồi ly biệt
Ðời con rồi chẳng biết ra sao!
(trong
Ngày Xưa, Ngày Sau
)
Hoặc là tình anh chị em thắm thiết, mến thương cho dù cứ
phải tìm cách lấn lướt hay chơi gác lẫn nhau:
Tôi ngắm nó trên hai ngón tay. Nó nằm yên, thỉnh thoảng rè
rè trong đôi cánh. Hai mắt nó bự, con ngươi thẳng đứng.
Cái bụng õng nước. Loài ve sạch nhất vì nó ăn toàn sương.
Ban đêm bước ra khỏi nhà, đi dưới vòm cây là thế nào cũng
bị những tia nước hoa sen bé xíu tưới lên đầu. Khi nghe
tôi kể như vậy. Chị tôi nghiêm mặt, trịnh trọng nói:
- Ðó là phật bà Quan Âm lấy nhành dương liễu tưới nước
cam lồ cho mày đó! Hên lắm. Vậy là mày thuộc bài nhanh
cho coi. Học thử đi, tao không nói xạo đâu.
- Thiệt hả? Thế là tôi lại lật sách, gào lên. Tôi quăng
hết mấy chiếc lá thuộc bài đang ép trong sách để coi lời
chị tôi nói có đúng không. Quả thiệt linh! Tôi học thuộc
hết mấy bài một lúc. Từ đó, ăn quen, đêm nào tôi cũng
ra vườn cây chờ phật bà cho nước phép và nghe ve quạnh...
quạnh... re... trong vườn.
Một hôm, Má tôi bắt gặp tôi đang đứng ngoài hiên. Má
quát:
- Tối rồi! Ði ngủ, mày làm cái giống gì ngoài vườn cây
hả?
- Con chờ phật tưới nước phép! Nhưng bữa nay sao lâu quá!
-!!?
- Ha... ha... ha... hắc... hắc... ặt... Các chị tôi cười
phá lên, sặt sụa, khi hiểu chuyện, Má quay lại "quạt" mấy
"bả":
- Lũ mày gạt em nó. Cho nó đứng ngoài sương nhiễm bịnh
vậy hả!
(trong
Cứ Mỗi Ðộ Hè Về
)
Hay có tình bạn bè trong lứa tuổi "ăn chưa no lo chưa tới,"
suốt ngày chỉ biết rong chơi, vui đùa, khắng khít:
Những buổi trưa, tôi lén Má chạy đi rủ mấy nhóc dạo xóm hái
dưa chuột mọc hoang ở hàng rào. Nói "dưa chuột" chớ
thiệt ra nó chỉ bằng hột bí nhưng tròn hơn. Trái nhỏ vậy
mà lắm hạt. Hình nó như bom hỏa tiễn. Toàn thân màu xanh
đậm. Trái lẫn trong lá cũng màu như thế, khó thấy. Chúng
tôi thi nhau hái - trong im lặng vì nếu chỉ cần ứ hừ lên là
đám chó xóm rượt chạy có cờ. Hái xong, chúng tôi rủ nhau
xuống cuối ngõ có một bãi cát và bãi cỏ gấu xanh um ngồi
thưởng thức dưa chuột. Ðứa thì cho từng trái một vào
miệng, tôi thì khoái cho cả nắm vào mồm để nhai một lúc
nghe cái "rộp" mới ngon...
(trong
Xóm Vườn Trầu, Còn Ðâu
)
Và đặc biệt nhứt là cây cối tươi tốt trong vườn cho đầy
bóng mát, đã giúp tác giả có nhiều cơ hội thì thầm, nhỏ
to, tình tự với lá mỗi khi có chuyện buồn phiền:
Vậy mà vườn cây nhà tôi xanh um như vậy đấy! Khi Ba tôi
ăn được mùa cam, bưởi, sa cô chê thì mấy anh chị tôi
lần lượt ra đời và lớn lên theo mùa cây trái. Ðến khi
tôi muộn màng chun ra thì hỡi ôi! vườn cam già rồi, chết
ngủm. Mấy cây "bưởi thanh trà ngọt lịm mùi thơm" cũng
không còn. Chỉ còn mấy cây bưởi dây, bưởi bánh xe trái
bự tổ chảng và tròn như bánh xe, ruột đỏ mộng nước, ăn
đỡ ghiền. Còn sa cô chê cũng bị bồ sè ăn hết trọi. Má
nói khi Ba bị bắt thì cây cối cũng buồn bã chết theo. Tôi
không biết đúng hay sai nhưng tôi tin là cây trái cũng biết
buồn, biết vui, biết lắng nghe. Mỗi khi tôi buồn, tôi
thường hay leo lên cây chôm chôm ngọt, nằm trên đó kể lể
với lá. Khi ấy, tôi cảm thấy cây lá xung quanh run lên như
muốn chia xẻ... Vậy mà cũng làm tôi quên buồn.
(trong
Vườn Xanh Xanh Cây Trái
)
Dường như chỉ những ai có tấm lòng đối với thân bằng
quyến thuộc, bạn hữu xa gần, cũng như nơi chôn nhau cắt
rốn của mình mới có thể viết lên được những lời văn
chơn chất, chân thành như vậy.
Rồi trong giai đoạn tiếp nối, rời xa gia đình và sống nội
trú ở trường Sư phạm Qui Nhơn, Ngọc Thiên Hoa lại vẽ ra những
cảnh đời cũng không xa lạ gì đối với tôi, nói riêng, và
cho những ai đã có cơ may đến viếng thăm ngôi trường Sư
phạm nổi tiếng ở miền Trung này, nói chung. Ngoài chuyện
đã gợi lại trong tôi một thời lênh đênh, trôi nổi đến
vùng biển mặn xứ Hời qua các cuộc thực tập hải hành,
mà những bến bờ bỏ neo tạm nghỉ, hiểu theo nghĩa bóng lẫn
nghĩa đen, lại là những cô giáo sinh duyên dáng, trẻ đẹp
của trường Sư phạm Qui Nhơn. Một trong những trường kết
nghĩa hậu phương, tiền tuyến với trường Hải Quân. Ở
đây, tác giả cũng đã ghi lại những nụ tình vừa chớm nở
của thời mới biết yêu, tuy có rắn mắt, lém lỉnh nhưng
cũng không kém phần e ấp, dịu dàng:
- Em còn quá bé để buồn mà! Hắn thôi đàn, xua tan im
lặng. Tôi mỉm cười. Hắn chỉ cho tôi những ngôi sao và
giảng giải vì sao có chúng. Chúng "chết" và "sống" thế nào.
Hắn là giáo viên vật lý mà. Hắn bảo tôi cũng giống như
ngôi sao. Chỉ về đêm mới có! Tôi cãi: "Thế tại sao
người ta gọi sao Mai?" Hắn phì cười mắng tôi "lém
lỉnh." Giữa sân có hai cái lon. Hắn thách:
- Em quẳng trúng nó?
- Thử cái đã. Tôi chọi một cục gạch. Cái lon kêu "ách"
một tiếng, văng ra xa. Hắn đâu có biết tôi "trùm"
quăng đất lộn hồi nhỏ và quăng xoài số dzách?
- Em mà ném hoa kén chồng, chắc không trật! Hắn trố
mắt, đùa.
- Chưa biết vì hoa không giống gạch và chồng không phải
lon! Nhưng bây giờ thì em muốn chọi cho anh một gạch, nói
tầm bậy không ờ!
Hắn còn hiền lành. Mắt hắn thiệt đẹp, thiệt có hồn.
Hắn chẳng tán tôi mà tôi cũng chẳng cần phải làm duyên,
làm dáng với hắn. Trời sắp sáng. Vậy là chúng tôi sắp
sửa chia tay...
(trong
Còn Bao Lần Ðể Nhớ
)
Hoặc không kém phần thiết tha, tiếc nuối qua mấy vần thơ
sau cảnh phân ly:
Tôi lặng bước tiễn em về hiu quạnh
Trời tang thương, em để lại cho anh
Cây vẫn xanh mà lá đã xa cành
Bơ vơ bước, nghe lòng se sắt lại!
Tôi lặng bước tiễn em về, tê tái
Chút ân tình ngày cũ chẳng hề phai
Trời không thương nên chia rẽ cả hai
Cho gót nhỏ, dịu dàng, em đi mãi...
Rồi từng chiều, gió sầu khêu nỗi nhớ
Từng bờ vai, từng sợi tóc, mắt thơ...
Em đi rồi mang hết những giấc mơ
Cho kỷ niệm ùa về réo gọi...
(trong
Một Lần Biết... Bơ Vơ...
)
Ðặc điểm sau cùng của
Tiếng Sóng
là Ngọc Thiên Hoa đã
trình bày rất linh động những kinh nghiệm sống, tuy đau thương
nhưng rất trung thực, của mình khi phải chịu đựng những gian
lao, khổ nhọc, thiếu thốn khắp mọi bề dưới chế độ Xã
Hội Chủ Nghĩa ngoại lai của Bác và Ðảng. Lời nói thật của
lớp trẻ ở lứa tuổi 15, 17 đối với tôi là một biện chứng
hùng hồn nhứt để xác nhận một điều, rằng thì là, các
"đỉnh cao trí tuệ" có thể biến đổi cái diện mạo bên ngoài
của con người, thậm chí đến việc bần cùng hóa nhân dân,
nhưng không thể nào biến đổi được cái nhân tính tiềm tàng
ở bên trong, cũng như những giá trị nhân bản đã thấm sâu
vào tận xương tủy, máu huyết của từng người dân Việt.
Qua đôi ba dòng nhật ký như sau:
Tháng 9, 1982
Trời ơi! Số mình xui như con rệp. Nằm dài chờ sự may
mắn từ trên trời rớt xuống như chờ sung rụng, Mẹ cha nó.
Giờ này lũ nhóc đang lên giảng đường học đây. Sướng
điên chưa. Tổ bà cái lý lịch. Ưa mà mình tự dưng hỗn
hào bỏ xừ. Lý lịch không có tội lỗi chi ráo.
Má ngồi tụng kinh thấy mà thương chi lạ, bả hết la hét, cũng
đỡ. "Chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm" quả đúng. Mình
chả thích cái nghề gõ đầu trẻ này chút nào. Thời này mà
"gõ" coi bộ "khó" ăn, đầu mình chắc... móp trước. Thôi
sắc chuối nấu cơm ăn cho qua ngày. Cha mày con chuột. Hết
hồn.
...
Tháng 1, 1983
Tết tây. Giờ này bên kia, chị mình đang ăn tết đấy.
Chắc chỉ nhớ nhà. Ôi! cái bà chị tội nghiệp của mình.
Những đồng đô la, những thùng quà cứu khổ, cứu nạn
như Phật bà Quan âm giá lâm sao mình đón nhận cũng đầy
nước mắt!
(trong
Ðoản Khúc... Tào Lao Ký
)
Vì không thể đi sâu vào từng chi tiết một như tâm lý trẻ
con, sự ghen tuông của đời con gái, nhân cách hóa cành phượng
con kiến, những đoạn tả cảnh tả tình, những lời thơ trau
chuốt văn hoa..., trên đây tôi chỉ đưa ra vài ba điểm son
tiêu biểu cho toàn tập để độc giả lượng giá, thẩm định
sơ qua. Phần còn lại chắc chắn phải đậm đà, thâm trầm,
thấm thía hơn, xin dành riêng cho từng bạn đọc tự thưởng
thức và khám phá lấy.
Lời chúc riêng với Ngọc Thiên Hoa, nhà văn nữ đẹp đẽ trẻ
trung đi sau tôi gần tròn một thế hệ, là hãy bền lòng gắn
bó với chữ nghĩa văn chương, hầu cống hiến cho đời nhiều
tác phẩm có giá trị hơn nữa và hơn nữa.
Naperville, IL, ngày 28 tháng 1 năm 1997
back to top
11. MỜI ÐỌC: TẬP THƠ VIỆT NAM LỤC BÁT SỬ CA CỦA NGỌC THIÊN HOA
NGUYỄN TẤN HƯNG
Kể cũng lâu lắm rồi, sáu năm hơn, tôi mới có dịp
đọc thêm tác phẩm thứ hai của Ngọc Thiên Hoa. Những
tưởng cây viết trẻ này chỉ viết mỗi một tác phẩm
để... kỷ niệm với đời, rồi thôi. Ai dè, vẫn
còn nặng mang nghiệp dĩ, vẫn còn âm thầm sáng tác
dài dài.
Khi tác giả nhờ tôi viết lời giới thiệu, tôi có hơi
ngạc nhiên và đề nghị nên tìm một ai khác, bởi chẳng
lẽ bắt tôi lại phải đóng tuồng "độc diễn" này
hoài! Ðộc giả thêm nhàm chán. Nhưng tác giả tình
thiệt: "Thôi đi, người nào viết một người... cho
khỏi lộn xộn!" Lạ nhỉ!
Lạ một điều nữa là tác phẩm thứ hai này không phải
gồm các đoản văn, tùy bút, thơ thẩn với những hoàn
cảnh buồn vui, những tình cảm riêng tư do cuộc đời
trần tục này mang lại! Mà là một Ngọc Thiên Hoa mê
đọc sử, nghiền ngẫm quyển "Việt Nam Sử Lược" của
cụ Trần Trọng Kim, rồi cảm hứng hay nổi hứng cũng
được, viết lại bằng văn vần. Thế nên mới có
chuyện đặt tựa cho sách là "Việt Nam Lục Bát Sử
Ca." Tuổi trẻ mà "chịu" nghiên cứu "sử" để "ôn cố
tri tân" thì cũng là một điểm son đáng khen.
Có lẽ hầu hết chúng ta, khi học về "văn học sử" ở
những năm trung học, đều không ít thì nhiều thuộc lòng
vài đoạn dễ nhớ trong quyển "Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca",
đại khái như:
Bà Trưng quê ở Châu Phong
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân
Ngàn Tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên...
hay là:
Sắc sai Hưng Ðạo tổng binh
Với Trần Quang Khải các dinh tiến vào
Chương Dương một trận phong đào
Kìa ai cướp giáo ra vào có công
Hàm Quan một trận ruổi giong
Kìa ai bắt giặc uy phong còn truyền...
Trong sách giáo khoa "Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu",
xuất bản năm 1949, giáo sư Nghiêm Toản có liệt kê bốn
bộ thơ trường thiên có giá trị là "Nhị Thập Tứ Hiếu"
của Lý Văn Phức, "Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca" của Lê
Ngô Cát, "Lục Vân Tiên" của Nguyễn Ðình Chiểu, và
"Ðoạn Trường Tân Thanh" của Nguyễn Du. Riêng quyển
thứ hai ông còn viết thêm:
"Ðại Nam Quốc Sử Diễn Ca cũng không phải là tiểu
thuyết mà là một tập ca trường thiên; ông Lê Ngô
Cát (đời Tự Ðức) phụng chỉ soạn ra, rồi các ông
Phạm Xuân Quế, Phạm Ðình Toái, Phan Ðình Thực cùng
các danh sĩ đồng thời nhuận sắc; ông Phạm Ðình Toái
đem xuất bản.
Quyển sử ca này chép từ đời Hồng Bàng cho đến hết
đời Hậu Lê, theo thể lục bát; các việc thu gọn,
trình bày minh bạch, có thứ tự, lời văn giản dị,
nhiều đoạn lâm ly hùng tráng; thực là một cuốn sách
quý có thể dùng cho trẻ con và dân chúng dễ học, dễ
nhớ qua loa lịch sử nước nhà..."
Những lời khen trên đây, thiệt tình mà nói, tôi cũng
có thể mang ra áp dụng cho trường hợp "Việt Nam Lục Bát
Sử Ca" của Ngọc Thiên Hoa, vì...
"các việc thu gọn,
trình bày minh bạch, có thứ tự..."
vân vân và vân
vân...
Tuy không được "chỉnh vận" cho lắm nhưng điều đáng nêu
là công trình của một người, một cây viết trẻ, suốt
gần hai năm trời cặm cụi từng dòng. Hơn nữa, sách
viết từ đời Hồng Bàng cho đến hết thời Pháp thuộc,
xem như là một cập nhật hóa đáng kể cho bộ "Ðại Nam
Quốc Sử Diễn Ca" vậy. Rồi lẽ dĩ nhiên...
"lời văn
giản dị, nhiều đoạn lâm ly hùng tráng..."
vân vân và
vân vân... để thấy công lao "dựng nước, giữ nước và
mở mang bờ cõi" của tiền nhân là đầy máu và nước
mắt, lưu lại cho chúng ta một dãy giang sơn gấm vóc như
ngày nay. Và cả các thế hệ con cháu mai sau, nếu chúng
ta làm tròn bổn phận, trách nhiệm của mình. Thế mà,
tuồng như thời nào cũng vậy, bên cạnh những công thần
luôn tận trung báo quốc còn có bè lũ bọ dòi chuyên mãi
quốc cầu vinh...
Khác với những người viết sử chân chính thật sự,
đặt nặng tính cách khách quan, Ngọc Thiên Hoa, theo
thiển ý của riêng tôi, chỉ là người đọc sử cho nên
có những đoạn viết theo cảm tình riêng, xúc động
riêng. Rất chân thành, tỉ dụ như khi Nguyễn Trãi
bị hại:
Ðời người một tấm lòng son
Hết lòng giúp Chúa lấy về non sông
Hay cho cái giống "lọt tròng"
Thời nào chẳng có muỗi mòng vo ve...
hoặc lúc tả về trường hợp vua Trần dụ Tông:
Nhằm khi vua trẻ băng hà
Người em lên kế hiệu là Thiệu Phong
Thượng hoàng định việc ngoài trong
Nhưng khi ngài mất Dụ Tông rượu chè
Ðào hồ, đắp núi đâu dè
Ăn chơi, bài bạc... chẳng khe dân nghèo
Giặc giã cướp phá ì xèo
Cơ đồ Trần đã đi vèo từ đây...
Ậy da, "... chẳng khe dân nghèo?" Tôi lấy làm lạ ở
chữ "khe" này, khác nghĩa với khe hở, nên tôi hỏi
lại tác giả cho chắc, đại khái, có phải từ "khe" là
Việt hóa chữ
"care"
của Mỹ? Và nếu đúng như
vậy thì nên viết trong ngoặc kép! Ngọc Thiên Hoa phân
trần, đại để, bây giờ nói như vậy, viết như
vậy thì ai ai cũng hiểu liền, khỏi cần ngoặc đơn
ngoặc kép gì hết! Chịu thua! Từ ngữ văn học,
hiển nhiên, vẫn thay đổi và làm mới theo thời
cuộc, trào lưu; nhưng sau thời 75, có nhiều cái đổi
mới xem ra hay nghe ra không được ổn cho lắm!
Well
, giới thiệu chỉ là phần phụ thuộc. Phần
chính vẫn là đọc tác phẩm. Hi vọng rằng quý độc
giả sẽ tìm ra nhiều điều thích thú, mới lạ, bổ
ích hơn.
Naperville, IL, ngày 26 tháng 10 năm 2004
back to top
12....
NGUYỄN TẤN HƯNG
back to top
Tác Phẩm Trước
Trang Chính
Tác Phẩm Kế Tiếp