Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Tập Ký Sự Ðạo Ðời: Một Ðường Vào Ðạo

Nguyễn Tấn Hưng



* * *

Mục Lục
01. Một Phương Trời Mới 02. Một Vài Ðiều Ðáng Suy Nghĩ 03. Chuyện Nghe Qua Rồi Bỏ 04. Bước Lần Vào Cõi Vô Hình 05. Rút Ngắn Ðoạn Ðường Dài 06. Tiến Lên Thượng Giới 07. Hội Long Hoa Và Ngày Tận Thế 08. Tự Hỏi Lấy Mình 09. Luận Về Ăn Chay Và Việc Ðộ Siêu 10. Một Cửa Vào Thiền 11. Biết Thì Thưa Thốt 12. Ma Thấp, Ma Cao 13. Huyền Diệu, Tuyệt Diệu 14. Tóm Tắt Thiền Ðịnh Theo Cao Ðài Bí Pháp 15. Thánh tượng THIÊN NHÃN... 16. ******
   back to top

01. MỘT PHƯƠNG TRỜI MỚI

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Phàm sinh ra làm người, ngoại trừ những kẻ thờ chủ nghĩa vô thần, hầu như ai ai cũng tin tưởng đến thần quyền. Hễ tin tưởng đến thần quyền thì tin tưởng rằng ngoài cõi hữu hình là nơi chúng ta đang sống còn có thế giới vô hình. Và tương tự như vậy, hễ tin tưởng đến thần quyền thì cũng tin tưởng rằng ngoài thân xác hữu hình chúng ta đang đi đứng, nói cười, ăn ngủ v.v... còn có cái gọi là linh hồn vô sắc tướng. Mặc dù đã nói là tin tưởng, tức là đôi lúc không thể giải thích được, nhưng khoa học cũng đã từng chứng minh rằng... có thế giới bên kia mà bằng mắt phàm ta không thể nào, không tài nào nhìn thấy!

     Thật ra, cũng chẳng cần chi đến khoa học tân tiến hiện đại của thế kỷ 21, từ ngàn xưa, người ta đã chứng minh được sự hiện hữu của thế giới bên kia bằng cách tạo mối liên lạc giữa hai thế giới hữu hình và vô hình. Mối liên lạc dễ hiểu, dễ nhận hơn hết có thể nói là: sự cầu cơ và sự lên đồng .

     Cầu cơ có nhiều cách. Cách dễ nhứt mà ngay từ hồi còn nhỏ chúng ta thường làm là cắt miếng ván (lựa ván hòm từ các mả lạn thì tốt hơn, theo kinh nghiệm) hình trái tim để lên trên một mảnh giấy có viết sẵn các mẫu tự ABC... và năm dấu sắc huyền nặng hỏi ngã trên một vòng cung hình bán nguyệt. Cộng thêm hai chữ "Thăng", "Giáng" phía bên dưới là xong. Kinh cầu cơ cũng có nhiều bài, hoặc như bọn nhỏ tôi ở những năm đầu thời trung học, vẫn lấy một đoạn trong "Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh" của cụ Nguyễn Du làm lời cầu mời:

         ...
         Mỗi người một nghiệp khác nhau
         Hồn xiêu phách lạc, biết đâu bây giờ
         Hoặc hồn ẩn dọc bờ, dọc bụi
         Hoặc hồn nương ngọn suối, chân mây
         Hoặc là bụi cỏ, bóng cây
         Hoặc là cầu nọ, quán nầy bơ vơ
         Hoặc hồn tựa Thần từ, Phật tự
         Hoặc hồn nương đầu chợ, cuối sông
         Hoặc là thơ thẩn đồng không
         Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre
         Mấy thu chịu nhiều bề thắm thiết
         Dạ héo khô, gió rét căm căm
         Dãi dầu biết mấy trăm năm
         Khóc than dưới đất, ăn nằm trong sương
         Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn
         Tắt mặt trời, lẩn thẩn dò ra
         Lôi thôi ẵm trẻ, dắt già
         Có khôn thiêng hỡi, lại mà chứng minh
         ...


     Lẽ dĩ nhiên, có thể đọc ra tiếng hay đọc thầm trong miệng cũng được miễn là niềm tin và lòng dạ của các người cầu cơ đang đặt ngón tay trỏ của mình lên hình cơ (ba, bốn hoặc nhiều càng hay vì điển càng mạnh, cơ chạy càng nhanh) có thành khẩn hay không mà Thánh, Thần (giả hay thiệt cũng khó biết) hoặc yêu, tinh, quỉ, ma... oan hồn uổng tử sẽ nhập vào... Cơ chạy vòng vòng rồi mũi cơ (chót trái tim) chốc chốc sẽ ngừng lại, chỉ vào từng mẫu tự một để mình ráp vần thành từng chữ mà hiểu cơ muốn nói gì...

     Ðó là cầu cơ ma! Còn các cách cầu cơ khác có tính chất thiêng liêng thường được áp dụng trong các hội thánh trên khắp thế giới, nhất là các hội thánh, thánh thất Cao Ðài, chưa hề thấy ngoài dân dã. Bằng cách kê một cái bàn con nghiêng nghiêng (hai chân cao hai chân thấp), để khi các đấng thiêng liêng, Trời Phật Tiên Thánh Thần, giáng điển thì sẽ nhắc hai chân thấp lên mà gõ xuống nền... Tùy theo ước hiệu, gõ 1 tiếng là A, hai tiếng là B, v.v..., mà ráp lại thành chữ. Hoặc cao hơn một bực là sử dụng "ngọc cơ" hoặc "đại ngọc cơ" (một cái giỏ tre đan có gắn ngòi viết hình con chim loan bằng cây ở đằng đầu) để cơ viết thẳng ra từng chữ một lên mặt kiếng có rải gạo, bột phấn hay tưới một lớp rượu mỏng...

     "Lên đồng" thì tùy theo căn cơ của "đồng tử" mà cũng chia làm hai thành phần. Một là đồng bóng của mê tín dị đoan ở các nơi cầu hồn, nhập xác trong thôn, xóm, nhà riêng mà các đồng cốt, bà bóng thường là kẻ phàm tục chẳng phải người tu hành. Ðiều này hầu hết chúng ta ai ai cũng đều, ít nhứt một vài lần, đã từng chứng kiến hay kinh nghiệm qua. Hai là "đồng tử thứ thiệt," không phải là một người con trai còn nhỏ, mà là những người đã trường chay, tuyệt dục, đạo hạnh cao... nam cũng như nữ, được các đấng thiêng liêng chọn lựa để dùng vào vai trò "thủ cơ chấp bút." Viết thẳng ra từng chữ (như trình bày bên trên) hoặc nói ra thẳng ra từng tiếng (dễ cảm nhận hơn vì không bị mất thời gian tính)! Và, trong trường hợp này, từ ngữ "lên đồng" không còn mang ý nghĩa thông thường nữa, mà phải hiểu là một "đàn cơ" với nhiều người có từng nhiệm vụ khác nhau như "Chứng đàn, Pháp đàn, Hộ đàn (tất cả mọi người tham dự), Ðồng tử, Ðộc giả, Ðiển ký...," v.v...

     Ðặc biệt, qua sự "cầu cơ" hay sự sử dụng "đồng tử" theo chiều hướng "huyền diệu thiêng liêng," kể từ năm 1926, trên mặt quả địa cầu này, toàn thể nhân loại trên thế giới có thêm một đạo mới: Ðạo Cao Ðài! Qua đức Cao Ðài Tiên Ông Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát, tá danh của đức Huyền Khung Cao Thượng Ðế, tức Trời nhưng vẫn thường hay xưng là Thầy! Và đương nhiên, riêng đối với người Việt Nam chúng ta, hầu như ai ai cũng biết qua cơ đạo này, không nhiều thì ít. Lịch sử thành lập đạo từ buổi sơ khai đến hồi phổ độ, truyền bá trong dân gian, và rồi chia chi lập phái... rất là dông dài nếu muốn đi sâu vào chi tiết! Nhưng, đại khái, bằng những lời cơ lúc nhặt lúc khoan, lúc như ra lịnh lúc như đùa vui các vị Thần Thánh Tiên Phật và Thầy đã dìu dắt và chiếm trọn lòng tin của mười hai đệ tử đầu tiên, toàn là những người học thức cao, có địa vị trong xã hội đương thời. Tên của mười hai vị này được lồng trong ba câu đầu (viết chữ hoa) của bốn câu thơ:

         CHIÊU KỲ TRUNG độ dẫn HOÀI sanh
         BẢN đạo khai SANG QUÍ GIẢNG thành
         HẬU ÐỨC TẮC CƯ thiên địa cảnh
         HƯỜN MINH MÂN đáo thủ đài danh...


     Ba vị sau trong câu cuối, mặc dù không có mặt trong buổi cầu cơ này, nhưng Thầy đã cho biết trước rồi họ sẽ có dịp "nhập cuộc" ở những ngày sắp tới trong một tương lai gần.

     Và, qua kinh nghiệm của vị đệ tử đầu tiên CHIÊU, ngài NGÔ VĂN CHIÊU, Thầy còn dạy thờ thánh tượng Thiên Nhãn với ngụ ý như sau:

         Nhãn thị chủ tâm
         Lưỡng quang chủ tể
         Quang thị thần
         Thần thị thiên
         Thiên giả ngã giả


     Tạm hiểu là... mắt làm chủ cái tâm, hai luồng sáng làm chúa tể, ánh sáng là thần lực, thần lực là thiên lực, thiên lực là ta, tức Trời, tức Thầy...

     Ðó là chuyện xa xưa đã 76 năm qua, ngày nay vào thời buổi 2002, nếu ai có "computer" và hay "surf the net," muốn tìm hiểu điều gì về Việt Nam, chỉ cần "search" (qua Yahoo.com hoặc Google.com chẳng hạn) chữ "Viet Nam" không dấu là có đủ mọi thứ, từ ăn chơi đàng điếm cho đến tu tâm dưỡng tánh... đều được trình bày, bàn thảo công khai bởi người Việt lẫn người ngoại quốc, mặc sức mà nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi...

     Hiển nhiên, trong khi "search" chữ "Viet Nam" sẽ có "Du Lich Viet Nam"! Và trong "Du Lich Viet Nam", ngoài Huế, Sài Gòn, Hà Nội..., ngoài vịnh Hạ Long, Bái Tử Long, China Beach (ở Ðà Nẵng, vùng Ngũ Hành Sơn), Nha Trang Beach, v.v... ta lại thấy địa phận tỉnh Tây Ninh với Thánh Thất Cao Ðài được vẻ kiểu, xây cất do lời chỉ dạy của Bề Trên qua cơ bút, hiện ra như một kỳ quan thế giới cho mọi người cùng chiêm ngưỡng, nhất là đối với người ngoại quốc...

     Rồi trong chữ "Cao Dai" hay "CaoDai" lại có thêm "Caodai.com," "Caodai.net," "Caodai.org," v.v..., nói chung, Cao Ðài Mỹ, Cao Ðài Canada, Cao Ðài Pháp, Cao Ðài Ðức, Cao Ðài Úc Châu, v.v... lần lượt hiện ra, mỗi nơi mỗi vẻ, ôi thôi muôn hình vạn trạng! Mà, tình cờ, trong một ngày đẹp trời hôm đó, tôi có dịp lướt qua! Ðể rồi sau cùng tôi dừng lại ở "homepage" Thiên Lý Bửu Tòa
* , vì nơi đây có mục... "thỉnh kinh miễn phí" xem ra rất phù hợp với tánh của tôi là thích đọc kinh, sách cầm trên tay hơn là đọc trên NET! Download và in ra cũng được nhưng... hơi phiền toái và không đẹp đẻ cho lắm!

     Well, nói theo đạo Phật thì có lẽ do thập nhị duyên sanh, còn nói theo đạo Cao Ðài thì có lẽ do... thiên cơ dĩ định, vì tôi cũng cứ đinh ninh rằng Thiên Lý Bửu Tòa lại là một chi phái nào đó mà mình chưa biết, chưa từng nghe qua, ai ngờ..., lại hai chữ ai ngờ, đây là nơi Thầy và các chư Phật, Tiên, Thánh, Thần... về cơ trở lại. Ở San Jose ngay trên xứ Mỹ văn minh tột cùng này mới là điềm lạ, điềm lành cho nhơn loại, chúng sanh. Ðể Thầy mở Ðệ Nhị Thiên Khai, Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ ngoài xứ Việt Nam thân yêu của chúng ta. Bên ngoài xem ra không có gì bề thế nhưng bên trong lại tiềm ẩn nhiều điều đáng nói, đáng nêu! Quả đúng là "chùa rách có Phật vàng," như chính Thầy đã ban:

         Bửu-tòa CAO chẳng mấy thước đo,
         Thiên-lý
ÐÀI Tiên ý chẳng dò,
         Chùa rách
THƯỢNG Ngươn nhồi Ðức-Thánh,
         Phật vàng
ÐẾ Ðạo dựng nền Nho.

     Thì ra cơ Trời vẫn luân chuyển, máy Tạo vẫn vần xoay... như đã "tiên tri" trong kinh sách, rằng Ðạo Cao Ðài sẽ lan truyền khắp năm châu bốn bể. Trong âm thầm, lặng lẽ nên ít người để ý tới. Trong số đó có tôi. Ngoại trừ những ai có căn cơ tiền kiếp, sớm tìm ra lẽ Ðạo (vốn không là món hàng rao bán vì Trời Phật vốn chẳng phải con buôn - Thánh Ngôn Hiệp Tuyển), chớ còn hầu hết chúng ta ngay từ lúc sinh ra cho đến lúc trưởng thành, đã bị dồn dập cuốn lôi vào dòng đời phong ba bão tố, mạnh được yếu thua. Bằng những học tập nhồi nhét kiến thức vào đầu, hầu làm hành trang để bương chải tìm kế sinh nhai. Lắm khi chẳng còn thì giờ nhìn lại những đoạn đường đã đi qua. Ðến lúc giựt mình tỉnh ngộ thì bóng xế, chiều tà. Mới chợt nghe văng vẳng bên tai tuồng như tiếng kêu thảng thốt của Phật Trời hằng bao năm qua đang từ xa vọng lại:

         Hảo Nam bang, hảo Nam bang!
         Tiểu quốc tảo khai hội Niết bàn...


     Mà, nương vào biến cố có một không hai trong lịch sử nhân loại đó, người Việt chúng ta tự cảm thấy, không ít thì nhiều, hãnh diện về đạo đức, căn cơ của dân tộc mình, xứ sở mình.

     Vũ trụ, vạn vật luôn luôn đổi thay và mỗi người chúng ta, do thời thế đẩy đưa, thường hay bắt gặp những hoàn cảnh mới, những hạnh ngộ mới, những vận hội mới... như những khúc quanh lịch sử của cuộc đời, để có thể tạo nên những cơ nghiệp mới. Nhưng, theo thiển ý của riêng tôi, việc bắt gặp... một phương trời mới, hướng ta về nơi nuôi dưỡng mạch sống tâm linh, mới là điều ta đáng quan tâm hơn hết...


     * Cao Ðài Ðại Ðạo - Thiên Lý Bửu Tòa homepage:
     http://saigonline.com/caodai/


   back to top

02. MỘT VÀI ÐIỀU ÐÁNG SUY NGHĨ

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Từ ngày liên lạc với Thiên Lý Bửu Tòa, Cao Ðài Ðại Ðạo, tôi có dịp nghiền ngẫm kinh Cao Ðài lẫn sách Phật. Chẳng bù trong thời gian trước, toàn đọc sách văn chương, tiểu thuyết. Và viết nữa, cũng ba điều bốn chuyện lăng nhăng lải nhải như vậy thôi. Giờ biết ra, hai thứ thật quả là khác nhau xa!

     Trong nửa thế kỷ ở Việt Nam và một phần tư thế kỷ ở Hải Ngoại, kinh sách Cao Ðài Ðại Ðạo nhiều vô số kể. Những cuốn căn bản như Thánh Ngôn Hiệp Tuyển (Tòa Thánh Tây Ninh, 1924-1927) , Tu Chơn Thiệp Quyết (Thánh Thất Kiên Giang, 1930) , Lịch Sử Quan Phủ Ngô Văn Chiêu (Tòa Thánh Chiếu Minh, 1932) , Thánh Ðức Chuyển Mê (Ngọc Vân Ðàn, 1935) , Thánh Ðức Chơn Kinh (Ngọc Minh Ðài, 1936) , Ðại Thừa Chơn Giáo (Chiếu Minh Ðàn, 1936) , Thánh Ðức Chơn Truyền Trung Ðạo (Ngũ Phụng Kỳ Sơn, 1938) , Thánh Huấn Hiệp Tuyển (Tòa Thánh Tiên Thiên, Châu Minh Ðàn, 1959) , Khuyến Nữ Hồi Tâm (Châu Minh Ðàn, 1959) , Bình Minh Ðại Ðạo (Hòa Ðồng Tôn Giáo, Phú Lâm, 1968 phần I, 1970 phần II, 1972 phần III) , Thánh Giáo Sưu Tập (từng năm từ 1965 đến 1971 do Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý truyền bá), v.v... trước 75 và Ðại Giác Thánh Kinh & Kinh Thánh Giáo Pháp (Thiên Lý Bửu Tòa 1982) , Bảo Pháp Chơn Kinh (tức Di Lặc Chơn Kinh, Thiên Lý Bửu Tòa, 1984) , Pháp Bảo Tâm Kinh (tức Quan Âm Phổ Chiếu, Thiên Lý Bửu Tòa 1986), v.v... sau 75.

     Nhìn chung, kinh sách Cao Ðài có phần nào dễ hiểu hơn vì viết thẳng bằng tiếng Việt so với kinh sách Nho, Lão, Phật thường được dịch từ chữ Hán. Tuy nhiên, cũng không có nghĩa là dễ hiểu đâu! Một là còn nhiều đoạn lại viết bằng chữ Nho! Ngay trong phần kinh nhật tụng, kinh cúng tứ thời, các đoạn "chí tâm quy mạng lễ" với Ngọc Hoàng Thượng Ðế, Thích Ðạo, Lão Ðạo, Nho Ðạo là những thí dụ. Hai là chưa nói hết, phải lần mò tìm hiểu, như những đoạn dạy tịnh luyện tạo xá lợi kim thân chẳng hạn, có thể vì lẽ... "khẩu khẩu tương truyền, tâm tâm tương ấn" theo kiểu "thiên cơ bất khả lậu."

     Có điều đáng nói là phần lớn kinh sách Cao Ðài Ðại Ðạo có một hình thức đặc biệt riêng, thường bắt đầu là phần "Khai Kinh," tiếp đến phần "Giảng Kinh" và sau cùng chung cuộc bằng phần "Mừng Kinh Kết Thúc." Hầu hết là những bài thơ ngắn (thất ngôn bát cú hoặc phú) hay là những bài trường thiên (lục bát hoặc song thất lục bát), xen kẽ với những đoạn tản văn (thường xuất hiện trong phần "Giảng Kinh") được chỉ dạy bởi chính Thầy, tức Ngọc Hoàng Thượng Ðế, và các vì Phật, Tiên, Thánh, Thần mà tên tuổi tuồng như rất gần gũi và quen thuộc với chúng ta.

     Lấy quyển Thánh Ðức Chơn Truyền Trung Ðạo (Ngũ Phụng Kỳ Sơn năm 1938) làm thí dụ, thì có quý ngài... Khương Thái Công (Khương Thượng Tử Nha) , Ngũ Nhạc Sơn Thần, Lê Sơn Thánh Mẫu, Ðông Phương Lão Tổ, Quan Thánh Ðế Quân (Quan Công) , Ngọc Hoàng Thượng Ðế (tức Thầy hay nôm na là Ông Trời) , Diêu Trì Kim Mẫu (tức Mẹ hay nôm na là Bà Trời) , Thái Thượng Ðạo Tổ, Khổng Thánh Tiên Sư, Thích Ca Mâu Ni Phật, Lý Thái Bạch (Giáo Tông Ðạo Cao Ðài) , Quan Âm Như Lai, Gia Tô Giáo Chủ, Di Ðà Phật Tổ, Hồng Quân Lão Tổ, Ðấu Chiến Thắng Phật (Tề Thiên Ðại Thánh) , Ngôi Hai Giáo Chủ Ngô Ðại Tiên (Ngô Văn Chiêu, người sáng lập Ðạo Cao Ðài tại thế do chính linh quang của Thầy chiết xuống phàm trần) , Ngươn Thỉ Thiên Tôn, Thông Thiên Giáo Chủ, Thập Bát La Hán, Chuẩn Ðề Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Nhiên Ðăng Cổ Phật, Nam Cực Chưởng Giáo (Nam Cực Tiên Ông) , Xích Mi Lão Tổ, Quỉ Cốc Thoàn Sư, Ngọc Ðảnh Chơn Nhơn, Linh Bửu Ðại Pháp Sư, Vân Trung Tử, Lục Yểm Chơn Nhơn, Xích Tinh Tử, Quản Thành Tử, Huỳnh Long Chơn Nhơn, Liễu Nhứt Chơn Nhơn (Tôn Tẩn) , Hậu Sư Thánh Chí (Pétrus Trương Vĩnh Ký) , Trần Ðoàn Lão Tổ, Ðông Phương Lão Tổ (Ðông Phương Sóc) , Tây Phương Lão Tổ (Tây Phương Sóc) , Hải Triều Thánh Nhơn, Trường Tiếu Tiên, Ðông (Tây, Nam, Trung, Bắc) Ba Ðế Quân, Ðộng Ðình Hồ Tiên Trưởng, Di Lặc Tuyên Quang Phật, Vô Danh Tiên Trưởng, Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (Victor Hugo) , Chí Thánh Saint Jean, Thánh Nữ Jeanne D'Arc, Ðạo Hạnh Chơn Nhơn, Cù Lưu Tôn, Thanh Hư Ðạo Ðức Chơn Nhơn, Ðào Hoa Thánh Mẫu, Vân Hương Thánh Mẫu, Thanh Hoa Thánh Mẫu, Bát Tiên (Tào Quốc Cựu, Hớn Chung Ly, Hàn Tương Tử, Lâm Thể Hòa, Lý Thiết Quả, Trương Quả Lão, Lữ Ðồng Tân, Hà Tiên Cô) , Thất (Nhứt, Nhị, Tam, Tứ, Ngũ, Lục) Nương Tiên Nữ, Bạch Hạc Ðồng Tử , v.v... Hóa ra, huyền thoại về các "nhân vật" trong sách Tàu như Phong Thần, Tây Du Ký, Ðông Châu Liệt Quốc, Tam Quốc Chí, v.v... hình như có thật. Ngay cả Ðường Tam Tạng Trần Huyền Trang hay Tôn Ngộ Không Hành Giả đều là những vị Phật, vị Thánh..., đừng tưởng bở mà mang tội với thiên đình!

     Trước tiên, như Thầy dạy, Cao Ðài Ðại Ðạo được thành lập để... quy nguyên Tam Giáo (Nho, Lão và Phật giáo) và phục nhứt ngũ chi:

     Vốn từ trước Thầy lập ra Ngũ chi Ðại-Ðạo là:

         Nhơn-đạo
         Thần-đạo
         Thánh-đạo (Nho Giáo)
         Tiên-đạo (Lão Giáo)
         Phật-đạo (Phật Giáo)

     Tuỳ theo phong hoá của nhân loại mà gầy Chánh-Giáo, là vì khi trước Càn vô đắc khán, Khôn vô đắc duyệt, thì nhơn-loại duy có hành đạo nội tư phương mình mà thôi.
     Còn nay thì nhơn-loại đã hiệp đồng. Càn-Khôn dĩ tận thức, thì lại bị phần nhiều đạo ấy mà nhơn-loại nghịch lẫn nhau: nên Thầy mới nhứt định quy nguyên phục nhứt...


     Trong phần tạm gọi là "Nhơn Ðạo" và "Thần Ðạo" chúng ta hơi ngạc nhiên thấy Thầy, Mẹ lại dạy lại về Tam Cang (quân thần cang, phụ tử cang, phu thê cang) Ngũ Thường (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) và Tam Tòng ( tòng phụ, tòng phu, tòng tử) Tứ Ðức (công, dung, ngôn, hạnh). Mà, theo ý kiến của nhiều người trong xã hội hiện đại, đã cho rằng vài điều đã lỗi thời, không còn áp dụng được nữa. Như đạo vua tôi, quân thần cang, thì nhiều nước đã không còn vua. Như đạo tam tòng của người phụ nữ, nếu đem ra áp dụng thì sẽ gặp... lớn chuyện với những ai đang hô hào, kêu gọi, đòi hỏi "nam nữ bình quyền." Thì ra, nếu muốn sống thái bình thạnh trị như đời Nghiêu, Thuấn chúng ta có nên "xét lại" để quay về những nề nếp, giềng mối ngày xưa hay không đây?

     Rồi tiếp qua phần "Thánh Ðạo, Tiên Ðạo, Phật Ðạo," chúng ta lại thấy căn bản kinh điển Cao Ðài dường như cũng chỉ dạy môn đồ tu hành theo hai cách giống giống như Ðạo Phật. Một là tu từ từ (tiệm giáo) qua từng bậc hạ thừa (hình nhi hạ học), trung thừa (hình nhi trung học), thượng thừa (hình nhi thượng học), điển hình qua ba quyển kinh Thánh Ðức (Chuyển Mê, Chơn Kinh và Chơn Truyền Trung Ðạo). Giống giống như tu Tiểu Thừa hay Nam Tông của Phật Giáo. Và hai là tu tắt (đốn giáo), tức đi thẳng vào hàng tối thượng thừa với khẩu pháp tâm truyền, điển hình qua quyển kinh Ðại Thừa Chơn Giáo. Lại giống giống như tu Ðại Thừa hay Bắc Tông của Phật Giáo, một bên gọi là "ngồi thiền" và một bên gọi là "ngồi tịnh."

     Bây giờ, thử hỏi lại một câu hỏi mà nhiều người đã hỏi và đã ghi rõ trong kinh sách Cao Ðài, tôi chỉ tạm trích ra đây từ quyển "Lịch sử Quan Phủ Ngô Văn Chiêu" (câu trả lời của Quan Phủ, vị đệ tử đầu tiên và là người sáng lập Ðạo Cao Ðài):

     Ðạo Cao Ðài là Ðạo gì?"
     Ít ai tìm kiếm mà hiểu rõ. Chớ thật là Ðạo Phật. Con người có tánh hay mới chuộng cũ vong. Thích giáo truyền đã lâu đời mà vì bị đời nhàm nên ít ai xem xét kỹ lưỡng, noi theo Ðại Ðạo mà tu luyện, thành ra Ðạo bị bế. Hễ Ðạo bế thì chúng sanh phải lầm lạc, gần dữ xa lành. Thượng Ðế, Ngài rất Hồng Từ, thương chúng sanh mê muội nơi trầm luân khổ hải, không người dìu dắt, nên Ngài ân xá tội lỗi cho một kỳ này nữa là kỳ thứ ba (Tam Kỳ Phổ Ðộ - 3ème amnistie gene'rale) mà độ rỗi chúng sanh. Ngài lại chính mình Ngài giáng thế mà độ rỗi, lãnh "Thánh Hiệu" là "CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT," nên Ðạo của Ngài truyền gọi là Ðạo "CAO ÐÀI."


     Rõ ràng hơn nữa, trong "Thánh Ngôn Hiệp Tuyển," phần "Phật - Pháp - Tăng," Thầy cũng đã giảng:

     Vì Tân-Luật chưa ra nên Thầy phải giải.
     Ðã có Thánh-Tượng Thầy, thì là cốt Ngọc-Hoàng còn để lại chẳng có nghĩa chi hết. Thầy nói cho các con rõ: Vì cớ nào trước từ Nhứt-Tổ chí Lục-Tổ thì thờ Thầy ngồi trước, vì trước là lớn phải vậy.

     (Mở ngoặc: Ðiều này cũng rất phù hợp với kinh sách "Mật Tông" đã cung kính gọi Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế là "Ðại Nhựt Như Lai.")
     Khai Thiên-Ðịa vốn Thầy, sanh Tiên, Phật cũng Thầy; Thầy đã nói một chơn-thần mà biến Càn-Khôn Thế-Giái và cả nhơn-loại. Thầy là chư Phật, Chư-Phật là Thầy.
     Các con là Chư-Phật, Chư-Phật là các con.
     Có Thầy mới có các con, có các con rồi mới có các chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.
     Thầy khai Bát-Quái mà tác thành Càn-Khôn Thế-Giái nên mới gọi Pháp; Pháp có mới sanh ra Càn-Khôn vạn vật rồi mới có người, nên gọi là Tăng.
     Thầy là Phật, chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các Ðạo mà phục-hồi các con hiệp một cùng Thầy.
     Thầy lập Phật-Giáo vừa khi khai Thiên, lập Ðịa, nên Phật-Giáo là trước, kế Tiên-Giáo, rồi mới tới Nho-Giáo. Nay là hạ ngươn hầu mãn, phải phục lại như buổi đầu, nên phải phản tiền vi hậu.
     Tỉ như lập Tam-Giáo quy nhứt thì:
     Nho là trước
     Lão là giữa,
     Thích là chót.
     Nên Thầy phải ngồi sau chư Phật, Tiên, Thánh, Thần mà đưa chúng nó lại vô-vi chi khí, chính là Niết-Bàn đó vậy...


     Như vậy, Ðạo Cao Ðài chính là Ðạo Phật, hay có thể tạm gọi là Ðạo Phật Mới! Rồi, những Phật Tử tu theo Ðạo Phật Cũ phải làm sao đây? Chẳng lẽ lại bỏ Phật theo Thầy? Dường như chưa ai dám phạm thượng mà đặt câu hỏi này với Bề Trên! Thật ra, theo Thầy thì cũng chẳng bỏ Phật vì Thầy cũng là Phật mà thôi! Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể tìm ra câu trả lời qua sự giải thích của Thầy trong kinh "Ðại Thừa Chơn Giáo," phẩm "Ðại Ðạo Phục Hưng - Cao Ðài Xuất Thế" như sau:

     Ðã biết rằng Ðạo là thanh thanh, tịnh tịnh, không ứng lộ ra ngoài, nhưng muốn lập giáo phải làm sao? Phải bày cơ hữu hình để chỉ cho rõ lý mới được. Vậy cách lập giáo của Thầy cũng không chi lạ, chỉ noi theo Tam Giáo trước mà làm qui-củ chuẩn-thằng rồi đem gồm về một mối chánh.
     Tam-Giáo trước là: Nho, Thích, Ðạo vì hoằng khai cũng đã lâu đời, nên bị biến cải mà thành thử phải thất chơn truyền làm cho sai lạc mất hết cả Thiên-cơ mầu nhiệm, bởi đó nhơn sanh tu tuy nhiều mà thành thì chẳng có.
     ...
     Ngày nay Thầy đến đây đem ba nền Tôn-Giáo hiệp nhứt lại, tạo thành một Tòa lớn lao để đời đời kiếp kiếp cho nhơn sanh nương vào đó mà lánh cơn nạn khổ thảm sầu. Ba nhà Tôn Giáo ấy tuy đổ sập mặc dầu, nhưng Thầy cũng vì lòng từ bi, chọn lựa cái nào còn đúng đắn thì Thầy lấy, cái nào hư nát thì bỏ ra; như cột, kèo, xiên, trinh, ngói, gạch, cái nào còn nguyên thì dùng, cái nào bể nát hay hư hao, bị mối ăn, sâu đục thì bỏ ra. Cây nào cong vạy thì uốn nó lại, trừ ra uốn không nổi mới bỏ. Thầy lấy các vật ấy ráp lại thành một Tòa ÐẠI-ÐẠO cho nhơn sanh sùng bái, tu hành là tòa nhà ngày nay Thầy lập thành đó.


     Và chính Ðức Phật Thích Ca Như Lai đã nhiều lần giáng trần, xác nhận Phật cũng là Thầy, mà Thầy cũng là Phật, như đoạn cơ bút dưới đây trích từ "Thánh Ngôn Hiệp Tuyển":

     Thích-Ca Như-Lai
     Kim viết: Cao-Ðài Tiên-Ông Ðại Bồ-Tát
     Chư-Sơn nghe dạy:
     Vốn từ Lục-Tổ thì Phật Giáo đã bị bế lại, cho nên tu hữu công mà thành thì bất thành; Chánh Pháp bị nơi Thần-Tú làm cho ra mất Chánh Giáo, lập riêng pháp-luật buộc mối Ðạo-Thiền.
     Ta vì luật lịnh Thiên mạng đã ra, cho nên cam để vậy, làm cho Phật-Tông thất chánh có gần ba ngàn năm nay. Vì Tam-kỳ Phổ-độ, Thiên-địa hoằng khai; nơi "Tây phương Cực-lạc" và "Ngọc-Hư-Cung" mật chiếu đã truyền siêu rỗi chúng sanh. Trong Phật-Tông Nguyên-Lý đã cho hiểu trước đến buổi hôm nay rồi; tại Tăng Ðồ không kiếm chơn lý mà hiểu.
     Lắm kẻ đã chịu khổ hạnh hành Ðạo... Ôi! Thương thay! Công có công mà thưởng chưa hề có thưởng, vì vậy mà Ta rất đau lòng.
     Ta đến chẳng phải cứu mình chư Tăng mà thôi; vì trong thế hiếm bậc Thần, Thánh, Tiên, Phật, phải đọa hồng trần, Ta đương lo cứu vớt.


     Thôi thì tùy duyên phận chúng sanh vì mỗi người đều tự làm chủ lấy mình, tự quyết định hướng đi đường tu của mình, tôi chỉ muốn nêu lên... một vài điều đáng suy nghĩ mà thôi...

   back to top

03. CHUYỆN NGHE QUA RỒI BỎ

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Phàm làm "cây sậy biết suy nghĩ" (Pascal), đôi lúc chúng ta cũng tự hỏi: Tại sao ta đến đây, tại sao ta sinh ra trên cõi đời này? Rồi, tại sao ta phải chết đi và lúc chết ta sẽ đi về đâu? Xa hơn, cuộc sống ba vạn sáu ngàn ngày của chúng ta, đến rồi đi, có bao hàm một ý nghĩa gì chăng?

     Theo như mọi người thường hiểu, thì tuồng như lúc chết chúng ta chỉ có hai con đường: một là lên thiên đàng, hai là xuống địa ngục! Và, để cho thiên đàng cùng địa ngục còn chỗ trống, có vô thì phải có ra, có phải vì một lý do hay một điều kiện nào đó chúng ta lại phải rơi rớt từ thiên đàng hoặc trồi lên từ địa ngục, làm lại cuộc sống trên chốn dương gian, trần thế?

     Có lẽ loài người đã tốn giấy mực nhiều nhứt cho những công trình nghiên cứu, những bàn thảo rốt ráo về các đề tài, các vấn nạn nêu trên! Cách tốt hơn hết, theo thiển ý của riêng tôi, chúng ta có thể dựa vào kinh sách để, một lần nữa, đi tìm những câu trả lời khả dĩ chấp nhận được!

     Trong kinh "Thánh Ngôn Hiệp Tuyển" của đạo Cao Ðài, đàn cơ ngày 13 tháng 6, năm Bính Dần (1929), Thầy, tức Ngọc Hoàng Thượng Ðế, có dạy:

     "Sự chết, thường thế gian gọi chết là hết, là vì dốt không biết Ðạo nên tưởng lầm.
     Khắp trong nhân loại trong mặt Ðịa Cầu này, phần đông vì kính thờ Tà quái mà Tà quái vốn chứa sự chết thì tức nhiên chúng nó ở trong vòng sự chết là phải tiêu diệt, thì biết bao giờ biết đặng sự hằng sống là gì... Cười... Nếu Thầy không đến kịp, thì các con cũng vẫn bị trong vòng sự chết.
     Tà mị cũng như một hột lúa bị hẩm mà thúi, thì thế nào mọc đặng mà sanh bông trổ trái.
     Còn bậc chơn tu tỉ như một hột giống tốt, hễ gieo xuống thì cây lên, cây lên thì trổ bông, trổ bông rồi sanh trái, mà biến biến sanh sanh càng tăng số. Vì vậy mà các con phải bỏ xác trần, mà bông trái thiêng liêng các con sanh hoá chơn thần; chơn thần lại biến hằng muôn thêm số tăng lên hoài. Ấy là Ðạo. Bởi vậy một chơn thần Thầy mà sanh hoá thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn loại trong Càn Khôn Thế Giái; nên chi các con là Thầy, Thầy là các con.
     Như kẻ bên Phật Giáo hay tặng Nhiên Ðăng là Chưởng Giáo; Nhiên Ðăng vốn sanh ra đời Hiên Viên-Huỳnh Ðế.
     Người gọi Quan Âm là Nữ Phật Tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Ðạo Nhân biến thân. Từ Hàng lại sanh ra lúc Phong Thần đời nhà Thương.
     Người ta gọi Thích Ca Mâu Ni là Phật Tổ. Thích Ca vốn sanh ra đời nhà Châu.
     Người ta gọi Lão Tử là Tiên Tổ Giáo, thì Lão Tử cũng sanh ra đời nhà Châu.
     Người gọi Jésus là Thánh Ðạo Chưởng Giáo, thì Jésus lại sinh nhằm đời nhà Hớn.
     Thầy hỏi vậy chớ ai sanh ra các Ðấng ấy?
     Khí Hư Vô sanh có một Thầy. Còn mấy Ðấng Thầy kể đó, ai sanh? Ấy là Ðạo. Các con nên biết.
     Nếu không có Thầy thì không có chi trong Càn Khôn Thế Giái nầy; mà nếu không có Hư Vô chi khí thì không có Thầy."


     Xét kỹ trong đàn cơ này, đặc biệt, Thầy đã hai lần nói câu: "Ấy là Ðạo "! Vậy thì Ðạo là gì mà Thầy còn dặn: "Các con nên biết?" Nhưng, biết bằng cách nào đây? Và, hiểu theo lẽ nào đây?

     Trong kinh Ðại Thừa Chơn Giáo, đàn cơ ngày 25, tháng 8, năm Bính Tý (1936), Thầy còn cho biết thêm:

     "Giờ nay, Thầy giáng đàn để đôi lời bí khuyết tâm truyền cho các con dò xét, tầm tu cho thuận Thiên Ðạo, thoát cảnh diêm phù, tránh khỏi lưới trần lao nhốt hãm.

     Phú:
             Cơ mầu nhiệm của Tạo Ðoan,
                   ẩn vi có tầm suy mới thấu đáo,
             Pháp tâm truyền, đường Chơn Ðạo,
                   phải gia công tham khảo mới tường tri.
             Lý hư vô cần phải nghĩ suy,
                   vạn pháp nhiệm vô vi cao thượng.
             Kìa Phật, Thánh, Tiên, phí bao công
                   tìm cho ra chơn tướng.
             Ðoạt lẽ Trời ảnh hưởng
                   lý đương nhiên,
             Ôi! là đời chịu: buồn, lo,
                   khổ, nạn, não phiền,
             Mang nhơn quả nối chuyền
                   đời này sang kiếp nọ,
             Vì vật dục đẩy đưa
                   con người vào nẻo khó,
             Kiếp đọa đày sao dứt bỏ
                   được trái chủ oan gia.

     Các con muốn thông suốt lý tinh vi thì cần phải sửa tâm cho chính đính, tập tánh chí thiện chí mỹ cho hiệp lẽ điều hòa, thuận tùng Chơn Ðạo.
     Trong cơ mầu nhiệm của Phật Trời rất nhiều phép lạ, nhưng không bao giờ các con lấy mắt thịt, trí phàm, tai tục mà dò xét thấu lẽ hư linh đâu?
     Các con muốn thấu lẽ hư linh, trước phải định cái tâm, gìn cái ý, nhắm mắt, bít tai thì có lẽ rõ chút ít.
     Trong pháp nhiệm, nó ẩn vi sâu kín cao xa dầu lấy nước biển vẽ vời cũng không suốt lý. Thánh trước Hiền xưa ra công tham khảo, mãn kiếp cùng đời mà vén chưa đặng cái màn bí mật của Tạo Hóa đón ngăn. Nhưng cần nhứt là trầm tư mặc tưởng, nhập định tham thiền thì gặp Chơn Tiên khẩu truyền cho rõ Ðạo, chớ sự mầu nhiệm tuyệt xảo của Trời, dẫu Phật, Tiên chưa tri nổi.
     Các con ngày hôm nay gặp Ðạo Thầy hoằng hóa thì cần lập chí luyện phanh, đem cái bổn tánh hư linh trở về ngôi vị cũ.
     Ngày giờ cuối cùng, Thầy vì thương yêu các con phải giáng phàm mà dìu dắt các con trở lại, nhưng các con phải hết lòng, đừng ỷ mình, hay là tưởng Thầy thương yêu rồi biếng nhác. Các con nên biết rằng: dầu Thầy cũng phải chịu dưới quyền luật của Ðạo thay."


     Như vậy, qua đàn cơ này và qua lời Thầy dạy, chúng ta biết và hiểu rằng... Ðạo phải là một cái gì lớn lao, huyền diệu lắm, đến nỗi ngay cả Thầy mà... cũng phải chịu dưới quyền luật của Ðạo ...

     Lại nữa, trong kinh "Qui Ngươn Trực Chỉ" (Phật Giáo) cũng có bài kệ rằng:

             Hữu vật tiên thiên địa
             Vô hình bổn tịch liêu
             Năng vi vạn vật chủ
             Bất trục tứ thời điêu

     mà Minh Trực thiền sư dịch như sau:

             Có vật trước trời đất
             Không hình vốn lặng trang
             Là nguồn sanh vạn vật
             Còn mãi chẳng điêu tàn

     Như vậy... cái vật có trước trời đất hay cái khí Hư Vô sinh ra Thầy... phải là cái Ðạo mà thôi! Và rộng hơn một chút, có thể nói cái Ðạo này chính là cái mà Phật gọi là "tự tánh", Lão gọi là "cốc thần" và Nho gọi là "thiên lý"...

     Rồi khoa học hơn một chút, theo thiển ý của tôi, Ðạo chính là... Hóa Công, là Tạo Ðoan như Thầy dạy, đã tạo ra những "luật tạo hóa, luật thiên nhiên" (laws of the nature) trong vũ trụ! Euclid có tìm ra định đề toán học, Newton có tìm ra luật vạn vật hấp dẫn, Einstein có tìm ra công thức E=MC2, v.v... thì cũng chỉ là "tìm ra," còn "làm ra" ắt phải do chính Ðạo vậy...

     Nếu hiểu Ðạo là cái đã làm ra "luật tạo hóa, luật thiên nhiên" thì hình như biểu tượng của Ðạo (chưa phải thật là Ðạo , vì nếu thấy thật là Ðạo thì thành Phật mất rồi) đang sờ sờ trước mắt ta... Cực âm hút cực dương của hai thỏi nam châm, ấy là Ðạo ! Gái trai, đàn bà đàn ông yêu nhau, ấy là Ðạo ! Làm ác gặp ác, ấy là Ðạo ! Hễ có Thần, Thánh, Tiên, Phật thì phải có ma, quỉ, yêu, tinh..., ấy là Ðạo ! Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái..., ấy là Ðạo ! Sống thuận theo thiên nhiên là hợp với lòng Trời, ấy là Ðạo ! Lưới Trời lồng lộng tuy thưa mà khó lọt, ấy là Ðạo ! Nhứt bổn tán vạn thù, vạn thù qui nhứt bổn, tức một gốc sinh ra muôn loài, muôn loài quay về một gốc, ấy là Ðạo (với khoa học về gene, DNA, các bác sĩ cũng đã chứng minh được sự liên hệ, ràng buộc này)! Bình thường tâm thị Ðạo , ấy là Ðạo ! Thậm chí đến đi, đứng, nằm, ngồi..., cũng vậy, ấy là Ðạo ! Thì ra... Ðạo bao trùm, bàng bạc khắp mọi nơi mọi cõi, muôn loài muôn vật... hữu hình cũng như vô vi, quả không sai! Tóm lại, ai làm gì thì làm, Ðạo , tức "luật tạo hóa, luật thiên nhiên" cứ mãi mãi vận hành, vần xoay! Và một sự thật... an nhiên tự tại đã ung dung tỏ rạng, hiển bài vì rõ ràng Ðạo vốn vô hình vô tướng, vô thanh vô sắc, vô thỉ vô chung, vô sanh vô diệt...

     Thiền sư Minh Trực, trong khi dịch quyển "Pháp Bửu Ðàn Kinh" của Lục Tổ Huệ Năng đã có chú giải như sau:

     "Ðức Lục Tổ nói muôn loài tự có Ðạo, nghĩa là trong vạn vật từ loài người cho tới loài xuẩn động hàm linh (côn trùng), một hột cát, hột bụi cũng đều có sự SỐNG THIÊN NHIÊN (Vie Divine). Tại con người gọi là Bổn tánh, tại cầm thú gọi là bổn năng, tại vật (chất) gọi là (bổn) lý. Bổn tánh, bổn năng, (bổn) lý vốn đồng một bổn thể của vũ trụ và vạn vật tức là Ðạo.
     Từ loài kim thạch tiến hóa lần tới loài thú cầm, từ thú cầm tiến hóa lên loài người, loài người tu hành tiến hóa lên bực Thần Thánh Tiên Phật, ấy đều do một lẽ Ðạo phát triển ở trong mỗi loài vậy.
     Muôn loài nhờ SỰ SỐNG THIÊN NHIÊN tức là Ðạo mà sanh sản và tiến hóa. Giết hay phá hoại một loài nào, tức là làm trái luật tạo hóa, là dứt SỰ SỐNG THIÊN NHIÊN trong đó, tức là làm trở ngại cơ phát triển của Ðạo vậy. Tội phạm này làm mất hết thiện căn tức là lòng từ bi nhân ái ở nơi tánh đức của mình.
     Muốn răn tội đại ác này, Tam giáo Thánh nhơn xướng ra thuyết ÁI NHƠN LỢI VẬT. Nho giáo gọi là Ái sanh, Thích giáo gọi là Siêu sanh, Ðạo (Lão) giáo gọi là Ðộ sanh. Tam giáo Thánh nhơn đồng một bổn ý là khuyên chúng sanh tỏ lòng thương tiếc các loài, giúp cho mỗi loài được sống và tiến hóa mãi. Giúp như thế tức là mình giúp vào cơ hóa dục của THIÊN NHIÊN vậy."


     Qua phần trên, chúng ta nhận thấy chuyện tìm hiểu chữ Ðạo , chuyện sống theo lẽ Ðạo ..., kể ra cũng đâu có gì là cao siêu hay khó khăn cho lắm! Nhưng, tại sao Phật nói "Ðạo bất khả tư nghì," tức là "Ðạo không thể nghĩ bàn" được? Thêm nữa, trong Ðạo Ðức Kinh, tại sao Lão Tử cũng lại nói: "Ðạo khả Ðạo phi thường Ðạo, Danh khả Danh phi thường Danh" (tạm hiểu là: "Ðạo mà nói ra được chẳng phải Ðạo! Tên mà nói ra được chẳng phải Tên") là thế nào?

     Ậy, thì ra ngay cả đặt cái tên Ðạo cho... Ðạo cũng đã là sai rồi! Cùng lắm thì chỉ làm được "ngón tay chỉ trăng" mà thôi! Thế thì, những dòng dở dở ương ương trên đây coi như... chuyện nghe qua rồi bỏ vậy...

   back to top

04. BƯỚC LẦN VÀO CÕI VÔ HÌNH

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Trong "Thánh Giáo sưu tập năm 1971," Thầy, tức Ngọc Hoàng Thượng Ðế, có dạy:
"Tôn Giáo là con thuyền đưa khách mà Ðạo là bến đỗ. Các con thuyền cuối cùng cũng xuôi về bến đỗ!"

     Nếu tạm gọi "bến đỗ" là nơi Ðạo ("CÁI ẤY" - trong Pháp Bảo Ðàn Kinh) đã tạo ra những định luật thiên nhiên (laws of the nature) trong vũ trụ, trời đất thì "bến đỗ" đây thật chẳng khác gì cõi "Niết Bàn" của những ai "ngộ" Ðạo. Vốn... vô thỉ vô chung, vô sắc vô tướng, vô hương vô thanh, hư hư tịnh tịnh, huyền diệu vô vi.

     Dường như hầu hết các Tôn Giáo trên thế giới đều có đề cập đến cõi hữu hình (tạm hiểu là cõi sống trên quả Ðịa Cầu 68 của chúng ta, một trong 72 Ðịa Cầu, thất thập nhị cầu, theo Ðạo Cao Ðài) và cõi vô vi (tạm hiểu là cõi sống của Trời, Phật, Tiên, Thánh, Thần và, kể cả, ma, quỷ, yêu, tinh) mà, bằng mắt thịt tai phàm, chúng ta không nghe không thấy được.

     Rồi, nếu ta chấp nhận... chết là chưa hết, chấp nhận có linh hồn và sự luân hồi nhân quả, thì sau khi chết dường như chúng ta chẳng phải đi đâu hết, mà chỉ là... lá rụng về cội. Linh hồn ta lại rơi về cõi vô vi (thiên đường hay địa ngục), lại nhập vào Ðạo. Nhưng, với nhiều thứ lớp khác nhau, từ thấp lên cao, tùy theo căn nghiệp đã làm ở cõi hữu hình, trần tục. Thấp thì là cõi hạ giới của ngạ quỷ súc sanh, cao là các cõi trung thiên, thượng thiên và cao nhứt là "Niết Bàn" của Thần Thánh Tiên Phật.

     Well, đợi đến lúc chết thì dù có nghe có thấy đi nữa cũng đã muộn mất đi rồi! Không còn châm chế, cải biến gì được! Bởi vậy cho nên, vì thương xót chúng sanh, Trời Phật Tiên Thánh Thần... cũng đã ra công chỉ dạy cho tất cả mọi người những phương pháp tịnh luyện để có những khả năng... nghe và thấy các cõi vô vi, siêu hình (nhưng vốn không phải là cứu cánh, mục đích của sự tịnh luyện). Ngặt một nỗi, không phải ai tịnh luyện thì đều đắc thành và, hiển nhiên, có được các phép... "thần thông" đó! Vì, phải là những người đạo đức, căn cơ!

     Khoa học hơn một chút, trong quyển "Hành Trình Về Phương Ðông," 1924, do Nguyên Phong dịch, chương thứ 8 "Cõi Giới Vô Hình," vị Pháp Sư Ai Cập, Hamoud, có luận rằng:

     Ở cõi trần, tâm thức con người bị giới hạn bởi ba chiều không gian. Thật ra còn nhiều chiều nữa mà ta không nhìn thấy. Khối óc của ta chỉ chấp nhận chiều dài, chiều ngang và chiều đứng mà thôi. Dĩ nhiên, mọi sự đi đứng, di chuyển cũng chỉ giới hạn trong ba chiều này. Nếu tôi nói có một chiều thứ tư thẳng góc với ba chiều này thì các ông sẽ không thể tưởng tượng nổi. Nhưng không thấy được đâu có nghĩa là nó không hiện hữu phải không? Muốn tìm hiểu chiều đo thứ tư này ta cần dùng sự so sánh. Thí dụ có một con kiến đang bò trên một tờ giấy phẳng. Giả thuyết rằng con kiến không thể rời khỏi tờ giấy này được nên thế giới của nó chỉ là một mặt phẳng giới hạn trong hai bề đo. Dù nó biết suy luận nó cũng không thể quan niệm được bề đo thứ ba là bề đứng. Từ không gian ba chiều của chúng ta, ta có thể làm nhiều điều tầm thường mà con kiến cho là một phép lạ. Thí dụ như ta để một hạt thóc lên tờ giấy, con kiến không thể hiểu hạt thóc từ đâu xuất hiện vì giới hạn trong hai bề đo của tờ giấy, nó nghĩ rằng mọi vật phải đến từ tờ giấy chứ không thể ở một cõi nào đó...
     ...
     Các ông đều biết rằng đường thẳng được tạo ra bởi một điểm kéo dài theo một chiều nhất định. Nếu ta di chuyển một cái chấm khoảng 2 thước thì ta có đường thẳng dài 2 thước. Nếu ta tiếp tục di chuyển chấm ấy một khoảng cách 2 thước nhưng thẳng góc với đường cũ cho đến khi trở về khởi điểm thì ta sẽ có một hình vuông có đúng không? Hình vuông có thể diễn tả bằng con số 2 bình phương theo toán học. Ðây là hình học mặt phẳng chứ không có gì lạ. Nếu ta tiếp tục di chuyển theo chiều đứng, thẳng góc với hình vuông cũ thì ta sẽ có một khối vuông (Cubic). Khối vuông có thể diễn tả bằng con số 2 tam thừa. Tóm lại ta có 3 hình: Ðường thẳng, hình vuông và khối vuông tương đương với số 2, 2 bình phương và 2 tam thừa.
     Hình học không gian ngừng lại ở đây, không đi xa nữa vì ta chỉ biết có 3 chiều mà thôi, nhưng toán học cho biết có 2 tứ thừa, 2 lũy thừa năm, 2 lũy thừa sáu và nhiều nữa. Các con số toán học này đều có hình tương ứng trên phương diện hình học và tương ứng với 2 lũy thừa bốn hay bề đo thứ tư là chìa khóa vào cõi âm...
     ...
     Khi vén màn vào chiều đo thứ tư, sự phát minh khoa học ngày nay chỉ là mảnh vụn, không đáng kể. Con người có thể du lịch khắp không gian và có quyền năng ngoài sự hiểu biết của người hiện tại. Trong thời buổi vàng son, dân Ai Cập đã đi khắp không gian, đến những giải ngân hà xa lạ nhưng tiếc thay sự giao tiếp với cõi âm của chiều đo thứ tư đem lại các nguy hiểm mà họ không biết. Chính vì thế nền văn minh này đã sụp đổ, biến mất trên mặt địa cầu, chỉ vì thiếu một nền tảng trí tuệ sáng suốt, biết phân biệt chân giả...


     Trong khi đó, trên bình diện Tôn Giáo, muốn hiểu được chiều thứ tư, muốn lấy được chìa khóa vào cõi âm, cõi siêu hình, con người chúng ta dường như bị bắt buộc phải đi qua con đường duy nhất là... tham thiền nhập định. Với sự chỉ dẫn của những người đi trước đã trải qua, đã có kinh nghiệm vì, nếu không, sẽ có những kết quả tai hại như... tẩu hỏa nhập ma chẳng hạn... Nói nôm na thì "nghề chơi nào cũng lắm công phu" và nếu "chơi dao" mà không cẩn thận thì có ngày sẽ "bị đứt tay" vậy.

     Trong "Thánh Ngôn Hiệp Tuyển" phẩm "Nhị Xác Thân," Thầy cũng đã giải thích như sau:

     Mỗi kẻ phàm dưới thế nầy đều có hai xác thân: Một phàm gọi là corporel. Còn một thiêng liêng gọi là spirituel. Mà cái thiêng liêng do nơi cái phàm mà ra, nên gọi nó là bán hữu hình, vì có thế thấy đặng mà cũng có thế không thấy đặng.
     Cái xác vô hình huyền diệu thiêng-liêng ấy do nơi Tinh-Khí-Thần mà luyện thành.
     Nó nhẹ nhàng hơn không khí.
     Khi nơi xác phàm xuất ra, thì lấy hình ảnh của xác phàm như khuôn in rập. Còn khi đắc đạo mà có Tinh-Khí, không có Thần, thì không thế nhập mà hằng sống đặng.
     Còn có Thần không có Tinh-Khí thì khó hườn đặng Nhị-xác-Thân.
     Vậy ba món ấy phải hiệp mới đặng.
     Nó vẫn là chất tức hiệp với không-khí Tiên-Thiên, mà trong khí Tiên-Thiên thì hằng có điển quang. Cái chơn-thần buộc phải tinh tấn, trong sạch mới nhẹ hơn không khí ra khỏi ngoài Càn-Khôn đặng.
     Nó phải có bổn nguyên Chí-Thánh, Chí-Tiên, Chí-Phật mới xuất Thánh, Tiên, Phật đặng.
     Phải có một thân phàm tinh-khiết mới xuất Chơn-Thần tinh khiết.
     Nếu như các con còn ăn mặn luyện Ðạo rủi có ấn chứng thì làm sao mà giải tán cho đặng.
     Như rủi bị hườn, thì đến khi đắc Ðạo, cái trược khí ấy vẫn còn, mà trược khí thì lại là vật chất tiếp điển (bon conducteur d'e'lectricité) thì chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt. Còn như biết khôn thì ẩn núp tại thế mà làm một bậc Nhân Tiên, thì kiếp đọa trần cũng còn chưa mãn.
     Vì vậy Thầy buộc các con phải trường trai mới đặng luyện Ðạo.


     Lại khoa học hơn một chút, Pháp Sư Hamoud, trong "Hành Trình Về Phương Ðông" cũng có nói thêm về sự hình thành của thể Vía:

     Khi chết, ta bước qua cõi trung giới và cõi này gồm có bảy cảnh khác nhau. Mỗi cảnh được cấu tạo bằng những nguyên tử rất thanh mà ta gọi là chất "Dĩ thái." Tùy theo sự rung động (vibration) khác nhau mà mỗi cảnh giới (Astral plane) mỗi khác. Tùy theo vía con người có sự rung động thanh cao hay chậm đặc mà mỗi người hợp với một cảnh giới, gọi là hiện tượng "Ðồng thanh tương ứng" mà thôi. Khi vừa chết, thể chất, thể chất cấu tạo cái vía được sắp xếp lại, lớp thanh nhẹ nằm trong và lớp nặng trọc bọc phía ngoài, điều này cũng giống như một người mặc nhiều áo khác nhau vào mùa lạnh, áo lót mặc bên trong, áo choàng dầy khoác ngoài.
     Vì lớp vỏ bên ngoài cấu tạo bằng những nguyên tử rung động chậm và nặng nề, nó thích hợp với các cảnh giới tương ứng ở cõi âm và con người sẽ đến với cảnh giới này. Sau khi ở đây một thời gian, lớp vỏ bao bọc bên ngoài dần tan rả giống như con người trút bỏ áo khoác bên ngoài ra, tùy theo các lớp nguyên tử bên trong mà họ thích ứng với một cảnh giới khác. Cứ như thế, theo thời gian khi áp lực vật chất tan rả hết thì con người tuần tự tiến lên, những cảnh giới cao hơn. Ðiều này cũng giống như quả bóng bay bị cột vào đó những bao cát mỗi lần cởi bỏ được một bao thì quả bóng lại bay cao hơn một chút cho đến khi không còn bao cát nào thì nó sẽ tự do bay bổng...


     Lại khoa học hơn một chút nữa, đi xa hơn một chút nữa, chúng ta có thể dựa vào các phát minh hiện đại để hiểu rõ hơn cái "Nhị Xác Thân" "nó nhẹ nhàng hơn không khí" hay cái "Vía" sau khi chết này được cấu tạo như thế nào.

     Hầu như ai ai chúng ta cũng biết nhà bác học Eisntein, vào khoảng 1905, đã đưa ra giả thuyết ánh sáng được cấu tạo bằng những hạt quang tử (photon) và truyền đi với một vận tốc nhứt định, một hằng số, 300 ngàn cây số mỗi giây. Và, hiển nhiên, giả thuyết này đã được chứng minh và công nhận khoảng vài năm sau đó.

     Ngày nay, các nhà bác học trong đó có Lijun Wang, đã chứng minh được rằng các "vi tử" (particles) nhỏ hơn nguyên tử, quang tử... được truyền đi với vận tốc nhanh hơn vận tốc ánh sáng. Nói chung chung, càng nhỏ thì sự chuyển động càng nhanh. Nhanh đến độ các "vi tử" này có thể tồn tại và hiện diện cùng lúc ở hai nơi, nơi đi và nơi đến. Hay ngược lại, chúng ta cũng có thể nói... chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu. Và, hóa ra, "chẳng từ đâu đến, chẳng đi về đâu" lại là nghĩa chữ Hán hai tiếng "Như Lai" của Ðức Phật mà thôi (Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như Lai). Phải chăng "pháp thân" hay "kim thân" của Ðức Phật được cấu tạo bằng các "vi tử" cực cực nhỏ?

     Trong tài liệu bí mật của nhà thần học người Nga, Madame Blavatsky, phần ghi lại các tài liệu cổ, có gọi những "vi tử" ở các cõi vô vi, siêu hình là "Koilon." Tạm gọi là chất, là hạt, là bọt, hay là khí... "Tiên Thiên" vậy. Và mật độ (cm3?) của các "vi tử" này được chiết tính như sau (không thấy ghi cõi hạ giới của ngạ quỷ súc sanh):

             - Cõi trần gian (Physical Plane) có 49 lũy thừa 6 "vi tử," khoảng 13.8 tỷ.
             - Cõi trung giới (Astral Plane,
chia thêm ra 7 cõi nữa tương tự như Pháp Sư Ai Cập trình bày ở trên ) có 49 lũy thừa 5 "vi tử," khoảng 282.4 triệu.
             - Cõi hạ thiên (Inferior Mental Plane) có 49 lũy thừa 4 "vi tử," khoảng 5.7 triệu.
             - Cõi thượng thiên (Superior Mental Plane) có 49 lũy thừa 3 "vi tử," khoảng 117.6 ngàn.
             - Cõi bồ đề (Buddha Plane) có 49 lũy thừa 2 "vi tử," tức 2401 "vi tử."
             - Cõi niết bàn (Nirvana Plane) có 49 lũy thừa 1 "vi tử," tức 49 "vi tử."
             - Cõi đại niết bàn (Paranirvana Plane) có 49 lũy thừa 0 "vi tử," tức 1 "vi tử."


     Lối giải thích về 7 cõi trung giới (Astral Plane) này cũng rất phù hợp với sự giải thích về 7 thể linh hồn của Thầy trong kinh "Ðại Thừa Chơn Giáo," phẩm "Luyện Ðạo" như sau:

     Linh hồn của con người từ ở cõi Bồng Lai Tiên Cảnh (các cõi hạ thiên, thượng thiên, bồ đề?) hoặc Cực Lạc Niết Bàn (niết bàn và đại niết bàn?) mà muốn đầu thai xuống cõi hạ giới này là cõi thứ 7 thì đã trải qua 6 cõi hư linh ở thượng tầng không khí, mà mỗi khi trầm xuống mỗi cõi hư linh thì linh hồn phải chịu dưới quyền cấu tạo của Tạo Hóa chi cơ, nghĩa là phải thọ bẫm thần khí ở cõi hư linh đó mà bao bọc thêm ra ngoài một lớp thể chất nữa, mà hễ càng trầm xuống xa chừng nào thì lại càng nặng nề thêm chừng ấy. Khi trầm xuống cõi đến dục giới này lại còn phải mang thêm một cái xác thân phàm tục trọng trược đủ điều, nhưng cũng nhờ có cái xác thân phàm, đủ đầy tam bửu ngũ hành mà kẻ giác ngộ con đường lành lo tu hành đặng có tấn hóa trở về nguyên vị cũ. Ðó là Thầy giải về sự thối hóa hay tấn hóa của linh hồn do luật dinh hư của Tạo Hóa. Chí như ngày hôm nay, nhằm thời kỳ Thiên ân đại xá, Thầy giáng trần gieo rải mối chơn truyền để độ rỗi cả toàn linh, tức là Thầy vạch con đường tắt cho Tiên thể hay Kim thân của các con về thẳng nơi Thầy, khỏi phải ngưng nghỉ ở mấy cõi hư linh để cổi cho rồi 7 lớp thể chất bao bọc lấy linh hồn.

     Ðể kết luận, chúng ta nhận thấy trước sau gì chúng ta cũng sẽ rơi vào một trong những cõi vô vi, siêu hình nêu trên tùy theo duyên nghiệp sau khi chết. Chuyện đáng nói là chúng ta cũng có thể du hành vào những cõi này ngay khi chúng ta còn sống. Với điều kiện trước tiên cần và đủ là phải "trường trai" (chưa kể đến diệt dục) như Thầy đã dạy! Với mục đích "khử trược lưu thanh" cho thân tâm nhẹ nhàng thì mới tạo được "Nhị Xác Thân" để, nói nôm na là, xuất hồn ra khỏi xác phàm.

     Liệu chúng ta có làm được hay không đây? Nếu chưa làm chủ được cái thân xác này thì làm sao làm chủ được cái tâm linh để mong thành... Tiên, Phật? Chuyện nhỏ nhoi hơn nữa là... "Không có Tiên Phật nào mà còn tánh ích kỷ hẹp hòi cả!" như Lý Thái Bạch Ðại Tiên đã khuyến cáo trong phẩm Khoan Hồng Ðại Ðộ (Thánh Ðức Chơn Kinh), mà nếu chúng ta vẫn còn mang tánh thường tình... "ích kỷ hẹp hòi" thì, than ôi, con đường tu hành chắc chắn phải còn... dài, dài lắm! Và có thể chỉ những bậc đại hùng đại lực đại trí, dám làm nổi kiểu... "chín năm diện bích" mới mong đắc thành chánh quả mà thôi!

   back to top

05. RÚT NGẮN ÐOẠN ÐƯỜNG DÀI

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Hãy khoan, đừng nói đến cõi thiên thai, như Lưu Thần và Nguyễn Triệu đã từng lạc vào, làm chi cho xa xôi, những ai có dịp rời khỏi xóm làng, lũy tre xanh cũng đều cảm thấy bỡ ngỡ, bơ vơ, lạc lõng. Bước vào cảnh núi rừng âm u trùng điệp không một bóng người qua hay đặt chân lên bãi hoang chưa in dấu vết kẻ du hành, hẳn là có cảm giác là lạ ngay. Nhưng cũng còn dính với đất liền... Xa hơn, bay lên mấy từng mây xanh bằng phi cơ hoặc lênh đênh giữa đại dương mênh mông bằng tàu thủy... chỉ thấy trời và nước, chúng ta bỗng cảm thấy nhỏ nhoi, hoang mang, sợ hãi. Rồi cố định phương hướng, định vị trí xem mình đang ở đâu, nơi nào cho vững bụng, an lòng. Bây giờ, đi xa hơn chút nữa, ta lại thử... định phương hướng, định vị trí của mình trong cõi càn khôn, vũ trụ xem sao! Ðể có thể, vì một lý do nào đó, thấy ngọn tâm đăng mà còn tìm đường đi tới!

     Well, nói đến càn khôn, vũ trụ..., thiển nghĩ, tốt hơn hết là dựa vào kinh điển. Trong "Thánh Ngôn Hiệp Tuyển," phẩm "Yến Sáng Chiếu Trời Nam," Thầy, tức Ngọc Hoàng Thượng Ðế có dạy:

     Chư Môn đệ và chư nhu nghe: Chim về cội, nước tách nguồn, từ xưa kiếp con người giữa thế, chẳng qua là khách đi đường, phận sự muốn cho hoàn toàn, cần phải có bền chí và khổ tâm; có bền chí mới đặng đạt phẩm vị thanh cao; có khổ tâm mới rõ tuồng đời ấm lạnh. Lăng xăng xạo xự, mùi chung đỉnh, vẻ cân đai, rốt cuộc chẳng khác chi giấc huỳnh lương mộng. Mỗi bậc phẩm đều đặng một vai tuồng của Ðấng cầm quyền thế giái ban cho, dầu thanh cao dầu hèn hạ cũng phải gắng làm cho rồi trách nhậm, hầu buổi chung cuộc, hồn lià cõi trần, đặng đến nơi khởi hành mà phục hồi công cán. Ai giữ trọn bậc phẩm thì đặng Tòa nghiệt cảnh tương công chiết tội, để vào địa vị cao hơn chốn Ðịa cầu 68 nầy; ai chẳng vẹn trách nhậm nhơn sanh, phải bị đọa vào nơi u minh địa, để trả cho xong tội tình căn quả cho đến lúc trở về nẻo chánh đường ngay mà phục hồi ngôi cũ. Bằng chẳng biết sửa mình thì luật Thiên điều chồng chập, khổ A Tỳ phải vướng muôn muôn đời đời mà đền tội ác. Bậc nhơn sanh vì đó mà phải chịu thiên niên chìm đắm vào số luân hồi; vay trả, trả vay, căn quả chẳng bao giờ tiêu đặng. Các bậc Thần Thánh nếu chẳng biết mối Ðạo là phương châm tìm nguồn trong rửa bợn tục, thì biển khổ trần nầy cũng khó mong thoát đặng.

     Như vậy, qua lời Thầy dạy, chúng ta được biết chúng ta đang ở, đang sống trên quả Ðịa cầu thứ 68. Tất nhiên, quả Ðịa cầu này không phải là quả Ðịa cầu duy nhất trong vũ trụ, càn khôn. Cũng trong "Thánh Ngôn Hiệp Tuyển," phẩm "Kiếp Luân Hồi Ðể Tấn Hóa," Thầy còn cho biết thêm:

     Các con nghe: một sự các con chưa hề biết đến đặng hiểu Ðạo là quí trọng dường nào, để lo tu tâm dưỡng tánh.
     Các con đã sanh ra tại thế nầy, ở tại thế nầy, chịu khổ não tại thế nầy, rồi chết cũng tại thế nầy. Thầy hỏi: Các con chết rồi các con ra thể nào? Các con đi đâu?
     Chẳng một đứa hiểu đặng cơ mầu nhiệm ấy. Thầy dạy: Cả kiếp luân hồi thay đổi từ trong nơi vật chất mà ra thảo mộc, từ thảo mộc đến thú cầm, loài người phải chịu chuyển kiếp ngàn ngàn, muôn muôn lần, mới đến địa vị nhơn phẩm. Nhơn phẩm nơi thế nầy lại còn chia ra phẩm giá mỗi hạng. Ðứng bậc Ðế Vương nơi trái địa cầu nầy, chưa đặng vào bực chót của Ðịa cầu 67. Trong Ðịa cầu 67, nhơn loại cũng phân ra đẳng cấp dường ấy. Cái quý trọng của mỗi địa cầu càng tăng thêm hoài, cho tới Ðệ nhứt cầu, Tam Thiên Thế Giái; qua khỏi Tam Thiên Thế Giái mới đến Tứ Ðại Bộ Châu, qua Tứ Ðại Bộ Châu mới vào đặng Tam Thập Lục Thiên; vào Tam Thập Lục Thiên rồi phải chuyển kiếp tu hành nữa, mới đặng lên đến Bạch Ngọc Kinh, là nơi Ðạo Phật gọi là Niết Bàn đó vậy.
     Các con coi đó thì đủ hiểu các phẩm trật các con nó nhiều là dường nào; song ấy là phẩm trật Thiên Vị.


     Rồi hãy khoan đi thật xa, đến Tam Thiên Thế Giới, Tứ Ðại Bộ Châu, Tam Thập Lục Thiên..., mà chỉ cần tìm tới quả Ðịa cầu 67 thôi, xem sự thể và đời sống ở đây như thế nào? Tuy là chưa tới được, nhưng hiển nhiên chúng ta biết rằng quả Ðịa cầu này ắt phải nằm ngoài Thái dương hệ. Và, mải cho đến ngày nay, năm 2002, bằng các dụng cụ tối tân, các khoa học gia đang cố gắng tìm kiếm trong vũ trụ bao la này xem có một hành tinh nào chứa đủ ngũ hành... kim, mộc, thủy, hỏa, thổ để có khả năng nuôi dưỡng đời sống hay không, mà... than ôi, vẫn vô hiệu quả!

     Giờ đi xa hơn một chút, dường như Thầy chỉ muốn nêu lên một phần nhỏ nhằm dễ thấy, chớ theo tôi tạm hiểu, "Tam Thiên Thế Giái" này rất có thể là "Tam Thiên Tiểu Thiên Thế Giái" vì trong kinh Phật, kinh "Duy Ma Cật" phẩm "Cõi Phật," có thêm hai chữ "Ðại Thiên" để thành "Tam Thiên Ðại Thiên Thế Giới" như sau:

     Tôi nghe như vầy (lời ông A Nan thuật lại): Có một lúc, đức Phật ngự tại thành Tỳ Da Ly, trong vườn cây Am La với bát thiên Tỳ Kheo, tam thập nhị thiên Ðại Bồ Tát vốn đã thành tựu đại trí và bổn hạnh.
     ...
     Trong số tam thập nhị thiên Bồ Tát có các Bồ Tát như Ðịnh Tự Tại Vương, Biện Âm, Hư Không Tạng, Bảo Thắng, Thiên Vương, Hoạt Ma, Tự Tại Vương, Sư Tử Hống, Thường Tinh Tấn, Hoa Nghiêm, Quán Thế Âm, Ðắc Ðại Thế, Di Lặc, Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi, Ðẳng Quan, Bất Ðẳng Quan..., v.v...
     Lại có thêm thập thiên Phạm Thiên Vương như Thi Khí..., v.v... thập nhị thiên Thiên Ðế, chư Thiên Long Bát Bộ, chư Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di...
     Lúc ấy có một thanh niên tên là Bảo Tích, con của một trưởng giả ở thành Tỳ Da Ly cùng ngũ bá bạn hữu đến đảnh lễ Phật và cúng dường mỗi người một cây lọng bảy báu. Ngài liền dùng sức thần thông biến ngũ bá lọng báu thành một cây duy nhứt, che trùm khắp tam thiên đại thiên thế giới. Trong lọng ấy hiện ra đầy đủ các thế giới, các núi Tu Di, Thiết Vi, sông, biển, rạch, ngòi, mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, Thiên Cung, Long Cung, Thần cung cũng như chư Phật mười phương đang làm Phật sự.


     Bây giờ chúng ta tạm hiểu, theo nghĩa thông thường, là một vì sao (star) và các hành tinh (planets) của nó sẽ tạo thành một "tiểu thế giới," thí dụ như "Thái dương hệ" mà chúng ta đang sống đây (già khoảng 4.5 tỷ năm). Rồi, một ngàn "tiểu thế giới" tạo thành một "tiểu thiên thế giới," một ngàn "tiểu thiên thế giới" tạo thành một "trung thiên thế giới," và sau cùng một ngàn "trung thiên thế giới" tạo thành một "đại thiên thế giới." Vậy thì, cộng trừ nhơn chia vắn tắt lại là "tam thiên đại thiên thế giới" chứa đựng 3 ngàn tỷ "tiểu thế giới" tức 3 ngàn tỷ vì sao (3 trillion stars). Nói tóm lại, tạm hiểu theo lời Thầy dạy bên trên, thì trong mỗi "Tam thiên tiểu thiên thế giái", tức... 3000 Thái dương hệ, chúng ta sẽ tìm thấy "thất thập nhị Ðịa cầu," tức 72 hành tinh có những điều kiện sinh sống giống giống trái đất.

     Rồi, ta thử làm một cuộc hành trình từ Ðịa cầu 68 hay từ "tiểu thế giới thái dương hệ" của chúng ta, ra ngoài kia vũ trụ mênh mông để tìm những... con người anh em hàng xóm, láng giềng của chúng ta xem sao! Một cách khoa học thay vì huyền bí!

     Trước tiên, giả sử quả Ðịa cầu 67 sẽ là một trong những hành tinh của vì sao nằm gần chúng ta nhứt, thì thử hỏi vì sao đó là vì sao nào và cách xa chúng ta khoảng bao xa? Xin thưa, dựa vào Tự Ðiển Bách Khoa của Mỹ, là hệ thống 3 vì sao (triple star) mang tên Proxima Centauri và chỉ cách chúng ta độ chừng, ư..., 4.29 năm ánh sáng mà thôi.

     Ði xa hơn một chút, chúng ta sẽ đến với khoảng 8000 vì sao mà, bằng mắt thường, chúng ta nhìn thấy được. Rõ hơn, 4000 vì sao ở Bắc bán cầu và 4000 vì sao kia ở Nam bán cầu. Nhưng lại bị giới hạn thêm, bởi đêm và ngày, nên thông thường mỗi tối chúng ta chỉ còn thấy lấp lánh khoảng 2000 vì sao trên mỗi bầu trời.

     Lại đi xa hơn một chút nữa, các nhà Thiên văn còn cho biết, không riêng gì 8000 vì sao nêu trên, tất cả các vì sao đều không chịu đứng riêng rẽ mà liên hệ với nhau thành nhóm, gọi là các "thiên hà" (galaxy). Các thiên hà này cũng không thích đứng riêng rẽ mà liên hệ với nhau thành chùm, tạm gọi là "chùm thiên hà" (cluster of galaxies). Các chùm thiên hà, hiển nhiên, cũng không ưa đứng riêng rẽ mà liên hệ với nhau thành xâu, tạm gọi là "xâu thiên hà" (supercluster of galaxies). Gần gũi với chúng ta nhứt, có "Chùm thiên hà Ðịa phương" (Local Group, gồm khoảng 20 thiên hà) nằm trong phần rìa của "Xâu thiên hà Virgo" chứa hằng triệu vì sao. Rồi lớn hơn xâu, ta có giải, tạm gọi là "giải thiên hà" (mammoth supercluster of galaxies), như "Giải ngân hà" (Milky Way) là một, chứa đến vài trăm triệu "thiên hà" hay vài trăm tỷ vì sao, chiếm một khoảng không đường kính độ 100 ngàn năm ánh sáng. Vậy mà, xen lẫn với những khoảng trống không có gì hết (empty space), toàn thể vũ trụ (già khoảng 7-20 tỷ năm) lại có hằng trăm triệu "giải thiên hà" giống giống "Giải ngân hà" như thế. Và, toàn bộ càn khôn, vũ trụ đang tiếp tục giãn nở khắp mọi chiều trung bình 50-100 cây số mỗi giây, do hậu quả của sự bùng nổ to lớn buổi ban đầu (Big Bang)... Hóa ra, nếu cộng trừ nhơn chia lần nữa, ta có kết quả tổng số là... khoảng 3 ngàn tỷ vì sao (3 trillion stars), gần đúng đúng như kinh sách đã nói...

     Có điều đáng nêu là các nhà thiên văn có thể chụp hình được các "thiên hà, chùm thiên hà, xâu thiên hà, giải thiên hà" và đã ghi nhận các loại hình như sau: hình xoáy trôn ốc (spiral galaxies) quay vòng vòng như ta đốt pháo bông, điển hình là các thiên hà M81, Andromeda (cách chúng ta xa 2.2 triệu năm ánh sáng), Pisces; hình tròn như quả banh như thiên hà M3 trong chòm sao (constellation) Hercules; hình dĩa tròn hoặc bầu dục (elliptical galaxies) như phần lớn các thiên hà còn lại; hình cánh hoa như hầu hết các vì sao hoặc thiên hà mới khai sinh (nebulas, novas, supernovas)...

     Tương tự như những hình chụp này, chúng ta lại lấy làm lạ là từ hơn 25 thế kỷ trước, Ðức Phật và các Bồ Tát dường như đã biết rõ một cách tường tận rồi vì đã truyền dạy trong kinh "Hoa Nghiêm" phẩm "Hoa Tạng Thế Giới" như sau (Phổ Hiền Bồ Tát thuyết):

     "Chư Phật tử! Tất cả thế giới chủng đó hình trạng đều khác nhau: hoặc hình núi Tu Di, hoặc hình sông, hoặc hình xoay chuyển, hoặc hình nước xoáy, hoặc hình trục xe..., hoặc hình hoa sen... có vi trần số hình trạng như vậy."

     Qua phần trên, chúng ta nhận biết... càn khôn, vũ trụ trong thực tế quá bao la, quá mênh mông! Thiết tưởng, với một phi thuyền bay nhanh nhứt, có vận tốc bằng vận tốc ánh sáng đi nữa, chúng ta cũng mất hằng trăm triệu năm để đi từ giải thiên hà này sang giải thiên hà khác! Như vậy, sự di chuyển... theo nghĩa bình thường bằng các phương tiện máy móc, cơ điện khí..., v.v... xuyên qua càn khôn, vũ trụ có lẽ chẳng bao giờ xảy ra, không bao giờ thực hiện được.

     Tuy nhiên, trong "Hành Trình Về Phương Ðông", chương "Cõi Giới Vô Hình," qua câu hỏi của phái đoàn Giáo sư Ðại học Oxford, Anh Quốc, Pháp sư Hamoud El Sarim, có trả lời về cách di chuyển trong cõi âm, một trong những cõi siêu hình, như thế này:

     "Ông du hành sang cõi âm thế nào?"
     "Nói như thế không đúng lắm vì ám chỉ một sự di chuyển từ nơi này đến nơi khác. Các cõi thật ra ở cùng một nơi chỉ khác nhau ở chiều không gian và thời gian (Time, Space dimension). Sang cõi âm là sự chuyển tâm thức, sử dụng giác quan về thể Vía để nhận thức chứ không phải đi đến một nơi nào hết. Sở dĩ cõi trần không thấy cõi âm vì nguyên tử cấu tạo nó quá nặng nề, rung động quá chậm không thể đáp ứng với sự rung động nhanh của cõi âm. Quan niệm về không gian cũng khác vì đây là cõi tư tưởng, nghĩ đến đâu là ta đến đó liền, muốn gặp ai chỉ cần giữ hình ảnh người đó trong tư tưởng ta sẽ gặp người đó ngay..."


     Ậy, thì ra những bậc siêu nhân, từ xưa, nhờ tu luyện đã có những khả năng... thu ngắn đoạn đường dài! Tương tự như thế, với máy điện toán (computer) và bộ phận phát nhận hình (video transceiver) chúng ta cũng có thể... thu ngắn đoạn đường dài, để tiếp xúc và trao đổi tín hiệu với nhau ở khắp năm châu bốn bể qua mạng lưới vô hình (internet) vậy!

     Ở một đoạn khác, vị Pháp sư người Ai Cập này cũng có giải thích thêm về "hình tư tưởng":

     Khi ta phát ra một tư tưởng thì ở cõi trung giới một hình tư tưởng được tạo ra. Nếu tư tưởng đó có tính cách cá nhân thì chúng bay vơ vẩn quanh ta, dĩ nhiên khi ta còn sống, ta không ý thức điều này nhưng khi ta chết ta thấy nó rõ ràng. Nhờ thế ta có thể biết tư tưởng của mình tốt đẹp hay xấu xa. Cũng như thế, khi ghen ghét oán hận ai ta cũng tạo các hình tư tưởng bao quanh người đó. Vì khả năng tập trung tư tưởng của con người rất yếu nên hình tư tưởng cũng chỉ phất phơ rồi tan biến, không để lại dấu vết. Tuy nhiên, khi đã có thành kiến với ai, ta tạo nên một hình tư tưởng có thể sống lâu hơn và tư tưởng này bao quanh kẻ đó. Luật thiên nhiên đã định "đồng thanh tương ứng" nghĩa là tư tưởng chỉ có tác dụng khi đối tượng có rung động tương tự...

     Tóm lại, qua phần trình bày trên, tuồng như một cánh cửa nhỏ đã hé mở để chúng ta hiểu biết thế nào về sự liên lạc, vận hành trong các cõi huyền vi! Hay nói nôm na là về sự... rút ngắn đoạn đường dài theo luật "đồng thanh tương ứng" (có nghĩa là ở hai đầu đều có những dụng cụ, phương tiện nhận và phát giống nhau). Cho dù chúng ta chưa có khả năng... rút ngắn đoạn đường dài hằng triệu triệu năm ánh sáng như chư Phật Tiên Thánh Thần đi nữa! Nhưng đây chỉ là đề cập đến yếu tố không gian mà thôi, còn yếu tố thời gian thì, theo tôi tạm hiểu, xem như ngừng lại vì không có đêm ngày, đối đải! Và, rất có thể vì các lẽ này mà trong kinh sách thường có lời chỉ dạy rằng, ở các cõi Trung Thiên, Thượng Thiên, Niết Bàn, hai yếu tố không gian và thời gian đã không còn tồn tại. Ðàn cơ Minh Lý Thánh Hội (Tam Tông Miếu) ngày 11, tháng 9, năm 1971 (Thánh Giáo Sưu Tập năm Tân Hợi, phẩm Tỉnh Mộng Trần) Chơn Thường Ðạo Sĩ (lúc sanh tiền là Bác sĩ Trần văn Quốc) cũng đã từng thố lộ như sau:

     Chư liệt vị đạo tâm thân mến! Nhờ một khoảng thời gian tu học cùng các Ðấng trọn tốt trọn lành nên Tệ Sĩ được một số kinh nghiệm nhận xét về lý Ðạo. Tuy rằng đi sau học muộn trên đường Ðạo lý so với chư liệt vị, nhưng Tệ Sĩ cũng muốn nêu lên đây một vài nhận xét những gì mình đã lãnh hội được sau thời gian học tập (tuy rằng cõi bên kia không có thời gian và không gian) để chư đạo tâm xét coi có phải vậy cùng chăng?

         ...
         Chừng hồn lìa xác mới hay ra,
         Tội phước hiểu thông muộn quá mà!
         Dẫu có ăn năn rồi chẳng kịp,
         Bây giờ ai gánh thế cho ta!

         Ta biết thì ra việc muộn rồi,
         Xác phàm đã hoại nghĩ than ôi!
         Lấy chi để có làm phương tiện,
         Công quả, công phu để đấp bồi.

         Bồi hồi nhớ lại kiếp phù sanh,
         Phải biết đường tu sớm tập tành,
         Sẵn có xác thân hành đạo đức,
         Thì đâu ân hận kiếp lai sanh!
         ...



     Ghi chú: Trong quyển "Bên Kia Cửa Tử" của dịch giả Trần Ngọc Anh có cho biết Tứ Ðại Bộ Châu gồm có Ðông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Nam Thiệm Bộ Châu (châu chúng ta đang ở), và Bắc Cu Lô Châu.

   back to top

06. TIẾN LÊN THƯỢNG GIỚI

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Theo quan niệm thông thường của người Việt Nam chúng ta thì mỗi người đều mang trong mình hai phần: hồn (soul) và xác (body). Phần xác, dễ hiểu hơn, theo kinh sách thì tạm gọi là... "thân tứ đại" do đất, nước, gió, lửa tạo thành, nên khi chết thì thân này trả về với cát bụi. Phần hồn thì trừu tượng và gồm ba thứ: sinh hồn, giác hồn, và linh hồn (spirit). Cỏ cây đất đá chỉ có mỗi một thứ là sinh hồn, loài thú cầm thì được hai thứ sinh hồn và giác hồn, còn làm người thì có cả ba. Hồn thì trường tồn, bất tử.

     Rồi, đi xa hơn một chút, cũng theo quan niệm thông thường của người Việt Nam mình, thì khi hồn xuất ra khỏi xác (lúc còn sống hoặc lúc chết) thì hồn không còn là hồn nữa mà gọi là... phách hay vía. "Hồn phi phách tán," "hồn vía lên mây," "hú ba hồn chín vía" là những câu ta hay nói hằng ngày. Nhưng tại sao có vụ "nam thất nữ cửu," nghĩa là đàn ông chỉ có bảy vía mà đàn bà lại có đủ chín vía? Thì đây, trong quyển "Bí Ẩn Sau Cõi Chết," ông Ðoàn Văn Thông có giải thích và ghi chú như vầy:

     Nếu ta chấp nhận theo ý nghĩa xưa - không hẳn đúng với sinh lý học (physiology) hay giải phẫu học (anatomy) ngày nay vì lẽ dễ hiểu khoa học chính xác chỉ mới có 5, 10 thế kỷ gần đây - những khí hay hơi, hay vía, hay phách phải thoát ra từ những lỗ (chữ Nho là khiếu) thì con người có cửu khiếu, chín lỗ hổng, đó là: hai mắt, hai lỗ tai, hai lỗ mũi, một miệng, một lỗ tiểu, và một hậu môn.
     Vậy tại sao nam chỉ có bảy và nữ lại đến chín? Nơi đây một lần nữa, ta coi chừng ý nghĩa của từ và lối dùng từ (với nhiều nghĩa tương đồng) của văn hóa Trung Hoa (và Việt Nam), chẳng hạn khi dùng số 5, có khi 5 không phải là số lượng, 1, 2, 3, 4, 5, mà có thể là thổ, đất hay trung tâm v.v... và chẳng có gì nghịch lý (theo lối suy nghĩ này) là 10 cũng là thổ v.v... Với thời gian và thói quen, người ta dùng lầm chữ này qua chữ khác, như khi nói nam, ta dịch ra là đàn ông, nói nữ dịch ra là đàn bà, phụ nữ, quên là trong bối cảnh nhất định, nam là dương, nữ là âm. Thay vì nói: nam bảy vía, nữ chín vía; ta đặt lại: bảy vía dương, chín vía trong đó có hai vía âm, chúng ta có thể hiểu "câu thai" ấy. Nói người đàn ông không cò và lỗ thì thật là nghịch lý đời, nhưng ta có thể chấp nhận: có thất khiếu thuộc dương vì ở trên đầu (phía trên), vì hướng lên (mắt, tai, mũi, miệng) và hai khiếu kia thuộc âm (không phải chỉ thuộc phụ nữ) là ở dưới thấp, hướng xuống dưới. Một nhà nghiên cứu Dịch học tạm thời chấp nhận giải thích trên. Cũng có thể có những lối giải thích khác rõ ràng và thực tế hơn. (Theo giải thích của học giả Cung Giũ Nguyên).


     Nếu "tạm thời chấp nhận giải thích trên" thì chuyện "nam thất nữ cửu" theo phong tục tập quán xưa nay được coi như là... không chính xác cho lắm, vì đàn ông lẫn đàn bà đều có chín lỗ, cửu khiếu như nhau. Còn nữa, phách và vía, như trên, thuộc thể khí thể hơi (air, gas, steam) nhưng có điểm tương đồng nào không? Tại sao lại phải sử dụng hai từ này để chỉ một loại, một thứ?

     Trong quyển "Hành Trình Về Phương Ðông" của Spalding, Nguyên Phong dịch, chương 8 "Cõi Giới Vô Hình", Pháp sư người Ai Cập Hamound El Sarim, đã có trả lời câu hỏi của phái đoàn Giáo sư Ðại học Oxford, Anh quốc, như sau:

     "Ða số mọi người đều cho rằng ma quỷ thường xuất hiện ở nghĩa địa, điều này ra sao?"
     "Sự hiện hình ở nghĩa địa chỉ là hình của thể phách đang tan rã chứ không phải ma quỷ, vong linh. Khi ta chết, thể xác hư thối thì thể phách, vốn là thể trung gian giữa thể xác và thể vía, cũng tan rã theo. Thể phách được cấu tạo bằng những nguyên tử tương đồng với nguyên tử cõi trần nhưng trong đó có nhiều nguyên tử "dĩ thái" nên nhẹ hơn, nó thu nhập các sinh lực còn rơi rớt trong thể xác để cố gắng kéo dài sự sống thêm một thời gian nữa. Vì đang tan rã nên thể phách không hoàn toàn, do đó, đôi khi ta thấy trên nghĩa địa có những hình ảnh người cụt đầu, cụt chân, bay la đà trên các nấm mồ. Người không hiểu gọi đó là ma..."


     À, thì ra... "thể phách, vốn là thể trung gian giữa thể xác và thể vía" và chỉ tồn tại trong thời gian thể xác người chết bị tan rã dần dần. Khi thể xác tan rã hết rồi thì phách cũng tan rã theo để tạo thành thể vía. Như vậy, lúc còn sống thì sao? Phách và vía lúc này chỉ là một? Nào ai rõ được! Song, theo kinh sách cho biết thì, đại khái, ở thể xác ta có lục căn (nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý), khi chuyển qua thể vía ta có lục thức. Căn bản là thế, còn muốn tìm hiểu sâu xa hơn thì ngoài lục thức chúng ta còn mang theo tàng thức (còn gọi là a-lại-da thức), thức thứ tám, tức là thức làm nơi dự trữ những dữ kiện đời đời kiếp kiếp (giống như cái hard-drive trong computer), và tống đạt thức (còn gọi là mạt-na thức), thức thứ bảy, tức thức làm nhiệm vụ liên lạc (giống như các chương trình điện toán, computer application-programs), để mang ra hoặc trả vào các dữ kiện dự trữ trong tàng thức, v.v...

     Tuy nhiên, cũng trong "Hành Trình Về Phương Ðông," chương 2 "Khoa Học Thực Nghiệm Và Khoa Học Chiêm Tinh Bí Truyền," chiêm tinh gia Sudeih Babu của xứ Ấn Ðộ lại tiết lộ thêm một thể khác nữa, thể trí, như sau:

     Con người có ba thể chính là thể xác, thể vía và thể trí tương ứng với ba cõi, hạ giới, trung giới và thượng giới. Thượng Ðế cũng thế, tất cả vật chất cõi trung giới hợp thành thể vía của Ngài và tất cả vật chất cõi thượng giới hợp thành thể trí của Ngài. Tóm lại, tất cả đều là thành phần của Thượng Ðế từ hạt bụi đến các giải thiên hà. Mọi vật chất cấu tạo nên chúng ta đều là một thành phần của Thượng Ðế xuyên qua bảy cung - khi qua đây nó bị thay đổi ít nhiều tùy ảnh hưởng của các cung...

     Thế thì, ngoài việc thể xác tương ứng với cõi phàm trần, hạ giới, chúng ta còn hiểu cặn kẽ thêm rằng, thể vía cũng chỉ sống lẩn quẩn ở bảy cõi trung giới mà thôi. Muốn lên cao hơn, cõi thượng giới, chúng ta phải có... thể trí. Mà muốn có thể trí thì, theo kinh sách dẫn giải, trước tiên, chúng ta phải tạo được xá lợi, kim thân! Hoặc ở cõi phàm trần hoặc ở cõi trung giới (mất nhiều thời gian hơn, hằng ngàn năm, vì không còn thể xác phàm tục nhưng chứa đủ tam bửu, ngũ hành). Rồi, muốn tạo được xá lợi, kim thân ngay ở cõi hạ giới này thì phải... tham thiền, tịnh luyện, tụ khí, qui tam bửu ngũ hành theo đúng phương pháp, nguyên tắc do "Bề Trên" hay "Minh Sư" hướng dẫn, chỉ dạy.

     Trong đàn cơ tại Thiên Lý Bửu Tòa, San Jose, USA, ngày 5 tháng 7, năm 1978, đức Ðại Giác Kim Tiên, Thiên Huyền Tâm, trong phẩm "Luận Về Ăn Chay Và Việc Ðộ Siêu" có giải rõ mọi điều như sau:

     Luận về Thiên Ðạo và Phật Ðạo thì việc ăn chay tức là con đường thoát tục. Con đường ấy tuy dầu không mấy xa nhưng phải gắng công trên mọi khổ hạnh. Người ta cần ăn chay để khử trược, lưu thanh để tránh Nhân Quả. Vì những khi điểm anh hồn sắp rời xa thể xác thì giữa cơn thao thao tuyệt khí lúc ấy phải cần cho đầy đủ một khối tinh quang, thì khối tinh quang ấy mới có đủ khả năng mà thăng lên cõi Thượng giới. Khối hào quang tinh anh ấy gồm tất cả luồng điển thanh, cũng như nhờ ăn chay và tu luyện mà lọc lừa hết các chất trược bẩn do hậu thiên cấu tạo. Gồm cho đầy đủ năng lực của Tiên Thiên, qui Tam Bửu lại cho đầy, hiệp Ngũ Hành cho đủ, vận chuyển pháp luân để cho âm dương kết hợp mà tạo đặng Kim thân. Phép tu luyện kia cũng nhờ cộng chung sự trường trai ấy mà khối tinh anh sáng tỏ như trăng chiếu lên đỉnh đầu, phối hiệp với luồng điển thanh hư thì điểm anh hồn ấy mới có đủ khả năng mà vượt lên khỏi bảy từng lớp ác đạo, để phi thăng lên đến cõi Thượng Giới hư vô.
     Ðây Lão xin giải rõ 12 cõi Thiên Ðường:
     Kể từ mặt địa đạo này gọi là thế giới Ngũ Hành Tinh
     Lên tới cõi thứ 2 gọi là Bát Quái Tinh
     Lên tới cõi thứ 3 gọi là Tứ Tượng Tinh
     Lên tới cõi thứ 4 gọi là Lưỡng Nghi Tinh
     Lên tới cõi thứ 5 gọi là Thái Cực Tinh
     Lên tới cõi thứ 6 gọi là Trung Thiên Tinh
     Lên tới cõi thứ 7 gọi là Thất Tuyệt Tinh
     Lên tới cõi thứ 8 gọi là Bát Tú Tinh
     Lên tới cõi thứ 9 gọi là Cửu Ðồ Tinh
     Lên tới cõi thứ 10 gọi là Nam Thiệm Tinh
     Lên tới cõi thứ 11 gọi là Bộ Châu Tinh
     Lên tới cõi thứ 12 gọi là Ðại La Tinh
     Cõi nầy mới là cõi Thiên Ðàng thật sự, là nơi Linh Tiêu Ðiện Bạch Ngọc Cung chính là nơi của Ðức Ngọc Hoàng Thượng Ðế ngự mà quản cai hết ba ngàn thế giái, tức là một nước Thiên Ðàng thật sự dành cho Trời, Phật và Thánh, Tiên an tại đời đời. Các linh hồn chơn tu sẽ được đào sanh nơi đó mà hưởng cuộc thanh nhàn, vô phiền, vô não, bất diệt, bất sanh và nước nầy sẽ không có mười điều dữ và ba điều ác như ở cõi thế gian.
     Khi điểm linh quang vừa xuất khỏi xác trần thì đã sẵn có các vị Thiên Thần cầm phướn dẫn đàng, noi theo ngọn phướn ấy mà bay thẳng lên. Nếu thoảng như linh hồn không được luyện tu, chẳng có Kim thân, dầu cho có công ăn chay, nhưng cũng chỉ là còn phải tạm ở một cõi thanh nhàn nơi cõi giái trung để cần lo tu luyện thêm, khi nào chứng đặng Kim thân rồi thì mới lên cõi Thiên Ðàng đặng. Là bởi vì các linh hồn không có Kim thân sẽ không thoát qua giới tính thứ 5 tức là vòng Thái Cực, vì cõi Thái Cực nầy toàn là một thế giới lửa. Chất lửa trời sức nóng vô cùng cực, dầu cho sắc thép cũng tiêu tan! Chỉ có Kim thân mới là chịu đựng nổi để vượt qua vòng lửa ấy. Nhưng khi qua khỏi vòng Thái Cực rồi, thì đến cõi thứ 10 sẽ không cần dùng đến Kim thân nữa, vì Kim thân ấy chỉ cần dùng cho trong khi bay qua vòng Thái Cực mà thôi. Ðến cõi thứ 10 nầy thì ta lại bỏ Kim thân rồi mới đặng nhẹ nhàng để tiến lên cõi thứ 11. Cũng như từ cõi giái trung mà ta cần tu diệt hết bảy cái Thất Tình thì linh hồn ta đã lên được tới cõi thứ 7, là vì mỗi cái của Thất Tình sẽ làm cho ta phải nặng mà tuột xuống. Trong khi từ cõi Thiên Ðàng, một Nguyên nhân xuống thế thì khi ấy mỗi cõi phải thêm một món cho có đủ sức nặng mới được xuống. Ðến lúc trở lên ta phải bỏ mỗi thứ mới đủ nhẹ để thăng lên. Trong khi tu hành ta phải hủy bỏ hết các thứ nầy. Lên Thiên Ðàng chỉ còn lại có cái Kim thân, Thượng trí và cái Hạ trí. Thì ba món nầy đến cõi thứ 10 ta phải bỏ thêm cái Kim thân. Lên tới cõi thứ 11 ta phải bỏ thêm cái Hạ trí. Lúc bấy giờ ta chỉ còn lại duy nhứt có một cái Thượng trí. Từ khi bỏ đặng cái Kim thân thì ta càng cảm thấy đặng nhẹ nhàng, phơi phới mà bay lên cõi thứ 11. Khi ta đến cõi thứ 11 ta bỏ được một cái Hạ trí nữa thì tinh thần hoạt bát, trí tuệ thông minh, thần thông quảng đại mà tiến thẳng đến cõi Ðại La tức là cõi thứ 12 là cõi Thiên Ðàng thật sự, thì bỗng tự nhiên khi ấy hình dáng đặng tốt tươi, sắc tướng nghiêm trang, dụng phép mầu mà hóa thành Thiên Kim Phục Thân, khi ấy mới hoàn toàn có một Thánh thể thật sự, trên đỉnh đầu chiếu tỏa ánh hào quang, ấy mới gọi là chơn tướng, sẽ được ngự trên tòa sen mà đồng chung có sự sống đời đời cũng như sự sống của Trời. Ta bèn đến điện Linh Tiêu mà ra mắt Thầy, ấy là một ngày mà ta vinh hạnh bái yết Ðức Thượng Ðế và Tây Vương Mẫu nơi Linh Tiêu Ðiện Bạch Ngọc Thiên Cung.


     Tóm lại, qua phần trình bày trên, nhất là đoạn cuối tuồng như có ít nhiều... khả lậu thiên cơ, rằng, nếu chúng ta muốn... tiến lên thượng giới, thì ắt hẳn phải trải qua nhiều chặng đường khử trược lưu thanh, tu tâm dưỡng tánh. Nhưng, ở thời Hạ Ngươn này, tức là thời đại ân xá qua cơ Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, Thầy, tức Ngọc Hoàng Thượng Ðế đã dạy rằng, những ai có căn cơ mà dốc lòng tu luyện thì dù trong một kiếp này thôi cũng sẽ đắc thành, thay vì phải chuyển từ từ qua nhiều kiếp như xưa. Tuy nhiên, hễ được cái này thì mất cái kia, muốn đắc thành trong một kiếp thì chắc chắn phải bị "nhồi quả" như đức Lý Thái Bạch Ðại Tiên đã khuyến cáo:

     Ðây, Lão giải rõ về sự nhồi quả cho chư đệ muội thấy rằng người tu trọn đời làm lành, làm phải, nhưng ngày kết cuộc cũng phải bị nhồi quả. Ðể chi? Bởi có nhồi quả trong một kiếp này thì mới được về ngay với Thầy Mẹ. Bằng không, thì phải trở xuống trần nhiều kiếp để bồi công trả quả cho đầy đủ.
     Những gương người hy sinh tâm đạo, khi kết liễu đều bị nhồi quả đó, chẳng hạn như Lê Thế Trung đã thọ sắc Chưởng Quản Chơn Tiên, cho đến Thiện Tịnh (Huỳnh Công Khai) cũng bị nhồi quả khi lâm chung, nên mới được về với Thầy trong kiếp chót này.
     Vì thời kỳ ân xá, nếu vị nào phát tâm đại nguyện quyết tu về với Thầy Mẹ trong một kiếp này là phải bị nhồi quả. Chư đệ muội hãy xem lại lịch sử của các vì Giáo Chủ, thử hỏi Chúa Giê Su (Jésus Christ) có tội gì mà phải chịu đóng đinh trên thập tự giá đó?
     Người tu hay lâm nạn, đó là một sự thử thách vàng, thau. Người quyết chí tu hành thực sự, rõ lẽ chánh chơn rồi thì cũng cứ hy sinh vì lẽ thật, lẽ phải. Phần xác thịt dù tan rã, chớ linh hồn vẫn bất diệt trường tồn.
     Lão thử hỏi, người thế trần có ai sống hoài chăng? Nhưng cố giữ làm sao cho ra người chơn tu đạo đức thuần túy, không cho lem ố thanh danh Ðạo; không vì danh, chẳng vì lợi, không một xu hướng nào lôi cuốn được, cứ một lòng tin tưởng với Thiêng Liêng là Trời, Phật, Thánh, Tiên, Thần.


   back to top

07. HỘI LONG HOA VÀ NGÀY TẬN THẾ

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Vào thập niên 50, lúc tôi còn nhỏ, trong dân gian miền Nam thường hay nghe đồn đãi về Phật Thầy Tây An, Ông Sư Vãi Bán Khoai (một danh hiệu khác của Phật Thầy Tây An thì phải)... đi truyền Ðạo từ núi Tà Lơn, Thất Sơn, miệt Hà Tiên - Châu Ðốc. Ông có làm nhiều phép lạ, nhất là chữa bệnh cho nhiều người bằng nước lả, lá cây, cỏ dại. Sau này, có sách ghi lại rằng, ông tên thật là Ðoàn Minh Huyên và là người đã sáng lập giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật Giáo hướng về dân tộc Việt, kể từ năm 1849. Dựa vào giáo lý của ông, vào năm 1939, đức Huỳnh Phú Sổ cũng đã sáng lập Phật Giáo Hòa Hảo với Tứ Ân Hiếu Nghĩa làm đầu...

     Ðặc biệt một điều là, giống giống như bên Cao Ðài Ðại Ðạo, đã ra đời và thành lập cơ Phổ Ðộ trước đó những 15 năm, tức năm 1924 (kể từ lúc ngài Ngô Minh Chiêu được thâu nhận và xem như là người đệ tử đầu tiên), đức Huỳnh Giáo Chủ cũng hay đề cập đến hội Long Hoa trong kỳ Hạ Ngươn mạt pháp. Trong bài bút ký "Sứ Mạng Của Thầy" truyền lại cho môn đồ, viết vào năm 1942 khi bị Thực dân Pháp an trí tại Bạc Liêu, có đoạn như sau:

    
... Những tiền kiếp dầu sống cũng là dân quan đất Việt, dầu thác, cũng quỷ thần đất Việt chớ bao lìa. Những kiếp gần đây, may mắn gặp minh sư cơ truyền Phật Pháp, gội nhuần ân đức Phật, lòng đã quảng đại từ bi, hiềm vì nỗi cảnh quốc phá, gia vong, máy huyền cơ đã định, lòng thương trăm họ vướng cảnh, đồ lao, chi xiết xót thương chúng sanh vạn khổ.
     Nghĩ lúc còn làm người trong biển tục, lăn lộn chốn mê đồ, mà chẳng quản thân giúp thế cứu dân, vong thân vị quốc, huống chi nay cơ mầu đà thấu tỏ, sớm chiều hầu chơn Phật nghe kinh, ngao du tứ hải, dạo khắp Tiên bang, cảnh an nhàn của người liễu đạo, muôn ngày vô sự, lóng sạch phàm tâm, sao chẳng ngồi nơi ngôi vị hưởng quả bồ đề trường thọ mà còn len lỏi xuống chốn hồng trần, đặng chịu cảnh chê khen?
     Vì lòng từ ái chứa chan, thương bách tính tới hồi tai họa. Phật Vương đà chỉ rõ máy diệu huyền chuyển lập hội Long Hoa, chọn những đấng tu hành cao công quả để ban cho xứng vị xứng ngôi, người đủ các thiện căn để giáo truyền Ðại Ðạo, định ngôi phân thứ gây cuộc Hòa Bình cho vạn quốc chư bang.
     Thiên Tào đã xét định, khắp chúng sanh trong thế giới trong cái buổi Hạ Ngươn nầy, say mê vật dục, chìm đắm trong biển lợi danh, gây nên nghiệp quả, luật trời đà trị tội xét kẻ thiện căn thì ít, người tội ác quá nhiều, chư Phật mới nhủ lòng từ bi cùng các vị chơn Tiên lâm phàm độ thế, trước ra công cứu khổ, sau chỉ rõ cơ huyền, khuyên kẻ thế hướng thiện quày đầu, cải tà quy chánh thì mới mong Thiên Ðình ân xá bớt tội căn để kịp đến Long Hoa chầu Phật, trước biết rõ luật Trời thưởng phạt, cùng hữu duyên nghe Phật pháp nhiệm mầu, kiến diện bậc Chơn Sư, tu hành mau đắc quả, sau làm dân Phật quốc hưởng sự thái bình, bởi đời nầy pháp môn bế mạc, Thánh đạo trăn vu, người tâm trí tối đen, đời lắm Ma Vương khuấy rối.
     Ta là một trong các vị cứu đời ấy. Ai liễu Ðạo nơi quốc độ nào thì cũng phải trở về quốc độ ấy mà trợ tế nhân dân; vì thể lòng từ bi bác ái cùng thù đáp những linh hồn đã trợ duyên trong nhiều kiếp giúp Ta nương cậy tu hành, nên ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão, Ta hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh...


     Xuyên qua kinh sách Cao Ðài, chúng ta hiểu sơ lược rằng vũ trụ có Tam Tài là Thiên Ðịa Nhơn. Trời Ðất có tam ngươn là Thượng Ngươn (thời Thượng Cổ), Trung Ngươn (thời Trung Cổ), Hạ Ngươn (thời hiện đại) và Ngũ Hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ). Người có Tam Bửu là Tinh, Khí, Thần (tức âm, dương, linh hồn) và Ngũ Ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Rồi nếu ai muốn hợp được tinh, khí, thần (tam huê tụ đảnh để thành Thần, Thánh, Tiên, Phật) thì phải tu thân, tịnh luyện từ thấp với "tam cương ngũ thường" (Nhơn đạo) lên cao với "tam qui ngũ giới" (Phật đạo), v.v. và v.v... Nhưng tại sao thời Hạ Ngươn này lại thường bị gán cho là thời mạt pháp? Và tại sao có hội Long Hoa?

     Thì đây, trong kinh "Ðại Thừa Chơn Giáo," phẩm "Dưỡng Sanh Tánh Mạng," Thầy, tức Ngọc Hoàng Thượng Ðế, đã có dạy như sau:

    
Các con khá biết:
     Ðạo có ba ngươn, ba ngươn ấy là cái số cuối cùng của Trời, Ðất. Trước hết mở đầu là Thượng Ngươn. Thượng ngươn đây chính là Ngươn Tạo Hóa, là ngươn đã gầy dựng cả Càn Khôn Võ Trụ.
     Vậy khi mới tạo Thiên lập Ðịa, nhơn loại sanh ra thì tánh chất con người rất đổi hồn hồn ngạc ngạc, còn đang thuần phát thiện lương, nên chi cứ thuận tùng Thiên lý mà hòa hiệp dưới trên, tương thân tương ái. Thời kỳ ấy người người đồng hấp thụ khí thiên nhiên, nên hằng cộng hưởng thanh nhàn khoái lạc mà vui say mùi Ðạo tháng ngày. Bởi đó đời thượng cổ mới có danh là đời Thượng Ðức, mà Thượng Ngươn ấy cũng kêu là ngươn Thánh Ðức nữa.
     Kế đó bước qua Trung Ngươn thì nhơn tâm bất nhứt, tập quán theo thói đời, thâm nhiễm những nết xấu mới làm cho xa mất điểm thiện lương, bèn cậy ở sức mình mà hiếp bức lấy nhau, chém giết lẫn nhau, tương sát, tương tàn, mạnh còn yếu mất thì mới sanh ra biết bao trường huyết chiến, không còn kể đồng loại, đồng chủng, đã lợt tình đồng nghĩa, đồng bào. Bởi đó đời trung cổ mới có danh là đời Thượng Lực, mà Trung Ngươn ấy cũng kêu là ngươn Tranh Ðấu nữa.
     Tiếp đến Hạ Ngươn, sự tranh đấu ngày càng ráo riết, dữ tợn, gớm ghê thì nhơn loại lại chê sức mạnh mà dùng não cân nên mới bày ra chước quỉ, mưu tà, kế sâu, bẩy độc, thiệt là khốc liệt phi thường. Song đó cũng lẽ tự nhiên, càng tranh đấu mới càng tấn hóa. Ngặt càng tranh đấu lắm lại càng ác liệt lắm, nên tranh đấu thét phải đến ngay thời kỳ tiêu diệt. Bởi đó đời hiện tại là đời Mạt Kiếp, còn Hạ Ngươn này là ngươn Ðiêu Tàn.
     Nhưng hễ loạn là tới trị, vong tất phục hưng, nên ngươn tiêu diệt tất sẽ bước đến ngươn bảo tồn là ngươn Ðạo đức phục hưng, để sắp lập lại như đời thượng cổ, thế nên cũng gọi là ngươn Tái Tạo.
     Vậy nhơn loại bước qua thời kỳ này là thời kỳ qui nhứt thống, đại luân hồi của Thiên Ðịa đó. Mà ngày nay đã đúng số nhứt định của Tạo Ðoan, đã tới ngươn cuối cùng của Thiên Ðịa, vì tính ra thì đã mười hai muôn chín ngàn sáu trăm năm, nên đã tới thời kỳ tạo Thiên lập Ðịa một lần nữa.
     Các con, ngày nay Thầy đã đến đây rồi là Thầy muốn ngửa tay ra mà tế độ các con. Vậy các con phải nương níu lấy Ðạo mầu, rán luyện chơn tánh cho thuần dương thì ắt tránh khỏi cuộc dinh hư tiêu trưởng của đời sắp đến, nghe các con!


     "Mười hai muôn chín ngàn sáu trăm năm" tức là "một trăm hai mươi chín ngàn sáu trăm (129600) năm," một thời gian kể ra cũng khá dài để cho nhân loại, chúng sanh tìm hiểu. Khoa học hơn một chút, dựa vào tự điển bách khoa của Mỹ, phần viết về những thời kỳ băng giá (Ice Ages), chúng ta không khỏi ngạc nhiên vì có ít nhiều trùng hợp. Theo các nghiên cứu của các khoa học gia, các nhà thiên văn thì khoảng 300 triệu năm giải Ngân Hà (Milky Way Galaxy) làm xong một vòng quay xung quanh trục của nó và có ít nhiều ảnh hưởng đến Thái Dương Hệ (Solar System), nên tạo ra các chu kỳ băng giá này. Nếu tạm gọi là Ngươn thì nhân loại chúng ta cũng có Tam Ngươn, xoay vần trong khoảng "một trăm ngàn (100000) năm." Bằng toán học, cộng trừ nhơn chia, đại khái, nếu lấy thời hiện đại làm mốc, thì gồm có: Thượng Ngươn (First Ice Age) xảy ra 93408 năm trước đây, tương tự, Trung Ngươn (Second Ice Age) xảy ra 41000 năm trước đây, và Hạ Ngươn (Last Ice Age) cũng đã xảy ra vào khoảng 25920 năm trước đây.

     Rồi, đi xa hơn một chút nữa, cũng lấy thời hiện đại làm mốc, tôi thiển nghĩ, chính trong phần Hạ Ngươn (Last Ice Age) này chúng ta mới có 3 ngươn nhỏ, chia ra thời Thượng Cổ (từ 25920 cho đến 2700 hay năm 700 trước Tây lịch, dựa vào điểm Kinh Cựu Ước được viết vào khoảng 700 năm trước khi Chúa giáng sinh), Trung Cổ (từ 2700 cho đến ngày nay), và Hạ Cổ (tạm gọi như vậy cho thống nhứt) tức là thời đại bây giờ. Ðặc biệt trong năm 11000 (tức 9000 năm trước Tây lịch), quả Ðịa Cầu đã đổi trục Nam Bắc ra Bắc Nam...

     Bởi... "lẽ tự nhiên, càng tranh đấu mới càng tấn hóa" nhưng "văn minh tiến triển mà đạo đức suy đồi," và bởi... lẽ "thiên thơ dĩ định," tức là đã đến chu kỳ để lập lại đời Thượng Cổ Thánh Ðức. Bởi... cũng chính vì "văn minh và đạo đức chẳng đi đôi" mà những người anh Kogi trên rặng Sierra, Nam Mỹ, những người phải học về tâm linh với 7-9 năm diện bích ở tuổi 20 trước khi học các thứ về vật chất, đã phải gởi thông điệp cho Ðại Hội Tôn Giáo Thế Giới tổ chức ở Chicago vào năm 1993. Bản dịch của Nguyên Phong từ bài viết của Alan Ereira, ký giả đài BBC, có những đoạn như sau:

    
Một vị Trưởng Lão cho biết:
     "Vũ trụ là một tấm gương lớn, phản ảnh tất cả mọi việc xảy ra trong đó. Biết rung động với vũ trụ là biết quán xét tấm gương kia, do đó người ta đâu cần phải đi đâu xa mà cũng biết được những điều cần thiết. Việc ngồi chín năm trong động đá đâu phải chỉ ngồi đó nhai vài lá cây, suy nghĩ vài câu nói, mà đòi hỏi người ta phải nổ lực tìm hiểu về mình, vì biết mình chính là biết được vũ trụ và biết được vũ trụ thì tất hiểu được các định luật thiên nhiên. Ðã hiểu được các định luật này một cách sâu xa thì làm sao có thể làm trái với nó được? Sở dĩ con người làm việc sai quấy vì họ không biết mình, chỉ sống hời hợt, quay cuồng và dựa trên những giá trị có tính cách giả tạo, những giá trị do tập đoàn tạo ra chứ không phải phát xuất từ những công phu suy gẫm sâu xa. Sống như thế không thể gọi là sống. Ðó là sống mà như chết, thân thể tuy sống mà đầu óc đã chết từ lâu rồi!"
     ...
     Vị Trưởng Lão đã nói:
     "Ðời sống là một sự mầu nhiệm. Nếu con người biết mài dũa thân và tâm để ý thức đời sống một cách trọn vẹn thì người ta sẽ ý thức được những việc khác phi thường hơn."
     ... Vị Trưởng Lão lên tiếng:
     "Chúng tôi đã thảo luận rất kỹ về điều chúng tôi muốn nói. Chúng tôi muốn gửi một thông điệp cho các em trong gia đình nhân loại. Chúng tôi nói bằng trái tim, những lời nói chân thành nhất rằng hiện nay nhân loại sắp bước vào một thảm họa rất lớn mà từ trước đến nay chưa hề xảy ra.
     ... Nếu trái đất bị hủy hoại thì chúng ta sẽ sống ở đâu? Ðây là một vấn đề hết sức quan trọng và cần xét đoán một cách nghiêm chỉnh. Các anh không biết trong vòng vài năm nữa thế giới sẽ biến đổi như thế nào? Chắc không lấy gì tốt đẹp lắm đâu nếu các em cứ tiếp tục phá hoại mà không biết bảo trì môi trường sinh sống. Tại sao được thừa hưởng một gia tài tốt đẹp như thế mà chúng ta lại phá hoại nó đi vậy? Tại sao các em không nghĩ rằng trải qua mấy ngàn năm nay, thế hệ trước đã giữ gìn cẩn thận, đã trân trọng từng tấc đất, từng ngọn suối, từng khóm cây, ngọn cỏ mà ngày nay các em lại phá nát không hề thương tiếc?
     Làm sao các em có thể tự hào rằng mình "văn minh" khi nhân loại và mọi sinh vật mỗi ngày một khổ đau nhiều hơn xưa? Làm sao có thể nói rằng nhân loại đã "tiến bộ" khi con người ngày càng gia tăng thù hận, chỉ thích gây chiến tranh khắp nơi? Các anh biết vậy nhưng phải làm sao đây? Làm sao có thể nói cho các em biết rằng vũ trụ có những định luật vô cùng lớn lao, không thể vi phạm được? Lòng các anh vô cùng đau đớn vì các anh thấy rằng trái đất đã khô kiệt rồi, mọi sự sống đang lâm nguy và thảm họa diệt vong chỉ còn trong giây lát. Do đó các anh muốn kêu gọi khẩn thiết rằng hãy thức tỉnh, ngưng ngay những việc có tính cách phá hoại đó lại, nếu không thì trễ quá mất rồi!"


     Qua các phần trên, chúng ta tạm hiểu và tạm chấp nhận rằng, quả là chúng ta đang sống trong thời Mạt Kiếp! Nhưng, trở lại vấn đề vì sao có hội Long Hoa và hội này để làm gì, với mục đích gì? Mà suốt từ cả thế kỷ nay chúng ta thường nghe nhắc đến, đề cập đến?

     Trong đàn cơ ngày 5, tháng 10, năm Kỷ Mùi (1979) tại Thiên Lý Bửu Tòa, San Jose, USA, đức Lý Thái Bạch Ðại Tiên có luận như sau:

    
Lão: THÁI BẠCH KIM TINH kiêm GIÁO TÔNG ÐẠI ÐẠO.
     Nay Lão xin sơ lược mấy lời diễn tả qua các nội dung của công cuộc Long Hoa Ðại Hội: Thời nhiệm ấy khởi đầu khai mạc từ Nhứt ngoạt, Thập Ngũ nhựt, Kỷ Mùi niên (15-1-1979). Cuộc Ðại Hội sẽ còn tiếp diễn đến Thập ngoạt, Thập Ngũ nhựt, Giáp Tý niên (15-10-1985), tức là lục niên thời nhiệm hội. Kể từ khi Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Thiên Khai tức là Cao Ðài Ðại Ðạo Nam Phương Việt Nam sơ khai đúng vào Giáp Tý hiệu niên, tây lịch nhằm 1924, đến bây giờ đã ngũ thập lục (56) niên. Ðức Chí Tôn có dạy rằng: Mối Cao Ðài Ðại Ðạo Tam Kỳ khai môn độ thế. Vì đến cận thời kỳ tam ngươn mạt hậu, đại hội Long Hoa sẽ diễn hành nhằm vào cuối thế kỷ 20 tức là chu kỳ của mười ngàn (10000) năm thế hệ.
     Mục đích cuộc Ðại Hội Long Hoa, tức là một cuộc phán đoán đại đồng của Ðức Chúa Trời trong tất cả toàn cõi từ vô vi lẫn hữu hình không riêng biệt. Chung qui từ ba ngàn thế giái, thất thập nhị địa tức là 72 cõi hành tinh và 36 cõi trời gọi chung là Bộ Châu Tứ Ðại. Ðặc quyền ngự trị tối đại một Ðấng Tối Cao quản cai toàn thể tức là một Ðấng Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế.
     ... Nhiệm kỳ khai diễn Ðại Hội Long Hoa trong vòng lục niên. Thời gian ấy chia thành 3 giai đoạn:
     1) Giai đoạn thứ nhứt: Gồm có nhị niên. Thời gian ấy dành cho Tam Giáo Thượng Tòa sắp xếp các công cuộc đặc trách về qui nguyên, khai đường phổ độ truyền Ðạo khẩn thiết để vớt cứu sanh linh cho kịp kỳ thế diệt. Dụng máy huyền vi hạ điển Tiên Thiên mầu nhiệm tận cõi giái trung mà sáng soi mọi đường chơn lý...
     ...
     Vì nay là thời kỳ Ðại Ân Xá, nếu người thế tục đã hiểu rành mà bồi công lập đức thì chẳng có gì hơn. Long Hoa Ðại Hội vốn là một cơ hội thi đức, thi công, một thời kỳ phán xét chung mảy lông không hề lọt. Sau khi phán xét xong có thưởng phạt rồi thì các bộ sổ đều xóa bỏ để lập lại cái mới.
     2) Thời nhiệm thứ hai: Là thời nhiệm phán xét đến toàn cõi giái trung, các bộ sổ vô vi khắp 12 cõi trung thiên và thưởng phạt đến cõi thế giới hữu hình địa cầu thứ 67 nầy, tức là cõi thế giới hiện tại giữa nhân vật cõi trần xã hội của nhân loại ngày nay.
     3) Thời nhiệm thứ ba: Sẽ phán đoán đến 12 cõi Hạ Thiên Vương, Thập Ðiện Minh Vương khâm trình bộ sổ tại cõi địa ngục từ nhiệm thời mười ngàn (10000) năm đến nay. Sau khi cuộc phán đoán đã hoàn tất thì 10 cửa ngục môn sẽ bắt đầu bế tắc. Các linh hồn phạm tội sẽ bị đời đời khó mong giải thoát! Thượng Cổ lập đời mười ngàn (10000) năm tương lai sẽ có định kỳ cho thế hệ khác.


     Ở nơi đây chúng ta thấy có sự hơi hơi trùng hợp giữa chu kỳ lập lại đời Thượng Cổ 10000 năm trong kinh sách so với chu kỳ đổi trục quả Ðịa Cầu 11000 năm (9000 năm trước Tây lịch) của các nhà khoa học. Xét cho cùng thì... có thể một trận Ðại Hồng Thủy sẽ xảy ra trong tương lai như đã xảy ra trong quá khứ, mới có thể lập lại đời Thượng Cổ. Và, xét cho cùng thì... Long Hoa Ðại Hội đã diễn ra rồi, từ năm 1979 đến năm 1985 mà ít người hay biết. Và, hiển nhiên, cuộc phán xét đại đồng cuối cùng cũng đã xong rồi. Nhưng, như vậy, tại sao ngày tận thế lại chưa tới?

     Thật ra thì ngày tận thế cũng đã đến rồi, vào năm 1982, lúc các thiên thể, hành tinh (Asteroids) đang bay vào Ðịa Cầu. Nào có ai ngờ, trong âm thầm và theo lời chỉ dạy của Thầy, vào lúc 12 giờ trưa ngày 21-3-1982 tại Hellyer Coyote Park, San Jose, USA, đại diện Tam Giáo và toàn thể đạo hữu, đạo tâm đã làm cuộc đại lễ "Cầu An Xin Bình Ðịa Chấn."
* Ðể rồi sau đó, trong đàn cơ ngày 26-3-1982, Thầy đã cho biết kết quả như thế này:

        
Bát ngát niềm thương chốn biển trần,
         Ðoái nhìn cảnh tượng dĩ đồng thân,
         Tam Giáo chung nhà kỳ dựng thế,
         Phép mầu chuyển đạt bởi Thiên Ân.
         Thái Cực Hà Ðồ qui vạn pháp,
         Bát Môn trận địa triệt yêu thần,
         Thiên tướng vạn quân đồng trí thủ,
         Trùng trùng điệp điệp sắc tường vân.

     Thầy hoan hỉ ban ơn, các con hãy bình thân.
     Hôm nay là giờ lành, Thầy xin giáng điển nơi Thiên Lý Bửu Tòa hầu ban bố ơn lành cho toàn cõi thế nhân, sau là điểm công cho toàn thể Tam Giáo và tất cả chúng sanh đã mang hết tấm nhiệt thành hòa hiệp lẫn nhau đồng lòng khẩn nguyện.
     Ngày Lễ Cầu An vốn là một ngày vạn hạnh cho toàn cõi vũ trụ hoàn cầu. Cũng vì định luật thiên nhiên của máy Tạo, quả địa cầu duy vật đã đến thời nhiệm mãn cuộc tuần hoàn, thế nên mới gây nhiều điều thảm họa. Thầy vì thương xót chẳng nỡ đang tâm. Kể từ Ðạo khai Bính Dần truyền giáo, tuy rằng các con vẫn thấy ngày tận thế hãy còn thăm thẳm xa xôi, nào có biết đâu ngày giờ dĩ định. "Bát Bộ Chơn Kinh" đã có dạy rành và chỉ dẫn không còn sai sót điều chi, thì ngày giờ hôm nay chính Thầy đã ra tay cứu thế. Các con ôi, các con cũng đọc đặng nơi lòng rằng cuộc Lễ Cầu An chắc là Bát Môn Ðồ Trận. Nếu như các con mà hiểu đặng ngày giờ của trái đất hoại hư thì các con kinh sợ đến bực nào, cũng nhờ không hiểu nên mới đặng tạm an.
     Các con ôi! nếu Thầy không cứu thì tiếng nổ xảy ra long trời lở đất, quả địa cầu tan vỡ thì các con lẩn tránh nơi đâu? Tiếng nổ thứ hai là do hấp lực tàn phá của sự sụp đổ thì toàn cõi năm châu lâm vào hiểm họa thủy lụt tràn lan, sóng thần lôi cuốn, thì nửa trái cầu bên kia lại gây thành tiếng nổ thứ ba, trận thủy lụt nước sôi đục đen nóng bỏng còn chi!
     ...
     Lễ Cầu An Ðịa Chấn tuy rằng xem qua thấy rất bé nhỏ tầm thường, nhưng đó là một phản ảnh nơi không trung, Tam Giáo Thượng Tòa đã lập thành một "Thiên Môn Trận Bát Quái Ðồ Thiên," đặng toàn thể chư Phật, chư Thánh, chư Tiên đồng nhứt thiết lập trận đồ, và Thầy thì ngự giữa Linh Tiêu Ðài mà vận chuyển phép mầu để trấn an thảm họa.
     ...
     Nhắc lại, Thầy thiết lập Bát Quái Ðồ Thiên để khai thông vạn pháp, quy Tam Giáo, hiệp ngũ hành vận chuyển phép mầu để sáng tạo lại một quả địa cầu mới, gọi là lập đời thì mới là giải cứu qua cơn Càn Khôn mạt hậu.
     Vì quả địa cầu duy vật 68 này đến đây đã hết thời nhiệm. Kể từ ngày thời gian vật nhơn sanh hóa sáng tạo đặng sự sống cho đến bây giờ, cộng sổ thời gian thì đã 12 muôn 9 ngàn 6 trăm mấy chục niên lẻ rồi, nên nhiệm thời tuần hoàn đã mãn cuộc. Thầy cũng đã ấn định từ thuở tiền khai rằng quả địa cầu 68 đến kỳ mạt thế sẽ không còn nơi cư ngụ. Ngày nay các con đã hiểu Ðạo biết Thầy, thì Thầy nỡ nào tai ngơ mắt lấp. Nếu xét tội nhơn loài thì khó nỗi vị tha, nhưng vì lòng bác ái nên Thầy phải chịu nhọc nhằn mà tận độ.


     Thêm một lần nữa Thầy nhắc đến con số 129600 năm. Tóm lại, qua những gì trình bày trên, chúng ta cũng ít nhiều biết sơ qua về... Hội Long Hoa và Ngày Tận Thế. Và, nếu biết rồi và muốn cứu vãn tình thế thì mọi người nên thức tỉnh, tu tâm, dưỡng tánh là hơn...

     * Hình ảnh cuộc đại lễ "Cầu An Xin Bình Ðịa Chấn":
     http://saigonline.com/caodai/unic/h_anh06_.htm


   back to top

08. TỰ HỎI LẤY MÌNH

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Người xưa có nói: "Thượng sĩ văn Ðạo cần nhi hành chi; trung sĩ văn đạo nhược tồn nhược vong; hạ sĩ văn Ðạo đại tiếu chi, bất tiếu tức dĩ vi Ðạo," tạm hiểu là "Bực đại căn thượng trí khi nghe đến Ðạo thì siêng năng cần mẫn mà làm theo; người trung căn trung trí khi nghe đến Ðạo thì lúc làm lúc không; còn hạng tiểu căn hạ trí khi nghe đến Ðạo thì cười lớn; nếu họ không cười lớn thì lấy cái chi mà gọi là Ðạo.

     Well, theo thiển ý riêng tôi, phần lớn chúng ta đều không cười, nhưng cũng không siêng năng cần mẫn làm theo cho lắm. Nhứt là thời mới lớn, nhựa sống tràn đầy với bao ước mơ, hoài bão. Vả lại, ngay từ thời trung tiểu học, chương trình giáo khoa chỉ dạy đọc sách chớ đâu có dạy đọc kinh. Bởi vậy, người xưa cũng có bảo, đại khái, nếu đời người 100 tuổi thì 25 tuổi đầu nên lo học hành, 25 tuổi kế nên lo gia đình, 25 tuổi kế nữa nên lo tu hành, và 25 tuổi sau cùng nên lo tham thiền... Cho nên, tôi nghĩ, ngoại trừ những bậc đại căn thượng trí những hạng tiểu căn hạ trí, nói chung chung là chúng ta thường hay có duyên may đưa đẩy để nghĩ đến chuyện tu hành, chuyện Ðạo vào lứa tuổi... nửa đời người! Nửa đời say mê với tình ái, danh vọng, bạc tiền, v.v... thì cũng quá đủ rồi, còn ham muốn gì nữa?

     Bạn tôi, đa số ở lứa tuổi hơn nửa đời người, lắm kẻ vô tình bắt gặp và đọc được một quyển kinh, bỗng giựt mình về giá trị của những cuốn sách mà mình đã đọc qua, nhứt là những quyển... tiểu thuyết ái tình, gián điệp..., mà lần mò tìm đến Ðạo. Nói như thế không có nghĩa là khuyến khích các bạn thanh niên, thiếu nữ đừng vội lo chuyện tu hành. Lẽ dĩ nhiên "càng cao danh vọng càng nhiều gian nan," nhưng trên bình diện học Ðạo thì chúng ta nên sửa lại là "càng tu cho lắm thì càng lên cao," vì ngôi vị Thần, Thánh, Tiên, Phật cũng có nhiều thứ hạng và cũng được thăng cấp hay bị giáng cấp nữa. Và nói như thế cũng không có nghĩa... "buông dao đồ tể là thành chánh quả" đâu! Vì, như tôi đã nói và hầu như ai ai cũng biết, chuyện tu hành đừng nói là không dễ mà quả là... khó quá! Nhưng khó mà mình làm được mới hay!

     Trong kinh "Ðại Thừa Chơn Giáo" (Chiếu Minh Ðàn, 1936), Thầy, tức Ngọc Hoàng Thượng Ðế, có dạy:

     Ðạo Thầy tuy khó nhưng cũng có chỗ dễ, sự dễ hay khó là do nơi người học Ðạo hiểu hay chẳng hiểu chỗ chánh lý mà thôi. Thầy hay độ những kẻ có lòng thành biết trọng Ðạo kỉnh Thầy, một tiết cầm không dời đổi, hằng giữ câu chánh kỷ hóa nhơn, chẳng tham danh luyến lợi.
     Thầy thấy phần đông trong hàng môn đệ còn lầm tưởng mà tranh cao luận thấp với nhau về chỗ tu Tiên, tu Phật. Vậy thầy giải thích cho các con rõ:
     Ở vào thời kỳ hạ ngươn này, chính mình Thầy lãnh phần thống chưởng quyền hành của Tam Giáo là Phật, Thánh, Tiên giữa hội Công Ðồng. Bởi vậy tu theo Ðạo Thầy ai có duyên Phật thì đắc Phật, ai có căn Tiên thì thành Tiên, cũng có kẻ chứng quả vị Thánh Hiền hoặc chuyển kiếp luân hồi đặng thọ hưởng vinh hoa phú quí. Bởi vậy cho nên mới gọi rằng Ðại Ðạo Qui Nguyên hay là Ðại Ðồng Tôn Giáo.
     Ðàn nay Thầy ân phong cho Lưu vào hàng "Hậu Bát Tiên," chứng vị là "Bích Vân Tiên Cô," thế cho "Hà Tiên Cô" thăng cấp...


     Phải nói rằng, xem qua quyển "Ðại Thừa Chơn Giáo," ở những trang sau cùng, thấy danh sách "Càn Tịch" cho nam giới và "Khôn Tịch" cho nữ giới, của những người... xưa kia cũng phàm tục như mình nay được đắc thành Tiên, Thánh... và về giáng cơ trở lại, nhắn nhủ anh chị em môn đồ, um... thấy mà ham! Ham thôi, chớ còn vói tới hay không thì phải hà hồi phân giải.

     Qua lời Thầy dạy ở trên, nếu ta cố gắng tu hành, tồn tâm dưỡng tánh, thì... từ thấp lên cao, ta có thể:

     - Hưởng vinh hoa phú quý ở đời sau.
     - Chứng quả vị Thần, Thánh Hiền.
     - Thành Tiên, đắc Phật.

     Trước hết, xét ra... vinh hoa phú quý ở đời này, tuy phần lớn chúng ta không có không hưởng, nhưng trong họ hàng, bà con quyến thuộc, bạn bè bằng hữu... cũng có nhiều người đã có và được hưởng, nên không ít thì nhiều, chúng ta hiển nhiên thấy và biết qua cái cuộc sống vinh hoa phú quý, lắm bạc nhiều tiền, danh cao lợi lớn như thế nào rồi! Rốt cuộc lúc chết cũng chẳng mang theo được gì! Nếu đời này ta đã không màng cái vinh hoa phú quý đó thì ước vọng ở đời sau, hừm..., phỏng có ích gì?

     Bây giờ xét tới chuyện chứng quả vị... Thần, Thánh Hiền xem ra sao! Tốt hơn hết, theo tôi, chúng ta nên tìm hiểu coi những vị Thần, Thánh Hiền không xa hàng nhiều thế kỷ trước mà gần gần với thế hệ cha ông của mình là những ai... để có thể học hỏi và bắt chước làm những gì họ đã làm. Thì, rất có thể, mình cũng thành Thần, Thánh Hiền như họ vậy.

     Ðây, những vị này! Có vị chỉ xuất hiện trong những đoạn "Mừng Kinh Kết Thúc", nhưng cũng có vị về cơ nhiều lần để giảng dạy thêm về phần Giáo Lý như các cụ Lê Văn Duyệt, Pétrus Trương Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản, v.v... Tôi chỉ trích mỗi ngài một vài bài tiêu biểu mà thôi (dĩ nhiên còn nhiều ngài khác nữa, rải rác đó đây trong kinh sách Cao Ðài Ðại Ðạo mà tôi không nhớ hết):

     Châu Văn Tiếp (Châu Võ Ðế Quân)
             CHÂU sa ngọc đổ mến thương đời
             VĂN vị mà chi với thế thời
             TIẾP lịnh qua Xiêm cầu tướng giúp
             Giáng nguy truông vắng ngộ nàn ôi.


     Lê Văn Duyệt (Ngã Ðại Tiên)
             LÊ trào Nguyễn chúa thuở xưa nay,
             VĂN võ kiêm ban mấy kẻ tài,
             DUYỆT đảng nịnh thần qui chánh tính,
             Giáng cơ hội thượng chốn sơn đài.


     Nguyễn Huỳnh Ðức (Huỳnh Ðức Ðế Quân)
             HUỲNH hà sóng bủa gió đưa sao,
             ÐỨC hạnh tu Tiên gắng dạ nào,
             ÐẾ Ðạo thiện từ lòng chính chắn,
             QUÂN thần cộng lạc sửa phong trào.


     Nguyễn Trung Trực
             NGUYỄN hoàng đắp núi với xây non,
             Ðức lớn TRUNG cang hiếu nghĩa tròn,
             Chánh TRỰC phương viên lòng chí sĩ,
             Theo cùng bạn trước bước đài son.


     Ngô Tùng Châu
             NGÔ lào xem cũng chẳng bao xa,
             TÙNG lý Ðạo ban đặng hiệp hòa,
             CHÂU ngọc biển hồ xưa lố dạng,
             Giáng trần mừng đặng hội đào hoa.


     Pétrus Trương Vĩnh Ký (Hậu Sư Chí Thánh)
             TRƯƠNG cánh buồm loan độ khách trần,
             ẨN vừng mây bạc cứu nguyên nhân,
             SĨ tu Ðại Ðạo chơn hòa lý,
             CHÍ đức thành tâm, hiệp khí thần.
             THÁNH bút chơn truyền đời ngộ giáo,
             HẬU hòa chủng loại thọ Thiên ân,
             SƯ minh giáo lý thiên thơ tác,
             Giáng lịnh mừng Kinh vịnh mấy vần.


     Phan Chu Trinh
             PHAN trường tiêu tứ lúc còn nguy,
             CHÂU ngọc dồi trau có dễ gì,
             TRINH tiết một lòng hoài Quốc Ðạo,
             Giáng mừng hiền sĩ đắc khoa thi.


     Phan Thanh Giản
             PHAN đào lý hạnh trổ vườn thu,
             THANH khí xưa nay vẫn hiệp phù,
             GIẢN giáo phò nguy cơn nước biến,
             Giáng can tế cấp kẻ thiện từ.


     Võ Tánh
             VÕ lộ từ ngày ngộ Thánh Quân,
             CÔNG trình chẳng nệ ngựa chờm chơn,
             TÁNH tâm đâu có nài gan sắt,
             Giáng thế chào trong một tiệc mừng.


     Vua Tự Ðức
             TỰ toại Bồng Sơn xét cuộc đời,
             ÐỨC gìn tu niệm đặng yên nơi,
             TIÊN bang thương chúng dân Hồng Lạc,
             VƯƠNG Ðạo khuyên tu lánh khổ đời.


     Hóa ra hầu hết là vua và những công thần, văn cũng như võ, nhà Nguyễn. Ðã noi theo "Tam Cang, Ngũ Thường" mà sống với đạo hạnh riêng của cá nhân mình, dẫu là người phàm mắt thịt với đầy đủ thất tình, lục dục. Nhưng, liệu chúng ta có làm được những gì họ đã làm hay không đây?

     Rồi cao hơn nữa, bây giờ xét đến việc thành Tiên, đắc Phật. Căn bản đầu tiên là trường chay, tuyệt dục. "Cư trần bất nhiễm trần," như Ðức Ngôi Hai Ngô Minh Chiêu đã dặn. Quả là chuyện... khó quá!

     Cũng trong kinh "Ðại Thừa Chơn Giáo," phẩm "Chỉ Ý Thuyết Minh," Thầy có dạy thêm:

     ...
     Mà Thầy lập giáo kỳ này lại trái hẳn với nền cổ Ðạo. Thầy chỉ dùng cái huyền-cơ bí-pháp mà truyền Ðạo khắp dân gian. Thầy đem chơn pháp diệu-huyền trao cho người luyện thành chánh-giác thì phản-bổn hườn-nguyên. Thầy dùng huyền diệu cơ bút để hoằng khai cơ-quan vô-vi Ðại-Ðạo. Thầy nhứt định không giao Thánh-Giáo cho tay phàm nữa, vì trước kia Tam-Giáo thất chơn-truyền là cũng bởi Thánh-Giáo ở trong tay phàm, nên các con canh cải làm sái lạc pháp linh. Vậy Thiên-Thơ Thầy định ngày nay Thầy lập giáo như vầy:
     - Trên là dùng huyền-diệu thiêng-liêng mà bảo tồn cơ Ðạo.
     - Dưới để tự Thầy định mới có thể chuyển hóa nổi nhơn-tâm, đủ sức thần thông, vận hành Chơn-Giáo, chớ nếu Thầy mà mượn xác thịt nặng nề thì làm sao biến hóa thiên hình vạn trạng mà phổ độ chúng-sanh cho mau chóng nổi-sôi, rần-rộ được; chớ dùng huyền-cơ bí-pháp tất có thể lưu thông nháy mắt khắp mọi nơi. Nhưng Thầy cũng phải chịu nhọc giáng thế mượn xác phàm NGÔ-MINH-CHIÊU đặng Thầy đem cái chơn pháp tâm-truyền mà trao lại cho các con để các con giữ gìn hầu có trao lại cho người thiện căn hữu phước. Thầy lại luyện cho các con thấy cái pháp bí diệu đó đặng rõ cơ mầu nhiệm siêu phàm, tạo Thánh Thai, để cho linh-hồn nương đó mới trở về chỗ hư-vô hiệp với Thầy là nơi an-nhàn khoái-lạc. Xong rồi Thầy lại trở về đặng dùng huyền pháp thiêng-liêng mà chuyển hóa chúng-sanh tuyên-truyền Chánh-Ðạo.
     Tại sao Thầy đã nói: không giao Chánh-Giáo cho tay phàm và không xuất thế, mượn xác phàm như Tam-Giáo, mà rốt cuộc Thầy cũng có xuất thế, cũng có trao chơn pháp cho các con. Thầy giải cho các con rõ:
     Nguyên Tam-Giáo ngày nay đã thất kỳ truyền, tôn chỉ lạc sai, cơ quan xiêu đổ, cho nên tu thì nhiều mà không ai thành chánh quả, vậy nên nay Thầy phải giáng thế mượn xác phàm đặng đem cái tâm-pháp bí-truyền ấy trao dạy cho chúng-sanh để thoát vòng sanh tử. Nếu không mượn xác phàm mới làm sao mà trao cái bí pháp đặng cho các con. Hễ bí pháp thì khẩu-khẩu tương-truyền, tâm-tâm tương thọ, không được thấu lậu ra cho ai hay biết đặng, hoặc tỏa vẽ, giải phân trên giấy mực hay là dùng cơ-bút mà truyền bí pháp đặng.
     Cơ bút là để nắm quyền hành Ðạo-giáo mà phổ hóa chúng-sanh, để làm ngọn đuốc quang minh mà dẫn dắt người đến chỗ bổn nguyên là cùng mục-đích đó thôi. Ấy nghĩa là Thầy dùng cơ bút mà truyền Ðạo-Ðức-tinh thần và huấn luyện vạn linh cho trở nên hạng người chí-đức cao-siêu Tiên, Thánh, Phật vậy.
     Các con phải biết, các con tuy thọ bí pháp mặc dầu, chớ cũng phải chịu dưới quyền lực thiêng-liêng sai khiến. Các con nào có dối đặng với Thầy đâu?
     Các con nên biết "Ðạo Mầu Làm Bửu-Phan Tiếp Dẫn." Thầy ban ơn các con, Thầy thăng.


     Một lần nữa, Thầy lại cho biết thêm vì cớ nào trong mấy ngàn năm qua, kể từ sau đời Lục Tổ Huệ Năng, rất nhiều người tu mà thành thì chẳng thành. Vì cái... "bí pháp khẩu khẩu tương truyền, tâm tâm tương thọ" đã bị người đời cải sửa, sai lạc. Khoa học hơn một chút, theo thiển ý của tôi, cái "bí pháp" này giống như cái "password" để "login" vào các cõi Bồng Lai Tiên Cảnh (cõi hạ thiên, thượng thiên, bồ đề?) hoặc Cực Lạc Niết Bàn (niết bàn và đại niết bàn?). Không có "password" thì làm sao "login" vô? Theo như Thầy dạy, trong đoạn phải vẽ hình Thiên Nhãn mà thờ, thì cái "password" đó không có gì thay đổi, nhưng đã vô hiệu nghiệm vì:

     Thần là khiếm khuyết của cơ mầu-nhiệm từ ngày Ðạo bị bế. Lập "Tam-kỳ Phổ-độ" nầy duy Thầy cho Thần hiệp Tinh-khí đặng đủ "Tam Bửu" là cơ mầu-nhiệm siêu phàm nhập Thánh.
     Các con nhớ nói vì cớ nào thờ con mắt THẦY cho chư Ðạo Hữu nghe. Phẩm vị Thần, Thánh, Tiên Phật từ ngày bị bế Ðạo, thì luật lệ hỡi còn nguyên, luyện pháp chẳng đổi, song Thiên-Ðình mỗi phen đánh tảng "Thần" không cho hiệp cùng "Tinh-khí."
     Thầy đến đặng hườn nguyên Chơn-Thần cho các con đặng đắc Ðạo.


     Nếu tôi hiểu không sai thì hợp Tam Bửu gồm Tinh-Khí-Thần, tức là hợp âm (khí, như khí huyết của phái nữ) dương (tinh, như tinh khí của phái nam) có sẵn trong người cùng linh hồn (thần, phần thiêng liêng, spirit, của muôn loài), mà từ lâu, từ ngày Ðạo bị bế, linh hồn kia đã bị đánh tảng đi... Ngoài ra, sở dĩ có điều cấm "không được thấu lậu cho ai hay biết đặng" cái "bí pháp" tức cái "password" đó, đương nhiên chỉ vì mục đích "secutity," chỉ vì lẽ ngoài kia vẫn còn nhiều "hackers" đang mưu toan chực chờ quấy phá cơ Ðạo, máy Trời!

     Ở thời buổi này, tôi nghĩ, nếu muốn được cái password "bí pháp khẩu-khẩu tương-truyền, tâm-tâm tương thọ" chơn truyền này thì chỉ có cách duy nhứt là... tầm "chân sư" học đạo. Và, tất nhiên, những vị "chân sư" này không ai khác hơn là hàng đệ tử của Ðức Ngôi Hai Ngô Minh Chiêu (chi phái Chiếu Minh - Tam Thanh) mà thôi! Nào ai biết mấy ngài này đang ẩn cư nơi đâu? Mà dẫu cho tìm được "chân sư" đi nữa thì quyền chấp thuận cho nhập môn hay không thì cũng do nơi Thầy quyết định mà thôi. Vì theo tôi được biết, phải đứng trước bàn thờ Thầy xin keo (một hoặc ba lần liên tiếp, tùy chỗ) sấp ngửa mới xong. Hình như chỉ có Trời Phật mới thấu được tâm ý kẻ phàm, chớ người thường đâu làm sao... "bẻ thước mà đo lòng người" cho đặng. Nhưng, Thầy cũng cho biết rằng, những ai có căn cơ thì trong lúc tham thiền nhập định, cũng sẽ được Tiên, Phật đến chỉ thẳng trực tiếp cho.

     Tuy nhiên, trước khi có quyết định muốn đi tu đặng thành Tiên, Phật thì cũng nên biết qua hằng ngày Tiên, Phật làm gì cái đã chớ? Xem cuộc đời làm Tiên, Phật có hấp dẫn nổi lòng trần hay không cái đã chớ? Ðể khỏi ân hận về sau rồi lại đòi quay xuống chốn dương gian! Câu hỏi dường như đã có câu trả lời cho những ai tin tưởng và sống theo lẽ Ðạo. Hãy nghe Thầy "răn đe" thêm mấy lời này (trong kinh "Thánh Ðức Chơn Truyền Trung Ðạo"):

     ...
     Trong lúc hành sự cần phải tham thiền nhập định giao cảm cùng Thầy, nào hay đâu sửa lòng tập tánh, độ thế lập công các con không làm, mà các con lại muốn thành Tiên, Phật. Khác nào cái thang 12 nấc mà các con muốn leo một bước lên tận trên chót, có thế nào mà lên cho đặng? Thầy hỏi các con làm Tiên để làm gì? Hay là thành Tiên rồi mơi cờ vây, chiều rượu cúc, sớm dạo rừng đông, chiều qua bắc hải, như kẻ hoang du kia vậy?

             Làm Tiên khó lắm con ôi!
     Lo cho vạn loại dễ ngồi được đâu?

     Vậy các con đừng lầm tưởng rằng: cái tu ấy mà thành. Cơ mầu Thầy chẳng vị.


     Ðể kết luận tôi nghĩ chúng ta phải... tự hỏi lấy mình trước, rằng mình có xứng đáng với các ngôi vị Thần, Thánh, Tiên, Phật hay chưa mà hằng cầu mong Thầy ban cho chức tước, phẩm quyền. Nếu chưa thì chắc phải bắt đầu từ chỗ thấp hèn, như chính tôi đây, là... tu thân cái đã...

   back to top

09. LUẬN VỀ ĂN CHAY VÀ VIỆC ÐỘ SIÊU

             Ðại Giác Kim Tiên THIÊN HUYỀN TÂM
             NGUYỄN TẤN HƯNG chuyển ngữ

    

       Thi rằng:
Lời vàng giá ngọc ít vần thi,
Rỉ rót vào tai đã mấy kỳ,
Phù trầm vạn nẻo đường minh chánh,
Phấn sĩ anh hào, biện nữ nhi.
       Poems:
Some golden words are contained in these poems,
Your ears must listen in many times,
What is the right way on this Earth?
Oh, dear handsome men and good ladies.
       Lão: THIÊN-HUYỀN-TÂM . Hôm nay là ngày lành, Lão xin tái giáng đôi lời minh thuyết. Qua các giai đoạn luân lý thông thường như cũng đã tạm xong các đề mục. Nay lão bắt đầu biện luận về vấn đề Ăn Chay để mỗi lý luận khỏi thắc mắc và những dụng ý sai lầm.        From the elder: THIEN HUYEN TAM . Today is a good day that I come back to bring you some explanations of common morals. Especially, I will explain about vegetarianism for any that are wondering about it and the misunderstandings.
       Cũng như có nhiều trường hợp tại sao mấy người tu họ phải ăn chay trường? Tại sao các người có Ðạo Cao-Ðài hoặc Phật-Ðạo họ cần ăn kỳ? Ăn chay như vậy để có lợi ích gì? Bằng các câu chất vấn:        Why does a person entering into the religion have to be a total vegetarian? Why do people who practice Caodaism and Buddhism in the beginning need to be partial vegetarians? What are the benefits of vegetarianism? Furthermore, there are other questions like:
       1) Quí vị ăn chay để làm gì? Ăn chay để chờ đến ngày lâm chung có Phật rước? Nếu vậy những người không ăn chay thì đi xuống địa ngục hết chăng? Và ăn chay có chắc chắn lên Thiên-Ðàng không?        1) Why do we practice vegetarianism? Will vegetarians be greeted by Buddha when they die? If so, will all non-vegetarians be sent to Hell? And all vegetarians will surely go to Heaven?
       2) Hoặc rằng các người ăn chay chắc để cho gầy ốm, nhẹ mình dễ bay, chờ mọc cánh bay lên trời phải không? Và có chắc như vậy hay không? Hay ăn chay để rồi vẫn xuống địa ngục?        2) Or do we practice vegetarianism to get thin and lighten the body to make it easier for the wings to fly up to Heaven? Is that for certain? Or if we do practice vegetarianism, will we still fall down into Hell?
       3) Ăn chay có thể là cốt để kiêng sát sinh phải không? Nếu vậy, ta cứ đi mua ăn thì ta đâu có chịu tội sát sinh. Ăn chay có phải là bị Kinh sách lừa bịp, tức là dại mà nghe lời không?        3) Is the purpose of being a vegetarian to stop the killing of living beings? If so, can we buy meat from the market? If so, have we been cheated by the Bible?
       4) Mấy người ăn chay có phải là họ muốn cầu phúc không? Nếu người ăn chay được phúc đức, thì tất cả những kẻ không ăn chay họ lại mắc họa hết chăng? Như vậy lý chay không đúng, bởi vì những người tham gian hung bạo không ăn chay họ vẫn giàu sang kia mà.        4) Do we become vegetarians to seek the blessings from Heaven? If so, will all non-vegetarians receive only misfortune? If so, is the reason for practicing vegetarianism not right because non-vegetarians, sometimes greedy and wicked, are themselves rich and famous?
       5) Ăn chay có thể các người đó cốt để hãm xác cho tiều tụy, dễ sanh bịnh hoạn mau chết để họ thành Phật? Nhưng không biết chắc thành Phật hay lại cũng hóa ma ở địa ngục?        5) To quickly become a Buddha, do we need to practice vegetarianism so that we can get sick and die sooner? Is that for sure, or will we become ghosts in Hell?
       6) Ăn chay có thể dùng để cho Trời Phật nhờ cậy, hoặc để cho các vị Giáo-Chủ quá cố cậy nhờ vào sự ăn chay ấy để cầu cho họ được có lợi ích? Tôi xin đáp rằng: sẽ có nhiều quan niệm rất sai lầm.        6) Do we practice vegetarianism to become servants of God or the servants of Spiritual Leaders of Religions?
       1) Trả lời cho câu hỏi thứ nhứt rằng: sự ăn chay trường dầu ngày lâm chung chưa được Phật rước ngay là tại vì những người ấy không có tu pháp, không có ngồi thiền, nhưng trên đỉnh đầu họ vẫn có chiếu ánh hào quang vì nhờ ăn chay và tụng Kinh niệm Phật. Nếu lúc dứt hơi mà được các vị tăng ni, hoặc đồng nam, đồng nữ đến cầu Kinh tiếp dẫn, hoặc cầu siêu độ thì các linh hồn này sẽ được trực vãng Thiên-Thai. Nhưng khi được sinh cư nơi phước địa thì các linh hồn này còn phải tu luyện trót ngàn năm mới trở thành một vị Phật, là bởi vì những ngày còn sanh tiền, các vị này chưa tạo đặng kim-thân là vì tu không có pháp. Không có pháp tức là không tạo đặng kim-thân, không có kim-thân thì chưa đặng thành Phật thật sự.        1) For the first question, even with a completely vegetarian life, when vegetarians die, Buddha does not greet or welcome them yet because they did not learn to do meditation. However, haloes will appear on the summits of their heads as a result of their vegetarianism. With the help from the prayers of monks, nuns, and chaste boys and girls, the Souls of these people will go directly to the Worlds of Heaven. Even in this heavenly world, their Soul still needs a thousand years or more to learn and practice Spiritual Works to become a Buddha because they have not yet created their Relic-Body through meditation. Not meditating will not lead to a Relic-Body, and therefore not having a Relic-Body will not lead to becoming a Buddha!
       Tại sao ở thế gian người ta tu đúng chơn truyền thì chỉ có một đời người ta được thành vị Phật? Mà trong khi các linh hồn được ở nơi Bồng-Lai phước địa còn phải tu hành đến cả ngàn năm thay vì trong khi họ đã thảnh thơi, sung sướng. Nơi đây vốn là chỗ không cạnh tranh, không phiền não, mà người ta chỉ có an hưởng các tự tại ấy để tu. Bởi vì sự tu luyện ở cõi Phật tuy dầu tự tại, nhưng vì không còn cái thể thân vật-chất, mất cái thể thân vật-chất tức là người ta mất cái Tam-bửu và cái Ngũ-hành, mất luôn cái Thất-tình và Lục-dục. Bởi cái Thất-tình nếu không biết xử dụng thì nó sẽ hại cho linh hồn ngày lâm chung phải sa xuống bảy cửa địa-ngục. Nếu ta biết dùng thì nó sẽ đưa ta lên tới bảy cõi Thiên-Ðàng. Còn cái Lục-dục nếu ta không biết dùng thì sau nó sẽ hóa ra các đường luân hồi lục đạo. Biết dùng thì nó tức là Lục-thông đạo, tức là sáu nẻo quang minh giúp cho ta đắc thành Tiên Phật. Lúc ta bị mất nó thì ta rất khó thể luyện tu. Cũng như cái Tam-bửu và Ngũ-hành bị mất thì cũng ví như qua biển không có chiếc thuyền. Tuy dầu các linh hồn ấy vẫn chưa hẳn là vị Phật nhưng các sự thung dung nhàn lạc vẫn được y như Phật. Nếu ngày tiền sinh mà không biết ăn chay thì các tinh thần ấy vẫn bị ảnh hưởng chất huyết nhục, ô trược, nặng nề của hậu thiên, thì trong khi hồn rời khỏi xác phải chịu nặng nề, vì bẩm chất hậu-thiên ấy mà các linh hồn này phải sa xuống địa ngục.        Why do people living on Earth need only one life of correct meditation to become a Buddha? And why do the Souls of people living in the Worlds of Heaven need a thousand years of meditation to become a Buddha? The truth is, although these Souls live the Buddha's life with no ordeal, harshness, or suffering, they no longer have a human body. It means that they lose the "Precious Three," (essence, vitality, and mind) and the "Common Five" (metal, wood, water, fire, and soil). And they also lose the "Seven Passions" (happiness, anger, love, envy, sorrow, joy, and sex) and the "Six Senses" (seeing, hearing, smelling, tasting, touching and thinking used by the eyes, ears, nose, mouth, hands, and brain). With the wrong use of the Seven Passions, the Souls will be sent to Hell; however, with the right use of the passions, the Souls will be sent to Heaven. In the same manner, with the wrong use of the Six Senses, the Souls will be placed in the reincarnation cycle; however, with the right use of the Six Senses, the Souls will be in Buddha's world. It is difficult for the Soul to become a Buddha without the Relic-Body, just as it is hard to cross the ocean without a boat. If in this life on Earth, people do not practice vegetarianism, when they die, their Souls will be too heavy with "blood-related matters" and they have only one way to go and that is down into Hell.
       2) Câu thứ hai đáp rằng: nếu người ta chỉ dùng sự ăn chay để gầy nhẹ mình bay lên trời dễ hoặc trong khi bay lên trời mà người ta được thấy thì ắt là tất cả trên thế gian nầy sẽ không có người nào còn chịu ăn mặn, và sẽ có sự tranh nhau để ăn chay, rồi cũng sẽ có gây ra mạnh còn, yếu mất. Vì sự vô vi ấy quá thậm thâm, khiến không ai chứng minh thực tại được, thế mà các người chơn tu mới được thư thả thành công. Dầu gầy khô hay mập mạp vẫn phi thăng đến cõi Thiên-Ðàng cũng rất tự nhiên. Họ đâu có ngại gì cái thể xác mập hoặc gầy.        2) For the second question, vegetarianism helps the human body become thinner and lighter and it allows the Souls to float up easily to the Worlds of Heaven, and if this is true, then no one on this Earth should eat meat. Then people will compete for vegetables and the rule of "big fish eats small fish" will apply. It is difficult to prove but all of the meditation masters' souls, whether they had a thin or heavy body, flew up easily to the High Worlds of Heaven.
       3) Câu thứ ba đáp rằng: sự ăn chay để kiêng cữ sát sanh có một lý đúng nhưng chưa hẳn. Một lý chánh là để khử trược lưu thanh. Người ta cần dụng chất thảo mộc để làm vật thực nuôi dưỡng thể thân, ấy là cần làm cho thể xác và linh hồn nhờ nơi bẩm chất Tiên-thiên ấy mà được thanh nhẹ. Vì thực chất thanh vị thuộc Tiên-thiên "phù giả chi thanh" , chất huyết nhục của thú cầm thuộc Hậu-thiên "trầm ư chi trược" . Ăn chay thì tu luyện mới thâu nạp đặng Xá-lợi-tử kim-đơn.        3) For the third question, it is correct to say that vegetarianism helps stops the killing of living beings. However, it is not the whole truth. The main benefit is to " gain cleanliness (lightness) and to get rid of the dirtiness (heaviness) " that weighs down your Soul and body. The vegetables give you cleansing whereas meat gives you filth. Only through vegetarianism and with the help of meditation, can you create "Buddha-relics" (a Relic-Body) for your Soul.
       Nếu như người đã thực hiện được việc ăn chay trường thì cũng nên dụng phép ngồi thiền mà luyện đơn nấu thuốc, hớp khí Tiên-thiên mà dưỡng nuôi thân thể cho đặng tráng kiện, lấy nước Ma-ha nuốt vào mà diệt hết kiếp tử sinh. Thường chuyển pháp luân cho âm dương hòa hiệp mà kết thành xá-lợi thì mới có được chín phẩm tòa sen. Thoảng như người đã áp dụng đặng việc trường trai, tuyệt dục mà tu không có pháp thì e ngại rằng một ngày tương lai nếu gặp một trở lực nào đó, hoặc có bịnh hoạn vì những sự nghiên cứu của người đời rằng các thực chất thanh đạm ấy sẽ không đủ dinh dưỡng thể thân. Sự cám dỗ thực tế ấy sẽ làm cho yếu mềm tinh thần Ðạo rồi sẽ dang dở công trình thì uổng bấy công phu từ thuở! Chi bằng ta tự hỏi nơi lòng: nếu quyết định tu thân thì phải tầm cho ra chơn-lý, bước tận thang cao, thì ta sẽ thấy rõ sự thành công sáng tỏ ấy mà không bao giờ bỏ dở công trình. Ngày ngày hưởng thú vui say với mùi Ðạo pháp mà an lòng để chờ ngày công viên quả mãn mà thoát tục tầm Tiên.        Therefore, for total vegetarians, you should learn how to do meditation. Learn how to breathe the Spiritual Air and learn how to swallow the Spiritual Water to cease the reincarnation cycle. Learn to balance the Yin and Yang to create the Buddha-relics and gain the Lotus Pedestal. Moreover, without meditation, total vegetarians may be discouraged about their health which they sustain with vegetables, or they fall into the seduction of nutritive reality. Ask and prove to yourself that if you truly are faithful to your religion, you should go all the way to the very end and avoid stopping somewhere for any reason or by any means.
       4) Câu thứ bốn đáp rằng: nếu ăn chay để cầu phước, hoặc lý tưởng muốn ăn chay để cầu phước thì điều đó cũng đúng với một lý chánh, bởi vì nếu người ấy nguyện ăn chay để cầu xin điều chi của người cần, hoặc cầu xin thoát khỏi cơn bịnh ngặt đến phải nguy hiểm, hoặc cầu xin thoát khỏi các tai họa tù tội hoặc bị bắt bớ, hoặc bị kẻ dữ toan ám hại, hoặc làm ăn gặp thất bát nghèo khổ Trong khi người ấy tĩnh tâm biết nhớ tới việc làm lành, biết nghĩ tới lòng bác ái của Trời Phật mà nguyện xin ăn chay để cầu phước thì chắc chắn sẽ có kết quả tốt. Không phải sự ăn chay của người ấy đem sự thắng lợi chi cho Trời Phật, mà sự ăn chay ấy để chứng tỏ rằng người đã cải thiện tập tánh lành và tỏ lòng tín ngưỡng Trời Phật mà biết đến cầu cạnh. Việc ăn chay là một việc rất lành và rất khó khăn đối với loài người trên cõi vật-chất, thì đối với Trời Phật xem như rất có giá trị hơn. Ăn chay là một điều đại phúc đối với luật Ðạo cũng như đời, vì một ngày ăn chay là một ngày không sát vật, cũng có thể giảm được các việc làm ác, cũng có thể giảm khẩu và giảm thiệt, không hành động hung dữ.        4) The answer to the fourth question is that if you do a period of vegetarianism to seek God and Buddha in order to help you get out of sicknesses, dangers, arrests, imprisonment, etc., then you will be blessed. Your vegetarianism is not any benefit to God and Buddha. However, it proves that you are trying to do good and avoid doing bad. Vegetarianism is a difficult thing for people to do living on the Earth who have plenty of food products. But if done, it is very meaningful to God and Buddha. Also vegetarianism has something to do with religion because one day of vegetarianism is one day of reducing the killing of living beings, one day of reducing the foulness of the mouth, and one day of reducing bad behavior.
       Mười ngày ăn chay sẽ tập được chút tánh lành vì bớt được chất huyết nhục của loài vật nên làm êm dịu tâm địa được ít nhiều. Một tháng ăn chay sẽ thấy có phúc đức vì nhờ có Thánh Thần phò hộ cho người nên các tai họa rủi ro được lánh khỏi. Một năm ăn chay thì sẽ có nhiều âm chất vì đã giảm được rất nhiều việc ác thì phúc lành sẽ đưa tới tự nhiên. Ðược mười năm ăn chay thì từ trên đỉnh đầu người sẽ phát xuất ánh hào quang chiếu ra ngoài, thì sẽ có Thánh Thần luôn luôn hỗ trợ theo đạo hào quang ấy mà che chở hết các tai họa, tà quỉ không dám xâm phạm quấy nhiễu, tinh thần phát huệ, trí hóa thông minh, sắc tướng cũng phát đạt vì nhờ nơi phúc đức ấy. Nếu trọn đời ăn chay thì ba đời hưởng phước lộc. Nếu không ăn chay thì chuyện họa phúc sẽ tùy thuộc vào đức tính của mỗi cá nhân.        With ten days of vegetarianism, you will avoid some of the "blood-related matters" and it will make you calm. With one month of vegetarianism, you will be blessed and looked after by Deities and Saints when you run into misfortunes and accidents. With one year of vegetarianism, you will reduce a lot of the "blood-related matters" in your body and Soul; then happiness will naturally come to you. With ten years of vegetarianism, the summit of your head will light up with some nimbuses; then the Deities and Saints will surround and protect you. You will even look good and have a feeling of peace, wisdom, and beautỵ With an entire life devoted to the practice of vegetarianism, if you are reincarnated, your next three lives will be blessed with all the good things in life.
       5) Câu thứ năm đáp rằng: nếu nghĩ rằng các người ăn chay trường là cốt để hãm xác cho mau chết để thành Phật thì vốn là một quan niệm rất sai lầm cũng như trẻ nhỏ đời xưa có tục sợ ông già ba bị, chín quai có 12 con mắt. Nếu luật tu hành dạy ăn chay để hãm xác thì sẽ có câu trả lời rằng: Ấy là một trò đùa! Luận về Thiên-Ðạo và Phật-Ðạo thì việc ăn chay tức là con đường thoát tục. Con đường ấy tuy dầu không mấy xa nhưng phải gắng công trên mọi khổ hạnh. Người ta cần ăn chay để khử trược, lưu thanh để tránh Nhân Quả. Vì những khi điểm anh hồn sắp rời xa thể xác thì giữa cơn thao thao tuyệt khí lúc ấy phải cần cho đầy đủ một khối tinh quang, thì khối tinh quang ấy mới có đủ khả năng mà thăng lên cõi Thượng-giới. Khối hào quang tinh anh ấy gồm tất cả luồng điển thanh, cũng như nhờ ăn chay và tu luyện mà lọc lừa hết các chất trược bẩn do hậu thiên cấu tạo. Gồm cho đầy đủ năng lực của Tiên-Thiên, qui Tam-Bửu lại cho đầy, hiệp Ngũ-Hành cho đủ, vận chuyển pháp luân để cho âm dương kết hợp mà tạo đặng Kim-thân. Phép tu luyện kia cũng nhờ cộng chung sự trường trai ấy mà khối tinh anh sáng tỏ như trăng chiếu lên đỉnh đầu, phối hiệp với luồng điển thanh hư thì điểm anh hồn ấy mới có đủ khả năng mà vượt lên khỏi 7 từng lớp ác đạo, để phi thăng lên đến cõi Thượng-Giới hư vô.        5) For the fifth question, if someone thinks that vegetarianism will make them die faster in order to become a Buddha quickly, then they're hugely mistaken and the joke is on them. In the doctrine of God-ism and Buddhism, vegetarianism is the pathway to leave the reincarnation cycle. This road is not far, far away. However, people must put a lot of effort into it and sacrifice a lot of things. People who are practicing vegetarianism are trying to avoid the rule of "cause and effect" by absorbing "the cleanliness" (lightness) and pushing out "the dirtiness" (heaviness). When the Soul is about to leave the dead body, the Soul needs some nimbuses over it, which gives the Soul the capability to go to the Worlds of Heaven. Vegetarians can obtain these nimbuses by receiving God's and Buddha's energy, concentrating on the "Precious Three" (essence, vitality, and mind) and the "Common Five" (metal, wood, water, fire, and soil); and through meditation to balance the Yin and Yang in order to create the Relic-Body. If the nimbuses are bright enough like the moonlight, the Soul can pass through the "Seven Layers of Evil" before reaching the Worlds of Heaven.
       Ðây Lão xin giải rõ 12 cõi Thiên-Ðường:
       - Kể từ mặt địa đạo này gọi là thế giới Ngũ Hành Tinh .
       - Lên tới cõi thứ 2 gọi là Bát Quái Tinh .
       - Lên tới cõi thứ 3 gọi là Tứ Tượng Tinh .
       - Lên tới cõi thứ 4 gọi là Lưỡng Nghi Tinh .
       - Lên tới cõi thứ 5 gọi là Thái Cực Tinh .
       - Lên tới cõi thứ 6 gọi là Trung Thiên Tinh .
       - Lên tới cõi thứ 7 gọi là Thất Tuyệt Tinh .
       - Lên tới cõi thứ 8 gọi là Bát Tú Tinh .
       - Lên tới cõi thứ 9 gọi là Cửu Ðồ Tinh .
       - Lên tới cõi thứ 10 gọi là Nam Thiệm Tinh .
       - Lên tới cõi thứ 11 gọi là Bộ Châu Tinh .
       - Lên tới cõi thứ 12 gọi là Ðại La Tinh .
       Here I will describe the "Twelve Worlds of Heaven":
       - From the Earth, the first world is called " The Five Commonality World ."
       - The second world is called " The Eight Branches World ."
       - The third world is called " The Four Branches World ."
       - The fourth world is called " The Two Branches World ."
       - The fifth world is called " The One Branch World ."
       - The sixth world is called " The Middle Heaven World ."
       - The seventh world is called " The Seven Ends World ."
       - The eighth world is called " The Eight Stars World ."
       - The ninth world is called " The Nine Maps World ."
       - The tenth world is called " The South Gate World ."
       - The eleventh world is called " The Continent World ."
       - The twelfth world is called " The Great Heaven World ."
       Cõi nầy mới là cõi Thiên-Ðàng thật sự, là nơi Linh-Tiêu-Ðiện Bạch-Ngọc Cung chính là nơi của Ðức Ngọc-Hoàng Thượng-Ðế ngự mà quản cai hết ba ngàn thế giái, tức là một nước Thiên-Ðàng thật sự dành cho Trời, Phật và Thánh, Tiên an tại đời đời. Các linh hồn chơn tu sẽ được đào sanh nơi đó mà hưởng cuộc thanh nhàn, vô phiền, vô não, bất diệt, bất sanh và nước nầy sẽ không có mười điều dữ và ba điều ác như ở cõi thế gian.        "The Great Heaven World" is the "True Heaven," with the " Linh Tieu Castle " and the " White Gem House ," where God presides and looks after the whole universe with the help of Buddhas, Archangels, Deities, and Saints. This is the peaceful and everlasting world where the Good Spiritual Souls will live, and no longer is there birth, death, or reincarnation. This is "The Nirvana."
       Khi điểm linh quang vừa xuất khỏi xác trần thì đã sẵn có các vị Thiên-Thần cầm phướn dẫn đàng, noi theo ngọn phướn ấy mà bay thẳng lên. Nếu thoảng như linh hồn không được luyện tu, chẳng có Kim-thân, dầu cho có công ăn chay, nhưng cũng chỉ là còn phải tạm ở một cõi thanh nhàn nơi cõi giái trung để cần lo tu luyện thêm, khi nào chứng đặng Kim-thân rồi thì mới lên cõi Thiên-Ðàng đặng. Là bởi vì các linh hồn không có Kim-thân sẽ không thoát qua giới tính thứ 5 tức là vòng Thái-Cực, vì cõi Thái-Cực nầy toàn là một thế giới lửa. Chất lửa trời sức nóng vô cùng cực, dầu cho sắc thép cũng tiêu tan! Chỉ có Kim-thân mới là chịu đựng nổi để vượt qua vòng lửa ấy. Nhưng khi qua khỏi vòng Thái-Cực rồi, thì đến cõi thứ 10 sẽ không cần dùng đến Kim-thân nữa, vì Kim-thân ấy chỉ cần dùng cho trong khi bay qua vòng Thái-Cực mà thôi. Ðến cõi thứ 10 nầy thì ta lại bỏ Kim-thân rồi mới đặng nhẹ nhàng để tiến lên cõi thứ 11. Cũng như từ cõi giái trung mà ta cần tu diệt hết 7 cái Thất-Tình thì linh hồn ta đã lên được tới cõi thứ 7, là vì mỗi cái của Thất-Tình sẽ làm cho ta phải nặng mà tuột xuống. Trong khi từ cõi Thiên-Ðàng, một Nguyên-nhân xuống thế thì khi ấy mỗi cõi phải thêm một món cho có đủ sức nặng mới được xuống. Ðến lúc trở lên ta phải bỏ mỗi thứ mới đủ nhẹ để thăng lên. Trong khi tu hành ta phải hủy bỏ hết các thứ nầy. Lên Thiên-Ðàng chỉ còn lại có cái Kim-thân, Thượng-trí và cái Hạ-trí. Thì ba món nầy đến cõi thứ 10 ta phải bỏ thêm cái Kim-thân. Lên tới cõi thứ 11 ta phải bỏ thêm cái Hạ-trí. Lúc bấy giờ ta chỉ còn lại duy nhứt có một cái Thượng-trí. Từ khi bỏ đặng cái Kim-thân thì ta càng cảm thấy đặng nhẹ nhàng, phơi phới mà bay lên cõi thứ 11. Khi ta đến cõi thứ 11 ta bỏ được một cái Hạ-trí nữa thì tinh thần hoạt bát, trí tuệ thông minh, thần thông quảng đại mà tiến thẳng đến cõi Ðại-La tức là cõi thứ 12 là cõi Thiên-Ðàng thật sự, thì bỗng tự nhiên khi ấy hình dáng đặng tốt tươi, sắc tướng nghiêm trang, dụng phép mầu mà hóa thành Thiên Kim Phục Thân, khi ấy mới hoàn toàn có một Thánh-thể thật sự, trên đỉnh đầu chiếu tỏa ánh hào quang, ấy mới gọi là chơn tướng, sẽ được ngự trên tòa sen mà đồng chung có sự sống đời đời cũng như sự sống của Trời. Ta bèn đến điện Linh-Tiêu mà ra mắt Thầy, ấy là một ngày mà ta vinh hạnh bái yết Ðức Thượng-Ðế và Tây Vương Mẫu nơi Linh-Tiêu Ðiện Bạch-Ngọc Thiên-Cung.        When the Soul leaves the dead body and if the Soul has the nimbuses above its head, the Angel with flags in its hands will lead the Soul to go to the "Worlds of Heaven." If the Soul does not have a pure Spirit, even if it has practiced vegetarianism for a long period of time, the Soul will have to temporarily resettle in the first level of the "Worlds of Heaven" to create its Relic-Body. Without the Relic-Body, the Soul cannot pass the fifth world, "The One Branch World," which is the "Super-Fire World" that can burn and melt everything even iron or steel. When the Soul reaches the tenth world, "The South Gate World," the Soul no longer needs the Relic-Body and drops it off. (Since human beings have the "Seven Passions" which are happiness, anger, love, envy, sorrow, joy, and sex, in order to go to the higher worlds, the Soul needs to drop the seven passions to reach "The Seven Ends World." Similarly, "the Soul in the Worlds of Heaven can return to Earth," also called "The Cause" (with some duties assigned by God). When this happens the "Seven Passions" are gradually added at each level making the soul heavier and heavier until it falls!). After the Soul throws off the seven passions, at this time it carries with it both the "Lower Mind" and the "Higher Mind," but it only needs the "Higher Mind" to go on. When it pass the eleventh world, "The Continent World," the Soul can then drop the "Lower Mind." With only the "Higher Mind," the Soul will now enter "The Great Heaven World," "The Nirvana," and give an account of itself to God. At last the Soul will have its real and beautiful Relic-Body with full nimbuses on its head and many wondrous powers.
       Nếu luận chung về các tôn giáo hoặc một cá nhân nào tuy vẫn còn xử thế nhưng đã có được ăn chay dầu nhiều hay ít, giữ Ðạo được tròn thì đến ngày lâm chung mà có được sự tiếp dẫn vong hồn trong khi hấp hối, hoặc cầu siêu độ đúng phép thì các chơn vong ấy cũng sẽ được nhờ ân phúc mà đặng đưa về một cõi thanh nhàn không địa ngục. Thường ngày cũng có các vị Phật, Thánh, Tiên đến giảng Ðạo thuyết Kinh mà độ các vong hồn ấy. Nhưng các vong hồn nầy chỉ được ở đây đợi ngày phán xét xong rồi thì cũng phải hồi dương mà trả vay tiền nghiệp. Thoảng như có Ðạo mà giữ Ðạo không tròn, 10 điều vi phạm, chay lạt không có thì ngày lâm chung khó nỗi cứu vớt, hoặc tiền sinh nhiều tội phạm quá đáng thì cũng không thể giải cứu!        In general for any religion or individual, besides practicing their religious matters, once they practice vegetarianism, for a short or long period of time, and with the help of "Spiritual Prayers' from faithful monks, nuns, etc., their Souls will go to the first level of the "Worlds of Heaven." Although day by day there are Buddhas, Archangels, Deities, and Saints who come to teach them many things, these Souls stay in the "Worlds of Heaven" waiting for their judgment from God to either go above or below.
       VỀ VIỆC ÐỘ SIÊU:        ABOUT THE HELPFULLNESS OF SPIRITUAL PRAYERS
       Nhắc lại việc độ siêu, tuy dầu luật Phật Thiên-điều có đặt sẵn, nhưng sự làm phép xác, hoặc tiếp dẫn lúc hấp hối, hoặc rửa tội, tẩy oan, nếu có đặng siêu hay không cũng do nơi phúc đức của các tăng, sư. Chớ không phải mỗi khi phép xác, rửa tội hoặc tiếp dẫn ấy mà đều có kết quả. Bởi vì nếu một vị sư đứng ra làm phép xác, hoặc rửa tội, tẩy oan, hoặc chứng đàn để siêu độ mà vị ấy là người đủ phúc đức hoặc chơn tu, thì sự hỗ trợ đó rất có kết quả tốt, các chơn vong ấy nương nhờ phúc đức của tăng, sư mà được siêu tội tiền sinh và được tiến lên cõi thanh nhàn mà hưởng phước. Nếu như những tăng, sư ấy không có chơn-đức thì vong kia sẽ không được hưởng nhờ, cũng như siêu độ cho có lệ mà không xét đến sự thành công. Vì là tăng hoặc sư kia vẫn còn nhiều tội phạm, tự mình không trong sạch thì độ chúng bất thành. Hoặc cũng có khi tín chủ không thành tâm, chỉ mời tăng sư đến độ siêu cho có lễ, rồi lại bày trò yến tiệc, rượu thịt, chả nem, từ chủ lẫn sư a tùng nhậu nhẹt, tụng niệm là cốt để hò hát cho qua buổi, qua ngày thì sự độ siêu sẽ không hữu ích. Hoặc có nhiều tiền bạc đem mướn tụng Kinh mà không thiện tâm cầu đảo, cứ nghĩ rằng ta đã bỏ tiền thì có người tụng cầu, ta không thiết gì phải nhọc lòng cầu đảo, thì cũng chẳng có lợi ích chi. Vì phép độ siêu phải từ chủ lẫn sư, hoặc các vị đạo tâm, hoặc đồng nam, đồng nữ hiệp lực tín chủ thì siêu đàn ấy mới thấy đặng thành công.        Although the law of God and Buddha has already been established, when people die, good or bad can result from Spiritual Prayers of the Monks and Nuns depending on their virtues and faithfulness of their prayers. If the Monks or Nuns themselves are not good, how can they help others! Sometimes the Spiritual Prayers of Monks and Nuns are just rituals performed without any spiritual meaning. At worse, they can act like a hired performing arts group. Sometimes getting spiritual help through prayers is like having a party with meat and liquor which can lead to more sins and burdens rather than salvation. In short, with respect to the helpfulness of spiritual prayers both sides matter. That is to say, it matters how good the deceased and their family are and also how good the Monks and Nuns are. Positive results can only be achieved when both sides are good.
       6) Sau chót là đáp lời câu thứ sáu: đề mục nầy nếu Lão chẳng phiền giải đáp thì quí vị cũng đã hiểu thừa rằng sự ăn chay không đem lợi ích cho Trời, cho Phật, mà ta chỉ dụng sự hữu ích cho chính ta. Còn như những các ngày lễ vía của các vị Thánh, Phật, đãng Tiên, tức là các ngày của các vị ấy quá vãng, hoặc sóc vọng, tứ quí và tam nguơn thì các ngày ấy đều gọi là ngày lành ghi dấu để thành lập làm những ngày chay kỳ thông lệ cho trong đồng đạo dụng làm ngày chay chính thức cho khỏi bị sai sót hoặc bị thiếu. Chớ không phải các ngày ấy là cần ăn chay để cốt ý khẩn cầu cho các vị quá cố ấy có lợi ích, hoặc cho các vị ấy được siêu thăng, vì các bực ấy đều đã có ngôi vị ở cõi Thiên-Ðàng thì trong môn đồ chẳng thiết tha chi mà lo việc độ siêu cho các vị ấy. Nhưng chỉ có điều cần lo chay lạt các ngày ấy là cốt để ghi ơn các vị ấy thuở tiền sinh có công lao dẫn dắt để cho người người ngày nay được hiểu biết đường lối mà tu thân, cũng như đền đáp thạnh tình sự soi sáng ấy mà sự chay lạt kia lại là đem phúc hậu lại cho chính mình, và các vị ấy cũng đoái hoài đến lòng cảm mến mà ban bố hạnh hữu cho.        6) Actually I don't have to explain it in more detail to answer this question. As mentioned before, vegetarianism is not going to better God or Spiritual Leaders, but it is going to better yourselves. However, on the birthdays or anniversary death days of Buddhas, Archangels, Deities, and Saints, people mark these days as holidays or as vegetarian-days. These religious celebrations are used to remind people of their vegetarian promise and to thank these Messengers for showing people the way to the "Worlds of Heaven." They already have their own positions in "Nirvana" and don't need people to pray anything for them. In contrast, people have to pray to them and need their blessings.
       Thi rằng:
       Văn đà trút cạn mái trời Tây,
       Giải lý thông qua rõ kíp chầy,
       Vẹt nẻo áng mây đường u ám,
       Rọi đuốc quang minh ngọc chẳng tầy.
       Poems:
       All sayings I have for the West,
       Explain the reasons and understand fast,
       It shows the way in the dark sky,
       The bright torch gives you light.
       Thi:
       Mấy lời vàng đá tỏ ngày nay,
       Minh thuyết Chơn-Kinh đã mấy ngày,
       Khan giọng vì đời nghiêm chánh lý,
       Kẻ trọng người khinh cũng một Thầy.
       Poems:
       Some words described for you today,
       Record them in the Bible of the True-Way,
       Hoarse voice for the lives of the people,
       Some like it, some don't, only one Teacher.
       Hựu:
       Một Thầy mà Ðạo khác nhau xa,
       Tự ý người tu hãy chọn nhà,
       Hữu duyên tầm nẻo đường minh chánh,
       Thiếu phúc lâng khăng trẻ lại già.
       Poems:
       Only one Teacher, many branches of religion,
       Depends on you, choose the way to go,
       Fortunately you can find the right one,
       Unfortunately you go around, young then old.
       Hựu:
       Trẻ già sống thác tợ đường đi,
       Lặn lội mê man thấy đặng gì?
       Mệt lo rồi lại hoài công giữ,
       Nhắm mắt buông tay rõ lại thì.
       Poems:
       Young and old, live and die, it is the way,
       Swimming unconsciously, then what do you see?
       Gain something, then keep something,
       At the end of life, what do you have left?
       Hựu:
       Rõ thì vật-chất thảy hườn không,
       Cơ cuộc kỳ nay đến đại đồng,
       Ðời tàn thấm ngẫm càng thêm xót,
       Cuộc thế vần xây quả vị nồng.
       Poems:
       What you have left is nothing,
       It's time for everyone,
       It's sad when the end comes,
       And what keeps going on.
       Hựu:
       Vị nồng chưa nếm hãy còn tươi,
       Vui đẹp ngày thâu rõ máy Trời,
       Cay đắng ai dầu chưa nhấp cạn,
       Vị ngọt hương nồng mãi đua bơi.
       Poems:
       What keeps going on is still fresh,
       The happy days ceased by God,
       Tart taste, did you try it yet?
       Cycling the sweet you gave and got?
       Hựu:
       Ðua bơi chưa thỏa bóng lại chiều,
       Gối mỏi, lưng dùn thấy hẩm hiu,
       Bịnh lão qua rồi Thần-Tử rước,
       Thất phách tam hồn giấc thỉu thiu.
       Poems:
       Cycling not enough, the evening comes,
       Tired knees, backaches, it all feels bad,
       Old age passes, death welcomed,
       Seven spirits and three souls in a dream.
       Hựu:
       Thỉu thiu giấc điệp bả vinh hoàn,
       Mấy cuộc phong đồ ngẫm chứa chan,
       Bạc tiền tình ái dìu thân khổ,
       Một kiếp phù sinh giấc mộng vàng.
       Poems:
       In a dream of life on earth,
       Things all gone with the wind,
       Riches, love, then suffering,
       One life, one dream are just alike.
       Hựu:
       Mộng vàng thiêm thiếp tĩnh rồi say,
       Tình ái, quan liêu, cảnh lầu đài,
       Cao lương mỹ vị màu hoa áo,
       Hương rượu men tình khổ ai hay.
       Poems:
       One life, one dream, sober then drunk,
       Love, power, title, property,
       Tasteful food, colorful clothes,
       All suffering but no one knows.
       Hựu:
       Ai hay đời khổ buổi khốn nàn,
       Mãn cuộc tuần hoàn những bi hoan,
       Dâu bễ ai tường trong gió bụi,
       Nối bước quày chân hiệp một đàng.
       Poems:
       No one knows that it is suffering,
       Sad, happy, you go to your end,
       Plantations become oceans,
       Be together, go same way.
       Thăng...        Go...


   back to top

10. MỘT CỬA VÀO THIỀN

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Thông thường khi bước vào cửa Ðạo, không riêng gì Ðạo Phật hay Ðạo Cao Ðài, mà là hầu hết các Ðạo trên thế gian này, bạn đều nghe người ta hay nói, đại khái, "Ừa, hễ có tu thì có chứng, có đắc." Lẽ dĩ nhiên quý vị nào dám nói ra câu ấy đều không phải là những "tín đồ bình thường," nói nôm na là những người đang tu ba trật bốn vuột như bạn và tôi. Rồi, bây giờ bọn mình có thể đưa vào vài chữ mà không sợ sai con "tán" bán con trâu, rằng thì là, "Ừa, nếu có tu mà chỉ biết tụng kinh không thôi thì sẽ không có chứng, có đắc." Ậy, câu nói thêm nói bớt này chỉ ngụ ý là việc "chứng, đắc" tuồng như chỉ áp dụng với những ai tịnh luyện, ngồi thiền mà thôi.

     Xa hơn một chút, nếu bạn cắc cớ hỏi thêm, cũng đại khái như là "Thưa ngài, vậy ngài có thể cho chúng tôi biết là ngài đã chứng cái gì hay ai đã chứng cho ngài, và đắc thì đã đắc tới đâu hay không?," thì câu trả lời sẽ là "sự im lặng," hoặc giả "xin lỗi, không thể nói ra được," hay có vẻ cao siêu hơn "ai uống được bát nước đầu nguồn thì người đó tự biết lấy thôi." Ðúng là những câu trả lời theo kiểu... huề vốn, vì rõ ràng bạn và tôi chẳng học thêm được điều gì mới lạ cả!

     Tại sao vậy? Well, thực tế hơn thì có người chỉ dạy rằng, chúng ta nên tạm hiểu sở dĩ những người đã chứng, đắc không muốn nói ra là vì sợ những người khác nói mình kiêu ngạo, làm tài khôn và sở dĩ không dám nói ra là vì sợ bị khảo đảo bởi tội vọng ngữ, cống cao ngã mạn. Xem ra câu bào chữa này cũng tạm khả dĩ chấp nhận được.

     Trong khóa Hạnh Ðường tổ chức vào tháng 7 năm 2003, như tôi đã có lần trình bày trước đây, theo sau các lễ cúng tứ thời giờ Tí, Ngọ, Mẹo, Dậu là các buổi tịnh luyện, ngồi thiền độ nửa tiếng, ba mươi phút. Lần đầu tôi hơi bỡ ngỡ vì chưa từng học chưa từng biết luyện, thiền là gì bao giờ, nhưng ngó chung quanh người ta làm sao thì mình làm vậy thì cũng xong. Sau đó, hỏi người này, nghe người kia, "học thầy không tầy học bạn," dần dà biết thêm... ngoài chuyện tọa thiền, ngồi thở phì phò mình còn phải đếm hay lần châu, phải theo dõi hơi thở nữa! Cám ơn hiền huynh nha (một trong những người đi tu rất sớm trong Hội Thánh Truyền Giáo miền Trung). Việc lần châu (chuỗi), đếm hơi thở cốt giữ cho tâm trí chẳng lo ra, nghĩ vẩn nhớ vơ thì mới dễ định thần được, mới có ấn chứng được!

     Mèn ơi, mới học thế nào là định thần, bây giờ phải học thêm thế nào là ấn chứng! Ấn chứng là gì ha? Là cái gì đó mình cảm thấy hay mình cảm nhận rất khác lạ trong lúc ngồi thiền? À, thì ra đơn giản, dễ hiểu chỉ có vậy! Hừm, nhưng đừng tưởng bở, coi chừng ấn chứng giả ấn chứng thiệt nữa! Ông mẹc ơi, làm sao mà phân biệt?

     Bởi cũng muốn biết thiệt hư nên có lần tôi tâm sự:

     - Ðêm hôm qua trong lúc ngồi thiền bỗng dưng em nghe một mùi thơm lạ lùng lắm, nhẹ nhàng, thoang thoảng, lâng lâng không giống hương thơm của một loài hoa nào hết, nên em mở mắt ra định hỏi người kế bên xem có nghe mùi thơm lạ lùng đó hay không...

     Hiền tỷ (một trong những người có công đức lớn với Thiên Lý Bửu Tòa) đưa ngón tay trỏ dằn lên môi làm dấu hiệu... xì, không cho tôi nói nữa. Nhưng chị lại nói thay:

     - Chị em mình giống nhau, hễ cảm nhận điều gì lạ lạ thì hay nói ra! Không được em à, em nói ra là em đã đánh mất! Ðó là ấn chứng của riêng em mà! Chị cũng vậy, có lần chị thấy Thiên Nhãn, chị đem chuyện này nói với Anh Lớn bị Anh Lớn rầy la. Và chị chẳng bao giờ thấy lại lần thứ hai nữa.

     À, thì ra thế! Cũng mừng mừng! Mặc dù mùi hương đó rất đặc biệt, nhưng cho đến giờ phút này tôi cũng chẳng biết... cái mùi hương lạ lùng đó có thể xem như là một ấn chứng hay không? Mà dẫu có thể xem như một ấn chứng đi nữa thì tôi nghĩ cũng không phải do tôi (làm gì lẹ thế, mới tu có mấy ngày), mà do tâm hạnh chung của nhiều người trong khóa Hạnh Ðường. Tôi định nói hết với các bạn tu học xem có ai có ngửi được cái mùi hương ấy không, nhưng khi nghe hiền tỷ nói vậy nên thôi!

     Theo tôi, tự thiển nghĩ, đừng nói là trên đường đạo mà ngay cả trên đường đời, trong cuộc sống hằng ngày, nếu mình đã trải qua, đã kinh nghiệm qua một điều gì có thể giúp ích cho đời sau tránh được những vấp ngã, những hoang mang mà không nói ra, kể ra là ích kỷ! Rõ hơn một chút, nếu tôi nói ra những ấn chứng (cứ xem như là ấn chứng thiệt đi) để rồi bị mất ấn chứng vì phạm tội "vọng ngữ" hay là "tiết lộ thiên cơ," nhưng mà nó giúp cho muôn vạn sanh linh biết thế nào là ấn chứng thì thử hỏi, tôi có ngần ngại gì mà chẳng nói ra, kể ra! Trên bước đường hành đạo mà, thí dụ, nếu mình chết đi để cứu muôn loài thì cũng là việc hy sinh đáng phải làm, thiết nghĩ!

     Sau khóa Hạnh Ðường, hai vợ chồng tôi lập Thiên Bàn nho nhỏ trong phòng trống kế bên phòng ngủ để tiếp tục làm những gì đã tu học và thực tập. Nói chung chung thì đêm đêm cũng tụng kinh và tịnh luyện, coi như nhứt thời thay vì tứ thời! Tụng kinh là để nhớ những bài kinh chưa thuộc như bài Ngọc Hoàng Thượng Ðế và Tam Giáo Bửu Cáo. Tịnh luyện là phì phò, đếm hơi thở cho tâm bớt động trong thời gian ngắn ngủi độ nửa giờ đó thôi. Rảnh rỗi thì nghiền ngẫm mấy quyển kinh vừa mới mang về. Quyển đầu tiên là "Tam Giáo Nhựt Tụng - Diễn Giải" của Ðạo trưởng Thiện Trung - Nguyễn Xuân Liêm, xuất bản năm 1995. Mới hiểu sơ sơ nghĩa bóng nghĩa đen thế nào là "Ðại La Thiên Ðế, Thái Cực Thánh Hoàng, Hoá dục quần sanh, Thống ngự vạn vật...," v.v...

     Khoảng một tuần, thời may, có hai vợ chồng hiền huynh - hiền tỷ tu tịnh đã lâu năm (những người có công đức lớn với Cao Ðài Giáo Hải Ngoại) đang đi tu nghiệp tại Chicago, nên chúng tôi mời về nhà chơi, ngủ qua đêm. Nhờ vậy mới biết qua, đại khái, thế nào là mạch nhâm, mạch đốc, nơi nào là nê hườn cung, đơn điền. Và, đặc biệt hơn hết là, ngoài việc thở phì phò chúng tôi còn gắn thêm cái ý (nghĩ, tư tưởng)... Hơi thở là Khí còn ý là Thần! Ðây là những lời có thể xem như khẩu khẩu tương truyền, không ghi ra giấy vậy... "Huệ Ðăng bất diệt, chiếu tam thập lục thiên chi quang minh: Khi công phu vận hành thì Thần phải bám sát Khí luân lưu nội tại không rời ra, gọi là Huệ Ðăng bất diệt. Ðèn đó là lửa, là hỏa, mà hỏa trong thân người là Chơn Thần đó, là tư tưởng đó. Thần soi đến đâu thì Khí theo đến đó, mà Thần Khí tức là Âm Dương đó...," sách nêu trên của Ðạo Trưởng Thiện Trung, trang 194, cũng có ghi rõ nghĩa của ý! (Sau này tôi được một hiền huynh bên xứ Canada, thành phố Toronto, gởi cho quyển "Vấn Ðề Tịnh Luyện Ðối Với Môn Sanh Cao Ðài Thượng Ðế" của Ðạo trưởng Chí Tín, xuất bản năm 1997, mới hay là những gì tôi học được nằm trong phần Sơ Thiền).

     Một thời gian không lâu sau đó, khoảng đầu tháng 8, tình cờ tôi lại lôi ra quyển "Ðại Thừa Chơn Giáo - Phá Mê Thiền" của hiền huynh Chiêu Tiên Vô Ảnh Lão (HH CTVALão), xuất bản năm 2001, đặng nghiền ngẫm tiếp. Phần kinh "Ðại Thừa Chơn Giáo" thì trước đây tôi đã đọc rồi nên đi ngay vào phần "Phá Mê Thiền" kèm theo phía sau. Wow, tôi hơi ngạc nhiên và có phần thích thú! Ậy, cái "ông thần" này có chứng, có đắc thiệt đây nên mới viết được như vầy. Nhưng coi bộ ôm đồm nhiều thứ, nào là lý thuyết, nào là thực hành, nào là những điều sai, những cái thiếu khoa học của các người đi trước, v.v... Nói tóm lại là, đại để, nó làm tôi hoang mang không ít, không biết đúng hay sai, không biết chánh hay tà khi HH CTVALão lớn tiếng tự tuyên bố ngay trong lời Tựa: "... sau nhiều năm nghiên cứu và hành thiền; thêm sự tiếp lực từ cõi HƯ VÔ đã thành đạt." Hừm, xem như đắc quả tại thế! Vì phân vân chẳng biết thiệt hư nên tôi có email các huynh tỷ thân gần để hỏi ý kiến...

     - Còn bàn về quyển "Phá Mê Thiền," đối chiếu cùng các pháp môn xưa nay, thiển ý của tôi, chúng sanh căn trí vô lượng và pháp môn vì thế cũng vô lượng. Chư hiền nếu có dịp tiếp xúc với HH Vũ Long (tên ngoài đời của HH CTVALão) thật cũng là dịp trao đổi trong cái phá chấp đa diện của đạo pháp. Thế gian này cái gì cũng tương đối, nếu tác giả và chúng ta cùng phá chấp thì con đường đạo học sẽ thênh thang và bờ giác ngộ chẳng xa xôi gì...

     Một hiền huynh cựu khóa tu sĩ thuộc Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Việt Nam, đã cho biết như vậy... Bắt đầu từ đó, chúng tôi làm quen HH CTVALão với câu thắc mắc đầu tiên:

     - Tôi có tham khảo qua các phương pháp thiền (tịnh) và thường được chỉ dạy... chuyển luân qua các mạch nhâm và đốc, HH có ý kiến gì về vấn đề này không, vì không thấy bàn trong sách. Theo như HH trình bày thì hình như có 3 giai đoạn: Pháp Luân Vận Chuyển (hô hấp), Nhập Ðịnh (ngưng thần), Tham Thiền (tụ khí)... như vậy khi mình thực hành thì ngồi thiền 3 giai đoạn một các liên tục, tỉ dụ 45 phút, hay phải ngưng nghỉ, ngắt ra từng đoạn 15 phút, 15 phút, 15 phút? Trong sách ghi: trước khi Thiền Ðịnh nên làm Pháp Luân Vận Chuyển từ 10 đến 15 phút (trang 355). Coi bộ hơi confused...

     Ðộ vài ngày sau thì chúng tôi có được 4 trang viết tay gởi Tấn Hưng - Hồng Lan, scan vào computer rồi kèm theo email. Ðiều quan trọng căn bản trong 4 trang này là:

     - Sự khác biệt giữa Pháp Luân Vận Chuyển và sự thở trong lúc thiền định là Pháp Luân Vận Chuyển có phần mạnh, chậm, và thở sâu hơn (vì sử dụng luôn cả phần bụng).

     Kể từ đó chúng tôi bắt đầu áp dụng những gì chỉ dạy trong quyển "Phá Mê Thiền," theo quá trình luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần, luyện Thần hườn Hư, luyện Hư hườn Vô. Well, chuyện tôi phải làm trước hết là phải bỏ hút thuốc, nếu không muốn... luyện Tinh hóa Khói. Xong rồi, mặc dầu HH CTVALão không muốn ai kêu mình là thầy hay sư phụ, mà chỉ là người đi trước thôi, nhưng chúng tôi cũng rất thận trọng với câu "không thầy đố mầy làm nên," cho nên thường hay liên lạc điện thoại mỗi khi có điều gì mới lạ hay cảm thấy không ổn. Nhớ có lần HH hỏi tôi:

     - Sao, Hưng tập Pháp Luân Vận Chuyển tới đâu rồi, có quên hơi thở được chưa?

     - Quên hơi thở có nghĩa là sao? Có phải là quên cái bụng phình lên xẹp xuống phải không? Chẳng thèm để ý tới nó nữa phải không?

     - Ðúng!

     - Gì chớ cái đó thì tập được lâu rồi! Coi như thở chậm và sâu một cách tự nhiên thế thôi. Giờ tập qua giai đoạn thứ hai, giai đoạn thiền định. Khi lắng nghe Lý Thiên Nhiên thì xin hỏi, hồi xưa HH nghe âm thanh đó như thế nào?

     - Nghe eee... như tiếng ve kêu vậy đó...

     - Ô, tôi lại không nghe tiếng ve mà tôi nghe tiếng dế, rooo..., nhỏ và nhẹ lắm, phải để ý mới nghe. Nhưng để ý nghe thì mất tiêu luôn. Bà xã tôi thì lại nghe khác, bả thuật lại là khi thì tiếng chuông chầm chậm, khi thì tiếng trống nhanh như tiếng trống trường..., cũng nhỏ và nhẹ thôi.

     - Vậy là được rồi đó, có ấn chứng rồi đó! Thành thật chúc mừng! Mất tiêu luôn cũng không sao, Ơn Trên sẽ cho mình nghe cái khác hoặc thấy cái khác! Thường thì lần đầu tiên do tha lực của Thầy Mẹ hay Sư Hư Vô giúp cho chớ chưa hẳn là của mình, nhưng nhằm mục đích là báo cho mình biết là mình đi đúng đường và mình phải tự tập lấy cho đến mức độ đó trong tương lai.

     Ði đúng đường, thiệt hôn? Chỉ hi vọng như vậy thôi..., và chúng tôi lại tiếp tục đêm đêm "công phu, công quả (chưa có nhiều... hihi), công trình." Ðộ vài tuần hơn, tôi lại bắt gặp một hiện tượng lạ nên gọi phone cho HH CTVALão. Sau ba điều bốn chuyện tôi đi thẳng vào vấn đề:

     - Hồi tối này, lúc gần cuối buổi tịnh luyện, tôi bỗng dưng thấy mình mất hơi thở luôn ông. Sợ quá bèn tự kiểm soát lại coi thì thấy mình còn thở, rất nhẹ và rất chậm tuồng như không thở, nhưng mà có thở. Rồi thấy trong người lục phủ ngũ tạng, phèo phổi gì gì làm như cũng ngưng nghỉ, hết hoạt động luôn. Nhưng mà có cảm giác đã lắm, lâng lâng, sảng khoái lắm, trong năm mười tíc tắc cái trở lại bình thường, thở bình thường...

     HH CTVALão cười nói:

     - Ðã lắm phải không? "Tụ Khí" được rồi đó! Chúc mừng, chúc mừng! Nhưng tại Hưng sợ nên để ý đến nó làm nó biến mất, chớ không thôi là tiếp theo đó sẽ có một lực chạy từ lòng bàn tay lòng bàn chân chạy ngược về thân và sẽ có hiện tượng "Khí lưu, Ðạo chuyển" làm co rút bắp thịt, nâng người mình lên như bay bổng...

     - Tôi có nói lại cho bà xã nghe thì bả nói bả cũng "bị" một hai lần như vậy (nhưng đàn bà ít ai tiết lộ ra, cũng kỳ ha)...

     - Ô, vậy sao?

     - À, mà sao ông không có ghi điều này trong sách?

     - Có chớ sao không, đọc kỹ lại đi...

     Tôi đọc kỹ lại rồi, ở trang 362, không có diễn tả "sự hụt hơi" của tôi mà chỉ là: "Khi Thần Khí sắp giao nhau, có triệu chứng như sau, lòng bàn tay lòng bàn chân sẽ có một lực chạy ngược về thân..." Sau này tôi có bàn qua với một hiền huynh đã nhiều năm tịnh luyện thì được cho biết thêm, đại để, "đó là trường hợp huynh đã rơi vào trạng thái đại định, và nếu trạng thái đó kéo dài thì dẫu bên ngoài mưa giông sấm chớp bão bùng đi nữa huynh cũng chẳng hay chẳng biết luôn."

     Sau đó là những ngày bọn tôi bận rộn lo cho buổi họp Ðạo đầu tiên tại Chicago. "Vạn sự khởi đầu nan, mà được như vậy thì cũng mừng rồi," lời nhắn nhủ của một trong các hiền huynh từ xa đến đã làm chúng tôi cảm thấy ấm lòng. Riêng tôi thì những ngày chay lạt dường như kéo dài ra thay vì 10 ngày mỗi tháng vì gặp ngay kỳ sóc vọng ba mươi mùng một. Chẳng biết có ảnh hưởng gì thêm cho sự tịnh luyện hay không mà vừa rồi, tôi lại chứng nghiệm thêm một hiện tượng lạ. Tôi phân trần với HH CTVALão:

     - Hồi tối này lạ lắm ông. Thay vì thường ngày tụi tôi thiền khoảng nửa tiếng, lần này tôi cố tình thiền dài hơn. Rồi, không đột nhiên hay bỗng dưng đùng một cái như lần trước, lần này từ từ, dần dần... tôi thấy một lực từ lòng bàn tay, lòng bàn chân chạy ngược về thân càng lúc càng mạnh, ấm ấm chớ không mát mát như trong sách. Nhưng có điều nó làm nhịp tim tôi đập nhanh lên, hơi thở tôi dồn dập, hổn hểnh lên, nên tôi hoảng quá chỉ sợ tẩu hỏa nhập ma nên ngưng lại, xả thiền. Lúc chà xát hai tay và hai chân vẫn còn thấy ấm ấm...

     - Ậy, như vậy là Hưng đã "Tụ Khí Gom Thần" được rồi đó. Mừng lắm! Ðây là hiện tượng Thần Khí sắp giao nhau, lực đó chạy về tim và tim cố đưa lên nê hườn cung. Ðây cũng là hiện tượng tạo Thánh Thai, cũng giống như người đàn bà đang cấn thai, có thêm thai nhi thì phải cần nhiều oxygen hơn, nhiều Tiên Thiên Khí hơn... Còn nữa, cũng có thể tâm tham sân si của Hưng còn nhiều, thân xác còn lắm trọng trược nên Khí muốn vượt lên gặp Thần bị trở ngại khó khăn. Nhưng không sao, cứ từ từ như anh ăn trộm lén vào nhà vậy, lần đầu thì sợ nhưng lâu ngày thì quen đi, trở thành tên ăn cướp như lời Thầy dạy... "Tiên Thiên cướp đặng mới nên cho!"

     - Sao ông không có ghi "sự hồi hộp" này trong sách gì hết vậy?

     - Hồi tôi tịnh luyện thì tôi được hết trong một lần!

     - Chắc căn cơ của ông lớn...

     Rồi bây giờ đây, ngay giây phút này, tôi đang ghi lại những dòng tâm bút, trước hết không phải để tự khen, tự hào, tự cao, tự đại... xin quý chư hiền hiểu giùm cho, mà chỉ nhằm một mục đích duy nhất là "báo cáo" cùng quý chư hiền, rằng thì là, tôi đã thí nghiệm phương cách thiền định theo quyển "Ðại Thừa Chơn Giáo - Phá Mê Thiền" của HH CTVALão và thấy có kết quả!

     Việc thành đạt hay té ngã của tôi trong tương lai thì, chẳng riêng gì tôi, nào ai biết được! Tuy nhiên, tôi cũng muốn ghi ra đây một cách chính xác những gì đã làm, để nếu được, thì quý chư hiền chưa tịnh luyện hoặc giả tịnh luyện nhiều năm mà chưa được ấn chứng có thể làm thử xem sao! "It won't hurt to try," bảo đảm không hề hấn chi, trong vòng vài ba tháng, chỉ đơn giản có vậy!

     Không phải là "sửa chơn truyền" từ "Phá Mê Thiền" của HH CTVALão, nhưng tôi nghĩ nếu chia làm 2 phần như thế này thì rõ nghĩa hơn:

     1. Sơ Thiền (Pháp Luân Vận Chuyển) : Tập thở bằng bụng rồi ngực, thiệt đầy thiệt xẹp, thiệt nhẹ thiệt sâu. Ý luôn luôn điều khiển và theo dõi hơi thở đi đâu. Ngồi bán dà hay trên ghế, mặt hướng về phương Bắc, mắt nhắm, miệng ngậm, lưỡi cong xong, đọc khẩu khuyết (nói thầm trong đầu) như sau:

     - Hít vô: Ðưa khí chơn dương lên ấn đường (tam tinh, điểm giữa 2 chơn mày).

     - Thở ra: Vòng qua đơn điền, xương sống, lên nê hườn cung (đỉnh đầu).

     Bởi do ý điều khiển (tưởng tượng dẫn Khí đi lơ tơ mơ vậy thôi nhưng ảnh hưởng mạnh lắm) nên đương nhiên chúng ta cảm nhận sự tê tê, rần rần ở tam tinh và đỉnh đầu (có khi lan ra cả trán hay nguyên cái đầu nhưng từ từ gom lại). Tập khoảng một tháng thì tự nhiên sẽ quên đi sự phình lên xẹp xuống của bụng và ngực. Chỉ còn biết... ý ra lệnh và theo dõi hơi thở mà thôi. Vì bận ra lệnh và theo dõi từng hơi thở ra vô nên ý (tâm trí) không còn nghĩ vớ vẩn nữa...

     2. Nhị Thiền (Thiền Ðịnh, Gom Thần Tụ Khí) : Cũng vậy, ngồi bán dà hay trên ghế, mặt hướng về phương Bắc, mắt nhắm, miệng ngậm, lưỡi cong xong, làm liên tục hai phần sau đây:

     - Hâm nóng (warm up, exercise): thở Sơ Thiền (Pháp Luân Vận Chuyển) như trên độ 5, 10 phút hoặc 24, 36 hơi thở ra vào.

     - Thiền Ðịnh: thở bình thường (không sâu không chậm nữa), đồng thời sang qua xớt lại giữa mắt và tai. Ðọc khẩu khuyết (nói thầm trong đầu) như sau:

         * Mắt: Hướng về ấn đường để thấy (tâm đăng, thái cực đăng,... độ 6 hơi thở, 6 lần là vừa,... chuyển qua tai).

         * Tai: Lắng nghe Lý Thiên Nhiên (từ nê hườn cung,... độ 6 hơi thở, 6 lần là vừa,... chuyển qua mắt).

     Cứ sang qua xớt lại giữa mắt và tai như vậy độ 30 phút lúc ban đầu rồi từ từ tăng lên 45 phút hay 1 giờ... Còn chuyện nghe với thấy thì... cái gì nó đến thì nó đến thôi! Xong xả thiền (xem Phá Mê Thiền), đi ngủ. Nói tóm lại là, so với 9 nấc thang trong Ðại Thừa cửu chuyển, chúng ta chỉ lo nấc thang thứ nhất, nấc thứ 2 trở lên sẽ do Ơn Trên bố hóa:

         Sơ Nhứt Chuyển lo tròn luyện kỷ
         Xây đắp nền Thần Khí giao thông
         Diệt trừ phiền não lòng không
         Thất tình lục dục tận vong đơn thành
         Tâm đạo phát thanh thanh tịnh tịnh
         Dưỡng Thánh Thai chơn bỉnh Ðạo Huyền
         Ngày đêm cướp Khí Hạo Nhiên
         Hiệp hòa Tánh Mạng hống diên giao đầu...


     Ðể kết luận, phương cách thiền định trên đây chỉ là một trong trăm ngàn phương cách, có thể thích hợp với người này mà không thích hợp với người kia, có thể có kết quả với người kia mà không có kết quả với người nọ, nói chung chung chỉ là tương đối. Phần "khẩu khuyết" của tôi cũng vậy, chư hiền cứ sửa lấy theo ý mình, miễn tròn đầy và phù hợp (smooth) với hơi thở là được rồi. Tóm lại, nơi đây, tôi chỉ mở thêm... một cửa vào thiền nữa để mời chư hiền bước vô tu. Và thương chúc quý huynh, đệ, tỷ, muội sớm thành công trên đường qui hồi cựu vị...

     Con kính cảm ơn Thầy Mẹ (Huyền Khung Cao Thượng Ðế - Diêu Trì Kim Mẫu), Sư Hư Vô đã ban nhiều hồng ân cho con và gia đình. Sau cùng, không quên cám ơn HH CTVALão đã chỉ dẫn tường tận từng bước một...

   back to top

11. BIẾT THÌ THƯA THỐT

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Trong Hành Trình Về Phương Ðông của Giáo sư Spalding, Nguyên Phong dịch, chương "Người Ðạo Sĩ Thành Benares," có một đoạn thảo luận như sau:

     Ðạo sĩ Ấn nhìn ông mỉm cười như đoán được ý nghĩ:
     "... Bộ thần kinh là chìa khóa vào cánh cửa tâm linh, do đó, hơi thở chính là lối vào tinh thần. Nhưng hơi thở chỉ là sự biểu lộ trên địa hạt vật chất của một sức mạnh tế nhị hơn. Sức mạnh này mới là cột trụ sinh hoạt xác thể và chính cái sức mạnh vô hình, vô ảnh ẩn tàng trong cơ thể chúng ta mới thực sự điều khiển đời sống. Khi nó rời xác thân thì hơi thở ngừng lại và sự chết đến. Sự kiểm soát hơi thở giúp ta làm chủ một phần nào luồng sinh lực vô hình này. Khi sự chủ trị xác thân được thực hiện đến mức cao siêu, con người sẽ kiểm soát được sự vận động các cơ quan trong thân thể như tim, gan, bao tử, phổi..."
     "Làm sao có thể được, tim ngừng đập là chết rồi còn gì?" Giáo sư Spalding kêu lớn.
     "Bạn không tin ư, được bạn hãy để tay lên ngực tôi."
     Giáo sư Spalding để tay lên ngực đạo sĩ và tay kia bắt mạch. Một sự rung động lạ lùng xảy ra, nhịp tim của đạo sĩ từ từ chậm dần và ngưng hẳn. Ðây là một ảo tưởng? Giáo sư vội giơ tay xem đồng hồ, đúng một phút im lặng rồi quả tim bỗng bắt đầu đập trở lại.


     Khoảng vài năm về trước, khi đọc đến đoạn này, hiển nhiên tôi cũng cảm nghĩ như bạn, rằng thì là, vừa phải thôi, ai mà có thể làm tim mình ngưng đập, hơi thở mình ngừng lại được nà! Nhưng bây giờ, sau mấy tháng tập tịnh luyện theo Cao Ðài Bí Pháp trong kinh "Ðại Thừa Chơn Giáo" (được khai triển rõ ràng hơn trong phần "Phá Mê Thiền" của hiền huynh Chiêu Tiên Vô Ảnh Lão, HH CTVALão), tôi lại có một cái nhìn rất khác, hầu như hoàn toàn trái ngược lại. Vì tôi đã trải qua trạng thái đó, đã biết được thế nào là sự rơi vào "đại định." Mà, có lần tôi đã nói sơ qua. Hơi thở nhẹ boong như không thở, khoan khoái vô cùng. Tuy chỉ trong tít tắc năm mười giây chớ không là tròn một phút như vị đạo sĩ người Ấn nêu trên. Mặc dù tôi biết bạn không tin hoặc bán tín bán nghi những sự việc có vẻ lạ lùng huyền diệu này, nhưng tôi cũng muốn nói ra đây để, biết đâu, bạn sẽ có những duyên may chứng nghiệm điều này trong tương lai.

     Trong "Dưỡng Chơn Tập" do Nguyễn Minh Thiện dịch, đoạn nói về chữ KHÍ có diễn tả "chơn tức" trong lúc rơi vào "đại định" như sau:

     Khí của phàm nhơn trước lên sau xuống, còn khí của chơn nhơn trước xuống sau lên. Khí có ra có vào gọi là phàm tức (hơi thở phàm), chẳng ra chẳng vào thì gọi là chơn tức (hơi thở thánh). Hễ phàm tức đã đình, thì chơn tức tự nó phát động.
     Hơi thở sở dĩ đình đây, chẳng phải là tại cượng bế mà chẳng cho ra. Ấy là tâm trống cho cùng bực, lặng cho hết sức, mà hễ tâm định nhiều chừng nào thì khí nó yếu lần theo chừng ấy. Theo phép này, bất kỳ đi đứng nằm ngồi, đều dẫn tâm đem về chỗ lặng lẽ, không tưởng việc sẽ tới, chẳng nhớ sự qua rồi. Lâu lâu, thần cùng khí hội, tình cảnh đều quên, thần ngưng khí kiết, chỉ có một hơi thở triền chuyển trong bụng chẳng ra chẳng vào, kêu là thai tức (hơi thở khi còn ở trong thai bào). Cái hơi thở nầy đã sanh, thì cố giữ trống lặng, luyện tinh hóa khí, thông thấu tam quan, rưới thấm ba cung. Ðó gọi là chơn thác dược, chơn lư đảnh, chơn hỏa hậu.


     Well , tôi chỉ nói gọn là "duyên may," chớ thực ra muốn có sự chứng đắc này không phải dễ! Nhưng cũng không phải là khó, thiệt là khó. Chẳng qua là chỉ cần ba điều kiện cần và đủ mà thôi. Một là do ơn trên bố hóa . Hai là do công đức mà mình đã tạo dựng được. Ba là tập giữ tâm không, chẳng xao lãng loạn động. Mà quan trọng nhứt vẫn là sự bố hóa của ơn trên, như các phần trích dẫn từ kinh "Ðại Thừa Chơn Giáo" đi kèm theo sau đây.

     Trong chương "Trung Tâm Ðạo Ðại Thừa" có ghi:

     Vậy nên đây Thầy dạy kỹ các con tu bực Ðại Thừa phải cần tầm nơi thanh khí mà hỗn hiệp âm dương, điều hòa đủ 8 lượng chơn dương, 8 lượng chơn âm làm thành một cân đại dược tại cung LY rồi điều dưỡng đủ thập ngoạt hoài thai, tam niên nhũ bộ thì cái chơn thần mới giao tiếp Tiên Thiên mà nhập xuất Thiên môn được; song cũng do nơi Thầy tùy công đức mà bố hóa cho các con.

     Tiết mục "Luyện Kỷ Tu Thân" còn có dạy:

     Hỡi các con! Các con phải bền chí, rắn gan, mà sớm tối tu tâm luyện tánh. Trên có Thầy ban ơn bố hóa gìn giữ cho các con, dưới các con hãy bền lòng, chịu những sự khảo đảo, khổ thân mà đền bồi oan trái.
     Sự thành Ðạo, tuy mau hay chậm, do Thầy bố hóa , nhưng cũng phải có các con. Các con cứ lo phận sự vuông tròn. Phàm hễ qui đặng tam bửu ngũ hành thì đắc thành Tiên, Phật; còn tán tam bửu ngũ hành thì đã đành làm ma làm quỉ.
     Ðời của các con có hai đường: siêu, đọa. Người biết giác tánh tu chơn thì thành chánh quả, còn kẻ mê tâm gây họa tất xa chỗ bổn nguyên.


     Chương "Sắc Không Luận" có đoạn văn vần như vầy:

         Không không mới thiệt diệu huyền,
         Chữ KHÔNG làm đặng thì Tiên trong đời.
         Ðể tâm KHÔNG Phật, Trời bố hóa ,
         Người tu hành chẳng khá bỏ KHÔNG,
         Chữ KHÔNG mầu nhiệm nơi lòng,
         Hành theo thấy rõ tâm không diệu huyền.


     Nhớ hồi nào tôi gọi điện thoại báo tin với HH CTVALão về sự "hụt hơi" của tôi thì, lẽ dĩ nhiên, ổng hiểu ngay tôi đã có "ấn chứng" và còn giải thích thêm... phải thế này, phải thế kia nữa. Ðể rồi tình thật, ngay chính tôi, tôi cũng còn phân vân không ít:

     - Gì mà lẹ vậy ta. Tui "thiền" ba trật bốn vuột vì cứ "sửa sai" liên miên khi hiểu ra điều này, nghiệm thêm điều nọ. Một trong những cái "sửa sai," hừm, đọc không kỹ thì đúng hơn, là khi sang qua phần "thiền định," phải giữ hơi thở như bình thường trở lại. Có nói cho bà xã biết nữa.

     - Ậy, thì do Thầy Mẹ bố hóa cho Hưng thôi. Tại vì Hưng có công phổ biến rộng rãi "Ðại Thừa Chơn Giáo - Phá Mê Thiền" trên Internet cho mọi người đều biết và cùng tham khảo đó mà. Công đức vô lượng à nghen.

     - Công đức vô lượng? Tôi thấy tôi đâu có làm gì gọi là công đức đâu nào?

     - Có viết tay trong "vài dòng chúc mừng họp Ðạo tại Chicago" cho Hưng rồi mà cũng không để ý hả? Thôi, lật "Ðại Thừa Chơn Giáo - Phá Mê Thiền" trang 258, chương "Mừng Kinh Kết Quả" sẽ thấy vậy.

     Quả là như vầy:

     Thầy rất mừng ngày giờ chót của quyển "Ðại Thừa Chơn Giáo" đã kết quả mỹ mãn: các con khỏi bị dưới quyền tà quái cám dỗ làm nghịch lẫn nhau. Ấy là cái đặc ân quá lớn, các con nên vui mừng cùng nhau đặng cầu nguyện hằng ngày, ước mong sao quyển "Ðại Thừa" đánh thức cả sanh linh thì công đức các con biết bao nhiêu kể.

     Wow , thì ra cũng có lý quá! Mải sau này tôi mới biết thêm là hầu hết những ai có ấn chứng, kể cả HH CTVALão, đều phải mất trung bình sáu tháng (không phải khoe nha mà để cho thấy tầm quan trọng của sự bố hóa do ơn trên)! Và chính vì vậy tôi cặm cụi cầm bút viết ngay, liền tù tì: "Một Cửa Vào Thiền." Ðặc biệt trong bài này, theo thứ tự thời gian, tôi có trình bày qua bốn lần tôi nhận được ấn chứng! Chung chung thì lần thứ nhứt là "mùi hương đặc biệt" trong lúc ngồi thiền, tập theo khóa Hạnh Ðường, do Cao Ðài Giáo Hải Ngoại tổ chức tại Thiên Lý Bửu Tòa, San Jose, California. Lần thứ hai tôi nghe "tiếng dế ro ro, nhè nhẹ" bên tai. Lần thứ ba tôi bị (được thì đúng hơn) "mất hơi thở," rơi vào "đại định." Lần thứ tư tôi cảm nhận được "điển lực từ lòng bàn tay, lòng bàn chân chạy ngược về tim" làm tôi sợ... tẩu hỏa nhập ma.

     Mèn ơi, xui xẻo và quê một cục, tính tới... khoảng một tuần lễ sau ngày tôi phổ biến "Một Cửa Vào Thiền" trên Internet, tôi lại không nhận thêm được một "ấn chứng" nào khác hết! Um, trong bụng thầm lo, đánh lô tô, rằng thì là, chẳng lẽ những "ấn chứng" mình nhận được đều là những "ấn chứng giả" hết hay sao? Vì, "xảy ra" chỉ mỗi một lần mà thôi, chưa bao giờ được lập lại lần thứ hai! Hay là, đúng như nhiều người đã khuyến cáo, nếu được ấn chứng mà làm tài khôn nói ra cho người khác nghe thì kể như ấn chứng của mình sẽ bị mất vĩnh viễn! HH CTVALão nữa, ổng nói "như vậy là Hưng được ấn chứng rồi, chúc mừng" nghe cũng chắc như bắp rang mà! Hổng lẽ cũng "dổm" luôn sao! Than ôi!

     Tuy nhiên, nói nôm na ra là... trời bất dung gian đảng, và có lẽ là tôi không thuộc gian đảng nào hết, nên bỗng dưng một đêm đẹp trời ngày đó, tôi lại cảm nhận được "điển lực rút về tim từ lòng bàn tay, bàn chân" lần thứ hai. Mừng quá, mừng hết lớn thì thôi! Và cũng chẳng còn sợ sệt bị tẩu hỏa nhập ma gì cả!

     Ngẫm nghĩ lại, muốn biết ấn chứng giả hay thiệt cũng dễ dàng thôi. Phần lớn ấn chứng do cảm nhận từ mắt, tai, mũi, miệng, nói chung là do lục căn tiếp xúc với lục trần. Thiền định là hướng về bên trong cho nên nếu thấy, nghe, ngửi, nếm những gì từ bên ngoài thân đều có thể nghi ngờ là giả. Năm mươi, năm mươi thôi chớ chẳng phải là giả một trăm phần trăm đâu. Vì ngài Ngô Minh Chiêu thấy Thiên Nhãn ngoài thân kia mà. Nhưng, nếu thấy, nghe, ngửi nếm từ bên trong thì hiển nhiên không thể nào giả được. Tỉ dụ như thấy trong đầu, nghe từ tim, ngửi từ óc, nếm từ tâm, v.v... thì những cảm nhận này rất khác, không giống với những cảm nhận bình thường.

     Thiển nghĩ, thật tình mà nói, nhiều bạn chưa có ấn chứng có thể sẽ bảo tôi là ba xạo, đặt điều nói chuyện thần tiên (fairy tale), chuyện trên trời dưới biển mua vui. Cũng không phải là không đúng. Song, đối với những người mà đoạn trường mình đã qua cầu thì họ sẽ hiểu ngay là tôi muốn nói gì và có thể thầm bảo tôi là múa rìu qua mắt thợ. Thật cũng chẳng sai. Nói trắng ra là, chỉ người nào đã từng uống qua... ngụm nước trà thì mới biết hương thơm vị ngọt của trà là thế nào mà thôi. Ðó là chưa nói đến Thiết Quan Âm hay Ô Long mà nhiều người đã nhấp nháp qua, được gọi là hạng sành điệu. Chớ còn những ai xưa nay chỉ biết qua nước lã, nước lọc, nước mưa thôi thì cũng khó mà hiểu được nước trà là nước quái gì!

     Phận tôi, tuy nói nghe ngon lành vậy nhưng cũng chỉ là đang tập tễnh ở bước đầu mà thôi, đơn giản là, đang "luyện tinh hóa khí." Còn ba bước kế là "luyện khí hóa thần," "luyện thần hườn hư," "luyện hư hườn vô" như Thầy đã dạy thì hà hồi phân giải. Luyện được cùng không thì chắc cũng còn tùy căn cơ, nghiệp quả!

     Trong "Dưỡng Chơn Tập," đoạn bàn về chữ TINH có ghi rõ như sau:

     Chơn nhơn luyện tinh ra khí, phàm nhơn hóa khí làm tinh. Người xưa tỉ nó như diên (chì) là bởi nó có tánh trầm trọng hay lọt mất, ví nó như cọp là bởi nó rất hung hăng khó phục hàng.
     Người học Ðạo cố thủ mà chẳng để cho nó mất, gọi là trúc cơ (đắp nền).
     Thần, khí, tinh thường muốn tán. Người ta chỉ lưu trụ nó lại được, đừng cho tán mất thì mới có thể trường sanh.
     Ngụy Bá Dương nói rằng: Phàm nói sưu diên thiêm hống, thiệt là hườn tinh bổ não.
     Ghi chú thêm: Sưu diên thiêm hống là rút hắc diên (chì đen) mà trợ thủy ngân. Thủy ngân gặp lửa thì bay, nay nhờ hắc diên, nên thủy ngân bị chế, bèn kiết thành khối mà chẳng đặng bay được nữa. Ðây là lý lấy dương chế âm. Lòng người (nhơn tâm) dễ động, ra vào không chừng, thấy cảnh thì sinh tình, cũng như thủy ngân gặp lửa thì bay vậy. Còn lòng Ðạo (Ðạo tâm) thường trụ, tùy thời giác sát, thì lòng người không cảnh mà sanh, cũng như thủy ngân nhờ có hắc diên mà được ngưng kiết vậy.


     Tuy nhiên, ngay ở bước đầu này thôi, chuyện tỉnh tâm gom thần tụ khí đêm đêm mà có kết quả cũng đâu phải dễ dàng. Vì, chắc chắc không riêng gì tôi, ai đã vào trường ứng thí cũng đều than vãn, rằng thì là... bữa có bữa không! Lạ há! Ðể rồi tự an ủi, ư, nếu bữa nào cũng như bữa nào, đều cũng có dòng khí lưu (chưa dám nói tới đạo chuyển, hihi...) tức là điển lực chạy về tim từ lòng bàn tay, bàn chân thì thế gian này chúng sanh thành Tiên, Phật hết rồi.

     Tại sao bữa có bữa không? Thì như trên tôi đã nêu, ba điều kiện cần và đủ, là ngoài ơn trên bố hóa, công đức tạo dựng, mình còn phải có "tâm không" lúc tịnh luyện nữa chớ! Tâm chẳng không, tức tâm vọng động, vì nhiều lý do. Hằng ngày chung đụng với mọi người trong lúc làm việc như thế nào? Có chuyện gì làm mình bận tâm, bực bội không? Về đến nhà thì ngày nay mình ăn những món gì? Bổ dưỡng nhiều quá, tinh tạo nhiều quá có tốt không? Hay phải cần "xả sút báp!" Ăn cơm có canh tu hành có bạn, nhứt là bạn đời gần gũi giúp đỡ lẫn nhau! Cần lắm! Hầu giữ mức trung dung (Khổng Thánh chỉ rành), không thái quá, không bất cập! Hoặc đã luống tuổi về chiều, tinh khô khí tận? Rồi, mùi dầu mở, chiên xào sao mà tràn ngập cả nhà thế này? Tiên thiên khí chắc cũng bị ô nhiễm luôn! Thay cái miếng lọc bụi (filter) cho lò sưởi (furnace) chắc đã hít đầy bụi vào hai buồng phổi rồi... Mèn ơi, vân vân và vân vân, kể hoài không xuể những điều làm tâm mình chẳng yên. Ðó chỉ là tâm hiện tại thôi chớ chưa nói tới tâm quá khứ, tâm vị lai, tam tâm tà!

     Trong "Ðại Thừa Chơn Giáo," chương "Thất Tình Lục Dục - Tam Thi Cửu Cổ," Thầy có dạy:

     Một đám giặc liệt cường tài trí đánh phá ruồng trong núi cao, non thẳm còn dễ trừ dẹp đặng, chớ mối loạn nơi tâm khó mà diệt đặng cho yên, nhứt là ma lục dục: Nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân, ý, nó phá hại hằng ngày.
     Nhãn thì ưa màu sắc tốt đẹp.
     Nhĩ thì thích nghe những giọng nói tao nhã, thanh bay.
     Tĩ thì ưa mùi thơm, hơi ngọt.
     Thiệt thích nếm vật lạ món ngon.
     Thân thì mến vợ đẹp, hầu xinh, cả dục tình, còn dâm niệm.
     Ý lại tư tưởng việc vất vơ, quấy quá, mà nhứt là Ý là mối hại cho con người. Nó tư tưởng sự này sang sự nọ, chuyện ấy hết đến chuyện kia. Nó xẹt vô, nhảy ra, lẹ làng không chi ngăn đón nó đặng. Nên mới cho nó là đứa ăn trộm tài nghề, xách món này, lấy vật nọ mà trước mắt muôn người có ai thấy.


     Thật vậy, lúc ngồi thiền, giữ Ý chằng chằng đi theo lời khẩu khuyết (nói thầm trong đầu) mà lâu lâu ngó lại nó đã nghĩ vẩn vơ ở nơi khác. Lòng dặn lòng đừng có lo ra nữa, tập trung tư tưởng vào việc... sang qua xớt lại giữa mắt và tai! Trong chương "Hòa Hiệp," Thầy dặn kỹ:

         Người tu khử trược lưu thanh,
         Dụng công hòa hiệp mới thành Phật, Tiên.
         Ngũ hành hiệp nhứt thăng thiên,
         Ðiều hòa thần khí hống diên giao hòa.
         Ðịnh tâm chế luyện tinh ba,
         Biết phương sớt lại sang qua thì thành.


     Còn nữa, Thầy, tá danh vào Ngôi Hai của Ðức Chúa Trời, trong chương "Nhơn Vật Tấn Hóa" cũng có dạy thêm đoạn này như sau:

         KHẢM LY trở lại KHÔN CÀN,
         Hà Ðồ chánh Ðạo, sái đàng Lạc Thơ.
         Tu đơn luyện kỹ bốn giờ,
         Hống Diên giao cấu đợi chờ thuốc sanh.
         Dưỡng châu Bát Quái vận hành,
         Như gà ấp trứng, mèo rình chuột ra.
         Luyện đơn lấy thuốc Tiên gia,
         Xông riêm thần khí điều hòa đắc linh.


     Tôi khoái ở chỗ... mèo rình chuột ra. Số là đêm đêm ngồi tịnh luyện, dần dà mình cũng biết trước lúc nào thì "chuột ra," nói nôm na là... điển lực sắp sửa chạy trong người. Thông thường, khi làm "Pháp Luân Vận Chuyển" thì trong lòng bàn tay, bàn chân đã có lực chạy vòng vòng, rần rần, ấm ấm rồi (đúng là giống như gà ấp trứng). Khi chuyển sang "Thiền Ðịnh" thì lực đó càng lúc càng tăng theo thời gian mình giữ được tâm không, xem như khí tụ. Ngược lại, nếu không giữ được tâm không thì lực đó sụt xuống, xem như khí tán. Có điều đáng nêu, đáng chú ý là khi điển lực chạy thì hơi thở của mình cũng chậm lại ngay, coi như còn khoảng phân nửa lúc thở bình thường. Khoan khoái, khoẻ khoắn chút đỉnh thôi chớ không bằng rơi vào "đại định!" Bởi vậy cho nên... mèo rình chuột ra là lúc thấy điển lực cao, tụ khí nhiều, thì mình tự động làm chậm hơi thở lại (manual reduction), có thể gọi là mớm hơi, thì điển lực bắt theo đó mà chạy ngay. Ví như mèo chụp được chuột, và lẽ dĩ nhiên, cũng có nhiều khi mèo chụp trật lấc!

     Ðể kết luận, vấn đề có ấn chứng hay không có ấn chứng rất ư là quan trọng. Và, vấn đề luyện đơn, tạo Tiên, tác Phật, thiển nghĩ, các ấn chứng phải giống nhau, chỉ có một kiểu cách mà thôi. Tu theo pháp môn nào chẳng cần biết, nếu có ấn chứng thì coi như mình đi đúng đường. Không có ấn chứng coi như mình đi lạc nẻo, cần phải điều chỉnh, "sửa sai." Như chính bản thân tôi cũng còn "sửa sai" dài dài. Ðừng vội nói... tu không cần ấn chứng mà "tội nghiệp" cho Thầy đã khan cả cổ giải bày (trong chương "Tầm Tu Chơn Ðạo"):

     Các con phần nhiều tu có tu, mà hành không chịu hành.
     Tu là sao?
     Hành cách nào?
     Chữ Tu Hành các con hằng nói mà các con không chịu tham khảo cho ra cái nguyên lý của chữ Tu Hành, rồi tu mãi không thấy ấn chứng (chẳng thành) thì các con lại ố Ðạo của Thầy mà theo kẻ manh sư, lạc vào bàng môn ngoại Ðạo.
     Thầy chỉ sơ cho các con tường chỗ Ðạo:
     Ðạo Thầy là vô vi thì dẫu cho sự chi cũng dùng vô vi mà chuyển hóa.


     Như trên, Thầy đã khẳng định... tu không có ấn chứng là chẳng thành. Cho nên bổn phận mình là người tu, mình phải biết theo chủ nghĩa "xét lại." Sau một thời gian tịnh luyện đôi ba năm mà chẳng có gì nhúc nhích, rục rịch bên trong lục phủ ngũ tạng thì phải thay đổi cách thức hoặc bổ túc những gì thiếu sót. Biết rằng rất khó khăn, chẳng dễ làm vì đã quen lề lối cũ, nhưng nếu muốn đắc thành Tiên, Phật thì phải có đại trí, đại hùng, đại lực! Nhứt là những người đang giữ nhiệm vụ truyền giảng, hướng dẫn các lớp thiền định phải tự hỏi chính bản thân mình đã có chứng có đắc hay chưa cái đã! Chớ chưa biết bơi mà đi dạy chúng sanh lội thì coi sao cho được? Tội lỗi ngập đầu! Bằng không thì nên học nằm lòng câu cuối (bottom line) của đoạn này đây (trích trong chương "Cử Chỉ Tánh Hạnh Người Tu"):

         Biết phương khử trược lưu thanh,
         Luyện tinh hóa khí, vận hành thần thông.
         Tập rèn tâm tánh Không Không
         Thỉ chung Ðạo đức gát vòng trần ai.
         Luyện sao cửu khiếu phát khai,
         Thiên môn rộng mở Linh Ðài qui nguyên.
         Mới là thành Phật đắc Tiên,
         Vô vi hiệp nhứt Tiên Thiên diệu mầu.
         Tu hành có dễ gì đâu!
         Lạc sai luyện đến bạc đầu như không.


     Thêm một điều nữa làm tôi cần phải ghi lại những gì tôi chứng nghiệm, là bởi vì theo HH CTVALão, xem như người đi tiên phong, cho biết: Những ấn chứng mà tôi có được trong giai đoạn "luyện tinh hóa khí" này sẽ mất đi, nhường chỗ cho những ấn chứng khác trong thời gian sắp tới, lúc "luyện khí hóa thần." Kể ra cũng uổng, nhưng một khi người học trò biết giải các phương trình đại số, số học thì cần gì cửu chương!

     Vả lại, gần đây, nhiều người bỗng dưng bàn tới đề tài Quyền Pháp! Bàn tới cái trứng gà mà không có ngòi thì sẽ chẳng bao giờ thành con gà! Có thể xem như vật gì, sự việc gì mà nếu không có Quyền Pháp do Thầy ban cho, tức không có Ðạo thì sẽ không bao giờ sanh sanh, hóa hóa? Riêng tôi thì tôi đọc được một câu ưng ý trong lời dạy của Ðức Lý Giáo Tông: Chưa biết mà làm là nông nỗi, đã biết mà không làm là hèn nhát. Vì không muốn làm người hèn nhát nên tôi nghĩ tôi có bổn phận... biết thì thưa thốt, phải la làng lên...

   back to top

12. MA THẤP, MA CAO

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Ðây là nói về thuở ban đầu mới tịnh luyện, "sơ nhứt chuyển lo tròn luyện kỷ." À, kỷ dấu hỏi thì chẳng phải là "luyện kỹ lưỡng" một điều gì ráo! Mà "kỷ" là chính mình, giống giống như "tiên trách kỷ hậu trách nhơn," tức là "trước hãy trách mình rồi sau hãy trách người." Thì ra "lo tròn luyện kỷ" chẳng qua là lo tròn việc tu thân, sửa tánh mà thôi. Tiếp theo nữa là "xây đắp nền thần khí giao thông, diệt trừ phiền não lòng không, thất tình lục dục tận vong đơn thành." Ậy, chuyện diệt phiền não, giữ tâm không, đoạn thất tình lục dục đâu phải dễ! Tham sân si từ thân khẩu ý cứ xuất phát ào ào, chạy nhảy lung tung hoài. Họa hoằn lắm thì chỉ nghỉ ngừng tạm bợ trong những phút giây tịnh luyện mà thôi. Rồi lại "tâm đạo phát thanh thanh tịnh tịnh, dưỡng thánh thai chơn bỉnh Ðạo Huyền, ngày đêm cướp khí hạo nhiên, hiệp hòa tánh mạnh hống diên giao đầu." Ô hay, chỉ trong sơ cơ, nhứt chuyển, nhứt bộ thôi mà có đủ hết, nào là thần khí giao thông, nào là thánh thai, xá lợi, kim thân, nào là hống diên (tức âm dương) giao hợp. Hóa ra là làm Tiên tại thế dễ dàng quá rồi còn gì nữa...

     Tôi đọc tới đọc lui, nghiền ngẫm nhiều đoạn kinh sách đến nỗi thuộc lòng luôn mà văng vẳng bên tai vẫn nghe tiếng hiền huynh Chiêu Tiên Vô Ảnh Lão (HH CTVALão) căn dặn:

     - Người thiền định thì căn bản là tai với mắt. Mắt xem kinh (bất cứ kinh sách gì), tai nghe tụng (bất cứ băng audio cassette nào) thì trừ được những sự giao động, bất an trong lòng. Tôi đã trải qua nhiều rồi, chuyện lời qua tiếng lại của Hưng trên NET chỉ là ba cái lẻ tẻ, chẳng nhằm nhò thấm thía vào đâu. Vờ đi, coi như không có là xong. Khi mình quyết tâm tu hành thì mình phải chiến đấu với ma vương, quỷ chúa. Ðừng để bọn nó xem thường, Tiên Phật gì ông, tôi mới khều nhẹ ông một cái là ông đã ngã. Ðây không phải là bị khảo đảo như mọi người hay nói, vì Hưng chẳng làm điều gì sái quấy khi tỏ ngộ sự chứng đắc của mình. Mà chỉ là một cuộc khảo thí mà thôi, hễ đậu thì lên lớp, học cao hơn. Thí sinh nào mà không mong mỏi đến ngày lều chõng lên đường đi thi chớ. Ráng đậu nghen, đừng sợ. Nên tịnh luyện thêm giờ, ngồi thiền lâu hơn một chút. Không kết quả đêm này thì cũng đừng lơ là trong đêm tới. Chớ đừng để mất luôn ấn chứng thì khó lòng tìm lại được lắm nghen...

     Ừa, thì tiếp tục nghe tụng, xem kinh. Sang qua xớt lại giữa mắt và tai. Ðể thay đổi bầu không khí, thay gì đọc Ðại Thừa Chơn Giáo tôi lôi ra cuốn sách cũ thiệt cũ, cuốn "Huyền Diệu Cảnh" của Lý Trần Tử tức Lý Xương Nhơn. Wow, sách được in ra từ triều Ðại Thanh, đời vua Ðồng Trị, năm thứ năm, tháng hạnh, ngày rằm. Còn bản dịch ra tiếng Việt của hai ông Vương Xương Hà và Thiện Pháp cũng có ghi rõ vào thời Nam Kỳ thuộc địa, năm Ðinh Mẹo, tháng hai ngày mùng chín (tức là ngày 12 tháng 2, năm 1927 theo Dương lịch). Sách chia làm ba quyển, thượng trung hạ, và ngay trong đoạn kết của chương đầu "Sanh Nhơn Sanh Tiên," quyển thượng "Nhập Ðạo Chơn Thuyền," có ghi rằng:

     Người mà cướp được cái khí hạo nhiên ấy của đấng Tạo hóa và lấy sức thần công mà vận tải khí hạo nhiên cho hay, và cướp đặng huyền khí của hư vô, mà luyện bát bửu kim đơn ắc dưỡng thành đặng Thánh Thai, thì dương thần được siêu xuất nơi trong khí hư không. Vậy thì liễu Ðạo thành Thánh, có khó chi. Vậy mới nói Tiên Thiên Ðại Ðạo rất vắn, rất dễ, rất quí, rất tôn.
     Nếu tâm chẳng đặng chơn thiệt thì chẳng khỏi "ÐƯỢC DỄ MÀ MẤT CŨNG DỄ." Ắc phải bị duyên lành qua khỏi, thì muôn kiếp cũng khó gặp cơ hội tốt như vầy trở lại được.


     Ông mẹc ơi, như vậy được ấn chứng cũng dễ mà mất ấn chứng cũng dễ, tạo Thánh Thai cũng dễ mà mất Thánh Thai cũng dễ? Tại sao? Nguyên do nào bị mất? Rõ ràng chỉ bởi, tại, bị, vì cái "tâm chẳng đặng chơn thiệt" mà thôi! Nhưng thử hỏi, đâu có ai sống nơi cõi ta bà này mà dám vỗ ngực huênh hoang cho mình là luôn luôn giữ được tâm chơn thiệt đâu! Hoạ hoằn chỉ là những vị đã đắc thành Tiên, Phật tại thế!

     Xong phần đọc kinh, tiếp đến nghe băng, cuốn "Lời dạy của Ðức Cao Ðài." Nào là "Tồn Tâm Dưỡng Tánh," "Giới Ðịnh Huệ," "Ðạo Ðức," "Ðức Tin," v.v... Có mấy câu trong "Giới Ðịnh Huệ" cũng cần học thuộc lòng:

         Nên Thầy dạy qui điều ngũ giới
         Cho các con soi rọi nhắc lòng
         Nhắc lòng ngũ giới hạnh thông
         Cũng như nước đục lóng trong nhờ phèn
    
         Sự cúng lạy con nên sốt sắn
         Trừ nghiệp thân cho đặng tinh anh
         Kệ kinh miệng đọc lòng thành
         Ðể trừ nghiệp khẩu khỏi sanh não phiền
    
         Con ngày đêm tâm thành cầu nguyện
         Ðể diệt trừ vọng niệm ý tà
         Tứ thời trẻ ráng gần xa
         Nhìn ngay thiên nhãn thì là thần gom...


     À há... câu "nhìn ngay thiên nhãn thì là thần gom" này phải hiểu và áp dụng trong phạm vi hữu hình, cúng bái mà thôi. Lúc thiền định thì "thiên nhãn" tức là "Thầy" trong phạm vi vô vi cũng trở thành vô thanh, vô sắc thì còn gì nữa mà nhìn. Vả lại đang nhắm mắt kia mà... Nói gì thì nói đêm đó tôi ngồi thiền không kết quả. Khí lực tụ ở lòng bàn tay, lòng bàn chân rần rần, mà rút chạy, lưu chuyển thì tuyệt nhiên chẳng thấy nhúc nhích. Hai đêm liên tiếp rồi nghen. Muốn giữ tâm không mà giữ không được vì nạn "ma cao" quấy nhiễu trong mấy ngày qua. Ðúng như Thầy đã dặn trong cuối chương "Quân Tử Tiểu Nhơn" qua bài Hựu:

         Sen cúc mùa Thu ngát phấn hương,
         Giữ gìn nên bứng để trong tường,
         Ðạo cao nhiều lúc ma cao phá,
         Phòng những dục tâm dắt lộn đường.


     Qua ngày sau khi đi làm về thì bổn cũ soạn lại. Không lên NET, chỉ xem kinh kệ và nghe tụng niệm như lời dặn dò của HH CTVALão. Ðây là đoạn nói đến kinh "Huyền Diệu Cảnh" quyển trung "Tâm Pháp Trực Chỉ," chương một "Quyết Ngưng Thuyết," phần cuối được ghi như sau:

     Nếu muốn cho liễu đạo, đặng ra khỏi vòng luân hồi, thì phải tìm chơn sư chỉ chơn quyết và máy huyền diệu, đặng mà luyện huyền cơ, và chỉ phép hữu trung hóa vô, vô trung biến hữu (phép có mà hóa ra không, không mà biến ra có), hình phép diệu dụng. Hữu vi nghĩa là: Khi chưa tu thì trong lòng muôn việc chi đều là hữu hình. Khi gặp đặng chơn sư truyền chỉ, bày cách luyện kỷ, thì trong cái tâm mình nó trở nên vô vi; muôn việc đều không biết đến nữa. Rồi lần lần sau sẽ luyện trúc cơ (đắp nền) một trăm ngày, vận tiểu châu thiên, an lư lập đảnh, mà hạ luyện thuốc kim đơn. Trong mấy phép ấy thì có mượn tên giả mà đặt cho mỗi việc. Vậy chẳng phải không mà ra có sao?
     Còn lúc mười tháng hoài thai, thực khí tuyệt dứt (hết muốn ăn), trăm mạch trong mình đều định lại: yểu yểu minh minh mờ mờ mịch mịch, lặng lẽ đại định. Dường ấy chẳng phải là có mà hóa ra không hay sao?
     Lúc ba năm nhũ bộ, chín năm diện bích thì dương thần xuất hiện, biến hóa vô cùng. Như vậy chẳng phải là có hay sao?
     ...
     Còn phía sau có tam quan, cửu khiếu, là mấy đường kinh lộ để luyện linh đơn đó. Còn phía trước cũng có tam điền, cửu khiếu là những chỗ tụ khí mà luyện linh đơn. Còn chỗ khí huyệt phát xuất Huyền quang khiếu, ấy là cái khiếu trong cái khiếu sanh ra (khiếu trung chi khiếu). Phật Tiên Thánh đều tại nơi cái khiếu đó mà sinh ra. Nếu không gặp chơn sư chỉ khiếu ấy cho mà luyện, dầu có tu đến già đến chết cũng không có thể thành Tiên Thánh đặng.


     Những điều trình bày trên đây xem ra cũng tương tự như những gì Thầy đã chỉ dạy trong "Ðại Thừa Chơn Giáo - Phá Mê Thiền." Qua các giai đoạn luyện tinh hóa khí (gom thần tụ khí cho đến lúc có luồng điển lực lưu hành trong thân thể), luyện khí hóa thần (có khí lưu thì dần dà sang qua đạo chuyển và tạo được Thánh Thai), luyện thần hườn hư (phải lo thập ngoạt hoài thai, tam niên nhũ bộ, đưa chơn thần lần lần từ dưới hạ đơn điền qua trung đơn điền lên thượng đơn điền rồi mới xuất chơn thần), và luyện hư hườn vô (cửu niên diện bích có nghĩa là chín năm sống ở trần nhưng bất nhiểm trần). Nhưng, thật sự "Hễ hườn hư thì tức nhiên Ðạo chuyển (chớ hườn hư rồi còn chi mà luyện) , như Thầy đã dạy trong phần "Luyện Kỷ Tu Thân," nên xem như chẳng còn tịnh luyện mà tu học thẳng từ các đấng thiêng liêng trong cõi hư vô...

     Trong "Lư Ðảnh Luận," kinh "Huyền Diệu Cảnh," có ghi thêm:

     Khi ngưng thần cho nó vào trong khí huyệt, lúc ấy thần là đảnh, khí là lư. Khi thuốc sanh, khí là đảnh, đơn điền là lư. Lúc lấy thuốc vô lò, khí là đảnh, thần là lư. Lúc vận khí đặng thể thủ, thần là đảnh, khí là lư. Khi vận khí lên càn cung (trên đầu), càn là đảnh, khôn là lư. Lúc giáng hạ qui căn, ly là đảnh, khảm là lư. Khi vận đại châu thiên, khí là đảnh, thần là lư. Lúc tam niên nhũ bộ và thần xuất nhập, khí là đảnh, thần là lư... Nói tóm lại, hễ ở trong hay ở trên là đảnh (chảo), còn ở dưới hay ở ngoài thì gọi là lư (lò). Dẫu có ngàn thí muôn dụ đi nữa cũng là thần khí mà thôi, chớ chẳng có chi khác hơn nữa.
     Muốn tu luyện kim đơn, trước hết phải lo lập tam điền, là: (1) Hạ đơn điền là chỗ luyện bá nhựt trúc cơ thành đơn, (2) Trung đơn điền là chỗ dưỡng thai trong mười tháng (thập ngoạt hoài thai), (3) Thượng đơn điền là chỗ tam niên nhũ bộ, xuất thần tại nơi đó. (4) Còn mạch nhâm mạch đốc là hai đường của thần khí qua lại lên xuống.


     Tuy nhiên, chương "Ðiều Ngoại Dược Luận" này lại có điều gì bí ẩn và coi bộ không ổn đây:

     Ông Ly Trần Tử nói rằng: "Hễ ngoại thận cử động, thì trong mình mình là hượt tý thời." Hượt tý thời là cái giờ sống giờ sanh.
     Ngoại thân (con cu) là dâm căn (gốc của sự dâm dục). Dâm căn cử động thì phải lo mà hồi quang phản chiếu, nhẹ nhẹ như còn một chút hơi thở vậy.
     Ðức Lữ Tổ (Lữ Ðồng Tân) nói rằng: "Hễ ngoại thận cử động thì phải thí công (là nấu luyện vận điều), còn ngoại thận tịnh thì ngủ." Như trong lòng mình còn vọng niệm, làm cho cử động, thì chẳng nên nấu luyện. Nếu nấu luyện thì thành ra huyễn đơn. Khi nào vô niệm mà ngoại thận cử động, thời mới lấy thuốc mà luyện. Tuy luyện có một giây phút đó, cũng là cướp công phu của Tạo Hóa (trời đất). Hoặc khi mình đi, đứng, nằm, ngồi mà gặp ngoại thận tự nhiên nó cử động, phải mau mau lo hồi quang phản chiếu, ngưng thần cho thần nó qui căn hết.


     Ậy da... bao nhiêu đó cũng đủ phần mắt, giờ đến phần tai. Tình cờ tôi lại bỏ vô máy cassette nghe qua bộ "Thần Cơ Thật Luận" của tôn giáo bạn, Phật giáo Hòa Hảo. Có chuông, đại hồng chung. Và có mõ, loại mõ lớn đánh nghe cum, cum chớ không phải chóc, chóc như những cái mõ nhỏ. Tóm tắt là nghe đã lỗ nhĩ lắm. Tôi ghi sơ lại phần "Giới Ðịnh Huệ" như vầy:

         Muốn thành Phật mà không đại chí
         Khó thắng qua lũ quỉ trong đời
         Ðứa này kêu cái đứa nọ mời
         Ðã làm biết bao người sa ngã
    
         Kẻ dục vọng còn nằm trong dạ
         Chưa hoàn toàn phóng xả cõi tâm
         Mặc dầu là ngồi giữa thiền lâm
         Chưa chắc khỏi đời làm cho hoại
    
         Trong trần tục không còn một mảy
         Dầu ở nơi đường cái chợ đông
         Cũng như ngồi ở chốn vắng không
         Vẫn giữ được cõi lòng thanh tịnh
    
         Phật tâm tịnh đức nào cũng định
         Trước Phật như trước cảnh người đời
         Vẫn bình tâm chẳng sợ đổi dời
         Người tu phải xong nơi định ấy
    
         Ðịnh không có huệ không phải thấy
         Huệ không thì khó giải nghiệp mê
         Muốn định thì phải tịnh mọi bề
         Tâm thật tịnh thì kề định huệ
    
         Ðịnh huệ vốn hoàn toàn liên hệ
         Như đèn dầu không thể tách đôi
         Ðịnh được rồi thì huệ đến nơi
         Huệ có bởi định rồi mới có
    
         Ðịnh huệ đủ tâm thần sáng tỏ
         Như giấc mê được mở mắt ra
         Cảnh mộng và cảnh thật khác xa
         Mê thấy khác tỉnh ra thấy khác
    
         Chưa định huệ như mù đi lạc
         Ðịnh huệ như mắt sáng đúng đường
         Kẻ hoàn toàn không biết hướng phương
         Người thật rất thông đường đi tới...


     Rồi bên tai văng vẳng như cũng còn nghe những lời hỗ trợ mới của HH CTVALão:

     - Mình phải giữ vững niềm tin nghen Hưng. Ai mà được ấn chứng là có Thầy ngự trị nơi nê hườn cung và được ban quyền pháp. Còn những kẻ đi ngược lại thiên ý, ngăn trở việc phổ biến Ðại Thừa Chơn Giáo - Phá Mê Thiền thì trước sau gì họ cũng nhận lãnh những hậu quả của luật phản kích mà thôi. Khi nghe lời tỏ ngộ của một người có ấn chứng, cho dù giả hay thiệt đi nữa cũng không cần biết, cử chỉ của một người tu hành đúng đắn là chúc mừng cho người ta chớ không ai mở miệng nói "thùng rỗng kêu to" hết. Nhớ nghen, tập vờ đi như tập lội ở chỗ sâu. Mình đang đi đúng đường nhưng dĩ nhiên phải có chông gai. Phổ đạo phải như vậy, khó gắp trăm ngàn lần phổ độ, chớ dễ quá thì ai cũng làm Thần Tiên hết rồi. Nãn lòng là không còn cơ hội nữa à nghen...

     Rốt cuộc rồi, nhứt quá tam, ba đêm liên tiếp việc tịnh luyện của tôi chẳng được một kết quả nào hết! Nản thì đương nhiên không nản vì đâu dễ gì gom được thần và tụ khí, đừng nói đến chuyện thần khí giao bôi. Lại chuyển qua mắt, nghiền ngẫm "Huyền Diệu Cảnh." Ðây nói về quyển hạ "Tiểu Dẫn," chương "Môn Nhơn Vấn Ðáp," có đoạn như vầy:

     - Ông Quán Trung hỏi rằng: Dương thần của các bậc Tiên là làm sao, xin thầy chỉ bảo?
     - Ðức Lý Trần Tử đáp rằng: Dương thần có năm bậc: Nhơn tiên, địa tiên, thần tiên, thiên tiên, kim tiên. Trong một trăm ngày công hạnh, khí đủ nơi hạ điền, thì chứng bậc nhơn tiên; nhơn tiên cũng chẳng lìa người; giữ được vậy thì ích thọ diên niên. Bằng không thì thần trì khí tán, không khác nào phàm nhơn.
     Nhơn tiên gia công lấy đại dược, quá quan phục thực ở trung điền, thì chứng quả địa tiên. Ðịa tiên cũng chẳng lìa đất, nên không khỏi thác, ấy thiệt thần khí phân hai, chết rồi ngươn thần chẳng độc lập đặng, thì chẳng khỏi đầu thai. Cho nên nhơn tiên cùng địa tiên cũng đồng một lẽ.
     Ðịa tiên gia công dưỡng thai mười tháng không ăn không thở; trăm mạch đều ngưng; thánh thai đầy đủ xuất thần, gọi là Dương thần. Ở trên thượng điền thì chứng quả thần tiên. Thần tiên chẳng lìa thần, Dương thần còn non, chẳng hay vượt ra ngoài trời, cũng không thần thông, bất quá sống lâu bằng trời đất mà thôi.
     Thần tiên gia công điều thần xuất xác, luyện hư vô chi dương thần, luyện thần hườn hư, tam niên nhũ bộ, thần khí tiệm lão, thông thiên triệt địa thiên biến vạn hóa, chứng quả nơi thượng đơn điền, ấy là bậc thiên tiên đó. Thiên tiên chẳng lìa trời đất.
     Thiên tiên gia công chín năm diện bích, luyện hư hườn vô, thần công thường định thường tịnh lâu, dương thần kiên cố, pháp luật quảng đại, ngao du bắc cực, siêu xuất thiên ngoại, vĩnh kiếp trường tồn, tiêu diêu cực lạc chứng quả Kim tiên (Phật)...


     Nói chung chung thì theo kinh "Huyền Diệu Cảnh," nếu trong vòng một trăm ngày, nếu hành đúng thì hành giả sẽ gom thần tụ khí ở hạ đơn điền và có chứng, có đắc ở bậc nhơn tiên. À há, rõ ràng quá, tu chẳng cần tu lâu năm này qua năm nọ, mà chỉ cần ba tháng mười ngày thôi. Và, lẽ dĩ nhiên, bước đầu này rất quan trong. Vạn sự khởi đầu nan, bởi không phải ai tu cũng được. Nhiều người tu cả đời không thấy ấn chứng là thường. Rồi từ nhơn tiên qua địa tiên, đến thần tiên, thiên tiên, kim tiên... quả là thiên nan, vạn nan. Tuy nhiên, đường dài mới biết ngựa hay như Thầy vẫn dạy! Ai không kiên nhẫn thì cũng dễ dàng té ngã, bỏ cuộc nửa chừng.

     Câu chuyện "ma cao" cũng dần dà rơi vào quên lãng, ít nhứt là cho riêng tôi. Ai muốn nghĩ sao thì nghĩ, mình bổn phận làm người tu thì phải lo tu. Tuy hằng ngày chỉ có một thời thôi nhưng sáng ra rồi lại chiều về, lụi hụi cũng nhanh như chớp. Tâm tôi tuồng như bình thường trở lại, tôi nghĩ. Vì, lúc vào thiền, tuy không lẹ như HH CTVALão nói với người tu cao, là chỉ cần hành pháp luân vận chuyển dăm ba hơi thở là các mạch chạy ào ào, đằng này sau năm bảy phút, tôi đã thấy khí lực rất là sung mãn. Và rồi, bỗng dưng, săn rút lưu chuyển không ngừng. Lạ thật, mọi khi chạy một chút thì ngưng, một hồi lâu sau mới bắt đầu chạy lại. Bây giờ thì, kỳ ha, muốn ngưng mà nó vẫn chạy đều đặn, a very solid run. Ô hay, tôi mừng quá vì tôi biết tôi thi đậu trong kỳ khảo thí này. Tôi thầm cám ơn và thương cảm lẫn tội nghiệp vị "ma cao" này dường như đã bị khảo đảo, quỉ nhập hay sao ấy để giúp tôi học được bài học tròn đầy ý nghĩa.

     Thêm nữa, vài ngày sau, đến lượt bà xã tôi. Có lẽ cũng đã nguôi ngoai phần nào với những giao động mạnh khi chia xẻ với tôi những phiền toái tâm linh trong suốt tuần qua, nên được Thầy Mẹ bố hóa, nhận được món qua vô giá: Ấn chứng đầu tiên. Sau buổi đi làm sáng, tôi ghé qua nhà ăn trưa thì bà xã tôi đón tôi ở cửa cười cười, phân trần:

     - Em được rồi, khí lực chạy liên tục cả buổi luôn. Em ngồi lâu lắm, đến cả hai giờ...

     À, thì ra là ngày nghỉ lễ nên bà xã tôi thiền thêm buổi sáng. Tôi cũng vui mừng theo, hỏi:

     - Bây giờ có người muốn đổi số phần của em với một triệu đồng, em có đổi không?

     - Còn khuya...

     Hỏi thì hỏi vậy chớ tôi đã biết ngay câu trả lời. Cũng thầm cám ơn HH CTVALão đã chỉ tôi lúc thiền thì ngồi phía sau bà xã để trợ lực và nguyện cầu Ơn Trên chia bớt phước đức của mình. Tôi gọi ổng ngay để thông báo tin vui, và hỏi vặn ổng một câu:

     - Xời! Tôi mất mấy tháng mới chuyển từ sự săn rút gián đoạn đến sự săn rút đều đặn, còn bà xã tôi thì a thần phù nhào vô một cái lại được liền hà...

     HH CTVALão giải bày:

     - Mình còn ăn mặn, trai kỳ còn người ta trường chay năm bảy năm thì làm sao mà so sánh được. Xăng tốt thì xe chạy êm, đã nói rồi mà...

     Ngẫm nghĩ lại HH CTVALão đúng là người khai sơn phá thạch. Với ngần ấy gian lao, nguy hiểm, thử thách trong buổi đầu khi tự khám phá và sử dụng ẩn nghĩa đại thừa trong kinh Ðại Thừa Chơn Giáo, cho nên tôi thường bảo "thiệt là ông gan cùng mình đó nha, dám một mình một ngựa xông pha nơi trận tuyến." "Nếu không có Ơn Trên bố hóa thì cũng tiêu tùng mấy bận, ra đi không hẹn ngày về rồi," HH có lần phân trần như vậy. Bởi thế cho nên, với kinh nghiệm bản thân trong suốt chín mười năm thiền định, hầu như những hoang mang, thắc mắc, hay trở ngại của tôi HH điều có những câu trả lời thỏa đáng, hoặc những giải quyết, những solution rất phù hợp. Thành thử tôi hay hỏi mỗi khi có một "hiện tượng mới" xảy ra:

     - Hồi hôm này lạ lắm ông, những luồng khí lưu của tôi bỗng dưng có khuynh hướng chạy lên đỉnh đầu, nê hườn cung, mà không tập trung ở ấn đường nữa. Cùng lúc rần rần đó, trên mỏ ác của tôi làm như có ai thổi nhẹ nhẹ, mát mát mỗi khi tôi hít vô thở ra. Nhưng tôi không... "cảm nhận một luồng hơi mát khí Tiên Thiên, từ trên không chụp xuống ngay mỏ ác" một cách mạnh bạo như ông diễn tả trong Phá Mê Thiền...

     HH CTVALão cười, cắt ngang:

     - Ồ, nó nhẹ nhẹ như gió thoảng thôi! Sở dĩ xài từ "chụp xuống" là muốn giúp bạn đọc ví bầu trời trên cao như là một cái ăn-ten dĩa lớn ấy mà. Mừng lắm, xem như luyện tinh đã hóa khí và thần khí đang sắp giao nhau đó.

     - Ậy... như vậy là có hơi "cường điệu" một chút đó nha, làm tôi chẳng nhận ra mô tê gì cả. À, còn nữa, ngay ấn đường nhịp nhịp, giựt giựt là sao?

     HH CTVALão lại cười vui, giải thích:

     - Tốt, tốt! Chúc mừng, chúc mừng! Ðó là hiện tượng sắp mở được huệ nhãn! Chừng nào nghe cái bụp nhỏ trong đầu, khoảng một lóng tay từ ngay ấn đường sụt vô, là xong. Chừng đó cái thấy vô vi sẽ từ ngay nơi ấy chớ không từ nhục nhãn nữa...

     - Cái này lại không thấy ghi trong sách?

     - Ừa, nhiều chi tiết nhỏ cũng quên đi!

     Hóa ra học từ sách vở cũng không qua được học từ Thầy hay học từ người đi trước. Ngoài HH CTVALão, chúng ta còn có thể học từ những người đi trước xa lắc, xa lơ hơn nữa. Một trong những người đó là Ngọc Bửu Nương Nương (bây giờ gặp thì phải quỳ lạy... hihi) có dạy qua tình trạng "ma cao" quấy phá trong phần "Ấn Chứng Thiêng Liêng," kinh "Ðại Thừa Chơn Giáo" (TLBT ấn tống) như sau:

         Ðạo cao khá lập đức dày,
         Ðạo cao sẽ biết cái tài ma cao
         Anh hùng chí khí đừng nao,
         Trường thi Ðạo Ðức anh hào mới nên.
         Khảo cho biết bở hay bền,
         Năm ba độ khảo tuổi tên bảng đề
         Chờ ngày chiếu Ngọc Thầy phê,
         Mới mong thoát tục đặng về non Tiên.
         Ðã mừng bạn đạo hữu duyên,
         Tường trong lý nhiệm tâm truyền Thầy trao.


     Ậy da... một lần khảo thí trường thi thì cũng đủ lả người, ngất ngư con tàu đi rồi mà "năm ba độ khảo tuổi tên bảng đề" thì chịu sao cho thấu? Còn nữa... "mừng bạn đạo hữu duyên" kiểu này chắc là tương lai mệt lắm đa. Hiển nhiên, tuy chưa sợ mệt, nhưng tôi cũng mong rằng... "ma cao" ơi, xin đừng phá nữa! Hãy nhường lại nghề phá này cho "ma thấp" đi nha. Nói gì thì nói, lại thêm một lần, thành thật biết ơn "ma cao" vậy...

   back to top

13. HUYỀN DIỆU, TUYỆT DIỆU

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Dong ruổi trên đường đời, going on along the life , thông thường, ai ai đều cũng không ít thì nhiều, một đôi lần đã trải qua cảnh, nói môm na là "chó ngáp phải ruồi" hay "buồn ngủ mà gặp chiếu manh." Nhưng đó là ba cái chuyện lẻ tẻ, những sự lợi ích nho nhỏ thôi, chớ còn đụng vào chuyện sống chết, lớn lao chẳng hạn như bom đạn, đi tù, vượt biên... v.v., mà thoát được hiểm nguy, coi như là những lần "chết hụt" đó thì con người ta lại nghĩ khác, đại khái, người ta bảo "do Ơn Trên phò hộ" hay "Phật Bà cứu độ." Nói chung chung là con người ta đã rơi vào những hoàn cảnh, những trường hợp "khó có thể giải thích được" là tại làm sao lại có thể xảy ra như vậy. Rằng thì là, người ta sẽ không ngần ngại mà gán vào đó hai chữ "lạ lùng" hay "huyền diệu."

     Trong kinh "Huyền Diệu Cảnh" của Lý Trần Tử do Vương Xuân Hà dịch, quyển Thượng, chương "Huyền Diệu Luận" có ghi cái lẽ "huyền diệu" (tóm gọn lại) như sau:

     Ông Lý Trần Tử nói rằng: "Người học Ðạo mà chẳng biết sự huyền diệu thì khó tu Ðại Ðạo mà thành Thánh, thành Tiên đặng."
     Huyền Diệu là Cơ Quan. Phàm việc chi ở đời có máy cơ quan hết. Muôn vật cũng có huyền diệu (là sự hay giỏi, sâu xa) vậy.
     ...
     - Luyện kỷ không biết huyền diệu, không đặng huyền diệu, thì muôn việc trần duyên khó dứt.
     - Trúc cơ (đắp nền) không biết huyền diệu, nhứt dương khó sanh.
     - Ngoại dược chẳng biết huyền diệu, tiểu dược không sanh.
     - Thể dược (lấy thuốc) không đặng huyền diệu, thì thuốc không đi về nơi lò...
     - Tấn hỏa chẳng đặng huyền diệu, thì châu thiên xây không ích chi.
     - Thối phù chẳng đặng huyền diệu dược miêu chẳng về gốc đặng (bất qui căn).
     - Vận tiểu châu thiên chẳng đặng huyền diệu dược hỏa chẳng tắt được...
     ...
     - Thể đại dược chẳng biết huyền diệu, thì đại dược chẳng sanh.
     - Luyện xây đại châu thiên chẳng đặng huyền diệu, thì thuốc chẳng quá quan được.
     - Lúc quá quan (qua ải) chẳng biết huyền diệu, diệu dược tụ rồi lại tan.
     ...
     - Dưỡng thai chẳng biết huyền diệu, thực khí khó dứt.
     - Ðịnh thai chẳng đặng huyền diệu, thánh thai nan viên (khó tròn).
     - Siêu thoát chẳng đặng huyền diệu, khó dời thần lên thượng đơn điền.
     - Nhũ bộ chẳng đặng huyền diệu, thì không có phần về cõi thiên tiên.
     - Diện bích chẳng đặng huyền diệu, khó thành kim tiên (là Phật)...


     À, nói tóm lại là mỗi bước thiền định, luyện đơn để thành Tiên, thành Phật đều có sự huyền diệu, tức là không thể giải thích: "Tại làm sao mà mình có được những ấn chứng như vậy?"

     Nhớ lại dạo trước, khi đề cập đến vấn đề thực hành "Vận Chuyển Pháp Luân" (theo Ðại Thừa Chơn Giáo - Phá Mê Thiền) một cách đúng pháp, lâu ngày sẽ cảm nhận sự "tê tê, rần rần, lâng lâng, đã đã" ở tam tinh (ấn đường) hay đỉnh đầu (nê hườn cung), thì có người bảo... hút "xì ke" cũng sẽ có cảm nhận đó! Rất tiếc là tôi chưa hút "xì ke" như người nọ nên không biết cái cảm nhận cái "tê tê, rần rần, lâng lâng, đã đã" do "xì ke" tạo ra như thế nào, nhưng tôi biết chắc... đó chỉ là những phản ứng hóa học trong cơ thể mà không có một cái gì gọi là "huyền diệu" cả! Thử hỏi tại sao có người tịnh luyện suốt cả đời mà không có cái cảm nhận kia, cái ấn chứng kia trong khi có người chỉ thiền định vài ba tháng lại được? Huyền diệu là ở chỗ đó đó! Ở chỗ do chính Thầy, tức Ngọc Hoàng Thượng Ðế, đã "bố hóa!" Lập lại, do chính Thầy "bố hóa!" Tức là "trợ lực" cho tu! Thế thôi! Và phải có một pháp môn đúng đắn, thì mới có công và có thưởng! Ai cũng biết rồi, thuộc lòng rồi những lời dạy của Thầy về điều này, không cần phải trích dẫn ra đây nữa!

     Ậy, ngay cả chuyện tôi tò mò lôi ra quyển kinh Huyền Diệu Cảnh để đọc và nghiên cứu hình như cũng nằm trong một "cơ quan huyền diệu" nào đó! Vì đúng vào lúc tôi bị động tâm nhiều nhứt vì sự quấy nhiễu của "ma thấp, ma cao" ( well , lần đầu thì hiển nhiên dễ bị shock , chớ bây giờ thì cũng có kinh nghiệm, đâu rồi cũng vào đấy thôi!). Tuy rằng, khi đọc xong Huyền Diệu Cảnh, tôi thấy có nhiều điều không ổn, không thể áp dụng cho thời buổi bây giờ, chẳng hạn như "nam nữ thọ thọ bất thân," "nam luyện cho đến liệt dương, nữ luyện cho đến bặt kinh làm ấn chứng," "đi đứng nằm ngồi mà hễ ngoại thận cử động thì gấp rút kiếm chỗ ngồi thiền," v.v. Các bạn trẻ lỡ mà nghe vậy thì chắc chắn sẽ không muốn tu, chẳng thèm làm Tiên, Phật. Nhưng mà, những điều căn bản vẫn có giá trị riêng của nó, có thể mang ra tham khảo và nghiên cứu.

     Bởi thế tôi mới đưa lên NET đề tài "Pháp môn xưa và nay." Nhằm so sánh "pháp môn xưa" trong Huyền Diệu Cảnh và "pháp môn mới" trong Ðại Thừa Chơn Giáo - Phá Mê Thiền xem như thế nào. Vì vậy, tôi hay ba điều bốn chuyện với hiền huynh Chiêu Tiên Vô Ảnh Lão (HH CTVALão) để tìm hiểu cặn kẽ cái "pháp môn mới" mà tôi đang hành theo:

     - Bây giờ tôi biết rõ rồi, ngay trong lúc làm "Vận Chuyển Pháp Luân" mà trên ấn đường hay nê hườn cung của mình không cảm nhận "rần rần" thì khi chuyển qua thiền định, xớt lại sang qua giữa mắt và tai để gom thần tụ khí sẽ không bao giờ chạy được, không có sự săn rút, không có khí lưu...

     - Ðúng...

     - Hồi nào mới lần đầu hoảng quá, rồi kế đến là lúc được lúc không, và ngay bây giờ thì lúc nào cũng được hết! Có nghĩa là dòng khí lưu do mình làm chủ, do mình control đó ông, muốn chạy thì cố giữ cái tâm không, tâm tức nương nhau, chạy hoài không nghỉ! Mà chạy thẳng lên nê hườn cung chớ không thèm chạy về ấn đường đâu...

     - Ðúng...

     - Nhưng tới giai đoạn này thì mình nên chú tâm vào phần nào để được thăng tiến?

     - À, cũng may là Hưng hỏi, vì nếu không ai hỏi thì cũng không có cơ hội để nhắc chừng những gì viết trong sách. Bây giờ Hưng đã control được dòng khí lưu thì khi sử dụng hai tai, ráng "thư dãn, thả lỏng" thỉnh thoảng "hướng về tim" như trong hình vẽ, để lắng nghe âm thanh trầm thứ hai xuất phát từ tim. Âm thanh trầm thứ nhất xuất phát từ nê hườn cung có nhớ không?

     - Nhớ..., rồi sao nữa?

     - Khi nghe được âm thanh trầm thứ hai này thì bắt đầu qua giai đoạn hườn hư, tức là phải dùng hườn hư ngai...

     À, thì ra vậy! Hai âm thanh trầm! Âm thanh thứ nhì do "Khí Hậu Thiên" tạo ra thì chưa nghe, nhưng âm thanh trầm thứ nhất lúc "Khí Tiên Thiên" thổi xuống như gió thoảng thì dễ nhận ra rồi. Nói òòò... cũng không đúng, mà èèè... cũng không đúng. Chỉ biết là âm thanh lạ và rất khác so với các âm thanh thường ngày mình nghe. Vì là âm thanh phát ra từ bên trong, trên óc. Nhưng nghe hoài hằng đêm nên phải biết thôi. Nhỏ lắm, phải để ý mới được...

     Hườn hư ngai? Ậy da, nói là hườn hư ngai cho oai, chớ thật ra là cái ghế bành ( lazy-boy chair ) nếu mình có tiền mua hoặc là cái ghế xếp ( lawn chair ) nếu mình chẳng muốn học làm sang. (Viết thì phải dùng từ, chớ thật ra nằm dựa gốc cây hay kê gối cao cao hoặc tựa vào đống rơm..., miễn là tạo nên một góc độ, thì cũng xong. Công dụng của hườn hư ngai là giúp cho "đạo chuyển" vượt qua hạ đơn điền, trung đơn điền, thượng đơn điền và xuất chơn thần một cách tự nhiên do tâm không, chân không dẫn dắt. Là một con đường tắt mà Ðức Cao Ðài đã ân ban trong kỳ đại ân xá kỳ ba. HH CTVALão có cho biết thêm như vậy). Tuy nhiên, cái "quả chứng đắc" khi mình sử dụng những cái ghế này mới là quan trọng và đúng là quí hơn cả cái "ngai vàng" của mấy ông vua. Như trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, đàn cơ ngày 1 tháng 8 năm 1931 (Tân Mùi), Ðức Lý Giáo Tông có dạy:

     Ngày nay đã hành chánh, thì cũng nên lập mình cho đủ tư cách của một người cầm sanh mạng của nhân loại. Chưa có ngôi vị Ðế vương nào mà sánh với phẩm vị Thiêng liêng đặng, khá phân biệt trượng khinh mà giữ gìn kẻo bị tà tâm rối loạn. Hiểu à.

     Vả lại, vấn đề hườn hư này thì tôi chưa biết gì hết nên cứ hà hồi phân giải. Song, dựa vào những điều căn bản trong Huyền Diệu Cảnh cũng như trong Ðại Thừa Chơn Giáo - Phá Mê Thiền, tôi mạo muội đưa ra bảng so sánh và tổng hợp, chỉ có giá trị tương đối mà thôi, để làm những nấc thang tu học và chứng đắc như dưới đây:


PHÁ MÊ THIỀN - HUYỀN DIỆU CẢNH

ÐẠI THỪA CHƠN GIÁO -

PHÁ MÊ THIỀN

HUYỀN

DIỆU

CẢNH

PHẬT

ÐẠO

Ấn

Chứng

Ðại Thừa

Cửu Chuyển

Chứng

Quả

Chứng

Quả

 

 

Thiền Ðịnh

 

1. Ngồi:

 

* Tạo

"khí

lưu".

 

 

 

2. Ngồi

Nằm:

 

* Tạo

"đạo

chuyển".

 

* Tạo

"xuất

hồn".

 

Thiên Tiên

 

1. Ngày đêm cướp khí hạo nhiên,

Hiệp hòa tánh mạng hống diên giao đầu.

2. Âm dương thăng giáng điều hòa,

Huân chưng đầm ấm tam hoa kiết hườn.

3. Công phu khử trược lưu thanh,

Linh đơn một phẩm trường sanh muôn đời.

4. Gom vào tư tưởng trong ngoài,

Luyện phanh trong sạch Thánh Thai nhẹ nhàng.

5. Xuất thần lên cảnh Thần Tiên,

Học thêm tâm pháp bí truyền cao siêu.

6. Bụi trần không thể đóng dơ,

Linh đơn hai phẩm giựt cờ Thánh Tiên.

7. Linh sơn nở búp sen vàng,

Cởi rồi bảy thể nhẹ nhàng biết bao.

 

 

 

 

1. Nhơn Tiên

(còn đi đầu

thai lại)

 

2. Ðịa Tiên

(còn đi đầu

thai lại)

 

3. Thần Tiên

(chơn thần

còn non)

 

4. Thiên Tiên

(chơn thần)

 

 

 

1. Thanh

Văn

 

 

2. Duyên

Giác

 

 

3. A La

Hán

 

 

4. Bồ

Tát

 

Kim Tiên

 

8. Hồn còn nương náu xác thân,

Nhưng không dính líu bụi trần vào tâm.

9. Rượu cờ vui thú sen tòa,

Ðào tiên chung cuộc điều hòa cảnh không.

 

 

5. Kim Tiên

 

(vĩnh kiếp

trường tồn)

 

5. Phật

 


     Well , thân phận tôi thì đang chập chững, chỉ biết tới phần "khí lưu" nên tôi hay vấn kế HH CTVALão và được câu trả lời như vầy:

     - Sở dĩ Thầy không phân biệt ra từng đẳng cấp Tiên, Phật là vì chúng sanh đang ở trong thời kỳ "Bửu Phan Tiếp Dẫn." Có đêm thì mình rơi vào Cửu chuyển 6, 7 một cách dễ dàng, nhẹ nhàng, nhưng có đêm mình lại rơi về Cửu chuyển 2, 3 chỉ "ngưng thần tụ khí" cũng không biết chừng. Nói chung là Thầy cho mình biết trước những gì mình sẽ đạt, nhưng thật sự mình chưa tới, chưa có, chưa đạt. Phải cần tu tập nhiền hơn, phải cần thời gian chẳng hạn. Có lẽ chỉ đến khi qui liễu thì mình mới biết là Thầy ân ban cho mình ở đẳng cấp nào tùy thuộc vào mức độ công phu, công quả, công trình của mình. Tuy nhiên, duy nhứt chỉ có Cao Ðài Ðại Ðạo là có đắc thành tại thế mà thôi...

     Bửu Phan Tiếp Dẫn? Ðây, trong kinh "Ðại Thừa Chơn Giáo," chương "Nhơn Vật Tấn Hóa," Thầy có dạy:

     Ðiểm linh hồn nào cũng phải chun qua cái cửa đó mới thành Tiên, Phật. Còn người không tu thì phải chịu ở mãi dưới thế giới hữu hình này mà lập công quả, học hỏi cho khôn ngoan cho đến tánh cách chí thiện, chí mỹ thì chừng đó mới sang qua thế giới khác, cũng làm y như vậy mà đặng sang qua thế giới khác nữa. Ít ra con người phải đầu thai trăm ngàn lần, công phu khổ hạnh mới đặng bỏ địa cầu này đến địa cầu khác, khó nhọc biết bao, chuyển kiếp đi vòng quanh mãi, trong Tam Thiên Thế Giới, Tứ Ðại Bộ Châu, Thất Thập Nhị Ðịa, Tam Thập Lục Thiên. Ðúng ba nguơn sợ không có chí khó nhập vào Thiên môn Phật cảnh đặng, chi cho bằng tu tắt là thọ bí pháp luyện Tiên đơn, ấy là cái thang phép mầu vi vượt cảnh hay là cái Bửu Phan để rước linh hồn.

     Như vậy "Bửu Phan" là phép tu tắt, không cần phải qua từng bậc, từng đẳng cấp: nhơn tiên, địa tiên, thần tiên, thiên tiên, kim tiên ? Rất có thể lắm! Cũng trong kinh "Ðại Thừa Chơn Giáo," chương "Ðại Nguyện Của Ðức Cao Ðài," Thầy đã dặn dò:

     Cơ bút là để nắm quyền hành Ðạo giáo mà phổ hóa chúng sanh, để làm ngọn đuốc quang minh mà dẫn dắt người đến chỗ bổn nguyên là cùng mục đích đó thôi. Ấy nghĩa là Thầy dùng cơ bút mà truyền Ðạo Ðức tinh thần và huấn luyện vạn linh cho trở nên hạng người chí đức cao siêu Tiên, Thánh, Phật vậy.
     Các con phải biết, các con tuy thọ bí pháp mặc dầu, chớ cũng phải chịu dưới quyền lực thiêng liêng sai khiến. Các con nào có dối đặng với Thầy đâu?
     Các con nên biết Ðạo Mầu Làm Bửu Phan Tiếp Dẫn.


     Cũng trong thời gian này, vài ngày sau những ngày khảo thí do "ma nội, ma ngoại" nổi loạn, một bạn đạo lại tìm đến tôi, ân cần gởi tài liệu cho tôi xem và nhắn nhủ tôi nên thọ giáo Chiếu Minh - Pháp Bửu Ðàn ở Tây Ninh. Wow , lại thêm một huyền diệu nữa đây, hết cái này đến cái kia xảy ra liên tục tuồng như thiên cơ đang chuyển vận! Bởi vậy mới nói là lạ lùng, là huyền diệu đó mà!

     Lại nhớ là trong bài "Tự Hỏi Lấy Mình" tôi có viết, đại khái:

     Ở thời buổi này, tôi nghĩ, nếu muốn được cái password "bí pháp khẩu-khẩu tương-truyền, tâm-tâm tương thọ" chơn truyền này thì chỉ có cách duy nhứt là... tầm "chân sư" học đạo. Và, tất nhiên, những vị "chân sư" này không ai khác hơn là hàng đệ tử của Ðức Ngôi Hai Ngô Minh Chiêu (chi phái Chiếu Minh - Tam Thanh) mà thôi! Nào ai biết mấy ngài này đang ẩn cư nơi đâu?

     Nói tóm lại, khi nghe bốn chữ "Chiếu Minh - Tam Thanh" không riêng gì người trong Ðạo, mà ngay cả kẻ ngoại Ðạo cũng đều có một sự tôn sùng, kính ngưỡng về chi phái siêu thoát, thần thánh này. Thế mà khi đọc qua quyển "Ðạo Luật - Qui Ðiều" của Pháp Bửu Ðàn, Tây Ninh, thiệt tình mà nói, "thần tượng đã sụp đổ" trong tôi. Với nhiều điều bất ổn. Nhất là bài thơ ở cuối bài "Thánh Giáo dạy ban hành bộ đạo luật qui điều nội lệ" (trang 34) như sau:

         BÀI


         Ngọ thời Thầy chứng keo đàn ,
         Chuyển con trách nhiệm lưỡng đàn hôm nay.
         Thầy trên phê chuẩn liền ngay,
         Ðạo luật Thầy định nay ngày ban ra.
         Luật thì bảo vệ đạo nhà,
         Luật là phép dạy con mà noi theo .
         Luật Trời ban trẻ tùy vèo,
         Tùy thời Thầy lập luật theo thời kỳ.
         Ðạo Huỳnh nay đã truyền y,
         Chơn truyền truyền lại nay thì hành theo .
         Ðạo Huỳnh Thầy mở tiếp theo ,
         Các con trách nhiệm y theo mà hành.
         Ðể con chớ có cải canh,
         Ðể con tránh tội Cha Lành ban ơn...


     Chỉ trong mộ