Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Tập Lưu Niệm Từ Các Bằng Hữu: Một Dòng Lưu Bút
Nhiều Tác Giả
* * *
Mục Lục
01. Vào Tập cho Một Ðời Ðể Học - Mai Thảo
02. Ðài VOA - Ðiểm sách Một Ðời Ðể Học - Bùi Bảo Trúc
03. Làng Văn - Phỏng Vấn Nguyễn Tấn Hưng - Ðào Huy Ðán
04. Bạt cho Một Thuở Làm "Trùm" - Hồ Trường An
05. Ra mắt sách Một Thuở Làm "Trùm", Tác Giả - Nguyễn Thị Thanh Bình
06. Ra mắt sách Một Thuở Làm "Trùm", Tác Phẩm - Võ Ðình
07. Bên lề buổi ra mắt sách Một Thuở Làm "Trùm", Một Mảng Văn Học - Nguyễn Ngọc Bích
08. Ðiểm sách Một Thuở Làm "Trùm" - Trần Quán Niệm
09. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Hà Huyền Chi
10. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Thụy Khanh
11. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Thừa Phong
12. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Nguyễn Văn Thiệu
13. Dấu Ấn Văn Chương của Nguyễn Tấn Hưng - Lê Nhật Thăng
14. One Life Of Learning, Foreword - Dr. Sylvester Clifford
15. One Time As An Intelligence Officer, Forward - Dr. Sylvester Clifford
16. Tác Phẩm Anh Ngữ của Nguyễn Tấn Hưng - Nguyễn Vạn Lý
17. Bạt cho Một Cảnh Hai Quê - Võ Kỳ Ðiền
18. Bạt cho Một Kỷ Niệm Ðẹp - Lê Văn Lân
19. Nhân Ðọc Một Kỉ Niệm Ðẹp... - Trúc Huy
20. Tựa cho Một Lần Xuống Núi - Phạm Thăng
21. Tựa cho Một Nỗi Buồn Riêng - Nguyễn Tấn Hưng
22. Con người và Bút pháp của Nguyễn Tấn Hưng - Võ Kỳ Ðiền
23. Tựa cho Một Thoáng Trong Mơ - Hà Huyền Chi
24. Ðiểm sách Một Thoáng Trong Mơ - Ðào Huy Ðán
25. Xuân Thắm Quê Mẹ Phù Sa - Phù Vân
26. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Khải Chính
27. Nghiệp Dĩ, Thương tặng Nguyễn Tấn Hưng - Sĩ Liêm
28. Ðọc thơ Nguyễn Tấn Hưng - Nguyễn Hữu Nhật
29. Sóng - Phỏng Vấn Nguyễn Tấn Hưng - Ðào Huy Ðán
30. Bạt cho Một Trời Một Biển - Lê Bảo Trân
31. Nguyễn Tấn Hưng, Tâm Hồn Biển Lớn - Xuân Vũ
32. Giới thiệu tuyển tập nhạc Một Lần Ði, Anh Yêu - Nhật Ngân
33. Cảm đề tuyển tập nhạc Một Lần Ði, Anh Yêu - Thu Hồ
34. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Lê Dinh
35. Ðài VOA - Giới thiệu nhạc Nguyễn Tấn Hưng - Dương Ngọc Hoán
36. Nghe Nhạc Nguyễn Tấn Hưng - Nguyễn Ðức An (MD)
37. Nhạc Nguyễn Tấn Hưng - Võ Kỳ Ðiền
38. Ðài Little Saigon, Giới Thiệu Thơ Nhạc Nguyễn Tấn Hưng - Thúy An & Anh Dũng
39. Tựa cho tuyển tập nhạc Một Ðời Mỏi Mòn Trông - Lê Dinh
40. Bạt cho tuyển tập nhạc Một Ðời Mỏi Mòn Trông - Linh Phương
41. Giới thiệu nhạc Nguyễn Tấn Hưng - Trường Kỳ
42. Tựa cho Một Thoáng Trong Thơ - Phan Ni Tấn (N.D.)
43. Bạt cho Một Thoáng Trong Thơ - Phù Vân
44. Nguyễn Tấn Hưng, nhà văn của Miệt Vườn - Ngân Ðài
45. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Một Nữ Ðộc Giả
46. Bạt cho Một Giấc Mơ Tiên - Duy Lam
47. Một..., Một..., Một Nguyễn Tấn Hưng trong Một Giấc Mơ Tiên - Lê Văn Lân
48. Bạt cho Một Ngày Ðẹp Trời - Trần Quang Minh
49. Tựa cho Một Thoáng Hững Hờ - Hồ Trường An
50. Bạt cho Một Thoáng Hững Hờ - Sương Mai
51. Giới thiệu Một Thoáng Hững Hờ - Mai Hiền Lương
52. Tình Yêu trong Thơ Nhạc của Nguyễn Tấn Hưng - Phù Vân
53. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Trần Vấn Lệ
54. Văn - Phỏng Vấn Nguyễn Tấn Hưng - Triều Hoa Ðại
55. "Chụp Hình" Cuộc Sống, Sinh Hoạt Vào Văn Chương - Hứa Hoành
56. Ðề Nguyễn Tấn Hưng - Nguyễn Văn Sâm
57. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Nguyễn Văn Sâm
58. Bạt cho Một Vợ Một Chồng - Nguyễn Văn Sâm
59. Chữ Tình trong Một Thoáng Bơ Vơ - Tùy Anh
60. Văn Võ Song Toàn, Thay Lời Bạt - Hoàng Xuân Sơn
61. Nỗi Nhớ Qua 5 Tác Giả - Nguyễn Vy Khanh
62. Bạt cho Một Kiếp Nổi Trôi - Nguyễn Vy Khanh
63....
back to top
01. VÀO TẬP CHO TRUYỆN DÀI MỘT ÐỜI ÐỂ HỌC
MAI THẢO
Từ thành phố Winston-Salem, một cùng đáy khuất lánh
của tiểu bang North Carolina tôi chưa tới lần nào nhưng hình
dung được sự cách biệt bằn bặt với mọi sinh hoạt chỉ
có ở những vùng tập trung lớn, có một bàn viết từ
nhiều năm trên quê người đã dựng. Dựng lại. Có một
nhà văn thoạt tới Hoa Kỳ và trong lữ thứ đã viết. Viết
lại. Cõi viết ấy nối tiếp với một khởi đầu đã
có, rất tốt đẹp, ở quê nhà, chỉ bị gián đoạn bởi
đại họa và đổi đời xẩy ra trên đất nước, đánh dấu
nơi thân thế nhà văn bằng một giã từ vĩnh viễn những
năm tháng lộng gió trên nghìn trùng sóng nước, bởi nhà văn
ấy, trong quá khứ và trên suốt chiều dài cuộc chiến còn
là một sĩ quan của Hải quân Việt Nam. Tôi muốn nói tới
Nguyễn Tấn Hưng, cái bàn viết đã được dựng lại, tức
khắc và trong một quyết tâm văn chương không lay chuyển
không đổi rời của Nguyễn Tấn Hưng, ở Winston-Salem. Với
hai tác phẩm mới hoàn thành là truyện dài
Một Ðời Ðể
Học
và tập truyện
Một Chuyến Ra Khơi
mà vào tập thân ái
này muốn giới thiệu cùng bạn đọc.
Với California nơi tôi đang sống và như ở trên đã nói,
North Carolina là một địa chỉ xa vời. Do vậy, tôi và
Nguyễn Tấn Hưng vẫn chỉ có thư từ và điện thoại. Nhưng
rút ngắn lại những đường đất và nối liền lại những
xa cách, văn chương vẫn có được cho nó và cho người
cái hiệu lực tuyệt vời như thế, và trên điểm này
Nguyễn Tấn Hưng chưa gặp với tôi đã rất gần rất
thân. Lại từ lâu kia. Nhà văn hải quân này, giữa hai
lần về bến đã có truyện ngắn hay đăng trên Văn và
đã nhiều lần tới thăm báo quán ở đường Phạm Ngũ
Lão. Vượt biển, đi ra khỏi nước, gặp lại Văn tục
bản ở Hoa Kỳ, qua một hợp tác viết và một kỷ niệm
viết thân tình đã có với Văn từ quá khứ, Nguyễn Tấn
Hưng đã gửi cho tôi gần như toàn bộ, toàn tập những
bản thảo đã viết, mới viết của ông. Như gửi cho
một diễn đàn bạn. Và đáp lại, qua những truyện ngắn
của ông, lần lượt, đều đặn giới thiệu trên Văn,
tạp chí đã dành cho Nguyễn Tấn Hưng một phần đất và
một có mặt cũng thân tình như thế.
Ðọc hết
Một Chuyến Ra Khơi
, đọc tiếp tới
Một
Ðời Ðể Học
, tôi thấy được những gì? Thấy được
mấy điều tôi cùng yêu mến. Trước hết là tấm lòng
Nguyễn Tấn Hưng đối với văn chương, ở phía có văn
chương. Ðó là hình thái của một gắn bó son sắt, thủy
chung, qua thời gian không có nếp nhăn, qua đổi rời vẫn
một đời bền vững. Ở được với văn chương như vậy
đã là một ở đẹp. Ðẹp và đầy. Cái ở không nửa
đường đứt gánh, không lúc còn lúc mất, nói cách khác,
một thường xuyên ở, một mãi mãi cùng, tỏ hiện trong
văn truyện Nguyễn Tấn Hưng thành một thống nhất và
một liên tục viết trước sau không bao giờ thay đổi,
mặc dầu thân thế người thì đã không biết bao nhiêu
thăng trầm và đổi thay.
Ðiều yêu mến thứ hai, cũng là điều cắt nghĩa tại sao,
viết lại ngay cùng với bắt đầu lại đời sống trên
quê người và viết rất đều tay, rất chuyên cần,
tới giờ Nguyễn Tấn Hưng mới hoàn thành được xong
hai tác phẩm. Ðó là cách viết, lối viết Nguyễn Tấn
Hưng hết sức nghiêm chỉnh, kỹ lưỡng vô chừng. Và như
thế với chính ông trước đã. Sáu năm tục bản Văn tôi
đã gặp nhiều truyện ngắn thật hay. Nhưng ở một số,
vẫn tiếc là nếu tác giả viết xong còn chịu khó đọc lại
truyện mình, sửa chữa, một lần, nhiều lần, tới
chuốt lọc văn thể và hoàn chỉnh bút pháp, như kỹ luật
ấy bao giờ cũng có ở những nhà văn lớn, thì truyện
đã hay còn được hay hơn gấp bội. Nên thường khuyên
các anh em viết mới đừng bao giờ bằng lòng ngay với bản
viết lần đầu. Mà đọc lại, sửa lại, viết lại nếu
cần, châu đáo, từng giòng từng đoạn. Nguyễn Tấn
Hưng không bao giờ phải nhận ở tôi lời khuyên ấy.
Những bản thảo ông gửi đi, đánh máy rất đẹp, trang
nào cũng hoàn chỉnh như một trang sách đã in cho thấy tính
chất chung quyết của bản văn sau khi đọc lại nhiều lần,
sửa chữa nhiều lần. Vậy mà còn có những truyện tôi
nhận được rồi, vài tuần sau lại nhận được thêm bản
mới, yêu cầu hủy bỏ bản cũ vì một đầu truyện, một
cuối truyện vẫn thấy là chưa được và đã viết lại,
có truyện so hai bản viết với nhau là một viết lại hoàn
toàn. Tôi rất ưng ý về nổ lực không ngừng đạt tới
hoàn chỉnh ấy của Nguyễn Tấn Hưng. Thấy đó là một
phong cách nhà văn.
Ðiều yêu mến sau cùng, lớn hơn hai điều yêu mến
trước, là mặc dầu đã mười mấy năm trôi dạt, một
trôi dạt rất dễ dàng đẩy vào thất lạc, mặc dầu Việt
Nam đã nghìn dặm, quê nhà đã nghìn trùng, bàn viết
Nguyễn Tấn Hưng, giữa thổ ngơi lữ thứ xa lạ, vẫn
đặt được vào đúng hướng đúng tầm với giống nòi và
đất nước ở xa. Không bao giờ tôi xa, chẳng bao giờ
tôi quên, chẳng bao giờ tôi khác. Thế giới có nghìn
biển nghìn trời nhưng tôi chỉ có và chỉ sống với một
trời một biển. Toàn bộ văn truyện Nguyễn Tấn Hưng
đã nói cho Nguyễn Tấn Hưng như vậy. Nói một Việt Nam
toàn phần, trong tâm trong hồn. Nói một đất nước
vẫn hơi thở vẫn máu hồng, trong lòng trong dạ. Dùng
một hình ảnh của đại dương, trên đó có đời sống,
quá khứ và trí nhớ Nguyễn Tấn Hưng trải rộng, thì là
một hải trình dẫu đêm tối và giông bão, dẫu phương
hướng mịt mùng và sơn cùng thủy tận, hải trình ấy vẫn
từ một bến đậu và trở về bến đậu.
Những người dân lành của một vùng biển mặn và những
kinh động từng lúc của chiến thời dài thẳm trong
Giòng
Sông Của Tùng
. Người lính trẻ, cái khuôn mặt diễm
lệ tan nát của tình yêu, giữa những vui buồn đầu đời
làm thành kỷ niệm, làm thành vốn sống, trong
Thành Phố
Và Quân Trường
. Những hình ảnh, những cảnh tượng
khác của cuộc chiến tới một thời kỳ đã kín trùm thân
thế, lửa đạn, cái chết và tuyến đầu đỏ lửa bên
cạnh điếu thuốc lá và chai rượu mạnh của đời sống
thường nhật, trong
Mùa Ðông Và Con Ðường
. Mưa,
gió, những con đường lầy lội, sự buốt lạnh của trời
đất hợp nhập với sự buốt lạnh của lòng người trong
Chỗ Hẹn
. Ðịa danh những hải trình, bến bờ những
giòng sông trong
Bến Cạn
, trong
Hạm Trưởng Và
Ngọc
. Tôi vừa dẫn chứng một số truyện trong
Một
Chuyến Ra Khơi
. Rồi tới toàn thể những tháng năm,
những chặng đoạn đã trải qua và kể lại trong
Một Ðời
Ðể Học
. Ðể chứng về cái bến đậu một đời không
rời bỏ của Nguyễn Tấn Hưng, với một bàn viết dựng
ở đâu thì cũng là phần đất quê hương, với một
hướng viết hướng tới hướng nào thì cũng từ một
tâm thể Việt Nam mà viết.
Ðiều muốn nói cuối chót với vào tập: trí nhớ Nguyễn
Tấn Hưng lấp lánh, thật tốt. Chưa lọt, chưa trùng.
Ở từng cái nhỏ, ở từng chi tiết. Nhưng để tới
được một thể hiện trong sáng và tốt đẹp ở văn
chương, nó còn thiếu cho nó một xếp đặt tinh tế,
một gạn lọc cần thiết. Một khoảng cách nữa, để
thấy rõ hơn và lớn rộng hơn, từng đối tượng. Bởi
chưa nên ở nhiều đoạn, nhiều khúc là những rối rắm,
những chen lẫn không ăn nhập của một trí nhớ quá chồng
chất, thêm vào là những ngắt đoạn, chuyển đoạn,
đảo lộn trật tự thời gian sử dụng hơi nhiều, khiến
người đọc khó theo dõi, khó tiếp nhận, và không
phân nhận được đâu là những phần chính yếu tác giả
muốn dừng lại và những phần thứ yếu muốn chỉ lướt
nhanh qua.
Khuyết điểm nhỏ này chỉ là một khuyết điểm kỹ thuật,
rất khó tránh ở các tác phẩm đầu. Và cũng rất dễ
khắc phục, nhất là với Nguyễn Tấn Hưng mà mối quan tâm
hàng đầu là tạo cho văn thể mình càng ngày càng tới
được vững vàng và hoàn chỉnh. Như chính ông đã nói
với tôi nhiều lần. Văn chương đã ra khơi rồi. Thân
ái chúc Nguyễn Tấn Hưng còn đưa nó tới được thật
nhiều những bến bờ tốt đẹp.
back to top
play audio
02. ÐÀI VOA, VĂN HỌC VIỆT NAM HẢI NGOẠI, MỤC ÐIỂM SÁCH: MỘT ÐỜI ÐỂ HỌC
BÙI BẢO TRÚC thực hiện
Intro:
Sau đây là mục Văn Học Việt Nam Hải Ngoại.
P. Lan:
Trong mục Văn Học Việt Nam Hải Ngoại do Bảo Lâm
phụ trách, chúng tôi xin gửi quý thính giả bài giới thiệu
cuốn
Một Ðời Ðể Học
của Nguyễn Tấn Hưng do
Làng
Văn
xuất bản.
B. B. Trúc:
Một Ðời Ðể Học
là truyện dài đầu tiên
của Nguyễn Tấn Hưng do
Làng Văn
xuất bản tại Gia Nã
Ðại hồi cuối năm 1988. Nhưng đây không phải là lần đầu
ông ngồi xuống bàn viết. Nguyễn Tấn Hưng đã có những
truyện ngắn đăng trên tạp chí
Văn
của Mai Thảo hồi
Văn
còn đặt báo quán ở đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn
trước năm 1975, rồi sau chuyến đi rời khỏi Việt Nam, và
sau khi nhà văn Mai Thảo tới Hoa Kỳ và làm sống lại tạp chí
Văn
, Nguyễn Tấn Hưng đã viết lại cho tờ báo văn học
này ngay từ trong những số
Văn
đầu tiên ở hải ngoại.
Nguyễn Tấn Hưng, theo Mai Thảo,
"đã có một hình thái
của một gắn bó son sắt, thủy chung, qua thời gian không
có nếp nhăn, qua đổi rời vẫn một lòng bền vững... không
nửa đường đứt gánh, không lúc còn lúc mất, nói cách
khác, một thường xuyên ở, một mãi mãi cùng, tỏ hiện
trong văn truyện của Nguyễn Tấn Hưng thành một thống nhất
và liên tục viết trước sau không bao giờ thay đổi, mặc
dầu thân thế của người thì đã không biết bao nhiêu thăng
trầm và đổi thay."
P. Lan:
Thăng trầm, những chữ này tả thật đúng cuộc
đời của Nguyễn Tấn Hưng, ít nhất là cuộc đời trước năm
1975 của ông, cuộc đời gắn liền với hai chữ thăng là nổi
và trầm là chìm hiểu theo những nghĩa đúng nhất của hai
chữ đó. Cuộc đời chìm nổi của Nguyễn Tấn Hưng bắt
đầu từ lúc chiếc dương vận hạm Cam Ranh, HQ 500 ủi bãi
trước vòng thành của Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha
Trang sau hai ngày lênh đênh trên mặt biển, chở những tân
khóa sinh sĩ quan khóa 17 đến trường. Ðại úy Hải Quân
Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Tấn Hưng ở với sông rạch, biển
ngòi Việt Nam từ ngày ra trường cho mãi tới năm 1975.
Nguyễn Tấn Hưng sinh năm 1945 ở Mỹ Tho, học đại học khoa
học ở Sài Gòn dở dang, và cũng chính cái dở dang này đã
bắt ông trở lại đại học ở nửa đoạn đời sau để thành
suốt một đời mài mòn đũng quần ở ghế đại học, một
nét đậm trong đời sống của ông và sau đó đã trở thành
tựa đề của cuốn truyện dài đầu tay
Một Ðời Ðể
Học.
B. B. Trúc:
Truyện dài
Một Ðời Ðể Học
là một thứ
tự truyện, một thứ tự truyện tiểu thuyết, một thể
văn chương từng là đề tài tranh luận của một số các
nhà văn Việt Nam ở miền Tây Hoa Kỳ cách đây không lâu.
Một số cho rằng đã là tự truyện thì chỉ có những
sự kiện đích thực mới nên được viết xuống. Vì thế
không thể có một thể loại văn chương nào được coi là
tự truyện tiểu thuyết. Một số khác thì cho rằng tiểu
thuyết là sáng tạo, là một đặc tính của văn chương.
Bởi thế, nếu tự truyện mang tính chất của văn chương
thì nó phải có phần sáng tạo, và do đó, nó phải là
tự truyện tiểu thuyết. Nếu không nó sẽ chỉ là một
chuỗi những con số, những ngày tháng và những chi tiết
của một đời sống. Một nhà văn người Mỹ, John Doctorow,
một lần có nói rằng gần như tất cả mọi truyện ngắn,
truyện dài dù viết như thế nào đi chăng nữa, đều có
một hình thức tự truyện ở trong.
Cuốn
Một Ðời Ðể Học
là một thứ tự truyện tiểu
thuyết trong ý nghĩa văn chương của cuốn sách. Nhân vật
Hùng trong truyện có lẽ chỉ khác với nhân vật Hưng ngoài
đời có một cái dấu trên chữ U. Nói theo lối học vỡ
lòng của các em bé thì Hùng có dấu HUYỀN, còn Hưng thì
có râu. Những người biết Nguyễn Tấn Hưng ở ngoài
đời chắc chắn sẽ đồng ý với chi tiết vừa kể để
phân biệt nhân vật Hùng trong truyện và nhân vật Hưng,
tác giả cuốn sách ở ngoài đời.
P. Lan:
Cũng như Nguyễn Tấn Hưng ở ngoài đời, Hùng
ra đời đúng năm đệ nhị thế chiến chấm dứt ở Mỹ Tho,
một tỉnh nổi tiếng ở miền Nam, tỉnh mà có một số
người, nhất là những người sinh trưởng ở miền Bắc
vào sinh sống ở miền Nam và suốt đời không ra khỏi cầu
Bến Lức, thì những hiểu biết về miền Nam chỉ vỏn vẹn
là những địa danh của tỉnh Mỹ Tho, những địa danh trở
thành quá quen thuộc trong thời chiến, những địa danh mới
nghe thì khó chịu vì cái nét thiếu văn vẻ của nó nhưng nghe
lâu thành quen, đến khi lâu không được nghe thì như
thiếu vắng, mất mát đi một phần của đời sống. Những
Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Bến Tranh, Chợ Gạo, Vườn
Lài, Chợ Cũ, Bến Tắm Ngựa, Cầu Chà Và, Bến Xe Cũ,
Bến Xe Mới, Vòng Nhỏ, Vòng Lớn... những cái tên thật
giống như một thứ trái cây miền Nam, trái sầu riêng,
chưa biết thì không có gì để tiếc nhớ, nhưng đã
biết, đã gần gũi, đã quen thân thì người ta không thể
nói và nghĩ về chúng bằng một cách bình thản, thiếu
nhiệt tình được. Nguyễn Tấn Hưng đã viết những
trang đầu tuyệt vời về nơi chốn cũ đó, của một giai
đoạn đẹp trong đời sống, của những năm mới lớn
"mười
lăm, mười bẩy, tuổi học trò mắt sáng với môi tươi,"
của Ðinh Hùng, một
belle époque
của mỗi người trong
chúng ta, một đoạn đời chúng ta vẫn quay ngó lại với
rất nhiều tiếc nhớ, cái đoạn đời của lứa tuổi lo
chưa tới đó. Hùng, cậu học trò nhỏ của Mỹ Tho rời
thành phố nhỏ đó lên Sài Gòn ăn học, và những đẩy
đưa của cuộc sống cuối cùng đã đưa chân Hùng lên cầu
tầu của chiếc dương vận hạm HQ 500. Một cuộc đời khác
bắt đầu khi Hùng tập đi lại những bước đầu khởi bằng
chân trái. Và ở đoạn người sinh viên sĩ quan tên Hùng
tốt nghiệp trường Hải Quân Việt Nam thì cũng là lúc nhân
vật Hùng trong truyện và Hưng ở ngoài đời bắt đầu
nhập lại thành một. Hùng, ngôi thứ ba số ít trở thành
ngôi thứ nhất từ đó cho đến trang cuối của cuốn sách.
Những chương kế tiếp kể lại cuộc sống trên sông rạch,
biển khơi của một sĩ quan hải quân, những khoảng thời
gian làm tình báo, rồi khoảng thời gian tác chiến của
người sĩ quan trẻ tuổi. Năm 1975, tác giả rời Việt Nam
sang sống tại Hoa Kỳ và lại một giai đoạn ra khơi khác bắt
đầu sau những năm tiểu học lên trung học, rồi đại học,
rồi ở trường hải quân, những năm nổi trôi bềnh bồng
sông biển trên các chiến hạm.
B. B. Trúc:
Nguyễn Tấn Hưng đã viết về những chuyến hải
trình của ông, những chuyến ra khơi liên tiếp không ngừng
ấy thành những trôi dạt của mười mấy năm, những trôi dạt
mà Mai Thảo cho là
"dễ dàng đẩy vào thất lạc, quê nhà đã
nghìn trùng, bàn viết của Nguyễn Tấn Hưng, giữa thổ ngơi
xa lạ, vẫn đặt được vào đúng hướng, đúng tầm với
giống nòi và đất nước ở xa. Không bao giờ tôi xa,
chẳng bao giờ tôi quên, chẳng bao giờ tôi khác. Thế giới
có nghìn biển trời nhưng tôi chỉ có và chỉ sống với một
trời, một biển. Toàn bộ văn chương Nguyễn Tấn Hưng
đã nói cho Nguyễn Tấn Hưng như vậy. Nói một Việt Nam
toàn phần, trong tâm trong hồn. Nói một đất nước vẫn
hơi thở vẫn máu hồng, trong lòng trong dạ. Dùng một hình
ảnh đại dương, trên đó có đời sống, quá khứ và trí
nhớ Nguyễn Tấn Hưng trải rộng, thì là một hải trình dẫu
có đêm tối và giông bão, dẫu có phương hướng mịt mùng
và sơn cùng thủy tận, hải trình ấy vẫn từ một bến đậu
trở về bến đậu."
Cuốn sách của ông là một trong những cuốn sách đáng đọc
của năm 1989.
P. Lan:
Quý thính giả vừa theo dõi bài giới thiệu cuốn
Một Ðời Ðể Học
của Nguyễn Tấn Hưng. Mục Văn Học
Việt Nam Hải Ngoại do Bảo Lâm phụ trách sẽ trở lại hầu
truyện với quý vị vào tuần tới cũng vào giờ này.
ÐÀI VOA
Phát thanh vào ngày 9 tháng 5, 1989
back to top
03. LÀNG VĂN - PHỎNG VẤN NGUYỄN TẤN HƯNG
ÐÀO HUY ÐÁN
(Thực hiện cho báo
Làng Văn
, số tháng 3 1989)
Ð.H.Ðán
: Xin anh cho biết qua một chút tiểu sử.
N.T.Hưng
: Tôi tên là Nguyễn Tấn
Hưng, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1945 tại làng Bình
Phục Nhứt, quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho; là
con của ông Nguyễn văn Sỏi và bà Võ
thị Trang; hiện cư ngụ tại... Mỹ. Trân
trọng đệ đơn này kính xin ông Chánh
Lục Sự tòa Sơ Thẩm Mỹ Tho... Anh thấy
đủ chưa? Hay phải thêm... trong khi chờ đợi
sự chấp thuận của anh mong anh nhận nơi
đây lòng thành kính và biết ơn của tôi...
Nếu nói rõ hơn thì tôi xuất thân từ
trường Nguyễn Ðình Chiểu, Mỹ Tho. Xong tú
tài 2, lên Sài Gòn ghi danh lớp Toán-Lý-Hóa (MPC,
Math-Phy-Chem) ở phân khoa Khoa Học. Vì thi ngành
rớt lịch bịch. Hai năm đại học không làm
nên trò trống gì, tôi bèn đi lính. Khóa
17 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Ra trường đi tàu
một thời gian rồi trở về trường
Cây Mai học tình báo. Làm sĩ quan tình báo
trong Hải quân cho đến ngày mất nước.
Chạy sang Mỹ tôi đi học trở lại. Bắt đầu
từ lớp cán sự điện tử ở trường
Western Iowa Tech tại Sioux City, tiểu bang Iowa. Xong,
chuyển trường học lên ban kỹ sư ở University
of Nebraska tại Omaha, tiểu bang Nebraska. Ra trường
vừa đi làm cho Western Electric (bây giờ đổi
thành AT&T), vừa tiếp tục học lên ban cao học
ở North Carolina A&T State University tại Greensboro, tiểu
bang North Carolina. Xong bằng Master, bây giờ lăm
le, ... chỉ mới lăm le thôi, định giựt luôn
cái Ph. D. ở North Carolina State University thuộc
tiểu bang nhà, bằng cuối cùng của người học
trò cho trọn kiếp
Một Ðời Ðể Học
.
Ðó, thân thế tôi chỉ có vậy.
Ð.H.Ðán
:
Một Ðời Ðể Học
đã xuất
bản và
Một Chuyến Ra Khơi
sắp xuất
bản có phải là những quyển tiểu thuyết
tự truyện (romans autobiographiques) của anh không?
Vì sao anh xây dựng nó? Anh muốn gửi gấm
tâm sự gì trong 2 tác phẩm đó?
N.T.Hưng
: Như tôi vừa mới nói sơ sơ thì anh
đủ biết phần lớn truyện tôi viết là
tự truyện. Mà cũng lạ, những tự truyện
của tôi lại "ăn khách" hơn là những truyện
tôi dựng lên từ đâu đâu. Chính vì
vậy phải nói vô tình tôi đã tìm ra chân
lý. Cái chân lý có thể chỉ đúng với
riêng tôi mà thôi, chưa chắc đã đúng
với bất cứ một người nào khác. Thế
là tôi khoan thai tiếp tục bước lên con
đường có chút đỉnh thành công: con
đường viết thực với lòng mình. Không
cần phải mất công tiểu thuyết hóa
cuộc đời này làm chi cho nó thêm rườm
rà mà chẳng lợi lộc, bổ ích vào
đâu. Anh hỏi tôi vì sao tôi xây dựng
Một Ðời Ðể Học
và
Một
Chuyến Ra Khơi
? Thật ra tôi nào có xây
dựng một cái gì. Chuyện đã có sẵn,
tôi chỉ kể lại mà thôi. Cuộc đời
của mỗi người chúng ta há chẳng phải
là mỗi bộ trường thiên tiểu
thuyết? Tôi chỉ được cái may mắn
là có khiếu viết thành văn để mọi
người cùng chia xẻ những buồn vui, những
gian truân phấn đấu để vươn lên
của một đời người. Thì cũng giống
giống như hầu hết những đời người
khác thôi, hình như ai ai rồi cũng phải
trải qua những giai đoạn bôn ba, lặn
lội. Ðó không phải là những tâm
sự tôi đã hết lòng gửi gấm vào
truyện của tôi sao?
Ð.H.Ðán
: Anh nghĩ sao về quê hương của anh? Về
tỉnh Mỹ Tho, nơi mà anh tìm chất liệu và
cảm hứng cho văn chương?
N.T.Hưng
: Nhắc tới Mỹ Tho thì ôi thôi đối
với tôi còn nhiều chuyện để mà
kể, nhiều truyện để mà viết
lắm. Tôi đang để dành, lâu lâu
đem ra ngắm một cái, sờ một cái cho
thỏa lòng. Dung nhan, tiếng nói và tâm tình
của quê hương Mỹ Tho, từ thành thị đến
thôn quê, như đã ăn sâu vào tâm hồn
tôi tận xương tủy. Chặt không đứt
bứt không rời. Nhất là thành phố Mỹ
Tho. Chỉ vì tôi có một thời gian dài xa
nhà trọ học, nên khắp hang cùng ngõ hẻm
hầu như tôi đều đã đặt chân
tới. Trong cái thú đi hoang. Ðám bạn có gia
đình tại tỉnh làm gì có được cái
diễm phúc này. Nhưng nói anh nghe, tôi
không dám ôm đồm hết về phần
mình đâu, phải chia chát cho anh em nữa
chớ. Mà cũng lạ một điều là phần
lớn những người cầm bút gốc miền
Nam ở hải ngoại đều đã có một thời
sống với Mỹ Tho. Anh Huỳnh Hữu Cửu
là cựu học sinh trung học
Le Myre de Vilers
,
tức Nguyễn Ðình Chiểu vào thời
Pháp. Các anh Hồ Trường An, Kiệt Tấn
cũng là cựu học sinh trường Ông Ðồ,
viết nhiều truyện về tuổi nhỏ, về
những mối tình học trò hay không chỗ
chê. Còn anh Nguyễn văn Sâm thì đặc
biệt hơn nhiều. Anh không thích làm một
môn sinh thuần túy dưới mái trường thân
yêu cổ kính này đâu, anh đòi... được
làm thầy. Rồi các anh Phạm Thăng và
Nguyễn văn Ba đều có bạn thân ở
Mỹ Tho, tới chơi hà rầm. Cũng dám tắm
sông chỗ chiếc tàu chìm và cũng dám băng
qua cồn Rồng đi hái mận. Ngay cả ông Võ
Phiến
thàng hậu
cũng biết nhiều về
Mỹ Tho, vì có người cậu làm Sở Hỏa Xa,
lúc Mỹ Tho còn đường rầy xe lửa... Nhưng
tôi hết sức đau buồn là nghe nói Mỹ
Tho bây giờ tiêu điều dữ lắm, không
còn là một thành phố êm đềm mà
tôi đã tìm chất liệu và cảm hứng
cho văn chương như anh nói nữa đâu!
Ð.H.Ðán
: Xin anh cho biết nếp sống ở nơi anh
định cư. Và nếu có thể được, xin
anh cho biết "Một ngày của Nguyễn Tấn
Hưng," để độc giả hiểu rõ anh hơn.
N.T.Hưng
: Thành phố tôi đang ở rất ít người
Việt, chỉ độ khoảng hai mươi gia đình. Phần
đời sống bên này tự nó đã tạo nên
sự cách biệt và phần không mấy ai cùng
chí hướng với tôi cho nên hoạt động
cộng đồng nói chung, sinh hoạt văn nghệ nói
riêng coi như không có. Một ngày của Nguyễn
Tấn Hưng lại buồn hơn. Nếu không viết
lách chút đỉnh thì không biết tôi phải
làm cái gì sau tám giờ làm việc ở
sở. Coi bộ nó khác một trời một
vực nếu đem so sánh với đời sống
bên Cali anh Ðán hả?
Ð.H.Ðán
: Anh nghĩ gì về những tờ tạp san
văn nghệ đứng đắn ở hải ngoại
như
Văn, Văn Học, Làng Văn
? Xin nói những
đặc điểm của ba tờ này.
N.T.Hưng
: Tôi đã dan díu với
Văn
từ hồi
ở Việt Nam, cho nên qua bên này tôi làm lại
cuộc đời cũng từ
Văn
. Biết
được
Văn
tục bản ở hải ngoại là
một sự hết sức tình cờ. Trong một
chuyến du lịch thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, chính
lúc chờ vợ tôi lựa hàng tôi phát hiện
ra một sạp báo. Và tôi bồi hồi thấy
cuốn
Văn
. Trời ơi, cũng một vóc dáng
như ngày nào. Nhưng, tổng thư ký tòa soạn
bây giờ là ông Mai Thảo (kiêm chủ nhiệm,
chủ bút) chớ không phải Trần Phong Giao... Thế
là một nối tiếp lại bắt đầu. Sau
đó chẳng bao lâu tôi biết
Làng Văn
là nhờ trang quảng cáo một cuốn sách của
anh Nguyễn Ngọc Ngạn trên
Văn
. Còn
Văn
Học
thì do một người bạn ở San Jose
giới thiệu. Bài vở trên
Văn
, theo tôi
nghĩ, thì cũng chẳng kém phong độ khi
xưa bao nhiêu.
Làng Văn
hơi nghiêng về
những sáng tác đấu tranh chính trị và
tình tự quê hương, ít thấy những bài
negative
. Còn
Văn Học
thì hơi nghiêng
về biên khảo, với nhiều bài nghiên cứu
tuy khô khan nhưng rất công phu và rất có
giá trị. Nói vậy chớ những nhận xét
này cũng chỉ có tính cách nhất thời mà
thôi. Ðiều đáng nêu lên là không ai có
thể phủ nhận sự đóng góp hết sức
lớn lao của ba tờ báo này vào nền văn
học hải ngoại. Bởi thế, ngày nào tôi
thấy bài của mình có đăng trên những
tờ báo này là ngày ấy tôi vui.
Ð.H.Ðán
: Theo anh, một tác phẩm văn chương
đúng nghĩa ra sao?
N.T.Hưng
: Ý anh muốn nêu lên sự khác biệt
giữa một tác phẩm văn chương thuần
túy với một quyển tiểu thuyết ba xu
hay một cuốn dâm thư? Ðiều này thì
hiển nhiển tùy thuộc vào quan niệm
đọc của độc giả nhiều hơn. Dưới
mắt người này có thể là những giá
trị văn chương, nhưng dưới mắt người
kia có thể chỉ là những hình thức câu
độc giả. Tục mà thanh và thanh mà tục,
khó lòng giải thích lắm.
Ð.H.Ðán
: Nếu tôi không lầm, Nguyễn Tấn
Hưng là một nhà văn viết dồi dào mà
thận trọng. Anh nghĩ sao về nhận xét
này? Anh thuộc trường phái nào?
N.T.Hưng
: Dồi dào thì chẳng biết có dồi dào
thiệt hay không, đường dài mới biết
ngựa hay. Tôi mới sải vài ba vó thì sớm
quá để khẳng định điều này. Tôi chỉ
sợ mình
peak
, rồi từ từ tuột dốc
hồi nào không hay. Còn thận trọng thì chẳng
qua chỉ là cái thói quen hay sửa bài của tôi
thôi. Bây giờ có lẽ không riêng gì ông
Mai Thảo mà các anh Nguyễn Mộng Giác,
Nguyễn Hữu Nghĩa... cũng đều biết
cái thói quen lâu ngày thành tật này của
tôi. Nói anh nghe anh đừng cười là ở
giai đoạn đầu, cái tật này phát hiện
chỉ vì sự nghi ngờ tài năng của mình. Số
là bài tôi gửi về
Văn
cho ông Mai Thảo
mà bị ổng "ngâm tôm" thì tôi đoán chắc
là trong đó có cái gì không ổn, trục
trặc. Bèn đọc lại, sửa lại, và có
khi viết lại. Mỗi lần làm vậy thì
mỗi lần ông Mai Thảo lại đăng. Thành
thử tôi hay đọc lại bài tôi viết. Kinh
nghiệm bản thân cho biết và đúng như lời
ông Mai Thảo đã nói, mỗi lần sửa là
mỗi lần bài hay thêm. Các bạn văn nếu
ai không tin cứ khơi khơi làm thử một
lần thì rõ. Nhiều lần tôi bất chợt
tự hỏi: tại sao ở chỗ này, ngay lúc đó
mình viết tệ như vậy. Nhưng không phải
sửa hoài hay hoài, một hai lần là trở
nên... chán ngắt. Sau này tại vì tôi biết
làm
typesetting
nên thiếu sót một chi
tiết hay sai một chữ, thú thiệt, không
sửa tôi chịu không nổi. Hóa ra chuyện
"xuất bút thành văn" thì chỉ dành cho những
ai có thiên tài về văn chương thôi, còn
như tôi thiệt tình có tốn công gọt dũa
đó. Nói như vậy thì theo anh, anh xếp
tôi vào trường phái nào đây?
Ð.H.Ðán
: Trong các tác phẩm anh có bao nhiêu phần
trăm sự thật? Và nếu tôi không lầm, anh
giữ nguyên tên các nhân vật mà anh cho vào
truyện của anh như bà Lê thị Bất Tri
chẳng hạn.
N.T.Hưng
: Tỷ số sự thật trong tác phẩm của tôi
có lẽ hơi cao. Riêng cuốn
Một Ðời
Ðể Học
thì trên 90 phần trăm là cái
chắc. Tất cả nhân vật phụ, Việt cũng
như Mỹ, đều là tên thiệt, người
thiệt. Ngoại trừ nhân vật chính. Anh làm
tôi hơi giựt mình khi đặt điều hỏi về
bà Lê thị Bất Tri. Mấy chị Bất Tri, Bất
Minh... đã nổi danh một thời con nhà nghèo
học giỏi, vậy mà ngay cả ở Mỹ Tho cũng ít
người nhắc tới. Người ta hay đề
cập đến tên Hải Ðường bởi cái án
mạng vì tình rùng rợn ở khu Hãng Xáng. Tôi
thấy không công bằng nên tôi lôi mấy
chị ấy vô.
Ð.H.Ðán
: Trong các nhà văn V.N. anh thích những
ai? Lý do? Và trong các nhà văn quốc tế,
anh thích những ai? Lý do?
N.T.Hưng
: Hồi còn đi học trung học tôi thích đọc
các nhà văn trong nhóm Tự Lực văn đoàn vì
cô và thầy hay khuyến khích làm tập đọc
sách. Tập đọc sách là tập viết lại sơ
lược cốt truyện của những sách mà mình
đã đọc. Cách trình bày, vẽ rồng vẽ rắn
trong đó cũng được chấm điểm nữa. Sau
này lớn lên tôi thích đọc những cây bút
gốc miền Nam như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam... và
những nhà văn viết trên tập san
Văn
. Tuy
nhiên, hễ gặp những gì quá sâu xa, triết
lý thì tôi rất sẵn sàng làm lơ. Về các
nhà văn ngoại quốc thì tôi chỉ đọc những
cuốn tiêu biểu mà hình như ai cũng đọc
hết mà thôi. Ðại khái như Vô Gia Ðình
của Hector Malot, Những Kẻ Khốn Cùng của Victor
Hugo, Lão Ngư Ông Và Biển Cả của Ernest
Hemingway, Tình Nghĩa Vợ Chồng của Leon
Tolstoi... vv. Ngoài các bộ truyện Tàu như
Tam Quốc Chí, Thủy Hử..., tôi còn đọc
truyện kiếm hiệp của Kim Dung, truyện liêu
trai ma quái của Bồ Tùng Linh, truyện ngắn
của Ba Kim. Lẽ dĩ nhiên toàn là sách dịch chớ
tôi chưa đủ khả năng đọc nguyên tác.
Ð.H.Ðán
: Anh sinh trưởng ở miền Nam, có ấn
tượng sâu đậm về quê hương tuổi
nhỏ, và đã dàn trải ký ức của mình
trong tác phẩm một cách sống thực, xin anh cho
biết có một phương pháp nào, hoặc áp
dụng kỹ thuật nào, hay chỉ viết một cách
tự nhiên theo xúc động tình cảm của
mình?
N.T.Hưng
: Ðó chẳng qua là sự thành công chung của
những cây viết gốc miền Nam. Và đó cũng
là chân lý mà tôi đã tìm ra sau nhiều
lần thất bại khi bắt mình quá tiểu thuyết
hóa truyện của mình.
Ð.H.Ðán
: Theo dõi các trang truyện trong Một Ðời
Ðể Học mới xuất bản, tôi nhận thấy
một cách thú vị rằng thành phố anh đang
sống, so với nhiều nơi khác ở Hoa kỳ, cũng
giống như một thành phố nhỏ so với Sài Gòn
ngày trước. Xin anh cho biết thêm một tí về
phong thổ, con người và cõi lòng riêng anh
đối với ngoại cảnh ấy, và cảm xúc của
anh khi bất chợt bắt gặp một vài hình ảnh
quê hương trên vùng đất tạm dung của
anh.
N.T.Hưng
: Ở Mỹ này đi đâu tôi cũng thấy
những hình ảnh quê hương, những cây ổi
tàu của ông Võ Phiến, là tại vì tôi bắt
mình chịu khó nhìn xứ Mỹ với cặp mắt
màu nâu. Tôi muốn mình như một sinh viên
du học. Du học có ngày về. Ðể bắt
chước ông Doãn Quốc Sỹ viết thêm những
Sầu Mây khác. Trong nỗi nhớ nhung hướng về
đất Mẹ. Tôi không muốn mình bị lai Mỹ,
tôi chưa muốn mình bị đồng hóa. Và
may mắn thay, tôi đã tìm được những gì
tôi muốn nhìn. Những thành phố nho nhỏ
giống như những quận lỵ, tỉnh lẻ thân
tình của quê hương Việt Nam. Nhất là ở
South Dakota đất rộng người thưa, diện
tích không thua gì các tiểu bang lớn mà
dân số không hơn bảy trăm ngàn. Vẫn còn
nồng nàn bản tánh hiền lành chất phác của
người nông dân lam lũ. Ðời sống có
vẻ hơi... lạc hậu, nhưng thanh bình. Phù
hợp với bản chất gốc miền Nam của tôi,
không thích đua đòi bon chen. Chính vì vậy
mà tôi muốn đưa vào truyện những hình
ảnh đơn sơ đượm nét quê nhà, những
tâm tình mộc mạc hồn nhiên đó. Chỉ
tiếc rằng vùng này không có
job
cho tôi.
Ð.H.Ðán
: Anh vừa viết văn và làm thơ. Vậy xin
anh cho biết thơ anh ở vào trường phái nào?
N.T.Hưng
: Trường phái "Thơ thẩn." Không biết do
ai sáng lập, nhưng anh cũng biết trường
phái này lớn lắm, qui tụ hầu hết các
nhà văn... thỉnh thoảng quay ra làm thơ. Thơ
của tôi được coi như là những sáng tác
từ cánh tay trái của nghề tay trái mà
thôi. Không đủ
ý thơ, tứ thơ
mà ông
Nguyễn Hưng Quốc thường nói đâu.
Ð.H.Ðán
: Anh nghĩ sao về ngôn ngữ của thi ca
qua các thời đại?
N.T.Hưng
: Anh phải đợi tới chừng nào tôi chuyển
thơ qua tay phải thì tôi mới nói cho anh nghe thông
suốt được. Bây giờ thì ngôn ngữ thi ca
qua các thời đại đối với tôi chính là
những câu ca dao, những câu phương ngôn
tục ngữ vậy.
Ð.H.Ðán
: Xin anh cho biết khi nào anh viết văn? Khi
nào anh làm thơ? Hoặc là tùy hứng thích
gì làm nấy?
N.T.Hưng
: Làm thơ thì thông thường phải có hứng
tôi mới làm được. Nhưng đôi khi tôi
cũng thẩn... thơ ra một hai bài, lúc đang bị
bí đề tài viết văn. Ấy chết, nói như
vậy những nhà thơ chính thống nghe được
thì thêm phiền. Thôi anh cho tôi ngưng thơ
ở đây đi.
Ð.H.Ðán
: Xin anh cho biết trong các nhà thơ V.N., anh
thích những ai? Lý do? Cả các nhà thơ quốc
tế nữa, anh thích những ai? Lý do?
N.T.Hưng
: Lại thơ, anh Ðán này khó tính quá. Á,
mà câu này trả lời dễ như... ăn chè. Anh
hãy nghe đây, những nhà thơ Việt Nam mà
tôi thích thì nhiều lắm. Ðể coi lúc mình
học trung học thì bắt đầu từ nhà thơ
nào hà. Nguyễn Trãi, Tản Ðà, Nguyễn
Khuyến, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Hồ
Xuân Hương, Ðoàn thị Ðiểm, Nguyễn Ðình
Chiểu..., Nguyễn Du. Thơ tiền chiến của
Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Nguyễn
Bính... thì ai lại không thích. Thơ cận
đại và hiện đại thì nhiều tác giả
lắm không sao kể hết nên xin miễn
kể. Còn những nhà thơ ngoại quốc thì
vốn liếng của tôi có lẽ chỉ là những
gì tôi học về Văn học sử Pháp bậc
trung học. Ừa, tôi thích Pierre de Ronsard...
Ð.H.Ðán
: Trở lại vấn đề viết văn, anh
có ý định viết một quyển trường
giang tiểu thuyết mà nhân vật chính không
phải là anh không?
N.T.Hưng
: Như anh biết ở ngoài đời tôi đã
bao phen thất bại mới có chút chút thành
công. Trong văn chương cũng vậy, tôi cũng
bị ba chìm bảy nổi mới được lờ mờ
ló dạng như bây giờ. Và tôi đã có một
lần thất bại ở truyện dài, suýt chút
nữa giữa đường gãy gánh, nên tôi hơi
ớn. Tôi bèn đẻ ra cái lối truyện dài
theo kiểu của tôi như anh thấy ở tác phẩm
Một Ðời Ðể Học
. Ban đầu tôi
định để là "tập-truyện-dài" nhưng
sợ chẳng ai hiểu nó là cái quái gì hết,
nên đành để truyện dài không thôi. Mục
đích của hai chữ truyện dài chỉ là để
hướng dẫn độc giả nên đọc những
truyện ngắn theo thứ tự từ đầu
đến cuối. Ðừng đọc tắt ngang theo
kiểu tập truyện ngắn thì tác phẩm
sẽ mất đi phần nào ý nghĩa. Viết truyện
dài theo kiểu này vừa dễ vừa có lợi
anh biết không? Dễ vì truyện ngắn dễ
viết hơn truyện dài, có thể đây là
trường họp của riêng tôi. Còn có lợi
là toàn tác phẩm có thể được phổ
biến rộng rãi trên nhiều báo. Thử
hỏi anh đưa một cuốn truyện dài cho
mỗi một tạp chí, nếu họ chịu trích
đăng giới thiệu thì đăng được
mấy đoạn? Một đoạn thôi thì uổng
công mình quá xá. Dĩ nhiên nếu đăng
hết tác phẩm thì không thành vấn đề,
không nói làm chi. Mà không thành vấn
đề là đối với những người viết
nhiều như các anh Nguyễn Ngọc Ngạn, Hồ
Trường An... chớ những ai chân ướt
chân ráo như tôi, mới có một hai cuốn
đầu đời nâng niu như nâng trứng thì
rõ ràng việc phổ biến càng rộng rãi
càng mừng. Rồi bây giờ nếu tôi gom năm
ba cuốn tự truyện của tôi lại thì không
phải là một bộ trường thiên tiểu thuyết
tự truyện hay sao? Chỉ kẹt một điểm
nhân vật chính cũng vẫn là tôi hả? Khổ
thiệt. Nói vậy chớ tôi đâu phải lúc nào
cũng viết tự truyện. Tự truyện nào
viết hoài lại không hết. Phải viết sang
gia đình truyện, bạn bè truyện, làng xóm
truyện, xã hội truyện nữa chớ. Nhưng
mà thôi, tôi thấy "văn chương" của tôi
vẫn còn nằm trong giai đoạn phôi thai, còn
sớm quá để bàn đến vấn đề này.
Ð.H.Ðán
: Anh có nhận xét gì về văn chương
ở hải ngoại?
N.T.Hưng
: Tôi nhớ có lần anh Võ Kỳ Ðiền cho
rằng văn chương hải ngoại có ba khuynh hướng
dễ thấy là: đấu tranh với cộng sản,
nhớ tới đời sống cũ ở quê nhà, và
hội nhập cuộc sống mới ở xứ
người. Ðây là một nhận xét rất
trung thực, căn bản. Sau này có người cũng
đưa ra một nhận xét tương tự như vậy,
gọi là những khuynh hướng: đấu tranh, hoài
cổ, và xã hội. Ðồng thời ghi nhận
thêm hai khuynh hướng mới: giao lưu văn hóa
và phóng sự xã hội. Nhưng vẫn còn
thiếu. Theo tôi, còn một khuynh hướng
nữa rất là quan trọng: biên khảo và nghiên
cứu. Biên khảo và nghiên cứu về văn
chương, văn hóa dân tộc, đó không phải
là một khuynh hướng văn chương sao? Ngoại
trừ khuynh hướng tôi vừa mới nêu lên,
hầu hết trong các khuynh hướng kia lối
văn "hồi ký" hình như được sử dụng
hơi nhiều. Nói cho ngay, đã gọi là truyện,
truyện ngắn cũng như truyện dài, không
ít thì nhiều đều đã có tính chất
kể lại. Mà muốn kể lại thì phải
nhớ lại, ghi lại. Tức là hồi ký? Rõ,
chạy trời không khỏi nắng... Nhìn chung,
tôi thấy nền văn chương hải ngoại rất
dồi dào, phong phú. Và càng ngày càng đi
lên, tôi có cái nhìn lạc quan như vậy.
Có một sự kiện xảy ra hết sức là
ngoạn mục, mà anh Hồ Trường An không
đồng ý với những ai hay gọi là một
hiện tượng, là sự xuất hiện của
nhiều cây viết gốc miền Nam. Không
ngoạn mục sao được khi lãnh vực văn
chương thi phú xưa nay như dành riêng cho
những ai sinh trưởng ở miệt Thăng Long
thành hay chốn Thái Hòa điện! Với tôi
còn có thêm một sự kiện xảy ra không kém
phần ngoạn mục nữa. Ðó là xứ láng
giềng của tôi, cách nhau chỉ mỗi dòng
Cửu Long và cái bắc Rạch Miễu, bỗng
nhiên đẻ ra nhiều nhà văn nữ: Phan
thị Trọng Tuyến, Nguyễn thị Ngọc Nhung,
Cao Bình Minh, và gần đây Nguyễn thị Ngọc
Diễm. Mỗi người mỗi vẻ mười phân
vẹn... mười một, nên tôi phải... để
ý. Chu mẹt ơi, rõ ràng cái xứ Bến Tre
là xứ âm thịnh dương suy (trong văn
chương). Bớ các ông già Ba Tri ơi, nhỏm
dậy mà coi! Tôi thấy hình như chỉ có
một nửa hình hài của anh Ngô Nguyên Dũng
là chịu khó... đứng lên đáp lời
sông núi.
Ð.H.Ðán
: Nếu cho anh đi lại từ đầu, anh
sẽ làm gì?
N.T.Hưng
: Không biết anh có tin ở số mạng hay
không, chớ riêng tôi, tôi đã nhiều lần
ở trong trường họp mình không thể quyết
định cuộc đời của mình. Với tôi, ngay
cả việc viết văn, chạy qua Mỹ, làm tình
báo, đi lính, xa nhà trọ học... tôi đang đi
sụt lùi đấy, cũng là chuyện do duyên may
dun rủi hay định mệnh đưa đẩy mà
thôi. Mặc dù cuộc đời tôi có gian
truân khổ sở đó, có lên voi xuống chó
đó, nhưng hình như lúc nào tôi cũng yêu
đời, cũng luôn luôn bằng lòng với hoàn
cảnh, số kiếp của mình. Cho nên, nếu cho
đi trở lại từ đầu thì nói thiệt anh
thương, tôi chỉ mong được làm y chang những
gì tôi đã làm. Quyết không thèm làm tổng
thống, thủ tướng mốc xì gì ráo trọi.
Ð.H.Ðán
: Xin anh cho biết dự định (về văn
nghệ) của anh.
N.T.Hưng
: Tôi đang trông
Làng Văn
xuất bản tập
truyện đầu tay
Một Chuyến Ra Khơi
của
tôi xem mặt mũi ra sao cái đã, rồi mới tính
tới được. Có thể nghỉ xả hơi một
thời gian để nhìn lại quá trình mình đã
đi qua tìm ưu khuyết điểm, rút kinh nghiệm
cho những lần tới. Nếu những lần tới
thực sự có trong tương lai. Mà thử hỏi
có ai biết được chuyện tương lai?
Ð.H.Ðán
: Anh cho biết luôn tình trạng báo chí
ở hải ngoại.
N.T.Hưng
: Tôi ở xa các trung tâm báo chí nên tôi
không rành mấy. Chỉ nghe nói số nhà báo
tiếng Việt ở hải ngoại đã vượt quá
con số 250 và càng ngày càng tăng. Như vậy
thì làng báo chí ta phồn thịnh quá mức
rồi phải không anh?
Ð.H.Ðán
: Xin anh cho biết các thú giải trí của anh.
N.T.Hưng
: Ngoài trời thì tôi mê tennis, chạy bộ,
và câu cá. Trong nhà thi thích chơi guitar, trống,
và nghe nhạc. Còn trên giường thì... đọc
sách cũng là một trong những thú giải trí
thần tiên của tôi vậy.
Ð.H.Ðán
: Anh muốn nói gì với độc giả Làng
Văn đây?
N.T.Hưng
: Xin thành thật cám ơn độc giả
Làng
Văn
, độc giả khắp năm châu thế giới,
đã bỏ chút thì giờ quý báu để nghe
tôi nói về tôi. Xin tạm biệt và hẹn ngày
tái ngộ nếu anh Ðán dám xâm mình phỏng
vấn tôi lần nữa.
back to top
04. BẠT CHO TRUYỆN DÀI MỘT THUỞ LÀM "TRÙM"
HỒ TRƯỜNG AN
Tôi có hai quê hương: Vĩnh Long và Mỹ Tho. Vĩnh Long là
quê nội của ba tôi, nơi tôi mở mắt chào đời. Mỹ Tho là
quê ngoại của má tôi, nơi tôi trải qua tuổi thơ ấu thần
tiên, và cũng là nơi tôi đeo đuổi học vấn ở bậc trung
học đệ nhị cấp tại trường Nguyễn Ðình Chiểu.
Nguyễn Tấn Hưng là dân Mỹ Tho, lại là cựu học sinh trường
Nguyễn Ðình Chiểu. Có lẽ vì lẽ đó khi ra quyển truyện
dài
Một Thuở Làm "Trùm"
, anh nhờ tôi, kẻ đồng hương của
anh viết Bạt chăng?
Ngành văn chương ở hải ngoại ngoài lực lượng các cây bút
nữ đáng kể còn thêm hiện tượng các nhà văn gốc miền
Nam. Văn chương hay thì bất luận của người Nam hay của kẻ
Bắc. Nhưng mà hiện tượng các cây bút miền Nam ở hải
ngoại sở dĩ được nói tới là tại cái tính chất hồn
nhiên, xuề xòa, dễ hiểu, dễ gây cảm thông với độc giả
của tác phẩm họ. Phạm Thăng, Huỳnh Hữu Cửu, Hồ Trường
An, Kiệt Tấn, Nguyễn Văn Sâm, Võ Kỳ Ðiền, Võ Hoàng,
Nguyễn Văn Ba, Ngô Nguyên Dũng, Vũ Nam, Phan thị Trọng
Tuyến, Cao Bình Minh, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Trần thị Kim
Lan, Nguyễn thị Ngọc Diễm đã là những cây bút thành danh,
dù có người chưa có tác phẩm đầu tay.
Ở đây, tôi xin nêu ra cái quá khứ để viết văn của hai
thế hệ. Phạm Thăng, Huỳnh Hữu Cửu, Kiệt Tấn, Hồ
Trường An, Võ Kỳ Ðiền, Nguyễn Văn Ba là thế hệ đã có
đi và sống ở trên đất nước từ thuở tiền chiến, hoặc
từ thuở chiến tranh Việt Pháp, hoặc từ thuở bình minh của
chế độ Ðệ Nhứt Việt Nam Cộng Hòa. Bởi đó, văn
chương họ dồi dào những tập tục, những cảnh sống ngoài
thành phố, ngòi bút họ len lỏi được vào thôn quê trong
thuở thanh bình để sống với cái truyền thống của dân
tộc.
Lớp trưởng thành từ cuộc nội chiến như Phan thị Trọng
Tuyến, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Nguyễn thị Ngọc Diễm, Cao
Bình Minh, Vũ Nam thì ngòi bút của họ chỉ khai thác được
những câu chuyện ở thành phố, ở các vùng ngoại ô. Ðôi
khi, họ cũng viết về đồng quê, nhưng họ chỉ đóng vai
khách tỉnh về thăm quê, làm nhân chứng cảnh quê hương loạn
lạc trong cuộc giao tranh giữa hai phe Quốc Cộng, chứ không
phải là những cây bút hòa mình vào nhịp đập của trái tim
thôn quê, thở theo hơi thở dân quê.
Còn Nguyễn Tấn Hưng thì sao?
Nguyễn Tấn Hưng xuất thân từ một gia đình nghèo ở miệt
vườn. Anh trải qua thời thơ ấu, thời mới lớn thiếu
thốn đủ thứ về phương diện vật chất, nhưng anh cố ăn
học để có một địa vị sáng sủa dưới bóng mặt trời. Anh
trưởng thành từ thuở Ðệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Rồi
anh bước chân vào quân đội (quân chủng Hải quân). Anh trải
qua từ thời bình đến thời nhiễu nhương. Trừ Vũ Nam và
tôi ra, trong các cây bút nam mà tôi vừa kể, không có cây
bút nào dấn thân vào cuộc chiến như anh. Nhưng tôi là thứ
sĩ quan văn phòng, quanh quẩn mãi ở Quân Khu III. Còn anh thì
len lỏi nhiều địa danh ở đất nước. Từ Huế, Ðà
Nẵng, Sông Cầu, Nha Trang anh nhào ra Phú Quốc. Tại Phú
Quốc, anh giữ chức vụ trưởng phòng Tình báo cho tới ngày
rã ngũ...
Phú Quốc, nơi đã tạo cho Nguyễn Tấn Hưng biết bao chất
liệu để anh viết cuốn
Một Thuở Làm "Trùm."
Trong bức thư từ Winston-Salem đề ngày 18 tháng 2 năm 1989,
Nguyễn Tấn Hưng than rằng tác phẩm đầu tay của anh bán hơi
chậm. Tôi sẵn sàng chia xẻ với Hưng, nhưng tôi nghĩ rằng
hơi chậm còn hơn là bán không trôi. Bán không trôi còn hơn
là bán chạy mà không có một tính chất nghệ thuật để không
tạo một chỗ đứng nào ở văn đàn cho tác giả.
Tác phẩm Hưng bán chậm là vì anh viết
thật quá
, anh
không thèm pha tính chất tiểu thuyết cho tác phẩm mình. Anh
nghe gì thấy gì viết nấy, không bịa tình tiết gay cấn theo
kiểu tiểu thuyết ba xu.
Một Thuở Làm "Trùm"
là một tác
phẩm tự truyện đúng hơn là tiểu thuyết tự truyện.
Ðộc giả phải có tinh thần tìm hiểu một cảnh sống, một
đoạn đời trên đất nước cố hương mới có thể thưởng
thức tác phẩm anh một cách thống khoái. Còn ai đó, muốn
thưởng thức những tình tiết gay cấn éo le theo kỹ thuật
dựng truyện phiêu lưu, hay muốn tìm tình tiết thắt mở như
tình tiết phim ảnh video của Tàu, chắc sẽ thất vọng lắm,
khổ sở lắm. Nguyễn Tấn Hưng rất bướng bỉnh, tôi xin
báo trước. Anh không chiều theo thị hiếu của ai cả. Anh
chỉ nhằm vào Chân Thiện Mỹ mà làm cuộc bút trình.
Tôi xinh trích một đoạn thư khi anh nhờ tôi viết Bạt tác
phẩm thứ ba của anh...
Nản thì nản thiệt, nhưng làm thì
cứ làm, tới đâu hay tới đó. Bởi vậy, gửi sang anh tác
phẩm thứ ba vừa viết xong
.
Một Thuở Làm "Trùm"
đây. Và khi đọc xong anh làm ơn viết giùm cái Tựa
hay cái Bạt. Anh nhớ đọc kỹ một chút cho Hưng này nhờ.
Cuốn sách này tôi viết ra bằng những lời chân thành tâm
huyết đó
... Quả nhiên, đọc xong
Một Thuở Làm "Trùm"
,
tôi mới nhận thấy đây là một tác phẩm mà Nguyễn
Tấn Hưng viết bằng tâm cơ, bằng tận cùng của nhiệt
thành.
Khoảng đời làm tình báo của anh, nếu được theo dõi toàn
bộ, phải bắt đầu từ truyện
Trăng Mật Bến Sông
Cầu
trong tác phẩm
Một Chuyến Ra Khơi
và truyện
Sợi
Dây Ðịnh Mệnh
trong tác phẩm
Một Ðời Ðể Học
, cùng
một tác giả. Ðó là hai chương gối đầu cho tác phẩm thứ
ba này, để nói lên nguyên do nào nhân vật xưng tôi, tên
Hoàng, chọn nghiệp tình báo, cũng như những hoạt động có
ít nhiều liên hệ với những biến động của đất nước
trong cuộc nội chiến Quốc Cộng, mà tác giả xem là "những
hoạt động liêm chính trong đất liền." Rồi
Một Thuở Làm
"Trùm"
mở ra, tuy cảnh máu lửa chết chóc không còn, nhưng
biết bao biến cố cứ nườm nượp xảy ra, tạo một giòng
cuồng lưu sôi động khác một cách kỳ thú.
Tại sao tác giả đặt cái tựa
Một Thuở Làm "Trùm"
cho quyển
sách của mình? "Trùm" đây tức là "trùm tình báo," trưởng
phòng Nhì Vùng 4 Duyên hải Phú Quốc. Cái nhiệm sở trưởng
phòng tình báo mới nghe qua là bọn nằm vùng, hoặc bọn có
dây mơ rễ má với Cộng Sản thuở đó đã nổi da gà. Cái
chức vụ "trùm" trong guồng máy điều hành một Tiểu khu,
Ðặc khu, hay Vùng Duyên hải là một chức vụ nếu không sáng
giá thì cũng le lói lắm. Nhưng, khi làm "trùm" tại Phú Quốc
cũng như trong đất liền, thật ra tác giả hầu như không có
dịp nào để hét ra lửa. Tựa sách này có một ngụ ý mỉa
mai châm biếm hết sức nhẹ nhàng, mà khi đọc xong cuốn sách
chúng ta mới thấy rằng các nhân viên phòng tình báo xưa nay
thường chỉ biết lo ăn nhiều hơn lo diệt địch. Mang tiếng
"trùm" mà đúng ra anh chỉ làm nhân chứng cho những diễn biến
xảy ra trên một vùng đất quê hương có biển vây quanh.
Ðây là một ông "trùm" hư vị, có rất ít thực quyền.
Một thứ "trùm" đặc biệt đã tạo cái bất ngờ cho quyển
sách.
Một Thuở Làm "Trùm"
kéo dài từ chương 1 có cái tựa
cùng tên sách cho tới chương 7,
Trong Cảnh Sống Còn
,
tới đây chúng ta bỗng thấy cuộc đời của nhân vật đã
quẹo qua một khúc quanh mới, đó là cuộc dấn thân trên
đường di tản. Bước qua chương 8,
Ngày Qua Trên Xứ
Lạ
, tác giả đưa độc giả đi lần vào cuộc sống định
cư mới... Ở đây, nếu tôi không lầm là chương mở đầu
của một tác phẩm kế tiếp mà Nguyễn Tấn Hưng sẽ viết về
cái xứ Mỹ, đất tạm dung dài hạn ở Mỹ. Bối cảnh Phú Quốc
và cuộc đời đi đi về về giữa những nhiệm sở và các
chuyến hải trình trong tác phẩm nầy gồm những chương
Một
Thuở Làm "Trùm," Một Lần Ði Một Lần Ở, Ðường Vào Bến
Mê, Tâm Sự Kẻ Sang Miên, Ðông Phương Ngư Nghiệp Công
Ty
, và
Những Kẻ Cướp Của Giết Người
. Tới
chương
Trong Cảnh Sống Còn
là chương kết thúc một
thuở làm "trùm" của tác giả. Và
Ngày Qua Trên Xứ Lạ
là chương gia đình tác giả ở trên đất Thái Lan, chờ ngày
qua định cư ở Mỹ.
Trong tác phẩm
Một Thuở Làm "Trùm"
chỉ có hai chương
Một
Thuở Làm "Trùm"
và
Một Lần Ði Một Lần Ở
tương
đối có một không khí an lành, thanh thản. Những chương
khác đều sôi động, với nhiều gay cấn, trầm luân như
những chuyến phiêu lưu trên màn ảnh. Ðó không phải là
những tình tiết hư cấu, mà trái lại, rất sống thực.
Từ chương
Ðường Vào Bến Mê
, độc giả đã bị
Nguyễn Tấn Hưng thôi miên, cuốn hút. Anh bắt mọi người
cùng tham dự một thuở làm "trùm" của anh, chia xẻ tâm sự
với anh, cùng anh đi ngăn chận bọn ngư phủ Thái Lan xâm nhập
vào hải phận Việt Nam, cùng đi bắt bọn buôn lậu, cùng
điều đình du di với bọn buôn lậu để đôi bên không ai
thiệt hại về lợi lộc lẫn danh dự. Chưa hết đâu,
Nguyễn Tấn Hưng còn dắt chúng ta sang Cao Miên trao đổi con
tin, dắt chúng ta tiếp đón đoàn người di tản từ Vùng 2,
Vùng 1 bị thất thủ, dắt chúng ta chứng kiến cuộc hành
quyết các kẻ cướp của giết người trên đoạn hải trình di
tản này. Và tới chương
Trong Cảnh Sống Còn
, tác giả
kể lại đoạn đường rời bỏ đảo Phú Quốc, di tản sang Thái
Lan trong cảnh tan hàng rã ngũ, vượt thoát chế độ Cộng Sản
với nỗi cam go, mà độc giả hồi hộp từng phút từng giây
theo hành trình ngọn bút của anh.
Nguyễn Tấn Hưng, một nhà văn có biệt tài chiêu niệm
và tái sinh cái quá khứ đầy hứng thú của riêng anh, của một
thuở chống Cộng cứu nước của dân miền Nam. Nguyễn Tấn
Hưng viết
Một Thuở Làm "Trùm"
với tâm trạng người chiến
binh rã ngũ, ở một góc trời hải ngoại nhìn về tổ quốc
đã mất, ngoái trông một quá khứ hào hùng càng lúc càng
lùi xa. Anh viết bằng cả tâm huyết, nhưng mạch văn anh luôn
trong sáng, điềm tĩnh, không sướt mướt, tỉ tê. Vậy mà
càng đọc
Một Thuở Làm "Trùm"
, độc giả càng thấm thía,
càng chua xót ngậm ngùi. Và, chúng ta cùng có một cảm nhận
là tác giả không phải chỉ ngừng bút ở quyển này. Còn có
cơ hội tốt, tác giả sẽ viết thêm về đời lính hải quân,
tỉ mỉ hơn, hào hùng và đam mê hơn. Và trong mọi tình cảnh,
dù sôi động hay dịu dàng, mạch văn anh cứ thao thao, muốn
phơi bày trăm điều ngàn việc, bắt độc giả cùng tham dự,
chia xẻ cái quá khứ và cuộc đời binh nghiệp của anh. Ðộc
giả cứ thế bị anh lôi cuốn, không thể rời được nữa,
bắt đầu từ chương
Ðường Vào Bến Mê
.
Cái đáng sợ cho một nhà văn là sống ít, cứ quanh quẩn ở
tháp ngà, ở một thành phố an lành. Nguyễn Tấn Hưng từ
thuở đi học đã quăng mình vào nghịch cảnh, để rồi khi vào
lính, anh quay mòng với bao cơn trốt, phấn đấu với phong
ba. Chất liệu sống của anh tràn trề, biến cố xảy đến
anh tới tấp. Anh chỉ cần chọn lựa những biến cố hào
hùng, những góc cạnh sắc nét của cuộc đời binh nghiệp
để đưa vào tác phẩm. Ngòi bút anh cứ thế mà làm sống
lại từng chặng đời anh. Và bởi được hướng dẫn bằng
niềm ưu ái, bằng sự triều mến cái quân chủng do mình đã
chọn lựa, cây bút của anh vẫn giữ được sự từ tốn khi
kể lại những điều trái tai gai mắt, không đã kích, không
sôi nổi thù hằn, không nói lời thô thiển, ác độc.
Ðây là cây bút nhân hậu, đáng mến. Qua cây bút đó,
chúng ta đã bắt gặp một đại tá Khương Hữu Bá, Tư lệnh
Vùng 4 Duyên hải, người ít ra cũng còn giữ cái liêm khiết,
đạo đức khi từ chối việc dây dưa, móc nối của bọn buôn
lậu! Chúng ta đã tiếp xúc qua Nguyễn Tấn Hưng một đại
tá Thiện hiểm ác, tỏ ra ám muội trong việc ban lệnh hành
quyết những kẻ mà ông mệnh danh cướp của giết người.
Còn nữa, trong tác phẩm này có một thượng sĩ Nghĩa thực
tế, quyền biến, một Lý Bình gian thương, giỏi việc lươn
lẹo, móc nối, nhưng không phải là một nhân vật hoàn toàn
đáng ghét vì đôi lúc hắn có vài điểm dễ mến. Ðiều
mà tôi xúc động hơn là nhân vật cha của tác giả, một
người thợ mộc chất phác, đôn hậu nhưng thích tìm hiểu,
thích vấn đề
cận nhân tình
. Trong chuyến ra Phú Quốc
thăm con, ông lân la làm quen khắp xóm, khắp đảo. Ông
tượng trưng lớp dân miền Nam hiền lành, uyển chuyển trong
việc giao tế không phải để cầu lợi mà để thỏa mãn kiến
thức, để đi sâu vào tình người. Ngần ấy nhân vật
được tác giả vẽ lên bằng nét chấm phá sơ sài, nhưng là
những nét phóng bút sắc sảo và ngoạn mục. Ðồng ý với anh
Mai Thảo rằng Nguyễn Tấn Hưng có một ký ức bén nhạy và
tinh nhuệ. Ðó là một ưu điểm để viết một tác phẩm
có tính cách hồi ký. Từng nhân vật, từng bối cảnh,
từng sự việc cứ dắt díu nhau mà xuất hiện theo hành trình
ngòi bút anh với những nét đặc thù, độc đáo. Và cứ
như thế mà bủa giăng khắp trang sách này sang trang sách khác.
Văn chương hải ngoại có nhiều khuynh hướng thì mới có
thể gọi là một văn chương phồn thịnh. Qua
Một Chuyến Ra
Khơi
và
Một Thuở Làm "Trùm"
, Nguyễn Tấn Hưng có một chiếu
riêng, một đường lối riêng về đề tài. Do đó, anh là
một cây bút độc đáo với vốn sống quá đỗi dồi dào.
Nếu anh viết chậm hơn, tỉ mỉ hơn cuốn sách có thể kéo
dài ngót nghét thêm một hai trăm trang nữa.
Nguyễn Tấn Hưng tuổi đời chỉ độ tứ tuần, không hẳn
là còn quá trẻ, nhưng vẫn là cây bút ở vào tuổi sung mãn
nhất cuộc đời để sáng tác vừa phong phú vừa chín chắn.
Anh không những chỉ đóng góp vào văn đàn bằng tác phẩm
của mình, mà anh còn rọi sáng cho chúng ta một đoạn lịch sử
có anh tham dự, góp một viên gạch vào việc xây cất ngôi
đền tổ quốc trong tâm tưởng người dân mất nước là
chúng ta đây. Bởi đó,
Một Thuở Làm "Trùm"
là một tác
phẩm có giá trị ở hai, ba mặt.
Cổ Nguyệt Ðường, chớm Xuân 1989
back to top
05. GIỚI THIỆU TÁC GIẢ MỘT THƯỞ LÀM "TRÙM" *
NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
Khi nhận lời để nói về tác giả Nguyễn Tấn Hưng,
thật tình lúc đầu tôi cũng rất khớp, nhưng rồi cuối cùng
tôi cũng phải bị tài thuyết phục của anh lôi cuốn. Như quí
vị ở đây có người ít ra cũng đã hơn một lần được
biết lối nói chuyện rất là dí dỏm và rất thu hút khán
thính giả của anh Nguyễn Tấn Hưng, tác giả quyển
Một Thuở
Làm "Trùm"
ngày hôm nay. Trong lần trước, khi ra mắt cuốn
GIAI THOẠI HỒNG
của anh Hồ Trường An, anh Nguyễn Tấn Hưng
đã có mặt ở đây để nói đôi lời về "Văn chương
miệt vườn" mà anh có lần bảo với chúng ta tại sao không
gọi là "Văn chương miệt ruộng." Nói về "Văn chương
miệt vườn" hay là "Văn chương miệt ruộng" hoặc nói rộng
hơn một chút nữa là "Văn phong miền Nam" của anh Nguyễn Tấn
Hưng thì lát nữa đây anh Võ Ðình, họa sĩ kiêm nhà văn,
sẽ trình bày. Rất tiếc tôi không phải là người đưa
quí vị đi tìm anh Nguyễn Tấn Hưng qua tác phẩm. Ði tìm
một người mình vốn ưa thích qua tác phẩm là một điều
hết sức thú vị, nhưng tôi nghĩ biết về tác giả và cuộc
đời của ông ta cũng là một điều thú vị không kém. Chả
là khi đề tựa cho tập thơ
LỬA THIÊNG
, Xuân Diệu đã
không quên nhắc đến hình dáng mái tóc của Huy Cận. Thời
xưa, khi giới thiệu Lỗ Tấn với độc giả Việt Nam, ông
Ðặng Thái Mai cũng đã chú ý đến cách mô tả nhà văn
Trung Quốc này vì cho rằng "hữu ư trung tất hình ư ngoại."
Ở anh Nguyễn Tấn Hưng, tôi tin chắc tất cả bạn bè của
anh và những ai đã quen biết anh đều nhận thấy là toát ra
bên ngoài vẻ chân thật, hiền hòa của người miền Nam. Ðó
cũng là tính cách hiển hiện hơi hám trong toàn bộ trước
tác của anh Nguyễn Tấn Hưng. Khi trả lời cuộc phỏng vấn
của anh Hồ Trường An qua tạp chí
Làng Văn
thì chính
anh Nguyễn Tấn Hưng cũng đã xác nhận "tỉ số sự thật
trong tác phẩm của tôi rất cao, riêng cuốn
Một Ðời Ðể
Học
thì trên 90 phần trăm là cái chắc." Cuốn tiểu
thuyết tự truyện
Một Ðời Ðể Học
là tác phẩm đầu
tay của anh vừa được
Làng Văn
ấn hành năm ngoái.
Cũng trong phần nói chuyện với anh Hồ Trường An, tác giả
Nguyễn Tấn Hưng đã cho chúng ta biết một chút tiểu sử
của mình. Nguyên văn như sau: "Tôi, Nguyễn Tấn Hưng,
sinh ngày 8 tháng 5 năm 1945 tại làng Bình Phục Nhứt, quận
Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho; là con của ông Nguyễn Văn Sỏi và
bà Võ Thị Trang; hiện cư ngụ tại... Mỹ." Mỹ ở
đây dĩ nhiên không phải là Mỹ Tho mà là vùng đất tạm
dung của chúng ta, tại thành phố Winston-Salem thuộc tiểu
bang North Carolina, nơi có nhiều hoa dương đào và chim lông
đỏ. Chỉ có sơ sơ vài đoạn như vậy có lẽ quí vị cũng
đoán biết anh Nguyễn Tấn Hưng có rất nhiều máu tiếu
lâm trong người. Chỉ cần nhìn vào nét mặt của anh
Nguyễn Tấn Hưng, nói với anh ấy năm ba câu, mà tôi
tin chắc lát nữa đây quí vị sẽ bắt gặp tác giả bằng
xương bằng thịt, quí vị cũng sẽ có một ý nghĩ như tôi.
Con người nhộn nhịp ấy còn là một người rất ham mê
học. Thuở nhỏ anh xuất thân từ trường Nguyễn Ðình
Chiểu, Mỹ Tho. Sau đó, xong tú tài 2, anh lên Sài Gòn
học ở phân khoa Khoa Học. Tiếp theo, mộng hải hồ trổi
dậy trong người, anh nộp đơn vào Khóa 17 Sĩ quan Hải quân
Nha Trang. Ra trường, lênh đênh tàu buồm một thời gian,
anh lại trở về trường Cây Mai học tình báo và làm sĩ quan
tình báo trong Hải quân cho đến ngày bỏ chạy sang Mỹ. Qua đây
dù nặng gánh thê nhi nhưng anh vẫn tiếp tục cuộc hành
trình. (Ở đây tôi xin phép quí vị được mở một ngoặc
đơn nhỏ, anh Nguyễn Tấn Hưng là bố của một gia đình bốn
con. Vợ anh Nguyễn Tấn Hưng là chị Phan thị Hồng Lan, có
mặt ở dưới ghế khán giả, xin mời chị Phan thị Hồng Lan
đứng dậy. Con cái anh ấy vì đang bận học nên không có
mặt hôm nay để chia vui cùng bố). Trở lại vấn đề học
vấn, mặc dù bận rộn với đời sống, vợ con, anh Nguyễn
Tấn Hưng vẫn cố gắng đi học trở lại. Anh đã giựt bằng
Cao học và bây giờ nghe đâu anh ấy đang lăm le định giựt
luôn cái Tiến sĩ cho trọn kiếp "một đời để học," tôi
xin mượn tựa đề của một tác phẩm của anh.
Ngoài việc đi học và đi cày lo cho đời sống cơm áo hằng
ngày, anh Nguyễn Tấn Hưng còn là một nhà văn đang ở trong
thời kỳ sáng tác sung mãn nhất. Sau
Một Thuở Làm "Trùm"
,
tác giả đã giao cho nhà xuất bản
Làng Văn
tác phẩm
thứ ba,
Một Chuyến Ra Khơi
, sẽ phát hành năm tới và sau
đó tập truyện
Một Cảnh Hai Quê
.
Nhân nói sơ về sự nghiệp của anh Nguyễn Tấn Hưng, tôi
bỗng nhớ lại một buổi họp thân mật vào cuối tháng 9 vừa
rồi ở nhà anh Nguyễn Ngọc Bích, chủ tịch trung tâm Văn Bút
Miền Ðông như ai cũng đã biết, thì trong lúc bàn bạc vui
chuyện, có vài anh chị tỏ ý muốn đặt lại giá trị của
một tác phẩm và đại khái một tác phẩm phải được công
nhận như thế nào mới nên được anh chị em bảo trợ, đặc
biệt nhất là những người đã luôn luôn bỏ công lao và
hết thì giờ vàng bạc để duy trì những buổi sinh hoạt ra
mắt sách như thế này. Tôi nghĩ ở điểm này ngay cả anh
Bùi Bảo Trúc, người điểm sách quen thuộc của đài VOA,
cũng sẽ đồng ý với tôi rằng là trong văn học thường
thường cũng có nhiều nhà phê bình đã phát biểu nhiều
ý kiến hết sức là trái ngược nhau. Có người coi văn
chương của người này có khuynh hướng thấp hèn không đáng
đọc, người kia lại hết lời ca ngợi tâng bốc cho rằng
tác giả đã phản ảnh được trách nhiệm cao của người
cầm bút cũng như khuôn mặt của đời sống đương thời.
Tác phẩm của những tác giả còn đó, tác phẩm của anh
Nguyễn Tấn Hưng cũng còn đó, và anh Nguyễn Tấn Hưng vẫn
còn tiếp tục cuộc bút trình của mình. Theo tôi nghĩ đã
là nhà văn thì chúng ta cứ viết, thích viết, phải viết
do những sự thôi thúc đến từ trong ruột trong gan. Cứ
tưởng tượng một nhà văn nào đó đang ngồi trước
tờ giấy trắng, với những ám ảnh này ám ảnh khác của
những lời khen chê gay gắt, hẳn là nhà văn đó, tôi nghĩ,
sẽ mất hết tác động kích thích tài năng. Nơi đây chúng
ta được tự do viết, tự do xào nấu những món ăn tinh
thần để dâng hiến cho cuộc đời, thì khi chúng ta nấu
bếp để bưng lên mời khách bốn phương, chúng ta cũng
nên để tùy theo sở thích của họ. Chúng ta đã có những
may mắn không phải sợ là viết như thế nào cho lọt qua trạm
kiểm soát của ban biên tập, ban duyệt in, rồi kẻ lãnh đạo
và cả khối người soi moi khác nữa. Trong trường họp những
ngòi bút ở Việt Nam, lúc đó văn chương của họ sẽ mang
những sắc dạng khác với tư duy của họ. Sự biến dạng
không thể tránh khỏi ấy làm những nhà văn còn ở trong
bóng tối ở quê nhà thà lách còn hơn viết. Viết lách
kiểu đó chán chết phải không, thưa quí vị và các anh các
chị? Dù sao trong hoàn cảnh khó khăn đó, tôi thấy chúng ta
vẫn có những nhà văn chân chính bất chấp mọi trở ngại
để nói lên tiếng nói của lòng mình. Có như vậy chúng ta
mới có "một tiếng kêu vang lạnh cả trời" như một câu thơ
nổi tiếng của thiền sư Không Lộ.
Trở lại với nhà văn của chúng ta hôm nay, anh Nguyễn Tấn
Hưng trước khi cầm bút trở lại ở hải ngoại đã là một
người đam mê sách vở từ những ngày xa xưa. Anh
Nguyễn Tấn Hưng trước 75 ở những lần cặp bến đã có
những truyện ngắn đăng ở
Văn
, và dĩ nhiên nhà văn Hải
quân này đã là cộng tác viên đắc lực của tờ
Ra Khơi,
Lướt Sóng
. Trên một bàn viết lữ thứ đã được dựng
lại ở quê người, nhà văn Nguyễn Tấn Hưng đã tiếp tục
những dang dở ấy. Theo học giả Nguyễn Ngọc Bích, anh
Nguyễn Tấn Hưng là một hiện tượng "Văn học Hải quân"
nổi bật. Ở quê nhà thật tình chúng ta không có một
nền "Văn học Hải quân" xôm trò như "Văn học Không quân."
Qua đây thậm chí những nhà văn nhà thơ gốc Hải quân như
Phan Lạc Tiếp, Hà Thúc Sinh, Giang Hữu Tuyên... cũng không
hề mang không khí, ngôn ngữ, chất liệu của binh chủng
họ vào tác phẩm mình như một Nguyễn Tấn Hưng. Tác giả
của chúng ta hôm nay ngay từ dòng viết đầu tiên ở quê nhà
cho đến những dòng viết tiếp nối ở quê người đều
phản ảnh những cảnh đời của những cánh chim hải âu. Anh
viết và viết rất hăng say nên dù bận rộn với trăm công
ngàn việc, nổi đam mê lớn nhất của một đời người
cũng đã rủ rê anh dan díu với những tờ tập san văn
nghệ đứng đắn ở hải ngoại như là
Văn, Văn Học,
Làng Văn
... Anh vừa viết văn vừa làm thơ lai rai mà anh
vẫn đùa bảo thơ của anh chỉ thuộc trường phái thơ thẩn,
vì anh cho biết thơ của anh được coi như là "những sáng tác
từ cánh tay trái của nghề tay trái" là nghề viết văn. Âu
đó cũng là một khía cạnh độc đáo của anh Nguyễn Tấn
Hưng. Như chúng ta vẫn thường thấy có nhiều nhà văn thỉnh
thoảng buồn buồn cũng quay ra làm thơ chơi. Như chị Nguyễn
thị Hoàng Bắc với bài thơ ngũ ngôn
Nhóm Hồng
rất có
hồn vừa đăng ở báo của anh Giang Hữu Tuyên, hay là anh Võ
Ðình với bút hiệu Thạch Mai trong bài thơ rất là tượng
trưng
Nàng Thu Phong
đăng ở
Văn Học
. Như Mai
Thảo sau 45 tác phẩm văn xuôi, tập thơ thứ nhất
Ta Thấy
Hình Ta Những Miếu Ðền
vừa mới ra đời, v. v. Một
ngày nào đó, biết đâu anh Nguyễn Tấn Hưng cũng sẽ cho ra
đời một tập thơ, sáng tác từ cánh tay trái của nghề tay
trái. Thơ từ phía tay trái thì tôi nghĩ gần trái tim nhất
rồi phải không anh Nguyễn Tấn Hưng?
Quyển truyện dài
Một Thuở Làm "Trùm"
của anh Nguyễn Tấn
Hưng đang đến tay quí vị. Chúng ta mỗi người một bao tử
riêng, mỗi sở thích riêng, xin quí vị hãy tự tiện làm
người thực khách quí mến nhất của tác giả. Nói về tác
giả chi bằng để mời độc giả đi vào tác phẩm của người
đó. Anh Võ Ðình sẽ là người mở rộng cánh cửa ấy để
mời quí vị bước vào. Mừng anh Nguyễn Tấn Hưng hôm nay
và đứa con tinh thần thứ hai đã chào đời và thân chúc anh
không bao giờ mỏi tay viết.
* Bài nói chuyện ra mắt sách Nguyễn Tấn Hưng tại
trường đại học George Mason, thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, ngày
15-10-1989, được chép lại từ băng ghi âm bởi Hồng Lan.
back to top
06. GIỚI THIỆU TÁC PHẨM MỘT THUỞ LÀM "TRÙM" *
VÕ ÐÌNH
Trước hết, tôi xin lợi dụng một phút trong chương
trình của ngày hôm nay, để thưa cùng tất cả quí vị sự vui
mừng của cá nhân tôi trước khi bước lên đây, là đã
được hân hạnh gặp bác sĩ nhà văn Lê văn Lân. Lần đầu
tiên được gặp người viết các bài mà tôi đã được
đọc về những chuyện rất tầm thường như ngọn rau thơm,
lá diếp cá... Rồi gần đây, chuyện trăng rằm, chuyện
Vu Lan. Những chuyện có thể coi như là tầm thường, nhưng
bác sĩ Lê văn Lân đã viết rất hay, rất duyên dáng. Thưa
quí vị, đó là một điều rất đáng mừng cho tất cả chúng
ta. Và chúng tôi, riêng cá nhân chúng tôi lấy làm hân hạnh,
vì xưa nay chúng tôi đã có ý định xin địa chỉ của ông, để
viết đôi lời ngưỡng mộ.
Ðiều thứ hai nữa là quí vị thấy trong tay tôi có một tập
sách và giấy tờ. Thưa quí vị, cái tập sách và giấy tờ
nầy không phải cầm lên nhiều như thế nầy để mà làm
điệu, làm dáng, làm duyên. Lý do thật tình là tại vì
trong hoàn cảnh gấp rút, chúng tôi chưa có thì giờ để viết
ra. Xưa nay chúng tôi có bàn về một vấn đề gì, chúng tôi
suy nghĩ rất lâu, rất kỹ và lúc nói không ba hoa thiên địa,
không câu trúng, câu trật, nhắm vào đâu phải trúng vào đó,
cho nên chúng tôi phải viết cho đàng hoàng. Lần nầy chúng
tôi xin nói thật, chúng tôi sẽ tùy cơ ứng biến. Vì không
có đủ thì giờ, chúng tôi đem tất cả những gì chúng tôi
có về nhà văn Nguyễn Tấn Hưng, để trình bày cùng quí
vị. Vậy nếu có điều gì sơ xuất, xin quí vị thông
cảm cho.
Nguyễn Tấn Hưng là một nhà văn gốc miền Nam, mà nói đến
gốc miền Nam thì chúng ta không thể nào không nhắc đến
Hồ Trường An. Hồ Trường An trong lời Bạt của cuốn sách
mới ra,
Một Thuở Làm "Trùm"
, của Nguyễn Tấn Hưng,
nhận định rằng có ba thế hệ nhà văn gốc miền Nam. Thế
hệ đàn anh, cha chú, thì có: Hồ Biểu Chánh, Hồ Hữu
Tường, Lê Xuyên, Sơn Nam... Thế hệ trẻ hơn, thế hệ đã
từng có dịp, trước chiến tranh và trong thời chiến tranh, đi
về miền quê, biết rõ cái đồng quê ở miền Nam. Cho nên
họ viết về miền Nam với tất cả sự thiết tha nồng nàn.
Trong đó có một phần có thể gọi là lý tưởng hóa. Ðó
là những người như Huỳnh Hữu Cửu, Hồ Trường An.
Có những người như Võ Kỳ Ðiền, Nguyễn văn Ba, Phạm
Thăng... Lại có một thế hệ nữa, trẻ hơn. Thế hệ nầy
sinh trưởng nơi thành thị, và lớn lên nơi thành thị, trưởng
thành trong thời gian của cuộc chiến. Ðó là thế hệ của
ba chị em Phan thị Trọng Tuyến, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Nguyễn
thị Ngọc Diễm, rồi trẻ hơn nữa như là Cao Bình Minh,
Vũ Nam chẳng hạn.
Ðến đây thì quí vị tự hỏi ngay vậy thì Nguyễn Tấn Hưng ở
đâu? Thưa quí vị, đứng về phương diện tuổi tác, Nguyễn
Tấn Hưng sinh năm 1945, nếu tôi không lầm, thì Nguyễn Tấn
Hưng có thể thuộc vào thế hệ cũng không nhỏ hơn Võ Kỳ
Ðiền. Nhưng Nguyễn Tấn Hưng có những cái đặc biệt khác
với những người kia là Nguyễn Tấn Hưng đã lớn lên, đã
trưởng thành trong quân đội, trong Hải quân như lời của
Nguyễn thị Thanh Bình vừa nói. Ðó là cái điểm rất đặc
biệt mà những người kia, những Võ Kỳ Ðiền, Kiệt Tấn,
Nguyễn văn Sâm, Nguyễn văn Ba... không có. Hồ Trường An,
cũng từng ở trong quân đội nhưng Hồ Trường An chỉ là "sĩ
quan văn phòng," từng thú nhận là "tôi chỉ ngồi chơi lai rai
vậy thôi." Chứ còn ông Nguyễn Tấn Hưng nầy thì phải lên
tàu, trôi dạt khắp đó đây.
Còn một điều đáng nói nữa là ở đây tôi phải nhắc đến
ông bạn của tôi ngồi ở ngay đây là ông Nguyễn Ngọc Bích.
Trong lời Bạt viết cho
Lớp Sóng Phế Hưng
của Hồ Trường
An, Nguyễn Ngọc Bích có nêu lên một điều mà tôi đọc rất
lấy làm vừa ý. Tôi lấy làm thích thú vì ông Nguyễn bảo
rằng, đọc Hồ Trường An không thể nào không phát âm lên
được, không phải đọc bằng con mắt, mà đọc phải lên
tiếng. Thưa quí vị, thưa ông Bích, tôi chỉ xin thêm một
điều, là không những phát âm lên tiếng, mà phải lên tiếng
bằng giọng miền Nam nữa mới hay. Chứ không phải bằng giọng
người Huế như tôi, đọc Hồ Trường An mà đọc giọng Huế
"quê" lắm. Không được.
Thưa quí vị, tôi xin dựa vào uy tín một người để chứng
minh cái điều tôi mới vừa nêu lên. Nói có sách, mách có
chứng, thưa quí vị. Người đó tôi coi như đàn anh, mà
tôi cũng coi như bậc thầy. Ðó là nhà văn Võ Phiến. Trong
cuốn
Văn Học Miền Nam, Tổng Quan
, lúc bàn về văn
chương miền Nam, Võ Phiến đã có những lời như thế nầy.
Tôi có ghi vào index card đây. Tôi xin đọc hầu quí vị, mà
giọng Bình Ðịnh thì chắc tôi không đọc được, vậy xin đọc
tạm tạm giọng Nam, giọng Nam lai Huế của tôi vậy. Tôi rất
tiếc là hôm nay không có bà Nguyễn Xuân Lan ở đây, tại
vì cái hôm bà chỉ trích những người gọi "Văn chương Miệt
Vườn" thế nầy, thế nọ, mà hôm nay bà không có ở đây
để nghe những câu nầy. Ông Võ Phiến nói sở dĩ Văn chương
miền Nam khởi sắc là tại vì thứ nhứt, có sự thay đổi
trong quan niệm thưởng thức, và thứ hai, có sự khích
lệ của độc giả miền Trung và miền Bắc. Ðây là lời
của ông Võ Phiến, thưa quí vị, ở trong
Văn Học Miền
Nam, Tổng Quan
.
Người miền Trung vào làm ăn trong Nam thoạt nghe bà con trong
Nam nói chuyện với nhau vẫn có cảm tưởng ấy: ôi chao! trong
nầy người ta nói sao mà cứ trơn lu, cứ như dầu rót roong
roỏng vô chai, như xoa con toán liền tay không dứt, như xua
những viên bi tròn chạy rong róc trên một mặt mâm! Lối nói
như thế khiến liên tưởng đến câu ca vọng cổ dài dằng
dặc, mà thoăn thoắt mà ngọt lịm
.
Chưa hết, thưa quí vị, ông Võ Phiến sau khi có cái nhận
định như vậy về người Trung, người Bắc vào Nam, ông đi
vào chi tiết hơn nữa, ông lại bảo thế nầy.
Ðọc
những nhà văn trong Nam như Lê Xuyên, Sơn Nam, Bình Nguyên
Lộc, Vương Hồng Sển, v. v. chúng ta có cảm tưởng văn
ấy tự nhiên, thân mật mà nhanh nhẹn thoăn thoắt, mà dễ
dàng lưu loát quá cỡ. Như thể không xếp đặt gì, cứ
tuồng tuột ngon ơ, văn ấy cứ tuôn ra không vấp váp khục
khặc bao giờ cả, nó trôi chảy tài tình quá xá. Ngày nay
trên các báo chí hải ngoại, một số nhà văn miền Nam trong
đó có Hồ Trường An cũng cho ta cái cảm tưởng ấy. Trong
hoàn cảnh lưu vong sầu thảm, ai nấy rầu rĩ, thì văn ông
vẫn cứ tươi mơn mỡn, vẫn cứ nuột nà
. Thưa quí
vị, đó là văn Võ Phiến chứ không phải văn Võ Ðình. Tôi
không thể nào viết được như vậy.
Sau khi đem sách ra để mách cho quí vị một chút như vậy,
bây giờ tôi xin nói về Nguyễn Tấn Hưng. Ngoài cái chuyện
Nguyễn Tấn Hưng không thôn quê, cũng không phố thị, Nguyễn
Tấn Hưng là một nhà văn quân đội, Hải quân, có một
điều buồn cười là tôi đọc Nguyễn Tấn Hưng, tôi không
khỏi mỉm cười thích thú. Thích thú ở cái chỗ đó là
một nhà văn có tinh thần Hải quân, đúng là viết khơi khơi
như con tàu ra khơi. Hai chữ khơi cũng chẳng ăn nhằm gì
với nhau hết, nhưng mà thôi cũng được.
Tác phẩm trước của Nguyễn Tấn Hưng,
Một Ðời Ðể
Học
, chắc quí vị cũng có dịp đọc rồi. Ðồng bào sang
đây, vừa rầu rĩ, sầu thảm vừa tìm hết cách để học
ngoại ngữ, để hội nhập, tìm việc làm, lo âu trăm việc.
Nguyễn Tấn Hưng của chúng ta sang đây cũng đi qua những cái
giai đoạn vất vả, sầu thảm như vậy. Nhưng mà cái hồi
đầu, lúc còn lăn lóc đó, chàng kiếm đâu được một
nghề, ở cái tiệm ăn gọi là Long John Silver, thế mà Nguyễn
Tấn Hưng viết như thế nầy, tôi xin đọc hầu quí vị một
đoạn để thấy cái tinh thần cầu tiến của Nguyễn Tấn
Hưng. Hơn thế nữa, ngoài cái tinh thần cầu tiến, còn
có cái tinh thần giữ mình, giữ thân, cố hết sức để
mà sống mà còn. Ðây là một đoạn trong
Một Ðời Ðể
Học
.
Nghề chiên cá, chiên tôm ở Long John Silver là một nghề
hết sức máy móc. Bốn vạc dầu sôi, bốn cái thùng vuông
vức, khoảng chín tấc chín tấc bề cạnh và ba tấc bề sâu,
lúc nào cũng chứa đầy dầu. Nhiệt độ của dầu được
điều chỉnh tự động bằng điện tử, thả món gì vô cũng
thấy nó sôi bùng lên. Một thùng dành riêng cho french fries
và hush puppies. Một thùng dành riêng cho cá. Còn hai thùng
còn lại dành cho tôm, scallops, clams... và chicken sticks. Món
nào cũng lăn bột, chiên
.
Thưa quí vị, một nhà văn một quân nhân tỵ nạn, làm việc
ở một khách sạn tầm thường ở Mỹ, lo việc chiên cá,
chiên dầu. Vậy mà ông viết những đoạn như thế tôi
đọc quí vị nghe, quí vị có nhớ điều gì không? Có nhớ
lại cái đoạn mà ông Võ Phiến tả cái ông hủ tiếu
không? "Rụp rụp" đó. Phải chăng có một sự liên
hệ nào đó giữa thế hệ nầy với thế hệ kia? Có
một cái sức sống nào đó, một cái điểm chung nào đó
giữa những thế hệ khác nhau, và cả những trường phái
khác nhau nữa. Tôi xin quay lại với đoạn văn của Nguyễn
Tấn Hưng.
Món nào cũng lăn bột, chiên. Hầu hết đã được làm
sẵn, không biết từ đâu chở tới, vô bao giấy chất đầy
trong tủ đá. Cứ lôi từng bịch, từng bịch mà thảy vào mấy
vạc dầu. Chỉ có cá là phải pha bột, nhúng bột tại chỗ
mà thôi. Việc thái cá, cá cod, thì giao cho mấy tên managers.
Ðây là một cái quyền mà cũng là trách nhiệm, bổn phận,
và phải học qua một khóa
.
Bây giờ đến cái đoạn mới thật là hấp dẫn.
Bên trên
mỗi vạc dầu, phía trước cái quạt hút khói, còn có một
hàng nút push button để canh giờ chiên
. Ông Nguyễn Tấn
Hưng dùng tiếng Anh trong nầy một cách thoải mái. Thưa quí
vị, khơi khơi.
Tôm hai phút, cá ba phút, clam bốn phút,
gà năm phút... đã được programmed sẵn. Chiên cá thì bấm
nút cá, chiên gà thì bấm nút gà. Hết giờ là nó bíp-bíp
và chớp đèn báo động
. Có thua gì "rụp rụp" của ông Võ
Phiến không?
Hết giờ là nó bíp-bíp và chớp đèn báo
động. Vớt ra thảy lên ngăn, là xong. Lúc nào cũng phải
có sẵn tối thiểu mười miếng mỗi thứ. Mấy lúc đông
khách, thảy năm ba thứ vô một thùng, đến hồi nó tranh nhau
bíp-bíp, bíp-bíp, không biết cái nào mà tắt, mà vớt.
Cũng vui. Vớt ra lộn thì để đó lát nữa chiên lại, bằng
không thảy vô thùng rác, vừa tiện vừa lợi
.
Thưa quí vị đó là một đoạn văn ở trong
Một Ðời Ðể
Học
, tác phẩm của Nguyễn Tấn Hưng mà nhà văn Mai Thảo,
một nhà văn tài danh của chúng ta, đã bỏ công viết cho một
cái tựa rất là chu đáo.
Trong
Một Ðời Ðể Học
có thảy cá "rụp rụp" như vậy,
thưa quí vị, nhưng qua cuốn
Một Thuở Làm "Trùm"
, như
Nguyễn thị Thanh Bình vừa thưa với quí vị lúc nãy thì Nguyễn
Tấn Hưng kể lại những kinh nghiệm của đời mình trong Hải
quân, ở đảo Phú Quốc.
Cuốn sách có tất cả 8 chương. Chúng tôi sẽ không làm mất
thì giờ nhiều của quí vị bằng cách đi vào từng chương một.
Chỉ xin nói sơ qua để quí vị có một ý niệm, và để hầu
quí vị một vài đoạn văn tiêu biểu cho không khí của văn
chương Nguyễn Tấn Hưng. Chương đầu là
Một Thuở Làm
"Trùm"
lúc mà Nguyễn Tấn Hưng được gởi đi làm Trưởng
phòng Nhì Vùng 4 Duyên hải ở đảo Phú Quốc. Ðến đây thì
quí vị có thể có cảm tưởng Nguyễn Tấn Hưng vốn là một
nhà văn gốc Nam, viết văn như tôi vừa đọc hầu quí vị xong,
lúc nào cũng viết một cách rầm rộ, vui vẻ và thoải mái
như vậy, khơi khơi như vậy. Nhưng, thưa quí vị, chính ngay
tôi cũng đã lầm về cái đó. Vì đọc quyển
Một Thuở Làm
"Trùm"
chúng tôi có khám phá ra một điều, mà có thể xưa nay
chưa ai để ý đến. Tôi rất lấy làm lạ, làm lạ mà cũng
lấy làm thích thú, không ngờ có những đoạn văn như thế
nầy trong cuốn sách của Nguyễn Tấn Hưng. Ðây là ở chương
2, một đoạn văn tả cảnh. Tôi xin đọc hầu quí vị. Nhưng,
thưa quí vị, tôi sẽ xin không đọc bằng giọng Nam để tỏ ra
tôi không muốn đùa. Tôi xin đọc bằng giọng Huế. Xin lỗi
anh Nguyễn Tấn Hưng...
Tàu đò là một chiếc ghe lớn, ghe chài. Vậy mà cũng biết
súp-lê như tàu sắt. Súp-lê một còn trông còn đợi, súp-lê
hai còn đợi còn trông, súp-lê ba tàu ra biển Bắc, hai tay nắm
chặt song sắt con mắt lờ đờ..., trật lấc, tàu ra biển
Tây đi vào vịnh Thái Lan. Không riêng gì tàu hải quân, tàu gì
ra khơi bao giờ cũng buồn buồn
. Thưa quí vị, Nguyễn Tấn
Hưng đó! Nguyễn Tấn Hưng cũng biết buồn, thưa quí vị.
Không ai thoát được nỗi vương vấn, vướng vít bến
bờ
. Vương vấn, vướng vít bến bờ.
Trời chiều vàng
trên mặt nước. Gió biển mặn dập vào người. Lâng lâng
hồn dâng cao theo triền sóng, thử hỏi ai mà chẳng ngậm ngùi,
bâng khuâng trong cảnh tách bến ra đi. Lạch nước sâu chảy ra
vịnh của dòng Kiên Giang đã thuộc lòng như chỉ bàn tay vậy
mà bác tài công từng chập từng chập đưa tàu rướn lên
cạn, trườn qua những bãi cát ngầm. Ngập ngừng như những
tiếng nấc còn sót lại trước khi dứt khoác chia tay
. Hay
lắm!
Rồi thị xã Rạch Giá xa dần xa dần trong nuối
tiếc. Những chiếc thuyền con gắn máy đuôi tôm chạy bạch
bạch hai bên tàu trong giờ tiễn người đi đã không còn thấy
nữa. Nước biển trong xanh và những lượn sóng lớn bắt
đầu phả vào mạn tàu. Tiếng máy tàu, máy dầu cặn, nổ
đều đều trầm buồn ru ngủ
.
Ðoạn văn rất hay của Nguyễn Tấn Hưng, một nhà văn thường
thường viết một cách hùng hồn, một cách khơi khơi đến
lúc tả cảnh, tả buồn của chiếc tàu ra khơi, đã viết
được những đoạn như thế nầy, chính bản thân tôi đọc
rất lấy làm thích thú. Và tôi mong rằng quí vị khi đến
giờ có sách, hãy chú ý đến những cái nét bất ngờ đó
trong tác phẩm của Nguyễn Tấn Hưng.
Ðoạn mà chúng tôi vừa đọc hầu quí vị nằm ở chương 2.
Còn lại sáu chương chúng tôi xin để dành những cái thích thú,
những cái khám phá trong đó cho quí vị. Ðể khỏi làm mất
thì giờ quí báu của chúng ta hôm nay, bây giờ tôi chỉ xin nói
lướt qua những phần này để sau đó đi ngay vào cái giá
trị văn chương của Nguyễn Tấn Hưng mà chúng tôi cho rằng
là điều quan trọng nhất. Trong sáu chương còn lại, hầu
hết là những chi tiết, những sự kiện có dính líu đến
Hải quân, đến cái thời gian gọi là làm "trùm," làm tình
báo của Nguyễn Tấn Hưng ở đảo Phú Quốc. Sự đụng chạm
với giới lãnh đạo, những cay đắng, những nỗi niềm
cá nhân và đất nước. Trong sáu chương đó có đầy đủ
tất cả.
Về phương diện văn chương chúng tôi nghĩ rằng không thể
nói đến Nguyễn Tấn Hưng mà không nhắc đến vài lời của
nhà văn tài danh của chúng ta là ông Mai Thảo, đã có lòng tốt
viết tựa cho Nguyễn Tấn Hưng ở tác phẩm thứ nhất của
anh. Cái đoạn ngắn nầy của Mai Thảo tuy rằng nói về
Một
Ðời Ðể Học
nhưng có dính líu đến tất cả văn phong của
Nguyễn Tấn Hưng về sau nữa. Tôi xin đọc hầu quí vị. Ðể
cho có sự công bằng, lúc nãy chúng tôi đọc Hồ Trường An
và Nguyễn Tấn Hưng thì đọc giọng Nam, bây giờ chúng tôi xin
đọc ông Mai Thảo với giọng Bắc. Xin quí vị quan khách và
thân hữu gốc Bắc chính hiệu đừng... cười cái giọng
Bắc Thừa Thiên của tôi. Thưa quí vị, đây là Mai Thảo.
Ðiều yêu mến sau cùng, lớn hơn hai điều yêu mến
trước
... Xin quí vị theo dõi cho kỹ vì đọc văn Mai Thảo
phải để ý từng ly từng tí.
Ðiều yêu mến sau
cùng, lớn hơn hai điều yêu mến trước, là mặc dầu đã
mười mấy năm trôi dạt, một trôi dạt rất dễ dàng đẩy vào
thất lạc, mặc dầu Việt Nam đã nghìn dặm, quê nhà đã
nghìn trùng, bàn viết Nguyễn Tấn Hưng, giữa thổ ngơi lữ
thứ xa lạ, vẫn đặt được vào đúng hướng đúng tầm với
giống nòi và đất nước ở xa. Không bao giờ tôi xa, chẳng
bao giờ tôi quên, chẳng bao giờ tôi khác. Thế giới có
nghìn biển nghìn trời nhưng tôi chỉ có và chỉ sống với
một trời một biển. Toàn bộ văn truyện Nguyễn Tấn Hưng
đã nói cho Nguyễn Tấn Hưng như vậy. Nói một Việt Nam toàn
phần, trong tâm trong hồn. Nói một đất nước vẫn hơi thở
vẫn máu hồng, trong lòng trong dạ. Dùng một hình ảnh của đại
dương, trên đó có đời sống, quá khứ và trí nhớ Nguyễn
Tấn Hưng trải rộng, thì là một hải trình dẫu đêm tối và
giông bão, dẫu phương hướng mịt mùng và sơn cùng thủy tận,
hải trình ấy vẫn từ một bến đậu và trở về bến đậu
.
Thưa quí vị, nếu quí vị đã quen thuộc với lối hành văn của
ông Mai Thảo rồi thì không có gì phải nói thêm. Còn nếu như
có quí vị nào chưa quen thuộc lắm, thì tôi xin "diễn giảng"
mấy câu vừa qua để quí vị thấm thía hơn. Cái ý của ông
Mai Thảo có thể tóm tắt trong hai điều:
Một là đi ngoại
quốc Nguyễn Tấn Hưng đã cầm bút lại, tiếp tục viết, và
hai là lòng dạ Nguyễn Tấn Hưng vẫn chung thủy với đất nước
quê hương
.
Tuy Mai Thảo là một nhà văn tên tuổi nhưng trích dẫn cho
Nguyễn Tấn Hưng có thể là một điều bất công. Bất công,
không phải vì Mai Thảo không xứng đáng, ồ, không trái
lại! Bất công vì trích dẫn cho Nguyễn Tấn Hưng, chúng ta
phải tìm đến một người như là Hồ Trường An chẳng
hạn! Một người cùng có cái tinh thần miền Nam, thâm
hiểu vùng đất quê hương đó, gắn bó với lá rau ngọn
cỏ, với giọt nước, hạt cơm của miền đất đó, một
người như thế với một cách nói cách viết thật giản
dị thật đậm đà, mới viết nên những lời thật xác
đáng cho Nguyễn Tấn Hưng. Vì vậy chúng tôi xin nhắc lại
ở đây, trước khi chấm dứt, đôi điều mà Hồ Trường
An đã nói về Nguyễn Tấn Hưng. Và bây giờ quí vị cho tôi
xin phép quay lại với giọng Nam của Hồ Trường An.
Văn chương hải ngoại có nhiều khuynh hướng thì mới có thể
gọi là một văn chương phồn thịnh. Qua
Một Chuyến Ra Khơi
và
Một Thuở Làm "Trùm"
, Nguyễn Tấn Hưng có một chiếu
riêng, một đường lối riêng về đề tài. Do đó, anh là
một cây bút độc đáo với vốn sống quá đỗi dồi dào.
Nếu anh viết chậm hơn, tỉ mỉ hơn cuốn sách có thể kéo dài
ngót nghét thêm một hai trăm trang nữa.
Nguyễn Tấn Hưng tuổi đời chỉ độ tứ tuần, không hẳn là
còn quá trẻ, nhưng vẫn là cây bút ở vào tuổi sung mãn nhất
cuộc đời để sáng tác vừa phong phú vừa chín chắn. Anh
không những chỉ đóng góp vào văn đàn bằng tác phẩm của
mình, mà anh còn rọi sáng cho chúng ta,
đây là lời của
Hồ Trường An
, một đoạn lịch sử có anh tham dự, góp một
viên gạch vào việc xây cất ngôi đền tổ quốc trong tâm
tưởng người dân mất nước là chúng ta đây. Bởi đó,
Một Thuở Làm "Trùm"
là một tác phẩm có giá trị ở hai,
ba mặt
.
Với điều chúng tôi vừa trích ra từ Hồ Trường An, mọi
mặt đã quá đầy đủ. Chúng tôi xin phép chấm dứt ở đây.
* Bài nói chuyện ra mắt sách Nguyễn Tấn Hưng tại
trường đại học George Mason, thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, ngày
15-10-1989, được chép lại từ băng ghi âm bởi Hồng Lan.
back to top
07. Bên Lề Cuộc Ra Mắt Sách của Nguyễn Tấn Hưng: NHỮNG Ý NGHĨ RỜI VỀ MỘT MẢNG VĂN HỌC
NGUYỄN NGỌC BÍCH
Mới đây, nhà văn Nguyễn Tấn Hưng cho ra mắt cuốn
sách mới nhất của ông, cuốn
Một Thuở Làm "Trùm"
do nhà
xuất bản
Văn Nghệ
in ra (ngày 15-10-89) tại trường
Luật George Mason University, Trung Tâm Văn Bút Miền Ðông
bảo trợ. Nhân dịp này, tôi có đưa ra một ý kiến mạo
muội cho rằng có lẽ Nguyễn Tấn Hưng là nhà văn Hải quân
hiếm hoi mà chúng ta có, tính cho đến lúc này.
Liều lĩnh! Liều lĩnh! Nhiều anh bạn đã cảnh cáo tôi
trước, nhất là vì trong cuốn sách tả về thời gian anh
làm trưởng phòng Nhì (Ban 2) ở Phú Quốc (do đó mới có
chữ làm "Trùm" mở ngoặc, đóng ngoặc trong đầu đề
cuốn sách) anh Nguyễn Tấn Hưng đã thẳng thừng ghi đích
danh người này người kia, kể lại cả những tính nết,
thói hư tật xấu của người ta, thậm chí lại có lúc ám
chỉ người ta là tham nhũng nữa.
Liều lĩnh đến độ nào thì chắc quí vị phải có mặt
hôm đó thì mới thấy rõ được. Những lời phản bác
bay tứ tung, từ nhà văn họa sĩ Võ Ðình đến Phan Tấn
Hải tác giả
Cậu Bé và Hoa Mai
, từ nhà khoa học Trương
Hồng Sơn đến cựu Trung tá Hải quân Trần Văn Tâm (từ
New Jersey lên), từ nhà báo, cũng là cựu sĩ quan Hải quân,
Giang Hữu Tuyên đến ký giả và phê bình gia Bùi Bảo
Trúc... Thôi thì đủ cả, nhưng tựu chung tôi cho rằng
có hai loại ý kiến: Một loại liên hệ đến nội dung cuốn
sách, những chi tiết trong đó mà ta có thể cho là sai hay
đụng chạm, bất công đối với người khác; và một loại
thì không đi vào nội dung mà chỉ nói lên một hiện tượng
văn học, mà tôi tạm gọi là
Văn học Hải quân
, văn học
phản ảnh đời sống và kinh nghiệm Hải quân mà ta có thể
lấy Nguyễn Tấn Hưng làm thí dụ điển hình.
Về loại ý kiến một (đi vào nội dung, chi tiết, v. v.),
anh Nguyễn Tấn Hưng đã trả lời với tư cách là tác giả,
là người ở trong cuộc nên đã dám khẳng định đó là
sự thật "dưới con mắt tôi." Và nếu nói đụng chạm hay
chỉ trích, anh nói tiếp, thì cuốn sách còn thẳng thắn
nói về điều sai quấy mà "chính tôi phạm phải." "Nếu
xem đó là có tội thì tôi có tội trước tiên." Nói cách
khác, anh Nguyễn Tấn Hưng đã giành quyền tự do ăn nói
của anh cho rằng chỉ có lương tri của anh là có thể đặt
ra giới hạn cho nó.
Trong bài này, tôi xin không đụng đến vấn đề trên, mà
chỉ xin trở lại ý kiến mà tôi đã mạo muội đưa ra về
khả-năng-tính của một nền "Văn học Hải quân" Việt Nam.
Dưới đây, tôi xin sơ lược lại những nhận xét mà tôi
đưa ra vấn đề này và những ý kiến trái ngược do những
bạn khác đóng góp.
Ðặt vấn đề:
- Thứ nhất là vai trò trung tâm của "nước" ở trong đời
sống và lối suy nghĩ của người Việt. "Nước" được xem
là then chốt đến độ tiếng Việt có lẽ là thứ tiếng
độc nhất ở trên thế giới này mà gọi nơi sinh tụ và
quần tụ của một dân tộc là "nước" thay vì "đất." Ta
cứ lấy kinh nghiệm của các tiếng khác thì rõ, hầu như
ai cũng gọi "nước" của mình là "đất" cả:
England
(Angleterre, Inghilterra), Deutschland, Greenland, Iceland, Ireland,
Switzerland, Tierra del Fuego, Tamilnad
v.v. Chỉ có độc
một anh Việt Nam nhất quyết gọi "đất" của mình là
"nước." Phải chăng đó là một cái nhìn sâu trong căn bản,
kết quả của một sự tích tụ kinh nghiệm của hàng ngàn năm
lịch sử rồi mới đến được một kinh nghiệm như vậy.
- Thực ra, nước còn có thể nói là sinh lộ của chúng ta.
Không có nước, không có biển thì không chắc chúng ta có
mặt ở hải ngoại nhiều như ngày hôm nay.
- Việt Nam cũng lại còn cả một lịch sử oai hùng, vĩ đại
với những trận thủy chiến lừng lẫy. Trong huyền thoại
Việt Nam chẳng hạn, chúng ta có chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh,
một trận chiến thư hùng mà trong đó tất cả biển với
nước dâng lên ngập tràn gần hết cả thế giới. Còn có
gì mênh mông, bát ngát, hùng tráng cho bằng? Rồi những
trận có thật trong lịch sử: Ðã bao lần quân Tàu bị đại
phá ở Bạch Ðằng, không phải một lần mà nhiều lần,
sao ta vẫn không có một tác phẩm nào làm sống lại những
giờ phút hào hùng đó?
- Về bờ biển, Việt Nam ngày nay có trên 3 nghìn cây số
bờ biển với hầu như tuyệt đại đa số dân chúng sống
ven sông ven biển. Tại sao văn học chúng ta mới chỉ thấy
lác đác bóng dáng của vài chiếc thuyền chài.
- Về Hải quân, tôi không nhớ là Hải quân Việt Nam đứng
hàng thứ mấy trên thế giới. Có điều là Hải quân chắc
chắn đông hơn Không quân, vậy sao ta có những nhà văn Không
quân như Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh (
Ðời Phi Công
) hay có
cả một nhà xuất bản Không quân trong những năm trước 75
mà chưa có những nhà văn chuyên trị về đề tài Hải quân?
Ngần ấy những câu hỏi tôi thiết tưởng cũng đáng để cho
chúng ta suy nghĩ và thử tìm ra một vài lời giải thích.
Phản đề: Không có Văn học Không quân
Nhà văn họa sĩ Võ Ðình cho rằng đặt vấn đề như tôi là
không đúng. Khi người ta nói nhà văn này là nhà văn Không
quân hay Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ là nhà văn Dù, Hà Huyền
Chi là nhà thơ Mũ Ðỏ... thì theo anh Võ Ðình, đó chỉ là
một cách nói cho thân tình vậy thôi. "Cũng như sau này
chúng ta có những nhà văn gốc Bác sĩ viết rất hay, như
Huỳnh Hữu Cửu hay đặc biệt là Mai Kim Ngọc, tức Bác sĩ
Vũ Ðình Minh. Rồi Bác sĩ Lê Văn Lân (có mặt ngay đây
hôm nay), một người mà tôi thấy viết rất có duyên, rất
thích thú về ngọn rau thơm hay ngày cúng giỗ. Song đâu có
ai nói là có một nền văn chương Bác sĩ đâu?" Ðúng là
một lời nhận xét sắc bén và có cơ sở.
Anh Trương Hồng Sơn cũng lên "bồi" thêm một quả. Anh nói:
"Ai cũng biết St. Expéxury là phi công và ông viết rất hay
nhưng có ai gọi văn của ông là văn phi công hay văn không quân
gì đâu? Cái hay của ông nằm ở chỗ khác, nó dựa vào
phi công thật nhưng ông được người ta đọc và xem là một
nhà văn vì suy tư của ông, không phải vì đề tài của ông."
Ðứng trước hai nhận xét sắc bén như trên, tôi gần như
á khẩu. Nhưng tôi vẫn phân vân. Phân vân vì rõ ràng
chúng ta sống qua một thời gian chiến tranh đằng đẵng,
hai bên Nam Bắc đều có quân đội hùng mạnh - và kinh nghiệm
quân đội rõ ràng là một kinh nghiệm sống của hàng triệu
người Việt Nam. Không lẽ từ một vốn sống như vậy mà
lại không có những "nhà văn quân đội" hay sao?
Ở ngoài Bắc đã đành, người ta dứt khoát gọi những
người như Nguyễn Khải hay Nguyễn Minh Châu là những "nhà
văn quân đội" - cũng như người ta không hề gọi Nguyễn
Ðình Thi là "nhà văn phòng không" mặc dầu Nguyễn Ðình Thi
đã có quyển
Vùng Trời
đã được dịch sang nhiều
thứ tiếng. Rõ ràng là tính chất "bộ đội" của Nguyễn
Khải, Nguyễn Minh Châu có ảnh hưởng đến đề tài, đến
lối nhìn, đến cả bút pháp của họ.
Như vậy thì lạ gì Miền Nam có những nhà văn Quân
Ðội? Không lẽ gọi Phan Nhật Nam là một "nhà văn" trống
trơn cũng tựa như Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ? Vậy nếu ta
có thể gọi được Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn
Thị Hoàng là những "nhà văn nữ" - vì nữ tính của họ có
quyết định được phần nào cách viết, cách nhìn của
họ - hay văn của Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Hồ Trường An
là một nền "văn chương Miệt Vườn" thì ai cấm ta gọi Phan
Nhật Nam là một "nhà văn quân đội" hay Hà Huyền Chi là một
"nhà thơ Mũ Ðỏ?"
Không những thế, gọi như vậy có khi lại còn cho ta một cái
nhìn chính xác hơn về sự đóng góp của họ hơn là gọi họ là
"nhà văn" hay "nhà thơ" trống trơn. Tôi còn dám nói hơn,
chừng nào chúng ta phân biệt được trong văn học Việt Nam
cận-hiện-đại những mảng văn học như: Văn học Không quân
(
Ðời Phi Công v.v.
), văn học Dù (Phan Nhật Nam, Hà
Huyền Chi, Nguyên Vũ)... thậm chí cả văn học Quân Y (như
cuốn
Y Sĩ Tiền Tuyến
của Trang Châu), thì chúng ta
lại càng vững tâm hơn là văn học Việt Nam hiện đại đã
bước được những bước hia bảy dặm để có thể đem so
sánh với bất cứ nền văn học nào trên thế giới.
Tóm lại, sự kiện văn học Việt Nam ngày hôm nay có một
nền văn học Quân Ðội phải được xem không những là một
sự kiện mới mẻ mà là một bước tiến đáng kể. Nếu
nền văn học đó lại còn có thể phân loại ra được thành
những mảng tinh tế hơn như văn học Không quân, văn học Dù
(hay Mũ Ðỏ), văn học Hải quân (chưa thấy bóng dáng văn
học Thủy Quân Lục Chiến)... thì thiết tưởng ta phải lấy
đó làm mừng. Nền văn học ấy không những đã có mặt
(bằng chứng là giá trị văn học của một số tác phẩm trong
đó đã được công nhận qua những giải văn học toàn quốc),
nền văn học ấy vẫn được tiếp nối ở hải ngoại qua
những ngòi bút như của Cao Xuân Huy, Nguyễn Mạnh Trinh,
Phan Lạc Tiếp... và giờ đây, Nguyễn Tấn Hưng.
Nguyễn Tấn Hưng chưa phải là một nhà văn lớn - điều
đó còn phải chờ thời gian chứng minh - nhưng có một
điều, có một sự rất độc đáo ở nơi anh. Qua ba cuốn
sách, tập truyện
Một Ðời Ðể Học
rồi đến truyện dài
Một Thuở Làm "Trùm"
và cuốn sắp ra mắt tới đây, cuốn
Một Chuyến Ra Khơi
, anh đã khẳng định một hướng đi cho
anh mà chưa ai làm, đó là chuyên trị các đề tài Hải quân,
ít nhất cũng nhìn qua một con mắt - một con mắt ghi được
nhiều tình tiết, và một con mắt nhớ dai - đó là con
mắt của anh "trùm" Hưng!
back to top
08. TÔI ÐỌC TÁC PHẨM MỘT THUỞ LÀM "TRÙM"
TRẦN QUÁN NIỆM
Thật tình cờ tôi đến tham dự buổi ra mắt sách
Một Thuở Làm "Trùm"
của nhà văn Nguyễn Tấn Hưng tổ chức
tại Washington DC. Vì không quen anh trước - chỉ biết tên
anh qua những bài viết trên
Lướt Sóng
, và những
tạp chí văn học khác - nên không có giấy mời, tôi tháp
tùng người bạn văn của anh, bác sĩ Lê Văn Lân, thúc
đẩy bởi lòng hiếu kỳ, muốn gặp anh Hưng và nhóm bạn
trong Hội Văn Bút Miền Ðông Hoa Kỳ của anh xem tình hình
văn chương hải ngoại tiến triển ra sao sau 15 năm xa xứ.
Qua lời anh Lân thì hình như anh Hưng trước có biết
tôi - cùng ngành Hải quân, lại cũng có thời phục vụ ở
Phú Quốc - nhưng khi đối diện, nhìn nhau từ đầu tới
chân, lục lọi trí nhớ một hồi, mới rõ là chưa gặp
nhau bao giờ.
Anh vồn vã chào đón, vì dù sao cùng một binh chủng cũng
kể như quen. Dáng người chân thật, đôn hậu, cởi
mở, sau câu chào hỏi thường lệ, anh nói:
- Ðể tôi ký tặng Commandant tập sách.
Rồi quay qua anh Lân:
- Anh Niệm, đây là niên trưởng của tôi đấy.
Lâu ngày mới nghe có người gọi mình bằng danh xưng cũ
trong nghề, lại được tôn làm niên trưởng, tôi cũng
thấy khoái lỗ tai.
Anh Hưng đưa cho tôi hai tập sách, trình bày trang nhã,
một do
Làng Văn
và một do nhà
Văn Nghệ
xuất bản:
- Tôi tặng luôn Commandant tập trước,
Một Ðời Ðể
Học
. Commandant đọc qua tập
Một Thuở Làm "Trùm"
rồi
cho tôi biết ý kiến nghe. Tôi nghĩ cuốn này có thể
gây nhiều sóng gió, tranh luận trong tương lai. Ít ra
cũng trong giới Hải quân.
Anh Giang Hữu Tuyên đứng bên cạnh, rỉ tai:
- Anh ấy tố dữ lắm đấy.
Ái cha, gì mà ghê gớm thế, sơ sơ đã thấy giật gân
rồi. Hóa ra đây không phải là cuốn tiểu thuyết bình
thường hay sao? Anh chàng này định tố ai đây? Căn cứ
vào tài liệu nào? Ðứng trên cương vị nào? Và tầm
mức quan trọng ra sao?
Tự nhiên tôi thấy cần đề cao cảnh giác. Ô hay, đi
dự ra mắt sách mà cứ y như là đi dự phiên tòa về tham
nhũng, hối mại quyền thế không bằng. Không thể lè phè
thưởng ngoạn văn nghệ kiểu ngồi chơi xơi nước được,
biết đâu sẽ có màn phát biểu ý kiến cũng nên. Phải
tranh thủ đọc qua loa lấy khái niệm cái đã.
Xen kẻ với phần giới thiệu tác giả và tác phẩm do các
bạn Văn Bút của anh đảm trách như những tiết mục thường
lệ phải có trong một buổi ra mắt sách, tôi lật nhanh
những trang giấy, xem lướt lướt. Tên nhân vật toàn
là tên thật, Ðại tá Khương Hữu Bá, Ðại tá Nguyễn
Văn Thiện, "cao bồi" Luật . . ., cho chí những nhân vật
phụ thuộc hơn, Trung úy Nguyễn Kỹ Lăng, Thượng sĩ Nghĩa,
Trung sĩ nhất Thạch Sến, v. v. . . ., ngoại trừ nhân
vật chính trong truyện (xưng tôi) lại là Hoàng chớ không
phải Hưng, dù rằng không nói thì ai cũng biết anh kể lại
chuyện đời anh. Ðịa danh nghe thật quen thuộc: Phú Quốc,
Mũi Ông Ðội, Bãi Xép, Dương Tơ, Dương Ðông, An Thới,
và câu chuyện xoay quanh "triều đại" Hải quân tại đảo
này, khoảng thời gian gần ngày mất nước: từ những màn
bắt buôn lậu miền biên giới, săn đuổi ghe cá Thái Lan,
cho đến vụ xử tử quân nhân làm loạn trong cuộc di tản,
v. v. . . . Có lẽ trọng tâm là vụ tẩu tán tiền bạc của
dân tỵ nạn.
Sang phần thảo luận, lúc được hỏi khi viết
Một Thuở Làm
"Trùm"
anh muốn nói lên điều gì, anh cho hay: "Tôi chỉ muốn
nói lên sự thật, dù rằng đó là một sự thật mà có
những người không muốn nhớ đến, không muốn nghe ai
nhắc lại. Sự thật đó nằm trong một bối cảnh xã hội
và vào một thời điểm mà chính tôi đã trải qua, đã là
người trong cuộc. Tôi biết khi viết ra chắc chắn sẽ có
nhiều người không thích, nhưng nếu tôi không có can đảm
để viết, thì ai sẽ viết đây, và sự thật sẽ bị chôn
vùi trong lịch sử."
Mấy tuần sau, có thì giờ đọc kỹ tác phẩm của anh, cũng
như chuyện trò qua điện thoại, tôi nhận thấy với óc
quan sát sắc bén và một trí nhớ phong phú, anh đã diễn
tả sống thực những cảnh đời, những nhân vật, những
địa điểm, cảnh trí bị chìm dưới lớp bụi thời gian đã
gần 15 năm. Từng sự kiện diễn ra trước mắt người
đọc, linh động và đầy màu sắc. Có thể nói óc anh như
một máy ảnh, đã chụp lại toàn diện cảnh vật, từ những
chi tiết nhỏ nhoi nhất.
Bằng văn phong bình dị miền Nam, anh thuật lại chuyện đời
anh, dễ dàng, thoải mái. Mạch văn xuôi chảy, khơi khơi,
nhưng không kém phần dí dỏm với những nhận xét riêng tư,
dẫn người đọc đi từ biến chuyển này sang biến chuyển
khác, lôi cuốn người đọc từ trang đầu rồi tới trang
cuối lúc nào không hay. Ngọn bút của anh có biệt tài,
diễn tả những câu chuyện tầm thường nhất mà người đọc
vẫn không thấy nhàm chán, vô vị. Tôi hỏi anh: "Vừa đi
làm, vừa đi học, anh tìm đâu ra thì giờ mà sáng tác
đều tay quá vậy?" (ngoài hai tác phẩm
Một Ðời Ðể Học
và
Một Thuở Làm "Trùm"
đã xuất bản anh còn hai tác phẩm
nữa:
Một Chuyến Ra Khơi
và
Một Cảnh Hai Quê
đang chờ
phát hành). Anh đáp: "Thì tất cả là chuyện đời tôi
đã trải qua, cứ tuần tự mà thuật lại, tựa như người
gỡ cuốn chỉ rối vậy mà." Nghe anh nói thì dễ dàng như
vậy, nhưng thật ra không phải vậy đâu, vì nếu đúng
như lời anh nói, ai cũng có cuộc đời để kể lại, cũng
in sách, cũng thành nhà văn cả sao?
Ðọc văn anh, người Hải quân thấy dàn trải ra trước mắt
mình một cuộc đời sông biển mà mình đã từng sống,
những thổ ngơi và địa danh quen thuộc mà mình đã từng
qua: một dĩ vãng chợt bừng dậy trong trí nhớ, mang theo
biết bao nhiêu là bâng khuâng, hoài cảm; người không phải
Hải quân cũng hé nhìn được phần nào tâm tình của người
lính hải hồ, cảm thấy thân thuộc với những vùng đất
nước xa lạ nhưng thân yêu mà mình đã từng nghe nhưng chưa
hề đặt chân tới.
Ðó là nhận xét của riêng tôi về nhà văn Nguyễn Tấn Hưng
trên địa hạt văn chương. Có lẽ những lời nhận xét của
tôi cũng hơi thừa đối với anh, vì những nhà văn tên
tuổi như Mai Thảo, Võ Ðình, Hồ Trường An, đã từng đề
bạt anh là một nhà văn với văn phong đặc biệt miền Nam,
có chỗ đứng riêng biệt và vững chắc trên văn đàn hải
ngoại. Còn phần sự thật anh phơi bày mà anh tiên đoán sẽ
đem lại nhiều tranh luận trong giới Hải quân thì sao? Ðược
hỏi, đây là cuốn tiểu thuyết hay là bản cáo trạng, anh
trả lời: "Tùy người đọc, gọi đó là bản cáo trạng cũng
được vì đó là những sự thật một trăm phần trăm mà
tôi đã chứng kiến, đã tham dự, cũng như bị lôi cuốn
vào." Tuy bị lôi cuốn nhưng anh không nhập cuộc, mà "vận
chuyển" khéo léo để đứng bên lề. Bao năm nay, anh suy
tư thao thức, trằn trọc, đắn đo, và cuối cùng anh quyết
định. Có gặp anh mới thấy rõ anh là người bộc trực,
thẳng thắn. Cái tính tình quí báu của người miền Nam.
Týp người "uy vũ bất năng khuất." Tôi thầm kính phục
sự can đảm nơi anh. Cái can đảm của một kẻ sĩ. Thay vì
chọn thái độ "mũ ni che tai," cho nội vụ chìm vào quên lãng
luôn, anh đã giơ cao thanh gươm chánh khí, đem vấn đề gai
góc ra mỗ xẻ.
Những sự anh Hưng trình bày có tính cách trung thực tới
mức nào? Những nhận xét anh nêu lên có mang màu sắc
phiến diện, chủ quan không? Khi người cầm bút muốn mượn
tiểu thuyết để giới thiệu đến người đọc một bối
cảnh lịch sử nào đó, có nhất thiết phải nêu rõ danh tánh
của những người trong cuộc hay không? Giới hạn của người
viết và quyền biện hộ của kẻ liên hệ?
Câu trả lời cho những vấn nạn trên xin nhường lại cho
độc giả, nhất là những người liên quan tới cốt truyện,
mà theo như tôi biết, một phần lớn đang cư ngụ tại Hoa Kỳ.
back to top
09. ÐÔI LỜI GIAO CẢM VỚI NGUYỄN TẤN HƯNG
HÀ HUYỀN CHI
Ðang đọc
Một Thuở Làm "Trùm"
của bạn đây. Ở
thể loại tự thuật, hay tự truyện tôi chỉ khoái vài người.
Giao Chỉ Vũ văn Lộc, chải chuốt, cô đọng và ánh lên nét
hào sảng độ lượng ở
Cõi Tự Do
. (Lúc này người anh
em đang lâm tiểu nạn, văn phong đã không còn hào quang lấp
lánh thuở Tây Tiến, thuở dựng bản Tin Biển, và gã thợ thề
hàn gắn đổ vỡ chia rẽ cộng đồng trong vai người trung gian
khả tin).
Người bạn trẻ khác là đỉnh nhọn của Thơ, Văn, Nhạc: Hà
Thúc Sinh. Văn tự thuật của chàng tràn đầy lưu lượng sông
dài, ăm ắp tình người và vươn lên dũng khí.
Lê văn Phúc, Cai Phúc viết thật dễ dàng, hồn nhiên trong
Tôi Làm Tôi Mất Nước
. Bỏ qua những nét cường điệu,
làm dáng, cai sữa Lê văn Phúc vẫn đem đến người đọc những
nụ cười thoải mái. Phúc tự dìm mình xuống để được nâng
lên, trong khi đám tiểu nhân tự đội mũ lông công, cánh
chuồn lên tác phong và văn chương bệ rạc của chính họ, và
đương nhiên là bị dư luận đạp xuống, nhổ bọt.
Bạn Nguyễn Tấn Hưng, tôi đã đọc Bạt của Hồ Trường An
cho bạn, và tựa của Mai Thảo ở một tập khác, để thấy
Mai Thảo cho bạn đã là điểm cao, Hồ Trường An, không có
luận cứ vững khi gói ghém bạn chung với giòng văn chương
miền Nam với Nguyễn văn Sâm, Kiệt Tấn và Hồ Trường An,
dĩ nhiên. Chỉ là một điều Hồ Trường An đã chụp vẽ đúng:
"Nguyễn Tấn Hưng đã có một chiếu riêng cho loại văn tự
truyện này."
Nguyễn Tấn Hưng không có cái văn phong của những cây bút tự
thuật ở trên, nhưng ở bạn là một sự hài hòa chừng mực.
Một Thuở Làm "Trùm"
đã chụp, vẽ thật chừng mực những
sự kiện, những góc cạnh của mỗi vấn đề dàn trải. Chụp,
vẽ thật tinh tế, không phóng đại, tô màu. Rất khách quan,
nội tại. Rất lừng lững một mình một cõi văn chương...
back to top
10. ÐÔI LỜI GIAO CẢM VỚI NGUYỄN TẤN HƯNG
THỤY KHANH
Muôn vàn cảm tạ anh về quyển
Một Thuở Làm "Trùm"
anh gửi cho. Tiếp theo
Một Ðời Ðể Học
, kể như nhận
được của anh hai tập truyện rồi. Tháng trước ra Paris ghé
nhà sách Nam Á hỏi mua
Một Chuyến Ra Khơi
. Mãi mê
chuyện trò thế nào, bà chủ tiệm lại đưa cuốn
Một
Thuở Làm "Trùm."
Thế là có dịp tặng bạn một tác phẩm
của anh. Phải mua sách của Nguyễn Tấn Hưng vì không thể để
tác giả tặng mãi được...
Vừa đọc xong
Một Thuở Làm "Trùm."
Ðọc mấy cái Bạt
của anh Hồ Trường An viết cho một số nhà văn thuộc lớp
trẻ, mới thanh danh ở hải ngoại, Thụy Khanh nhận thấy Bạt
viết cho anh hay nhất, sắc bén nhất, nhận xét tinh tế
nhất. Vậy Thụy Khanh còn gì để nói nữa đâu, nếu không
phải là một nhận xét khiêm tốn của một độc giả đã đọc
Bạt trước khi bày tỏ cảm tưởng của mình.
Văn của anh trong sáng, gẫy gọn. Ðọc đến đâu là thấu
đáo đến đó. Ðộc giả không cần phải giở lại trang trước
để theo dõi diễn biến của câu chuyện. Và kỳ lạ thay, từng
đoạn đời được nhắc tới với đầy đủ chi tiết, từng
gương mặt hiện ra, với bờ sông, bụi cỏ, tất cả như những
chứng nhân sống động, mà tác giả như một đạo diễn điềm
nhiên, lạnh lùng cân nhắc, chỉ vẽ những động tác của nhân
vật. Không thấy tình cảm phê phán của người viết. Không
nghe tiếng oán than hờn ghét. Vậy mà đọc văn Nguyễn Tấn
Hưng thấy bị cuốn hút theo tình tiết của truyện. Viết về
một cuộc sống với nhiều chuyển biến đột ngột, trong một
bối cảnh chiến tranh, giữa một xã hội nhốn nháo, loạn lạc
vậy mà tác giả không bỏ qua một chi tiết nào cần có, cũng
không thêm thắt những đối thoại rườm rà. Giản dị và trong
sáng. Ðề tài anh chọn cũng khác lạ, độc đáo. Anh là một
mẫu người đúng của ngành tình báo: sắc bén. Nhưng trong
cách hành văn, diễn ý của anh, độc giả lại thấy sự dịu
dàng, chân thật. Có lẽ tình yêu quê hương, nỗi xót đau
của một người trong cuộc nhưng không có đầy đủ thẩm
quyền, đã trào ra ngọn bút của anh thật ngọt ngào không
ngừng được. Ðọc văn anh, có nhiều chỗ thấm thía nỗi
buồn, mặc dù chỉ lướt qua, nhẹ nhàng nhưng vội vã, có vẽ
sợ người khác bắt gặp giọt lệ âm thầm rơi đâu đó...
back to top
11. ÐÔI LỜI GIAO CẢM VỚI NGUYỄN TẤN HƯNG
THỪA PHONG
Thú thật, tôi chưa từng viết dài dòng như thế nầy cho
một người bạn mới quen. Vì chưa biết gì nhiều để
nói. Với anh, tôi cảm thấy cần phải nói nhiều. Lý do là
nhờ mấy quyển tự truyện anh có hảo ý tặng biếu tôi.
Nhờ nó mà tôi biết anh, như một người quen lâu năm. Và
cũng nhờ nó quá hấp dẫn, bắt buộc người đọc chương
đầu phải đọc đến chương cuối.
Ở Mỹ nầy không thiếu gì sách, nhứt là loại truyện ngắn,
dài, thơ phú. Ðọc mãi cũng nhàm. Một phần nhàm chán cũng
do lề lối viết của tác giả. Giở một quyển tiểu thuyết
hay truyện ngắn tôi thường gặp lối viết không hợp với
quan niệm viết văn của tôi, từ những tình tiết của chuyện
kết hợp quá máy móc, những phân tích tâm lý vòng vo để
giải thích sự kết hợp thiếu hẳn tự nhiên đó, đến lối
hành văn dặm chân một chỗ hay xoay quanh như trôn ốc, lý
luận rẻ tiền nặng mùi triết lý thượng tầng. Làm cho
tôi tự đặt câu hỏi: Tác giả đứng ở phương vị nào để
viết như thế? Rồi đâm ra nghi ngờ tác giả viết "không
thật, " chỉ là tưởng tượng mà thôi. Là những người chuyên
ngồi trong phòng văn nặn óc cho ra chuyện. Ðành rằng những
loại truyện ngắn hay tiểu thuyết đặt trọng tâm vào việc
giải trí hơn là nhằm lưu lại một tác phẩm toàn bích, nhưng
tôi nghĩ văn chương không nên chỉ nhắm vào một mục đích duy
nhất quá trần trụi như thế.
Với tôi, viết trước tiên là phải thật. Có thật tác phẩm
mới sống. Muốn thật phải có kinh nghiệm "sống," không thể
do tưởng tượng hay suy luận mà được. Nhưng có nhiều kinh
nghiệm sống cũng chưa đủ. Bao nhiêu người đã có thứ vật
liệu quý giá đó, cũng nhờ đó mà biết thương yêu, hờn
giận, mừng tủi, nhưng không viết ra được. Chỉ có những
người biết cảm nghĩ sâu xa, thanh cao và bền bỉ mới thành
những nhà văn có tài.
Thế hệ trung niên của mấy anh được cái may sống trong một
thời đại đầy biến chuyển sâu rộng. Không như thế
hệ trước ít khi ra khỏi làng xóm, thành thị hay quê hương.
Cuộc sống trải rộng đó cung ứng nhiều hiểu biết, nhiều
cảm nghĩ mới mẻ, sâu sắc, nhờ mục kiến tận mắt, đau
đớn vì va chạm đến bản thân, não nề khắc ghi sâu đậm
trong tâm trí. Ðó là những thứ vật liệu xây đắp văn
tài, mà theo ý tôi, là bí quyết thành công của người cầm
bút. Là làm sao cho người đọc cũng thấy, cũng nhớ, cũng
cảm nghĩ như tác giả. Là bắc một nhịp cầu thông cảm giữa
người viết và người đọc. Là tạo nên một mối đồng tâm.
Viết tới đây tôi cảm thấy cần thận trọng, không khéo sẽ
bị anh cười là quá vị nể nhau, vuốt lưng để vừa lòng
nhau. Tôi không hề có ý nghĩ đó và cũng không hề dám nhận
viết một bài tựa hay bài giới thiệu nào cho một tác phẩm
của bạn văn. Và tôi cũng không hề mượn một ai đề tựa
cho những tác phẩm của tôi, dù tôi có những người bạn có
thể giúp tôi việc đó. Do đó, những lời tôi viết ra đây
với anh là những lời thành thật.
Trừ quyển
Một Chuyến Ra Khơi
thuật lại cuộc đời hồ
hải của người lính thủy quân, mà tôi không có kinh nghiệm
(cỡ lứa tuổi tôi không có "nghề" làm lính), hai quyển
Một
Ðời Ðể Học
và
Một Thuở Làm "Trùm"
đã khơi dậy
trong tôi một số kỷ niệm, vì nó rất sống. Sống với
những cảnh Thật, từng chi tiết có Thật, với cảm nghĩ
Thật, cùng lời văn Thật thà của người dân miền Nam...
Tôi cũng có một người vai ông, bắt đầu làm nghề chủ vựa
cây mua gỗ súc từ miệt Sông Lớn Cao Miên đổ xuống. Cũng
làm ăn không khá, chuyển qua đóng đồ mộc. Rồi lỗ lã sang
nghề buôn bán ghế, tủ, giường trên ghe thương hồ miệt
chợ Hậu Giang.
Tôi cũng có một thuở đi bắn xoài bằng ná thung. Lớn lên
cũng có lần đi làm xếp ga thay phiên (chef de gare inte'rimaire)
ở vùng Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, chăm sóc cho các chị bán
trái cây đưa những giỏ trái cây nặng nề lên toa xe lửa Sài
Gòn - Mỹ Tho cho kịp giờ xe chạy. Cũng có lần xét vé xe coi
có bấm lỗ chưa...
Những địa danh và cảnh vật trong sách nhắc tôi nhớ lại những
nơi tôi có đi qua, hoặc lưu trú một thời gian. Mỹ Tho,
Chợ Gạo, Cai Lậy, Trung Lương... Nói gì vùng Sài Gòn đất
hộ..., những vùng mà mấy mươi năm sau này tôi có dịp đi qua
để thanh tra những ty sở của chánh phủ thời Ngô Ðình Diệm và
những thời kế tiếp, lúc tôi còn làm công chức, từ vĩ
tuyến 17 trở vào Nam, như Nha Trang, Phan Thiết, 21 tỉnh của
"Nam Kỳ" v.v...
An Thới của đảo Phú Quốc cũng nhắc lại thời 1970 tôi có ở
Dương Ðông trong 1 tháng làm quen với các chủ nhà thùng, đi vớt
mực, tắm biển mỗi chiều trước bungalow tồi tàn thời Pháp
để lại, làm khách sạn duy nhất cho đảo. Tôi đến chơi An
Thới thăm đứa cháu là bác sĩ Nguyễn văn Lộc, phục vụ tại
căn cứ quân sự. Tôi có hơi lạ, không rõ sau nầy An Thới
sao lại không có bác sĩ để anh phải bắt buộc chữa bịnh cho
cháu với thuốc Bắc?
Còn những kỷ niệm về Cao Miên nữa. Ream trước kia là địa
phận của tôi, hồi tôi còn làm Trùm quan thuế Kampot, từ Hà
Tiên đến bãi bể Kompongsom, tới Kao Kong giáp giới Thái Lan.
Thời 1944-1945 chưa có thành phố Sihanoukville, Ream là xóm nhỏ
trên một vịnh nước êm. Chỉ có vài mươi gian nhà sàn cất sát
mé biển, thủy triều lõm bõm mỗi ngày lên xuống. Ngoài doi
trên mõm núi có một gian nhà nhỏ của người giữ hải đăng,
và cũng là vọng gác tàu bè ra vào vịnh. Thỉnh thoảng Quan thuế
cũng bắt được một vài chiếc ghe nhỏ chở hàng lậu thuế, là
có dịp cho tôi ra đó thanh sát khu vực trách nhiệm, ngoài những
chuyến đi định kỳ. Dưới thời Sihanouk cái làng bé tí nầy
mới được mở mang trở thành một thị trấn to lớn như ngày
nay, một trong những cửa khẩu miền biển để nhận hàng tiếp
tế của Nga Sô.
Cái tên Sam-Sa-Rây làm cho tôi nhớ đến một người Miên trước
làm thư ký ở Tòa Công Sứ (Secrétaire des Résidences) thời Pháp
ở Kompongcham là tỉnh tôi phục vụ hơn 10 năm. Có thể là y.
Tên Cao Miên có ba chữ ít khi trùng. Lối 1975 y có thể lớn
khoảng 50 tuổi. Nhiều người công chức Miên thời 1940 mà tôi
được biết, sau nầy làm những chức vụ quan trọng trong chánh
phủ Miên. Như Son Sann, Lon Nol, Khâm Tít v.v...
Tóm lại, tôi gặp lại trong những tác phẩm của anh những cảnh
thật, những người thật, những tình thật, là những điểm
tôi thích nhất...
back to top
12. ÐÔI LỜI GIAO CẢM VỚI NGUYỄN TẤN HƯNG
NGUYỄN VĂN THIỆU
Xin phép được gọi niên trưởng là ông thầy cho tiện
sổ sách vì nếu tính theo vai vế thì tôi phải gọi Nguyễn Kỹ
Lăng bằng bố, gọi 20 bằng ông nội, 19 bằng ông cố,
18 bằng ông sơ, 17 bằng ông gì cũng hết biết. Ðọc xong
mấy cuốn sách của ông thầy viết "đã" quá, định viết
thư lâu rồi mà cứ chần chờ, hôm nay lật sách cũ ra đọc
lại mà vẫn thấy "phê" quá và nhớ quá "một thuở làm trùm"
của mình nên nhờ ông thầy Trương Thanh Việt ghi cho cái địa
chỉ của ông.
Ông thầy kính mến,
Thằng em có cái tên dở ẹt: Nguyễn văn Thiệu. Ừa, ông
già đặt chi cái tên kỳ cục bị thiên hạ chửi quá trời (ổng
đâu có hâm mộ gì Tông Tông nhà mình, vì thằng em sinh năm
1948, lúc đó ông Thiệu mới nhập ngũ), bị 21 cất bảng tên
suốt thời gian nòng nọc - rách như cái "mền rách." Lúc mãn
khóa xưng tên họ bị Nguyễn văn Thiệu thứ thiệt và mấy sĩ
quan tùy viên "kênh xì bo" nữa chứ.
Lúc ông thầy ở Hành Quân Lưu Ðộng Sông thì thằng em mới
lót tót từ Nha Trang ra để về làm phụ tá cho ông thầy Nguyễn
Minh Vân (17) ở Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận Bình Thủy - có
lẽ đã có lần ngồi chung ca-rê với ông thầy ở phạn xá
hoặc bưng mâm ăn chùa bên căn cứ Mỹ. Lúc Hành Quân Sông
dời đi Cát Lái thì sĩ quan ở Thủy Xưởng nhẹ thở quá chừng
chừng, ăn ở rộng rãi, mánh mung cũng không bị "mặt trời"
dòm ngó. Trời xui đất khiến, thằng em bị chỉ định làm
Trưởng Phòng An Ninh ở đó cho tới ngày tan hàng (ra trường 5
năm chỉ phục vụ một đơn vị duy nhất: CCYT/TV/BT. Ai cũng
nói gốc ở Sài Gòn, ai dè thằng nhỏ là dân Gò Dầu (Tây
Ninh), ba đời làm ruộng, cả dòng họ không ai làm tới Thiếu
Úy.
Lăng xăng mà quên hỏi thăm sức khỏe của ông, dòm trong hình
thấy cũng còn mướt lắm. Mấy em ở Nha Trang hoặc cô Ngọc
cháu của hạm trưởng lé gặp lại chắc cũng suýt xoa như
thường. Ðọc truyện của ông thầy thấy nhớ chuyện cũ
quá trời. Nhớ Nha Trang, nhớ Sài Gòn, nhớ Cần Thơ, nhớ
Mỹ Tho, nhớ ông bà ông vãi tùm lum rồi thẩn thờ, rồi
bâng khuâng không muốn mần ăn gì hết. Bà xã tưởng sinh
chứng nên hứ hé đủ điều.
Ở đây có vào khoảng vài chục sĩ quan Hải Quân, lâu lâu cũng
họp mặt, tán hưu tán vượn qua ngày. Ông Việt thì vẫn
hoạt động hăng say, và vẫn hiền như cục bột (có người
kêu cục đất). Nghèo nhưng hai ông bà có vẻ hạnh phúc lắm.
Ðời sống ở Úc so với Mỹ như dân Lục Tỉnh so với Sài Gòn,
mần ăn được cũng đồng ra đồng vô, tương đối dễ thở.
Hôm trước cả nhà thằng em có sang Mỹ đi một vòng thăm bạn
bè cũ, ở Cali một tuần, Texas hai tuần, Kansas City một
tuần. Văn minh thì quá cở thợ mộc, lầu đài đền xá
gì quá thể, dòm hoài trật ót, rớt nón cối hồi nào hổng
hay. Nhưng đời sống gia đình (nói riêng về Việt Nam tị nạn)
thì rất khác xa bên Úc. Ở Úc nó có vẻ gần gũi với "lục
tỉnh" hơn nên trầm lặng, quê mùa và xuề xòa hơn nhiều.
95 phần trăm con nít đều nói tiếng Việt, thưa hỏi đàng
hoàng (kể cả những gia đình lập nghiệp đầu tiên từ 1975),
chứ không cà hất cà hất như đám Mỹ đen ở bên Mỹ đâu.
Vấn đề ly dị cũng rất hiếm. Chưa thấy gia đình Hải Quân
nào đổ vỡ cả cho nên qua đó rồi về phát sợ.
Chỗ ông thầy ở có gần cộng đồng người Việt không? Hay
là chơi sô lô một mình? Tên thành phố gì sao nghe thèm thuốc
quá? Bà thầy có đi làm không? Mấy cháu chắc đã ra trường
hết rồi hả? "Thằng Út ưa thở bằng miệng, hay bị chảy máu
cam" bây giờ bao lớn rồi? Ai cũng nói ông thầy có chí quá
cỡ, con cái đùm đề mà học giỏi thì thôi. Nghe nói định
mần tiếp cái Ph. D. gì đó thì chào thua. Bên Úc thì toàn
dốt đặc, qua ngày trước ngày sau là cày liền. Ngó trước
ngó sau chỉ toàn dân cu li (có người làm cu li mà mua 9 cái nhà
như Trần Thế Diệp khóa 11). Ông Việt thì làm dân le lưỡi
dán tem cũng đã mười năm. Thằng em làm thợ bánh mì, hai
giờ sáng là bị vợ khều khều lôi đầu dậy rồi. Mặt mày
lúc nào cũng ngơ ngơ ngáo ngáo (thiếu ngủ!), đầu cổ thì
bột mì tùm lum, dòm coi tối nước dữ lắm, thành thử lúc
qua Mỹ tình cờ gặp lại "người tình nhỏ" ở Little Sài Gòn
muốn đớ lưỡi khi bị hỏi: "Sao bây giờ anh coi bết bát
quá vậy?" Ðúng là "mười năm không gặp, gặp rồi muốn
chửi..." Ông thầy có địa chỉ của Nguyễn Minh Vân không? Ðể
biên thư thăm ông thầy cũ vậy mà. Hồi trước ổng điệu
với em út dữ lắm, thuộc về hạng "đại tà," làm tiền như
nước nhưng nhậu sạch sành sanh. Chừng nào ông thầy có dẫn
gia đình qua Úc thì ghé qua nhà thằng em nghen, gần nhà ông
Việt lắm. Nhà có 5 phòng ngủ mà chỉ xài có ba thôi (welcome
ông trùm!).
Rất mong được đọc tiếp các tác phẩm mới.
back to top
13. DẤU ẤN VĂN CHƯƠNG CỦA NGUYỄN TẤN HƯNG
LÊ NHẬT THĂNG
Trong bài phát thanh của Ðài Tiếng Nói Hòa Kỳ, ngày 9 tháng
5 năm 1989 nhận định về cuốn
Một Ðời Ðể Học
của
Nguyễn Tấn Hưng, có hai điểm của bà P. Lan và Bùi Bảo Trúc,
tôi thấy cần bàn thêm.
Thứ nhất, cả hai đều đồng ý cho rằng đời tác giả
Một
Ðời Ðể Học
có nhiều thăng trầm và đổi thay. Bà P. Lan
kể Nguyễn Tấn Hưng rời nhà trường để nhập ngũ theo học
khóa 17 sĩ quan hải quân, lên cấp hải quân Ðại Úy, phụ trách
ngành tình báo cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Bà ta chỉ kể vắn tắt có thế. Và nếu kể thêm, theo tôi
biết, Nguyễn Tấn Hưng phải làm đủ thứ nghề khi sang Mỹ và
anh cố gắng học. Ðã xong Master nay định lấy thêm bằng
Ph. D.
Tôi chẳng hiểu
"nổi chìm theo nghĩa đúng nhất"
về cuộc
đời Nguyễn Tấn Hưng như ông bà quan niệm và hiểu biết thế
nào? Nhưng đối với nhiều người Việt Nam trong giai đoạn
lịch sử đầy biến động vừa qua, trường hợp Nguyễn Tấn
Hưng không có chi đặc biệt, đáng chú ý. Ngay cả so sánh
với những chiến hữu trong quân chủng, anh ta cũng chẳng phải
lận đận, nguy hiểm gì mấy! Ði biển, đi sông rất ít;
trái lại anh ta làm việc ở văn phòng trên đất, đảo nhiều
hơn là lênh đênh, bập bềnh trên chiến hạm. Không được
nếm thủ đoạn Cộng Sản một ngày nào cả.
Thứ hai, ông Bùi Bảo Trúc cho rằng nếu tự truyện mang tính
cách văn chưong thì nó phải có phần sáng tạo, và do đó nó
phải là tự truyện tiểu thuyết.
Tôi cảm thấy ông Trúc không phân biệt rõ tính chất nội dung
với kỹ thuật thể hiện tác phẩm.
Anh Nguyễn Tấn Hưng, khi trả lời các câu hỏi của Ðào Huy Ðán
đã xác nhận đây là tự truyện "chuyện đã có sẵn, tôi chỉ
kể lại mà thôi" và "riêng cuốn
Một Ðời Ðể Học
thì
trên 90 phần trăm (tỷ số sự thật trong tác phẩm) là cái
chắc."
Vậy sáng tạo về nội dung tức là phần tưởng tượng, thêm
thắt, lược bỏ của tiểu thuyết trong
Một Ðời Ðể Học
không đáng kể, nếu không muốn nói là không có. Nếu có
phần "vẽ rắn thêm chân" lan man theo ý đồ đã định thì chẳng
phải là tự truyện; tác phẩm hiển nhiên mất đi tính cách
trung thực rất cần thiết của thể loại tự truyện, hồi
ký... Chúng ta có thể ví von viết tự truyện giống như
người soi gương để truyền thần chân dung mình. Như vậy,
người vẽ khuôn mặt mình nhờ tấm gương soi không thể vẽ
khuôn mặt của ai khác hay vẽ thêm, vẽ sai những gì mà gương
phản ánh.
Tóm lại, tự truyện là truyện kể về mình, có sao kể vậy,
cho người khác nghe, đọc. Còn kể đoạn đời nào, việc làm
nào, bằng giọng điệu nào... thuộc về bản lĩnh, trình
độ tức là phần sáng tạo của người kể, không ăn thua gì
tới nội dung.
Người kể có kỹ thuật cao tức là câu chuyện hấp dẫn,
thuyết phục người nghe, kẻ đọc. Viết ra giấy, truyện kể
phải được văn chương, nghệ thuật hóa mới xứng đáng là
một tác phẩm văn nghệ, văn học. Vậy sáng tạo chỉ xảy ra
ở phần xây dựng tác phẩm chứ sự việc đã thành sự cố
thì làm sao sáng tạo! Trừ phi...
Làm gì có cái gọi là tự truyện tiểu thuyết mà chỉ có tiểu
thuyết hóa truyện của một người, tiểu thuyết hóa cuộc
đời của một người. Cần phân biệt trước, sau để minh
định tác phẩm của Nguyễn Tấn Hưng.
Trong bài nói chuyện giới thiệu
Một Thuở Làm "Trùm"
,
ông Võ Ðình nói có ba thế hệ nhà văn gốc Miền Nam là
Hồ Biểu Chánh, Hồ Hữu Tường, Lê Xuyên, Sơn Nam (thứ
nhất)... Huỳnh Hữu Cửu, Hồ Trường An, Võ Kỳ Ðiền,
Nguyễn Văn Ba (thứ hai)... Phan Thị Trọng Tuyến, Nguyễn
Thị Ngọc Nhung, Cao Bình Minh, Vũ Nam (thứ ba)...
Và ông ta xếp Nguyễn Tấn Hưng vào thế hệ thứ hai.
Sự thực, nhóm từ "gốc miền Nam" thiếu sự chính xác, gây
ngộ nhận. Vì rằng sau hiệp định Geneva quy định từ Quảng
Trị trở vào là miền Nam Việt Nam mà chúng ta vẫn dùng hai từ
miền Nam để phân biệt với miền Bắc đang bị thống trị bởi
chính quyền cộng sản. Thêm nữa, những nhà văn, thơ trẻ
dẫu sinh tại miền Bắc - như Trần Dạ Từ chẳng hạn - di
cư vào Nam lúc tuổi còn nhỏ, chưa có kỷ niệm, ấn tượng
rõ rệt về sinh quán của mình; miền Nam mới chính là cái nôi
mới cho họ học hỏi, sinh trưởng và thành công.
Chẳng lẽ chúng ta gọi họ là những văn, thi sĩ miền Nam gốc
Bắc ư?
Và có những người cha mẹ là người dân miền Bắc hoặc miền
Trung sinh họ ở Sài Gòn hay lục tỉnh xin hỏi ông Võ Ðình có thể
gọi họ là các văn nghệ sĩ gốc miền Nam được chăng?
Theo tôi, tính cho đến nay, đất Ðồng Nai và đồng bằng sông
Cửu Long từ cuối thế kỷ thứ 19 là thời kỳ phát triển mạnh
mẽ chữ quốc ngữ, bỏ Hán học chuyển sang tân học mà trấn Gia
Ðịnh giương lá cờ đầu bằng có tờ báo sớm nhất, có
trường học lâu năm nhất; tôi tạm chia các lớp người viết
văn sinh quán tại Nam phần căn cứ vào văn phong, bút lực và
tác phẩm được dư luận hoan nghênh, như sau:
Lớp 1: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Chánh Sắc, Nguyễn An
Khương, Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển...
Lớp 2: Lý Văn Sâm, Ngọc Sơn, Hồ Hữu Tường, Ðông Hồ...
Lớp 3: Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên...
Lớp 4: Kiệt Tấn, Hồ Trường An, Nguyễn Tấn Hưng,
Nguyễn Văn Ba...
Lớp 5: Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Trần Kim Vy hay Cao Bình Minh
chăng?
Tôi vẫn nghĩ về sau có ai viết một bản tổng kết văn học
Việt Nam ở hải ngoại sau Tháng Tư Ðen, Nguyễn Tấn Hưng sẽ là
một bút danh không thể quên được! Không phải vì Nguyễn Tấn
Hưng viết như cháo chảy, chẳng phải vì anh là cây bút của Hải
quân Việt Nam Cộng Hòa nổi bật hiện nay mà cũng không phải vì
Nguyễn Tấn Hưng là một Kẻ Sĩ can đảm như Trần Quán Niệm
nhận xét... mà chính vì tác giả pho tự truyện gồm các tập
truyện
Một Ðời Ðể Học, Một Thuở Làm "Trùm"
và
Một Chuyến Ra Khơi
có lối kể hết sức thành thật,
thông minh và cực kỳ điêu luyện.
Chúng ta chú ý tới chữ
Một
đặt tên các truyện của anh
chỉ rõ suy nghĩ của
một người trí thức
, xúc cảm của
một công dân
và hành động của chiến sĩ vẫn âm vang
trong tâm tưởng ba "tiêu hướng" Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm.
Mặt mạnh của Nguyễn Tấn Hưng ở chỗ thống hợp được ba con
người chân chính biến thành động cơ, xung lực cho ngòi bút
tung hoành.
Có thể nói trong sinh hoạt văn nghệ ở nước ngoài hiếm có tác
giả nào lại được khen quá sá như Nguyễn Tấn Hưng. Ðiều
đáng chú trọng những "tuyên dương" này toàn do những tác giả
có khả năng và uy tín.
Mai Thảo đã viết Vào Tập cho
Một Ðời Ðể Học
. Nhận
định của tác giả
Ðêm Giã Từ Hà Nội
bằng một đoạn văn
đứng đắn và kiểu cách theo lối viết của ông ta: "Ðiều
yêu mến sau cùng lớn hơn hai điều yêu mến trước, là mặc
dầu đã mười mấy năm trời rất dễ dàng đẩy vào thất
lạc, mặc dầu Việt Nam đã nghìn dặm, quê nhà đã nghìn
trùng, bàn viết của Nguyễn Tấn Hưng, giữa thổ ngơi lữ
thứ xa lạ, vẫn đặt được vào đúng hướng đúng tầm
với giống nòi và đất nước ở xa."
Nhờ Mai Thảo, chúng ta được biết Nguyễn Tấn Hưng đã có
truyện đăng trên
Văn
trước năm 1975 và anh viết rất cẩn
trọng, bản thảo thường thay đổi để hoàn hảo hơn.
Tôi tìm hiểu trực tiếp, anh Nguyễn Tấn Hưng khởi sự viết
ở quân trường, đặc san
Ra Khơi
và tập san
Lướt
Sóng
rồi mới viết cho
Văn
với các bút hiệu khác.
Trong tương lai, Nguyễn Tấn Hưng sẽ lần lượt cho ra mắt
Một Cảnh Hai Quê
, tập truyện;
Một Kỷ Niệm Ðẹp
,
biên khảo về cách xếp chữ Việt trên máy điện toán;
Một
Lần Xuống Núi
, ký sự văn học;
Một Nỗi Buồn Riêng
,
tập truyện và tập tùy bút
Một Phen Lận Ðận
.
Ngoài ra, anh còn viết nhạc, làm thơ; tập thơ
Một Thoáng
Trong Mơ
đã có chiều dầy... lại biên khảo ngôn ngữ.
Ðúng là nghệ sĩ đa dạng!
Bây giờ tôi xin lần lượt "thông qua" ba tập truyện theo thứ
tự xuất bản và truyện ngắn
"Một Cảnh Hai Quê,"
làm nền
cho tập truyện thứ tư, của anh.
Một Ðời Ðể Học
gồm những chương như những giai đoạn
của cuộc đời Hùng bắt đầu từ tỉnh Mỹ Tho, nơi anh sinh thành
rồi qua mấy chục năm, nhân vật chính xưng Tôi tạm dừng bước
lưu ly ở thành phố Winston-Salem thuộc bang North Carolina.
Hùng học hết cấp tiểu học ở trường xã và quận rồi lên
tỉnh lỵ Mỹ Tho học ban trung học. Anh đã viết lướt qua việc
học mà nghiêng dòng mực hoa niên để mô tả sinh động tình
trạng gia đình, về người và cảnh quê hương và cả tỉnh Mỹ
Tho chứa chan tình cảm bằng ký ức tuyệt vời và có nhiều
khám phá thú vị.
Làm quen với Sài Gòn vào tuổi mười ba trên chuyến xe lửa
và sau sống luôn trong "Hòn Ngọc Viễn Ðông" khi bắt đầu lên
Ðại Học, phân khoa khoa học. Nhưng học được hai năm nhá Toán
Lý Hóa khô khốc nên tình nguyện gia nhập hải quân tìm cảm
giác lạ và hi vọng lên tướng.
Nhập học khóa 17 sĩ quan hải quân ở Trung Tâm Huấn Luyện Hải
Quân Nha Trang bị dần cho nhừ tử mấy tuần lễ đầu và học
toát mồ hôi về các môn học căn bản.
Thế rồi Nguyễn Tấn Hưng học cách thức làm việc trong quân
chủng sau khi tốt nghiệp, học và làm tình báo quân đội, học
đối nhân xử thế trong trường đời phức tạp. Sang Mỹ lại
lao vào học đủ thứ nghề với chật vật và cuối cùng cố
gắng có mặt trong Ðại Học... Chúng ta thấy rõ Nguyễn Tấn
Hưng treo cao tấm gương phấn đấu tự vượt hoàn cảnh; quan
trọng nhất, vượt được chính mình để trở thành một
chuyên viên cao cấp, có chỗ ngồi tốt trong một hãng lớn
danh tiếng.
Anh nghĩ rất chí lý:
"Thành tài hay không một phần còn phải
nhờ vào ý chí và lòng tin của mình."
Một Thuở Làm "Trùm"
, chữ Trùm được đóng trong ngoặc
kép chắc hàm ý được làm đàn anh có một số đàn em đắc
lực sẵn sàng chiều đãi cung phụng. Anh kể lại thời gian
phục vụ tại Bộ Tư Lệnh Vùng 4 Duyên Hải với chức vụ Trưởng
Phòng Nhì.
Ðảo Phú Quốc buồn vắng, địch tương đối ít quậy mạnh như
trong đất liền nên Hùng sống cùng gia đình hơi giống đời
công chức. Bằng cớ rõ rệt cư xá sĩ quan tiếp giáp khu vực
buôn bán mà không có hàng rào phòng thủ ngăn cách. Thật là
chủ quan, khinh địch, nhất là đối với sĩ quan tình báo đã
có cảnh giác ngay khi anh mới thuyên chuyển về đơn vị mới.
Những chuyện móc nối, bổng lộc, công việc thường xuyên,
ngoại giao đột xuất... cũng bình thường trong bối cảnh chung
của thời Ðệ Nhị Cộng Hòa mà ai ai cũng rõ, nhiều người
vẫn làm... thế nhưng anh kể khá linh hoạt, duyên dáng nên
mang lại cảm tưởng mới lạ cho người đọc.
Phần cuối truyện có hai chương "Trong Cảnh Sống Còn" và "Ngày
Qua Trên Xứ Lạ" kể lại cuộc vượt biển rất hồi hộp, gian
nan, mặc dù anh có kế hoạch trước. Tinh thần lạc quan và
phảng phất chủ nghĩa duy tâm được biểu hiện trong đoạn cuối
truyện:
"Khác với những gia đình ra đi có đem theo vàng bạc, của
cải, gia đình tôi, vợ chồng con cái tôi phải làm lại cuộc
đời từ hai bàn tay trắng. Tôi rất biết và rất vui vẻ
bằng lòng chấp nhận số phận của mình.
Thủy triều ai tát mà vơi
Lên thời lắm thế, xuống rồi như không"
Tôi đồng ý với Hồ Trường An, nếu anh khai thác, trải rộng
vốn sống nhất là kinh nghiệm công tác, chắc chắn
Một
Thuở Làm "Trùm"
có thể biến thành một truyện dài hơn,
quân bình hơn.
Những trang đầu của
Một Chuyến Ra Khơi
là một truyện
ngắn riêng, hầu như tách ra khỏi mạch tập truyện, viết về
vùng vòng đai hay vùng tranh chấp giữa Quốc gia và Việt Cộng,
mang tên "Dòng Sông Của Tùng." Cái chết phi lý và bất ngờ
của Tâm trong dòng sông tuổi nhỏ quê hương và có thể Tùng
cũng bị lạc đạn trong trận công đồn khiến cho cây cầu thân
thuộc gãy gập.
Nếu
Một Thuở Làm "Trùm"
được xem như một chuỗi hồi
tưởng, một khúc sinh hoạt xen cắt
Một Ðời Ðể Học
thì
Một Chuyến Ra Khơi
cũng có thể coi là Một Trở Về
thời kỳ phục vụ trong quân ngũ, hay là một cuốn phim ghi lại
một quãng đời trẻ tráng có tình yêu, có bạn hữu, có chiến
đấu và có... thơ.
So với hai tập truyện trước, tập truyện
Một Chuyến Ra
Khơi
có nhiều chất ký, chất tùy bút và chất thơ hơn cả.
Mời các bạn thưởng thức tài nghệ của Nguyễn Tấn Hưng; tôi
xin trích dẫn mấy đoạn, giở ra rất tình cờ chứ không chọn
lựa những đoạn hay nhất làm cảnh:
"... Chặt cây phá rừng, ban gò lấp nổng, rồi đem trâu cày
lên một bận. Thấy được miếng đất trống như thấy được
nửa đường, không bao lâu nữa sẽ xong. Rồi đến lượt khuân
đất đắp nền, đắp đường đi. Ðất trộn với trấu, rải
trên mặt đất cho mau khô, đâu đâu cũng thấy trấu... Công
tác của học trò cũng chỉ đến chừng đó, phần còn lại dựng
trường lợp trường, cột kèo phên vách thì do đám thợ chuyên
môn lo. Vài tháng sau tỉnh trưởng xuống cắt băng long trọng
khánh thành, có đồng ca Này công dân ơi đứng lên đáp lời
sông núi... và có Ai bao năm vì sông núi quên thân mình..."
(
Một Ðời Ðể Học
, trang 8).
Tôi nghĩ các bạn trẻ, trên dưới hai mươi, rất ít người
biết xuất xứ của câu hát sau vốn từ bài suy tôn lãnh tụ Ngô
Ðình Diệm, thời ấy chính phủ bắt hát sau quốc ca. Ngay cả
trong rạp chiếu bóng cũng phải thi hành răng rắc.
"... Không ai ngờ đêm nay lại là đêm rối loạn. Ngay giữa
khuya. Vì có người phát giác ra tư lệnh đã vọt rồi. Bằng
chứng là chiếc xe Jeep của tư lệnh đang nằm trơ trọi một mình
trên cầu tàu. Không tài xế, không người trông coi. Vậy thì
còn chờ đợi gì nữa, hãy bồng bế nhau đi. Thay phiên nhau
xách xe tư lệnh chạy ra cư xá chở vợ con vào cầu tàu. Ðể
chuẩn bị đi ra tàu lớn. Tôi không dành được xe, lội
bộ trở ra nhà mới biết hành trang và tài sản của gia đình
vợ tôi và con nhỏ em còn đang lu bu thu dọn. Cho vào bị vào
xắc. Lại lội bộ trở vô cầu tàu như gà mắc đẻ. Ðể xem
chừng động tĩnh. Ðể mong ngóng coi thằng Luân đem ghe riêng
của mình vào chưa..."
Tác giả viết những câu ngắn để cực tả những việc làm gấp
gáp, sự lo lắng nhiều điều. Và chúng ta thấy rõ sự bừa
bộn khi chuẩn bị ra đi theo ông tư lệnh đã cao bay, xa chạy.
Ðoạn này trích trong
Một Thuở Làm "Trùm"
, trang 140.
Ðây là đoạn đối thoại trích trong
Một Chuyến Ra Khơi
:
"... Huy vói tay khép cánh cửa sổ, trời lạnh quá. Huy tung
chăn đắp cho cả hai lên tận cổ, vùi mặt vào mái tóc Phương
giọng nhè nhè:
- Ng... u.. ngủ.
Hồi lâu, Huy cất tiếng:
- Ngủ không được em ơi. Tại có em nằm gần, thôi em nằm xa
xa anh một chút coi.
Phương im lặng. Huy khẽ đẩy:
- Làm bộ ngủ hả, nghe anh nói không?
- Anh này kỳ, người ta không thèm nói chuyện mà lải nhải mãi.
- Này, tuần rồi em đi công tác ở Qui Nhơn có gì vui không?
- Vui chứ sao không, có mấy ông đại úy ga lăng hết chỗ chê.
- Sướng nhé, em lúc nào cũng để ý đến mấy chuyện vớ
vẩn đó chứ không biết học hỏi gì cả. Em biết Qui Nhơn cái
gì, em có biết mộ Hàn Mặc Tử không. Tây, Huê Kỳ ở đâu
không biết chứ mấy thành phố ven biển là có tàu anh tới.
- Anh được có cái nước nói giỏi làm như chuyện gì cũng
biết, em còn đi thăm nhiều nơi hơn anh nữa kìa mà em không
thèm nói, động một chút ra mặt thầy đời.
- Chứ sao, con người hải quân là con người quốc tế mà.
Anh chuyện gì cũng biết.
- Em chuyện gì cũng biết..., trừ một chuyện chưa biết...
- Chuyện gì?
Huy suy nghĩ hồi lâu rồi nói nhỏ:
- Thế em muốn biết bây giờ hả, anh tưởng em còn thơ ngây.
- Thôi đi, dễ dữ à...
Huy xoay người ôm chầm lấy Phương. Mấy sợi tóc lòa xòa
trước mặt, Phương bé bỏng nằm gọn trong vòng tay..."
(trang
39 và 40).
Anh "chồng" đi xa về tán tỉnh "vợ" rất đúng tâm lý. Không
hiểu sao Nguyễn Tấn Hưng lại dùng chữ chăn, tiếng miền
Bắc, thay vì mền? Và sau câu "Chứ sao..." có lẽ phải xuống
giòng chấm chấm tượng trưng cho sự im lặng của Phương.
Truyện ngắn
"Một Cảnh Hai Quê"
có thể nói là truyện nối dài
từ ba tập truyện trên, như những con đường nối dài của
Sài Gòn cũ. Ðiều đặc biệt của truyện là tác giả viết
xen rất nhiều tiếng Anh (Mỹ) dù rằng tiếng Việt cũng có
những từ ngữ tương đương, nhất là những từ thông dụng.
Tại sao thế? Có lẽ Nguyễn Tấn Hưng có chủ ý báo động
về một hiện tượng người Việt ở nước ngoài sính nói
tiếng nước đang lưu trú hơn là nói tiếng mẹ đẻ. Trên
thực tế đời thường, trước năm 1945, có bao nhiêu người
dùng tiếng Pháp để nói chuyện với nhau coi như một mốt
dành cho những người trí thức, quý phái (?) và sau năm 1954,
hàng thập kỷ vẫn thấy một số người nói xen kẽ tiếng Pháp
trong câu chuyện hàng ngày.
Trong một bức thư gửi một bạn văn đầu năm Tân Mùi, Nguyễn
Tấn Hưng viết: "... Phần lớn những người bạn khen là những
người thích đọc tác phẩm "có chiều sâu." Tôi chẳng để
ý lắm đến chuyện đó, lúc viết là cứ viết thôi. Cứ
con tim đi trước cái đầu để sau, đem hết tâm tình mình
dàn trải là xong."
Ðúng vậy đọc truyện Nguyễn Tấn Hưng khiến cho chúng ta nghĩ
biết bao nhiêu dòng máu tươi xanh từ trái tim hồng của anh cứ
đều đều tuôn trào như sóng vỡ bờ ra đầu ngòi bút, cuồn
cuộn trên những khuôn giấy trắng để trao cho những người
đồng điệu, những kẻ đồng hành.
Trước 1975, quân chủng Hải Quân có một số nhà văn, nhà thơ
và nhạc sĩ như Hữu Phương, Phan Lạc Tiếp, Vũ Thất, Trường
Sa, Anh Thy... song so với quân chủng Không Quân thì hơi khiêm
tốn. Nay ở nước ngoài chúng ta thấy có Ðiệp Mỹ Linh và
Nguyễn Tấn Hưng đứng lên sừng sững, tạo thế quân bình
đối với những cây viết sáng giá của Không Quân.
Có lẽ từ đây, nói và nghĩ đến thành phố Mỹ Tho, tỉnh
Ðịnh Tường êm ả bên bờ Tiền Giang, ngoài những sự kiện
lịch sử, những danh nhân, những thắng cảnh, vùng đất giàu
có... chúng ta không thể quên được tác giả Nguyễn Tấn Hưng,
một nhà văn đã mau chóng tìm thấy hướng đi và tự hào đã
khắc được dấu ấn văn chương của mình. Và được mọi
người ưu ái chấp nhận.
back to top
14. FOREWORD FOR "ONE LIFE OF LEARNING"
DR. SYLVESTER CLIFFORD
Hung Tan Nguyen fled Vietnam in April 30th, 1975, having served in the South
Vietnamese Navỵ He, his wife and children, and some of his wife's relatives
have established themselves in the United States. In this book we see Vietnam
through Hung's experiences as he develops into an adult, and then through
his struggles to succeed in his second homeland. Here are revealed the
tenderness and toughness of child and adult, the resiliency of youth, the
ever renewing dreams and persistence of humans in desperate circumstances.
Throughout, there are touches of humor, and always a clear-eyed realitỵ
The volume will be of particular interest to those thousands of Americans
who helped Vietnamese refugees gain a foothold in the U.S. For them it
is a rare opportunity to "See ourselves as others see us." It will be
a valuable history to other refugees, and even more precious to their
thoroughly American descendents.
Mr. Nguyen previously has published both poetry and prose in his native
language; this is his first professional venture into American English.
Those twists of grammar and unfamiliar idioms that mark him as a "foreigner"
enrich the writing by novel imagery and originalitỵ The story itself
reawakens poignant memories-cuts into the mind and heart all the more
sharply for being truẹ
Vermillion, S.D., Refugee Resettlement Committee
back to top
15. FORWARD FOR "ONE TIME AS AN INTELLIGENCE OFFICER"
DR. SYLVESTER CLIFFORD
The sky was above, the water was below, and the sailor was
in the middle!
This Vietnamese saying, quoted by the author, expresses
succinctly the major theme, intended or not, of this, the third in a
series of books by Hung Tan Nguyen about experiences of himself and other
Vietnamese during and after the long conflict known in the United States
as "The War in Vietnam."
Badly, Hung depicts the actions of himself, fellow officers, Thai pirates,
black marketeers, grafters, and others as they exist in a world demanding
high standards of personal loyalty and patriotism, while simultaneously
expecting, countenancing, and rewarding treachery, double-dealing,
profiteering, and survival at all costs. With disarming directness the
author shows us tenderness and selfishness, crudity and graciousness, heroism
and cowardicẹ There is little adornment, little pretense of philosophical
depth or grand principles. These people are trapped, almost powerless in
the struggles that enmesh their world.
Ex-servicemen may wince at the unvarnished presentation of greed, but will
recognize also the ability of humanity to re-assert its better aspects.
Unsettling as the truth may be, it does not condemn friend or foẹ Indeed,
as Hung says,
". . . it was difficult to conclude who was bad or who was
good during the war timẹ"
Touching scenes of family interlace with documentation of events preceding
and following the fall of Saigon. Lyrical descriptions of the sea attest
to sensibilities that seem overwhelmed in everyday dealings. Despite its
surface blandness and simplicity this is a complex book; at least, it
evokes complex thoughts and feelings. Though there is action, it is not
an adventure storỵ Though there is not the dependence of lewdness
Americans are accustomed tơ there is a reality and rawness that cannot
be ignored. The readers, unless they have been close to the circumstances,
or to the Vietnamese refugees, whơ like Hung and his family, have made
their way in the United States, will not identify with the main character,
but neither will they be able to put aside this military and moral
quagmirẹ
ONE TIME AS AN INTELLIGENCE OFFICER is recommended reading for all students
of Vietnam War, and all students of the human condition.
back to top
16. GIỚI THIỆU "ONE LIFE OF LEARNING" VÀ "ONE TIME AS AN INTELLIGENCE OFFICER"
NGUYỄN VẠN LÝ
Nguyễn Tấn Hưng là một nhà văn quen thuộc với độc giả
của bán nguyệt san
Ðẹp
. Người ta có thể gọi ông là
một nhà văn "số một" hoặc một nhà văn ưa thích "số một,"
vì các tác phẩm của ông đều bắt đầu bằng chữ "Một,"
như
Một Ðời Ðể Học, Một Thuở Làm "Trùm", Một Trời
Một Biển
... Phải chăng Nguyễn Tấn Hưng muốn trở thành
một nhà văn số một? Nếu đó là tâm nguyện của ông,
bán nguyệt san
Ðẹp
xin chúc ông sớm đạt được địa
vị đó.
Phần lớn các tác phẩm của Nguyễn Tấn Hưng mang tính chất
hồi ký được tiểu thuyết hóa. Các truyện ngắn truyện
dài của ông đều bắt nguồn cảm hứng từ ngay cuộc đời
của ông, quá khứ cũng như hiện tại. Tác phẩm của ông,
từ bối cảnh đến tâm tình nhân vật, chính là cuộc đời
tác giả đã trải qua hoặc chứng kiến, từ những ngày còn
đi học, cho tới lúc trở thành một sĩ quan hải quân cao cấp,
và ngay cả cuộc đời tại Mỹ nữa.
Viết về cuộc đời của mình đã khó, vì ảnh hưởng chủ
quan, nhưng viết về cuộc đời của mình một cách thành
thực và bình dị mà làm rung động được người đọc như
Nguyễn Tấn Hưng mới thật là gian nan. Vậy mà Nguyễn
Tấn Hưng đã thành công với một loạt tác phẩm "số Một"
của mình. Phải chăng sự thành thực và đức giản dị là
một trong những cái đẹp của văn chương?
Nguyễn Tấn Hưng có một văn phong đơn giản trong sáng, như
một người miền Nam thân mật tâm sự với độc giả. Ít
người đạt được sự giản dị trong văn chương như thế.
Nhiều độc giả bình dân sẽ thích đọc ông, vì họ có thể
tìm trong tác phẩm của ông một cái gì rất gần gũi với
họ. Những người cầu kỳ, chỉ đi tìm cái đẹp của lời
văn, dù trong một câu đối thoại có duyên, hoặc một màn
tả cảnh nhớ đời, thì không phải là độc giả của ông.
Nguyễn Tấn Hưng không viết cho những độc giả khó khăn
ấy. Nhu cầu viết văn đầu tiên của một tác giả là sáng
tạo một cái đẹp cho chính mình trước đã, một cái đẹp
rất chủ quan theo ý riêng của mình. Sự đón nhận của độc
giả chỉ là hậu quả chứ không phải là mục đích. Một số
truyện ngắn gần đây của Nguyễn Tấn Hưng mang thêm tính
chất ướt át của dục tình. Yếu tố mới này làm truyện
ngắn của ông thêm ăn khách nữa.
Nguyễn Tấn Hưng mới cho xuất bản hai tác phẩm bằng Anh
văn, dịch bản của hai tác phẩm đã xuất bản bằng tiếng
Việt của ông: Cuốn
One Life Of Learning
, từ cuốn
Một Ðời Ðể Học
, và cuốn
One Time As An Intelligence
Officer
, từ cuốn
Một Thuở Làm "Trùm"
. Các bản dịch
này do chính ông thực hiện lấy. Ðiều này chứng tỏ
Nguyễn Tấn Hưng có một trình độ viết Anh văn rất
vững.
back to top
17. THƯ GỬI THAY LỜI BẠT CHO TẬP TRUYỆN MỘT CẢNH HAI QUÊ
VÕ KỲ ÐIỀN
Laval des Rapides, ngày 6 tháng 11 năm 1989
Hưng thân mến,
Vậy là bạn nói thiệt sao? Mấy tháng nay tôi cứ tưởng bạn
Hưng của tôi nói chơi chớ. Lúc nhận lời viết Bạt cho tập
truyện mới, tôi cũng ừ hử cho qua ngày chớ thiệt ra trong bụng
nghĩ rằng làm sao trong vòng một năm hơn mà viết ba tập truyện
cho được. Bộ sức voi hả? Nhè đâu
Một Ðời Ðể Học
vừa xong bạn cho ra tiếp
Một Thuở Làm "Trùm"
. Sách chưa kịp
đóng bụi thì tập bản thảo
Một Cảnh Hai Quê
đã nằm chình
ình trên bàn viết của tôi. Thiệt tình, bạn sáng tác hăng
quá, tôi vì suy bụng ta ra bụng người đoán trật lất nên
há miệng mắc quai. Ðọc cái thơ của bạn gởi kèm...
"Nhờ
anh đọc và viết Bạt. Biết anh bận nhưng lo cho thằng em càng
sớm càng hay."
tôi như uống một ly rượu mạnh, cả ngày
lơ đơ lửng đửng, ngồi đứng không yên. Ðề tựa đã
là một điều khó, viết Bạt lại càng khó hơn nữa. Ðọc
sợ còn chưa hiểu hết ý của tác giả gởi gấm, nói chi
đến việc khen chê giới thiệu, vẽ vời. Viết tầm bậy
tầm bạ có khác gì ngứa ở chưn mà gãi ngoài da giày, độc
giả cười cho thúi đầu. Vì vậy tôi ngại lắm. Nhưng bạn
đã tin cậy mà giao phó đứa con thứ tư này (nếu tính luôn
tập
Một Chuyến Ra Khơi
đã giao cho
Làng Văn
) cho tôi đỡ
đầu thì tôi cũng liều gan nhận đại. Vừa nhận vừa run,
không biết bạn có trao duyên lầm tướng cướp?
Bạn biết tại sao tôi run tay không? Tại vì cái tựa của tác
phẩm. Rõ ràng là
Một Cảnh Hai Quê
. Cái tựa này làm tôi
nhớ lại ngày xưa, lâu lắm rồi lúc tôi còn nhỏ xíu, thường
nghe má ru em trên võng với câu hát có bốn chữ kể trên.
Trời muốn mưa mây chưa có chuyển. Muốn đem em về một
kiểng hai quê
. Bà ru theo lối bắt quàng, câu này nối
liền câu khác không cần theo nghĩa. Vả lại ba tôi cũng không
hay lăng nhăng này nọ (hay cũng có mà tôi không biết?) nên
thấy ổng cũng bình thường không nhột nhạt gì. Nhè đâu
nghe ngày này qua ngày kia, câu hát thấm vô đầu hồi nào
không hay. Mỗi lần nhắc tới nó thì tôi lại hiểu là anh
chàng đã có vợ nhà, bây giờ lại đèo bồng muốn cưới
thêm vợ bé. Trong bụng mê lắm mà chưa dám hó hé. Trời
muốn mưa chớ thiệt ra chưa mưa. Cái làm cho anh ta e dè là
liệu coi chịu đựng nổi cảnh sống chung ba người không? Một
kiểng mà có tới hai quê cũng như một bồn mà hai kiểng.
Một bồn hai kiểng còn xanh. Một chàng hai thiếp hay sanh
nhiều bề
. Hai người đàn bà mà thương chung một chồng
thì cái nhà không cháy cũng sập. Ðó là lý do tại sao chàng
chưa dám tiến tới.
Chắc mẽm với cái ý này, tôi thấy khoái trong bụng. Ðể
đọc chuyện tình của nhà văn Nguyễn Tấn Hưng coi ra sao? Tôi
đã từng bủn rủn với chuyện tình của Kiệt Tấn, của Cao
Bình Minh... Bạn coi vậy mà ngon lành hơn tôi, hễ bụng muốn
thì tay làm liền, dân hải quân khác dân thầy giáo là ở
chỗ đó. Tôi hễ muốn làm quen với ai thì ấp a ấp úng,
ngập ngừng đắn đo, tính tới tính lui cho đã... rồi thôi!
Cầm tập bản thảo lên đọc từng trang rồi từng trang, tìm
trắng dờ con mắt cũng không thấy một tà áo dài thứ hai nào
phất phơ ngang qua tim bạn, ngoài bà xã tươi mỡn như rau non
mới hái ngoài vườn, tuyệt nhiên không có một bóng hồng nào
làm bạn xao xuyến nữa. Có cô chủ V.N. Discount Center tên
Hoàng nào đó tuy có dễ thương nhưng truyện
Ta tắm
ao ta
không phải là một truyện tình.
"Lại một nụ cười
duyên. Duyên chớ không tình... Em làm anh ăn hết vô. Chắc
anh phải đưa em về sớm hơn anh dự tính để em có thì giờ
đi đón con em."
Trời đất! Tính thả dê ăn cỏ nhè
đâu... cỏ héo queo! Cái gì kỳ cục vậy? Óc trâu hết
trơn. Ðếm
Một Cảnh Hai Quê
gồm tất cả chín truyện
ngắn. Chỉ có truyện đó nếu rán mà nhồi nhét thì là
truyện tình duy nhứt trong tập truyện, nếu muốn gọi đó
là truyện tình!
Nhưng rõ ràng không phải. Không có truyện nào diễn tả cái
tình yêu dù là vợ chồng, dù là lứa đôi. Như vậy tôi
phải hiểu trở lại cái tựa
Một Cảnh Hai Quê
. Tác giả Nguyễn
Tấn Hưng dùng chữ theo nghĩa đen, theo lối hiểu thông thường.
Tôi lại hiểu bóng gió xa xôi. Nghĩa của nó rõ như ban ngày.
Một cảnh đời phân làm hai chốn. Chốn quê hương đau khổ
bềnh bồng. Chốn tạm dung đầy đủ sung túc nhưng thiếu cái
tình gắn bó. Ðó là một cảnh. Ðó là hai quê. Ðó cũng là
cái cảnh ngộ đáng thương của hàng triệu người Việt Nam xa
xứ. Ai ai cũng có chung một tâm trạng giống y như bạn dầu
người đó ở Mỹ hay ở Úc, ở Pháp hay ở Canada... tuy ăn
đậu ở nhờ, quần áo lượt là, ăn chơi học hành đầy
đủ. Nhiều khi tôi nghĩ lẩn thẩn, tụi mình có khác gì loài
phong lan mọc gởi trên cành cây lớn, lá xanh mượt nõn nà,
bông trổ đầy hương sắc nhưng gốc rễ không bén được
tới đất đen. Cái vùng đất đen đó bây giờ ở tận bên
kia góc trời, xa trên nửa vòng trái đất, bà con bạn bè thân
yêu tất cả còn y nguyên đó, rên siết quằn quại dưới nỗi
khắc nghiệt hung tàn của chế độ Cộng sản phi nhân.
Quả là bạn đã khéo lựa được cái tựa hay cho những truyện
hay. Nó thể hiện được cái tâm trạng của rất nhiều đồng
bào chúng ta ở hải ngoại này. Cái tâm trạng xa xứ mang mang
sống nhờ ở quê người mà lòng luôn luôn lúc nào cũng hướng
về cố quốc. Vậy thì cái đời sống vật chất sung túc dư
thừa đó có bù đắp được nỗi thiếu hụt của đời sống
tinh thần, đời sống tình cảm kia chăng?
Ai thì tôi không rõ, chớ Nguyễn Tấn Hưng thì biết dư. Quê
hương đất nước chỉ có mấy chữ đơn giản vậy mà nó có
năng lực mầu nhiệm làm cho bạn khốn đốn, khắc khoải, băn
khoăn. Vì nhớ nước, nhớ nhà bạn loanh quanh lẩn quẩn nhắc
lại những ngày còn trong quân ngũ như một thứ bóng với hình
gắn bó keo son không thể một sớm một chiều mà dứt được.
Bạn đã coi binh chủng hải quân như đời mình không chỉ nhớ
thương mà còn hãnh diện.
"Hê, bên Không quân của Cao thì
Trạng không biết sao nhưng bên Hải quân của Trạng thì xưa nay
Cao phải biết rất là quan liêu. Nhờ cái quan liêu đó mà
Hải quân có nề nếp, kỹ cương hơn. Quan ra quan, lính ra
lính. Trạng nghĩ có dịp nào thuận tiện Trạng sẽ nêu vấn
đề này với Thái. Trạng thấy vẫn được, vẫn hợp
lý. Phải dạy cho nó một bài học tối thiểu về môn `Xã
giao Hải quân' để nó biết thế nào là vàng thiệt, thế nào
là vàng giả
(Gió đã ngừng).
"
Thiệt tình, bạn kỹ lưỡng quá. Hơi đâu mà để ý thiên
hạ sự. Ở hải ngoại này vàng giả thiếu gì. Kể sao cho
hết. Bạn đã ghi rõ từng nét đặc biệt của họ trong
Người về từ cõi chết
. Từ bà chủ tiệm may Mây Huê
dám tuyên bố nhiều câu xanh dờn.
"Chồng tao làm bác sĩ.
Ðã làm bác sĩ được thì làm cái gì lại không được." "Tao
nói tiếng Việt không rành, nhưng chủi lộn tiếng Việt thì tao
chưa chắc đã thua con mẹ nào đâu nha. Ðứa nào chọc tới
tao là đứa đó tới số."
Rồi tới ông công chức già mà không nên nết.
"Ông Ưng
làm ở cơ quan xã hội, đặc trách giúp đỡ dân tỵ nạn Việt
Miên Lào. Tự nhiên trở thành cha nuôi của đám con mồ côi,
đám trẻ dưới tuổi vị thành niên chạy qua đây không cha mẹ anh
em. Vợ con đó mà ông dám cả gan dẫn con gái nuôi đi biển
chơi cả tuần. Ðến lúc ông Vĩnh vượt biên chạy qua mới
té ra ông cha ruột là bạn thân của ông cha nuôi..."
Ngoài ông già Ưng điếm đàng đó còn có bà Bùi mắc bịnh mê
trai.
"Già quá bấm hết vô thì còn ngượng ngùng cái nỗi
gì. Vả lại nếu biết ngượng thì làm sao có cả chục thằng
boy-friend một lượt cho được
(Một mối tình già).
"
Người lớn thì lố lăng như vậy cho nên có những đứa con
nít mất dạy, ăn nói hỗn hào:
"Tại sao mấy lần trước
người ta tổ chức thì anh đi, mà tới phiên Hoàng tổ chức
thì anh không đến. Anh nói đi, lý do của anh thế nào? "
Tôi tìm gặp trong
Người về từ cõi chết, Gió đã ngừng,
Một mối tình già
dẫy đầy những mẫu người với từng
nết xấu, thói hư. Ở bên Mỹ bạn đã gặp những đồng bào
vì mặc cảm nghèo kém nên qua đây thường hay khoe khoang quá
đà. Như anh chàng Thái chỉ là hạ sĩ mà xưng là thiếu úy,
trung sĩ Trung khoe mình là phi công. Bên Canada tôi cũng vậy,
thiếu gì, trong tập thể hội đoàn, ngành nghề nào cũng
có. Bạn thắc mắc khổ sở sợ rằng những người như vậy
làm ô danh cho binh chủng, ô danh cho cộng đồng? Con người
nhà binh Nguyễn Tấn Hưng đã thành nếp. Hễ trung sĩ là
phải vậy, trung úy là phải vậy. Cái trật tự, kỹ cương
phải gìn giữ mới được. Ðâu có thể luông tuồng. Giấy
rách phải giữ lấy lề.
Cây quít trồng ở Giang Ðông thì ngọt, bứng qua trồng ở
Giang Tây thì chua. Bạn với tôi, bây giờ ngọt hay chua, chua
hay ngọt. Thiệt là nhức cái đầu. Nếu mà cây quít có trái
tim thì nó cũng thắc mắc về việc "một cảnh hai quê" của
nó. Cái cảnh ăn đậu ở nhờ đất người không biết sẽ
kéo dài tới bao lâu nữa. Tất cả là do định mệnh đất
nước đưa đẩy hết, Hưng ơi.
"Hồi 75 tôi có tính chạy
qua Mỹ đâu. Tôi ở đảo, tôi xin về đất liền mà không
được đó chớ. Tụi tài công lái ghe lạc đường rốt cuộc
tụi Thái vớt, đưa tôi về Thái Lan luôn. Bằng không tôi
cũng có cơ hội nếm mùi tù Việt Bắc với Ðăng rồi
(Người về từ cõi chết).
"
Cũng như
"Cho đến nay,
tất cả dòng họ tôi không còn ai có cái hân hạnh được đặt
chân lên thềm lục địa mới. Tất cả bác chú, cô dì,
dượng, cậu mợ... đều thúc thủ tại nhà. Chẳng ai
dám cất bước ra đi tìm tự do trong cái chết nữa. Có lẽ
họ cam chịu chôn vùi thân xác trên mảnh đất quê hương, tuy
không còn sức sống nhưng lúc nào cũng dấu yêu. Như số
phần của hằng triệu con dân Việt da vàng máu đỏ bên kia
bờ đại dương...
(Số Phần).
"
Như vậy
Một Cảnh Hai Quê
tuy không nói về chuyện tình cũng
có thể coi như tập truyện tình. Ðó là tình hoài hương.
Cái tình nhớ nhà nhớ nước của một cựu sĩ quan hải quân.
Nguyễn Tấn Hưng là một người đầy tình cảm tha thiết gắn
bó với gia đình quê hương làng xóm. Bạn nhắc tới từng
địa danh của đất nước không bỏ sót một nơi nào bạn đã
đi qua, khi đi du lịch ở xứ người (Còn đâu thi vị). Bạn
nhắc đến từng cảnh sống ở thôn quê, cảnh múc nước
đục ngầu phù sa từ sông về lóng phèn trong những lu vú,
với gáo nước mưa đầy lăng quăng. Cái tủ đựng thức ăn
có lưới kẽm để ngăn ruồi muỗi, bốn chưn có bốn chậu
nước nhỏ kê ở dưới, rồi cảnh con dán, con mối, con dời,
con rận con rệp...
- Như vậy con không về đâu!
- Con cũng vậy!
- Con cũng vậy!
- Tại sao? Việt Nam dù có really poor tụi con cũng cần phải
về đó để biết where you com from như thế nào. Tụi con là
Vietnamese chớ đâu phải American. That is your root, tụi con phải
love và proud cái root nghèo khó đó mới phải. Không có nó
không có you.
Bạn cũng nhắc tới những kỷ niệm riêng của vợ chồng bạn
trước khi cưới như một thú hoài niệm quê hương. Cuối
cùng với
Kẻ ngược đường
bạn đã thác lời qua cô
Thanh Trúc (hình ảnh một người tình của bạn?) để ghi lại
nếp sống, cảnh trọ học của một nữ học sinh nghèo phải
chật vật tá túc hết nhà này sang nhà khác để theo học các
trường của Bến Tre và Mỹ Tho.
Ðọc hết tập truyện tôi thấy bạn có một trí nhớ phi
thường, một óc quan sát tin tường, bén nhạy. Chỉ phớt
qua vài nét nhỏ bạn có dư khả năng làm cho độc giả say mê theo
dõi bằng lối viết hấp dẫn, lôi cuốn. Tôi khoái đoạn
bạn tả cảnh ăn càng cua:
Vấn đề ăn khai vị, món càng cua luộc, thì vợ chồng Tâm
rất tâm đầu ý hợp. Ăn riết như ghiền. Càng cua loại
nào cũng ngon: snow crab, stone crab, và luôn cả blue crab, càng
ghẹ cũng ngon. Ai mới nhìn vô tưởng là cọp ăn bù mắt, vỏ
không chớ làm gì có thịt, đã vậy phải đập dập rồi
rỉa từng thớ mỏng thì biết chừng nào mới ăn xong một
càng. Ấy, muốn thưởng thức hương vị của càng cua thì
trước hết cũng nên học qua cái nghệ thuật ăn càng cua.
Không biết ăn thì ăn từng thớ mỏng, còn biết ăn thì ăn
nguyên một miếng thịt. Lẽ dĩ nhiên phải có đồ nghề,
phải có cái kềm tách càng cua lận về từ mấy tiệm all you
can eat càng cua, hay ít ra phải có cái nut cracker. Rồi phải
biết chỗ mà bấm và uốn nắn sao cho miếng thịt rút ra
khỏi vỏ, gọn lỏn như cái đùi ếch đang cầm trên tay. Chấm
chanh muối tiêu thì rượu có vô đầy hũ cũng phải rót hết
trở ra. Nhưng đừng có dại dột tham ăn, ăn cho lẹ mà hương
vị càng cua nó mất đi. Không còn gì chán cho bằng ăn càng cua
có người lột sẵn!
Ðã ơi là đã, ngoài cái nghệ thuật miêu tả khéo léo bạn
chứng tỏ được cái mức thành thực cao độ. Bạn nghĩ sao
viết vậy, không che dấu bất cứ điều gì. Hình như câu
nào đã viết ra giấy thì bạn không nỡ gạch bỏ. Nguyễn
Tuân ngày xưa đã nói: Ở đời có những sự thật không nên
nói ra. Nhưng ở
Một Cảnh Hai Quê
và những cuốn khác của
bạn, bạn đều nói tuốt luốt hết, không chừa một điều
gì. Hèn chi Nguyễn Hưng Quốc đã có lần nhận định: Ða
số nhà văn miền Nam đều có một nhu cầu thố lộ tình cảm,
bộc bạch tâm sự. Ðiều đó quá đúng nhưng nên thêm, trong
số các cây bút miền Nam, Nguyễn Tấn Hưng là người viết
thành thực nhứt. Tôi không tìm thấy tính chất hư cấu trong
các truyện của bạn (nếu có cũng rất mờ nhạt) mà toàn là
sự thật của đời bạn và những người thân. Mà tôi nghĩ,
đối với những nhà văn khác thì phải tưởng tượng vẽ vời
mới có ý để mà viết, còn đối với bạn, cả một đời
sống phong phú dồi dào chất liệu, bạn tha hồ mà ghi lại,
cần gì phải vay mượn ở bên ngoài. Học giả Lâm Ngữ Ðường
đã từng nói: Viết văn mà không dám viết về cái tôi của
mình thì khó thành nhà văn lớn. Ngoài đức tính thành thực
bạn còn là người đầy tình cảm. Cứ coi cách bạn cư xử
với vợ con, cha mẹ, anh chị em, bà con dòng họ, và nhứt là
với các bạn đồng ngũ, bạn nhắc nhở tới bằng giọng tha
thiết đậm đà. Nói chi tới quê hương đất nước, bạn
yêu thương nó biết bao nhiêu.
Tuy nhiên, cái tình cảm phong phú đó được thể hiện song
song với cái lý trí vững vàng. Tôi cũng đã thấy rõ cái
lý trí mạnh đó qua cái nghị lực phi thường trong
Một Ðời
Ðể Học
qua
Một Thuở Làm "Trùm"
rồi bây giờ đến
Một Cảnh
Hai Quê
. Lúc nào Nguyễn Tấn Hưng cũng vươn lên, vươn lên
bằng cái sức mạnh tinh thần vốn sẵn có cho nên trên đường
đời tuy gian khổ nhưng bạn dễ thành công nhờ cái ưu điểm
này. Như trong tình yêu, để tấn công người đẹp (Ta
tắm ao ta), bạn phục kích chớp nhoáng và khi coi bộ không xong
bạn rút nhanh đến độ tôi bàng hoàng, ngạc nhiên. Trong
Một buổi chiều thứ bảy
nghe vợ nhắc đến những chuyện
liên quan đến tình cảm ngày xưa, trước đám cưới có người
mê nàng đến tự tử chết, có người cầm súng với lựu
đạn ngồi trước cửa hăm dọa, khóc lóc. Chuyện rung rinh
rầm trời như vậy, bạn bình thản như không, kết luận tỉnh
queo:
Tấn gác điện thoại cắm đầu cắm cổ đọc cái văn
thư trước khi đi nói chuyện với xếp. Một buổi chiều
thứ bảy, hừ, một buổi chiều thứ bảy làm overtime với
muôn vàn hình ảnh Việt Nam.
Cái lý trí lấn áp tình cảm trong tập truyện là một khuyết
điểm nhưng đồng thời cũng là một ưu điểm. Từ lâu trong
tiểu thuyết của ta chứa đựng nhiều nước mắt quá, mỗi
lần đọc xong một tác phẩm, cả người như muốn bịnh. Tôi
muốn thấy nụ cười thay cho nước mắt, muốn thấy sự phấn
đấu vui sống vươn lên trên khổ đau, do đó tôi bắt gặp
ở những trang
Một Cảnh Hai Quê
những điều mong ước bạn đã
viết được cho mọi người Việt Nam-niềm vui sống, dù
đang ở trên xứ người. Chỉ cần bao nhiêu đó nhà văn Nguyễn
Tấn Hưng cũng đủ được mọi người trân trọng quý mến.
Thân ái,
back to top
18. ÐEM TÂM TÌNH ÐỌC NGUYỄN TẤN HƯNG
LÊ VĂN LÂN
Lại "một" sáng tác mới chào đời do một cây bút phong
phú ở hải ngoại. Cây bút này có một điểm đặc biệt là
đặt tên cho những đứa con tinh thần của mình bắt đầu
với chữ "Một":
Một Ðời Ðể Học, Một Thuở Làm
"Trùm", Một Chuyến Ra Khơi, Một Cảnh Hai Quê
, bây giờ
Một Kỷ Niệm Ðẹp
, và... sắp đẻ thêm
Một Lần
Xuống Núi
. "Một" là tất cả theo thuyết nhất nguyên
của nhà Phật, nhưng "Một" chỉ là một trong những trăm
ngàn theo ý tác giả.
Nhiều cây bút tên tuổi đã giới thiệu về cây bút này.
Thiết tưởng chừng đó cũng đủ để thiên hạ sửng sốt
về danh tiếng của một con người mang tên là Nguyễn Tấn
Hưng.
Anh đã sáng tác với một "tâm thể Việt Nam" như Mai Thảo
đã nhận xét. Giọng văn "tự nhiên như nói" nhưng "quyến
rũ" qua lời phê bình của Làng Văn. Anh là "con mắt ghi được
nhiều tình tiết và một con mắt nhớ dai" theo Nguyễn Ngọc
Bích. Anh là "người viết thành thật nhất" theo Võ Kỳ
Ðiền. Cá tính của anh lại rất "bướng bỉnh, anh không
chiều theo thị hiếu của ai cả" theo Hồ Trường An. Tất
cả những điều trên quả rất đúng với Nguyễn Tấn Hưng.
Anh đã chọn cho anh con đường mà ít người dám dấn thân
vào. Trước đây, anh viết về những đề tài liên hệ đến
Hải quân, một binh chủng mà anh đã xuất thân. Anh đã ghi
lại một thuở "làm trùm" tình báo. Anh đã tâm sự về nỗi
lòng và những nỗi cam go cực khổ trên con đường học vấn
trên đất người trong thời gian đầu tỵ nạn. Anh cũng đã
ghi lại những cuộc tình thơ mộng trong buổi hải hồ lênh
đênh sóng nước. Và anh cũng đã vẽ lên những phản ảnh của
cuộc sống tha hương nơi xứ lạ quê xa.
Nhìn qua những tác phẩm của Nguyễn Tấn Hưng, là phải đồng
ý với Hồ Trường An rằng anh là một "cây bút nhân hậu,
đáng mến." Riêng tôi - qua một giao tình mới mẻ đối
với anh - tôi cảm phục anh ở một tấm lòng thiết tha, đam
mê đối với sự sáng tác.
Lần này, anh xông xáo đi vào lãnh vực biên khảo nghiên cứu.
Anh đi vào một cách hăng hái, nhiệt tình, bất chấp mọi
trở ngại, mọi thành kiến. "Nguyễn Tấn Hưng rất bướng
bỉnh" như lời của Hồ Trường An.
Qua tập bản thảo
Một Kỷ Niệm Ðẹp
(một phương pháp
xếp chữ Việt bằng máy điện toán cá nhân) mà anh gởi cho
tôi đọc, tôi thấy bốc ra một mùi của giấy mới, thấy cái
đẹp mãn nhãn của những trang sách chính tay anh làm công việc
electronic typesetting
. Nhưng, tại sao chỉ là
Một Kỷ
Niệm Ðẹp
? Phải chăng tác giả đã bâng khuâng tiếc rẻ
công trình mình rồi cũng không mấy ai màng để ý đến,
không thể biến nó thành những tiêu chuẩn trên thị trường?
Tôi không phải là một người làm bạn với máy điện toán nên
thú thực tôi chỉ đọc bản thảo
Một Kỷ Niệm Ðẹp
của
Nguyễn Tấn Hưng với con mắt của một người bạn, một độc
giả thông thường đi tìm hiểu vấn đề kỹ thuật chứ không
phải là một tay tổ chuyên viên về điện toán.
Lối viết của Nguyễn Tấn Hưng nhẹ nhàng như lời nói bình
dị đã dẫn dắt tôi ghé qua nhiều chương sách với những
tựa đề dí dỏm:
Mùa xuân này ta nên làm đẹp, Lại làm
đẹp, Tự làm đẹp
... Nhưng Nguyễn Tấn Hưng đã nói toàn
những vấn đề kỹ thuật để làm đẹp thêm dòng chữ Việt.
Những thuật ngữ về điện toán nhiều lúc cũng làm tôi khựng
lại để suy nghĩ... nhưng nhờ lối viết trơn tru của tác giả,
tôi đã hiểu từ từ để say sưa với những điều trình bày
trong sách. Tôi thấy những dòng chữ Việt qua công trình
làm đẹp của Nguyễn Tấn Hưng quả nhiên là đẹp hẳn hơn lên.
Phê bình giá trị của công trình nghiên cứu điện toán của
Nguyễn Tấn Hưng là công việc của những tay tổ trong nghề.
Nhưng nếu chỉ nhìn kết quả qua cách trình bày các trang sách
do chính tay Nguyễn Tấn Hưng sắp xếp là phải thú thực
đang nhìn "một cái gì đẹp." Duy chỉ có một điều làm tôi
xốn xang là sự việc mà Nguyễn Tấn Hưng đề nghị
"... bớt
đi dấu hõi là dấu không có trong mẫu tự quốc tế, thì
công việc bão đãm sẽ có phần giãn dị hơn nhiều"
(trang
88 - chương
Ðón Xuân, Ðem Tâm Tình Viết Tiếng Việt
).
Tôi biết Nguyễn Tấn Hưng "bướng bỉnh," không chiều theo
thị hiếu của ai cả như anh Hồ Trường An nói. Tôi là một
người có đầu óc tồn cổ, đương nhiên khó chấp nhận
lời xướng xuất bỏ dấu hỏi mà tôi cho là táo bạo quá, vì
dễ khiến hiểu lầm chẳng hạn như:
vợ chồng gẩy khúc
tình tang
trở thành
vợ chồng gẫy khúc tình tang
, và
chiếc xe đổ gần bên suối làm chết nhiều người
trở
thành
chiếc xe đỗ gần bên suối làm chết nhiều
người
... Nhưng thôi, xin mời các bạn đọc đọc kỹ tác
phẩm của Nguyễn Tấn Hưng để có nhận định riêng của mình
và sự phán đoán về giá trị kỹ thuật xin để dành cho các
chuyên gia về điện toán.
Nếu tôi không lầm, sách của Nguyễn Tấn Hưng là cuốn sách
đầu tiên trình bày kinh nghiệm trên giấy trắng mực đen vấn
đề sắp chữ Việt bằng máy điện toán cá nhân, mặc dù
trong vòng vài năm qua đã có nhiều người thảo chương trình
về vấn đề này nhưng không viết sách.
Càng đọc Nguyễn Tấn Hưng qua những sáng tác phẩm, ta lại
càng cảm phục tấm lòng thiết tha với văn chương chữ nghĩa
của anh.
Lawrenceville, NJ, Cuối Ðông 1990
back to top
19. Nhân Ðọc "MỘT KỈ NIỆM ÐẸP" của NGUYỄN TẤN HƯNG, MẠN ÐÀM VỀ CHỮ VÀ NGĨA
TRÚC HUY
Mặc dầu được biết anh Nguyễn Tấn Hưng là một trong
những cây bút phong phú hiện nay ở hải ngoại, đã cho xuất
bản một số văn truyện được nhiều độc giả biết
đến và khen ngợi, song tôi phải thú nhận là cho đến nay chỉ
có cơ duyên đọc mỗi một tác phẩm gần đây của anh: đó
là cuốn biên khảo ngiên cứu
"Một Kỉ Niệm Ðẹp"
1.
Tuy chỉ biết anh qua công trình ngiên cứu này, song tôi đã
đọc một cách say sưa và thích thú vì giọng văn tự nhiên,
tươi mát của anh và nhất là vì sự nhiệt tình, thiết tha
của anh trong công cuộc tìm tòi và sáng tạo để tìm ra
một phương pháp xếp chữ Việt bằng máy điện toán cá
nhân. Sự cố gắng của anh trong công cuộc tìm tòi và sáng tạo
này không ngoài mục đích tô điểm và làm đẹp thêm dòng
chữ Việt mà anh tỏ ra hết sức nâng niu, trân trọng.
Cuốn biên khảo
"Một Kỉ Niệm Ðẹp"
của Nguyễn Tấn Hưng
đã cho chúng ta cơ hội học hỏi được ít nhiều về các
kĩ thuật xếp chữ Việt bằng máy điện toán. Anh Nguyễn
Tấn Hưng đã thành công trong nỗ lực làm đẹp thêm dòng
chữ Việt về phương diện kĩ thuật.
ooOoo
Sự thiết tha muốn làm đẹp thêm tiếng Việt còn đưa anh
đi xa hơn nữa khi anh đề ngị bỏ dấu hỏi mà chỉ dùng
toàn dấu ngã (xem chương
"Ðón Xuân, đem tâm tình viết tiếng
Việt"
2). Ở nơi chương này, anh đưa ra bàn cãi và thảo
luận về một số í kiến và đề ngị của chính anh và của
một số người khác về các phương thức nhằm giản dị
hoá và thống nhất hoá cách viết tiếng Việt. Sở dĩ tôi
đặc biệt chú trọng và thích thú khi đọc đến chương này,
là vì chính bản thân tôi cũng đã từng thiết tha và mong
muốn có một lối viết chữ Việt giản dị và thống nhất.
Thật ra, nếu đem so sánh chữ viết của ta với một số
chữ viết khác trên thế giới như Anh ngữ, Pháp ngữ chẳng
hạn, chúng ta hẳn phải tự hào rằng chữ viết của chúng
ta quả thật đã giản dị lắm rồi: phát âm sao, viết ra như
vậy. Tuy nhiên, tôi thiết ngĩ cũng còn đôi ba điều
chúng ta có thể sửa đổi được hầu làm cho chữ viết của
chúng ta được giản dị và hoàn hảo hơn nữa.
Sau đây là những í kiến và đề ngị mà tác giả Nguyễn
Tấn Hưng đã đề cập đến và đem ra thảo luận trong
chương kể trên:
(1) - Trước hết là đề ngị của chính tác giả về việc
bỏ dấu hỏi và chỉ dùng dấu ngã trong tất cả các trường
hợp. Thí dụ: "biến đỗi" (biến đổi), "thưỡng thức"
(thưởng thức) v. v... Anh đưa ra lí do vì hai dấu hỏi ngã
phát âm gần như nhau (nhất là đối với người miền Nam
như anh và cả người miền Trung). Hơn nữa, theo anh, dấu hỏi
không có trong mẫu tự quốc tế.
Cũng như sự nhận xét của ông Lê Văn Lân, trong bài Bạt in
ở phần cuối sách3, tôi thấy lời đề ngị xướng xuất
bỏ dấu hỏi của anh khó có thể được mọi người chấp
nhận, vì lẽ trong chữ viết của ta, dấu nào cũng cần
thiết và quan trọng cả. Mỗi một chữ, nếu viết sai dấu,
không những sai lỗi chính tả, mà ngĩa lại thay đổi hoàn toàn.
Lời văn viết ra cần sự trong sáng và í ngĩa cần được
rõ ràng. Viết sai dấu hỏi ngã, ngĩa của chữ sẽ thay đổi
khác đi, cũng như ngĩa một chữ sẽ thay đổi khi ta viết
cuối chữ có "g" hay không "g", hay viết cuối chữ bằng "c"
hay "t" v. v... Tóm lại, tuy khi phát âm, sự phân biệt nhiều
lúc không được rõ ràng và minh bạch cho lắm, nhưng khi
viết ra cần viết đúng chính tả để í ngĩa mỗi chữ
được rõ ràng, sáng sủa, hầu tránh sự hiểu lầm sai lệch.
(2) - Ngoài việc đề ngị bỏ bớt dấu hỏi, anh Nguyễn Tấn
Hưng còn đề xướng thay thế chữ "đ" có nét ngang đặc
biệt bằng chữ "d" thường, và thay chữ "d" thường bằng
chữ "gi". Anh đưa ra các thí dụ: "giễ hiểu" (dễ hiểu),
"khó dọc" (khó đọc) v. v...
Thật ra đề ngị này không có gì mới lạ. Việc thay thế
chữ "đ" có nét ngang đặc biệt bằng chữ "d" thường,
trên lí thuyết tôi cho là rất hợp lí và xác đáng, vì đa
số các ngôn ngữ trên thế giới đều dùng chữ "d" (phát
âm như chữ "đ" của ta). Còn chữ "d" thường của ta thì có
thể thay thế bằng chữ "gi" (như đề ngị của anh Hưng), hay
bằng chữ "z" (như đề ngị của một số người khác), hay
bằng chữ "đ" (nhưng phát âm như chữ "d" thường), trên
lí thuyết tôi thấy cũng hợp lí.
Tuy nhiên, tiếc thay, lời đề ngị thay thế này lẽ ra phải
được đặt ra cho các vị giáo sĩ tây phương ngay từ hồi
thế kỉ thứ 17, lúc họ mới phát minh ra chữ viết của ta,
hay ít ra cũng trong giai đoạn đầu, lúc mà chữ quốc ngữ
còn đang phôi thai, chưa được phổ biến rộng rãi. Bây
giờ, nếu muốn thay thế chữ "đ" có nét ngang đặc biệt
bằng chữ "d" thường cho phù hợp với cách thức phát âm
quốc tế, thì thử hỏi các sách vở, tài liệu viết bằng
quốc ngữ mà chúng ta đã có từ hơn 100 năm nay, chúng ta
phải giải quyết ra làm sao? Thôi thì đành nâng niu chữ "đ"
có nét ngang đặc biệt của ta mà thương iêu nó vậy!
(3) - Một vấn đề khác được tác giả đưa ra thảo luận:
đó là việc nên dùng dấu gạch nối cho những tiếng phức
vận hay những tiếng ghép, hay là nên viết dính chùm lại
các thành phần của những tiếng này? Vấn đề này cho
đến nay vẫn chưa được giải quyết một cách thoả đáng.
Một số học giả (Trần Trọng Kim, Nguyễn Duy Cần v. v...)
thích dùng dấu gạch nối, một số khác, rất ít, lại thích
dùng lối viết dính lại (Hoàng Văn Chí, Phạm Hoàng Hộ v.
v...), trong khi đó đa số bỏ hẳn dấu gạch nối, ngĩa là
viết rời từng tiếng đơn vận trong bất cứ trường hợp
nào.
Tiếng Việt là một thứ tiếng đơn vận (monosyllabic). Cho
nên dùng dấu gạch nối cho những tiếng phức vận hay
những tiếng ghép xem ra không cần thiết cho lắm. Tuy nhiên, khi
phiên âm những tiếng ngoại quốc, dùng dấu gạch nối là
một điều cần thiết. Thí dụ: "a-xê-ti-len" (acetylene),
"Ma-hô-mét" (Mahomet) v. v... Dấu gạch nối cũng thường hay dùng
cho những tiếng Hán-Việt (Thí dụ: "giám-sát",
"tiêu-chuẩn" v. v...).
Ðiều phải công nhận là khi nhìn một bài viết hay một
trang sách có chi chít những dấu gạch nối ở mỗi hàng, hay
có những tiếng phức vận hay những tiếng ghép viết dính
chùm lại nhau (Thí dụ: "hoảdiệmsơn", "pháthành" v. v...),
cảm giác chung không được thoải mái cho lắm, vì thiếu tính
cách thẩm mĩ, gọn gàn và sáng sủa.
(4) - Trước đây, ông Nguiễn Ngu Í (còn kí biệt hiệu
khác là Ngê Bá Lí) cũng có tham vọng cải tiến và đơn giản
hoá chữ quốc ngữ. Trong những đề ngị của ông, có những
đề ngị rất hữu lí, và cũng có những đề ngị khác mà
anh Nguyễn Tấn Hưng cho là "cầu kì, quái đản"4.
Trước hết, trong vần "ngh", ông đề ngị bỏ chữ "h" mà
chỉ giữ "ng". Thí dụ: "ngẹn ngào" thay cho "nghẹn ngào", "ngề
ngiệp" thay cho "nghề nghiệp" v. v... Ðây là một đề ngị
xét ra rất hữu lí và xác đáng. Tôi không tìm thấy một
lí do nào buộc chúng ta phải viết "ngh" (khi nó đứng
trước các nguyên âm "e", "ê" hoặc "i") thay vì "ng" (khi nó
đứng trước các nguyên âm khác).
Bỏ chữ "h" trong vần "ngh", sự phát âm hoàn toàn như nhau,
không có gì thay đổi cả. Việc đơn giản hoá và cải tiến
chữ viết của ta, ít ra trong trường hợp này, là một
điều nên làm. Ðứng trên bình diện quốc gia, việc bỏ bớt
chữ "h" trong vần "ngh" lại đưa đến cho ta một lợi ích
không thể chối bỏ: lợi thì giờ (khi viết hoặc đánh
máy), lợi giấy mực (cho tổng số sách báo in ra hằng năm
trong toàn quốc và tại hải ngoại), lợi sơn dầu (cho những
tấm bích chương, quảng cáo) v. v...
(5) - Một đề ngị khác của ông Nguiễn Ngu Í: thay thế "y"
bằng "i". Thí dụ: "hi vọng" thay cho "hy vọng", "kỉ niệm" thay
cho "kỷ niệm" v. v... Việc thay thế "y" bằng "i" cũng là
một đề ngị hữu lí, và đã được một số học giả ưa
dùng lâu nay (như Nguyễn Hiến Lê, Trúc Thiên v. v...).
Phần đông trong chúng ta thường viết li - ly, qui - quy v.
v... mà không theo một tiêu chuẩn nào nhất định. Thiết
tưởng đã đến lúc chúng ta nên thống nhất hoá cách dùng
"i" và "y" như sau đây:
- viết "i" thay thế cho "y" trong trường hợp nguyên âm này
đứng một mình hay đầu chữ (Thí dụ: "í kiến", "tình
iêu" v. v...), hay đứng sau một phụ âm (Thí dụ: "hi vọng", "kỉ
niệm", "li biệt", "mĩ thuật" v. v...). Riêng chữ "giặt
gỵa" được xem như là một trường hợp đặc biệt, vì nếu
viết "gịa" có thể đọc nhầm lẫn ra "giạ".
- "y" vẫn được giữ nguyên khi đứng sau một nguyên âm
khác như trong các vần -ay, -ây, -uy (kể cả các vần -uya,
uyê-, -uyn(h), -uyt, -uyu v. v...), hoặc khi đứng sau vần qu-
(kí hiệu phát âm là /kw-/). Thí dụ: "lay động", "bây giờ",
"nguy hiểm"; "đêm khuya", "tuyên bố", "tuyết rơi", "màn
tuyn", "lưu huỳnh", "xe buýt", "khuỷu tay"; "quy chế", "cam quýt" v.
v...
Ông Nguiễn Ngu Í đã sai lầm khi muốn thay thế hẳn "y"
bằng "i". Sự thiếu căn bản về ngữ âm học đã khiến ông
có lối viết mà tôi cho là lập dị, quái gở, khi ông viết
tên họ của ông là "Nguiễn" thay vì "Nguyễn", hay là viết:
"thai đổi" thay vì "thay đổi" v. v... Cũng vì tính lập dị
đó mà ông còn đề xướng bỏ chữ "u" trong vần "qu": "qan
trọng" thay cho "quan trọng", "qê hương" thay cho "quê hương"
v. v... Chúng ta đều biết rằng "q" luôn luôn phải có "u" đi
kèm theo để tạo thành vần "qu" khi ghép vào một chữ. Cho
nên, cách viết lập dị và quái gở này chỉ có riêng mỗi
một mình người chủ xướng là ông Nguiễn thực hành mà
thôi.
(6) - Hiện nay, có người ưa dùng "f" thay thế cho vần "ph".
Thí dụ: "fi cơ" thay vì "phi cơ", "fúc đáp" thay vì "phúc
đáp" v. v... Tôi công nhận là có phần giản dị thật. Song có
vẻ lai căng, âu hoá quá, vì lẽ phụ âm "f" vốn không có
trong mẫu tự của ta.
(7) - Riêng về vấn đề bỏ dấu cho các vần "oa", "oe", và
"uy" (kí hiệu phát âm là /wa/, /we/ và /wi/), trên phương
diện ngữ âm học, tôi đề ngị chúng ta nên chọn tiêu chuẩn
chung là bỏ dấu trên nguyên âm thứ hai. Thí dụ: "hoà
bình" (thay vì "hòa bình"), "khoẻ mạnh" (thay vì "khỏe mạnh"),
"huỷ bỏ" (thay vì "hủy bỏ") v. v...
Trong các kí hiệu phát âm /wa/, /we/ và /wi/, ta thấy ngay
rằng dấu nhấn (các thanh huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã) chỉ
có thể đặt trên các nguyên âm /a/, /e/ và /i/ mà không
thể nào đặt trên phụ âm /w/ được. Tôi nhớ cách đây đã
lâu đã có lần giáo sư ngôn ngữ học Nguyễn Ðình Hoà
biên thư cho tập san Thế Kỉ 21 lưu í về việc, trong chữ
"toà" của "toà soạn", toà báo bỏ dấu trên nguyên âm "o" thay
vì bỏ dấu trên nguyên âm "a", điều mà ông cho là không
được đúng.
ooOoo
Việc đưa ra những í kiến, đề ngị để đổi mới hầu
cải tiến và giản dị hoá tiếng Việt là một điều cần
được khích lệ, nếu những í kiến, đề ngị đưa ra xét
thấy có phần hữu lí và xác đáng.
Cũng như tác giả
"Một Kỉ Niệm Ðẹp"
, tôi đã đưa ra trên
đây một vài í kiến và đề ngị xây dựng ngõ hầu làm
đẹp thêm cho tiếng Việt. Việc "làm đẹp" này, theo tôi, là
nhiệm vụ chung của tất cả những ai trong chúng ta hằng có
lòng ưu tư và thiết tha với ngôi nhà văn hoá Việt Nam.
10/95
1 - Nguyễn Tấn Hưng. Một kỉ niệm đẹp: Một phương pháp
xếp chữ Việt bằng máy điện toán cá nhân. California,
U.S.A., Ðại Nam, 1991. 176 tr.
2 - sđd, tr.85-96
3 - sđd, tr.173-76
4 - sđd, tr.92
back to top
20. VÀI LỜI GIAO CẢM
PHẠM THĂNG
Tôi đang ngồi lúi húi xới đất cho líp cải xanh ngoài
vườn nhỏ sau nhà thì nghe tiếng vợ gọi vui vẻ:
- Có thư và sách nè anh!
- Ủa, anh phát thơ đi sớm quá hả? Của ai vậy em?
- Ơ... ơ... có một bao bì lớn của Nguyễn Tấn Hưng.
Chắc là sách.
Mở bao bì ra, đúng là sách của ông Trùm "Một." Nhưng chưa
phải là sách, chỉ là xấp bản thảo còn nguyên vẹn mùi thơm
của giấy. Một lá thơ rớt ra. Ðọc vội vàng, tôi cảm
thấy "quây mòng mòng" còn hơn... cuốc đất mấy ngày nay.
Tôi nói lầm thầm:
"Ác thiệt! Chàng nầy sáng tác hăng quá, rồi lại nhờ mình
viết tựa! Thà là cuốc đất mười bữa, nửa tháng còn
sướng hơn! Biết ổng viết cái gì đây? nếu nói về
đồng quê, miệt vườn thì mình còn hụ hợ được, chớ
viết chuyện ra khơi, biển cả... thì mình bù trất
rồi... Ông nầy chắc dư biết viết tựa khó ngàn lần
viết bạt, phải nắm vững văn phong, văn khí của tác giả." Mà
với Nguyễn Tấn Hưng, anh Mai Thảo đã nói rất nhiều và
đầy đủ trong lời Vào Tập của hai cuốn sách đầu tay của
Hưng:
Ðọc hết Một Chuyến Ra Khơi, đọc tiếp tới Một Ðời
Ðể Học, tôi thấy được những gì? Thấy được mấy
điều tôi cùng yêu mến. Trước hết là tấm lòng Nguyễn
Tấn Hưng đối với văn chương, ở phía có văn chương.
Ðó là hình thái của một gắn bó son sắt, thủy chung, qua
thời gian không có nếp nhăn, qua đổi rời vẫn một đời
bền vững. Ở được với văn chương như vậy đã là một
ở đẹp. Ðẹp và đầy. Cái ở không nửa đường đứt
gánh, không lúc còn lúc mất, nói cách khác, một thường
xuyên ở, một mãi mãi cùng, tỏ hiện trong văn truyện Nguyễn
Tấn Hưng thành một thống nhất và một liên tục viết trước
sau không bao giờ thay đổi, mặc dầu thân thế người thì
đã không biết bao nhiêu thăng trầm và đổi thay.
Ðiều yêu mến thứ hai, cũng là điều cắt nghĩa tại sao,
viết lại ngay cùng với bắt đầu lại đời sống trên quê
người và viết rất đều tay, rất chuyên cần, tới giờ
Nguyễn Tấn Hưng mới hoàn thành được xong hai tác phẩm.
Ðó là cách viết, lối viết Nguyễn Tấn Hưng hết sức
nghiêm chỉnh, kỹ lưỡng vô chừng
...
Vậy là đủ "một Nguyễn Tấn Hưng" rồi, và còn gì để
viết nữa đây? Chỉ liếc thấy xấp giấy chi chít chữ,
chưa thấy lá thơ, vợ tôi đem tôi về thực tế:
- Anh có sách đọc ngày nay rồi đó nghen. Nhưng tới giờ
cơm rồi. Phải ăn trước đó.
Nghe vợ nhắc, tôi quên lững cái "công tác đề tựa" nặng
nề mà nhớ là mình sắp được đọc một cuốn sách mới
trinh nguyên, chưa một ai đọc trước mình, tôi ngoan ngoản
ra bàn ăn.
Vợ tôi biết tôi có tật lạ lùng là khi có cuốn sách nào
thích chí thì quên ăn và không thèm làm gì khác, và mỗi
lần tôi đọc sách, tôi nằm dài trên giường, đấp mền
tận cổ... thật nghiêm túc. Có lần tôi giải thích:
- Không có gì sung sướng cho bằng khi đọc một cuốn sách
hay, hấp dẫn mà bị... lạnh cẳng. Mình ở xứ lạnh mà.
Ðó đâu phải là tật, cũng như lúc nhỏ, chú tôi có kể cho
nghe: Mỗi lần ông tôi đọc sách (chữ nho) là ông phải ngồi
dựa vào cái gối xếp trên bộ ngựa trải chiếu hẵn hòi,
mới cầm sách đọc. Không bao giờ ông nằm võng mà đọc
sách, nơi nầy ông chỉ nằm hút thuốc, phà khói, mơ màng
thôi.
Tôi bỏ lá thơ vào hộc bàn, tạm quên, để chỉ hưởng thú
đọc sách của Ông Trùm nầy, rồi... tới đâu hay tới đó.
Vừa ở trang đầu, liếc thấy hai chữ "Miệt Vườn" tôi hơi
yên chí, lật rẹt rẹt xem sơ sơ bên trong. Phải nói rõ, đây
là cái tật. Không phải như nhiều bà, nhiều cô có tật đọc
trước mấy trang cuối cùng để biết kết quả của nhân vật
trong tiểu thuyết Quỳnh Dao, La Lan... mà tôi chỉ muốn tìm coi
có nhân vật tên John, tên Bob không? Không phải tôi kỳ thị mà
vì tôi "kỵ" đọc những chuyện mới xảy ra "hôm qua, hôm nay" mà
mình sống tạm bợ xứ người thường gặp hoài.
Tôi lật sơ để tự giải đáp thắc mắc trong tôi: Anh bạn Hưng
nầy là dân
"áo-trắng-bâu-vuông-có-viền-xanh-lật-sau-ót"
mà nói chuyện Xuống Núi, là xuống làm sao?
Nhờ lật rẹt rẹt để chợt thấy nhiều chữ in hoa, tên của
phụ nữ: Cao Bình Minh, Phan thị Trọng Tuyến, Nguyễn thị Ngọc
Diễm, Nguyễn thị Ngọc Nhung, "bốn con chuột dừa" rồi có
"múi bưởi Biên Hòa" Trần Kim Vy, theo sau có tên phụ nữ
nữa... nhảy nhót trong sách. Tôi yên chí vì biết anh bạn
trẻ nầy viết ký sự về bạn bè, trong đó có nhiều cây
viết nữ miền Nam mà từ lâu tôi được đọc trên báo
Làng
Văn
, chỉ "văn kỳ thinh, bất kiến kỳ hình..." vậy là sẽ
có những đoạn "vẽ lại" dung nhan các người đẹp rồi đây!
Mèn ơi, sao mà chàng nầy có duyên vậy? Tôi chưa hết vui
mừng khi xẹt tới trang 118 để thấy vài địa danh xứ Hoa Kỳ
in hoa: Sông Muối (Salt River), Stuart Mountain Dam... tôi hơi
ngợ, nhưng liền đó là những giòng chữ tả cảnh. A! cái
gì chớ tả cảnh là tôi mê quá rồi!
Như có lần tôi nói với bạn bè trong sách của tôi: Tôi sanh
dưới chưn con ngựa, tuổi Canh Ngọ, mang giòng máu giang hồ,
chạy mệt quên thôi, nên tôi đi đây, đi đó, từ hồi lưu
lạc xứ người có đi Âu, Á, mà xứ Cờ Hoa sát bên lại chưa
có dịp đi. Hôm nay có Nguyễn Tấn Hưng viết về
Một Lần
Xuống Núi
, dẫn mình và độc giả đi theo, (không tốn xu nào
đó nhe), tôi mừng vì yên chí, ôm xấp bản thảo lên giường,
đấp mền ngay ngắn, sung sướng theo chưn bạn trẻ
nầy... xuống núi.
Tôi "nhập cuộc" với Nguyễn Tấn Hưng liền khi đọc những
cuộc hội họp bạn bè trong một khung cảnh thật văn nghệ,
với những khuôn mặt mà tôi có biết tên tuổi. Hưng có
lối kể chuyện trung thực, kể một lèo, không cần giũa
gọt mà sao nghe như có âm thanh trong trang sách, có hình tượng
nhảy múa trước mặt, ví dụ như trang 11, 12, Hưng viết trơn
tuột mà độc giả tưởng chừng như có một người đẹp đất
Thần Kinh duyên dáng là Hoàng Bắc đứng trước Hưng để chất
vấn... và cậu ta đang mĩm cười... duyên để vừa phân trần,
vừa ga-lăng, nịnh đầm:
-
"Tại vì tôi chưa biết chị nên chưa dám nhắc đến
chị thôi, sợ chị phiền bất tử..." Biết đâu sau khi đọc
bài này lại có người chẳng khiếu nại tôi rằng "khi răng mà
không bênh mấy o "lớp lớp phù sa" của mình, ai lại dựa
hơi mấy mụ nói giọng cay xè như bún bò..., câu nào câu nấy
cứ "un point final" bằng... "nhá, nhá." Thấy chưa chị Hoàng
Bắc, lần sau chị làm ơn đừng có kê tui nữa nhá. Nhưng
thực sự tôi nhá chị Hoàng Bắc ở một chỗ khác tuyệt vời
hơn. Số là tôi kề, sát quá thành hôn, tai chị và rất
thiệt tình hỏi "có phải chị sinh năm 1942 hôn?", chị như đi
guốc trong bụng tôi hỏi lại liền "bộ tui khai gian hả?" Cho
tới bây giờ tôi không biết phải khen chị Hoàng Bắc giữa
đẹp với trẻ cái nào trước hà. Mà thôi, tôi sợ bà con
hiểu lầm "chị chị em em" (tại tuổi tôi nhỏ hơn bả thôi nghen)
nói mãi "thành cà rem nước dừa"
...
Cứ đọc đoạn trên, độc giả sẽ hình dung một Nguyễn Tấn
Hưng lém lỉnh trước một nhà văn nữ miền Trung khả ái,
duyên dáng, xinh xinh.
Còn gì vui hơn khi biết "Làng Văn" có nhiều người đẹp như
vậy. Mà không phải một người, chúng ta cứ theo
chuyến
hành hương đầu đời
(lời tác giả, trang 19) để còn thấy
thêm nhiều bạn hiền nữa.
Tôi còn đang ao ước làm sao được đi thiệt, bằng xương,
bằng thịt, không phải theo chân tưởng tượng như vầy thì
tay dở đến trang "Văn Minh Miệt Vườn" để được Nguyễn
Tấn Hưng kể lại Mỹ Tho, Gò Công của Hưng, không có miệt
Long Hồ của tôi. Ðúng ra bên Cái Bè, Cai Lậy, Bến Tranh,
Chợ Gạo của Mỹ Tho có nhiều vườn hơn Long Hồ, Vũng Liêm
xứ Vãng của tôi, nhưng tác giả coi mình ở Miệt Ruộng là
khiêm nhường chăng?
Không sao, Miệt Vườn, Ruộng gì cũng được. Vì Hưng đã
đưa độc giả vào cuộc giải thích mấy chữ Văn Minh Miệt
Vườn, và đấy là bài nói chuyện tại trường Ðại học
George Mason, thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, vào ngày 25-06-1989, của
anh.
Mấy tháng vừa qua, nhà xuất bản Phù Sa do nhà văn Nguyễn
văn Ba chủ trương, đã tập họp và xuất bản 2 cuốn
TUYỂN
TẬP NHỮNG CÂY VIẾT MIỀN NAM
đã làm văn giới có lời
dị nghị: "Chà! Có mùi địa phương rồi đây!"
Giờ đây, đọc bài nói chuyện của Nguyễn Tấn Hưng mới thấy
nhà văn hải quân nầy "chịu giải thích" và có lý.
Còn đối
với người miền Nam, sở dĩ có sự rầm rộ vác bút xuống
đường là tại vì đây là lần đầu tiên trong lịch sử, dân
Nam ta mới "được" nếm mùi bỏ xứ ra đi. Dám nói nếu không
có cuộc đại loạn, đổi đời thì trong văn học Việt Nam sẽ
không có những áng văn chương, biết đâu sau này sẽ trở thành
bất hủ, cho quê hương miền Nam được viết lên từ hải
ngoại
(trang 139).
Tôi nhớ có dịp được đọc thơ của một văn hữu lớn tuổi
cũng có nói:
- Thời gian sau nầy (có nghĩa là sau khi chúng ta bỏ xứ ra đi)
có nhiều cây viết gốc miền Nam nổi lên quá. Vì các anh
mới lần đầu tiên bỏ nơi chôn nhau cắt rún, tâm trạng còn
cô đọng hình ảnh thân thương, những kỷ niệm vừa để lại
sau lưng, nên cầm viết lên là viết được ngay dễ dàng
những sự việc còn mới ràng ràng chưa phai trong ký ức...
Ðúng lắm. Tôi chịu các lập luận này. Vì cứ suy nghĩ theo
bản thân của tôi, lúc còn nhỏ, từ năm 1940, đã biết đọc
văn của
Truyền Bá, Hoa Mai, Sách Hồng
rồi leo sang
Phổ
Thông
bán nguyệt san,
Tiểu Thuyết Thứ Bảy
... của các
văn sĩ miền Bắc. Tôi còn thuộc lòng bảng Mục lục của
Phổ
Thông
: Ai lên xứ Cát, Ngựa đã thuần rồi, mời ngài
lên v.v. Tôi đọc và đã hiểu rõ văn phong miền Bắc để
khi có một chút "lợn cợn" nào không hiểu, lại hỏi chị tôi,
cô gái Nam rặc ròng. Lúc đó tôi không nghe ai bàn đến văn
phong miền Nam hay Trung, Bắc gì cả, chỉ biết là sách báo do
các nhà văn lớn: Lê văn Trương, Tchya, Ngọc Giao, Nguyễn
Triệu Luật, Ngô Tất Tố... cũng hay, cũng dễ hiểu như
Hồ Biểu Chánh, Phú Ðức...
Ai ai chúng tôi đều hăm mộ, kịp đến Hiệp định Genève 1954,
tôi được hân hạnh quen biết thêm các cụ Lãng Nhân Phùng Tất
Ðắc, Võ Ðức Diên, các ông Nguyễn Doãn Vượng, các anh Lê
văn Siêu, Vũ Bằng v.v. để được đọc và thấm thía nỗi
sầu ly hương của các anh lúc đó.
Lúc bấy giờ, những bạn cùng trang lứa tuổi tôi, chắc xúc
động nhiều với các văn nhân, ký giả, thi sĩ, nhạc sĩ miền
Bắc... các anh đang nhắc nhở vùng trời thơ ấu thân thương
của mình trong các ký sự, hồi ký, chuyện ngắn, ca
khúc... để cho chúng tôi, những bạn trẻ người Nam biết và
thương mến thêm những đền đài, núi non, sông ngòi xứ
Thăng Long, để cảm thấy thoang thoảng mùi hoa sữa (dầu chưa
thấy bao giờ) để cảm biết trong tưởng tượng thế nào là
gió heo may, mà trong Nam chỉ có gió chướng, gió bấc...
Tại sao những bài đó có sức hút như vậy? Bởi vì các văn
nghệ sĩ đó vừa "bước ra khỏi" cái nôi đầy kỷ niệm thân
yêu của mình - Tâm trạng còn mới nguyên thì lời văn, tiếng
nhạc chắc chắn còn đượm nồng tình quê hương. Các anh chờ
trở lại (theo lời Hiệp định Genève: 2 năm sẽ có Tổng tuyển
cử) mà phải chờ... chờ hoài... đến 10, 15 năm sau... lúc
đó chúng ta hết còn thấy bài nào kể lại quê Bắc nữa, cho
dầu là Vũ Bằng viết về
Miếng Ngon Hà Nội
vẫn còn
đó, anh đã hết hứng để viết về Hà Nội, mà đành
viết... chuyện trong Nam.
Các nhà văn người Nam, trước hay sau di cư 1954, viết văn,
viết báo vẫn xài giọng văn chung chung, nghĩa là không rặc
giọng Nam bộ, chỉ trừ Hồ Biểu Chánh với nhiều tiểu
thuyết:
Vì nghĩa vì tình, Cha con nghĩa nặng
v.v. Phú
Ðức với
Châu về hiệp phố
, một nhà văn lão thành
(tôi quên tên) với chuyện
Võ đông sơ-Bạch thu hà
v.v. rồi kế đến Nam Ðình Nguyễn Thế Phương, Bình Nguyên
Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên... sao họ không bị ảnh hưởng, để
đến sang đây mới có nhóm người gốc miền Nam viết với
văn phong miền Nam?
Cứ xin đan cử về tôi (xin đừng rầy tôi quá chủ quan). Từ
lúc vào "ăn cơm nhựt trình" năm 1952, rồi năm 1955 quen các ký
giả Bắc, Trung, Nam trong nhà báo, tôi có sẵn trang báo trong tay
sao không viết? mà phải đợi sang đây mới... cầm bút
lên? và khi viết lại viết với giọng đặc sệt miệt vườn?
Như đã trình bày ở trên, tôi cũng giống như anh Lê văn Siêu,
Vũ Bằng... lúc 1954. Tôi bỏ ruộng vườn, mồ mả ông bà,
sang đây... nhớ quá, lần đầu trong đời mà.
Khác hơn các anh di cư 1954 từ miền Bắc vô Nam rồi nay lại bỏ
xứ - Cái xứ sau này chỉ là tạm bợ, ít có kỷ niệm như nơi
chôn nhau cắt rún. Chúng tôi nhớ thì phải thốt lên, không
bằng lời, thì bằng lời văn mộc mạc để kể chuyện quê
mình, nơi có vườn, có ruộng, có âm thanh, có tiếng nói
của nơi đó (phải không Hưng?). Từ đó, dầu có muốn viết
theo lối văn đã thấm trong đầu từ lâu, cũng không thể nào
viết câu:
-
Nè, thằng tư Thẹo đâu rồi. In như có trái dừa rụng
sau hè. Tao nghe nó rớt cái bịch. Chạy ra lượm vô nghen
.
Chẳng lẽ với lời bà mẹ quê Nam, mà viết:
-
Tư Thẹo đâu rồi. Dường như có quả dừa rơi đánh xạt
sau vườn đấy. Mày ra nhặt vào nhé
.
Mà đâu phải chỉ có các cây viết miền Nam qua đây mới nhớ
quê, mới viết. Anh chị em miền Trung nữa chớ, nào là Võ
Ðình với
Mấy món Tết mặn mà
, một Túy Hồng với
Hạt gạo Huyền Trân
, hoặc một Huyền Châu với
Mùa
Xuân trên Gò Bồi
... (trang 139).
Tôi xin mạn phép nói lan man hơi nhiều để góp thêm ý vào
chặng hành trình thứ hai của "chàng." Bây giờ mời các bạn
nhảy phóng theo tác giả đến tiểu bang New Jersey. Hãy chạy mau
mới kịp vì anh hải quân này lái xe... ẩu lắm, mặc cho các
cô gái Mỹ ở đấy bóp kèn inh ỏi, cứ lái phom phom như lời
văn tuôn chảy nhẹ nhàng trên giấy.
Nhờ tác giả dẫn độc giả đi từ trang 29 đến trang 41 để
tìm bắt mạch ông lang tây Lê văn Lân mà mình biết thêm tiểu
bang Mỹ nhiều đèn xanh đèn đỏ, xa lộ lớn xa lộ nhỏ...
Không biết những trang của chặng thứ ba,
Nói chuyện với
đàn em
, Nguyễn Tấn Hưng có thấy hãnh diện là được quen
biết nhiều các văn nghệ sĩ Việt Nam tại xứ người chăng,
chớ tôi và bạn đọc thích vô cùng, vì ở chặng này, được
biết rất nhiều văn nghệ sĩ thành danh trên văn đàn mà từ
lâu mình nghe tiếng.
Hãy đọc chầm chậm mới thấy Nguyễn Tấn Hưng "giỏi
thiệt." Anh khai toẹt tác phẩm nào của ai, nội dung hay ho,
phong phú ra sao? Hãy theo tác giả vào đoạn đường này để
thấy miệt vườn Mỹ Tho sum suê văn nghệ sĩ cũng như dừa xiêm
Bến Tre, cam ngọt Cái Bè... Mà sao lại có nhiều nữ giới
quá?
Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn... mười một
(lời tác giả).
Gì chớ nhà văn nữ của Miệt Vườn mà Hưng kể nơi chương
nầy vừa đẹp lại vừa giỏi mà... dữ (trong văn chương) để
có nhiều người mến mộ và trồng cây si:
Thiên hạ mười phương đã ngất ngư,
Kẻ mong thành cá, kẻ thành sư.
Tên bay một phát, chim bầy rớt,
Khoái chí chưa tề, bớ tiểu thư
.
(thơ Cung Vũ)
Phải thú thiệt, tôi đọc chương nầy tới hai lần mới qua
chương kế và tôi tin là độc giả khi đọc đến đây cũng sẽ
như tôi. Tác giả kể tác phẩm cũng như tâm tánh con người
của nhiều cây viết miền Nam đàn em (lời tác giả) nam cũng
như nữ, minh bạch, rõ ràng theo khả năng từng người... vậy
mà khi đọc xong, cứ phải mơ màng nghĩ tới "bốn con chuột
dừa" của Bến Tre và "múi bưởi" Biên Hòa?
Ðúng là văn võ song toàn như Hưng đã "dám" ghi vào chặng 5.
Anh chàng thủy thủ bộc trực ngày xưa chỉ biết có hoa biển
và sóng cuộn bạc đầu, thấy sao nói vậy, vậy mà giờ
đây nhảy tọt vào văn giới để... đẻ ra tác phẩm văn chương.
Chúng ta hảy theo hành trình của
nhà võ
nầy khi muốn mặc
thêm áo
nhà văn
để thấy tâm trạng nôn nao của người
ham "thai nghén văn nghệ."
Có mang thai thì phải có sanh, rồi nào là kêu Thầy, rước Mụ,
ký tên vào khai sanh v.v... bao nhiêu tâm tư lo lắng cho đứa con
của mình... Hởi bạn đọc! bạn đang muốn thành văn sĩ có tác
phẩm ra mắt bàng dân thiên hạ? Hãy theo Nguyễn Tấn Hưng ở
chặng nầy để... rút kinh nghiệm. Bảo đảm không khô khan
đâu, hãy đọc mới thấy cái lo của người cha khi đứa con tinh
thần chưa ra đời, không biết mặt mũi ra làm sao mà vẫn cứ
thấy đời đáng yêu quá chừng (trang 86).
Nguyễn Tấn Hưng có cái duyên như vậy đó làm cho tôi cứ tiếc
hùi hụi, nếu một con giáp về trước, tôi cũng ở tuổi Hưng
bây giờ mà không bị Cộng Sản làm cho tha hương, tôi có được
diễm phúc như anh: quen nhiều bạn nam nữ có tài danh, có duyên,
có sắc? để có dịp viết riêng một cuốn về giao tình giữa
mấy bà và tác giả...
Còn đang tiếc rẻ nghĩ ngợi thì thấy tác giả phân trần:
Tìm hiểu về bản sắc và chất liệu của các nhà văn nhà
thơ nữ thì nẫm nay "bà già trầu" đã tắm rửa kỳ cọ sạch
sẽ hết trơn trên các mặt báo, thì làm sao "ông Trùm" có thể
bí mật thò bàn tay ngọc thọc bàn tay vàng vào đó, đặng mà
mò mẫm sờ nắn thêm cho được nữa đây?
(trang 96).
À, té ra chuyện viết những "giai thoại hồng" toàn là những
nữ văn, thi sĩ (như gánh Phụng Hảo năm 1958, toàn là nữ ban),
Nguyễn Tấn Hưng còn thua Phù Lưu thái thái một bước, anh
phải nhận là không tài nào viết như máy theo kiểu Hồ Trường
An, chỉ đôi ba tháng mà hoàn tất năm bảy trăm trang nhỏ to về
các nữ sĩ...
Nguyễn Tấn Hưng ơi là Nguyễn Tấn Hưng! Tôi đang muốn trách
anh chàng "Trùm" nầy cứ loay hoay với đề tài văn học mà hổng
dẫn độc giả và tôi "đi," thì đến chương Tây Du. Vậy là
như người đang khát mà gặp nước đá chanh, tôi say sưa uống
những dòng chữ tả cảnh vùng đất đỏ Arizona, Hưng dẫn chúng
ta đến ốc đảo Ðào Hoa, nhà của nữ họa sĩ Thu Hương với
sân chim, với tiếng hót trong hoa lá, rồi sau đó đi về
hướng Grand Canyon, một trong những kỳ quan thế giới (lời
tác giả).
Tôi không trích dẫn hết cái hay, cái lạ... nhiều lắm, nhiều
lắm, do Hưng kể nơi đây, mà chỉ mời các bạn có óc say mê
phiêu lưu lại trót mang... kiếp nghèo, không tiền đi du lịch,
cứ theo "ké" Nguyễn Tấn Hưng ở chương nầy.
Ðang rung cảm với thiên nhiên miền Trung xứ Cờ Hoa thì chợt
đến chặng đường nói về những tác phẩm Miệt Vườn.
Chúng ta đã nghe nhiều lời khen, tiếng phê bình về tuyển
tập trên 6 tháng nay ở khắp nơi rồi. Nhưng hãy nghe thêm
lời chỉ dẫn của Hưng ở chương nầy mà tìm đọc những sáng
tác văn chương đó để thấy tình yêu quê hương
phảng phất
thể hiện qua một cuộc đặt trúm bắt lươn ở một làng gần
Cái Răng, một chuyến quá giang trên phà Rạch Miễu, một lần
làm rể ở bên nhà vợ, một con sóng ở bãi biển Vũng Tàu,
một trái bần chua bên cồn Rồng, một con rắn vú nàng trong
gốc tre già, một tuồng hát bội ở Lăng Ông Bà Chiểu, một
căn nhà bỏ lại sau lưng, một cô nhi viện ở Sa Ðéc, một
đứa em xấu số trong gia đình, một giấc mơ trở thành văn
sĩ, một đời làm bầu gánh cải lương, một tâm tình của bà
mẹ già lo cho đứa con tật nguyền, một buổi hái cau hay một
màn đánh đáo
... (trang 139).
Cuốn sách nào hễ có đoạn dẫn nhập thì phải có đoạn kết,
tôi đọc mải miết Nguyễn Tấn Hưng theo các chặng đường mà
lòng thấp thỏm sợ... tới đích rồi chăng. Bởi vì lời văn
anh bình dị nhưng đầy đủ vui buồn, lại có tí xíu tếu tếu
nên đọc không chán. Ðoạn đường xuống núi của anh cứ chạy
phom phom không có viên sỏi, cục đá nào nằm cản lối. Sao mà
nó như con tàu lướt trên sóng êm.
Qua hết vùng đất đỏ khô cằn, đi dần đến vùng Cali, nơi
mà chỗ nào cũng phố xá người Việt, bảng hiệu chữ Việt,
giao thiệp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ... Sướng
chưa?
Ðừng dại gì mở miệng nói tiếng Mỹ mà thành nhà
quê
(trang 141).
Nghe mà thèm. Nếu có lá me bay bay vai áo thì ngỡ là đang đi
trên đường Gia Long, nào phải là Bolsa, phải không Hưng?
Ông Trùm của một thuở ơi! Tôi say mê theo lời văn chơn chất
của anh suốt nữa ngày rồi đó. Nhờ anh, tôi và đọc giả
biết mùi của Las Vegas, thiên đường hay địa ngục (?) địa
giới, được biết dung nhan và tác phẩm các văn nghệ sĩ
miền Nam đang sống xa quê hương. Nhờ anh tôi mới biết xứ
dừa Bến Tre có 4 con chuột xinh xinh. Tôi chắc rằng 4 con
chuột biết uống nước dừa nầy phải là Chuột Bạch mao,
hồng nhĩ, mắt đỏ như cườm, dễ thương như vậy, ai nở
đem Ngũ vị hương và Tàu vị yểu ướp vào ăn cho uổng.
Vậy để cám ơn "ông Trùm" "hải quân" "lái xe xuống núi" nầy,
tôi liền ngồi vào bàn để viết gởi sang... không phải lời
Tựa mà chỉ một câu:
Một lần đi là biết bao lần nhung
nhớ
...
Calgary, tháng 5 năm 1991
back to top
21. THAY LỜI TỰA CHO TẬP TRUYỆN MỘT NỖI BUỒN RIÊNG
NGUYỄN TẤN HƯNG
Sau tác phẩm đầu tay,
Một Ðời Ðể Học
, do ông
Mai Thảo viết tựa, bấy lâu nay tôi vẫn hay nhờ các văn hữu
đi trước đề bạt cho tác phẩm mình. Với quan niệm nhằm
lưu lại một vài kỷ niệm trong niềm tâm giao cùng các văn
hữu thân quen ấy. Tuy nhiên, lần này có hơi khác!
Cũng qua một thân tình, mới đây một bạn văn cho biết, đại
khái, chưa chắc là độc giả đã hiểu rõ và đồng quan điểm
với ý định đó của tôi! Mà có thể lắm độc giả sẽ hiểu
lầm rằng tác giả đã chưa vững tin vào tài năng của mình
cho nên cần phải có một người đi kèm, viết lên vài lời
khen tặng mời mọc người đọc. Ðó là chưa nói đến những
bạn văn khác có thể sẽ dèm pha, ganh tị vì không có được
những cơ may quen biết, giao lưu thân mật với một số đông
những người cầm bút như tôi! Quả thật là chí lý! Ðến
nỗi, tôi phải viết ra đây những dòng này như để lưu lại
một kỷ niệm vui vui với một người bạn văn!
Rồi, càng chí lý hơn nữa khi tôi là người cũng đã có dăm
ba tác phẩm trình làng, với ít nhiều tiếng vang! Nhất là
trong thời gian gần đây có vài bằng hữu, kẻ đi trước
người theo sau, lại nhờ tôi viết bạt, bình thơ, điểm
sách! Thôi thì kể như giờ phút đã đến, từ nay, tôi
phải tự mình viết tựa cho mình vậy. Không kể những
trường hợp đặc biệt, dĩ nhiên.
Tựa hay bạt viết cho một người khác, với tôi, ngoài những
giao tình qua lại phải có, thông thường chỉ là những dòng phê
bình một chiều: khen. Người viết tựa hay bạt phải chịu khó
đọc kỹ tác phẩm, suy ngẫm và tìm ra những điểm hay theo ý
mình mà thổi phồng lên, trong khi phải lờ đi những điểm
dở. Lắm lúc chưa chắc đã nói lên được dụng ý, tâm
sự cùng nỗi lòng của tác giả gởi gấm trong đó, vì mỗi
người cầm bút đều có một cách viết riêng và một trình
độ thưởng ngoạn riêng!
Bảo đảm không ai có thể hiểu rõ một tác phẩm hơn là chính
tác giả! Song le, kẹt một điểm, tác giả không thể tự huênh
hoang, bốc thơm cho mình! Ngoại trừ những kẻ đã..., chớ ai
mà làm như vậy xem ra kỳ chết đi được! Bởi thế, tự
viết cho mình một vài điều là chuyện không thể và không nên
xem thường. Dễ dàng chăng là họa hoằn đối với những
người đang viết dưới dạng thức một chủ đề, vì có thể
dựa vào đó để nói thoáng qua những điều mình sẽ trình
bày, xây dựng, ước mơ!
Nhưng thử hỏi, có ai dám đặt bút viết khơi khơi mà không
nhắm vào một mục tiêu, một chủ đề, một hướng nhìn nào
chớ? Có hết! Ngay cả những người chuyên viết tiểu thuyết
mua vui, dã tưởng đi nữa! Chẳng qua là có người đã nêu
lên được một điều gì lớn lao và trong khi đó có người
lại chỉ vẽ ra một cái gì nho nhỏ!
Ở đây, với
Một Nỗi Buồn Riêng
, tôi cũng chỉ mong là
mình đã vẽ ra được một cái gì nho nhỏ mà thôi! Tại sao?
Tại vì,
quốc gia hưng vong thất phu hữu trách
! Ðiều
mà, không riêng gì tôi, tất cả những người chúng ta đang
sống ly hương nơi đất khách quê người đều hằng tâm nghĩ
tới! Có phải? Nhưng đặt vấn đề là một chuyện mà làm
được gì hay không là một chuyện khác! Với một người
cầm bút, nêu lên chủ đề là một chuyện mà viết được
gì hay không là một chuyện khác! Và tôi tự cảm thấy mình
đã hoàn toàn thất bại, bất lực!
Vì tôi đã để ngòi bút của tôi dẫn dắt tôi đi lang thang
khắp mọi chân trời, góc biển! Trong giông tố bão bùng khơi
lại bóng quê hương! Trong biển cả lắc lư con tàu đi vinh danh
người chiến sĩ! Trong lòng từ tâm của những người chuyên
môn lường gạt có pa-tăng! Trong hương say dục tình thấp thoáng
bóng liêu trai! Trong tình yêu giao hòa bất kể màu da phong
tục! Trong êm ả gia đình và thiên nhiên huyền thoại! Trong
những đua đòi bóng sắc của giới quần hồng! Trong nỗi chết
chưa rời tay trong tay cùng Chúa, Phật...
Ô hay, cái gì lạ thế! Một quái thai thời đại chăng? Thưa
rằng, không đâu, chỉ là tác phẩm mà tôi có phần nào ưng
ý thôi! Xin mời quý bạn đọc ghé mắt vào xem!
Winston-Salem, cuối Ðông năm Tân Mùi
back to top
22. CON NGƯỜI VÀ BÚT PHÁP CỦA NGUYỄN TẤN HƯNG QUA "MỘT NỖI BUỒN RIÊNG"*
VÕ KỲ ÐIỀN
Chiều nay tôi lại được cái vinh hạnh lấn chiếm đài
phát thanh, nói theo kiểu Kiệt Tấn, để giới thiệu nhà văn
kiêm chủ nhân nhà xuất bản
Miệt Vườn
Nguyễn Tấn Hưng
với quyển
Một Nỗi Buồn Riêng
mới ra lò còn thơm phức
mùi giấy mực.
Tôi quen biết với Nguyễn Tấn Hưng qua thơ từ trao đổi cho
nhau từ năm 1988, khi anh hoàn thành tập truyện đầu tay
Một
Ðời Ðể Học
và gởi tặng. Tôi đọc xong và biết rằng
Hưng sẽ là một cây viết có hạng, không những vì nghệ
thuật viết lách, vì lối văn trôi chảy mà điểm nổi bật
ở tác giả là cái sức sống phi thường, cái nghị lực phi
thường hiếm hoi ở một nhà văn mới bắt đầu sáng tác.
Cái ưu điểm nầy vẫn được thể hiện đều đặn ở các
tác phẩm sau. Khi anh nhờ tôi viết bạt cho cuốn
Một Cảnh
Hai Quê
(1989) tôi cũng hứa liều, nhưng trong bụng tin rằng
anh không thế nào thực hiện nổi. Làm sao trong một năm
mà viết được ba bốn cuốn liên tiếp.
Một Ðời Ðể
Học, Một Thuở Làm "Trùm", Một Chuyến Ra Khơi
... Tôi vốn
làm biếng lắm và không có thì giờ nhiều. Nhè đâu mới
vừa hứa xong thì bản thảo được gởi ngay đến nằm chình
ình trên bàn viết với bức thơ nhỏ kèm theo - "... biết anh
bận lắm nhưng rán giúp dùm thằng em." Rồi sau đó năm, bảy
cuốn nữa tác giả gởi tặng ào ào, đọc vừa hết cuốn
nầy thì nhận tiếp theo cuốn kia, như vậy là tác giả Nguyễn
Tấn Hưng ở góc trời Winston-Salem kia viết không kịp thở và
bạn bè cùng độc giả, trong đó có tôi, đọc cũng không kịp
thở. Vừa qua, tôi nhận được quyển ký sự
Một Lần
Xuống Núi
rồi tiếp sau đó vài tuần là tập truyện
Một
Nỗi Buồn Riêng
. Trong bao thơ gởi kèm tờ giấy nhỏ, ôi
cái tờ giấy oan nghiệt có một câu viết khiến tôi xao
xuyến - "... hổng chừng thằng em sẽ ra mắt sách ở
Montréal..."
Quí vị cũng biết theo luật giang hồ của văn giới, một tác
giả chỉ nhận xét phê bình hay viết tựa, viết bạt cho tác
giả bạn chỉ một lần và duy nhất một lần thôi. Ðiều nầy
không bắt buộc nhưng là một thông lệ, một qui ước. Tại
sao vậy? Khi nhận định về một tác giả những nét chính
yếu, ưu khuyết điểm phải được tìm ra, ghi nhận đầy
đủ. Nếu viết thêm lần nữa, thì cũng lập lại những ý
đó mà thôi. Tôi yên chí, đọc sách chùa của bạn gởi cho
mà không sợ bị bắt làm công quả. Tôi đã viết cho Nguyễn
Tấn Hưng bài bạt quyển
Một Cảnh Hai Quê
rồi, từ năm 1989
lận!
Nhè đâu, một hôm ông Chủ tịch Văn Bút Québec khều tôi
cười cười:
- Nói cái nầy anh nghe, có ba tác giả "ngoại quốc" muốn
qua Montréal mình ra mắt sách, vui lắm, toàn là anh em thân
tình, tôi đã nhận lời hết rồi...
Tôi vừa nghe vừa run, chưa kịp hỏi gì hết thì được nghe
tiếp:
- Tất cả có ba người: Thụy Khanh, Nguyễn văn Ba, Nguyễn
Tấn Hưng... thì mình cũng có ba người.
Tôi hỏi:
- Mình cũng có ba người, ai vậy?
Ông Chủ tịch Lưu Nguyễn cười và nói tỉnh rụi:
- Thì anh Trang Châu, anh Ðỗ Quý Toàn với anh nè...
Trời đất! Cái vụ Võ Ðình vừa mới xảy ra, rồi kéo dài
thêm những vụ rắc rối bên lề, anh em Văn Bút Việt Nam Hải
Ngoại với Văn Bút Québec muốn khùng luôn hơi sức đâu còn
viết lách với nói năng. Nhưng dầu sao thì bạn Lưu Nguyễn
đã hứa rồi, mọi chuyện đâu vào đó như "ván đã đóng
hòm" làm sao mà cạy cho ra. Tôi suy nghĩ thiệt khôn ngoan giành
trước - Tôi chọn nói cho Thụy Khanh. Dầu sao thì Thụy Khanh
cũng đẹp đẽ, duyên dáng hơn hai ông bạn "miệt vườn" của
tôi. Một bên là dân Parisiense sang trọng quí phái, một bên
là dân ở Nha Mân, Sa Ðéc với Quơn Long, Bình Phục Nhứt, Mỹ
Tho, các bạn nghĩ coi mình phải chọn ai? Dễ quá mà!
Nhưng ở đời, mười chuyện mình muốn thì hết chín không
như ý. Việc công việc tư dồn dập, thành ra trời xui đất
khiến sao đó loay hoay anh Trang Châu đặt cọc cô Thụy Khanh,
Ðỗ Quý Toàn xí phần Nguyễn văn Ba, và ông Trùm Nguyễn Tấn
Hưng lọt vô vòng tay thầy giáo làng là tôi đây. Tôi đâm
nghi ngờ có sự âm mưu sắp xếp của ông Chủ tịch Lưu Nguyễn
với ông Tổng thơ ký Lê Tấn Lộc trong vụ nầy. Thôi không
biết là duyên hay nợ, cũng đành rán mà ôm ông Trùm, chớ
thiệt tình trong bụng, muốn ôm người khác! Thành ra hôm nay
tôi nói hay hay dở ông Trùm rán mà gồng mình chịu trận. Một
lần cho tởn tới già... Nhưng cuối cùng thì tôi thấy hình
như mọi sự có bàn tay của định mệnh an bài. Hôm gặp Kiệt
Tấn trong cơn say nhè, anh ta chỉ vào mặt tôi nói - Hồ
Trường An, Nguyễn văn Ba, Nguyễn Tấn Hưng thuộc văn chương
miệt vườn, còn Võ Kỳ Ðiền không phải, bạn thuộc văn
chương miệt cù lao. Tôi ngớ ra, sau vài phút mới hiểu,
mình được sanh đẻ ở cù lao Phú Quốc rồi lại viết về cù
lao Bidong, hiện đang sinh sống ở cù lao Montréal. Văn chương
cù lao đi chung với văn chương miệt vườn là xứng đào
xứng kép. Thôi vậy cũng hay. Thành ra hôm nay là buổi nói
chuyện của nhà văn cù lao Võ Kỳ Ðiền nói về con người và
tác phẩm của nhà văn miệt vườn Nguyễn Tấn Hưng.
Trước khi đi vào câu chuyện, tôi xin phép được nêu lên
đây vài thuật ngữ mà tôi sẽ phải dùng vì đó là những chữ
riêng biệt của Nguyễn Tấn Hưng. Nói về Nguyễn Tấn Hưng
mà không dùng những chữ của Nguyễn Tấn Hưng thì làm sao
trình bày hết được con người Nguyễn Tấn Hưng!
Ðó là những chữ "đàn anh, đàn em." Nguyễn Tấn Hưng bắt
đầu làm quen với văn giới lúc còn ở bên quê nhà, hồi
còn đi học rồi đi lính. Theo như tôi biết, anh đã viết
cho báo
Văn
của Mai Thảo và có đến tòa soạn để gặp nhà
văn nầy. Bẵng đi một giai đoạn dài - đi lính, chạy giặc,
tỵ nạn, đi học lại - anh bắt đầu cầm bút lại và bài vở
có đăng khắp trên các mặt báo hải ngoại. Và tôi cũng cẩn
thận ghi chú là anh dùng chữ "đàn anh, đàn em" không có nghĩa
là viết cao viết thấp, viết hay viết dở, cũng không phải
là viết trước viết sau mà là căn cứ vào tuổi tác. Hễ
lớn tuổi là anh mà nhỏ tuổi là em, nói theo kiểu nhà binh,
trong quân trường, khóa đàn anh, đàn em. Tôi may mắn được
sanh ra trước Hưng vài ba năm nên được làm anh, ngon lành.
Còn ông bạn Nguyễn Hữu Chung tuy lớn tuổi hơn tôi nữa nhưng
vì ở xa lại không quen biết nhau, có lẽ thế hệ của anh Chung
là thế hệ "già" quá rồi nên Hưng không biết, tính tuổi lộn
gần mười năm, kêu Chung bằng đàn em ngon ơ! Lần đầu
tiên khi đọc ngang qua chỗ sai sót nầy, tôi khoái hết sức làm
im thinh thích, không cho Hưng hay, trong bụng muốn để ông bạn
già Nguyễn Hữu Chung làm đàn em của tôi luôn, lâu chừng nào
hay chừng nấy, cầu trời khẩn Phật đừng có ai nhắc nhở
để Nguyễn Tấn Hưng đính chánh, mấy thuở được làm đàn
anh của một người nổi tiếng như Nguyễn Hữu Chung!
Danh từ thứ hai mà Nguyễn Tấn Hưng ưa nhắc đi nhắc lại là
chữ "Văn chương miền Nam." Anh tha thiết chữ nầy cho đến
nỗi hai lần anh lên Washington D.C. là hai lần anh nhắc đến nó
trong những bài nói chuyện - Lần đầu trong buổi ra mắt sách
Giai Thoại Hồng
của Hồ Trường An, Hưng đã thuyết trình
đề tài
Ðôi Lời Về Văn Chương Miệt Vườn
(tại trường
Ðại Học George Mason, thủ đô Washington vào ngày 25-6-1989).
Lần thứ hai, buổi ra mắt hai quyển
Tuyển Tập Những Cây
Viết Miền Nam
và
Một Chuyến Ra Khơi
, Nguyễn Tấn Hưng
đã nhắc lại vấn đề nầy trong bài
Tính Chất Chung Quyết
Trong Văn Chương Miệt Vườn
. Trong các nhà văn có văn phong
miền Nam, Nguyễn Tấn Hưng là người dan díu, mê man mấy chữ
"Miền Nam" lẫn "Miệt Vườn" nhứt. Nguyễn văn Ba cũng có
niềm say nầy nhưng xét ra thua cái đam mê của Nguyễn Tấn Hưng
xa lắm. Do đó mà sau loạt bài nói chuyện về đề tài nầy,
ông Trùm bị một độc giả là ông Nguyễn Hoàng làm một bài
thơ dũa một mách te tua, đại ý cho là kỳ thị Nam Bắc. Thực
ra theo chỗ tôi thấy, Hưng không bao giờ có ý xấu nầy, anh
kính trọng Mai Thảo chơi với Nguyễn Mộng Giác, Hà Huyền Chi,
Duy Lam... nghĩa là ai anh cũng quí trọng như nhau, đâu có phân
biệt nhưng vì anh thích viết theo lối văn phong địa phương
quá sức, thành ra ưa nhắc đi nhắc lại mà thôi. Vì anh
thường dùng lẫn lộn chữ "văn chương miền Nam" với "văn
phong miền Nam" nên mới có sự hiểu lầm đó. Văn phong miền
Nam là một khuynh hướng nhỏ, một cách viết với giọng văn
của miền Nam, nằm trong một nền văn học miền Nam. Văn
chương miền Nam, là một nền văn chương gồm tất cả các
cây viết Nam Trung Bắc... tất cả cùng đóng góp công sức
tài năng nghệ thuật của mình cho quê hương, đất nước.
Những nhà văn nầy sống bên bờ sông Gianh như Ðào Duy Từ,
Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Hữu Hào thời Trịnh Nguyễn hoặc
bên nầy vĩ tuyến 17, sau năm 1954 như Mai Thảo, Thanh Tâm
Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam...
Ðể trả lời cho sự hiểu lầm nầy, ông Trùm đặt tên luôn
cho nhà xuất bản của mình là nhà xuất bản
Miệt Vườn
.
Nguyễn Tấn Hưng cũng không tha thứ cho bất cứ ai đụng chạm
tới anh em cầm bút của nhóm nầy như trường hợp Trần Vũ
nhận định trong bài
Những Vòng Tường Ghetto
đăng trên
Hợp Lưu số 2 và ông Trùm đã đập lại thẳng tay như
sau - "... mới có một hai tác phẩm trình làng mà dám
viết một bài như vậy thì còn chữ nào đúng hơn hai chữ
lộng ngôn để dùng, phải không quí vị!"
Danh từ thứ ba của Nguyễn Tấn Hưng là danh từ ông Trùm. Ðây
là tên mà tác giả tự đặt cho mình qua nhan đề của tác phẩm
Một Thuở Làm "Trùm"
. Quyển nầy gây xao động trong dư
luận văn giới, cũng có kẻ chê, cũng lắm người khen. Dầu
khen hay chê, tác phẩm nầy là một tác phẩm nổi tiếng làm nên
tên tuổi của Nguyễn Tấn Hưng. Danh hiệu ông Trùm nổi bật,
bạn bè gọi mãi thành tên. Nguyễn Tấn Hưng biến thành ông
Trùm. Trùm đây là trùm tình báo, Trưởng Phòng Nhì Vùng 4
Duyên Hải, Ðặc Khu Phú Quốc. Chữ "trùm" được đóng trong
ngoặc kép vừa có ý nói lên sự thật mình là cấp trên của
một số đàn em thân tính vừa có ý mỉa mai, giễu cợt cái
chức vụ an ninh tình báo...
Ðại khái Nguyễn Tấn Hưng có thói quen dùng những chữ thoạt
mới nhìn qua thì có vẻ ngang tàng nhưng xét kỹ thì thấy nét
dễ thương của nó. Nét dễ thương của một người còn mang
trong mình dòng máu ruộng vườn miền Nam. Nhưng những người
nông dân miền Nam cũng có chung gốc gác là nông dân đất Bắc,
vì nghèo khổ (làm ruộng, đi lính, bị đày...) nên phải mạo
hiểm làm cuộc Nam tiến theo chính sách đồn điền của chúa
Nguyễn, tìm đất mới khai phá để sống còn. Họ vừa chiến
đấu vừa cày cấy. Tính tình do đó mà nẩy nở phát sinh
theo hai chiều hướng đối nghịch. Khi thiệt hiện tánh chất
phác, khi thiệt ngang tàng, dữ dội, càng ngày càng khác
biệt với nếp sống nếp suy nghĩ của người giàu có, người
trí thức còn lại ở đất Thăng Long ngàn năm văn vật. Bởi
vì những người nông dân miền Nam đó vừa làm dân, vừa phải
làm hết. Nguyễn Tấn Hưng thừa hưởng trọn vẹn hai đặc
tánh nầy của đất Nam Kỳ Lục Tỉnh hơn các bạn văn của anh.
Chúng ta hãy nghe anh Võ Ðình nhận xét - "Nhưng Nguyễn Tấn
Hưng có những đặc biệt khác với những người kia là Nguyễn
Tấn Hưng đã lớn lên, đã trưởng thành trong quân đội...
là cái điểm rất đặc biệt mà những người kia, những Võ
Kỳ Ðiền, Kiệt Tấn, Nguyễn văn Sâm, Nguyễn văn Ba... không
có. Hồ Trường An cũng từng ở trong quân đội nhưng Hồ
Trường An chỉ là sĩ quan văn phòng, từng thú nhận là tôi
chỉ ngồi chơi lai rai vậy thôi. Chứ còn ông Nguyễn Tấn
Hưng nầy thì phải lên tàu, trôi dạt khắp đó đây."
Cái dòng máu lính thú của tổ tiên thời Trịnh Nguyễn được
tăng cường bổ xung bằng những năm gia nhập binh chủng hải
quân rồi thêm những năm theo ngành khoa học, ngành điện tử
ở Ðại Học đã khiến cho Nguyễn Tấn Hưng xông xáo, lăn
xả, bất chấp mọi trở ngại. Con người lý trí vượt trội
con người tình cảm. Nguyễn Hưng Quốc có lần đã nói - Có
nhà văn thiên về tâm, có nhà văn thiên về trí. Theo tôi,
Nguyễn Tấn Hưng là một nghệ sĩ đa tài - anh viết văn,
làm thơ, viết biên khảo, đặt nhạc - nhưng dù bộ môn
nào lý trí anh cũng vượt trội hơn tình cảm. Chúng ta thử
nghe đôi lời than thở, chỉ hơi buồn mà không có nước mắt
rưng rưng:
Chàng còn đâu nội ngoại để về. Ðể viếng thăm
trong những khi rỗi rảnh hay để tá túc trong những khi hoạn
nạn. Nội ngoại của chàng giờ ở xa lắm, mút tận bên kia
bờ đại dương. Cái cơn bão ngoài đời dẫu có chợt đến
rồi cũng chợt đi, nhưng những cơn bão trong lòng Quốc thì
hình như mãi mãi không bao giờ tắt lịm. Ngày nào còn Cộng
sản ngự trị trên miền đất nước thân yêu thì ngày về
lại cố hương, tìm gặp những người thân thương của Quốc
như mãi mãi còn xa
(truyện ngắn
Một Nỗi Buồn Riêng
trang 33).
hoặc:
Thình lình, mắt Gia bỗng hoa lên với cảnh vó câu.
Rập rình chiến mã, gươm đao. Bất giác, chàng không còn
nhớ gì nữa, lắp bắp hát luôn câu kết, như cố tình
muốn đưa cái dĩ vãng không mấy vàng son của thời đại mình,
thật nhanh chóng, vào lãng quên
(truyện ngắn
Ðưa Dĩ
Vãng Vào Lãng Quên
trang 47).
Có những giây phút rảnh rỗi, Nguyễn Tấn Hưng nhớ về Việt
Nam thân yêu, nhớ mảnh vườn nhỏ ở quê nội, quê ngoại,
nhớ lu nước mát sau hè, nhớ cây cau già trước ngõ, nhớ
chiếc võng cho thằng Sơn Nhái, nhớ thương đời sống binh
ngũ hải hồ. Cứ coi cách anh miêu tả, anh thương mến nó
biết bao nhiêu vậy mà khi kết luận anh viết tỉnh queo theo
như trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư:
Chàng ngửa mặt thì thầm trong bóng đêm:
- Ôi, không có cảnh biệt ly nhưng sao mà buồn vậy!
Hoặc đã nương theo câu vọng cổ:
Rồi đành cam thọ tử vì mắc kế của Lữ Mông...
Cái tình cảm dào dạt phong phú của người nông dân ruộng
vườn bị cái lý trí của người khoa học, người quân nhân
chận đứng. Nguyễn Tấn Hưng đã kìm hãm được sự xúc
động. Lúc nào cũng vậy, đời anh là một chuỗi ngày
phấn đấu vui sống vươn lên trên nỗi khổ đau. Do đó
mà có lần tôi đã viết cho Hưng: "Cái lý trí lấn áp tình
cảm trong tập truyện là một khuyết điểm đồng thời cũng
là một ưu điểm. Từ lâu trong tiểu thuyết của ta chứa
đựng nhiều nước mắt quá, mỗi lần đọc xong một tác
phẩm, cả người như muốn bịnh. Tôi muốn thấy nụ cười
thay cho nước mắt... thấy được niềm vui sống, dù đang
ở trên xứ người. Chỉ cần bao nhiêu đó nhà văn Nguyễn
Tấn Hưng cũng đủ được mọi người trân trọng quý mến."
Nhưng có phải cái lý trí, cái sức mạnh tinh thần đó làm
nên nhà văn Nguyễn Tấn Hưng? Không phải. Nguyễn Tấn Hưng
sở dĩ được nổi tiếng mau lẹ nhờ ở bút pháp đặc biệt.
Ngòi bút của Nguyễn Tấn Hưng khỏe mạnh, tung hoành, trôi
chảy. Võ Ðình đã ghi nhận cách viết của anh như sau: "lúc
nào cũng viết một cách rầm rộ, vui vẻ và thoải mái như
vậy, khơi khơi như vậy." Ðể thấy rõ nét cái bút pháp
đặt biệt Nguyễn Tấn Hưng, chúng ta thử làm cuộc so sánh
nho nhỏ với vài tác giả cùng nhóm thuộc văn phong miền Nam.
Theo tôi thì không ai có đủ thẩm quyền nói về điều nầy
hơn Hồ Trường An hết. Có lần trong cuộc phỏng vấn, Hồ
Trường An đã nhận định về văn mình... Văn tôi hơi giống
văn của Kiệt Tấn, của Nguyễn Ðức Lập và của Nguyễn Tấn
Hưng ở vài chỗ. Có lẽ bởi vì Kiệt Tấn, Nguyễn Tấn
Hưng và tôi đều ở trên phần đất Tiền Giang (tỉnh Mỹ Tho
và tỉnh Vĩnh Long) nên có cùng một ngôn ngữ chăng?
Tôi đồng ý điểm ghi nhận nầy ở câu "... giống một vài
chỗ." Bạn Hồ Trường An đã kỹ lưỡng khi viết chỉ có bấy
nhiêu vì Kiệt Tấn, Hồ Trường An và Nguyễn Tấn Hưng, xét
về bút pháp khác xa nhau nhiều lắm. Nguyễn Tấn Hưng nghĩ
sao viết vậy, câu văn khỏe mạnh, trôi chảy, tự nhiên không
trau chuốt. Xét theo tính cách giáo khoa thì văn Nguyễn Tấn
Hưng rất gọn gàng, gồm có chủ từ, động từ, túc
từ... minh bạch. Trong khi đó văn của Kiệt Tấn rất nhiều
trạng từ, tĩnh từ (Nguyễn Hưng Quốc đã viết "Ông không
mừng, ông mừng húm. Ông không khoái, ông khoái chí tử,
ông không quên, ông quên tuốt luốt, ông không hôn, ông hôn
chùn chụt)...
Riêng văn của Hồ Trường An vì mê Hồ Biểu Chánh nên trong
văn có hơi hám của lối biền ngẫu, tứ lục thời quốc ngữ
phôi thai đầu thế kỷ. Hồ Trường An viết "tim bảy lỗ
héo khô, gan bảy lá héo hắt" hoặc "chưa chi mà chị đổ hô
con hai Túy Hoa nầy hỗn dữ, bửa đầu mãnh hỗ, bóp cổ
Thiên Lôi, xé đôi gấu ngựa, vật ngửa Chằng Tinh."
Không cường điệu đầy xúc cảm như Kiệt Tấn, không dài dòng
đối chọi mỹ miều như Hồ Trường An, Nguyễn Tấn Hưng không
viết thì thôi mà hễ viết thì như "lên xe sang số và đạp
hết ga, chạy thẳng một mạch không quanh qua quẹo lại, không
biểu diễn uốn éo gì ráo. Nếu gặp chướng ngại vật, như
có ai láng cháng chê tới chê lui, là tài xế phóng xe lên cán
luôn, chết bỏ rán chịu." Vậy mà lại hay, mới
lạ chớ! Chúng ta thử đọc một đoạn anh tả cảnh bão tố:
Bất thình lình, trên trời như
có một đoàn chim sắt đang bay tới, rất đông: h... ùm, ùm
ùm... Dưới đất cũng vậy, một đoàn tàu đang chạy ngang
qua: h... ùm, ùm ùm... Mang theo những tiếng sét đồng loạt
nổ long trời, và những lằn chớp xanh ma trơi bủa vây tứ
phía. Có lẽ trời đang sập thiệt. Quốc thấy mình như
đang lạc vào chốn địa đàng của loài khủng long, với những
tiếng gào thét thất thanh trước khi lâm chiến, tử nạn.
Chàng chạy lại khung cửa kéo, slide door, rọi đèn pin ra ngoài.
Nhờ bóng tối bên trong mà chàng thấy rõ hết. Trời đất,
những hạt mưa nằm ngang dầy đặc, vùn vụt bay không ngớt
dưới sức mạnh của cuồng phong. Những thân cây to lớn ở
bìa rừng phía sau nhà cong vòng như những cây sào của các lực
sĩ điền kinh. Ngọn nhịp lên nhịp xuống như ngọn cần câu
cắm đang bị cá ăn. Những con đom đóm bay đêm đã bị đánh
rạt xuống lớp cỏ, đang nằm im một chỗ thoi thóp chớp
...
(truyện ngắn
Một Nỗi Buồn Riêng
trang 21).
Có thể xem đây là một đoạn văn tiêu biểu cho bút pháp
Nguyễn Tấn Hưng, lối viết đơn giản như nói chuyện "có
lẽ trời đất đang sập thiệt" thể hiện được cái tánh
tình vừa chơn chất vừa dễ thương. Chúng ta cũng dễ
dàng bắt gặp nét ruộng vườn bị lai giống với óc khoa
học phối họp với tinh thần xông xáo. Sự quan sát bén
nhạy, trí nhớ sáng suốt Nguyễn Tấn Hưng đã hấp thụ
và đồng hóa cuộc sống ở Mỹ rất nhanh, khác hẳn với
các bạn văn khác cuộc sống ở xứ người khó khăn, lợn
cợn như nước với dầu. Việc nầy chúng ta thấy rõ
anh dùng nhiều từ ngữ địa phương một cách tự nhiên,
không cố ý. Tuy nhiên do ảnh hưởng nếp sống mới, một
hiện tượng lạ là anh lại ít dùng ca dao, câu hò, câu hát
như phần đông cây viết miền Nam, bạn anh. Tôi nói anh
dùng nhiều từ ngữ địa phương có hai ý. Từ ngữ địa
phương cũ là nơi anh đã sống nửa đoạn đời đầu ở
Bình Phục Nhứt, ở Mỹ Tho... và từ ngữ địa phương mới,
là vùng đất anh định cư ở Mỹ, Winston-Salem. Anh nói tiếng
địa phương miệt vườn Hậu giang, Tiền giang khơi khơi,
đồng thời anh nói tiếng Mỹ, chửi thề tiếng Mỹ... cũng
khơi khơi.
Ta đọc thử một đoạn:
... duy nhất chỉ có sự dẫn nhiệt từ từ, heat transfer,
từ điểm nóng đến điểm lạnh tựa hồ như những phân tử
không khí đã đặc lại thành chất cứng. Máy lạnh. Rõ
ràng chàng cần gấp một cái máy lạnh. Chàng đề máy, máy
nổ ngọt ngào. Gạt cần điều chỉnh air-conditional từ vị trí
normal qua gạch maximum, chàng mở quạt ở tốc độ thiệt
lớn, high. Hơi nóng phả vào mặt thiếu điều muốn cháy
râu, phỏng trán.
- Damn it!
(truyện ngắn
Một Nỗi Buồn Riêng
trang 12).
Trong một đoạn ngắn 9, 10 dòng, Nguyễn Tấn Hưng đã dùng tới
6 tiếng Mỹ anh nói tiếng trơn tru như chúng ta nói... tiếng
Việt. Ðây là một hiện tượng mới phát xuất ở trong các
tác phẩm hải ngoại. Tôi cũng tìm gặp nhiều tác giả khác ở
Mỹ thì viết xen trộn tiếng Mỹ (Anh), tiếng Pháp ở bên Tây,
tiếng Hòa Lan ở xứ đất thấp và tiếng Ðức ở xứ sở của
Hít Le... Tôi không có ý kiến về việc pha trộn nầy. Tuy
nhiên vì tôi là thầy giáo, ngày xưa có dạy học, tôi không
thể tưởng tượng được nếu các nhà giáo Việt Nam mình bây
giờ, gặp phải một bài văn mà đầy tiếng Mỹ, tiếng Tây,
tiếng Ðức, tiếng Na Uy... thì các vị đó là sao đọc, làm
sao hiểu và làm sao giảng dạy cho học trò?
Ðiều nhận xét cuối cùng, chúng ta cùng nhau bàn về tánh
cách thành thực của Nguyễn Tấn Hưng. Nhà phê bình Nguyễn
Hưng Quốc đã viết "Tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh
giá tư tưởng một triết gia là tính chất độc sáng. Tiêu
chuẩn quan trọng nhất để đánh giá tư tưởng một nhà văn
là sự chân thành." Và ông đã đánh giá và tin tưởng nhà
văn Kiệt Tấn là thành thật nhứt. Ông cũng tỏ ý hoài nghi
về sự thành thật của các nhà văn khác. Riêng tôi, tôi
cũng tin là nhà văn Kiệt Tấn trong tác phẩm chứa đầy sự
thành thật nhưng nếu so sánh kỹ với ông Trùm thì e rằng
chúng ta phải cùng nhau xét lại. Nói chung các nhà văn miền
Nam ít hay nhiều đều bộc lộ nét mộc mạc, thành thật.
Hình như tất cả đều có nhu cầu bộc bạch tâm sự, kể lể
chuyện đời riêng tư của mình khác hẳn đa số các nhà văn
gốc Trung, gốc Bắc. Vì lẽ đó, ta đọc trong truyện của
họ, nhân vật chánh xưng "tôi" dễ dàng tự nhiên. Trong tác
phẩm, Kiệt Tấn đã viết về gia đình mình, cha mẹ, anh
chị, cùng các người yêu rất rõ, rất kỹ. Nhưng anh đã
viết về những cảnh sống nghèo khổ ở nơi thâm sơn cùng
cốc, cha mẹ anh gốc nông dân thật quê mùa không miếng
đất cắm dùi, người chú thứ chín thì câm, người anh
tuy học giỏi nhưng nghèo phải bỏ học đi làm thợ mộc, còn
các người yêu của anh là Tuyết bán quán ở bắc Mỹ Thuận,
Hoa bến đò Rạch Miễu, mấy em Hồng, Tuyết ở Ngã Năm,
Ngã ba... cho đến khi du học thì người yêu của Kiệt Tấn
cũng là những em đầm Diane, Danielle và một đám yêu nữ
tóc vàng, mắc xanh gặp trên tàu, ở quán rượu... Nhưng
thực tế thì bạn Kiệt Tấn đã giấu đi phân nửa tài sản
mà ông có. Kiệt Tấn đã bỏ qua giai đoạn thành công, giàu
sang của gia đình anh. Như tiệm bán đồ gỗ của ba má anh
lớn nhứt nhì ở Vĩnh Long, người anh vào quân đội làm
quận trưởng một quận lớn, anh Lê Tấn Lộc và Kiệt Tấn
đều học giỏi và đi du học ở Paris và khi về nước thì giữ
các địa vị trọng yếu trong chánh quyền, và hầu như trong
tất cả truyện ngắn, truyện dài của Kiệt Tấn hình ảnh
người vợ chỉ xuất hiện để canh chừng ông chồng hoang
đàng, rượu chè be bét... Anh giấu đi mất biệt bà Kiệt
Tấn, một thời là hoa khôi của tỉnh Vĩnh Long, bà Kiệt
Tấn đẹp cho đến nỗi dầu anh đi năm sông bảy suối, cuối
cùng cũng phải quay trở về cầu Cái Cá tình nguyện đặt
dưới quyền sai khiến, cằn nhằn của bà. Như vậy Kiệt
Tấn chỉ thành khẩn khai báo với độc giả có phân nửa.
Trong khi đó thì ông Trùm tuy làm nghề tình báo nhưng cuộc
đời có bao nhiêu đều khai ra tuốt luốt hết. Anh cũng nói
về cái quê mùa nghèo khổ của gia đình (cha mẹ ở thôn quê,
làm nghề buôn gỗ, lúc nhỏ đi trọ học ở Mỹ Tho vất
vả... rồi cuộc đời tỵ nạn đầy mồ hôi, nước mắt). Anh
viết luôn những tánh xấu như khi làm Trùm ăn hối lộ, tham
nhũng... Nhưng Nguyễn Tấn Hưng thành thật hơn các bạn
khác khi anh can đảm viết về những cái tốt, cái hay của
mình, cùng vợ và con.
Người Việt Nam ta, mấy ngàn năm ảnh hưởng văn hóa Trung
Hoa nên sống khép kín. Ðiều gì thuộc về mình, vợ và
con cùng nhà cửa phải giấu thiệt kỹ và nếu cần phải nói
thì nên bỏ bớt đi, hạ thấp xuống. Nhà thì tệ xá, vợ
thì tiện nội, còn mình thì kẻ hèn nầy, bỉ nhân, tại
hạ... Thoạt nhìn thì như vậy là khiêm tốn nhưng xét ra
cho cùng là giả dối, thiếu sự thành thật. Con mình đẹp,
vợ mình đẹp tại sao lại phải giấu biệt đi, tại sao lại
nói xấu? Nhà mình lớn, sang trọng, tại sao lại nói nhỏ
hẹp, mình học giỏi, bằng cấp lớn tại sao phải nói ngược
lại? Tôi đồng ý với Nguyễn Tấn Hưng hoàn toàn khi anh
trình bày rất chính xác tài năng học hành anh đang có, cái
nhan sắc tươi mỡn đẹp như rau non mới hái ngoài vườn của
vợ anh và đứa con gái lớn xinh xắn, đẹp đẽ mà vợ chồng
anh sung sướng dẫn con đi dự giải tuyển lựa hoa hậu của
tiểu bang (truyện ngắn
Hoa Hậu Xứ Dương Ðào
trang 147).
Như vậy rõ ràng Nguyễn Tấn Hưng là nhà văn thành thực nhất
trong số những người thành thực. Anh đã vượt lên trên
sự khiêm tốn giả vờ của một quan niệm già nua, cũ kỹ đồng
thời điều nầy cũng xác nhận được tính cách hội nhập mau
chóng vào xã hội thực tế của đất Bắc Mỹ của anh. Và cũng
nhờ cái đặc tánh nầy, nền văn học Việt Nam ở hải ngoại
có được thêm một ngòi bút đặc biệt... khi chơn chất,
lúc bạt mạng, nói theo kiểu phê bình của Trần Vũ!
Riêng tôi, tôi yêu quí và trân trọng ngòi bút "khi chơn chất,
lúc bạt mạng" của ông Trùm Nguyễn Tấn Hưng biết bao nhiêu!
* Bài nói chuyện ra mắt sách
Một Nỗi Buồn Riêng
của Nguyễn Tấn Hưng tại Montréal ngày 17-10-1992.
back to top
23. MỞ CHO THI NHẠC TẬP MỘT THOÁNG TRONG MƠ
HÀ HUYỀN CHI
Ở buổi hội thoại tình cờ tại Florida, nơi nhà riêng
của người thơ nữ Thanh Hiền (có Thừa Phong, Bội Ðiệp, Hà
Trung Yên, Lê Bá Năng, Nguyễn Tấn Hưng, và một số văn,
thân hữu khác tôi không thể nhớ tên), câu hỏi được
nêu lên rất nổ: "Có khác biệt nào giữa một người viết
văn và một người làm thơ? Khi làm thơ thì tứ đi trước
hay từ đi trước?"
Ở người bạn văn, Thế Giang, tác giả
Thằng Người Có
Ðuôi
, thì vấn nạn ấy có chiều nhẹ nhõm hơn, dễ thương
hơn: "Thi sĩ các ông sướng thật, cứ là một mình một
ngựa, các ông ung dung sáng tác không cần bàn viết, và
đôi khi không cần cả giấy bút nữa. Nói thật, tôi ghen
với các ông đấy." Câu trả lời khi ấy là những tràng
cười ròn rã trên quầy rượu vào khuya đã vãn tửu khách.
Ở phát biểu của Viên Linh trên
Thời Tập
thì một nhà thơ
thất bại có thể thành công trong nghiệp văn, và chưa từng
có nhà văn thất bại nào đã tìm được chỗ đứng tốt trong
thơ. Cũng theo Viên Linh thì chỉ có người làm thơ mới chịu
bỏ nhiều thời gian cho việc loay hoay tìm tòi, mài chuốt một
từ ngữ chưa hoàn chỉnh, đắc vị.
Người viết văn nào cũng có lúc thử làm thơ. Nhưng số
người nặng lòng với thơ hơn, lưu trữ in thành thi tập,
vốn không nhiều. Trong giòng văn chương hải ngoại chúng ta
có:
Thơ Cao Tần
(bút hiệu khác của Lê Tất Ðiều),
Ðất Khách
của Thanh Nam,
Ta Thấy Hình Ta Những Miếu
Ðền
của Mai Thảo,
Thơ Tù
, và
Em, Tôi, Sài Gòn,
Hà Nội
của Duyên Anh... Và hôm nay, chúng ta có
Một
Thoáng Trong Mơ
của Nguyễn Tấn Hưng.
Những bài thơ Hưng đọc thấy rải rác trên các tạp chí
Văn,
Làng Văn, Sóng, Văn Học, Thế Kỷ 21, Ngày Nay, Ðẹp
,
v.v. không cho tôi một ấn tượng rõ nét. Bây giờ có dịp
ngồi đọc bản thảo thi tập
Một Thoáng Trong Mơ
, do tác
giả nhờ đề tựa, tôi đã có cái nhìn bao quát hơn về thơ
Nguyễn Tấn Hưng.
Cảm tưởng như giữa thơ và văn của Nguyễn Tấn Hưng đã có
chung một tâm thể, một lối nhìn, một cách diễn đạt.
Dường như thơ, trong quan niệm của Hưng chỉ là một thể
loại văn vần. Mỗi bài thơ là một tiểu truyện, dàn trải
theo khuôn nếp riêng. Không có những câu thúc về thể
thức, ném đi những quy luật âm ngữ, bằng trắc.
Nguyễn Tấn Hưng chưa tạo dựng được trong thơ anh sự cô
đọng và chiều sâu cần thiết. Tuy nhiên, thơ anh quả
nhiên là có nhiều chỗ khác người. Nơi những vần điệu
mộc mạc, bình dị của anh, người đọc đã thấy những lấp
lánh tỏa ra từ chữ nghĩa, cho những rung động, phản chiếu
bất ngờ:
Mưa thu lùa tâm bão
Gió thổi hạt mưa bay
Nhìn kia cơn sóng gợn
Ngập lụt hồn ai đây
...
(Mưa Thu, tr 46)
Hổm rày nhớ giọng khế chanh
Em ơi đừng nỡ giận anh suốt đời
...
(Lời Trần Tình, tr 66)
Em có biết vì tim anh em giữ
Nên đời anh là chuỗi thất tình si
...
(Tạ Từ, tr 79)
Trở lại cuộc mạn đàm văn chương đã có với Hưng ở Florida:
"Khi làm thơ thì tứ đi trước hay từ đi trước?" Câu hỏi
như một viên sỏi ném xuống mặt hồ, mà dư ba của vấn đề
đã vượt khỏi tầm giới hạn. Tôi đáp hồn nhiên theo phản
xạ: "Cả hai yếu tố trên đều có ưu điểm riêng của nó.
Miễn thơ hay là được."
Thí dụ một cách đơn giản hơn, thi sĩ làm thơ cũng giống
như một họa sĩ vẽ tranh. Hắn ta đứng trước khung vải đo
lường, phác thảo, bố cục trước khi vẽ: Ðó là tứ đi
trước, bởi hắn ta đã có sẵn chủ định là sẽ vẽ cái
gì, cách nào. Từ đi trước là khi hắn cao hứng ném đại
lên khung vải một hay nhiều tảng mầu khác nhau. Kế đó,
hắn soi ngắm và tùy nghi dựng lên cung điện nguy nga hay
vực sâu, biển chết, theo chất liệu mới khai phá, thu
nhận được từ vô thức. Ở thơ Hưng là tứ đi trước.
Nguyễn Tấn Hưng viết văn, Nguyễn Tấn Hưng soạn nhạc,
Nguyễn Tấn Hưng làm thơ, Nguyễn Tấn Hưng chọc cười...,
người sĩ quan Hải Quân đã nửa đời giao duyên cùng biển
cả, nửa đời gá nghĩa với văn chương. Tôi nghĩ rằng
Một Thoáng Trong Mơ
chỉ là một bến tạm trong hải trình
tiến đến sự toàn bích ở cõi thơ đích thực mà thuyền
trưởng Nguyễn Tấn Hưng đang giong buồm tìm gặp.
Lacey, tháng 10, 1991
back to top
24. ÐỌC NHẠC THƠ TẬP MỘT THOÁNG TRONG MƠ
ÐÀO HUY ÐÁN
Tôi xin giới thiệu với quý bạn tập thơ nhạc
Một
Thoáng Trong Mơ
của Nguyễn Tấn Hưng. Thơ nhạc vốn là
nghề tay trái
của anh trong lãnh vực văn học nghệ thuật.
Nghề tay trái
, đó chỉ là một cách nói, bởi vì anh
ít sáng tác thơ nhạc mà thường viết văn xuôi như truyện
ngắn, truyện dài, bút chiến, tiểu luận, và viết bạt
cho các tác phẩm của các văn hữu của anh.
Dù vậy, con người thơ và con người nhạc của anh vẫn có
những kẽ hở của thời gian để vươn vai đứng dậy, chững
chạc và tự tin, tung ra các chiêu thức ngoạn mục.
Tập thơ nhạc
Một Thoáng Trong Mơ
được nhà thơ Hà
Huyền Chi viết lời giới thiệu, nhận xét rất cảm thông
và cũng rất đứng đắn như sau:
Cảm tưởng như giữa thơ và văn của Nguyễn Tấn Hưng đã có
chung một tâm thể, một lối nhìn, một cách diễn đạt.
Dường như thơ, trong quan niệm của Hưng chỉ là một thể
loại văn vần. Mỗi bài thơ là một tiểu truyện, dàn trải
theo khuôn nếp riêng. Không có những câu thúc về thể
thức, ném đi những quy luật âm ngữ, bằng trắc.
Tập thơ có tám bản nhạc của Nguyễn Tấn Hưng được nhạc
sĩ dương cầm Linh Phương soạn hòa âm rất công phu như:
Chờ
(có thêm lời Anh ngữ),
Hè Nhớ, Mưa Thu, Ðổi
Ðời, Tình Muộn, Tiễn Anh Về Biên Khu, Biên Khu Chiều Gió
Lộng, Anh Ra Ði Nơi Này Ðã Chết
và một bản nhạc
Hóa
Thân
, thơ của tác giả được Phan Ni Tấn phổ nhạc.
Nhạc của Hưng không hẳn liệt vào nhạc thính phòng quý phái,
nhưng nó không nghèo nàn âm điệu như loại nhạc dân ca
Bole'ro
đã từng làm say lòng lớp quần chúng có thị hiếu
thấp kém. Dù có những bản theo thể điệu
Valse
, hay
Tango
, hay
Fox Moderato
, nhưng chúng không lọt vào
loại nhạc vũ trường. Ý nhạc thanh thoát đã làm cho chúng
nó có dáng dấp nhạc thính phòng, nhất là những bản theo
thể điệu
Boston
.
Thơ của Nguyễn Tấn Hưng có những câu đầy ngôn ngữ rất
thi ca, tức là những ngôn ngữ chỉ dành để cấu trúc cho
thơ. Chẳng hạn:
Tuyết thay mây phủ lưng đèo
Thoảng nghe tiếng suối chảy theo sườn đồi
Cội nguồn một chiếc lá rơi
Chim bay về xứ đứng ngồi không yên
(trích trong bài
Cửa Sổ
, trang 31)
hoặc:
Môi tim êm ả lời ru
Nhặt khoan tiếng vọng sương mù bủa vây
Môi đa tình thoáng ngất ngây
Nụ hôn trăng gió chợt bay vào hồn...
(trích trong bài
Giấc Mộng Hồng
, trang 77)
Nguyễn Tấn Hưng sử dụng linh hồn ca dao rất thiện nghệ. Anh
thường đưa tình ý, nhạc điệu ca dao vào những câu lục bát
một cách hồn nhiên, thi vị:
Tưởng rằng rau sắng Chùa Hương
Ai dè mướp đắng bên đường gửi sang
Tưởng đâu là lầu Ông Hoàng
Ai dè mộng vỡ tan hoang mấy tòa...
(trích bài hát nói
Tri Âm Thời Ðại
, trang 90)
hoặc:
Xa em độ vẳng tiếng ve
Không thời gian đó ai dè là đây
Phượng xin em thắm hè này
Cho anh gửi nhớ vơi đầy tiếng thơ
Mây xanh lơ, gió lẳng lơ
Ve than thở gọi nhện chờ mối ai
Tình xưa nghĩa cũ còn dài
Thương em thấy cảnh nhớ hoài ngàn năm
(trích bài
Hè Nhớ
, trang 31)
Một Thoáng Trong Mơ
đối với người thơ, nhưng lại
gieo một mối cảm hoài sâu sắc, đậm đà, dằng dặc vào
tâm hồn người đọc qua rất nhiều bài hoài hương, qua những
bài hoài cảm thân phận lưu vong, qua những bài tự trào, qua
những thắc mắc về siêu hình về cuộc đời phù ảo. Hướng
đi của thơ anh có nhiều lối rẽ ngoạn mục, với đủ mọi thể
thơ từ lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn, lục ngôn,
thất ngôn, tám chữ, thất ngôn bát cú, tự do, hát nói,
hài cú và cả tiếng Anh, đã đem lại cõi thơ anh nhiều màu
sắc và đa dạng.
Những bài hoài hương đặc sắc là
Huế
trang 53:
Bạn hỏi chiều nay dạo phố chăng?
Phú Văn Lâu, Bạch Hổ, Cửa Ngăn
Tóc thề gió nhẹ vương vào mắt
Choàng tay khẽ vuốt, em nói răng?
Thơ quê hương của Nguyễn Tấn Hưng vốn có những hình
ảnh rất gần gũi, rất thân thương, chẳng hạn như:
Nhớ về quê ngoại mà thương
Có cây mít ngọt như đường thoảng thơm
Bên hè vung ngọn cây rơm
Hương mùa lúa chín chén cơm trắng ngần
(trích bài
Tâm Sự Kẻ Ra Ði
, trang 52)
Bài thơ
Về Mỹ Tho
, trang 80 và trang 81 là một bài truyền
cảm nhất. Ở đây có nhiều địa danh như Vòng Nhỏ, Xóm Tre,
Rạch Miễu, cồn Phụng, đường Trưng Trắc, vườn hoa Lạc
Hồng, cồn Rồng, đại lộ Hùng Vương, trường Nguyễn Ðình
Chiểu, cầu Quay, chợ Cũ, khu Vườn Lài, sông Bảo Ðịnh,
dòng Tiền Giang, bến đò Ty Công An, chùa Vĩnh Tràng. Tôi
trích đoạn 6 và đoạn 7:
Có ai về Mỹ Tho
Nhớ theo sông Bảo Ðịnh
Thả trôi ra tận vàm
Tắm mát dòng Tiền Giang
Có ai về Mỹ Tho
Ðón đò Ty Công An
Hành hương chùa Vĩnh Tràng
Xin đốt giùm nén nhang...
Thơ viết về quê hương được tác giả sử dụng bằng ngôn ngữ
mộc mạc, đơn giãn, chẳng những gợi cảm m