Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Tập Lưu Niệm Từ Các Bằng Hữu: Một Dòng Lưu Bút

Nhiều Tác Giả



* * *

Mục Lục
01. Vào Tập cho Một Ðời Ðể Học - Mai Thảo 02. Ðài VOA - Ðiểm sách Một Ðời Ðể Học - Bùi Bảo Trúc 03. Làng Văn - Phỏng Vấn Nguyễn Tấn Hưng - Ðào Huy Ðán 04. Bạt cho Một Thuở Làm "Trùm" - Hồ Trường An 05. Ra mắt sách Một Thuở Làm "Trùm", Tác Giả - Nguyễn Thị Thanh Bình 06. Ra mắt sách Một Thuở Làm "Trùm", Tác Phẩm - Võ Ðình 07. Bên lề buổi ra mắt sách Một Thuở Làm "Trùm", Một Mảng Văn Học - Nguyễn Ngọc Bích 08. Ðiểm sách Một Thuở Làm "Trùm" - Trần Quán Niệm 09. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Hà Huyền Chi 10. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Thụy Khanh 11. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Thừa Phong 12. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Nguyễn Văn Thiệu 13. Dấu Ấn Văn Chương của Nguyễn Tấn Hưng - Lê Nhật Thăng 14. One Life Of Learning, Foreword - Dr. Sylvester Clifford 15. One Time As An Intelligence Officer, Forward - Dr. Sylvester Clifford 16. Tác Phẩm Anh Ngữ của Nguyễn Tấn Hưng - Nguyễn Vạn Lý 17. Bạt cho Một Cảnh Hai Quê - Võ Kỳ Ðiền 18. Bạt cho Một Kỷ Niệm Ðẹp - Lê Văn Lân 19. Nhân Ðọc Một Kỉ Niệm Ðẹp... - Trúc Huy 20. Tựa cho Một Lần Xuống Núi - Phạm Thăng 21. Tựa cho Một Nỗi Buồn Riêng - Nguyễn Tấn Hưng 22. Con người và Bút pháp của Nguyễn Tấn Hưng - Võ Kỳ Ðiền 23. Tựa cho Một Thoáng Trong Mơ - Hà Huyền Chi 24. Ðiểm sách Một Thoáng Trong Mơ - Ðào Huy Ðán 25. Xuân Thắm Quê Mẹ Phù Sa - Phù Vân 26. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Khải Chính 27. Nghiệp Dĩ, Thương tặng Nguyễn Tấn Hưng - Sĩ Liêm 28. Ðọc thơ Nguyễn Tấn Hưng - Nguyễn Hữu Nhật 29. Sóng - Phỏng Vấn Nguyễn Tấn Hưng - Ðào Huy Ðán 30. Bạt cho Một Trời Một Biển - Lê Bảo Trân 31. Nguyễn Tấn Hưng, Tâm Hồn Biển Lớn - Xuân Vũ 32. Giới thiệu tuyển tập nhạc Một Lần Ði, Anh Yêu - Nhật Ngân 33. Cảm đề tuyển tập nhạc Một Lần Ði, Anh Yêu - Thu Hồ 34. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Lê Dinh 35. Ðài VOA - Giới thiệu nhạc Nguyễn Tấn Hưng - Dương Ngọc Hoán 36. Nghe Nhạc Nguyễn Tấn Hưng - Nguyễn Ðức An (MD) 37. Nhạc Nguyễn Tấn Hưng - Võ Kỳ Ðiền 38. Ðài Little Saigon, Giới Thiệu Thơ Nhạc Nguyễn Tấn Hưng - Thúy An & Anh Dũng 39. Tựa cho tuyển tập nhạc Một Ðời Mỏi Mòn Trông - Lê Dinh 40. Bạt cho tuyển tập nhạc Một Ðời Mỏi Mòn Trông - Linh Phương 41. Giới thiệu nhạc Nguyễn Tấn Hưng - Trường Kỳ 42. Tựa cho Một Thoáng Trong Thơ - Phan Ni Tấn (N.D.) 43. Bạt cho Một Thoáng Trong Thơ - Phù Vân 44. Nguyễn Tấn Hưng, nhà văn của Miệt Vườn - Ngân Ðài 45. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Một Nữ Ðộc Giả 46. Bạt cho Một Giấc Mơ Tiên - Duy Lam 47. Một..., Một..., Một Nguyễn Tấn Hưng trong Một Giấc Mơ Tiên - Lê Văn Lân 48. Bạt cho Một Ngày Ðẹp Trời - Trần Quang Minh 49. Tựa cho Một Thoáng Hững Hờ - Hồ Trường An 50. Bạt cho Một Thoáng Hững Hờ - Sương Mai 51. Giới thiệu Một Thoáng Hững Hờ - Mai Hiền Lương 52. Tình Yêu trong Thơ Nhạc của Nguyễn Tấn Hưng - Phù Vân 53. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Trần Vấn Lệ 54. Văn - Phỏng Vấn Nguyễn Tấn Hưng - Triều Hoa Ðại 55. "Chụp Hình" Cuộc Sống, Sinh Hoạt Vào Văn Chương - Hứa Hoành 56. Ðề Nguyễn Tấn Hưng - Nguyễn Văn Sâm 57. Ðôi Lời Giao Cảm với Nguyễn Tấn Hưng - Nguyễn Văn Sâm 58. Bạt cho Một Vợ Một Chồng - Nguyễn Văn Sâm 59. Chữ Tình trong Một Thoáng Bơ Vơ - Tùy Anh 60. Văn Võ Song Toàn, Thay Lời Bạt - Hoàng Xuân Sơn 61. Nỗi Nhớ Qua 5 Tác Giả - Nguyễn Vy Khanh 62. Bạt cho Một Kiếp Nổi Trôi - Nguyễn Vy Khanh 63....
   back to top

01. VÀO TẬP CHO TRUYỆN DÀI MỘT ÐỜI ÐỂ HỌC

             MAI THẢO

     Từ thành phố Winston-Salem, một cùng đáy khuất lánh của tiểu bang North Carolina tôi chưa tới lần nào nhưng hình dung được sự cách biệt bằn bặt với mọi sinh hoạt chỉ có ở những vùng tập trung lớn, có một bàn viết từ nhiều năm trên quê người đã dựng. Dựng lại. Có một nhà văn thoạt tới Hoa Kỳ và trong lữ thứ đã viết. Viết lại. Cõi viết ấy nối tiếp với một khởi đầu đã có, rất tốt đẹp, ở quê nhà, chỉ bị gián đoạn bởi đại họa và đổi đời xẩy ra trên đất nước, đánh dấu nơi thân thế nhà văn bằng một giã từ vĩnh viễn những năm tháng lộng gió trên nghìn trùng sóng nước, bởi nhà văn ấy, trong quá khứ và trên suốt chiều dài cuộc chiến còn là một sĩ quan của Hải quân Việt Nam. Tôi muốn nói tới Nguyễn Tấn Hưng, cái bàn viết đã được dựng lại, tức khắc và trong một quyết tâm văn chương không lay chuyển không đổi rời của Nguyễn Tấn Hưng, ở Winston-Salem. Với hai tác phẩm mới hoàn thành là truyện dài Một Ðời Ðể Học và tập truyện Một Chuyến Ra Khơi mà vào tập thân ái này muốn giới thiệu cùng bạn đọc.

     Với California nơi tôi đang sống và như ở trên đã nói, North Carolina là một địa chỉ xa vời. Do vậy, tôi và Nguyễn Tấn Hưng vẫn chỉ có thư từ và điện thoại. Nhưng rút ngắn lại những đường đất và nối liền lại những xa cách, văn chương vẫn có được cho nó và cho người cái hiệu lực tuyệt vời như thế, và trên điểm này Nguyễn Tấn Hưng chưa gặp với tôi đã rất gần rất thân. Lại từ lâu kia. Nhà văn hải quân này, giữa hai lần về bến đã có truyện ngắn hay đăng trên Văn và đã nhiều lần tới thăm báo quán ở đường Phạm Ngũ Lão. Vượt biển, đi ra khỏi nước, gặp lại Văn tục bản ở Hoa Kỳ, qua một hợp tác viết và một kỷ niệm viết thân tình đã có với Văn từ quá khứ, Nguyễn Tấn Hưng đã gửi cho tôi gần như toàn bộ, toàn tập những bản thảo đã viết, mới viết của ông. Như gửi cho một diễn đàn bạn. Và đáp lại, qua những truyện ngắn của ông, lần lượt, đều đặn giới thiệu trên Văn, tạp chí đã dành cho Nguyễn Tấn Hưng một phần đất và một có mặt cũng thân tình như thế.

    

     Ðọc hết Một Chuyến Ra Khơi , đọc tiếp tới Một Ðời Ðể Học , tôi thấy được những gì? Thấy được mấy điều tôi cùng yêu mến. Trước hết là tấm lòng Nguyễn Tấn Hưng đối với văn chương, ở phía có văn chương. Ðó là hình thái của một gắn bó son sắt, thủy chung, qua thời gian không có nếp nhăn, qua đổi rời vẫn một đời bền vững. Ở được với văn chương như vậy đã là một ở đẹp. Ðẹp và đầy. Cái ở không nửa đường đứt gánh, không lúc còn lúc mất, nói cách khác, một thường xuyên ở, một mãi mãi cùng, tỏ hiện trong văn truyện Nguyễn Tấn Hưng thành một thống nhất và một liên tục viết trước sau không bao giờ thay đổi, mặc dầu thân thế người thì đã không biết bao nhiêu thăng trầm và đổi thay.

     Ðiều yêu mến thứ hai, cũng là điều cắt nghĩa tại sao, viết lại ngay cùng với bắt đầu lại đời sống trên quê người và viết rất đều tay, rất chuyên cần, tới giờ Nguyễn Tấn Hưng mới hoàn thành được xong hai tác phẩm. Ðó là cách viết, lối viết Nguyễn Tấn Hưng hết sức nghiêm chỉnh, kỹ lưỡng vô chừng. Và như thế với chính ông trước đã. Sáu năm tục bản Văn tôi đã gặp nhiều truyện ngắn thật hay. Nhưng ở một số, vẫn tiếc là nếu tác giả viết xong còn chịu khó đọc lại truyện mình, sửa chữa, một lần, nhiều lần, tới chuốt lọc văn thể và hoàn chỉnh bút pháp, như kỹ luật ấy bao giờ cũng có ở những nhà văn lớn, thì truyện đã hay còn được hay hơn gấp bội. Nên thường khuyên các anh em viết mới đừng bao giờ bằng lòng ngay với bản viết lần đầu. Mà đọc lại, sửa lại, viết lại nếu cần, châu đáo, từng giòng từng đoạn. Nguyễn Tấn Hưng không bao giờ phải nhận ở tôi lời khuyên ấy. Những bản thảo ông gửi đi, đánh máy rất đẹp, trang nào cũng hoàn chỉnh như một trang sách đã in cho thấy tính chất chung quyết của bản văn sau khi đọc lại nhiều lần, sửa chữa nhiều lần. Vậy mà còn có những truyện tôi nhận được rồi, vài tuần sau lại nhận được thêm bản mới, yêu cầu hủy bỏ bản cũ vì một đầu truyện, một cuối truyện vẫn thấy là chưa được và đã viết lại, có truyện so hai bản viết với nhau là một viết lại hoàn toàn. Tôi rất ưng ý về nổ lực không ngừng đạt tới hoàn chỉnh ấy của Nguyễn Tấn Hưng. Thấy đó là một phong cách nhà văn.

     Ðiều yêu mến sau cùng, lớn hơn hai điều yêu mến trước, là mặc dầu đã mười mấy năm trôi dạt, một trôi dạt rất dễ dàng đẩy vào thất lạc, mặc dầu Việt Nam đã nghìn dặm, quê nhà đã nghìn trùng, bàn viết Nguyễn Tấn Hưng, giữa thổ ngơi lữ thứ xa lạ, vẫn đặt được vào đúng hướng đúng tầm với giống nòi và đất nước ở xa. Không bao giờ tôi xa, chẳng bao giờ tôi quên, chẳng bao giờ tôi khác. Thế giới có nghìn biển nghìn trời nhưng tôi chỉ có và chỉ sống với một trời một biển. Toàn bộ văn truyện Nguyễn Tấn Hưng đã nói cho Nguyễn Tấn Hưng như vậy. Nói một Việt Nam toàn phần, trong tâm trong hồn. Nói một đất nước vẫn hơi thở vẫn máu hồng, trong lòng trong dạ. Dùng một hình ảnh của đại dương, trên đó có đời sống, quá khứ và trí nhớ Nguyễn Tấn Hưng trải rộng, thì là một hải trình dẫu đêm tối và giông bão, dẫu phương hướng mịt mùng và sơn cùng thủy tận, hải trình ấy vẫn từ một bến đậu và trở về bến đậu.

     Những người dân lành của một vùng biển mặn và những kinh động từng lúc của chiến thời dài thẳm trong Giòng Sông Của Tùng . Người lính trẻ, cái khuôn mặt diễm lệ tan nát của tình yêu, giữa những vui buồn đầu đời làm thành kỷ niệm, làm thành vốn sống, trong Thành Phố Và Quân Trường . Những hình ảnh, những cảnh tượng khác của cuộc chiến tới một thời kỳ đã kín trùm thân thế, lửa đạn, cái chết và tuyến đầu đỏ lửa bên cạnh điếu thuốc lá và chai rượu mạnh của đời sống thường nhật, trong Mùa Ðông Và Con Ðường . Mưa, gió, những con đường lầy lội, sự buốt lạnh của trời đất hợp nhập với sự buốt lạnh của lòng người trong Chỗ Hẹn . Ðịa danh những hải trình, bến bờ những giòng sông trong Bến Cạn , trong Hạm Trưởng Và Ngọc . Tôi vừa dẫn chứng một số truyện trong Một Chuyến Ra Khơi . Rồi tới toàn thể những tháng năm, những chặng đoạn đã trải qua và kể lại trong Một Ðời Ðể Học . Ðể chứng về cái bến đậu một đời không rời bỏ của Nguyễn Tấn Hưng, với một bàn viết dựng ở đâu thì cũng là phần đất quê hương, với một hướng viết hướng tới hướng nào thì cũng từ một tâm thể Việt Nam mà viết.

     Ðiều muốn nói cuối chót với vào tập: trí nhớ Nguyễn Tấn Hưng lấp lánh, thật tốt. Chưa lọt, chưa trùng. Ở từng cái nhỏ, ở từng chi tiết. Nhưng để tới được một thể hiện trong sáng và tốt đẹp ở văn chương, nó còn thiếu cho nó một xếp đặt tinh tế, một gạn lọc cần thiết. Một khoảng cách nữa, để thấy rõ hơn và lớn rộng hơn, từng đối tượng. Bởi chưa nên ở nhiều đoạn, nhiều khúc là những rối rắm, những chen lẫn không ăn nhập của một trí nhớ quá chồng chất, thêm vào là những ngắt đoạn, chuyển đoạn, đảo lộn trật tự thời gian sử dụng hơi nhiều, khiến người đọc khó theo dõi, khó tiếp nhận, và không phân nhận được đâu là những phần chính yếu tác giả muốn dừng lại và những phần thứ yếu muốn chỉ lướt nhanh qua.

     Khuyết điểm nhỏ này chỉ là một khuyết điểm kỹ thuật, rất khó tránh ở các tác phẩm đầu. Và cũng rất dễ khắc phục, nhất là với Nguyễn Tấn Hưng mà mối quan tâm hàng đầu là tạo cho văn thể mình càng ngày càng tới được vững vàng và hoàn chỉnh. Như chính ông đã nói với tôi nhiều lần. Văn chương đã ra khơi rồi. Thân ái chúc Nguyễn Tấn Hưng còn đưa nó tới được thật nhiều những bến bờ tốt đẹp.

   back to top
play audio

02. ÐÀI VOA, VĂN HỌC VIỆT NAM HẢI NGOẠI, MỤC ÐIỂM SÁCH: MỘT ÐỜI ÐỂ HỌC

             BÙI BẢO TRÚC thực hiện

     Intro: Sau đây là mục Văn Học Việt Nam Hải Ngoại.

     P. Lan: Trong mục Văn Học Việt Nam Hải Ngoại do Bảo Lâm phụ trách, chúng tôi xin gửi quý thính giả bài giới thiệu cuốn Một Ðời Ðể Học của Nguyễn Tấn Hưng do Làng Văn xuất bản.

     B. B. Trúc: Một Ðời Ðể Học là truyện dài đầu tiên của Nguyễn Tấn Hưng do Làng Văn xuất bản tại Gia Nã Ðại hồi cuối năm 1988. Nhưng đây không phải là lần đầu ông ngồi xuống bàn viết. Nguyễn Tấn Hưng đã có những truyện ngắn đăng trên tạp chí Văn của Mai Thảo hồi Văn còn đặt báo quán ở đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn trước năm 1975, rồi sau chuyến đi rời khỏi Việt Nam, và sau khi nhà văn Mai Thảo tới Hoa Kỳ và làm sống lại tạp chí Văn , Nguyễn Tấn Hưng đã viết lại cho tờ báo văn học này ngay từ trong những số Văn đầu tiên ở hải ngoại. Nguyễn Tấn Hưng, theo Mai Thảo, "đã có một hình thái của một gắn bó son sắt, thủy chung, qua thời gian không có nếp nhăn, qua đổi rời vẫn một lòng bền vững... không nửa đường đứt gánh, không lúc còn lúc mất, nói cách khác, một thường xuyên ở, một mãi mãi cùng, tỏ hiện trong văn truyện của Nguyễn Tấn Hưng thành một thống nhất và liên tục viết trước sau không bao giờ thay đổi, mặc dầu thân thế của người thì đã không biết bao nhiêu thăng trầm và đổi thay."

     P. Lan: Thăng trầm, những chữ này tả thật đúng cuộc đời của Nguyễn Tấn Hưng, ít nhất là cuộc đời trước năm 1975 của ông, cuộc đời gắn liền với hai chữ thăng là nổi và trầm là chìm hiểu theo những nghĩa đúng nhất của hai chữ đó. Cuộc đời chìm nổi của Nguyễn Tấn Hưng bắt đầu từ lúc chiếc dương vận hạm Cam Ranh, HQ 500 ủi bãi trước vòng thành của Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang sau hai ngày lênh đênh trên mặt biển, chở những tân khóa sinh sĩ quan khóa 17 đến trường. Ðại úy Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Tấn Hưng ở với sông rạch, biển ngòi Việt Nam từ ngày ra trường cho mãi tới năm 1975.

     Nguyễn Tấn Hưng sinh năm 1945 ở Mỹ Tho, học đại học khoa học ở Sài Gòn dở dang, và cũng chính cái dở dang này đã bắt ông trở lại đại học ở nửa đoạn đời sau để thành suốt một đời mài mòn đũng quần ở ghế đại học, một nét đậm trong đời sống của ông và sau đó đã trở thành tựa đề của cuốn truyện dài đầu tay Một Ðời Ðể Học.

     B. B. Trúc: Truyện dài Một Ðời Ðể Học là một thứ tự truyện, một thứ tự truyện tiểu thuyết, một thể văn chương từng là đề tài tranh luận của một số các nhà văn Việt Nam ở miền Tây Hoa Kỳ cách đây không lâu. Một số cho rằng đã là tự truyện thì chỉ có những sự kiện đích thực mới nên được viết xuống. Vì thế không thể có một thể loại văn chương nào được coi là tự truyện tiểu thuyết. Một số khác thì cho rằng tiểu thuyết là sáng tạo, là một đặc tính của văn chương. Bởi thế, nếu tự truyện mang tính chất của văn chương thì nó phải có phần sáng tạo, và do đó, nó phải là tự truyện tiểu thuyết. Nếu không nó sẽ chỉ là một chuỗi những con số, những ngày tháng và những chi tiết của một đời sống. Một nhà văn người Mỹ, John Doctorow, một lần có nói rằng gần như tất cả mọi truyện ngắn, truyện dài dù viết như thế nào đi chăng nữa, đều có một hình thức tự truyện ở trong.

     Cuốn Một Ðời Ðể Học là một thứ tự truyện tiểu thuyết trong ý nghĩa văn chương của cuốn sách. Nhân vật Hùng trong truyện có lẽ chỉ khác với nhân vật Hưng ngoài đời có một cái dấu trên chữ U. Nói theo lối học vỡ lòng của các em bé thì Hùng có dấu HUYỀN, còn Hưng thì có râu. Những người biết Nguyễn Tấn Hưng ở ngoài đời chắc chắn sẽ đồng ý với chi tiết vừa kể để phân biệt nhân vật Hùng trong truyện và nhân vật Hưng, tác giả cuốn sách ở ngoài đời.

     P. Lan: Cũng như Nguyễn Tấn Hưng ở ngoài đời, Hùng ra đời đúng năm đệ nhị thế chiến chấm dứt ở Mỹ Tho, một tỉnh nổi tiếng ở miền Nam, tỉnh mà có một số người, nhất là những người sinh trưởng ở miền Bắc vào sinh sống ở miền Nam và suốt đời không ra khỏi cầu Bến Lức, thì những hiểu biết về miền Nam chỉ vỏn vẹn là những địa danh của tỉnh Mỹ Tho, những địa danh trở thành quá quen thuộc trong thời chiến, những địa danh mới nghe thì khó chịu vì cái nét thiếu văn vẻ của nó nhưng nghe lâu thành quen, đến khi lâu không được nghe thì như thiếu vắng, mất mát đi một phần của đời sống. Những Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Bến Tranh, Chợ Gạo, Vườn Lài, Chợ Cũ, Bến Tắm Ngựa, Cầu Chà Và, Bến Xe Cũ, Bến Xe Mới, Vòng Nhỏ, Vòng Lớn... những cái tên thật giống như một thứ trái cây miền Nam, trái sầu riêng, chưa biết thì không có gì để tiếc nhớ, nhưng đã biết, đã gần gũi, đã quen thân thì người ta không thể nói và nghĩ về chúng bằng một cách bình thản, thiếu nhiệt tình được. Nguyễn Tấn Hưng đã viết những trang đầu tuyệt vời về nơi chốn cũ đó, của một giai đoạn đẹp trong đời sống, của những năm mới lớn "mười lăm, mười bẩy, tuổi học trò mắt sáng với môi tươi," của Ðinh Hùng, một belle époque của mỗi người trong chúng ta, một đoạn đời chúng ta vẫn quay ngó lại với rất nhiều tiếc nhớ, cái đoạn đời của lứa tuổi lo chưa tới đó. Hùng, cậu học trò nhỏ của Mỹ Tho rời thành phố nhỏ đó lên Sài Gòn ăn học, và những đẩy đưa của cuộc sống cuối cùng đã đưa chân Hùng lên cầu tầu của chiếc dương vận hạm HQ 500. Một cuộc đời khác bắt đầu khi Hùng tập đi lại những bước đầu khởi bằng chân trái. Và ở đoạn người sinh viên sĩ quan tên Hùng tốt nghiệp trường Hải Quân Việt Nam thì cũng là lúc nhân vật Hùng trong truyện và Hưng ở ngoài đời bắt đầu nhập lại thành một. Hùng, ngôi thứ ba số ít trở thành ngôi thứ nhất từ đó cho đến trang cuối của cuốn sách. Những chương kế tiếp kể lại cuộc sống trên sông rạch, biển khơi của một sĩ quan hải quân, những khoảng thời gian làm tình báo, rồi khoảng thời gian tác chiến của người sĩ quan trẻ tuổi. Năm 1975, tác giả rời Việt Nam sang sống tại Hoa Kỳ và lại một giai đoạn ra khơi khác bắt đầu sau những năm tiểu học lên trung học, rồi đại học, rồi ở trường hải quân, những năm nổi trôi bềnh bồng sông biển trên các chiến hạm.

     B. B. Trúc: Nguyễn Tấn Hưng đã viết về những chuyến hải trình của ông, những chuyến ra khơi liên tiếp không ngừng ấy thành những trôi dạt của mười mấy năm, những trôi dạt mà Mai Thảo cho là "dễ dàng đẩy vào thất lạc, quê nhà đã nghìn trùng, bàn viết của Nguyễn Tấn Hưng, giữa thổ ngơi xa lạ, vẫn đặt được vào đúng hướng, đúng tầm với giống nòi và đất nước ở xa. Không bao giờ tôi xa, chẳng bao giờ tôi quên, chẳng bao giờ tôi khác. Thế giới có nghìn biển trời nhưng tôi chỉ có và chỉ sống với một trời, một biển. Toàn bộ văn chương Nguyễn Tấn Hưng đã nói cho Nguyễn Tấn Hưng như vậy. Nói một Việt Nam toàn phần, trong tâm trong hồn. Nói một đất nước vẫn hơi thở vẫn máu hồng, trong lòng trong dạ. Dùng một hình ảnh đại dương, trên đó có đời sống, quá khứ và trí nhớ Nguyễn Tấn Hưng trải rộng, thì là một hải trình dẫu có đêm tối và giông bão, dẫu có phương hướng mịt mùng và sơn cùng thủy tận, hải trình ấy vẫn từ một bến đậu trở về bến đậu."

     Cuốn sách của ông là một trong những cuốn sách đáng đọc của năm 1989.

     P. Lan: Quý thính giả vừa theo dõi bài giới thiệu cuốn Một Ðời Ðể Học của Nguyễn Tấn Hưng. Mục Văn Học Việt Nam Hải Ngoại do Bảo Lâm phụ trách sẽ trở lại hầu truyện với quý vị vào tuần tới cũng vào giờ này.

     ÐÀI VOA
     Phát thanh vào ngày 9 tháng 5, 1989

   back to top

03. LÀNG VĂN - PHỎNG VẤN NGUYỄN TẤN HƯNG

             ÐÀO HUY ÐÁN

             (Thực hiện cho báo Làng Văn , số tháng 3 1989)

     Ð.H.Ðán : Xin anh cho biết qua một chút tiểu sử.

     N.T.Hưng : Tôi tên là Nguyễn Tấn Hưng, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1945 tại làng Bình Phục Nhứt, quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho; là con của ông Nguyễn văn Sỏi và bà Võ thị Trang; hiện cư ngụ tại... Mỹ. Trân trọng đệ đơn này kính xin ông Chánh Lục Sự tòa Sơ Thẩm Mỹ Tho... Anh thấy đủ chưa? Hay phải thêm... trong khi chờ đợi sự chấp thuận của anh mong anh nhận nơi đây lòng thành kính và biết ơn của tôi...

     Nếu nói rõ hơn thì tôi xuất thân từ trường Nguyễn Ðình Chiểu, Mỹ Tho. Xong tú tài 2, lên Sài Gòn ghi danh lớp Toán-Lý-Hóa (MPC, Math-Phy-Chem) ở phân khoa Khoa Học. Vì thi ngành rớt lịch bịch. Hai năm đại học không làm nên trò trống gì, tôi bèn đi lính. Khóa 17 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Ra trường đi tàu một thời gian rồi trở về trường Cây Mai học tình báo. Làm sĩ quan tình báo trong Hải quân cho đến ngày mất nước.

     Chạy sang Mỹ tôi đi học trở lại. Bắt đầu từ lớp cán sự điện tử ở trường Western Iowa Tech tại Sioux City, tiểu bang Iowa. Xong, chuyển trường học lên ban kỹ sư ở University of Nebraska tại Omaha, tiểu bang Nebraska. Ra trường vừa đi làm cho Western Electric (bây giờ đổi thành AT&T), vừa tiếp tục học lên ban cao học ở North Carolina A&T State University tại Greensboro, tiểu bang North Carolina. Xong bằng Master, bây giờ lăm le, ... chỉ mới lăm le thôi, định giựt luôn cái Ph. D. ở North Carolina State University thuộc tiểu bang nhà, bằng cuối cùng của người học trò cho trọn kiếp Một Ðời Ðể Học . Ðó, thân thế tôi chỉ có vậy.

     Ð.H.Ðán : Một Ðời Ðể Học đã xuất bản và Một Chuyến Ra Khơi sắp xuất bản có phải là những quyển tiểu thuyết tự truyện (romans autobiographiques) của anh không? Vì sao anh xây dựng nó? Anh muốn gửi gấm tâm sự gì trong 2 tác phẩm đó?

     N.T.Hưng : Như tôi vừa mới nói sơ sơ thì anh đủ biết phần lớn truyện tôi viết là tự truyện. Mà cũng lạ, những tự truyện của tôi lại "ăn khách" hơn là những truyện tôi dựng lên từ đâu đâu. Chính vì vậy phải nói vô tình tôi đã tìm ra chân lý. Cái chân lý có thể chỉ đúng với riêng tôi mà thôi, chưa chắc đã đúng với bất cứ một người nào khác. Thế là tôi khoan thai tiếp tục bước lên con đường có chút đỉnh thành công: con đường viết thực với lòng mình. Không cần phải mất công tiểu thuyết hóa cuộc đời này làm chi cho nó thêm rườm rà mà chẳng lợi lộc, bổ ích vào đâu. Anh hỏi tôi vì sao tôi xây dựng Một Ðời Ðể Học Một Chuyến Ra Khơi ? Thật ra tôi nào có xây dựng một cái gì. Chuyện đã có sẵn, tôi chỉ kể lại mà thôi. Cuộc đời của mỗi người chúng ta há chẳng phải là mỗi bộ trường thiên tiểu thuyết? Tôi chỉ được cái may mắn là có khiếu viết thành văn để mọi người cùng chia xẻ những buồn vui, những gian truân phấn đấu để vươn lên của một đời người. Thì cũng giống giống như hầu hết những đời người khác thôi, hình như ai ai rồi cũng phải trải qua những giai đoạn bôn ba, lặn lội. Ðó không phải là những tâm sự tôi đã hết lòng gửi gấm vào truyện của tôi sao?

     Ð.H.Ðán : Anh nghĩ sao về quê hương của anh? Về tỉnh Mỹ Tho, nơi mà anh tìm chất liệu và cảm hứng cho văn chương?

     N.T.Hưng : Nhắc tới Mỹ Tho thì ôi thôi đối với tôi còn nhiều chuyện để mà kể, nhiều truyện để mà viết lắm. Tôi đang để dành, lâu lâu đem ra ngắm một cái, sờ một cái cho thỏa lòng. Dung nhan, tiếng nói và tâm tình của quê hương Mỹ Tho, từ thành thị đến thôn quê, như đã ăn sâu vào tâm hồn tôi tận xương tủy. Chặt không đứt bứt không rời. Nhất là thành phố Mỹ Tho. Chỉ vì tôi có một thời gian dài xa nhà trọ học, nên khắp hang cùng ngõ hẻm hầu như tôi đều đã đặt chân tới. Trong cái thú đi hoang. Ðám bạn có gia đình tại tỉnh làm gì có được cái diễm phúc này. Nhưng nói anh nghe, tôi không dám ôm đồm hết về phần mình đâu, phải chia chát cho anh em nữa chớ. Mà cũng lạ một điều là phần lớn những người cầm bút gốc miền Nam ở hải ngoại đều đã có một thời sống với Mỹ Tho. Anh Huỳnh Hữu Cửu là cựu học sinh trung học Le Myre de Vilers , tức Nguyễn Ðình Chiểu vào thời Pháp. Các anh Hồ Trường An, Kiệt Tấn cũng là cựu học sinh trường Ông Ðồ, viết nhiều truyện về tuổi nhỏ, về những mối tình học trò hay không chỗ chê. Còn anh Nguyễn văn Sâm thì đặc biệt hơn nhiều. Anh không thích làm một môn sinh thuần túy dưới mái trường thân yêu cổ kính này đâu, anh đòi... được làm thầy. Rồi các anh Phạm Thăng và Nguyễn văn Ba đều có bạn thân ở Mỹ Tho, tới chơi hà rầm. Cũng dám tắm sông chỗ chiếc tàu chìm và cũng dám băng qua cồn Rồng đi hái mận. Ngay cả ông Võ Phiến thàng hậu cũng biết nhiều về Mỹ Tho, vì có người cậu làm Sở Hỏa Xa, lúc Mỹ Tho còn đường rầy xe lửa... Nhưng tôi hết sức đau buồn là nghe nói Mỹ Tho bây giờ tiêu điều dữ lắm, không còn là một thành phố êm đềm mà tôi đã tìm chất liệu và cảm hứng cho văn chương như anh nói nữa đâu!

     Ð.H.Ðán : Xin anh cho biết nếp sống ở nơi anh định cư. Và nếu có thể được, xin anh cho biết "Một ngày của Nguyễn Tấn Hưng," để độc giả hiểu rõ anh hơn.

     N.T.Hưng : Thành phố tôi đang ở rất ít người Việt, chỉ độ khoảng hai mươi gia đình. Phần đời sống bên này tự nó đã tạo nên sự cách biệt và phần không mấy ai cùng chí hướng với tôi cho nên hoạt động cộng đồng nói chung, sinh hoạt văn nghệ nói riêng coi như không có. Một ngày của Nguyễn Tấn Hưng lại buồn hơn. Nếu không viết lách chút đỉnh thì không biết tôi phải làm cái gì sau tám giờ làm việc ở sở. Coi bộ nó khác một trời một vực nếu đem so sánh với đời sống bên Cali anh Ðán hả?

     Ð.H.Ðán : Anh nghĩ gì về những tờ tạp san văn nghệ đứng đắn ở hải ngoại như Văn, Văn Học, Làng Văn ? Xin nói những đặc điểm của ba tờ này.

     N.T.Hưng : Tôi đã dan díu với Văn từ hồi ở Việt Nam, cho nên qua bên này tôi làm lại cuộc đời cũng từ Văn . Biết được Văn tục bản ở hải ngoại là một sự hết sức tình cờ. Trong một chuyến du lịch thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, chính lúc chờ vợ tôi lựa hàng tôi phát hiện ra một sạp báo. Và tôi bồi hồi thấy cuốn Văn . Trời ơi, cũng một vóc dáng như ngày nào. Nhưng, tổng thư ký tòa soạn bây giờ là ông Mai Thảo (kiêm chủ nhiệm, chủ bút) chớ không phải Trần Phong Giao... Thế là một nối tiếp lại bắt đầu. Sau đó chẳng bao lâu tôi biết Làng Văn là nhờ trang quảng cáo một cuốn sách của anh Nguyễn Ngọc Ngạn trên Văn . Còn Văn Học thì do một người bạn ở San Jose giới thiệu. Bài vở trên Văn , theo tôi nghĩ, thì cũng chẳng kém phong độ khi xưa bao nhiêu. Làng Văn hơi nghiêng về những sáng tác đấu tranh chính trị và tình tự quê hương, ít thấy những bài negative . Còn Văn Học thì hơi nghiêng về biên khảo, với nhiều bài nghiên cứu tuy khô khan nhưng rất công phu và rất có giá trị. Nói vậy chớ những nhận xét này cũng chỉ có tính cách nhất thời mà thôi. Ðiều đáng nêu lên là không ai có thể phủ nhận sự đóng góp hết sức lớn lao của ba tờ báo này vào nền văn học hải ngoại. Bởi thế, ngày nào tôi thấy bài của mình có đăng trên những tờ báo này là ngày ấy tôi vui.

     Ð.H.Ðán : Theo anh, một tác phẩm văn chương đúng nghĩa ra sao?

     N.T.Hưng : Ý anh muốn nêu lên sự khác biệt giữa một tác phẩm văn chương thuần túy với một quyển tiểu thuyết ba xu hay một cuốn dâm thư? Ðiều này thì hiển nhiển tùy thuộc vào quan niệm đọc của độc giả nhiều hơn. Dưới mắt người này có thể là những giá trị văn chương, nhưng dưới mắt người kia có thể chỉ là những hình thức câu độc giả. Tục mà thanh và thanh mà tục, khó lòng giải thích lắm.

     Ð.H.Ðán : Nếu tôi không lầm, Nguyễn Tấn Hưng là một nhà văn viết dồi dào mà thận trọng. Anh nghĩ sao về nhận xét này? Anh thuộc trường phái nào?

     N.T.Hưng : Dồi dào thì chẳng biết có dồi dào thiệt hay không, đường dài mới biết ngựa hay. Tôi mới sải vài ba vó thì sớm quá để khẳng định điều này. Tôi chỉ sợ mình peak , rồi từ từ tuột dốc hồi nào không hay. Còn thận trọng thì chẳng qua chỉ là cái thói quen hay sửa bài của tôi thôi. Bây giờ có lẽ không riêng gì ông Mai Thảo mà các anh Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Hữu Nghĩa... cũng đều biết cái thói quen lâu ngày thành tật này của tôi. Nói anh nghe anh đừng cười là ở giai đoạn đầu, cái tật này phát hiện chỉ vì sự nghi ngờ tài năng của mình. Số là bài tôi gửi về Văn cho ông Mai Thảo mà bị ổng "ngâm tôm" thì tôi đoán chắc là trong đó có cái gì không ổn, trục trặc. Bèn đọc lại, sửa lại, và có khi viết lại. Mỗi lần làm vậy thì mỗi lần ông Mai Thảo lại đăng. Thành thử tôi hay đọc lại bài tôi viết. Kinh nghiệm bản thân cho biết và đúng như lời ông Mai Thảo đã nói, mỗi lần sửa là mỗi lần bài hay thêm. Các bạn văn nếu ai không tin cứ khơi khơi làm thử một lần thì rõ. Nhiều lần tôi bất chợt tự hỏi: tại sao ở chỗ này, ngay lúc đó mình viết tệ như vậy. Nhưng không phải sửa hoài hay hoài, một hai lần là trở nên... chán ngắt. Sau này tại vì tôi biết làm typesetting nên thiếu sót một chi tiết hay sai một chữ, thú thiệt, không sửa tôi chịu không nổi. Hóa ra chuyện "xuất bút thành văn" thì chỉ dành cho những ai có thiên tài về văn chương thôi, còn như tôi thiệt tình có tốn công gọt dũa đó. Nói như vậy thì theo anh, anh xếp tôi vào trường phái nào đây?

     Ð.H.Ðán : Trong các tác phẩm anh có bao nhiêu phần trăm sự thật? Và nếu tôi không lầm, anh giữ nguyên tên các nhân vật mà anh cho vào truyện của anh như bà Lê thị Bất Tri chẳng hạn.

     N.T.Hưng : Tỷ số sự thật trong tác phẩm của tôi có lẽ hơi cao. Riêng cuốn Một Ðời Ðể Học thì trên 90 phần trăm là cái chắc. Tất cả nhân vật phụ, Việt cũng như Mỹ, đều là tên thiệt, người thiệt. Ngoại trừ nhân vật chính. Anh làm tôi hơi giựt mình khi đặt điều hỏi về bà Lê thị Bất Tri. Mấy chị Bất Tri, Bất Minh... đã nổi danh một thời con nhà nghèo học giỏi, vậy mà ngay cả ở Mỹ Tho cũng ít người nhắc tới. Người ta hay đề cập đến tên Hải Ðường bởi cái án mạng vì tình rùng rợn ở khu Hãng Xáng. Tôi thấy không công bằng nên tôi lôi mấy chị ấy vô.

     Ð.H.Ðán : Trong các nhà văn V.N. anh thích những ai? Lý do? Và trong các nhà văn quốc tế, anh thích những ai? Lý do?

     N.T.Hưng : Hồi còn đi học trung học tôi thích đọc các nhà văn trong nhóm Tự Lực văn đoàn vì cô và thầy hay khuyến khích làm tập đọc sách. Tập đọc sách là tập viết lại sơ lược cốt truyện của những sách mà mình đã đọc. Cách trình bày, vẽ rồng vẽ rắn trong đó cũng được chấm điểm nữa. Sau này lớn lên tôi thích đọc những cây bút gốc miền Nam như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam... và những nhà văn viết trên tập san Văn . Tuy nhiên, hễ gặp những gì quá sâu xa, triết lý thì tôi rất sẵn sàng làm lơ. Về các nhà văn ngoại quốc thì tôi chỉ đọc những cuốn tiêu biểu mà hình như ai cũng đọc hết mà thôi. Ðại khái như Vô Gia Ðình của Hector Malot, Những Kẻ Khốn Cùng của Victor Hugo, Lão Ngư Ông Và Biển Cả của Ernest Hemingway, Tình Nghĩa Vợ Chồng của Leon Tolstoi... vv. Ngoài các bộ truyện Tàu như Tam Quốc Chí, Thủy Hử..., tôi còn đọc truyện kiếm hiệp của Kim Dung, truyện liêu trai ma quái của Bồ Tùng Linh, truyện ngắn của Ba Kim. Lẽ dĩ nhiên toàn là sách dịch chớ tôi chưa đủ khả năng đọc nguyên tác.

     Ð.H.Ðán : Anh sinh trưởng ở miền Nam, có ấn tượng sâu đậm về quê hương tuổi nhỏ, và đã dàn trải ký ức của mình trong tác phẩm một cách sống thực, xin anh cho biết có một phương pháp nào, hoặc áp dụng kỹ thuật nào, hay chỉ viết một cách tự nhiên theo xúc động tình cảm của mình?

     N.T.Hưng : Ðó chẳng qua là sự thành công chung của những cây viết gốc miền Nam. Và đó cũng là chân lý mà tôi đã tìm ra sau nhiều lần thất bại khi bắt mình quá tiểu thuyết hóa truyện của mình.

     Ð.H.Ðán : Theo dõi các trang truyện trong Một Ðời Ðể Học mới xuất bản, tôi nhận thấy một cách thú vị rằng thành phố anh đang sống, so với nhiều nơi khác ở Hoa kỳ, cũng giống như một thành phố nhỏ so với Sài Gòn ngày trước. Xin anh cho biết thêm một tí về phong thổ, con người và cõi lòng riêng anh đối với ngoại cảnh ấy, và cảm xúc của anh khi bất chợt bắt gặp một vài hình ảnh quê hương trên vùng đất tạm dung của anh.

     N.T.Hưng : Ở Mỹ này đi đâu tôi cũng thấy những hình ảnh quê hương, những cây ổi tàu của ông Võ Phiến, là tại vì tôi bắt mình chịu khó nhìn xứ Mỹ với cặp mắt màu nâu. Tôi muốn mình như một sinh viên du học. Du học có ngày về. Ðể bắt chước ông Doãn Quốc Sỹ viết thêm những Sầu Mây khác. Trong nỗi nhớ nhung hướng về đất Mẹ. Tôi không muốn mình bị lai Mỹ, tôi chưa muốn mình bị đồng hóa. Và may mắn thay, tôi đã tìm được những gì tôi muốn nhìn. Những thành phố nho nhỏ giống như những quận lỵ, tỉnh lẻ thân tình của quê hương Việt Nam. Nhất là ở South Dakota đất rộng người thưa, diện tích không thua gì các tiểu bang lớn mà dân số không hơn bảy trăm ngàn. Vẫn còn nồng nàn bản tánh hiền lành chất phác của người nông dân lam lũ. Ðời sống có vẻ hơi... lạc hậu, nhưng thanh bình. Phù hợp với bản chất gốc miền Nam của tôi, không thích đua đòi bon chen. Chính vì vậy mà tôi muốn đưa vào truyện những hình ảnh đơn sơ đượm nét quê nhà, những tâm tình mộc mạc hồn nhiên đó. Chỉ tiếc rằng vùng này không có job cho tôi.

     Ð.H.Ðán : Anh vừa viết văn và làm thơ. Vậy xin anh cho biết thơ anh ở vào trường phái nào?

     N.T.Hưng : Trường phái "Thơ thẩn." Không biết do ai sáng lập, nhưng anh cũng biết trường phái này lớn lắm, qui tụ hầu hết các nhà văn... thỉnh thoảng quay ra làm thơ. Thơ của tôi được coi như là những sáng tác từ cánh tay trái của nghề tay trái mà thôi. Không đủ ý thơ, tứ thơ mà ông Nguyễn Hưng Quốc thường nói đâu.

     Ð.H.Ðán : Anh nghĩ sao về ngôn ngữ của thi ca qua các thời đại?

     N.T.Hưng : Anh phải đợi tới chừng nào tôi chuyển thơ qua tay phải thì tôi mới nói cho anh nghe thông suốt được. Bây giờ thì ngôn ngữ thi ca qua các thời đại đối với tôi chính là những câu ca dao, những câu phương ngôn tục ngữ vậy.

     Ð.H.Ðán : Xin anh cho biết khi nào anh viết văn? Khi nào anh làm thơ? Hoặc là tùy hứng thích gì làm nấy?

     N.T.Hưng : Làm thơ thì thông thường phải có hứng tôi mới làm được. Nhưng đôi khi tôi cũng thẩn... thơ ra một hai bài, lúc đang bị bí đề tài viết văn. Ấy chết, nói như vậy những nhà thơ chính thống nghe được thì thêm phiền. Thôi anh cho tôi ngưng thơ ở đây đi.

     Ð.H.Ðán : Xin anh cho biết trong các nhà thơ V.N., anh thích những ai? Lý do? Cả các nhà thơ quốc tế nữa, anh thích những ai? Lý do?

     N.T.Hưng : Lại thơ, anh Ðán này khó tính quá. Á, mà câu này trả lời dễ như... ăn chè. Anh hãy nghe đây, những nhà thơ Việt Nam mà tôi thích thì nhiều lắm. Ðể coi lúc mình học trung học thì bắt đầu từ nhà thơ nào hà. Nguyễn Trãi, Tản Ðà, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Ðoàn thị Ðiểm, Nguyễn Ðình Chiểu..., Nguyễn Du. Thơ tiền chiến của Huy Cận, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính... thì ai lại không thích. Thơ cận đại và hiện đại thì nhiều tác giả lắm không sao kể hết nên xin miễn kể. Còn những nhà thơ ngoại quốc thì vốn liếng của tôi có lẽ chỉ là những gì tôi học về Văn học sử Pháp bậc trung học. Ừa, tôi thích Pierre de Ronsard...

     Ð.H.Ðán : Trở lại vấn đề viết văn, anh có ý định viết một quyển trường giang tiểu thuyết mà nhân vật chính không phải là anh không?

     N.T.Hưng : Như anh biết ở ngoài đời tôi đã bao phen thất bại mới có chút chút thành công. Trong văn chương cũng vậy, tôi cũng bị ba chìm bảy nổi mới được lờ mờ ló dạng như bây giờ. Và tôi đã có một lần thất bại ở truyện dài, suýt chút nữa giữa đường gãy gánh, nên tôi hơi ớn. Tôi bèn đẻ ra cái lối truyện dài theo kiểu của tôi như anh thấy ở tác phẩm Một Ðời Ðể Học . Ban đầu tôi định để là "tập-truyện-dài" nhưng sợ chẳng ai hiểu nó là cái quái gì hết, nên đành để truyện dài không thôi. Mục đích của hai chữ truyện dài chỉ là để hướng dẫn độc giả nên đọc những truyện ngắn theo thứ tự từ đầu đến cuối. Ðừng đọc tắt ngang theo kiểu tập truyện ngắn thì tác phẩm sẽ mất đi phần nào ý nghĩa. Viết truyện dài theo kiểu này vừa dễ vừa có lợi anh biết không? Dễ vì truyện ngắn dễ viết hơn truyện dài, có thể đây là trường họp của riêng tôi. Còn có lợi là toàn tác phẩm có thể được phổ biến rộng rãi trên nhiều báo. Thử hỏi anh đưa một cuốn truyện dài cho mỗi một tạp chí, nếu họ chịu trích đăng giới thiệu thì đăng được mấy đoạn? Một đoạn thôi thì uổng công mình quá xá. Dĩ nhiên nếu đăng hết tác phẩm thì không thành vấn đề, không nói làm chi. Mà không thành vấn đề là đối với những người viết nhiều như các anh Nguyễn Ngọc Ngạn, Hồ Trường An... chớ những ai chân ướt chân ráo như tôi, mới có một hai cuốn đầu đời nâng niu như nâng trứng thì rõ ràng việc phổ biến càng rộng rãi càng mừng. Rồi bây giờ nếu tôi gom năm ba cuốn tự truyện của tôi lại thì không phải là một bộ trường thiên tiểu thuyết tự truyện hay sao? Chỉ kẹt một điểm nhân vật chính cũng vẫn là tôi hả? Khổ thiệt. Nói vậy chớ tôi đâu phải lúc nào cũng viết tự truyện. Tự truyện nào viết hoài lại không hết. Phải viết sang gia đình truyện, bạn bè truyện, làng xóm truyện, xã hội truyện nữa chớ. Nhưng mà thôi, tôi thấy "văn chương" của tôi vẫn còn nằm trong giai đoạn phôi thai, còn sớm quá để bàn đến vấn đề này.

     Ð.H.Ðán : Anh có nhận xét gì về văn chương ở hải ngoại?

     N.T.Hưng : Tôi nhớ có lần anh Võ Kỳ Ðiền cho rằng văn chương hải ngoại có ba khuynh hướng dễ thấy là: đấu tranh với cộng sản, nhớ tới đời sống cũ ở quê nhà, và hội nhập cuộc sống mới ở xứ người. Ðây là một nhận xét rất trung thực, căn bản. Sau này có người cũng đưa ra một nhận xét tương tự như vậy, gọi là những khuynh hướng: đấu tranh, hoài cổ, và xã hội. Ðồng thời ghi nhận thêm hai khuynh hướng mới: giao lưu văn hóa và phóng sự xã hội. Nhưng vẫn còn thiếu. Theo tôi, còn một khuynh hướng nữa rất là quan trọng: biên khảo và nghiên cứu. Biên khảo và nghiên cứu về văn chương, văn hóa dân tộc, đó không phải là một khuynh hướng văn chương sao? Ngoại trừ khuynh hướng tôi vừa mới nêu lên, hầu hết trong các khuynh hướng kia lối văn "hồi ký" hình như được sử dụng hơi nhiều. Nói cho ngay, đã gọi là truyện, truyện ngắn cũng như truyện dài, không ít thì nhiều đều đã có tính chất kể lại. Mà muốn kể lại thì phải nhớ lại, ghi lại. Tức là hồi ký? Rõ, chạy trời không khỏi nắng... Nhìn chung, tôi thấy nền văn chương hải ngoại rất dồi dào, phong phú. Và càng ngày càng đi lên, tôi có cái nhìn lạc quan như vậy.

     Có một sự kiện xảy ra hết sức là ngoạn mục, mà anh Hồ Trường An không đồng ý với những ai hay gọi là một hiện tượng, là sự xuất hiện của nhiều cây viết gốc miền Nam. Không ngoạn mục sao được khi lãnh vực văn chương thi phú xưa nay như dành riêng cho những ai sinh trưởng ở miệt Thăng Long thành hay chốn Thái Hòa điện! Với tôi còn có thêm một sự kiện xảy ra không kém phần ngoạn mục nữa. Ðó là xứ láng giềng của tôi, cách nhau chỉ mỗi dòng Cửu Long và cái bắc Rạch Miễu, bỗng nhiên đẻ ra nhiều nhà văn nữ: Phan thị Trọng Tuyến, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Cao Bình Minh, và gần đây Nguyễn thị Ngọc Diễm. Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn... mười một, nên tôi phải... để ý. Chu mẹt ơi, rõ ràng cái xứ Bến Tre là xứ âm thịnh dương suy (trong văn chương). Bớ các ông già Ba Tri ơi, nhỏm dậy mà coi! Tôi thấy hình như chỉ có một nửa hình hài của anh Ngô Nguyên Dũng là chịu khó... đứng lên đáp lời sông núi.

     Ð.H.Ðán : Nếu cho anh đi lại từ đầu, anh sẽ làm gì?

     N.T.Hưng : Không biết anh có tin ở số mạng hay không, chớ riêng tôi, tôi đã nhiều lần ở trong trường họp mình không thể quyết định cuộc đời của mình. Với tôi, ngay cả việc viết văn, chạy qua Mỹ, làm tình báo, đi lính, xa nhà trọ học... tôi đang đi sụt lùi đấy, cũng là chuyện do duyên may dun rủi hay định mệnh đưa đẩy mà thôi. Mặc dù cuộc đời tôi có gian truân khổ sở đó, có lên voi xuống chó đó, nhưng hình như lúc nào tôi cũng yêu đời, cũng luôn luôn bằng lòng với hoàn cảnh, số kiếp của mình. Cho nên, nếu cho đi trở lại từ đầu thì nói thiệt anh thương, tôi chỉ mong được làm y chang những gì tôi đã làm. Quyết không thèm làm tổng thống, thủ tướng mốc xì gì ráo trọi.

     Ð.H.Ðán : Xin anh cho biết dự định (về văn nghệ) của anh.

     N.T.Hưng : Tôi đang trông Làng Văn xuất bản tập truyện đầu tay Một Chuyến Ra Khơi của tôi xem mặt mũi ra sao cái đã, rồi mới tính tới được. Có thể nghỉ xả hơi một thời gian để nhìn lại quá trình mình đã đi qua tìm ưu khuyết điểm, rút kinh nghiệm cho những lần tới. Nếu những lần tới thực sự có trong tương lai. Mà thử hỏi có ai biết được chuyện tương lai?

     Ð.H.Ðán : Anh cho biết luôn tình trạng báo chí ở hải ngoại.

     N.T.Hưng : Tôi ở xa các trung tâm báo chí nên tôi không rành mấy. Chỉ nghe nói số nhà báo tiếng Việt ở hải ngoại đã vượt quá con số 250 và càng ngày càng tăng. Như vậy thì làng báo chí ta phồn thịnh quá mức rồi phải không anh?

     Ð.H.Ðán : Xin anh cho biết các thú giải trí của anh.

     N.T.Hưng : Ngoài trời thì tôi mê tennis, chạy bộ, và câu cá. Trong nhà thi thích chơi guitar, trống, và nghe nhạc. Còn trên giường thì... đọc sách cũng là một trong những thú giải trí thần tiên của tôi vậy.

     Ð.H.Ðán : Anh muốn nói gì với độc giả Làng Văn đây?

     N.T.Hưng : Xin thành thật cám ơn độc giả Làng Văn , độc giả khắp năm châu thế giới, đã bỏ chút thì giờ quý báu để nghe tôi nói về tôi. Xin tạm biệt và hẹn ngày tái ngộ nếu anh Ðán dám xâm mình phỏng vấn tôi lần nữa.

   back to top

04. BẠT CHO TRUYỆN DÀI MỘT THUỞ LÀM "TRÙM"

             HỒ TRƯỜNG AN

     Tôi có hai quê hương: Vĩnh Long và Mỹ Tho. Vĩnh Long là quê nội của ba tôi, nơi tôi mở mắt chào đời. Mỹ Tho là quê ngoại của má tôi, nơi tôi trải qua tuổi thơ ấu thần tiên, và cũng là nơi tôi đeo đuổi học vấn ở bậc trung học đệ nhị cấp tại trường Nguyễn Ðình Chiểu.

     Nguyễn Tấn Hưng là dân Mỹ Tho, lại là cựu học sinh trường Nguyễn Ðình Chiểu. Có lẽ vì lẽ đó khi ra quyển truyện dài Một Thuở Làm "Trùm" , anh nhờ tôi, kẻ đồng hương của anh viết Bạt chăng?

     Ngành văn chương ở hải ngoại ngoài lực lượng các cây bút nữ đáng kể còn thêm hiện tượng các nhà văn gốc miền Nam. Văn chương hay thì bất luận của người Nam hay của kẻ Bắc. Nhưng mà hiện tượng các cây bút miền Nam ở hải ngoại sở dĩ được nói tới là tại cái tính chất hồn nhiên, xuề xòa, dễ hiểu, dễ gây cảm thông với độc giả của tác phẩm họ. Phạm Thăng, Huỳnh Hữu Cửu, Hồ Trường An, Kiệt Tấn, Nguyễn Văn Sâm, Võ Kỳ Ðiền, Võ Hoàng, Nguyễn Văn Ba, Ngô Nguyên Dũng, Vũ Nam, Phan thị Trọng Tuyến, Cao Bình Minh, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Trần thị Kim Lan, Nguyễn thị Ngọc Diễm đã là những cây bút thành danh, dù có người chưa có tác phẩm đầu tay.

     Ở đây, tôi xin nêu ra cái quá khứ để viết văn của hai thế hệ. Phạm Thăng, Huỳnh Hữu Cửu, Kiệt Tấn, Hồ Trường An, Võ Kỳ Ðiền, Nguyễn Văn Ba là thế hệ đã có đi và sống ở trên đất nước từ thuở tiền chiến, hoặc từ thuở chiến tranh Việt Pháp, hoặc từ thuở bình minh của chế độ Ðệ Nhứt Việt Nam Cộng Hòa. Bởi đó, văn chương họ dồi dào những tập tục, những cảnh sống ngoài thành phố, ngòi bút họ len lỏi được vào thôn quê trong thuở thanh bình để sống với cái truyền thống của dân tộc.

     Lớp trưởng thành từ cuộc nội chiến như Phan thị Trọng Tuyến, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Nguyễn thị Ngọc Diễm, Cao Bình Minh, Vũ Nam thì ngòi bút của họ chỉ khai thác được những câu chuyện ở thành phố, ở các vùng ngoại ô. Ðôi khi, họ cũng viết về đồng quê, nhưng họ chỉ đóng vai khách tỉnh về thăm quê, làm nhân chứng cảnh quê hương loạn lạc trong cuộc giao tranh giữa hai phe Quốc Cộng, chứ không phải là những cây bút hòa mình vào nhịp đập của trái tim thôn quê, thở theo hơi thở dân quê.

     Còn Nguyễn Tấn Hưng thì sao?

     Nguyễn Tấn Hưng xuất thân từ một gia đình nghèo ở miệt vườn. Anh trải qua thời thơ ấu, thời mới lớn thiếu thốn đủ thứ về phương diện vật chất, nhưng anh cố ăn học để có một địa vị sáng sủa dưới bóng mặt trời. Anh trưởng thành từ thuở Ðệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Rồi anh bước chân vào quân đội (quân chủng Hải quân). Anh trải qua từ thời bình đến thời nhiễu nhương. Trừ Vũ Nam và tôi ra, trong các cây bút nam mà tôi vừa kể, không có cây bút nào dấn thân vào cuộc chiến như anh. Nhưng tôi là thứ sĩ quan văn phòng, quanh quẩn mãi ở Quân Khu III. Còn anh thì len lỏi nhiều địa danh ở đất nước. Từ Huế, Ðà Nẵng, Sông Cầu, Nha Trang anh nhào ra Phú Quốc. Tại Phú Quốc, anh giữ chức vụ trưởng phòng Tình báo cho tới ngày rã ngũ...

     Phú Quốc, nơi đã tạo cho Nguyễn Tấn Hưng biết bao chất liệu để anh viết cuốn Một Thuở Làm "Trùm."

     Trong bức thư từ Winston-Salem đề ngày 18 tháng 2 năm 1989, Nguyễn Tấn Hưng than rằng tác phẩm đầu tay của anh bán hơi chậm. Tôi sẵn sàng chia xẻ với Hưng, nhưng tôi nghĩ rằng hơi chậm còn hơn là bán không trôi. Bán không trôi còn hơn là bán chạy mà không có một tính chất nghệ thuật để không tạo một chỗ đứng nào ở văn đàn cho tác giả.

     Tác phẩm Hưng bán chậm là vì anh viết thật quá , anh không thèm pha tính chất tiểu thuyết cho tác phẩm mình. Anh nghe gì thấy gì viết nấy, không bịa tình tiết gay cấn theo kiểu tiểu thuyết ba xu. Một Thuở Làm "Trùm" là một tác phẩm tự truyện đúng hơn là tiểu thuyết tự truyện. Ðộc giả phải có tinh thần tìm hiểu một cảnh sống, một đoạn đời trên đất nước cố hương mới có thể thưởng thức tác phẩm anh một cách thống khoái. Còn ai đó, muốn thưởng thức những tình tiết gay cấn éo le theo kỹ thuật dựng truyện phiêu lưu, hay muốn tìm tình tiết thắt mở như tình tiết phim ảnh video của Tàu, chắc sẽ thất vọng lắm, khổ sở lắm. Nguyễn Tấn Hưng rất bướng bỉnh, tôi xin báo trước. Anh không chiều theo thị hiếu của ai cả. Anh chỉ nhằm vào Chân Thiện Mỹ mà làm cuộc bút trình.

     Tôi xinh trích một đoạn thư khi anh nhờ tôi viết Bạt tác phẩm thứ ba của anh... Nản thì nản thiệt, nhưng làm thì cứ làm, tới đâu hay tới đó. Bởi vậy, gửi sang anh tác phẩm thứ ba vừa viết xong . Một Thuở Làm "Trùm" đây. Và khi đọc xong anh làm ơn viết giùm cái Tựa hay cái Bạt. Anh nhớ đọc kỹ một chút cho Hưng này nhờ. Cuốn sách này tôi viết ra bằng những lời chân thành tâm huyết đó ... Quả nhiên, đọc xong Một Thuở Làm "Trùm" , tôi mới nhận thấy đây là một tác phẩm mà Nguyễn Tấn Hưng viết bằng tâm cơ, bằng tận cùng của nhiệt thành.

     Khoảng đời làm tình báo của anh, nếu được theo dõi toàn bộ, phải bắt đầu từ truyện Trăng Mật Bến Sông Cầu trong tác phẩm Một Chuyến Ra Khơi và truyện Sợi Dây Ðịnh Mệnh trong tác phẩm Một Ðời Ðể Học , cùng một tác giả. Ðó là hai chương gối đầu cho tác phẩm thứ ba này, để nói lên nguyên do nào nhân vật xưng tôi, tên Hoàng, chọn nghiệp tình báo, cũng như những hoạt động có ít nhiều liên hệ với những biến động của đất nước trong cuộc nội chiến Quốc Cộng, mà tác giả xem là "những hoạt động liêm chính trong đất liền." Rồi Một Thuở Làm "Trùm" mở ra, tuy cảnh máu lửa chết chóc không còn, nhưng biết bao biến cố cứ nườm nượp xảy ra, tạo một giòng cuồng lưu sôi động khác một cách kỳ thú.

     Tại sao tác giả đặt cái tựa Một Thuở Làm "Trùm" cho quyển sách của mình? "Trùm" đây tức là "trùm tình báo," trưởng phòng Nhì Vùng 4 Duyên hải Phú Quốc. Cái nhiệm sở trưởng phòng tình báo mới nghe qua là bọn nằm vùng, hoặc bọn có dây mơ rễ má với Cộng Sản thuở đó đã nổi da gà. Cái chức vụ "trùm" trong guồng máy điều hành một Tiểu khu, Ðặc khu, hay Vùng Duyên hải là một chức vụ nếu không sáng giá thì cũng le lói lắm. Nhưng, khi làm "trùm" tại Phú Quốc cũng như trong đất liền, thật ra tác giả hầu như không có dịp nào để hét ra lửa. Tựa sách này có một ngụ ý mỉa mai châm biếm hết sức nhẹ nhàng, mà khi đọc xong cuốn sách chúng ta mới thấy rằng các nhân viên phòng tình báo xưa nay thường chỉ biết lo ăn nhiều hơn lo diệt địch. Mang tiếng "trùm" mà đúng ra anh chỉ làm nhân chứng cho những diễn biến xảy ra trên một vùng đất quê hương có biển vây quanh. Ðây là một ông "trùm" hư vị, có rất ít thực quyền. Một thứ "trùm" đặc biệt đã tạo cái bất ngờ cho quyển sách.

     Một Thuở Làm "Trùm" kéo dài từ chương 1 có cái tựa cùng tên sách cho tới chương 7, Trong Cảnh Sống Còn , tới đây chúng ta bỗng thấy cuộc đời của nhân vật đã quẹo qua một khúc quanh mới, đó là cuộc dấn thân trên đường di tản. Bước qua chương 8, Ngày Qua Trên Xứ Lạ , tác giả đưa độc giả đi lần vào cuộc sống định cư mới... Ở đây, nếu tôi không lầm là chương mở đầu của một tác phẩm kế tiếp mà Nguyễn Tấn Hưng sẽ viết về cái xứ Mỹ, đất tạm dung dài hạn ở Mỹ. Bối cảnh Phú Quốc và cuộc đời đi đi về về giữa những nhiệm sở và các chuyến hải trình trong tác phẩm nầy gồm những chương Một Thuở Làm "Trùm," Một Lần Ði Một Lần Ở, Ðường Vào Bến Mê, Tâm Sự Kẻ Sang Miên, Ðông Phương Ngư Nghiệp Công Ty , và Những Kẻ Cướp Của Giết Người . Tới chương Trong Cảnh Sống Còn là chương kết thúc một thuở làm "trùm" của tác giả. Và Ngày Qua Trên Xứ Lạ là chương gia đình tác giả ở trên đất Thái Lan, chờ ngày qua định cư ở Mỹ.

     Trong tác phẩm Một Thuở Làm "Trùm" chỉ có hai chương Một Thuở Làm "Trùm" Một Lần Ði Một Lần Ở tương đối có một không khí an lành, thanh thản. Những chương khác đều sôi động, với nhiều gay cấn, trầm luân như những chuyến phiêu lưu trên màn ảnh. Ðó không phải là những tình tiết hư cấu, mà trái lại, rất sống thực. Từ chương Ðường Vào Bến Mê , độc giả đã bị Nguyễn Tấn Hưng thôi miên, cuốn hút. Anh bắt mọi người cùng tham dự một thuở làm "trùm" của anh, chia xẻ tâm sự với anh, cùng anh đi ngăn chận bọn ngư phủ Thái Lan xâm nhập vào hải phận Việt Nam, cùng đi bắt bọn buôn lậu, cùng điều đình du di với bọn buôn lậu để đôi bên không ai thiệt hại về lợi lộc lẫn danh dự. Chưa hết đâu, Nguyễn Tấn Hưng còn dắt chúng ta sang Cao Miên trao đổi con tin, dắt chúng ta tiếp đón đoàn người di tản từ Vùng 2, Vùng 1 bị thất thủ, dắt chúng ta chứng kiến cuộc hành quyết các kẻ cướp của giết người trên đoạn hải trình di tản này. Và tới chương Trong Cảnh Sống Còn , tác giả kể lại đoạn đường rời bỏ đảo Phú Quốc, di tản sang Thái Lan trong cảnh tan hàng rã ngũ, vượt thoát chế độ Cộng Sản với nỗi cam go, mà độc giả hồi hộp từng phút từng giây theo hành trình ngọn bút của anh.

     Nguyễn Tấn Hưng, một nhà văn có biệt tài chiêu niệm và tái sinh cái quá khứ đầy hứng thú của riêng anh, của một thuở chống Cộng cứu nước của dân miền Nam. Nguyễn Tấn Hưng viết Một Thuở Làm "Trùm" với tâm trạng người chiến binh rã ngũ, ở một góc trời hải ngoại nhìn về tổ quốc đã mất, ngoái trông một quá khứ hào hùng càng lúc càng lùi xa. Anh viết bằng cả tâm huyết, nhưng mạch văn anh luôn trong sáng, điềm tĩnh, không sướt mướt, tỉ tê. Vậy mà càng đọc Một Thuở Làm "Trùm" , độc giả càng thấm thía, càng chua xót ngậm ngùi. Và, chúng ta cùng có một cảm nhận là tác giả không phải chỉ ngừng bút ở quyển này. Còn có cơ hội tốt, tác giả sẽ viết thêm về đời lính hải quân, tỉ mỉ hơn, hào hùng và đam mê hơn. Và trong mọi tình cảnh, dù sôi động hay dịu dàng, mạch văn anh cứ thao thao, muốn phơi bày trăm điều ngàn việc, bắt độc giả cùng tham dự, chia xẻ cái quá khứ và cuộc đời binh nghiệp của anh. Ðộc giả cứ thế bị anh lôi cuốn, không thể rời được nữa, bắt đầu từ chương Ðường Vào Bến Mê .

     Cái đáng sợ cho một nhà văn là sống ít, cứ quanh quẩn ở tháp ngà, ở một thành phố an lành. Nguyễn Tấn Hưng từ thuở đi học đã quăng mình vào nghịch cảnh, để rồi khi vào lính, anh quay mòng với bao cơn trốt, phấn đấu với phong ba. Chất liệu sống của anh tràn trề, biến cố xảy đến anh tới tấp. Anh chỉ cần chọn lựa những biến cố hào hùng, những góc cạnh sắc nét của cuộc đời binh nghiệp để đưa vào tác phẩm. Ngòi bút anh cứ thế mà làm sống lại từng chặng đời anh. Và bởi được hướng dẫn bằng niềm ưu ái, bằng sự triều mến cái quân chủng do mình đã chọn lựa, cây bút của anh vẫn giữ được sự từ tốn khi kể lại những điều trái tai gai mắt, không đã kích, không sôi nổi thù hằn, không nói lời thô thiển, ác độc. Ðây là cây bút nhân hậu, đáng mến. Qua cây bút đó, chúng ta đã bắt gặp một đại tá Khương Hữu Bá, Tư lệnh Vùng 4 Duyên hải, người ít ra cũng còn giữ cái liêm khiết, đạo đức khi từ chối việc dây dưa, móc nối của bọn buôn lậu! Chúng ta đã tiếp xúc qua Nguyễn Tấn Hưng một đại tá Thiện hiểm ác, tỏ ra ám muội trong việc ban lệnh hành quyết những kẻ mà ông mệnh danh cướp của giết người. Còn nữa, trong tác phẩm này có một thượng sĩ Nghĩa thực tế, quyền biến, một Lý Bình gian thương, giỏi việc lươn lẹo, móc nối, nhưng không phải là một nhân vật hoàn toàn đáng ghét vì đôi lúc hắn có vài điểm dễ mến. Ðiều mà tôi xúc động hơn là nhân vật cha của tác giả, một người thợ mộc chất phác, đôn hậu nhưng thích tìm hiểu, thích vấn đề cận nhân tình . Trong chuyến ra Phú Quốc thăm con, ông lân la làm quen khắp xóm, khắp đảo. Ông tượng trưng lớp dân miền Nam hiền lành, uyển chuyển trong việc giao tế không phải để cầu lợi mà để thỏa mãn kiến thức, để đi sâu vào tình người. Ngần ấy nhân vật được tác giả vẽ lên bằng nét chấm phá sơ sài, nhưng là những nét phóng bút sắc sảo và ngoạn mục. Ðồng ý với anh Mai Thảo rằng Nguyễn Tấn Hưng có một ký ức bén nhạy và tinh nhuệ. Ðó là một ưu điểm để viết một tác phẩm có tính cách hồi ký. Từng nhân vật, từng bối cảnh, từng sự việc cứ dắt díu nhau mà xuất hiện theo hành trình ngòi bút anh với những nét đặc thù, độc đáo. Và cứ như thế mà bủa giăng khắp trang sách này sang trang sách khác.

     Văn chương hải ngoại có nhiều khuynh hướng thì mới có thể gọi là một văn chương phồn thịnh. Qua Một Chuyến Ra Khơi Một Thuở Làm "Trùm" , Nguyễn Tấn Hưng có một chiếu riêng, một đường lối riêng về đề tài. Do đó, anh là một cây bút độc đáo với vốn sống quá đỗi dồi dào. Nếu anh viết chậm hơn, tỉ mỉ hơn cuốn sách có thể kéo dài ngót nghét thêm một hai trăm trang nữa.

     Nguyễn Tấn Hưng tuổi đời chỉ độ tứ tuần, không hẳn là còn quá trẻ, nhưng vẫn là cây bút ở vào tuổi sung mãn nhất cuộc đời để sáng tác vừa phong phú vừa chín chắn. Anh không những chỉ đóng góp vào văn đàn bằng tác phẩm của mình, mà anh còn rọi sáng cho chúng ta một đoạn lịch sử có anh tham dự, góp một viên gạch vào việc xây cất ngôi đền tổ quốc trong tâm tưởng người dân mất nước là chúng ta đây. Bởi đó, Một Thuở Làm "Trùm" là một tác phẩm có giá trị ở hai, ba mặt.

     Cổ Nguyệt Ðường, chớm Xuân 1989

   back to top

05. GIỚI THIỆU TÁC GIẢ MỘT THƯỞ LÀM "TRÙM" *

             NGUYỄN THỊ THANH BÌNH

     Khi nhận lời để nói về tác giả Nguyễn Tấn Hưng, thật tình lúc đầu tôi cũng rất khớp, nhưng rồi cuối cùng tôi cũng phải bị tài thuyết phục của anh lôi cuốn. Như quí vị ở đây có người ít ra cũng đã hơn một lần được biết lối nói chuyện rất là dí dỏm và rất thu hút khán thính giả của anh Nguyễn Tấn Hưng, tác giả quyển Một Thuở Làm "Trùm" ngày hôm nay. Trong lần trước, khi ra mắt cuốn GIAI THOẠI HỒNG của anh Hồ Trường An, anh Nguyễn Tấn Hưng đã có mặt ở đây để nói đôi lời về "Văn chương miệt vườn" mà anh có lần bảo với chúng ta tại sao không gọi là "Văn chương miệt ruộng." Nói về "Văn chương miệt vườn" hay là "Văn chương miệt ruộng" hoặc nói rộng hơn một chút nữa là "Văn phong miền Nam" của anh Nguyễn Tấn Hưng thì lát nữa đây anh Võ Ðình, họa sĩ kiêm nhà văn, sẽ trình bày. Rất tiếc tôi không phải là người đưa quí vị đi tìm anh Nguyễn Tấn Hưng qua tác phẩm. Ði tìm một người mình vốn ưa thích qua tác phẩm là một điều hết sức thú vị, nhưng tôi nghĩ biết về tác giả và cuộc đời của ông ta cũng là một điều thú vị không kém. Chả là khi đề tựa cho tập thơ LỬA THIÊNG , Xuân Diệu đã không quên nhắc đến hình dáng mái tóc của Huy Cận. Thời xưa, khi giới thiệu Lỗ Tấn với độc giả Việt Nam, ông Ðặng Thái Mai cũng đã chú ý đến cách mô tả nhà văn Trung Quốc này vì cho rằng "hữu ư trung tất hình ư ngoại."

     Ở anh Nguyễn Tấn Hưng, tôi tin chắc tất cả bạn bè của anh và những ai đã quen biết anh đều nhận thấy là toát ra bên ngoài vẻ chân thật, hiền hòa của người miền Nam. Ðó cũng là tính cách hiển hiện hơi hám trong toàn bộ trước tác của anh Nguyễn Tấn Hưng. Khi trả lời cuộc phỏng vấn của anh Hồ Trường An qua tạp chí Làng Văn thì chính anh Nguyễn Tấn Hưng cũng đã xác nhận "tỉ số sự thật trong tác phẩm của tôi rất cao, riêng cuốn Một Ðời Ðể Học thì trên 90 phần trăm là cái chắc." Cuốn tiểu thuyết tự truyện Một Ðời Ðể Học là tác phẩm đầu tay của anh vừa được Làng Văn ấn hành năm ngoái. Cũng trong phần nói chuyện với anh Hồ Trường An, tác giả Nguyễn Tấn Hưng đã cho chúng ta biết một chút tiểu sử của mình. Nguyên văn như sau: "Tôi, Nguyễn Tấn Hưng, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1945 tại làng Bình Phục Nhứt, quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho; là con của ông Nguyễn Văn Sỏi và bà Võ Thị Trang; hiện cư ngụ tại... Mỹ." Mỹ ở đây dĩ nhiên không phải là Mỹ Tho mà là vùng đất tạm dung của chúng ta, tại thành phố Winston-Salem thuộc tiểu bang North Carolina, nơi có nhiều hoa dương đào và chim lông đỏ. Chỉ có sơ sơ vài đoạn như vậy có lẽ quí vị cũng đoán biết anh Nguyễn Tấn Hưng có rất nhiều máu tiếu lâm trong người. Chỉ cần nhìn vào nét mặt của anh Nguyễn Tấn Hưng, nói với anh ấy năm ba câu, mà tôi tin chắc lát nữa đây quí vị sẽ bắt gặp tác giả bằng xương bằng thịt, quí vị cũng sẽ có một ý nghĩ như tôi.

     Con người nhộn nhịp ấy còn là một người rất ham mê học. Thuở nhỏ anh xuất thân từ trường Nguyễn Ðình Chiểu, Mỹ Tho. Sau đó, xong tú tài 2, anh lên Sài Gòn học ở phân khoa Khoa Học. Tiếp theo, mộng hải hồ trổi dậy trong người, anh nộp đơn vào Khóa 17 Sĩ quan Hải quân Nha Trang. Ra trường, lênh đênh tàu buồm một thời gian, anh lại trở về trường Cây Mai học tình báo và làm sĩ quan tình báo trong Hải quân cho đến ngày bỏ chạy sang Mỹ. Qua đây dù nặng gánh thê nhi nhưng anh vẫn tiếp tục cuộc hành trình. (Ở đây tôi xin phép quí vị được mở một ngoặc đơn nhỏ, anh Nguyễn Tấn Hưng là bố của một gia đình bốn con. Vợ anh Nguyễn Tấn Hưng là chị Phan thị Hồng Lan, có mặt ở dưới ghế khán giả, xin mời chị Phan thị Hồng Lan đứng dậy. Con cái anh ấy vì đang bận học nên không có mặt hôm nay để chia vui cùng bố). Trở lại vấn đề học vấn, mặc dù bận rộn với đời sống, vợ con, anh Nguyễn Tấn Hưng vẫn cố gắng đi học trở lại. Anh đã giựt bằng Cao học và bây giờ nghe đâu anh ấy đang lăm le định giựt luôn cái Tiến sĩ cho trọn kiếp "một đời để học," tôi xin mượn tựa đề của một tác phẩm của anh.

     Ngoài việc đi học và đi cày lo cho đời sống cơm áo hằng ngày, anh Nguyễn Tấn Hưng còn là một nhà văn đang ở trong thời kỳ sáng tác sung mãn nhất. Sau Một Thuở Làm "Trùm" , tác giả đã giao cho nhà xuất bản Làng Văn tác phẩm thứ ba, Một Chuyến Ra Khơi , sẽ phát hành năm tới và sau đó tập truyện Một Cảnh Hai Quê .

     Nhân nói sơ về sự nghiệp của anh Nguyễn Tấn Hưng, tôi bỗng nhớ lại một buổi họp thân mật vào cuối tháng 9 vừa rồi ở nhà anh Nguyễn Ngọc Bích, chủ tịch trung tâm Văn Bút Miền Ðông như ai cũng đã biết, thì trong lúc bàn bạc vui chuyện, có vài anh chị tỏ ý muốn đặt lại giá trị của một tác phẩm và đại khái một tác phẩm phải được công nhận như thế nào mới nên được anh chị em bảo trợ, đặc biệt nhất là những người đã luôn luôn bỏ công lao và hết thì giờ vàng bạc để duy trì những buổi sinh hoạt ra mắt sách như thế này. Tôi nghĩ ở điểm này ngay cả anh Bùi Bảo Trúc, người điểm sách quen thuộc của đài VOA, cũng sẽ đồng ý với tôi rằng là trong văn học thường thường cũng có nhiều nhà phê bình đã phát biểu nhiều ý kiến hết sức là trái ngược nhau. Có người coi văn chương của người này có khuynh hướng thấp hèn không đáng đọc, người kia lại hết lời ca ngợi tâng bốc cho rằng tác giả đã phản ảnh được trách nhiệm cao của người cầm bút cũng như khuôn mặt của đời sống đương thời. Tác phẩm của những tác giả còn đó, tác phẩm của anh Nguyễn Tấn Hưng cũng còn đó, và anh Nguyễn Tấn Hưng vẫn còn tiếp tục cuộc bút trình của mình. Theo tôi nghĩ đã là nhà văn thì chúng ta cứ viết, thích viết, phải viết do những sự thôi thúc đến từ trong ruột trong gan. Cứ tưởng tượng một nhà văn nào đó đang ngồi trước tờ giấy trắng, với những ám ảnh này ám ảnh khác của những lời khen chê gay gắt, hẳn là nhà văn đó, tôi nghĩ, sẽ mất hết tác động kích thích tài năng. Nơi đây chúng ta được tự do viết, tự do xào nấu những món ăn tinh thần để dâng hiến cho cuộc đời, thì khi chúng ta nấu bếp để bưng lên mời khách bốn phương, chúng ta cũng nên để tùy theo sở thích của họ. Chúng ta đã có những may mắn không phải sợ là viết như thế nào cho lọt qua trạm kiểm soát của ban biên tập, ban duyệt in, rồi kẻ lãnh đạo và cả khối người soi moi khác nữa. Trong trường họp những ngòi bút ở Việt Nam, lúc đó văn chương của họ sẽ mang những sắc dạng khác với tư duy của họ. Sự biến dạng không thể tránh khỏi ấy làm những nhà văn còn ở trong bóng tối ở quê nhà thà lách còn hơn viết. Viết lách kiểu đó chán chết phải không, thưa quí vị và các anh các chị? Dù sao trong hoàn cảnh khó khăn đó, tôi thấy chúng ta vẫn có những nhà văn chân chính bất chấp mọi trở ngại để nói lên tiếng nói của lòng mình. Có như vậy chúng ta mới có "một tiếng kêu vang lạnh cả trời" như một câu thơ nổi tiếng của thiền sư Không Lộ.

     Trở lại với nhà văn của chúng ta hôm nay, anh Nguyễn Tấn Hưng trước khi cầm bút trở lại ở hải ngoại đã là một người đam mê sách vở từ những ngày xa xưa. Anh Nguyễn Tấn Hưng trước 75 ở những lần cặp bến đã có những truyện ngắn đăng ở Văn , và dĩ nhiên nhà văn Hải quân này đã là cộng tác viên đắc lực của tờ Ra Khơi, Lướt Sóng . Trên một bàn viết lữ thứ đã được dựng lại ở quê người, nhà văn Nguyễn Tấn Hưng đã tiếp tục những dang dở ấy. Theo học giả Nguyễn Ngọc Bích, anh Nguyễn Tấn Hưng là một hiện tượng "Văn học Hải quân" nổi bật. Ở quê nhà thật tình chúng ta không có một nền "Văn học Hải quân" xôm trò như "Văn học Không quân." Qua đây thậm chí những nhà văn nhà thơ gốc Hải quân như Phan Lạc Tiếp, Hà Thúc Sinh, Giang Hữu Tuyên... cũng không hề mang không khí, ngôn ngữ, chất liệu của binh chủng họ vào tác phẩm mình như một Nguyễn Tấn Hưng. Tác giả của chúng ta hôm nay ngay từ dòng viết đầu tiên ở quê nhà cho đến những dòng viết tiếp nối ở quê người đều phản ảnh những cảnh đời của những cánh chim hải âu. Anh viết và viết rất hăng say nên dù bận rộn với trăm công ngàn việc, nổi đam mê lớn nhất của một đời người cũng đã rủ rê anh dan díu với những tờ tập san văn nghệ đứng đắn ở hải ngoại như là Văn, Văn Học, Làng Văn ... Anh vừa viết văn vừa làm thơ lai rai mà anh vẫn đùa bảo thơ của anh chỉ thuộc trường phái thơ thẩn, vì anh cho biết thơ của anh được coi như là "những sáng tác từ cánh tay trái của nghề tay trái" là nghề viết văn. Âu đó cũng là một khía cạnh độc đáo của anh Nguyễn Tấn Hưng. Như chúng ta vẫn thường thấy có nhiều nhà văn thỉnh thoảng buồn buồn cũng quay ra làm thơ chơi. Như chị Nguyễn thị Hoàng Bắc với bài thơ ngũ ngôn Nhóm Hồng rất có hồn vừa đăng ở báo của anh Giang Hữu Tuyên, hay là anh Võ Ðình với bút hiệu Thạch Mai trong bài thơ rất là tượng trưng Nàng Thu Phong đăng ở Văn Học . Như Mai Thảo sau 45 tác phẩm văn xuôi, tập thơ thứ nhất Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Ðền vừa mới ra đời, v. v. Một ngày nào đó, biết đâu anh Nguyễn Tấn Hưng cũng sẽ cho ra đời một tập thơ, sáng tác từ cánh tay trái của nghề tay trái. Thơ từ phía tay trái thì tôi nghĩ gần trái tim nhất rồi phải không anh Nguyễn Tấn Hưng?

     Quyển truyện dài Một Thuở Làm "Trùm" của anh Nguyễn Tấn Hưng đang đến tay quí vị. Chúng ta mỗi người một bao tử riêng, mỗi sở thích riêng, xin quí vị hãy tự tiện làm người thực khách quí mến nhất của tác giả. Nói về tác giả chi bằng để mời độc giả đi vào tác phẩm của người đó. Anh Võ Ðình sẽ là người mở rộng cánh cửa ấy để mời quí vị bước vào. Mừng anh Nguyễn Tấn Hưng hôm nay và đứa con tinh thần thứ hai đã chào đời và thân chúc anh không bao giờ mỏi tay viết.

     * Bài nói chuyện ra mắt sách Nguyễn Tấn Hưng tại trường đại học George Mason, thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, ngày 15-10-1989, được chép lại từ băng ghi âm bởi Hồng Lan.

   back to top

06. GIỚI THIỆU TÁC PHẨM MỘT THUỞ LÀM "TRÙM" *

             VÕ ÐÌNH

     Trước hết, tôi xin lợi dụng một phút trong chương trình của ngày hôm nay, để thưa cùng tất cả quí vị sự vui mừng của cá nhân tôi trước khi bước lên đây, là đã được hân hạnh gặp bác sĩ nhà văn Lê văn Lân. Lần đầu tiên được gặp người viết các bài mà tôi đã được đọc về những chuyện rất tầm thường như ngọn rau thơm, lá diếp cá... Rồi gần đây, chuyện trăng rằm, chuyện Vu Lan. Những chuyện có thể coi như là tầm thường, nhưng bác sĩ Lê văn Lân đã viết rất hay, rất duyên dáng. Thưa quí vị, đó là một điều rất đáng mừng cho tất cả chúng ta. Và chúng tôi, riêng cá nhân chúng tôi lấy làm hân hạnh, vì xưa nay chúng tôi đã có ý định xin địa chỉ của ông, để viết đôi lời ngưỡng mộ.

     Ðiều thứ hai nữa là quí vị thấy trong tay tôi có một tập sách và giấy tờ. Thưa quí vị, cái tập sách và giấy tờ nầy không phải cầm lên nhiều như thế nầy để mà làm điệu, làm dáng, làm duyên. Lý do thật tình là tại vì trong hoàn cảnh gấp rút, chúng tôi chưa có thì giờ để viết ra. Xưa nay chúng tôi có bàn về một vấn đề gì, chúng tôi suy nghĩ rất lâu, rất kỹ và lúc nói không ba hoa thiên địa, không câu trúng, câu trật, nhắm vào đâu phải trúng vào đó, cho nên chúng tôi phải viết cho đàng hoàng. Lần nầy chúng tôi xin nói thật, chúng tôi sẽ tùy cơ ứng biến. Vì không có đủ thì giờ, chúng tôi đem tất cả những gì chúng tôi có về nhà văn Nguyễn Tấn Hưng, để trình bày cùng quí vị. Vậy nếu có điều gì sơ xuất, xin quí vị thông cảm cho.

     Nguyễn Tấn Hưng là một nhà văn gốc miền Nam, mà nói đến gốc miền Nam thì chúng ta không thể nào không nhắc đến Hồ Trường An. Hồ Trường An trong lời Bạt của cuốn sách mới ra, Một Thuở Làm "Trùm" , của Nguyễn Tấn Hưng, nhận định rằng có ba thế hệ nhà văn gốc miền Nam. Thế hệ đàn anh, cha chú, thì có: Hồ Biểu Chánh, Hồ Hữu Tường, Lê Xuyên, Sơn Nam... Thế hệ trẻ hơn, thế hệ đã từng có dịp, trước chiến tranh và trong thời chiến tranh, đi về miền quê, biết rõ cái đồng quê ở miền Nam. Cho nên họ viết về miền Nam với tất cả sự thiết tha nồng nàn. Trong đó có một phần có thể gọi là lý tưởng hóa. Ðó là những người như Huỳnh Hữu Cửu, Hồ Trường An. Có những người như Võ Kỳ Ðiền, Nguyễn văn Ba, Phạm Thăng... Lại có một thế hệ nữa, trẻ hơn. Thế hệ nầy sinh trưởng nơi thành thị, và lớn lên nơi thành thị, trưởng thành trong thời gian của cuộc chiến. Ðó là thế hệ của ba chị em Phan thị Trọng Tuyến, Nguyễn thị Ngọc Nhung, Nguyễn thị Ngọc Diễm, rồi trẻ hơn nữa như là Cao Bình Minh, Vũ Nam chẳng hạn.

     Ðến đây thì quí vị tự hỏi ngay vậy thì Nguyễn Tấn Hưng ở đâu? Thưa quí vị, đứng về phương diện tuổi tác, Nguyễn Tấn Hưng sinh năm 1945, nếu tôi không lầm, thì Nguyễn Tấn Hưng có thể thuộc vào thế hệ cũng không nhỏ hơn Võ Kỳ Ðiền. Nhưng Nguyễn Tấn Hưng có những cái đặc biệt khác với những người kia là Nguyễn Tấn Hưng đã lớn lên, đã trưởng thành trong quân đội, trong Hải quân như lời của Nguyễn thị Thanh Bình vừa nói. Ðó là cái điểm rất đặc biệt mà những người kia, những Võ Kỳ Ðiền, Kiệt Tấn, Nguyễn văn Sâm, Nguyễn văn Ba... không có. Hồ Trường An, cũng từng ở trong quân đội nhưng Hồ Trường An chỉ là "sĩ quan văn phòng," từng thú nhận là "tôi chỉ ngồi chơi lai rai vậy thôi." Chứ còn ông Nguyễn Tấn Hưng nầy thì phải lên tàu, trôi dạt khắp đó đây.

     Còn một điều đáng nói nữa là ở đây tôi phải nhắc đến ông bạn của tôi ngồi ở ngay đây là ông Nguyễn Ngọc Bích. Trong lời Bạt viết cho Lớp Sóng Phế Hưng của Hồ Trường An, Nguyễn Ngọc Bích có nêu lên một điều mà tôi đọc rất lấy làm vừa ý. Tôi lấy làm thích thú vì ông Nguyễn bảo rằng, đọc Hồ Trường An không thể nào không phát âm lên được, không phải đọc bằng con mắt, mà đọc phải lên tiếng. Thưa quí vị, thưa ông Bích, tôi chỉ xin thêm một điều, là không những phát âm lên tiếng, mà phải lên tiếng bằng giọng miền Nam nữa mới hay. Chứ không phải bằng giọng người Huế như tôi, đọc Hồ Trường An mà đọc giọng Huế "quê" lắm. Không được.

     Thưa quí vị, tôi xin dựa vào uy tín một người để chứng minh cái điều tôi mới vừa nêu lên. Nói có sách, mách có chứng, thưa quí vị. Người đó tôi coi như đàn anh, mà tôi cũng coi như bậc thầy. Ðó là nhà văn Võ Phiến. Trong cuốn Văn Học Miền Nam, Tổng Quan , lúc bàn về văn chương miền Nam, Võ Phiến đã có những lời như thế nầy. Tôi có ghi vào index card đây. Tôi xin đọc hầu quí vị, mà giọng Bình Ðịnh thì chắc tôi không đọc được, vậy xin đọc tạm tạm giọng Nam, giọng Nam lai Huế của tôi vậy. Tôi rất tiếc là hôm nay không có bà Nguyễn Xuân Lan ở đây, tại vì cái hôm bà chỉ trích những người gọi "Văn chương Miệt Vườn" thế nầy, thế nọ, mà hôm nay bà không có ở đây để nghe những câu nầy. Ông Võ Phiến nói sở dĩ Văn chương miền Nam khởi sắc là tại vì thứ nhứt, có sự thay đổi trong quan niệm thưởng thức, và thứ hai, có sự khích lệ của độc giả miền Trung và miền Bắc. Ðây là lời của ông Võ Phiến, thưa quí vị, ở trong Văn Học Miền Nam, Tổng Quan .

     Người miền Trung vào làm ăn trong Nam thoạt nghe bà con trong Nam nói chuyện với nhau vẫn có cảm tưởng ấy: ôi chao! trong nầy người ta nói sao mà cứ trơn lu, cứ như dầu rót roong roỏng vô chai, như xoa con toán liền tay không dứt, như xua những viên bi tròn chạy rong róc trên một mặt mâm! Lối nói như thế khiến liên tưởng đến câu ca vọng cổ dài dằng dặc, mà thoăn thoắt mà ngọt lịm .

     Chưa hết, thưa quí vị, ông Võ Phiến sau khi có cái nhận định như vậy về người Trung, người Bắc vào Nam, ông đi vào chi tiết hơn nữa, ông lại bảo thế nầy. Ðọc những nhà văn trong Nam như Lê Xuyên, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Vương Hồng Sển, v. v. chúng ta có cảm tưởng văn ấy tự nhiên, thân mật mà nhanh nhẹn thoăn thoắt, mà dễ dàng lưu loát quá cỡ. Như thể không xếp đặt gì, cứ tuồng tuột ngon ơ, văn ấy cứ tuôn ra không vấp váp khục khặc bao giờ cả, nó trôi chảy tài tình quá xá. Ngày nay trên các báo chí hải ngoại, một số nhà văn miền Nam trong đó có Hồ Trường An cũng cho ta cái cảm tưởng ấy. Trong hoàn cảnh lưu vong sầu thảm, ai nấy rầu rĩ, thì văn ông vẫn cứ tươi mơn mỡn, vẫn cứ nuột nà . Thưa quí vị, đó là văn Võ Phiến chứ không phải văn Võ Ðình. Tôi không thể nào viết được như vậy.

     Sau khi đem sách ra để mách cho quí vị một chút như vậy, bây giờ tôi xin nói về Nguyễn Tấn Hưng. Ngoài cái chuyện Nguyễn Tấn Hưng không thôn quê, cũng không phố thị, Nguyễn Tấn Hưng là một nhà văn quân đội, Hải quân, có một điều buồn cười là tôi đọc Nguyễn Tấn Hưng, tôi không khỏi mỉm cười thích thú. Thích thú ở cái chỗ đó là một nhà văn có tinh thần Hải quân, đúng là viết khơi khơi như con tàu ra khơi. Hai chữ khơi cũng chẳng ăn nhằm gì với nhau hết, nhưng mà thôi cũng được.

     Tác phẩm trước của Nguyễn Tấn Hưng, Một Ðời Ðể Học , chắc quí vị cũng có dịp đọc rồi. Ðồng bào sang đây, vừa rầu rĩ, sầu thảm vừa tìm hết cách để học ngoại ngữ, để hội nhập, tìm việc làm, lo âu trăm việc. Nguyễn Tấn Hưng của chúng ta sang đây cũng đi qua những cái giai đoạn vất vả, sầu thảm như vậy. Nhưng mà cái hồi đầu, lúc còn lăn lóc đó, chàng kiếm đâu được một nghề, ở cái tiệm ăn gọi là Long John Silver, thế mà Nguyễn Tấn Hưng viết như thế nầy, tôi xin đọc hầu quí vị một đoạn để thấy cái tinh thần cầu tiến của Nguyễn Tấn Hưng. Hơn thế nữa, ngoài cái tinh thần cầu tiến, còn có cái tinh thần giữ mình, giữ thân, cố hết sức để mà sống mà còn. Ðây là một đoạn trong Một Ðời Ðể Học .

     Nghề chiên cá, chiên tôm ở Long John Silver là một nghề hết sức máy móc. Bốn vạc dầu sôi, bốn cái thùng vuông vức, khoảng chín tấc chín tấc bề cạnh và ba tấc bề sâu, lúc nào cũng chứa đầy dầu. Nhiệt độ của dầu được điều chỉnh tự động bằng điện tử, thả món gì vô cũng thấy nó sôi bùng lên. Một thùng dành riêng cho french fries và hush puppies. Một thùng dành riêng cho cá. Còn hai thùng còn lại dành cho tôm, scallops, clams... và chicken sticks. Món nào cũng lăn bột, chiên .

     Thưa quí vị, một nhà văn một quân nhân tỵ nạn, làm việc ở một khách sạn tầm thường ở Mỹ, lo việc chiên cá, chiên dầu. Vậy mà ông viết những đoạn như thế tôi đọc quí vị nghe, quí vị có nhớ điều gì không? Có nhớ lại cái đoạn mà ông Võ Phiến tả cái ông hủ tiếu không? "Rụp rụp" đó. Phải chăng có một sự liên hệ nào đó giữa thế hệ nầy với thế hệ kia? Có một cái sức sống nào đó, một cái điểm chung nào đó giữa những thế hệ khác nhau, và cả những trường phái khác nhau nữa. Tôi xin quay lại với đoạn văn của Nguyễn Tấn Hưng.

     Món nào cũng lăn bột, chiên. Hầu hết đã được làm sẵn, không biết từ đâu chở tới, vô bao giấy chất đầy trong tủ đá. Cứ lôi từng bịch, từng bịch mà thảy vào mấy vạc dầu. Chỉ có cá là phải pha bột, nhúng bột tại chỗ mà thôi. Việc thái cá, cá cod, thì giao cho mấy tên managers. Ðây là một cái quyền mà cũng là trách nhiệm, bổn phận, và phải học qua một khóa .

     Bây giờ đến cái đoạn mới thật là hấp dẫn. Bên trên mỗi vạc dầu, phía trước cái quạt hút khói, còn có một hàng nút push button để canh giờ chiên . Ông Nguyễn Tấn Hưng dùng tiếng Anh trong nầy một cách thoải mái. Thưa quí vị, khơi khơi. Tôm hai phút, cá ba phút, clam bốn phút, gà năm phút... đã được programmed sẵn. Chiên cá thì bấm nút cá, chiên gà thì bấm nút gà. Hết giờ là nó bíp-bíp và chớp đèn báo động . Có thua gì "rụp rụp" của ông Võ Phiến không? Hết giờ là nó bíp-bíp và chớp đèn báo động. Vớt ra thảy lên ngăn, là xong. Lúc nào cũng phải có sẵn tối thiểu mười miếng mỗi thứ. Mấy lúc đông khách, thảy năm ba thứ vô một thùng, đến hồi nó tranh nhau bíp-bíp, bíp-bíp, không biết cái nào mà tắt, mà vớt. Cũng vui. Vớt ra lộn thì để đó lát nữa chiên lại, bằng không thảy vô thùng rác, vừa tiện vừa lợi .

     Thưa quí vị đó là một đoạn văn ở trong Một Ðời Ðể Học , tác phẩm của Nguyễn Tấn Hưng mà nhà văn Mai Thảo, một nhà văn tài danh của chúng ta, đã bỏ công viết cho một cái tựa rất là chu đáo.

     Trong Một Ðời Ðể Học có thảy cá "rụp rụp" như vậy, thưa quí vị, nhưng qua cuốn Một Thuở Làm "Trùm" , như Nguyễn thị Thanh Bình vừa thưa với quí vị lúc nãy thì Nguyễn Tấn Hưng kể lại những kinh nghiệm của đời mình trong Hải quân, ở đảo Phú Quốc.

     Cuốn sách có tất cả 8 chương. Chúng tôi sẽ không làm mất thì giờ nhiều của quí vị bằng cách đi vào từng chương một. Chỉ xin nói sơ qua để quí vị có một ý niệm, và để hầu quí vị một vài đoạn văn tiêu biểu cho không khí của văn chương Nguyễn Tấn Hưng. Chương đầu là Một Thuở Làm "Trùm" lúc mà Nguyễn Tấn Hưng được gởi đi làm Trưởng phòng Nhì Vùng 4 Duyên hải ở đảo Phú Quốc. Ðến đây thì quí vị có thể có cảm tưởng Nguyễn Tấn Hưng vốn là một nhà văn gốc Nam, viết văn như tôi vừa đọc hầu quí vị xong, lúc nào cũng viết một cách rầm rộ, vui vẻ và thoải mái như vậy, khơi khơi như vậy. Nhưng, thưa quí vị, chính ngay tôi cũng đã lầm về cái đó. Vì đọc quyển Một Thuở Làm "Trùm" chúng tôi có khám phá ra một điều, mà có thể xưa nay chưa ai để ý đến. Tôi rất lấy làm lạ, làm lạ mà cũng lấy làm thích thú, không ngờ có những đoạn văn như thế nầy trong cuốn sách của Nguyễn Tấn Hưng. Ðây là ở chương 2, một đoạn văn tả cảnh. Tôi xin đọc hầu quí vị. Nhưng, thưa quí vị, tôi sẽ xin không đọc bằng giọng Nam để tỏ ra tôi không muốn đùa. Tôi xin đọc bằng giọng Huế. Xin lỗi anh Nguyễn Tấn Hưng...

     Tàu đò là một chiếc ghe lớn, ghe chài. Vậy mà cũng biết súp-lê như tàu sắt. Súp-lê một còn trông còn đợi, súp-lê hai còn đợi còn trông, súp-lê ba tàu ra biển Bắc, hai tay nắm chặt song sắt con mắt lờ đờ..., trật lấc, tàu ra biển Tây đi vào vịnh Thái Lan. Không riêng gì tàu hải quân, tàu gì ra khơi bao giờ cũng buồn buồn . Thưa quí vị, Nguyễn Tấn Hưng đó! Nguyễn Tấn Hưng cũng biết buồn, thưa quí vị. Không ai thoát được nỗi vương vấn, vướng vít bến bờ . Vương vấn, vướng vít bến bờ. Trời chiều vàng trên mặt nước. Gió biển mặn dập vào người. Lâng lâng hồn dâng cao theo triền sóng, thử hỏi ai mà chẳng ngậm ngùi, bâng khuâng trong cảnh tách bến ra đi. Lạch nước sâu chảy ra vịnh của dòng Kiên Giang đã thuộc lòng như chỉ bàn tay vậy mà bác tài công từng chập từng chập đưa tàu rướn lên cạn, trườn qua những bãi cát ngầm. Ngập ngừng như những tiếng nấc còn sót lại trước khi dứt khoác chia tay . Hay lắm! Rồi thị xã Rạch Giá xa dần xa dần trong nuối tiếc. Những chiếc thuyền con gắn máy đuôi tôm chạy bạch bạch hai bên tàu trong giờ tiễn người đi đã không còn thấy nữa. Nước biển trong xanh và những lượn sóng lớn bắt đầu phả vào mạn tàu. Tiếng máy tàu, máy dầu cặn, nổ đều đều trầm buồn ru ngủ .

     Ðoạn văn rất hay của Nguyễn Tấn Hưng, một nhà văn thường thường viết một cách hùng hồn, một cách khơi khơi đến lúc tả cảnh, tả buồn của chiếc tàu ra khơi, đã viết được những đoạn như thế nầy, chính bản thân tôi đọc rất lấy làm thích thú. Và tôi mong rằng quí vị khi đến giờ có sách, hãy chú ý đến những cái nét bất ngờ đó trong tác phẩm của Nguyễn Tấn Hưng.

     Ðoạn mà chúng tôi vừa đọc hầu quí vị nằm ở chương 2. Còn lại sáu chương chúng tôi xin để dành những cái thích thú, những cái khám phá trong đó cho quí vị. Ðể khỏi làm mất thì giờ quí báu của chúng ta hôm nay, bây giờ tôi chỉ xin nói lướt qua những phần này để sau đó đi ngay vào cái giá trị văn chương của Nguyễn Tấn Hưng mà chúng tôi cho rằng là điều quan trọng nhất. Trong sáu chương còn lại, hầu hết là những chi tiết, những sự kiện có dính líu đến Hải quân, đến cái thời gian gọi là làm "trùm," làm tình báo của Nguyễn Tấn Hưng ở đảo Phú Quốc. Sự đụng chạm với giới lãnh đạo, những cay đắng, những nỗi niềm cá nhân và đất nước. Trong sáu chương đó có đầy đủ tất cả.

     Về phương diện văn chương chúng tôi nghĩ rằng không thể nói đến Nguyễn Tấn Hưng mà không nhắc đến vài lời của nhà văn tài danh của chúng ta là ông Mai Thảo, đã có lòng tốt viết tựa cho Nguyễn Tấn Hưng ở tác phẩm thứ nhất của anh. Cái đoạn ngắn nầy của Mai Thảo tuy rằng nói về Một Ðời Ðể Học nhưng có dính líu đến tất cả văn phong của Nguyễn Tấn Hưng về sau nữa. Tôi xin đọc hầu quí vị. Ðể cho có sự công bằng, lúc nãy chúng tôi đọc Hồ Trường An và Nguyễn Tấn Hưng thì đọc giọng Nam, bây giờ chúng tôi xin đọc ông Mai Thảo với giọng Bắc. Xin quí vị quan khách và thân hữu gốc Bắc chính hiệu đừng... cười cái giọng Bắc Thừa Thiên của tôi. Thưa quí vị, đây là Mai Thảo.

     Ðiều yêu mến sau cùng, lớn hơn hai điều yêu mến trước ... Xin quí vị theo dõi cho kỹ vì đọc văn Mai Thảo phải để ý từng ly từng tí. Ðiều yêu mến sau cùng, lớn hơn hai điều yêu mến trước, là mặc dầu đã mười mấy năm trôi dạt, một trôi dạt rất dễ dàng đẩy vào thất lạc, mặc dầu Việt Nam đã nghìn dặm, quê nhà đã nghìn trùng, bàn viết Nguyễn Tấn Hưng, giữa thổ ngơi lữ thứ xa lạ, vẫn đặt được vào đúng hướng đúng tầm với giống nòi và đất nước ở xa. Không bao giờ tôi xa, chẳng bao giờ tôi quên, chẳng bao giờ tôi khác. Thế giới có nghìn biển nghìn trời nhưng tôi chỉ có và chỉ sống với một trời một biển. Toàn bộ văn truyện Nguyễn Tấn Hưng đã nói cho Nguyễn Tấn Hưng như vậy. Nói một Việt Nam toàn phần, trong tâm trong hồn. Nói một đất nước vẫn hơi thở vẫn máu hồng, trong lòng trong dạ. Dùng một hình ảnh của đại dương, trên đó có đời sống, quá khứ và trí nhớ Nguyễn Tấn Hưng trải rộng, thì là một hải trình dẫu đêm tối và giông bão, dẫu phương hướng mịt mùng và sơn cùng thủy tận, hải trình ấy vẫn từ một bến đậu và trở về bến đậu .

     Thưa quí vị, nếu quí vị đã quen thuộc với lối hành văn của ông Mai Thảo rồi thì không có gì phải nói thêm. Còn nếu như có quí vị nào chưa quen thuộc lắm, thì tôi xin "diễn giảng" mấy câu vừa qua để quí vị thấm thía hơn. Cái ý của ông Mai Thảo có thể tóm tắt trong hai điều: Một là đi ngoại quốc Nguyễn Tấn Hưng đã cầm bút lại, tiếp tục viết, và hai là lòng dạ Nguyễn Tấn Hưng vẫn chung thủy với đất nước quê hương .

     Tuy Mai Thảo là một nhà văn tên tuổi nhưng trích dẫn cho Nguyễn Tấn Hưng có thể là một điều bất công. Bất công, không phải vì Mai Thảo không xứng đáng, ồ, không trái lại! Bất công vì trích dẫn cho Nguyễn Tấn Hưng, chúng ta phải tìm đến một người như là Hồ Trường An chẳng hạn! Một người cùng có cái tinh thần miền Nam, thâm hiểu vùng đất quê hương đó, gắn bó với lá rau ngọn cỏ, với giọt nước, hạt cơm của miền đất đó, một người như thế với một cách nói cách viết thật giản dị thật đậm đà, mới viết nên những lời thật xác đáng cho Nguyễn Tấn Hưng. Vì vậy chúng tôi xin nhắc lại ở đây, trước khi chấm dứt, đôi điều mà Hồ Trường An đã nói về Nguyễn Tấn Hưng. Và bây giờ quí vị cho tôi xin phép quay lại với giọng Nam của Hồ Trường An.

     Văn chương hải ngoại có nhiều khuynh hướng thì mới có thể gọi là một văn chương phồn thịnh. Qua Một Chuyến Ra Khơi Một Thuở Làm "Trùm" , Nguyễn Tấn Hưng có một chiếu riêng, một đường lối riêng về đề tài. Do đó, anh là một cây bút độc đáo với vốn sống quá đỗi dồi dào. Nếu anh viết chậm hơn, tỉ mỉ hơn cuốn sách có thể kéo dài ngót nghét thêm một hai trăm trang nữa.

     Nguyễn Tấn Hưng tuổi đời chỉ độ tứ tuần, không hẳn là còn quá trẻ, nhưng vẫn là cây bút ở vào tuổi sung mãn nhất cuộc đời để sáng tác vừa phong phú vừa chín chắn. Anh không những chỉ đóng góp vào văn đàn bằng tác phẩm của mình, mà anh còn rọi sáng cho chúng ta,
đây là lời của Hồ Trường An , một đoạn lịch sử có anh tham dự, góp một viên gạch vào việc xây cất ngôi đền tổ quốc trong tâm tưởng người dân mất nước là chúng ta đây. Bởi đó, Một Thuở Làm "Trùm" là một tác phẩm có giá trị ở hai, ba mặt .

     Với điều chúng tôi vừa trích ra từ Hồ Trường An, mọi mặt đã quá đầy đủ. Chúng tôi xin phép chấm dứt ở đây.

     * Bài nói chuyện ra mắt sách Nguyễn Tấn Hưng tại trường đại học George Mason, thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, ngày 15-10-1989, được chép lại từ băng ghi âm bởi Hồng Lan.

   back to top

07. Bên Lề Cuộc Ra Mắt Sách của Nguyễn Tấn Hưng: NHỮNG Ý NGHĨ RỜI VỀ MỘT MẢNG VĂN HỌC

             NGUYỄN NGỌC BÍCH

     Mới đây, nhà văn Nguyễn Tấn Hưng cho ra mắt cuốn sách mới nhất của ông, cuốn Một Thuở Làm "Trùm" do nhà xuất bản Văn Nghệ in ra (ngày 15-10-89) tại trường Luật George Mason University, Trung Tâm Văn Bút Miền Ðông bảo trợ. Nhân dịp này, tôi có đưa ra một ý kiến mạo muội cho rằng có lẽ Nguyễn Tấn Hưng là nhà văn Hải quân hiếm hoi mà chúng ta có, tính cho đến lúc này.

     Liều lĩnh! Liều lĩnh! Nhiều anh bạn đã cảnh cáo tôi trước, nhất là vì trong cuốn sách tả về thời gian anh làm trưởng phòng Nhì (Ban 2) ở Phú Quốc (do đó mới có chữ làm "Trùm" mở ngoặc, đóng ngoặc trong đầu đề cuốn sách) anh Nguyễn Tấn Hưng đã thẳng thừng ghi đích danh người này người kia, kể lại cả những tính nết, thói hư tật xấu của người ta, thậm chí lại có lúc ám chỉ người ta là tham nhũng nữa.

     Liều lĩnh đến độ nào thì chắc quí vị phải có mặt hôm đó thì mới thấy rõ được. Những lời phản bác bay tứ tung, từ nhà văn họa sĩ Võ Ðình đến Phan Tấn Hải tác giả Cậu Bé và Hoa Mai , từ nhà khoa học Trương Hồng Sơn đến cựu Trung tá Hải quân Trần Văn Tâm (từ New Jersey lên), từ nhà báo, cũng là cựu sĩ quan Hải quân, Giang Hữu Tuyên đến ký giả và phê bình gia Bùi Bảo Trúc... Thôi thì đủ cả, nhưng tựu chung tôi cho rằng có hai loại ý kiến: Một loại liên hệ đến nội dung cuốn sách, những chi tiết trong đó mà ta có thể cho là sai hay đụng chạm, bất công đối với người khác; và một loại thì không đi vào nội dung mà chỉ nói lên một hiện tượng văn học, mà tôi tạm gọi là Văn học Hải quân , văn học phản ảnh đời sống và kinh nghiệm Hải quân mà ta có thể lấy Nguyễn Tấn Hưng làm thí dụ điển hình.

     Về loại ý kiến một (đi vào nội dung, chi tiết, v. v.), anh Nguyễn Tấn Hưng đã trả lời với tư cách là tác giả, là người ở trong cuộc nên đã dám khẳng định đó là sự thật "dưới con mắt tôi." Và nếu nói đụng chạm hay chỉ trích, anh nói tiếp, thì cuốn sách còn thẳng thắn nói về điều sai quấy mà "chính tôi phạm phải." "Nếu xem đó là có tội thì tôi có tội trước tiên." Nói cách khác, anh Nguyễn Tấn Hưng đã giành quyền tự do ăn nói của anh cho rằng chỉ có lương tri của anh là có thể đặt ra giới hạn cho nó.

     Trong bài này, tôi xin không đụng đến vấn đề trên, mà chỉ xin trở lại ý kiến mà tôi đã mạo muội đưa ra về khả-năng-tính của một nền "Văn học Hải quân" Việt Nam. Dưới đây, tôi xin sơ lược lại những nhận xét mà tôi đưa ra vấn đề này và những ý kiến trái ngược do những bạn khác đóng góp.

     Ðặt vấn đề:

     - Thứ nhất là vai trò trung tâm của "nước" ở trong đời sống và lối suy nghĩ của người Việt. "Nước" được xem là then chốt đến độ tiếng Việt có lẽ là thứ tiếng độc nhất ở trên thế giới này mà gọi nơi sinh tụ và quần tụ của một dân tộc là "nước" thay vì "đất." Ta cứ lấy kinh nghiệm của các tiếng khác thì rõ, hầu như ai cũng gọi "nước" của mình là "đất" cả: England (Angleterre, Inghilterra), Deutschland, Greenland, Iceland, Ireland, Switzerland, Tierra del Fuego, Tamilnad v.v. Chỉ có độc một anh Việt Nam nhất quyết gọi "đất" của mình là "nước." Phải chăng đó là một cái nhìn sâu trong căn bản, kết quả của một sự tích tụ kinh nghiệm của hàng ngàn năm lịch sử rồi mới đến được một kinh nghiệm như vậy.

     - Thực ra, nước còn có thể nói là sinh lộ của chúng ta. Không có nước, không có biển thì không chắc chúng ta có mặt ở hải ngoại nhiều như ngày hôm nay.

     - Việt Nam cũng lại còn cả một lịch sử oai hùng, vĩ đại với những trận thủy chiến lừng lẫy. Trong huyền thoại Việt Nam chẳng hạn, chúng ta có chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh, một trận chiến thư hùng mà trong đó tất cả biển với nước dâng lên ngập tràn gần hết cả thế giới. Còn có gì mênh mông, bát ngát, hùng tráng cho bằng? Rồi những trận có thật trong lịch sử: Ðã bao lần quân Tàu bị đại phá ở Bạch Ðằng, không phải một lần mà nhiều lần, sao ta vẫn không có một tác phẩm nào làm sống lại những giờ phút hào hùng đó?

     - Về bờ biển, Việt Nam ngày nay có trên 3 nghìn cây số bờ biển với hầu như tuyệt đại đa số dân chúng sống ven sông ven biển. Tại sao văn học chúng ta mới chỉ thấy lác đác bóng dáng của vài chiếc thuyền chài.

     - Về Hải quân, tôi không nhớ là Hải quân Việt Nam đứng hàng thứ mấy trên thế giới. Có điều là Hải quân chắc chắn đông hơn Không quân, vậy sao ta có những nhà văn Không quân như Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh ( Ðời Phi Công ) hay có cả một nhà xuất bản Không quân trong những năm trước 75 mà chưa có những nhà văn chuyên trị về đề tài Hải quân?

     Ngần ấy những câu hỏi tôi thiết tưởng cũng đáng để cho chúng ta suy nghĩ và thử tìm ra một vài lời giải thích.

     Phản đề: Không có Văn học Không quân

     Nhà văn họa sĩ Võ Ðình cho rằng đặt vấn đề như tôi là không đúng. Khi người ta nói nhà văn này là nhà văn Không quân hay Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ là nhà văn Dù, Hà Huyền Chi là nhà thơ Mũ Ðỏ... thì theo anh Võ Ðình, đó chỉ là một cách nói cho thân tình vậy thôi. "Cũng như sau này chúng ta có những nhà văn gốc Bác sĩ viết rất hay, như Huỳnh Hữu Cửu hay đặc biệt là Mai Kim Ngọc, tức Bác sĩ Vũ Ðình Minh. Rồi Bác sĩ Lê Văn Lân (có mặt ngay đây hôm nay), một người mà tôi thấy viết rất có duyên, rất thích thú về ngọn rau thơm hay ngày cúng giỗ. Song đâu có ai nói là có một nền văn chương Bác sĩ đâu?" Ðúng là một lời nhận xét sắc bén và có cơ sở.

     Anh Trương Hồng Sơn cũng lên "bồi" thêm một quả. Anh nói: "Ai cũng biết St. Expéxury là phi công và ông viết rất hay nhưng có ai gọi văn của ông là văn phi công hay văn không quân gì đâu? Cái hay của ông nằm ở chỗ khác, nó dựa vào phi công thật nhưng ông được người ta đọc và xem là một nhà văn vì suy tư của ông, không phải vì đề tài của ông."

     Ðứng trước hai nhận xét sắc bén như trên, tôi gần như á khẩu. Nhưng tôi vẫn phân vân. Phân vân vì rõ ràng chúng ta sống qua một thời gian chiến tranh đằng đẵng, hai bên Nam Bắc đều có quân đội hùng mạnh - và kinh nghiệm quân đội rõ ràng là một kinh nghiệm sống của hàng triệu người Việt Nam. Không lẽ từ một vốn sống như vậy mà lại không có những "nhà văn quân đội" hay sao?

     Ở ngoài Bắc đã đành, người ta dứt khoát gọi những người như Nguyễn Khải hay Nguyễn Minh Châu là những "nhà văn quân đội" - cũng như người ta không hề gọi Nguyễn Ðình Thi là "nhà văn phòng không" mặc dầu Nguyễn Ðình Thi đã có quyển Vùng Trời đã được dịch sang nhiều thứ tiếng. Rõ ràng là tính chất "bộ đội" của Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu có ảnh hưởng đến đề tài, đến lối nhìn, đến cả bút pháp của họ.

     Như vậy thì lạ gì Miền Nam có những nhà văn Quân Ðội? Không lẽ gọi Phan Nhật Nam là một "nhà văn" trống trơn cũng tựa như Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ? Vậy nếu ta có thể gọi được Nhã Ca, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng là những "nhà văn nữ" - vì nữ tính của họ có quyết định được phần nào cách viết, cách nhìn của họ - hay văn của Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Hồ Trường An là một nền "văn chương Miệt Vườn" thì ai cấm ta gọi Phan Nhật Nam là một "nhà văn quân đội" hay Hà Huyền Chi là một "nhà thơ Mũ Ðỏ?"

     Không những thế, gọi như vậy có khi lại còn cho ta một cái nhìn chính xác hơn về sự đóng góp của họ hơn là gọi họ là "nhà văn" hay "nhà thơ" trống trơn. Tôi còn dám nói hơn, chừng nào chúng ta phân biệt được trong văn học Việt Nam cận-hiện-đại những mảng văn học như: Văn học Không quân ( Ðời Phi Công v.v. ), văn học Dù (Phan Nhật Nam, Hà Huyền Chi, Nguyên Vũ)... thậm chí cả văn học Quân Y (như cuốn Y Sĩ Tiền Tuyến của Trang Châu), thì chúng ta lại càng vững tâm hơn là văn học Việt Nam hiện đại đã bước được những bước hia bảy dặm để có thể đem so sánh với bất cứ nền văn học nào trên thế giới.

     Tóm lại, sự kiện văn học Việt Nam ngày hôm nay có một nền văn học Quân Ðội phải được xem không những là một sự kiện mới mẻ mà là một bước tiến đáng kể. Nếu nền văn học đó lại còn có thể phân loại ra được thành những mảng tinh tế hơn như văn học Không quân, văn học Dù (hay Mũ Ðỏ), văn học Hải quân (chưa thấy bóng dáng văn học Thủy Quân Lục Chiến)... thì thiết tưởng ta phải lấy đó làm mừng. Nền văn học ấy không những đã có mặt (bằng chứng là giá trị văn học của một số tác phẩm trong đó đã được công nhận qua những giải văn học toàn quốc), nền văn học ấy vẫn được tiếp nối ở hải ngoại qua những ngòi bút như của Cao Xuân Huy, Nguyễn Mạnh Trinh, Phan Lạc Tiếp... và giờ đây, Nguyễn Tấn Hưng.

     Nguyễn Tấn Hưng chưa phải là một nhà văn lớn - điều đó còn phải chờ thời gian chứng minh - nhưng có một điều, có một sự rất độc đáo ở nơi anh. Qua ba cuốn sách, tập truyện Một Ðời Ðể Học rồi đến truyện dài Một Thuở Làm "Trùm" và cuốn sắp ra mắt tới đây, cuốn Một Chuyến Ra Khơi , anh đã khẳng định một hướng đi cho anh mà chưa ai làm, đó là chuyên trị các đề tài Hải quân, ít nhất cũng nhìn qua một con mắt - một con mắt ghi được nhiều tình tiết, và một con mắt nhớ dai - đó là con mắt của anh "trùm" Hưng!

   back to top

08. TÔI ÐỌC TÁC PHẨM MỘT THUỞ LÀM "TRÙM"

             TRẦN QUÁN NIỆM

     Thật tình cờ tôi đến tham dự buổi ra mắt sách Một Thuở Làm "Trùm" của nhà văn Nguyễn Tấn Hưng tổ chức tại Washington DC. Vì không quen anh trước - chỉ biết tên anh qua những bài viết trên Lướt Sóng , và những tạp chí văn học khác - nên không có giấy mời, tôi tháp tùng người bạn văn của anh, bác sĩ Lê Văn Lân, thúc đẩy bởi lòng hiếu kỳ, muốn gặp anh Hưng và nhóm bạn trong Hội Văn Bút Miền Ðông Hoa Kỳ của anh xem tình hình văn chương hải ngoại tiến triển ra sao sau 15 năm xa xứ. Qua lời anh Lân thì hình như anh Hưng trước có biết tôi - cùng ngành Hải quân, lại cũng có thời phục vụ ở Phú Quốc - nhưng khi đối diện, nhìn nhau từ đầu tới chân, lục lọi trí nhớ một hồi, mới rõ là chưa gặp nhau bao giờ.

     Anh vồn vã chào đón, vì dù sao cùng một binh chủng cũng kể như quen. Dáng người chân thật, đôn hậu, cởi mở, sau câu chào hỏi thường lệ, anh nói:

     - Ðể tôi ký tặng Commandant tập sách.

     Rồi quay qua anh Lân:

     - Anh Niệm, đây là niên trưởng của tôi đấy.

     Lâu ngày mới nghe có người gọi mình bằng danh xưng cũ trong nghề, lại được tôn làm niên trưởng, tôi cũng thấy khoái lỗ tai.

     Anh Hưng đưa cho tôi hai tập sách, trình bày trang nhã, một do Làng Văn và một do nhà Văn Nghệ xuất bản:

     - Tôi tặng luôn Commandant tập trước, Một Ðời Ðể Học . Commandant đọc qua tập Một Thuở Làm "Trùm" rồi cho tôi biết ý kiến nghe. Tôi nghĩ cuốn này có thể gây nhiều sóng gió, tranh luận trong tương lai. Ít ra cũng trong giới Hải quân.

     Anh Giang Hữu Tuyên đứng bên cạnh, rỉ tai:

     - Anh ấy tố dữ lắm đấy.

     Ái cha, gì mà ghê gớm thế, sơ sơ đã thấy giật gân rồi. Hóa ra đây không phải là cuốn tiểu thuyết bình thường hay sao? Anh chàng này định tố ai đây? Căn cứ vào tài liệu nào? Ðứng trên cương vị nào? Và tầm mức quan trọng ra sao?

     Tự nhiên tôi thấy cần đề cao cảnh giác. Ô hay, đi dự ra mắt sách mà cứ y như là đi dự phiên tòa về tham nhũng, hối mại quyền thế không bằng. Không thể lè phè thưởng ngoạn văn nghệ kiểu ngồi chơi xơi nước được, biết đâu sẽ có màn phát biểu ý kiến cũng nên. Phải tranh thủ đọc qua loa lấy khái niệm cái đã.

     Xen kẻ với phần giới thiệu tác giả và tác phẩm do các bạn Văn Bút của anh đảm trách như những tiết mục thường lệ phải có trong một buổi ra mắt sách, tôi lật nhanh những trang giấy, xem lướt lướt. Tên nhân vật toàn là tên thật, Ðại tá Khương Hữu Bá, Ðại tá Nguyễn Văn Thiện, "cao bồi" Luật . . ., cho chí những nhân vật phụ thuộc hơn, Trung úy Nguyễn Kỹ Lăng, Thượng sĩ Nghĩa, Trung sĩ nhất Thạch Sến, v. v. . . ., ngoại trừ nhân vật chính trong truyện (xưng tôi) lại là Hoàng chớ không phải Hưng, dù rằng không nói thì ai cũng biết anh kể lại chuyện đời anh. Ðịa danh nghe thật quen thuộc: Phú Quốc, Mũi Ông Ðội, Bãi Xép, Dương Tơ, Dương Ðông, An Thới, và câu chuyện xoay quanh "triều đại" Hải quân tại đảo này, khoảng thời gian gần ngày mất nước: từ những màn bắt buôn lậu miền biên giới, săn đuổi ghe cá Thái Lan, cho đến vụ xử tử quân nhân làm loạn trong cuộc di tản, v. v. . . . Có lẽ trọng tâm là vụ tẩu tán tiền bạc của dân tỵ nạn.

     Sang phần thảo luận, lúc được hỏi khi viết Một Thuở Làm "Trùm" anh muốn nói lên điều gì, anh cho hay: "Tôi chỉ muốn nói lên sự thật, dù rằng đó là một sự thật mà có những người không muốn nhớ đến, không muốn nghe ai nhắc lại. Sự thật đó nằm trong một bối cảnh xã hội và vào một thời điểm mà chính tôi đã trải qua, đã là người trong cuộc. Tôi biết khi viết ra chắc chắn sẽ có nhiều người không thích, nhưng nếu tôi không có can đảm để viết, thì ai sẽ viết đây, và sự thật sẽ bị chôn vùi trong lịch sử."

     Mấy tuần sau, có thì giờ đọc kỹ tác phẩm của anh, cũng như chuyện trò qua điện thoại, tôi nhận thấy với óc quan sát sắc bén và một trí nhớ phong phú, anh đã diễn tả sống thực những cảnh đời, những nhân vật, những địa điểm, cảnh trí bị chìm dưới lớp bụi thời gian đã gần 15 năm. Từng sự kiện diễn ra trước mắt người đọc, linh động và đầy màu sắc. Có thể nói óc anh như một máy ảnh, đã chụp lại toàn diện cảnh vật, từ những chi tiết nhỏ nhoi nhất.

     Bằng văn phong bình dị miền Nam, anh thuật lại chuyện đời anh, dễ dàng, thoải mái. Mạch văn xuôi chảy, khơi khơi, nhưng không kém phần dí dỏm với những nhận xét riêng tư, dẫn người đọc đi từ biến chuyển này sang biến chuyển khác, lôi cuốn người đọc từ trang đầu rồi tới trang cuối lúc nào không hay. Ngọn bút của anh có biệt tài, diễn tả những câu chuyện tầm thường nhất mà người đọc vẫn không thấy nhàm chán, vô vị. Tôi hỏi anh: "Vừa đi làm, vừa đi học, anh tìm đâu ra thì giờ mà sáng tác đều tay quá vậy?" (ngoài hai tác phẩm Một Ðời Ðể Học Một Thuở Làm "Trùm" đã xuất bản anh còn hai tác phẩm nữa: Một Chuyến Ra Khơi Một Cảnh Hai Quê đang chờ phát hành). Anh đáp: "Thì tất cả là chuyện đời tôi đã trải qua, cứ tuần tự mà thuật lại, tựa như người gỡ cuốn chỉ rối vậy mà." Nghe anh nói thì dễ dàng như vậy, nhưng thật ra không phải vậy đâu, vì nếu đúng như lời anh nói, ai cũng có cuộc đời để kể lại, cũng in sách, cũng thành nhà văn cả sao?

     Ðọc văn anh, người Hải quân thấy dàn trải ra trước mắt mình một cuộc đời sông biển mà mình đã từng sống, những thổ ngơi và địa danh quen thuộc mà mình đã từng qua: một dĩ vãng chợt bừng dậy trong trí nhớ, mang theo biết bao nhiêu là bâng khuâng, hoài cảm; người không phải Hải quân cũng hé nhìn được phần nào tâm tình của người lính hải hồ, cảm thấy thân thuộc với những vùng đất nước xa lạ nhưng thân yêu mà mình đã từng nghe nhưng chưa hề đặt chân tới.

     Ðó là nhận xét của riêng tôi về nhà văn Nguyễn Tấn Hưng trên địa hạt văn chương. Có lẽ những lời nhận xét của tôi cũng hơi thừa đối với anh, vì những nhà văn tên tuổi như Mai Thảo, Võ Ðình, Hồ Trường An, đã từng đề bạt anh là một nhà văn với văn phong đặc biệt miền Nam, có chỗ đứng riêng biệt và vững chắc trên văn đàn hải ngoại. Còn phần sự thật anh phơi bày mà anh tiên đoán sẽ đem lại nhiều tranh luận trong giới Hải quân thì sao? Ðược hỏi, đây là cuốn tiểu thuyết hay là bản cáo trạng, anh trả lời: "Tùy người đọc, gọi đó là bản cáo trạng cũng được vì đó là những sự thật một trăm phần trăm mà tôi đã chứng kiến, đã tham dự, cũng như bị lôi cuốn vào." Tuy bị lôi cuốn nhưng anh không nhập cuộc, mà "vận chuyển" khéo léo để đứng bên lề. Bao năm nay, anh suy tư thao thức, trằn trọc, đắn đo, và cuối cùng anh quyết định. Có gặp anh mới thấy rõ anh là người bộc trực, thẳng thắn. Cái tính tình quí báu của người miền Nam. Týp người "uy vũ bất năng khuất." Tôi thầm kính phục sự can đảm nơi anh. Cái can đảm của một kẻ sĩ. Thay vì chọn thái độ "mũ ni che tai," cho nội vụ chìm vào quên lãng luôn, anh đã giơ cao thanh gươm chánh khí, đem vấn đề gai góc ra mỗ xẻ.

     Những sự anh Hưng trình bày có tính cách trung thực tới mức nào? Những nhận xét anh nêu lên có mang màu sắc phiến diện, chủ quan không? Khi người cầm bút muốn mượn tiểu thuyết để giới thiệu đến người đọc một bối cảnh lịch sử nào đó, có nhất thiết phải nêu rõ danh tánh của những người trong cuộc hay không? Giới hạn của người viết và quyền biện hộ của kẻ liên hệ?

     Câu trả lời cho những vấn nạn trên xin nhường lại cho độc giả, nhất là những người liên quan tới cốt truyện, mà theo như tôi biết, một phần lớn đang cư ngụ tại Hoa Kỳ.

   back to top

09. ÐÔI LỜI GIAO CẢM VỚI NGUYỄN TẤN HƯNG

             HÀ HUYỀN CHI

     Ðang đọc Một Thuở Làm "Trùm" của bạn đây. Ở thể loại tự thuật, hay tự truyện tôi chỉ khoái vài người.

     Giao Chỉ Vũ văn Lộc, chải chuốt, cô đọng và ánh lên nét hào sảng độ lượng ở Cõi Tự Do . (Lúc này người anh em đang lâm tiểu nạn, văn phong đã không còn hào quang lấp lánh thuở Tây Tiến, thuở dựng bản Tin Biển, và gã thợ thề hàn gắn đổ vỡ chia rẽ cộng đồng trong vai người trung gian khả tin).

     Người bạn trẻ khác là đỉnh nhọn của Thơ, Văn, Nhạc: Hà Thúc Sinh. Văn tự thuật của chàng tràn đầy lưu lượng sông dài, ăm ắp tình người và vươn lên dũng khí.

     Lê văn Phúc, Cai Phúc viết thật dễ dàng, hồn nhiên trong Tôi Làm Tôi Mất Nước . Bỏ qua những nét cường điệu, làm dáng, cai sữa Lê văn Phúc vẫn đem đến người đọc những nụ cười thoải mái. Phúc tự dìm mình xuống để được nâng lên, trong khi đám tiểu nhân tự đội mũ lông công, cánh chuồn lên tác phong và văn chương bệ rạc của chính họ, và đương nhiên là bị dư luận đạp xuống, nhổ bọt.

     Bạn Nguyễn Tấn Hưng, tôi đã đọc Bạt của Hồ Trường An cho bạn, và tựa của Mai Thảo ở một tập khác, để thấy Mai Thảo cho bạn đã là điểm cao, Hồ Trường An, không có luận cứ vững khi gói ghém bạn chung với giòng văn chương miền Nam với Nguyễn văn Sâm, Kiệt Tấn và Hồ Trường An, dĩ nhiên. Chỉ là một điều Hồ Trường An đã chụp vẽ đúng: "Nguyễn Tấn Hưng đã có một chiếu riêng cho loại văn tự truyện này."

     Nguyễn Tấn Hưng không có cái văn phong của những cây bút tự thuật ở trên, nhưng ở bạn là một sự hài hòa chừng mực. Một Thuở Làm "Trùm" đã chụp, vẽ thật chừng mực những sự kiện, những góc cạnh của mỗi vấn đề dàn trải. Chụp, vẽ thật tinh tế, không phóng đại, tô màu. Rất khách quan, nội tại. Rất lừng lững một mình một cõi văn chương...

   back to top

10. ÐÔI LỜI GIAO CẢM VỚI NGUYỄN TẤN HƯNG

             THỤY KHANH

     Muôn vàn cảm tạ anh về quyển Một Thuở Làm "Trùm" anh gửi cho. Tiếp theo Một Ðời Ðể Học , kể như nhận được của anh hai tập truyện rồi. Tháng trước ra Paris ghé nhà sách Nam Á hỏi mua Một Chuyến Ra Khơi . Mãi mê chuyện trò thế nào, bà chủ tiệm lại đưa cuốn Một Thuở Làm "Trùm." Thế là có dịp tặng bạn một tác phẩm của anh. Phải mua sách của Nguyễn Tấn Hưng vì không thể để tác giả tặng mãi được...

     Vừa đọc xong Một Thuở Làm "Trùm." Ðọc mấy cái Bạt của anh Hồ Trường An viết cho một số nhà văn thuộc lớp trẻ, mới thanh danh ở hải ngoại, Thụy Khanh nhận thấy Bạt viết cho anh hay nhất, sắc bén nhất, nhận xét tinh tế nhất. Vậy Thụy Khanh còn gì để nói nữa đâu, nếu không phải là một nhận xét khiêm tốn của một độc giả đã đọc Bạt trước khi bày tỏ cảm tưởng của mình.

     Văn của anh trong sáng, gẫy gọn. Ðọc đến đâu là thấu đáo đến đó. Ðộc giả không cần phải giở lại trang trước để theo dõi diễn biến của câu chuyện. Và kỳ lạ thay, từng đoạn đời được nhắc tới với đầy đủ chi tiết, từng gương mặt hiện ra, với bờ sông, bụi cỏ, tất cả như những chứng nhân sống động, mà tác giả như một đạo diễn điềm nhiên, lạnh lùng cân nhắc, chỉ vẽ những động tác của nhân vật. Không thấy tình cảm phê phán của người viết. Không nghe tiếng oán than hờn ghét. Vậy mà đọc văn Nguyễn Tấn Hưng thấy bị cuốn hút theo tình tiết của truyện. Viết về một cuộc sống với nhiều chuyển biến đột ngột, trong một bối cảnh chiến tranh, giữa một xã hội nhốn nháo, loạn lạc vậy mà tác giả không bỏ qua một chi tiết nào cần có, cũng không thêm thắt những đối thoại rườm rà. Giản dị và trong sáng. Ðề tài anh chọn cũng khác lạ, độc đáo. Anh là một mẫu người đúng của ngành tình báo: sắc bén. Nhưng trong cách hành văn, diễn ý của anh, độc giả lại thấy sự dịu dàng, chân thật. Có lẽ tình yêu quê hương, nỗi xót đau của một người trong cuộc nhưng không có đầy đủ thẩm quyền, đã trào ra ngọn bút của anh thật ngọt ngào không ngừng được. Ðọc văn anh, có nhiều chỗ thấm thía nỗi buồn, mặc dù chỉ lướt qua, nhẹ nhàng nhưng vội vã, có vẽ sợ người khác bắt gặp giọt lệ âm thầm rơi đâu đó...

   back to top

11. ÐÔI LỜI GIAO CẢM VỚI NGUYỄN TẤN HƯNG

             THỪA PHONG

     Thú thật, tôi chưa từng viết dài dòng như thế nầy cho một người bạn mới quen. Vì chưa biết gì nhiều để nói. Với anh, tôi cảm thấy cần phải nói nhiều. Lý do là nhờ mấy quyển tự truyện anh có hảo ý tặng biếu tôi. Nhờ nó mà tôi biết anh, như một người quen lâu năm. Và cũng nhờ nó quá hấp dẫn, bắt buộc người đọc chương đầu phải đọc đến chương cuối.

     Ở Mỹ nầy không thiếu gì sách, nhứt là loại truyện ngắn, dài, thơ phú. Ðọc mãi cũng nhàm. Một phần nhàm chán cũng do lề lối viết của tác giả. Giở một quyển tiểu thuyết hay truyện ngắn tôi thường gặp lối viết không hợp với quan niệm viết văn của tôi, từ những tình tiết của chuyện kết hợp quá máy móc, những phân tích tâm lý vòng vo để giải thích sự kết hợp thiếu hẳn tự nhiên đó, đến lối hành văn dặm chân một chỗ hay xoay quanh như trôn ốc, lý luận rẻ tiền nặng mùi triết lý thượng tầng. Làm cho tôi tự đặt câu hỏi: Tác giả đứng ở phương vị nào để viết như thế? Rồi đâm ra nghi ngờ tác giả viết "không thật, " chỉ là tưởng tượng mà thôi. Là những người chuyên ngồi trong phòng văn nặn óc cho ra chuyện. Ðành rằng những loại truyện ngắn hay tiểu thuyết đặt trọng tâm vào việc giải trí hơn là nhằm lưu lại một tác phẩm toàn bích, nhưng tôi nghĩ văn chương không nên chỉ nhắm vào một mục đích duy nhất quá trần trụi như thế.

     Với tôi, viết trước tiên là phải thật. Có thật tác phẩm mới sống. Muốn thật phải có kinh nghiệm "sống," không thể do tưởng tượng hay suy luận mà được. Nhưng có nhiều kinh nghiệm sống cũng chưa đủ. Bao nhiêu người đã có thứ vật liệu quý giá đó, cũng nhờ đó mà biết thương yêu, hờn giận, mừng tủi, nhưng không viết ra được. Chỉ có những người biết cảm nghĩ sâu xa, thanh cao và bền bỉ mới thành những nhà văn có tài.

     Thế hệ trung niên của mấy anh được cái may sống trong một thời đại đầy biến chuyển sâu rộng. Không như thế hệ trước ít khi ra khỏi làng xóm, thành thị hay quê hương. Cuộc sống trải rộng đó cung ứng nhiều hiểu biết, nhiều cảm nghĩ mới mẻ, sâu sắc, nhờ mục kiến tận mắt, đau đớn vì va chạm đến bản thân, não nề khắc ghi sâu đậm trong tâm trí. Ðó là những thứ vật liệu xây đắp văn tài, mà theo ý tôi, là bí quyết thành công của người cầm bút. Là làm sao cho người đọc cũng thấy, cũng nhớ, cũng cảm nghĩ như tác giả. Là bắc một nhịp cầu thông cảm giữa người viết và người đọc. Là tạo nên một mối đồng tâm.

     Viết tới đây tôi cảm thấy cần thận trọng, không khéo sẽ bị anh cười là quá vị nể nhau, vuốt lưng để vừa lòng nhau. Tôi không hề có ý nghĩ đó và cũng không hề dám nhận viết một bài tựa hay bài giới thiệu nào cho một tác phẩm của bạn văn. Và tôi cũng không hề mượn một ai đề tựa cho những tác phẩm của tôi, dù tôi có những người bạn có thể giúp tôi việc đó. Do đó, những lời tôi viết ra đây với anh là những lời thành thật.

     Trừ quyển Một Chuyến Ra Khơi thuật lại cuộc đời hồ hải của người lính thủy quân, mà tôi không có kinh nghiệm (cỡ lứa tuổi tôi không có "nghề" làm lính), hai quyển Một Ðời Ðể Học Một Thuở Làm "Trùm" đã khơi dậy trong tôi một số kỷ niệm, vì nó rất sống. Sống với những cảnh Thật, từng chi tiết có Thật, với cảm nghĩ Thật, cùng lời văn Thật thà của người dân miền Nam...

     Tôi cũng có một người vai ông, bắt đầu làm nghề chủ vựa cây mua gỗ súc từ miệt Sông Lớn Cao Miên đổ xuống. Cũng làm ăn không khá, chuyển qua đóng đồ mộc. Rồi lỗ lã sang nghề buôn bán ghế, tủ, giường trên ghe thương hồ miệt chợ Hậu Giang.

     Tôi cũng có một thuở đi bắn xoài bằng ná thung. Lớn lên cũng có lần đi làm xếp ga thay phiên (chef de gare inte'rimaire) ở vùng Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, chăm sóc cho các chị bán trái cây đưa những giỏ trái cây nặng nề lên toa xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho cho kịp giờ xe chạy. Cũng có lần xét vé xe coi có bấm lỗ chưa...

     Những địa danh và cảnh vật trong sách nhắc tôi nhớ lại những nơi tôi có đi qua, hoặc lưu trú một thời gian. Mỹ Tho, Chợ Gạo, Cai Lậy, Trung Lương... Nói gì vùng Sài Gòn đất hộ..., những vùng mà mấy mươi năm sau này tôi có dịp đi qua để thanh tra những ty sở của chánh phủ thời Ngô Ðình Diệm và những thời kế tiếp, lúc tôi còn làm công chức, từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, như Nha Trang, Phan Thiết, 21 tỉnh của "Nam Kỳ" v.v...

     An Thới của đảo Phú Quốc cũng nhắc lại thời 1970 tôi có ở Dương Ðông trong 1 tháng làm quen với các chủ nhà thùng, đi vớt mực, tắm biển mỗi chiều trước bungalow tồi tàn thời Pháp để lại, làm khách sạn duy nhất cho đảo. Tôi đến chơi An Thới thăm đứa cháu là bác sĩ Nguyễn văn Lộc, phục vụ tại căn cứ quân sự. Tôi có hơi lạ, không rõ sau nầy An Thới sao lại không có bác sĩ để anh phải bắt buộc chữa bịnh cho cháu với thuốc Bắc?

     Còn những kỷ niệm về Cao Miên nữa. Ream trước kia là địa phận của tôi, hồi tôi còn làm Trùm quan thuế Kampot, từ Hà Tiên đến bãi bể Kompongsom, tới Kao Kong giáp giới Thái Lan. Thời 1944-1945 chưa có thành phố Sihanoukville, Ream là xóm nhỏ trên một vịnh nước êm. Chỉ có vài mươi gian nhà sàn cất sát mé biển, thủy triều lõm bõm mỗi ngày lên xuống. Ngoài doi trên mõm núi có một gian nhà nhỏ của người giữ hải đăng, và cũng là vọng gác tàu bè ra vào vịnh. Thỉnh thoảng Quan thuế cũng bắt được một vài chiếc ghe nhỏ chở hàng lậu thuế, là có dịp cho tôi ra đó thanh sát khu vực trách nhiệm, ngoài những chuyến đi định kỳ. Dưới thời Sihanouk cái làng bé tí nầy mới được mở mang trở thành một thị trấn to lớn như ngày nay, một trong những cửa khẩu miền biển để nhận hàng tiếp tế của Nga Sô.

     Cái tên Sam-Sa-Rây làm cho tôi nhớ đến một người Miên trước làm thư ký ở Tòa Công Sứ (Secrétaire des Résidences) thời Pháp ở Kompongcham là tỉnh tôi phục vụ hơn 10 năm. Có thể là y. Tên Cao Miên có ba chữ ít khi trùng. Lối 1975 y có thể lớn khoảng 50 tuổi. Nhiều người công chức Miên thời 1940 mà tôi được biết, sau nầy làm những chức vụ quan trọng trong chánh phủ Miên. Như Son Sann, Lon Nol, Khâm Tít v.v...

     Tóm lại, tôi gặp lại trong những tác phẩm của anh những cảnh thật, những người thật, những tình thật, là những điểm tôi thích nhất...

   back to top

12. ÐÔI LỜI GIAO CẢM VỚI NGUYỄN TẤN HƯNG

             NGUYỄN VĂN THIỆU

     Xin phép được gọi niên trưởng là ông thầy cho tiện sổ sách vì nếu tính theo vai vế thì tôi phải gọi Nguyễn Kỹ Lăng bằng bố, gọi 20 bằng ông nội, 19 bằng ông cố, 18 bằng ông sơ, 17 bằng ông gì cũng hết biết. Ðọc xong mấy cuốn sách của ông thầy viết "đã" quá, định viết thư lâu rồi mà cứ chần chờ, hôm nay lật sách cũ ra đọc lại mà vẫn thấy "phê" quá và nhớ quá "một thuở làm trùm" của mình nên nhờ ông thầy Trương Thanh Việt ghi cho cái địa chỉ của ông.

     Ông thầy kính mến,

     Thằng em có cái tên dở ẹt: Nguyễn văn Thiệu. Ừa, ông già đặt chi cái tên kỳ cục bị thiên hạ chửi quá trời (ổng đâu có hâm mộ gì Tông Tông nhà mình, vì thằng em sinh năm 1948, lúc đó ông Thiệu mới nhập ngũ), bị 21 cất bảng tên suốt thời gian nòng nọc - rách như cái "mền rách." Lúc mãn khóa xưng tên họ bị Nguyễn văn Thiệu thứ thiệt và mấy sĩ quan tùy viên "kênh xì bo" nữa chứ.

     Lúc ông thầy ở Hành Quân Lưu Ðộng Sông thì thằng em mới lót tót từ Nha Trang ra để về làm phụ tá cho ông thầy Nguyễn Minh Vân (17) ở Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận Bình Thủy - có lẽ đã có lần ngồi chung ca-rê với ông thầy ở phạn xá hoặc bưng mâm ăn chùa bên căn cứ Mỹ. Lúc Hành Quân Sông dời đi Cát Lái thì sĩ quan ở Thủy Xưởng nhẹ thở quá chừng chừng, ăn ở rộng rãi, mánh mung cũng không bị "mặt trời" dòm ngó. Trời xui đất khiến, thằng em bị chỉ định làm Trưởng Phòng An Ninh ở đó cho tới ngày tan hàng (ra trường 5 năm chỉ phục vụ một đơn vị duy nhất: CCYT/TV/BT. Ai cũng nói gốc ở Sài Gòn, ai dè thằng nhỏ là dân Gò Dầu (Tây Ninh), ba đời làm ruộng, cả dòng họ không ai làm tới Thiếu Úy.

     Lăng xăng mà quên hỏi thăm sức khỏe của ông, dòm trong hình thấy cũng còn mướt lắm. Mấy em ở Nha Trang hoặc cô Ngọc cháu của hạm trưởng lé gặp lại chắc cũng suýt xoa như thường. Ðọc truyện của ông thầy thấy nhớ chuyện cũ quá trời. Nhớ Nha Trang, nhớ Sài Gòn, nhớ Cần Thơ, nhớ Mỹ Tho, nhớ ông bà ông vãi tùm lum rồi thẩn thờ, rồi bâng khuâng không muốn mần ăn gì hết. Bà xã tưởng sinh chứng nên hứ hé đủ điều.

     Ở đây có vào khoảng vài chục sĩ quan Hải Quân, lâu lâu cũng họp mặt, tán hưu tán vượn qua ngày. Ông Việt thì vẫn hoạt động hăng say, và vẫn hiền như cục bột (có người kêu cục đất). Nghèo nhưng hai ông bà có vẻ hạnh phúc lắm.

     Ðời sống ở Úc so với Mỹ như dân Lục Tỉnh so với Sài Gòn, mần ăn được cũng đồng ra đồng vô, tương đối dễ thở. Hôm trước cả nhà thằng em có sang Mỹ đi một vòng thăm bạn bè cũ, ở Cali một tuần, Texas hai tuần, Kansas City một tuần. Văn minh thì quá cở thợ mộc, lầu đài đền xá gì quá thể, dòm hoài trật ót, rớt nón cối hồi nào hổng hay. Nhưng đời sống gia đình (nói riêng về Việt Nam tị nạn) thì rất khác xa bên Úc. Ở Úc nó có vẻ gần gũi với "lục tỉnh" hơn nên trầm lặng, quê mùa và xuề xòa hơn nhiều. 95 phần trăm con nít đều nói tiếng Việt, thưa hỏi đàng hoàng (kể cả những gia đình lập nghiệp đầu tiên từ 1975), chứ không cà hất cà hất như đám Mỹ đen ở bên Mỹ đâu. Vấn đề ly dị cũng rất hiếm. Chưa thấy gia đình Hải Quân nào đổ vỡ cả cho nên qua đó rồi về phát sợ.

     Chỗ ông thầy ở có gần cộng đồng người Việt không? Hay là chơi sô lô một mình? Tên thành phố gì sao nghe thèm thuốc quá? Bà thầy có đi làm không? Mấy cháu chắc đã ra trường hết rồi hả? "Thằng Út ưa thở bằng miệng, hay bị chảy máu cam" bây giờ bao lớn rồi? Ai cũng nói ông thầy có chí quá cỡ, con cái đùm đề mà học giỏi thì thôi. Nghe nói định mần tiếp cái Ph. D. gì đó thì chào thua. Bên Úc thì toàn dốt đặc, qua ngày trước ngày sau là cày liền. Ngó trước ngó sau chỉ toàn dân cu li (có người làm cu li mà mua 9 cái nhà như Trần Thế Diệp khóa 11). Ông Việt thì làm dân le lưỡi dán tem cũng đã mười năm. Thằng em làm thợ bánh mì, hai giờ sáng là bị vợ khều khều lôi đầu dậy rồi. Mặt mày lúc nào cũng ngơ ngơ ngáo ngáo (thiếu ngủ!), đầu cổ thì bột mì tùm lum, dòm coi tối nước dữ lắm, thành thử lúc qua Mỹ tình cờ gặp lại "người tình nhỏ" ở Little Sài Gòn muốn đớ lưỡi khi bị hỏi: "Sao bây giờ anh coi bết bát quá vậy?" Ðúng là "mười năm không gặp, gặp rồi muốn chửi..." Ông thầy có địa chỉ của Nguyễn Minh Vân không? Ðể biên thư thăm ông thầy cũ vậy mà. Hồi trước ổng điệu với em út dữ lắm, thuộc về hạng "đại tà," làm tiền như nước nhưng nhậu sạch sành sanh. Chừng nào ông thầy có dẫn gia đình qua Úc thì ghé qua nhà thằng em nghen, gần nhà ông Việt lắm. Nhà có 5 phòng ngủ mà chỉ xài có ba thôi (welcome ông trùm!).

     Rất mong được đọc tiếp các tác phẩm mới.

   back to top

13. DẤU ẤN VĂN CHƯƠNG CỦA NGUYỄN TẤN HƯNG

             LÊ NHẬT THĂNG

     Trong bài phát thanh của Ðài Tiếng Nói Hòa Kỳ, ngày 9 tháng 5 năm 1989 nhận định về cuốn Một Ðời Ðể Học của Nguyễn Tấn Hưng, có hai điểm của bà P. Lan và Bùi Bảo Trúc, tôi thấy cần bàn thêm.

     Thứ nhất, cả hai đều đồng ý cho rằng đời tác giả Một Ðời Ðể Học có nhiều thăng trầm và đổi thay. Bà P. Lan kể Nguyễn Tấn Hưng rời nhà trường để nhập ngũ theo học khóa 17 sĩ quan hải quân, lên cấp hải quân Ðại Úy, phụ trách ngành tình báo cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

     Bà ta chỉ kể vắn tắt có thế. Và nếu kể thêm, theo tôi biết, Nguyễn Tấn Hưng phải làm đủ thứ nghề khi sang Mỹ và anh cố gắng học. Ðã xong Master nay định lấy thêm bằng Ph. D.

     Tôi chẳng hiểu "nổi chìm theo nghĩa đúng nhất" về cuộc đời Nguyễn Tấn Hưng như ông bà quan niệm và hiểu biết thế nào? Nhưng đối với nhiều người Việt Nam trong giai đoạn lịch sử đầy biến động vừa qua, trường hợp Nguyễn Tấn Hưng không có chi đặc biệt, đáng chú ý. Ngay cả so sánh với những chiến hữu trong quân chủng, anh ta cũng chẳng phải lận đận, nguy hiểm gì mấy! Ði biển, đi sông rất ít; trái lại anh ta làm việc ở văn phòng trên đất, đảo nhiều hơn là lênh đênh, bập bềnh trên chiến hạm. Không được nếm thủ đoạn Cộng Sản một ngày nào cả.

     Thứ hai, ông Bùi Bảo Trúc cho rằng nếu tự truyện mang tính cách văn chưong thì nó phải có phần sáng tạo, và do đó nó phải là tự truyện tiểu thuyết.

     Tôi cảm thấy ông Trúc không phân biệt rõ tính chất nội dung với kỹ thuật thể hiện tác phẩm.

     Anh Nguyễn Tấn Hưng, khi trả lời các câu hỏi của Ðào Huy Ðán đã xác nhận đây là tự truyện "chuyện đã có sẵn, tôi chỉ kể lại mà thôi" và "riêng cuốn Một Ðời Ðể Học thì trên 90 phần trăm (tỷ số sự thật trong tác phẩm) là cái chắc."

     Vậy sáng tạo về nội dung tức là phần tưởng tượng, thêm thắt, lược bỏ của tiểu thuyết trong Một Ðời Ðể Học không đáng kể, nếu không muốn nói là không có. Nếu có phần "vẽ rắn thêm chân" lan man theo ý đồ đã định thì chẳng phải là tự truyện; tác phẩm hiển nhiên mất đi tính cách trung thực rất cần thiết của thể loại tự truyện, hồi ký... Chúng ta có thể ví von viết tự truyện giống như người soi gương để truyền thần chân dung mình. Như vậy, người vẽ khuôn mặt mình nhờ tấm gương soi không thể vẽ khuôn mặt của ai khác hay vẽ thêm, vẽ sai những gì mà gương phản ánh.

     Tóm lại, tự truyện là truyện kể về mình, có sao kể vậy, cho người khác nghe, đọc. Còn kể đoạn đời nào, việc làm nào, bằng giọng điệu nào... thuộc về bản lĩnh, trình độ tức là phần sáng tạo của người kể, không ăn thua gì tới nội dung.

     Người kể có kỹ thuật cao tức là câu chuyện hấp dẫn, thuyết phục người nghe, kẻ đọc. Viết ra giấy, truyện kể phải được văn chương, nghệ thuật hóa mới xứng đáng là một tác phẩm văn nghệ, văn học. Vậy sáng tạo chỉ xảy ra ở phần xây dựng tác phẩm chứ sự việc đã thành sự cố thì làm sao sáng tạo! Trừ phi...

     Làm gì có cái gọi là tự truyện tiểu thuyết mà chỉ có tiểu thuyết hóa truyện của một người, tiểu thuyết hóa cuộc đời của một người. Cần phân biệt trước, sau để minh định tác phẩm của Nguyễn Tấn Hưng.

     Trong bài nói chuyện giới thiệu Một Thuở Làm "Trùm" , ông Võ Ðình nói có ba thế hệ nhà văn gốc Miền Nam là Hồ Biểu Chánh, Hồ Hữu Tường, Lê Xuyên, Sơn Nam (thứ nhất)... Huỳnh Hữu Cửu, Hồ Trường An, Võ Kỳ Ðiền, Nguyễn Văn Ba (thứ hai)... Phan Thị Trọng Tuyến, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Cao Bình Minh, Vũ Nam (thứ ba)...

     Và ông ta xếp Nguyễn Tấn Hưng vào thế hệ thứ hai.

     Sự thực, nhóm từ "gốc miền Nam" thiếu sự chính xác, gây ngộ nhận. Vì rằng sau hiệp định Geneva quy định từ Quảng Trị trở vào là miền Nam Việt Nam mà chúng ta vẫn dùng hai từ miền Nam để phân biệt với miền Bắc đang bị thống trị bởi chính quyền cộng sản. Thêm nữa, những nhà văn, thơ trẻ dẫu sinh tại miền Bắc - như Trần Dạ Từ chẳng hạn - di cư vào Nam lúc tuổi còn nhỏ, chưa có kỷ niệm, ấn tượng rõ rệt về sinh quán của mình; miền Nam mới chính là cái nôi mới cho họ học hỏi, sinh trưởng và thành công.

     Chẳng lẽ chúng ta gọi họ là những văn, thi sĩ miền Nam gốc Bắc ư?

     Và có những người cha mẹ là người dân miền Bắc hoặc miền Trung sinh họ ở Sài Gòn hay lục tỉnh xin hỏi ông Võ Ðình có thể gọi họ là các văn nghệ sĩ gốc miền Nam được chăng?

     Theo tôi, tính cho đến nay, đất Ðồng Nai và đồng bằng sông Cửu Long từ cuối thế kỷ thứ 19 là thời kỳ phát triển mạnh mẽ chữ quốc ngữ, bỏ Hán học chuyển sang tân học mà trấn Gia Ðịnh giương lá cờ đầu bằng có tờ báo sớm nhất, có trường học lâu năm nhất; tôi tạm chia các lớp người viết văn sinh quán tại Nam phần căn cứ vào văn phong, bút lực và tác phẩm được dư luận hoan nghênh, như sau:

     Lớp 1: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Chánh Sắc, Nguyễn An Khương, Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển...

     Lớp 2: Lý Văn Sâm, Ngọc Sơn, Hồ Hữu Tường, Ðông Hồ...

     Lớp 3: Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên...

     Lớp 4: Kiệt Tấn, Hồ Trường An, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn Văn Ba...

     Lớp 5: Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Trần Kim Vy hay Cao Bình Minh chăng?

     Tôi vẫn nghĩ về sau có ai viết một bản tổng kết văn học Việt Nam ở hải ngoại sau Tháng Tư Ðen, Nguyễn Tấn Hưng sẽ là một bút danh không thể quên được! Không phải vì Nguyễn Tấn Hưng viết như cháo chảy, chẳng phải vì anh là cây bút của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa nổi bật hiện nay mà cũng không phải vì Nguyễn Tấn Hưng là một Kẻ Sĩ can đảm như Trần Quán Niệm nhận xét... mà chính vì tác giả pho tự truyện gồm các tập truyện Một Ðời Ðể Học, Một Thuở Làm "Trùm" Một Chuyến Ra Khơi có lối kể hết sức thành thật, thông minh và cực kỳ điêu luyện.

     Chúng ta chú ý tới chữ Một đặt tên các truyện của anh chỉ rõ suy nghĩ của một người trí thức , xúc cảm của một công dân và hành động của chiến sĩ vẫn âm vang trong tâm tưởng ba "tiêu hướng" Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm.

     Mặt mạnh của Nguyễn Tấn Hưng ở chỗ thống hợp được ba con người chân chính biến thành động cơ, xung lực cho ngòi bút tung hoành.

     Có thể nói trong sinh hoạt văn nghệ ở nước ngoài hiếm có tác giả nào lại được khen quá sá như Nguyễn Tấn Hưng. Ðiều đáng chú trọng những "tuyên dương" này toàn do những tác giả có khả năng và uy tín.

     Mai Thảo đã viết Vào Tập cho Một Ðời Ðể Học . Nhận định của tác giả Ðêm Giã Từ Hà Nội bằng một đoạn văn đứng đắn và kiểu cách theo lối viết của ông ta: "Ðiều yêu mến sau cùng lớn hơn hai điều yêu mến trước, là mặc dầu đã mười mấy năm trời rất dễ dàng đẩy vào thất lạc, mặc dầu Việt Nam đã nghìn dặm, quê nhà đã nghìn trùng, bàn viết của Nguyễn Tấn Hưng, giữa thổ ngơi lữ thứ xa lạ, vẫn đặt được vào đúng hướng đúng tầm với giống nòi và đất nước ở xa."

     Nhờ Mai Thảo, chúng ta được biết Nguyễn Tấn Hưng đã có truyện đăng trên Văn trước năm 1975 và anh viết rất cẩn trọng, bản thảo thường thay đổi để hoàn hảo hơn.

     Tôi tìm hiểu trực tiếp, anh Nguyễn Tấn Hưng khởi sự viết ở quân trường, đặc san Ra Khơi và tập san Lướt Sóng rồi mới viết cho Văn với các bút hiệu khác.

     Trong tương lai, Nguyễn Tấn Hưng sẽ lần lượt cho ra mắt Một Cảnh Hai Quê , tập truyện; Một Kỷ Niệm Ðẹp , biên khảo về cách xếp chữ Việt trên máy điện toán; Một Lần Xuống Núi , ký sự văn học; Một Nỗi Buồn Riêng , tập truyện và tập tùy bút Một Phen Lận Ðận .

     Ngoài ra, anh còn viết nhạc, làm thơ; tập thơ Một Thoáng Trong Mơ đã có chiều dầy... lại biên khảo ngôn ngữ. Ðúng là nghệ sĩ đa dạng!

     Bây giờ tôi xin lần lượt "thông qua" ba tập truyện theo thứ tự xuất bản và truyện ngắn "Một Cảnh Hai Quê," làm nền cho tập truyện thứ tư, của anh.

     Một Ðời Ðể Học gồm những chương như những giai đoạn của cuộc đời Hùng bắt đầu từ tỉnh Mỹ Tho, nơi anh sinh thành rồi qua mấy chục năm, nhân vật chính xưng Tôi tạm dừng bước lưu ly ở thành phố Winston-Salem thuộc bang North Carolina.

     Hùng học hết cấp tiểu học ở trường xã và quận rồi lên tỉnh lỵ Mỹ Tho học ban trung học. Anh đã viết lướt qua việc học mà nghiêng dòng mực hoa niên để mô tả sinh động tình trạng gia đình, về người và cảnh quê hương và cả tỉnh Mỹ Tho chứa chan tình cảm bằng ký ức tuyệt vời và có nhiều khám phá thú vị.

     Làm quen với Sài Gòn vào tuổi mười ba trên chuyến xe lửa và sau sống luôn trong "Hòn Ngọc Viễn Ðông" khi bắt đầu lên Ðại Học, phân khoa khoa học. Nhưng học được hai năm nhá Toán Lý Hóa khô khốc nên tình nguyện gia nhập hải quân tìm cảm giác lạ và hi vọng lên tướng.

     Nhập học khóa 17 sĩ quan hải quân ở Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang bị dần cho nhừ tử mấy tuần lễ đầu và học toát mồ hôi về các môn học căn bản.

     Thế rồi Nguyễn Tấn Hưng học cách thức làm việc trong quân chủng sau khi tốt nghiệp, học và làm tình báo quân đội, học đối nhân xử thế trong trường đời phức tạp. Sang Mỹ lại lao vào học đủ thứ nghề với chật vật và cuối cùng cố gắng có mặt trong Ðại Học... Chúng ta thấy rõ Nguyễn Tấn Hưng treo cao tấm gương phấn đấu tự vượt hoàn cảnh; quan trọng nhất, vượt được chính mình để trở thành một chuyên viên cao cấp, có chỗ ngồi tốt trong một hãng lớn danh tiếng.

     Anh nghĩ rất chí lý: "Thành tài hay không một phần còn phải nhờ vào ý chí và lòng tin của mình."

     Một Thuở Làm "Trùm" , chữ Trùm được đóng trong ngoặc kép chắc hàm ý được làm đàn anh có một số đàn em đắc lực sẵn sàng chiều đãi cung phụng. Anh kể lại thời gian phục vụ tại Bộ Tư Lệnh Vùng 4 Duyên Hải với chức vụ Trưởng Phòng Nhì.

     Ðảo Phú Quốc buồn vắng, địch tương đối ít quậy mạnh như trong đất liền nên Hùng sống cùng gia đình hơi giống đời công chức. Bằng cớ rõ rệt cư xá sĩ quan tiếp giáp khu vực buôn bán mà không có hàng rào phòng thủ ngăn cách. Thật là chủ quan, khinh địch, nhất là đối với sĩ quan tình báo đã có cảnh giác ngay khi anh mới thuyên chuyển về đơn vị mới.

     Những chuyện móc nối, bổng lộc, công việc thường xuyên, ngoại giao đột xuất... cũng bình thường trong bối cảnh chung của thời Ðệ Nhị Cộng Hòa mà ai ai cũng rõ, nhiều người vẫn làm... thế nhưng anh kể khá linh hoạt, duyên dáng nên mang lại cảm tưởng mới lạ cho người đọc.

     Phần cuối truyện có hai chương "Trong Cảnh Sống Còn" và "Ngày Qua Trên Xứ Lạ" kể lại cuộc vượt biển rất hồi hộp, gian nan, mặc dù anh có kế hoạch trước. Tinh thần lạc quan và phảng phất chủ nghĩa duy tâm được biểu hiện trong đoạn cuối truyện:

     "Khác với những gia đình ra đi có đem theo vàng bạc, của cải, gia đình tôi, vợ chồng con cái tôi phải làm lại cuộc đời từ hai bàn tay trắng. Tôi rất biết và rất vui vẻ bằng lòng chấp nhận số phận của mình.

     Thủy triều ai tát mà vơi
     Lên thời lắm thế, xuống rồi như không"


     Tôi đồng ý với Hồ Trường An, nếu anh khai thác, trải rộng vốn sống nhất là kinh nghiệm công tác, chắc chắn Một Thuở Làm "Trùm" có thể biến thành một truyện dài hơn, quân bình hơn.

     Những trang đầu của Một Chuyến Ra Khơi là một truyện ngắn riêng, hầu như tách ra khỏi mạch tập truyện, viết về vùng vòng đai hay vùng tranh chấp giữa Quốc gia và Việt Cộng, mang tên "Dòng Sông Của Tùng." Cái chết phi lý và bất ngờ của Tâm trong dòng sông tuổi nhỏ quê hương và có thể Tùng cũng bị lạc đạn trong trận công đồn khiến cho cây cầu thân thuộc gãy gập.

     Nếu Một Thuở Làm "Trùm" được xem như một chuỗi hồi tưởng, một khúc sinh hoạt xen cắt Một Ðời Ðể Học thì Một Chuyến Ra Khơi cũng có thể coi là Một Trở Về thời kỳ phục vụ trong quân ngũ, hay là một cuốn phim ghi lại một quãng đời trẻ tráng có tình yêu, có bạn hữu, có chiến đấu và có... thơ.

     So với hai tập truyện trước, tập truyện Một Chuyến Ra Khơi có nhiều chất ký, chất tùy bút và chất thơ hơn cả.

     Mời các bạn thưởng thức tài nghệ của Nguyễn Tấn Hưng; tôi xin trích dẫn mấy đoạn, giở ra rất tình cờ chứ không chọn lựa những đoạn hay nhất làm cảnh:

     "... Chặt cây phá rừng, ban gò lấp nổng, rồi đem trâu cày lên một bận. Thấy được miếng đất trống như thấy được nửa đường, không bao lâu nữa sẽ xong. Rồi đến lượt khuân đất đắp nền, đắp đường đi. Ðất trộn với trấu, rải trên mặt đất cho mau khô, đâu đâu cũng thấy trấu... Công tác của học trò cũng chỉ đến chừng đó, phần còn lại dựng trường lợp trường, cột kèo phên vách thì do đám thợ chuyên môn lo. Vài tháng sau tỉnh trưởng xuống cắt băng long trọng khánh thành, có đồng ca Này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi... và có Ai bao năm vì sông núi quên thân mình..." ( Một Ðời Ðể Học , trang 8).

     Tôi nghĩ các bạn trẻ, trên dưới hai mươi, rất ít người biết xuất xứ của câu hát sau vốn từ bài suy tôn lãnh tụ Ngô Ðình Diệm, thời ấy chính phủ bắt hát sau quốc ca. Ngay cả trong rạp chiếu bóng cũng phải thi hành răng rắc.

     "... Không ai ngờ đêm nay lại là đêm rối loạn. Ngay giữa khuya. Vì có người phát giác ra tư lệnh đã vọt rồi. Bằng chứng là chiếc xe Jeep của tư lệnh đang nằm trơ trọi một mình trên cầu tàu. Không tài xế, không người trông coi. Vậy thì còn chờ đợi gì nữa, hãy bồng bế nhau đi. Thay phiên nhau xách xe tư lệnh chạy ra cư xá chở vợ con vào cầu tàu. Ðể chuẩn bị đi ra tàu lớn. Tôi không dành được xe, lội bộ trở ra nhà mới biết hành trang và tài sản của gia đình vợ tôi và con nhỏ em còn đang lu bu thu dọn. Cho vào bị vào xắc. Lại lội bộ trở vô cầu tàu như gà mắc đẻ. Ðể xem chừng động tĩnh. Ðể mong ngóng coi thằng Luân đem ghe riêng của mình vào chưa..."

     Tác giả viết những câu ngắn để cực tả những việc làm gấp gáp, sự lo lắng nhiều điều. Và chúng ta thấy rõ sự bừa bộn khi chuẩn bị ra đi theo ông tư lệnh đã cao bay, xa chạy. Ðoạn này trích trong Một Thuở Làm "Trùm" , trang 140.

     Ðây là đoạn đối thoại trích trong Một Chuyến Ra Khơi :

     "... Huy vói tay khép cánh cửa sổ, trời lạnh quá. Huy tung chăn đắp cho cả hai lên tận cổ, vùi mặt vào mái tóc Phương giọng nhè nhè:

     - Ng... u.. ngủ.

     Hồi lâu, Huy cất tiếng:

     - Ngủ không được em ơi. Tại có em nằm gần, thôi em nằm xa xa anh một chút coi.

     Phương im lặng. Huy khẽ đẩy:

     - Làm bộ ngủ hả, nghe anh nói không?

     - Anh này kỳ, người ta không thèm nói chuyện mà lải nhải mãi.

     - Này, tuần rồi em đi công tác ở Qui Nhơn có gì vui không?

     - Vui chứ sao không, có mấy ông đại úy ga lăng hết chỗ chê.

     - Sướng nhé, em lúc nào cũng để ý đến mấy chuyện vớ vẩn đó chứ không biết học hỏi gì cả. Em biết Qui Nhơn cái gì, em có biết mộ Hàn Mặc Tử không. Tây, Huê Kỳ ở đâu không biết chứ mấy thành phố ven biển là có tàu anh tới.

     - Anh được có cái nước nói giỏi làm như chuyện gì cũng biết, em còn đi thăm nhiều nơi hơn anh nữa kìa mà em không thèm nói, động một chút ra mặt thầy đời.

     - Chứ sao, con người hải quân là con người quốc tế mà. Anh chuyện gì cũng biết.

     - Em chuyện gì cũng biết..., trừ một chuyện chưa biết...

     - Chuyện gì?

     Huy suy nghĩ hồi lâu rồi nói nhỏ:

     - Thế em muốn biết bây giờ hả, anh tưởng em còn thơ ngây.

     - Thôi đi, dễ dữ à...

     Huy xoay người ôm chầm lấy Phương. Mấy sợi tóc lòa xòa trước mặt, Phương bé bỏng nằm gọn trong vòng tay..."
(trang 39 và 40).

     Anh "chồng" đi xa về tán tỉnh "vợ" rất đúng tâm lý. Không hiểu sao Nguyễn Tấn Hưng lại dùng chữ chăn, tiếng miền Bắc, thay vì mền? Và sau câu "Chứ sao..." có lẽ phải xuống giòng chấm chấm tượng trưng cho sự im lặng của Phương.

     Truyện ngắn "Một Cảnh Hai Quê" có thể nói là truyện nối dài từ ba tập truyện trên, như những con đường nối dài của Sài Gòn cũ. Ðiều đặc biệt của truyện là tác giả viết xen rất nhiều tiếng Anh (Mỹ) dù rằng tiếng Việt cũng có những từ ngữ tương đương, nhất là những từ thông dụng. Tại sao thế? Có lẽ Nguyễn Tấn Hưng có chủ ý báo động về một hiện tượng người Việt ở nước ngoài sính nói tiếng nước đang lưu trú hơn là nói tiếng mẹ đẻ. Trên thực tế đời thường, trước năm 1945, có bao nhiêu người dùng tiếng Pháp để nói chuyện với nhau coi như một mốt dành cho những người trí thức, quý phái (?) và sau năm 1954, hàng thập kỷ vẫn thấy một số người nói xen kẽ tiếng Pháp trong câu chuyện hàng ngày.

     Trong một bức thư gửi một bạn văn đầu năm Tân Mùi, Nguyễn Tấn Hưng viết: "... Phần lớn những người bạn khen là những người thích đọc tác phẩm "có chiều sâu." Tôi chẳng để ý lắm đến chuyện đó, lúc viết là cứ viết thôi. Cứ con tim đi trước cái đầu để sau, đem hết tâm tình mình dàn trải là xong."

     Ðúng vậy đọc truyện Nguyễn Tấn Hưng khiến cho chúng ta nghĩ biết bao nhiêu dòng máu tươi xanh từ trái tim hồng của anh cứ đều đều tuôn trào như sóng vỡ bờ ra đầu ngòi bút, cuồn cuộn trên những khuôn giấy trắng để trao cho những người đồng điệu, những kẻ đồng hành.

     Trước 1975, quân chủng Hải Quân có một số nhà văn, nhà thơ và nhạc sĩ như Hữu Phương, Phan Lạc Tiếp, Vũ Thất, Trường Sa, Anh Thy... song so với quân chủng Không Quân thì hơi khiêm tốn. Nay ở nước ngoài chúng ta thấy có Ðiệp Mỹ Linh và Nguyễn Tấn Hưng đứng lên sừng sững, tạo thế quân bình đối với những cây viết sáng giá của Không Quân.

     Có lẽ từ đây, nói và nghĩ đến thành phố Mỹ Tho, tỉnh Ðịnh Tường êm ả bên bờ Tiền Giang, ngoài những sự kiện lịch sử, những danh nhân, những thắng cảnh, vùng đất giàu có... chúng ta không thể quên được tác giả Nguyễn Tấn Hưng, một nhà văn đã mau chóng tìm thấy hướng đi và tự hào đã khắc được dấu ấn văn chương của mình. Và được mọi người ưu ái chấp nhận.

   back to top

14. FOREWORD FOR "ONE LIFE OF LEARNING"

             DR. SYLVESTER CLIFFORD

     Hung Tan Nguyen fled Vietnam in April 30th, 1975, having served in the South Vietnamese Navỵ He, his wife and children, and some of his wife's relatives have established themselves in the United States. In this book we see Vietnam through Hung's experiences as he develops into an adult, and then through his struggles to succeed in his second homeland. Here are revealed the tenderness and toughness of child and adult, the resiliency of youth, the ever renewing dreams and persistence of humans in desperate circumstances. Throughout, there are touches of humor, and always a clear-eyed realitỵ

     The volume will be of particular interest to those thousands of Americans who helped Vietnamese refugees gain a foothold in the U.S. For them it is a rare opportunity to "See ourselves as others see us." It will be a valuable history to other refugees, and even more precious to their thoroughly American descendents.

     Mr. Nguyen previously has published both poetry and prose in his native language; this is his first professional venture into American English. Those twists of grammar and unfamiliar idioms that mark him as a "foreigner" enrich the writing by novel imagery and originalitỵ The story itself reawakens poignant memories-cuts into the mind and heart all the more sharply for being truẹ

     Vermillion, S.D., Refugee Resettlement Committee

   back to top

15. FORWARD FOR "ONE TIME AS AN INTELLIGENCE OFFICER"

             DR. SYLVESTER CLIFFORD

     The sky was above, the water was below, and the sailor was in the middle! This Vietnamese saying, quoted by the author, expresses succinctly the major theme, intended or not, of this, the third in a series of books by Hung Tan Nguyen about experiences of himself and other Vietnamese during and after the long conflict known in the United States as "The War in Vietnam."

     Badly, Hung depicts the actions of himself, fellow officers, Thai pirates, black marketeers, grafters, and others as they exist in a world demanding high standards of personal loyalty and patriotism, while simultaneously expecting, countenancing, and rewarding treachery, double-dealing, profiteering, and survival at all costs. With disarming directness the author shows us tenderness and selfishness, crudity and graciousness, heroism and cowardicẹ There is little adornment, little pretense of philosophical depth or grand principles. These people are trapped, almost powerless in the struggles that enmesh their world.

     Ex-servicemen may wince at the unvarnished presentation of greed, but will recognize also the ability of humanity to re-assert its better aspects. Unsettling as the truth may be, it does not condemn friend or foẹ Indeed, as Hung says, ". . . it was difficult to conclude who was bad or who was good during the war timẹ"

     Touching scenes of family interlace with documentation of events preceding and following the fall of Saigon. Lyrical descriptions of the sea attest to sensibilities that seem overwhelmed in everyday dealings. Despite its surface blandness and simplicity this is a complex book; at least, it evokes complex thoughts and feelings. Though there is action, it is not an adventure storỵ Though there is not the dependence of lewdness Americans are accustomed tơ there is a reality and rawness that cannot be ignored. The readers, unless they have been close to the circumstances, or to the Vietnamese refugees, whơ like Hung and his family, have made their way in the United States, will not identify with the main character, but neither will they be able to put aside this military and moral quagmirẹ

     ONE TIME AS AN INTELLIGENCE OFFICER is recommended reading for all students of Vietnam War, and all students of the human condition.

   back to top

16. GIỚI THIỆU "ONE LIFE OF LEARNING" VÀ "ONE TIME AS AN INTELLIGENCE OFFICER"

             NGUYỄN VẠN LÝ

     Nguyễn Tấn Hưng là một nhà văn quen thuộc với độc giả của bán nguyệt san Ðẹp . Người ta có thể gọi ông là một nhà văn "số một" hoặc một nhà văn ưa thích "số một," vì các tác phẩm của ông đều bắt đầu bằng chữ "Một," như Một Ðời Ðể Học, Một Thuở Làm "Trùm", Một Trời Một Biển ... Phải chăng Nguyễn Tấn Hưng muốn trở thành một nhà văn số một? Nếu đó là tâm nguyện của ông, bán nguyệt san Ðẹp xin chúc ông sớm đạt được địa vị đó.

     Phần lớn các tác phẩm của Nguyễn Tấn Hưng mang tính chất hồi ký được tiểu thuyết hóa. Các truyện ngắn truyện dài của ông đều bắt nguồn cảm hứng từ ngay cuộc đời của ông, quá khứ cũng như hiện tại. Tác phẩm của ông, từ bối cảnh đến tâm tình nhân vật, chính là cuộc đời tác giả đã trải qua hoặc chứng kiến, từ những ngày còn đi học, cho tới lúc trở thành một sĩ quan hải quân cao cấp, và ngay cả cuộc đời tại Mỹ nữa.

     Viết về cuộc đời của mình đã khó, vì ảnh hưởng chủ quan, nhưng viết về cuộc đời của mình một cách thành thực và bình dị mà làm rung động được người đọc như Nguyễn Tấn Hưng mới thật là gian nan. Vậy mà Nguyễn Tấn Hưng đã thành công với một loạt tác phẩm "số Một" của mình. Phải chăng sự thành thực và đức giản dị là một trong những cái đẹp của văn chương?

     Nguyễn Tấn Hưng có một văn phong đơn giản trong sáng, như một người miền Nam thân mật tâm sự với độc giả. Ít người đạt được sự giản dị trong văn chương như thế. Nhiều độc giả bình dân sẽ thích đọc ông, vì họ có thể tìm trong tác phẩm của ông một cái gì rất gần gũi với họ. Những người cầu kỳ, chỉ đi tìm cái đẹp của lời văn, dù trong một câu đối thoại có duyên, hoặc một màn tả cảnh nhớ đời, thì không phải là độc giả của ông. Nguyễn Tấn Hưng không viết cho những độc giả khó khăn ấy. Nhu cầu viết văn đầu tiên của một tác giả là sáng tạo một cái đẹp cho chính mình trước đã, một cái đẹp rất chủ quan theo ý riêng của mình. Sự đón nhận của độc giả chỉ là hậu quả chứ không phải là mục đích. Một số truyện ngắn gần đây của Nguyễn Tấn Hưng mang thêm tính chất ướt át của dục tình. Yếu tố mới này làm truyện ngắn của ông thêm ăn khách nữa.

     Nguyễn Tấn Hưng mới cho xuất bản hai tác phẩm bằng Anh văn, dịch bản của hai tác phẩm đã xuất bản bằng tiếng Việt của ông: Cuốn One Life Of Learning , từ cuốn Một Ðời Ðể Học , và cuốn One Time As An Intelligence Officer , từ cuốn Một Thuở Làm "Trùm" . Các bản dịch này do chính ông thực hiện lấy. Ðiều này chứng tỏ Nguyễn Tấn Hưng có một trình độ viết Anh văn rất vững.

   back to top

17. THƯ GỬI THAY LỜI BẠT CHO TẬP TRUYỆN MỘT CẢNH HAI QUÊ

             VÕ KỲ ÐIỀN

     Laval des Rapides, ngày 6 tháng 11 năm 1989

     Hưng thân mến,

     Vậy là bạn nói thiệt sao? Mấy tháng nay tôi cứ tưởng bạn Hưng của tôi nói chơi chớ. Lúc nhận lời viết Bạt cho tập truyện mới, tôi cũng ừ hử cho qua ngày chớ thiệt ra trong bụng nghĩ rằng làm sao trong vòng một năm hơn mà viết ba tập truyện cho được. Bộ sức voi hả? Nhè đâu Một Ðời Ðể Học vừa xong bạn cho ra tiếp Một Thuở Làm "Trùm" . Sách chưa kịp đóng bụi thì tập bản thảo Một Cảnh Hai Quê đã nằm chình ình trên bàn viết của tôi. Thiệt tình, bạn sáng tác hăng quá, tôi vì suy bụng ta ra bụng người đoán trật lất nên há miệng mắc quai. Ðọc cái thơ của bạn gởi kèm... "Nhờ anh đọc và viết Bạt. Biết anh bận nhưng lo cho thằng em càng sớm càng hay." tôi như uống một ly rượu mạnh, cả ngày lơ đơ lửng đửng, ngồi đứng không yên. Ðề tựa đã là một điều khó, viết Bạt lại càng khó hơn nữa. Ðọc sợ còn chưa hiểu hết ý của tác giả gởi gấm, nói chi đến việc khen chê giới thiệu, vẽ vời. Viết tầm bậy tầm bạ có khác gì ngứa ở chưn mà gãi ngoài da giày, độc giả cười cho thúi đầu. Vì vậy tôi ngại lắm. Nhưng bạn đã tin cậy mà giao phó đứa con thứ tư này (nếu tính luôn tập Một Chuyến Ra Khơi đã giao cho Làng Văn ) cho tôi đỡ đầu thì tôi cũng liều gan nhận đại. Vừa nhận vừa run, không biết bạn có trao duyên lầm tướng cướp?

     Bạn biết tại sao tôi run tay không? Tại vì cái tựa của tác phẩm. Rõ ràng là Một Cảnh Hai Quê . Cái tựa này làm tôi nhớ lại ngày xưa, lâu lắm rồi lúc tôi còn nhỏ xíu, thường nghe má ru em trên võng với câu hát có bốn chữ kể trên. Trời muốn mưa mây chưa có chuyển. Muốn đem em về một kiểng hai quê . Bà ru theo lối bắt quàng, câu này nối liền câu khác không cần theo nghĩa. Vả lại ba tôi cũng không hay lăng nhăng này nọ (hay cũng có mà tôi không biết?) nên thấy ổng cũng bình thường không nhột nhạt gì. Nhè đâu nghe ngày này qua ngày kia, câu hát thấm vô đầu hồi nào không hay. Mỗi lần nhắc tới nó thì tôi lại hiểu là anh chàng đã có vợ nhà, bây giờ lại đèo bồng muốn cưới thêm vợ bé. Trong bụng mê lắm mà chưa dám hó hé. Trời muốn mưa chớ thiệt ra chưa mưa. Cái làm cho anh ta e dè là liệu coi chịu đựng nổi cảnh sống chung ba người không? Một kiểng mà có tới hai quê cũng như một bồn mà hai kiểng. Một bồn hai kiểng còn xanh. Một chàng hai thiếp hay sanh nhiều bề . Hai người đàn bà mà thương chung một chồng thì cái nhà không cháy cũng sập. Ðó là lý do tại sao chàng chưa dám tiến tới.

     Chắc mẽm với cái ý này, tôi thấy khoái trong bụng. Ðể đọc chuyện tình của nhà văn Nguyễn Tấn Hưng coi ra sao? Tôi đã từng bủn rủn với chuyện tình của Kiệt Tấn, của Cao Bình Minh... Bạn coi vậy mà ngon lành hơn tôi, hễ bụng muốn thì tay làm liền, dân hải quân khác dân thầy giáo là ở chỗ đó. Tôi hễ muốn làm quen với ai thì ấp a ấp úng, ngập ngừng đắn đo, tính tới tính lui cho đã... rồi thôi!

     Cầm tập bản thảo lên đọc từng trang rồi từng trang, tìm trắng dờ con mắt cũng không thấy một tà áo dài thứ hai nào phất phơ ngang qua tim bạn, ngoài bà xã tươi mỡn như rau non mới hái ngoài vườn, tuyệt nhiên không có một bóng hồng nào làm bạn xao xuyến nữa. Có cô chủ V.N. Discount Center tên Hoàng nào đó tuy có dễ thương nhưng truyện Ta tắm ao ta không phải là một truyện tình. "Lại một nụ cười duyên. Duyên chớ không tình... Em làm anh ăn hết vô. Chắc anh phải đưa em về sớm hơn anh dự tính để em có thì giờ đi đón con em." Trời đất! Tính thả dê ăn cỏ nhè đâu... cỏ héo queo! Cái gì kỳ cục vậy? Óc trâu hết trơn. Ðếm Một Cảnh Hai Quê gồm tất cả chín truyện ngắn. Chỉ có truyện đó nếu rán mà nhồi nhét thì là truyện tình duy nhứt trong tập truyện, nếu muốn gọi đó là truyện tình!

     Nhưng rõ ràng không phải. Không có truyện nào diễn tả cái tình yêu dù là vợ chồng, dù là lứa đôi. Như vậy tôi phải hiểu trở lại cái tựa Một Cảnh Hai Quê . Tác giả Nguyễn Tấn Hưng dùng chữ theo nghĩa đen, theo lối hiểu thông thường. Tôi lại hiểu bóng gió xa xôi. Nghĩa của nó rõ như ban ngày. Một cảnh đời phân làm hai chốn. Chốn quê hương đau khổ bềnh bồng. Chốn tạm dung đầy đủ sung túc nhưng thiếu cái tình gắn bó. Ðó là một cảnh. Ðó là hai quê. Ðó cũng là cái cảnh ngộ đáng thương của hàng triệu người Việt Nam xa xứ. Ai ai cũng có chung một tâm trạng giống y như bạn dầu người đó ở Mỹ hay ở Úc, ở Pháp hay ở Canada... tuy ăn đậu ở nhờ, quần áo lượt là, ăn chơi học hành đầy đủ. Nhiều khi tôi nghĩ lẩn thẩn, tụi mình có khác gì loài phong lan mọc gởi trên cành cây lớn, lá xanh mượt nõn nà, bông trổ đầy hương sắc nhưng gốc rễ không bén được tới đất đen. Cái vùng đất đen đó bây giờ ở tận bên kia góc trời, xa trên nửa vòng trái đất, bà con bạn bè thân yêu tất cả còn y nguyên đó, rên siết quằn quại dưới nỗi khắc nghiệt hung tàn của chế độ Cộng sản phi nhân.

     Quả là bạn đã khéo lựa được cái tựa hay cho những truyện hay. Nó thể hiện được cái tâm trạng của rất nhiều đồng bào chúng ta ở hải ngoại này. Cái tâm trạng xa xứ mang mang sống nhờ ở quê người mà lòng luôn luôn lúc nào cũng hướng về cố quốc. Vậy thì cái đời sống vật chất sung túc dư thừa đó có bù đắp được nỗi thiếu hụt của đời sống tinh thần, đời sống tình cảm kia chăng?

     Ai thì tôi không rõ, chớ Nguyễn Tấn Hưng thì biết dư. Quê hương đất nước chỉ có mấy chữ đơn giản vậy mà nó có năng lực mầu nhiệm làm cho bạn khốn đốn, khắc khoải, băn khoăn. Vì nhớ nước, nhớ nhà bạn loanh quanh lẩn quẩn nhắc lại những ngày còn trong quân ngũ như một thứ bóng với hình gắn bó keo son không thể một sớm một chiều mà dứt được. Bạn đã coi binh chủng hải quân như đời mình không chỉ nhớ thương mà còn hãnh diện. "Hê, bên Không quân của Cao thì Trạng không biết sao nhưng bên Hải quân của Trạng thì xưa nay Cao phải biết rất là quan liêu. Nhờ cái quan liêu đó mà Hải quân có nề nếp, kỹ cương hơn. Quan ra quan, lính ra lính. Trạng nghĩ có dịp nào thuận tiện Trạng sẽ nêu vấn đề này với Thái. Trạng thấy vẫn được, vẫn hợp lý. Phải dạy cho nó một bài học tối thiểu về môn `Xã giao Hải quân' để nó biết thế nào là vàng thiệt, thế nào là vàng giả (Gió đã ngừng). "

     Thiệt tình, bạn kỹ lưỡng quá. Hơi đâu mà để ý thiên hạ sự. Ở hải ngoại này vàng giả thiếu gì. Kể sao cho hết. Bạn đã ghi rõ từng nét đặc biệt của họ trong Người về từ cõi chết . Từ bà chủ tiệm may Mây Huê dám tuyên bố nhiều câu xanh dờn. "Chồng tao làm bác sĩ. Ðã làm bác sĩ được thì làm cái gì lại không được." "Tao nói tiếng Việt không rành, nhưng chủi lộn tiếng Việt thì tao chưa chắc đã thua con mẹ nào đâu nha. Ðứa nào chọc tới tao là đứa đó tới số."

     Rồi tới ông công chức già mà không nên nết. "Ông Ưng làm ở cơ quan xã hội, đặc trách giúp đỡ dân tỵ nạn Việt Miên Lào. Tự nhiên trở thành cha nuôi của đám con mồ côi, đám trẻ dưới tuổi vị thành niên chạy qua đây không cha mẹ anh em. Vợ con đó mà ông dám cả gan dẫn con gái nuôi đi biển chơi cả tuần. Ðến lúc ông Vĩnh vượt biên chạy qua mới té ra ông cha ruột là bạn thân của ông cha nuôi..."

     Ngoài ông già Ưng điếm đàng đó còn có bà Bùi mắc bịnh mê trai. "Già quá bấm hết vô thì còn ngượng ngùng cái nỗi gì. Vả lại nếu biết ngượng thì làm sao có cả chục thằng boy-friend một lượt cho được (Một mối tình già). "

     Người lớn thì lố lăng như vậy cho nên có những đứa con nít mất dạy, ăn nói hỗn hào: "Tại sao mấy lần trước người ta tổ chức thì anh đi, mà tới phiên Hoàng tổ chức thì anh không đến. Anh nói đi, lý do của anh thế nào? "

     Tôi tìm gặp trong Người về từ cõi chết, Gió đã ngừng, Một mối tình già dẫy đầy những mẫu người với từng nết xấu, thói hư. Ở bên Mỹ bạn đã gặp những đồng bào vì mặc cảm nghèo kém nên qua đây thường hay khoe khoang quá đà. Như anh chàng Thái chỉ là hạ sĩ mà xưng là thiếu úy, trung sĩ Trung khoe mình là phi công. Bên Canada tôi cũng vậy, thiếu gì, trong tập thể hội đoàn, ngành nghề nào cũng có. Bạn thắc mắc khổ sở sợ rằng những người như vậy làm ô danh cho binh chủng, ô danh cho cộng đồng? Con người nhà binh Nguyễn Tấn Hưng đã thành nếp. Hễ trung sĩ là phải vậy, trung úy là phải vậy. Cái trật tự, kỹ cương phải gìn giữ mới được. Ðâu có thể luông tuồng. Giấy rách phải giữ lấy lề.

     Cây quít trồng ở Giang Ðông thì ngọt, bứng qua trồng ở Giang Tây thì chua. Bạn với tôi, bây giờ ngọt hay chua, chua hay ngọt. Thiệt là nhức cái đầu. Nếu mà cây quít có trái tim thì nó cũng thắc mắc về việc "một cảnh hai quê" của nó. Cái cảnh ăn đậu ở nhờ đất người không biết sẽ kéo dài tới bao lâu nữa. Tất cả là do định mệnh đất nước đưa đẩy hết, Hưng ơi. "Hồi 75 tôi có tính chạy qua Mỹ đâu. Tôi ở đảo, tôi xin về đất liền mà không được đó chớ. Tụi tài công lái ghe lạc đường rốt cuộc tụi Thái vớt, đưa tôi về Thái Lan luôn. Bằng không tôi cũng có cơ hội nếm mùi tù Việt Bắc với Ðăng rồi (Người về từ cõi chết). " Cũng như "Cho đến nay, tất cả dòng họ tôi không còn ai có cái hân hạnh được đặt chân lên thềm lục địa mới. Tất cả bác chú, cô dì, dượng, cậu mợ... đều thúc thủ tại nhà. Chẳng ai dám cất bước ra đi tìm tự do trong cái chết nữa. Có lẽ họ cam chịu chôn vùi thân xác trên mảnh đất quê hương, tuy không còn sức sống nhưng lúc nào cũng dấu yêu. Như số phần của hằng triệu con dân Việt da vàng máu đỏ bên kia bờ đại dương... (Số Phần). "

     Như vậy Một Cảnh Hai Quê tuy không nói về chuyện tình cũng có thể coi như tập truyện tình. Ðó là tình hoài hương. Cái tình nhớ nhà nhớ nước của một cựu sĩ quan hải quân. Nguyễn Tấn Hưng là một người đầy tình cảm tha thiết gắn bó với gia đình quê hương làng xóm. Bạn nhắc tới từng địa danh của đất nước không bỏ sót một nơi nào bạn đã đi qua, khi đi du lịch ở xứ người (Còn đâu thi vị). Bạn nhắc đến từng cảnh sống ở thôn quê, cảnh múc nước đục ngầu phù sa từ sông về lóng phèn trong những lu vú, với gáo nước mưa đầy lăng quăng. Cái tủ đựng thức ăn có lưới kẽm để ngăn ruồi muỗi, bốn chưn có bốn chậu nước nhỏ kê ở dưới, rồi cảnh con dán, con mối, con dời, con rận con rệp...

     - Như vậy con không về đâu!

     - Con cũng vậy!

     - Con cũng vậy!

     - Tại sao? Việt Nam dù có really poor tụi con cũng cần phải về đó để biết where you com from như thế nào. Tụi con là Vietnamese chớ đâu phải American. That is your root, tụi con phải love và proud cái root nghèo khó đó mới phải. Không có nó không có you.


     Bạn cũng nhắc tới những kỷ niệm riêng của vợ chồng bạn trước khi cưới như một thú hoài niệm quê hương. Cuối cùng với Kẻ ngược đường bạn đã thác lời qua cô Thanh Trúc (hình ảnh một người tình của bạn?) để ghi lại nếp sống, cảnh trọ học của một nữ học sinh nghèo phải chật vật tá túc hết nhà này sang nhà khác để theo học các trường của Bến Tre và Mỹ Tho.

     Ðọc hết tập truyện tôi thấy bạn có một trí nhớ phi thường, một óc quan sát tin tường, bén nhạy. Chỉ phớt qua vài nét nhỏ bạn có dư khả năng làm cho độc giả say mê theo dõi bằng lối viết hấp dẫn, lôi cuốn. Tôi khoái đoạn bạn tả cảnh ăn càng cua:

     Vấn đề ăn khai vị, món càng cua luộc, thì vợ chồng Tâm rất tâm đầu ý hợp. Ăn riết như ghiền. Càng cua loại nào cũng ngon: snow crab, stone crab, và luôn cả blue crab, càng ghẹ cũng ngon. Ai mới nhìn vô tưởng là cọp ăn bù mắt, vỏ không chớ làm gì có thịt, đã vậy phải đập dập rồi rỉa từng thớ mỏng thì biết chừng nào mới ăn xong một càng. Ấy, muốn thưởng thức hương vị của càng cua thì trước hết cũng nên học qua cái nghệ thuật ăn càng cua. Không biết ăn thì ăn từng thớ mỏng, còn biết ăn thì ăn nguyên một miếng thịt. Lẽ dĩ nhiên phải có đồ nghề, phải có cái kềm tách càng cua lận về từ mấy tiệm all you can eat càng cua, hay ít ra phải có cái nut cracker. Rồi phải biết chỗ mà bấm và uốn nắn sao cho miếng thịt rút ra khỏi vỏ, gọn lỏn như cái đùi ếch đang cầm trên tay. Chấm chanh muối tiêu thì rượu có vô đầy hũ cũng phải rót hết trở ra. Nhưng đừng có dại dột tham ăn, ăn cho lẹ mà hương vị càng cua nó mất đi. Không còn gì chán cho bằng ăn càng cua có người lột sẵn!

     Ðã ơi là đã, ngoài cái nghệ thuật miêu tả khéo léo bạn chứng tỏ được cái mức thành thực cao độ. Bạn nghĩ sao viết vậy, không che dấu bất cứ điều gì. Hình như câu nào đã viết ra giấy thì bạn không nỡ gạch bỏ. Nguyễn Tuân ngày xưa đã nói: Ở đời có những sự thật không nên nói ra. Nhưng ở Một Cảnh Hai Quê và những cuốn khác của bạn, bạn đều nói tuốt luốt hết, không chừa một điều gì. Hèn chi Nguyễn Hưng Quốc đã có lần nhận định: Ða số nhà văn miền Nam đều có một nhu cầu thố lộ tình cảm, bộc bạch tâm sự. Ðiều đó quá đúng nhưng nên thêm, trong số các cây bút miền Nam, Nguyễn Tấn Hưng là người viết thành thực nhứt. Tôi không tìm thấy tính chất hư cấu trong các truyện của bạn (nếu có cũng rất mờ nhạt) mà toàn là sự thật của đời bạn và những người thân. Mà tôi nghĩ, đối với những nhà văn khác thì phải tưởng tượng vẽ vời mới có ý để mà viết, còn đối với bạn, cả một đời sống phong phú dồi dào chất liệu, bạn tha hồ mà ghi lại, cần gì phải vay mượn ở bên ngoài. Học giả Lâm Ngữ Ðường đã từng nói: Viết văn mà không dám viết về cái tôi của mình thì khó thành nhà văn lớn. Ngoài đức tính thành thực bạn còn là người đầy tình cảm. Cứ coi cách bạn cư xử với vợ con, cha mẹ, anh chị em, bà con dòng họ, và nhứt là với các bạn đồng ngũ, bạn nhắc nhở tới bằng giọng tha thiết đậm đà. Nói chi tới quê hương đất nước, bạn yêu thương nó biết bao nhiêu.

     Tuy nhiên, cái tình cảm phong phú đó được thể hiện song song với cái lý trí vững vàng. Tôi cũng đã thấy rõ cái lý trí mạnh đó qua cái nghị lực phi thường trong Một Ðời Ðể Học qua Một Thuở Làm "Trùm" rồi bây giờ đến Một Cảnh Hai Quê . Lúc nào Nguyễn Tấn Hưng cũng vươn lên, vươn lên bằng cái sức mạnh tinh thần vốn sẵn có cho nên trên đường đời tuy gian khổ nhưng bạn dễ thành công nhờ cái ưu điểm này. Như trong tình yêu, để tấn công người đẹp (Ta tắm ao ta), bạn phục kích chớp nhoáng và khi coi bộ không xong bạn rút nhanh đến độ tôi bàng hoàng, ngạc nhiên. Trong Một buổi chiều thứ bảy nghe vợ nhắc đến những chuyện liên quan đến tình cảm ngày xưa, trước đám cưới có người mê nàng đến tự tử chết, có người cầm súng với lựu đạn ngồi trước cửa hăm dọa, khóc lóc. Chuyện rung rinh rầm trời như vậy, bạn bình thản như không, kết luận tỉnh queo:

     Tấn gác điện thoại cắm đầu cắm cổ đọc cái văn thư trước khi đi nói chuyện với xếp. Một buổi chiều thứ bảy, hừ, một buổi chiều thứ bảy làm overtime với muôn vàn hình ảnh Việt Nam.

     Cái lý trí lấn áp tình cảm trong tập truyện là một khuyết điểm nhưng đồng thời cũng là một ưu điểm. Từ lâu trong tiểu thuyết của ta chứa đựng nhiều nước mắt quá, mỗi lần đọc xong một tác phẩm, cả người như muốn bịnh. Tôi muốn thấy nụ cười thay cho nước mắt, muốn thấy sự phấn đấu vui sống vươn lên trên khổ đau, do đó tôi bắt gặp ở những trang Một Cảnh Hai Quê những điều mong ước bạn đã viết được cho mọi người Việt Nam-niềm vui sống, dù đang ở trên xứ người. Chỉ cần bao nhiêu đó nhà văn Nguyễn Tấn Hưng cũng đủ được mọi người trân trọng quý mến.

     Thân ái,

   back to top

18. ÐEM TÂM TÌNH ÐỌC NGUYỄN TẤN HƯNG

             LÊ VĂN LÂN

     Lại "một" sáng tác mới chào đời do một cây bút phong phú ở hải ngoại. Cây bút này có một điểm đặc biệt là đặt tên cho những đứa con tinh thần của mình bắt đầu với chữ "Một": Một Ðời Ðể Học, Một Thuở Làm "Trùm", Một Chuyến Ra Khơi, Một Cảnh Hai Quê , bây giờ Một Kỷ Niệm Ðẹp , và... sắp đẻ thêm Một Lần Xuống Núi . "Một" là tất cả theo thuyết nhất nguyên của nhà Phật, nhưng "Một" chỉ là một trong những trăm ngàn theo ý tác giả.

     Nhiều cây bút tên tuổi đã giới thiệu về cây bút này. Thiết tưởng chừng đó cũng đủ để thiên hạ sửng sốt về danh tiếng của một con người mang tên là Nguyễn Tấn Hưng.

     Anh đã sáng tác với một "tâm thể Việt Nam" như Mai Thảo đã nhận xét. Giọng văn "tự nhiên như nói" nhưng "quyến rũ" qua lời phê bình của Làng Văn. Anh là "con mắt ghi được nhiều tình tiết và một con mắt nhớ dai" theo Nguyễn Ngọc Bích. Anh là "người viết thành thật nhất" theo Võ Kỳ Ðiền. Cá tính của anh lại rất "bướng bỉnh, anh không chiều theo thị hiếu của ai cả" theo Hồ Trường An. Tất cả những điều trên quả rất đúng với Nguyễn Tấn Hưng. Anh đã chọn cho anh con đường mà ít người dám dấn thân vào. Trước đây, anh viết về những đề tài liên hệ đến Hải quân, một binh chủng mà anh đã xuất thân. Anh đã ghi lại một thuở "làm trùm" tình báo. Anh đã tâm sự về nỗi lòng và những nỗi cam go cực khổ trên con đường học vấn trên đất người trong thời gian đầu tỵ nạn. Anh cũng đã ghi lại những cuộc tình thơ mộng trong buổi hải hồ lênh đênh sóng nước. Và anh cũng đã vẽ lên những phản ảnh của cuộc sống tha hương nơi xứ lạ quê xa.

     Nhìn qua những tác phẩm của Nguyễn Tấn Hưng, là phải đồng ý với Hồ Trường An rằng anh là một "cây bút nhân hậu, đáng mến." Riêng tôi - qua một giao tình mới mẻ đối với anh - tôi cảm phục anh ở một tấm lòng thiết tha, đam mê đối với sự sáng tác.

     Lần này, anh xông xáo đi vào lãnh vực biên khảo nghiên cứu. Anh đi vào một cách hăng hái, nhiệt tình, bất chấp mọi trở ngại, mọi thành kiến. "Nguyễn Tấn Hưng rất bướng bỉnh" như lời của Hồ Trường An.

     Qua tập bản thảo Một Kỷ Niệm Ðẹp (một phương pháp xếp chữ Việt bằng máy điện toán cá nhân) mà anh gởi cho tôi đọc, tôi thấy bốc ra một mùi của giấy mới, thấy cái đẹp mãn nhãn của những trang sách chính tay anh làm công việc electronic typesetting . Nhưng, tại sao chỉ là Một Kỷ Niệm Ðẹp ? Phải chăng tác giả đã bâng khuâng tiếc rẻ công trình mình rồi cũng không mấy ai màng để ý đến, không thể biến nó thành những tiêu chuẩn trên thị trường?

     Tôi không phải là một người làm bạn với máy điện toán nên thú thực tôi chỉ đọc bản thảo Một Kỷ Niệm Ðẹp của Nguyễn Tấn Hưng với con mắt của một người bạn, một độc giả thông thường đi tìm hiểu vấn đề kỹ thuật chứ không phải là một tay tổ chuyên viên về điện toán.

     Lối viết của Nguyễn Tấn Hưng nhẹ nhàng như lời nói bình dị đã dẫn dắt tôi ghé qua nhiều chương sách với những tựa đề dí dỏm: Mùa xuân này ta nên làm đẹp, Lại làm đẹp, Tự làm đẹp ... Nhưng Nguyễn Tấn Hưng đã nói toàn những vấn đề kỹ thuật để làm đẹp thêm dòng chữ Việt. Những thuật ngữ về điện toán nhiều lúc cũng làm tôi khựng lại để suy nghĩ... nhưng nhờ lối viết trơn tru của tác giả, tôi đã hiểu từ từ để say sưa với những điều trình bày trong sách. Tôi thấy những dòng chữ Việt qua công trình làm đẹp của Nguyễn Tấn Hưng quả nhiên là đẹp hẳn hơn lên.

     Phê bình giá trị của công trình nghiên cứu điện toán của Nguyễn Tấn Hưng là công việc của những tay tổ trong nghề. Nhưng nếu chỉ nhìn kết quả qua cách trình bày các trang sách do chính tay Nguyễn Tấn Hưng sắp xếp là phải thú thực đang nhìn "một cái gì đẹp." Duy chỉ có một điều làm tôi xốn xang là sự việc mà Nguyễn Tấn Hưng đề nghị "... bớt đi dấu hõi là dấu không có trong mẫu tự quốc tế, thì công việc bão đãm sẽ có phần giãn dị hơn nhiều" (trang 88 - chương Ðón Xuân, Ðem Tâm Tình Viết Tiếng Việt ). Tôi biết Nguyễn Tấn Hưng "bướng bỉnh," không chiều theo thị hiếu của ai cả như anh Hồ Trường An nói. Tôi là một người có đầu óc tồn cổ, đương nhiên khó chấp nhận lời xướng xuất bỏ dấu hỏi mà tôi cho là táo bạo quá, vì dễ khiến hiểu lầm chẳng hạn như: vợ chồng gẩy khúc tình tang trở thành vợ chồng gẫy khúc tình tang , và chiếc xe đổ gần bên suối làm chết nhiều người trở thành chiếc xe đỗ gần bên suối làm chết nhiều người ... Nhưng thôi, xin mời các bạn đọc đọc kỹ tác phẩm của Nguyễn Tấn Hưng để có nhận định riêng của mình và sự phán đoán về giá trị kỹ thuật xin để dành cho các chuyên gia về điện toán.

     Nếu tôi không lầm, sách của Nguyễn Tấn Hưng là cuốn sách đầu tiên trình bày kinh nghiệm trên giấy trắng mực đen vấn đề sắp chữ Việt bằng máy điện toán cá nhân, mặc dù trong vòng vài năm qua đã có nhiều người thảo chương trình về vấn đề này nhưng không viết sách.

     Càng đọc Nguyễn Tấn Hưng qua những sáng tác phẩm, ta lại càng cảm phục tấm lòng thiết tha với văn chương chữ nghĩa của anh.

     Lawrenceville, NJ, Cuối Ðông 1990

   back to top

19. Nhân Ðọc "MỘT KỈ NIỆM ÐẸP" của NGUYỄN TẤN HƯNG, MẠN ÐÀM VỀ CHỮ VÀ NGĨA

             TRÚC HUY

     Mặc dầu được biết anh Nguyễn Tấn Hưng là một trong những cây bút phong phú hiện nay ở hải ngoại, đã cho xuất bản một số văn truyện được nhiều độc giả biết đến và khen ngợi, song tôi phải thú nhận là cho đến nay chỉ có cơ duyên đọc mỗi một tác phẩm gần đây của anh: đó là cuốn biên khảo ngiên cứu "Một Kỉ Niệm Ðẹp" 1.

     Tuy chỉ biết anh qua công trình ngiên cứu này, song tôi đã đọc một cách say sưa và thích thú vì giọng văn tự nhiên, tươi mát của anh và nhất là vì sự nhiệt tình, thiết tha của anh trong công cuộc tìm tòi và sáng tạo để tìm ra một phương pháp xếp chữ Việt bằng máy điện toán cá nhân. Sự cố gắng của anh trong công cuộc tìm tòi và sáng tạo này không ngoài mục đích tô điểm và làm đẹp thêm dòng chữ Việt mà anh tỏ ra hết sức nâng niu, trân trọng.

     Cuốn biên khảo "Một Kỉ Niệm Ðẹp" của Nguyễn Tấn Hưng đã cho chúng ta cơ hội học hỏi được ít nhiều về các kĩ thuật xếp chữ Việt bằng máy điện toán. Anh Nguyễn Tấn Hưng đã thành công trong nỗ lực làm đẹp thêm dòng chữ Việt về phương diện kĩ thuật.
ooOoo

     Sự thiết tha muốn làm đẹp thêm tiếng Việt còn đưa anh đi xa hơn nữa khi anh đề ngị bỏ dấu hỏi mà chỉ dùng toàn dấu ngã (xem chương "Ðón Xuân, đem tâm tình viết tiếng Việt" 2). Ở nơi chương này, anh đưa ra bàn cãi và thảo luận về một số í kiến và đề ngị của chính anh và của một số người khác về các phương thức nhằm giản dị hoá và thống nhất hoá cách viết tiếng Việt. Sở dĩ tôi đặc biệt chú trọng và thích thú khi đọc đến chương này, là vì chính bản thân tôi cũng đã từng thiết tha và mong muốn có một lối viết chữ Việt giản dị và thống nhất.

     Thật ra, nếu đem so sánh chữ viết của ta với một số chữ viết khác trên thế giới như Anh ngữ, Pháp ngữ chẳng hạn, chúng ta hẳn phải tự hào rằng chữ viết của chúng ta quả thật đã giản dị lắm rồi: phát âm sao, viết ra như vậy. Tuy nhiên, tôi thiết ngĩ cũng còn đôi ba điều chúng ta có thể sửa đổi được hầu làm cho chữ viết của chúng ta được giản dị và hoàn hảo hơn nữa.

     Sau đây là những í kiến và đề ngị mà tác giả Nguyễn Tấn Hưng đã đề cập đến và đem ra thảo luận trong chương kể trên:

     (1) - Trước hết là đề ngị của chính tác giả về việc bỏ dấu hỏi và chỉ dùng dấu ngã trong tất cả các trường hợp. Thí dụ: "biến đỗi" (biến đổi), "thưỡng thức" (thưởng thức) v. v... Anh đưa ra lí do vì hai dấu hỏi ngã phát âm gần như nhau (nhất là đối với người miền Nam như anh và cả người miền Trung). Hơn nữa, theo anh, dấu hỏi không có trong mẫu tự quốc tế.

     Cũng như sự nhận xét của ông Lê Văn Lân, trong bài Bạt in ở phần cuối sách3, tôi thấy lời đề ngị xướng xuất bỏ dấu hỏi của anh khó có thể được mọi người chấp nhận, vì lẽ trong chữ viết của ta, dấu nào cũng cần thiết và quan trọng cả. Mỗi một chữ, nếu viết sai dấu, không những sai lỗi chính tả, mà ngĩa lại thay đổi hoàn toàn. Lời văn viết ra cần sự trong sáng và í ngĩa cần được rõ ràng. Viết sai dấu hỏi ngã, ngĩa của chữ sẽ thay đổi khác đi, cũng như ngĩa một chữ sẽ thay đổi khi ta viết cuối chữ có "g" hay không "g", hay viết cuối chữ bằng "c" hay "t" v. v... Tóm lại, tuy khi phát âm, sự phân biệt nhiều lúc không được rõ ràng và minh bạch cho lắm, nhưng khi viết ra cần viết đúng chính tả để í ngĩa mỗi chữ được rõ ràng, sáng sủa, hầu tránh sự hiểu lầm sai lệch.

     (2) - Ngoài việc đề ngị bỏ bớt dấu hỏi, anh Nguyễn Tấn Hưng còn đề xướng thay thế chữ "đ" có nét ngang đặc biệt bằng chữ "d" thường, và thay chữ "d" thường bằng chữ "gi". Anh đưa ra các thí dụ: "giễ hiểu" (dễ hiểu), "khó dọc" (khó đọc) v. v...

     Thật ra đề ngị này không có gì mới lạ. Việc thay thế chữ "đ" có nét ngang đặc biệt bằng chữ "d" thường, trên lí thuyết tôi cho là rất hợp lí và xác đáng, vì đa số các ngôn ngữ trên thế giới đều dùng chữ "d" (phát âm như chữ "đ" của ta). Còn chữ "d" thường của ta thì có thể thay thế bằng chữ "gi" (như đề ngị của anh Hưng), hay bằng chữ "z" (như đề ngị của một số người khác), hay bằng chữ "đ" (nhưng phát âm như chữ "d" thường), trên lí thuyết tôi thấy cũng hợp lí.

     Tuy nhiên, tiếc thay, lời đề ngị thay thế này lẽ ra phải được đặt ra cho các vị giáo sĩ tây phương ngay từ hồi thế kỉ thứ 17, lúc họ mới phát minh ra chữ viết của ta, hay ít ra cũng trong giai đoạn đầu, lúc mà chữ quốc ngữ còn đang phôi thai, chưa được phổ biến rộng rãi. Bây giờ, nếu muốn thay thế chữ "đ" có nét ngang đặc biệt bằng chữ "d" thường cho phù hợp với cách thức phát âm quốc tế, thì thử hỏi các sách vở, tài liệu viết bằng quốc ngữ mà chúng ta đã có từ hơn 100 năm nay, chúng ta phải giải quyết ra làm sao? Thôi thì đành nâng niu chữ "đ" có nét ngang đặc biệt của ta mà thương iêu nó vậy!

     (3) - Một vấn đề khác được tác giả đưa ra thảo luận: đó là việc nên dùng dấu gạch nối cho những tiếng phức vận hay những tiếng ghép, hay là nên viết dính chùm lại các thành phần của những tiếng này? Vấn đề này cho đến nay vẫn chưa được giải quyết một cách thoả đáng. Một số học giả (Trần Trọng Kim, Nguyễn Duy Cần v. v...) thích dùng dấu gạch nối, một số khác, rất ít, lại thích dùng lối viết dính lại (Hoàng Văn Chí, Phạm Hoàng Hộ v. v...), trong khi đó đa số bỏ hẳn dấu gạch nối, ngĩa là viết rời từng tiếng đơn vận trong bất cứ trường hợp nào.

     Tiếng Việt là một thứ tiếng đơn vận (monosyllabic). Cho nên dùng dấu gạch nối cho những tiếng phức vận hay những tiếng ghép xem ra không cần thiết cho lắm. Tuy nhiên, khi phiên âm những tiếng ngoại quốc, dùng dấu gạch nối là một điều cần thiết. Thí dụ: "a-xê-ti-len" (acetylene), "Ma-hô-mét" (Mahomet) v. v... Dấu gạch nối cũng thường hay dùng cho những tiếng Hán-Việt (Thí dụ: "giám-sát", "tiêu-chuẩn" v. v...).

     Ðiều phải công nhận là khi nhìn một bài viết hay một trang sách có chi chít những dấu gạch nối ở mỗi hàng, hay có những tiếng phức vận hay những tiếng ghép viết dính chùm lại nhau (Thí dụ: "hoảdiệmsơn", "pháthành" v. v...), cảm giác chung không được thoải mái cho lắm, vì thiếu tính cách thẩm mĩ, gọn gàn và sáng sủa.

     (4) - Trước đây, ông Nguiễn Ngu Í (còn kí biệt hiệu khác là Ngê Bá Lí) cũng có tham vọng cải tiến và đơn giản hoá chữ quốc ngữ. Trong những đề ngị của ông, có những đề ngị rất hữu lí, và cũng có những đề ngị khác mà anh Nguyễn Tấn Hưng cho là "cầu kì, quái đản"4.

     Trước hết, trong vần "ngh", ông đề ngị bỏ chữ "h" mà chỉ giữ "ng". Thí dụ: "ngẹn ngào" thay cho "nghẹn ngào", "ngề ngiệp" thay cho "nghề nghiệp" v. v... Ðây là một đề ngị xét ra rất hữu lí và xác đáng. Tôi không tìm thấy một lí do nào buộc chúng ta phải viết "ngh" (khi nó đứng trước các nguyên âm "e", "ê" hoặc "i") thay vì "ng" (khi nó đứng trước các nguyên âm khác).

     Bỏ chữ "h" trong vần "ngh", sự phát âm hoàn toàn như nhau, không có gì thay đổi cả. Việc đơn giản hoá và cải tiến chữ viết của ta, ít ra trong trường hợp này, là một điều nên làm. Ðứng trên bình diện quốc gia, việc bỏ bớt chữ "h" trong vần "ngh" lại đưa đến cho ta một lợi ích không thể chối bỏ: lợi thì giờ (khi viết hoặc đánh máy), lợi giấy mực (cho tổng số sách báo in ra hằng năm trong toàn quốc và tại hải ngoại), lợi sơn dầu (cho những tấm bích chương, quảng cáo) v. v...

     (5) - Một đề ngị khác của ông Nguiễn Ngu Í: thay thế "y" bằng "i". Thí dụ: "hi vọng" thay cho "hy vọng", "kỉ niệm" thay cho "kỷ niệm" v. v... Việc thay thế "y" bằng "i" cũng là một đề ngị hữu lí, và đã được một số học giả ưa dùng lâu nay (như Nguyễn Hiến Lê, Trúc Thiên v. v...).

     Phần đông trong chúng ta thường viết li - ly, qui - quy v. v... mà không theo một tiêu chuẩn nào nhất định. Thiết tưởng đã đến lúc chúng ta nên thống nhất hoá cách dùng "i" và "y" như sau đây:

     - viết "i" thay thế cho "y" trong trường hợp nguyên âm này đứng một mình hay đầu chữ (Thí dụ: "í kiến", "tình iêu" v. v...), hay đứng sau một phụ âm (Thí dụ: "hi vọng", "kỉ niệm", "li biệt", "mĩ thuật" v. v...). Riêng chữ "giặt gỵa" được xem như là một trường hợp đặc biệt, vì nếu viết "gịa" có thể đọc nhầm lẫn ra "giạ".

     - "y" vẫn được giữ nguyên khi đứng sau một nguyên âm khác như trong các vần -ay, -ây, -uy (kể cả các vần -uya, uyê-, -uyn(h), -uyt, -uyu v. v...), hoặc khi đứng sau vần qu- (kí hiệu phát âm là /kw-/). Thí dụ: "lay động", "bây giờ", "nguy hiểm"; "đêm khuya", "tuyên bố", "tuyết rơi", "màn tuyn", "lưu huỳnh", "xe buýt", "khuỷu tay"; "quy chế", "cam quýt" v. v...

     Ông Nguiễn Ngu Í đã sai lầm khi muốn thay thế hẳn "y" bằng "i". Sự thiếu căn bản về ngữ âm học đã khiến ông có lối viết mà tôi cho là lập dị, quái gở, khi ông viết tên họ của ông là "Nguiễn" thay vì "Nguyễn", hay là viết: "thai đổi" thay vì "thay đổi" v. v... Cũng vì tính lập dị đó mà ông còn đề xướng bỏ chữ "u" trong vần "qu": "qan trọng" thay cho "quan trọng", "qê hương" thay cho "quê hương" v. v... Chúng ta đều biết rằng "q" luôn luôn phải có "u" đi kèm theo để tạo thành vần "qu" khi ghép vào một chữ. Cho nên, cách viết lập dị và quái gở này chỉ có riêng mỗi một mình người chủ xướng là ông Nguiễn thực hành mà thôi.

     (6) - Hiện nay, có người ưa dùng "f" thay thế cho vần "ph". Thí dụ: "fi cơ" thay vì "phi cơ", "fúc đáp" thay vì "phúc đáp" v. v... Tôi công nhận là có phần giản dị thật. Song có vẻ lai căng, âu hoá quá, vì lẽ phụ âm "f" vốn không có trong mẫu tự của ta.

     (7) - Riêng về vấn đề bỏ dấu cho các vần "oa", "oe", và "uy" (kí hiệu phát âm là /wa/, /we/ và /wi/), trên phương diện ngữ âm học, tôi đề ngị chúng ta nên chọn tiêu chuẩn chung là bỏ dấu trên nguyên âm thứ hai. Thí dụ: "hoà bình" (thay vì "hòa bình"), "khoẻ mạnh" (thay vì "khỏe mạnh"), "huỷ bỏ" (thay vì "hủy bỏ") v. v...

     Trong các kí hiệu phát âm /wa/, /we/ và /wi/, ta thấy ngay rằng dấu nhấn (các thanh huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã) chỉ có thể đặt trên các nguyên âm /a/, /e/ và /i/ mà không thể nào đặt trên phụ âm /w/ được. Tôi nhớ cách đây đã lâu đã có lần giáo sư ngôn ngữ học Nguyễn Ðình Hoà biên thư cho tập san Thế Kỉ 21 lưu í về việc, trong chữ "toà" của "toà soạn", toà báo bỏ dấu trên nguyên âm "o" thay vì bỏ dấu trên nguyên âm "a", điều mà ông cho là không được đúng.
ooOoo

     Việc đưa ra những í kiến, đề ngị để đổi mới hầu cải tiến và giản dị hoá tiếng Việt là một điều cần được khích lệ, nếu những í kiến, đề ngị đưa ra xét thấy có phần hữu lí và xác đáng.

     Cũng như tác giả "Một Kỉ Niệm Ðẹp" , tôi đã đưa ra trên đây một vài í kiến và đề ngị xây dựng ngõ hầu làm đẹp thêm cho tiếng Việt. Việc "làm đẹp" này, theo tôi, là nhiệm vụ chung của tất cả những ai trong chúng ta hằng có lòng ưu tư và thiết tha với ngôi nhà văn hoá Việt Nam.

     10/95

     1 - Nguyễn Tấn Hưng. Một kỉ niệm đẹp: Một phương pháp xếp chữ Việt bằng máy điện toán cá nhân. California, U.S.A., Ðại Nam, 1991. 176 tr.
     2 - sđd, tr.85-96
     3 - sđd, tr.173-76
     4 - sđd, tr.92

   back to top

20. VÀI LỜI GIAO CẢM

             PHẠM THĂNG

     Tôi đang ngồi lúi húi xới đất cho líp cải xanh ngoài vườn nhỏ sau nhà thì nghe tiếng vợ gọi vui vẻ:

     - Có thư và sách nè anh!

     - Ủa, anh phát thơ đi sớm quá hả? Của ai vậy em?

     - Ơ... ơ... có một bao bì lớn của Nguyễn Tấn Hưng. Chắc là sách.

     Mở bao bì ra, đúng là sách của ông Trùm "Một." Nhưng chưa phải là sách, chỉ là xấp bản thảo còn nguyên vẹn mùi thơm của giấy. Một lá thơ rớt ra. Ðọc vội vàng, tôi cảm thấy "quây mòng mòng" còn hơn... cuốc đất mấy ngày nay. Tôi nói lầm thầm:

     "Ác thiệt! Chàng nầy sáng tác hăng quá, rồi lại nhờ mình viết tựa! Thà là cuốc đất mười bữa, nửa tháng còn sướng hơn! Biết ổng viết cái gì đây? nếu nói về đồng quê, miệt vườn thì mình còn hụ hợ được, chớ viết chuyện ra khơi, biển cả... thì mình bù trất rồi... Ông nầy chắc dư biết viết tựa khó ngàn lần viết bạt, phải nắm vững văn phong, văn khí của tác giả." Mà với Nguyễn Tấn Hưng, anh Mai Thảo đã nói rất nhiều và đầy đủ trong lời Vào Tập của hai cuốn sách đầu tay của Hưng:

     Ðọc hết Một Chuyến Ra Khơi, đọc tiếp tới Một Ðời Ðể Học, tôi thấy được những gì? Thấy được mấy điều tôi cùng yêu mến. Trước hết là tấm lòng Nguyễn Tấn Hưng đối với văn chương, ở phía có văn chương. Ðó là hình thái của một gắn bó son sắt, thủy chung, qua thời gian không có nếp nhăn, qua đổi rời vẫn một đời bền vững. Ở được với văn chương như vậy đã là một ở đẹp. Ðẹp và đầy. Cái ở không nửa đường đứt gánh, không lúc còn lúc mất, nói cách khác, một thường xuyên ở, một mãi mãi cùng, tỏ hiện trong văn truyện Nguyễn Tấn Hưng thành một thống nhất và một liên tục viết trước sau không bao giờ thay đổi, mặc dầu thân thế người thì đã không biết bao nhiêu thăng trầm và đổi thay.

     Ðiều yêu mến thứ hai, cũng là điều cắt nghĩa tại sao, viết lại ngay cùng với bắt đầu lại đời sống trên quê người và viết rất đều tay, rất chuyên cần, tới giờ Nguyễn Tấn Hưng mới hoàn thành được xong hai tác phẩm. Ðó là cách viết, lối viết Nguyễn Tấn Hưng hết sức nghiêm chỉnh, kỹ lưỡng vô chừng
...

     Vậy là đủ "một Nguyễn Tấn Hưng" rồi, và còn gì để viết nữa đây? Chỉ liếc thấy xấp giấy chi chít chữ, chưa thấy lá thơ, vợ tôi đem tôi về thực tế:

     - Anh có sách đọc ngày nay rồi đó nghen. Nhưng tới giờ cơm rồi. Phải ăn trước đó.

     Nghe vợ nhắc, tôi quên lững cái "công tác đề tựa" nặng nề mà nhớ là mình sắp được đọc một cuốn sách mới trinh nguyên, chưa một ai đọc trước mình, tôi ngoan ngoản ra bàn ăn.

     Vợ tôi biết tôi có tật lạ lùng là khi có cuốn sách nào thích chí thì quên ăn và không thèm làm gì khác, và mỗi lần tôi đọc sách, tôi nằm dài trên giường, đấp mền tận cổ... thật nghiêm túc. Có lần tôi giải thích:

     - Không có gì sung sướng cho bằng khi đọc một cuốn sách hay, hấp dẫn mà bị... lạnh cẳng. Mình ở xứ lạnh mà.

     Ðó đâu phải là tật, cũng như lúc nhỏ, chú tôi có kể cho nghe: Mỗi lần ông tôi đọc sách (chữ nho) là ông phải ngồi dựa vào cái gối xếp trên bộ ngựa trải chiếu hẵn hòi, mới cầm sách đọc. Không bao giờ ông nằm võng mà đọc sách, nơi nầy ông chỉ nằm hút thuốc, phà khói, mơ màng thôi.

     Tôi bỏ lá thơ vào hộc bàn, tạm quên, để chỉ hưởng thú đọc sách của Ông Trùm nầy, rồi... tới đâu hay tới đó.

     Vừa ở trang đầu, liếc thấy hai chữ "Miệt Vườn" tôi hơi yên chí, lật rẹt rẹt xem sơ sơ bên trong. Phải nói rõ, đây là cái tật. Không phải như nhiều bà, nhiều cô có tật đọc trước mấy trang cuối cùng để biết kết quả của nhân vật trong tiểu thuyết Quỳnh Dao, La Lan... mà tôi chỉ muốn tìm coi có nhân vật tên John, tên Bob không? Không phải tôi kỳ thị mà vì tôi "kỵ" đọc những chuyện mới xảy ra "hôm qua, hôm nay" mà mình sống tạm bợ xứ người thường gặp hoài.

     Tôi lật sơ để tự giải đáp thắc mắc trong tôi: Anh bạn Hưng nầy là dân "áo-trắng-bâu-vuông-có-viền-xanh-lật-sau-ót" mà nói chuyện Xuống Núi, là xuống làm sao?

     Nhờ lật rẹt rẹt để chợt thấy nhiều chữ in hoa, tên của phụ nữ: Cao Bình Minh, Phan thị Trọng Tuyến, Nguyễn thị Ngọc Diễm, Nguyễn thị Ngọc Nhung, "bốn con chuột dừa" rồi có "múi bưởi Biên Hòa" Trần Kim Vy, theo sau có tên phụ nữ nữa... nhảy nhót trong sách. Tôi yên chí vì biết anh bạn trẻ nầy viết ký sự về bạn bè, trong đó có nhiều cây viết nữ miền Nam mà từ lâu tôi được đọc trên báo Làng Văn , chỉ "văn kỳ thinh, bất kiến kỳ hình..." vậy là sẽ có những đoạn "vẽ lại" dung nhan các người đẹp rồi đây!

     Mèn ơi, sao mà chàng nầy có duyên vậy? Tôi chưa hết vui mừng khi xẹt tới trang 118 để thấy vài địa danh xứ Hoa Kỳ in hoa: Sông Muối (Salt River), Stuart Mountain Dam... tôi hơi ngợ, nhưng liền đó là những giòng chữ tả cảnh. A! cái gì chớ tả cảnh là tôi mê quá rồi!

     Như có lần tôi nói với bạn bè trong sách của tôi: Tôi sanh dưới chưn con ngựa, tuổi Canh Ngọ, mang giòng máu giang hồ, chạy mệt quên thôi, nên tôi đi đây, đi đó, từ hồi lưu lạc xứ người có đi Âu, Á, mà xứ Cờ Hoa sát bên lại chưa có dịp đi. Hôm nay có Nguyễn Tấn Hưng viết về Một Lần Xuống Núi , dẫn mình và độc giả đi theo, (không tốn xu nào đó nhe), tôi mừng vì yên chí, ôm xấp bản thảo lên giường, đấp mền ngay ngắn, sung sướng theo chưn bạn trẻ nầy... xuống núi.

     Tôi "nhập cuộc" với Nguyễn Tấn Hưng liền khi đọc những cuộc hội họp bạn bè trong một khung cảnh thật văn nghệ, với những khuôn mặt mà tôi có biết tên tuổi. Hưng có lối kể chuyện trung thực, kể một lèo, không cần giũa gọt mà sao nghe như có âm thanh trong trang sách, có hình tượng nhảy múa trước mặt, ví dụ như trang 11, 12, Hưng viết trơn tuột mà độc giả tưởng chừng như có một người đẹp đất Thần Kinh duyên dáng là Hoàng Bắc đứng trước Hưng để chất vấn... và cậu ta đang mĩm cười... duyên để vừa phân trần, vừa ga-lăng, nịnh đầm:

     - "Tại vì tôi chưa biết chị nên chưa dám nhắc đến chị thôi, sợ chị phiền bất tử..." Biết đâu sau khi đọc bài này lại có người chẳng khiếu nại tôi rằng "khi răng mà không bênh mấy o "lớp lớp phù sa" của mình, ai lại dựa hơi mấy mụ nói giọng cay xè như bún bò..., câu nào câu nấy cứ "un point final" bằng... "nhá, nhá." Thấy chưa chị Hoàng Bắc, lần sau chị làm ơn đừng có kê tui nữa nhá. Nhưng thực sự tôi nhá chị Hoàng Bắc ở một chỗ khác tuyệt vời hơn. Số là tôi kề, sát quá thành hôn, tai chị và rất thiệt tình hỏi "có phải chị sinh năm 1942 hôn?", chị như đi guốc trong bụng tôi hỏi lại liền "bộ tui khai gian hả?" Cho tới bây giờ tôi không biết phải khen chị Hoàng Bắc giữa đẹp với trẻ cái nào trước hà. Mà thôi, tôi sợ bà con hiểu lầm "chị chị em em" (tại tuổi tôi nhỏ hơn bả thôi nghen) nói mãi "thành cà rem nước dừa" ...

     Cứ đọc đoạn trên, độc giả sẽ hình dung một Nguyễn Tấn Hưng lém lỉnh trước một nhà văn nữ miền Trung khả ái, duyên dáng, xinh xinh.

     Còn gì vui hơn khi biết "Làng Văn" có nhiều người đẹp như vậy. Mà không phải một người, chúng ta cứ theo chuyến hành hương đầu đời (lời tác giả, trang 19) để còn thấy thêm nhiều bạn hiền nữa.

     Tôi còn đang ao ước làm sao được đi thiệt, bằng xương, bằng thịt, không phải theo chân tưởng tượng như vầy thì tay dở đến trang "Văn Minh Miệt Vườn" để được Nguyễn Tấn Hưng kể lại Mỹ Tho, Gò Công của Hưng, không có miệt Long Hồ của tôi. Ðúng ra bên Cái Bè, Cai Lậy, Bến Tranh, Chợ Gạo của Mỹ Tho có nhiều vườn hơn Long Hồ, Vũng Liêm xứ Vãng của tôi, nhưng tác giả coi mình ở Miệt Ruộng là khiêm nhường chăng?

     Không sao, Miệt Vườn, Ruộng gì cũng được. Vì Hưng đã đưa độc giả vào cuộc giải thích mấy chữ Văn Minh Miệt Vườn, và đấy là bài nói chuyện tại trường Ðại học George Mason, thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, vào ngày 25-06-1989, của anh.

     Mấy tháng vừa qua, nhà xuất bản Phù Sa do nhà văn Nguyễn văn Ba chủ trương, đã tập họp và xuất bản 2 cuốn TUYỂN TẬP NHỮNG CÂY VIẾT MIỀN NAM đã làm văn giới có lời dị nghị: "Chà! Có mùi địa phương rồi đây!"

     Giờ đây, đọc bài nói chuyện của Nguyễn Tấn Hưng mới thấy nhà văn hải quân nầy "chịu giải thích" và có lý. Còn đối với người miền Nam, sở dĩ có sự rầm rộ vác bút xuống đường là tại vì đây là lần đầu tiên trong lịch sử, dân Nam ta mới "được" nếm mùi bỏ xứ ra đi. Dám nói nếu không có cuộc đại loạn, đổi đời thì trong văn học Việt Nam sẽ không có những áng văn chương, biết đâu sau này sẽ trở thành bất hủ, cho quê hương miền Nam được viết lên từ hải ngoại (trang 139).

     Tôi nhớ có dịp được đọc thơ của một văn hữu lớn tuổi cũng có nói:

     - Thời gian sau nầy (có nghĩa là sau khi chúng ta bỏ xứ ra đi) có nhiều cây viết gốc miền Nam nổi lên quá. Vì các anh mới lần đầu tiên bỏ nơi chôn nhau cắt rún, tâm trạng còn cô đọng hình ảnh thân thương, những kỷ niệm vừa để lại sau lưng, nên cầm viết lên là viết được ngay dễ dàng những sự việc còn mới ràng ràng chưa phai trong ký ức...

     Ðúng lắm. Tôi chịu các lập luận này. Vì cứ suy nghĩ theo bản thân của tôi, lúc còn nhỏ, từ năm 1940, đã biết đọc văn của Truyền Bá, Hoa Mai, Sách Hồng rồi leo sang Phổ Thông bán nguyệt san, Tiểu Thuyết Thứ Bảy ... của các văn sĩ miền Bắc. Tôi còn thuộc lòng bảng Mục lục của Phổ Thông : Ai lên xứ Cát, Ngựa đã thuần rồi, mời ngài lên v.v. Tôi đọc và đã hiểu rõ văn phong miền Bắc để khi có một chút "lợn cợn" nào không hiểu, lại hỏi chị tôi, cô gái Nam rặc ròng. Lúc đó tôi không nghe ai bàn đến văn phong miền Nam hay Trung, Bắc gì cả, chỉ biết là sách báo do các nhà văn lớn: Lê văn Trương, Tchya, Ngọc Giao, Nguyễn Triệu Luật, Ngô Tất Tố... cũng hay, cũng dễ hiểu như Hồ Biểu Chánh, Phú Ðức...

     Ai ai chúng tôi đều hăm mộ, kịp đến Hiệp định Genève 1954, tôi được hân hạnh quen biết thêm các cụ Lãng Nhân Phùng Tất Ðắc, Võ Ðức Diên, các ông Nguyễn Doãn Vượng, các anh Lê văn Siêu, Vũ Bằng v.v. để được đọc và thấm thía nỗi sầu ly hương của các anh lúc đó.

     Lúc bấy giờ, những bạn cùng trang lứa tuổi tôi, chắc xúc động nhiều với các văn nhân, ký giả, thi sĩ, nhạc sĩ miền Bắc... các anh đang nhắc nhở vùng trời thơ ấu thân thương của mình trong các ký sự, hồi ký, chuyện ngắn, ca khúc... để cho chúng tôi, những bạn trẻ người Nam biết và thương mến thêm những đền đài, núi non, sông ngòi xứ Thăng Long, để cảm thấy thoang thoảng mùi hoa sữa (dầu chưa thấy bao giờ) để cảm biết trong tưởng tượng thế nào là gió heo may, mà trong Nam chỉ có gió chướng, gió bấc...

     Tại sao những bài đó có sức hút như vậy? Bởi vì các văn nghệ sĩ đó vừa "bước ra khỏi" cái nôi đầy kỷ niệm thân yêu của mình - Tâm trạng còn mới nguyên thì lời văn, tiếng nhạc chắc chắn còn đượm nồng tình quê hương. Các anh chờ trở lại (theo lời Hiệp định Genève: 2 năm sẽ có Tổng tuyển cử) mà phải chờ... chờ hoài... đến 10, 15 năm sau... lúc đó chúng ta hết còn thấy bài nào kể lại quê Bắc nữa, cho dầu là Vũ Bằng viết về Miếng Ngon Hà Nội vẫn còn đó, anh đã hết hứng để viết về Hà Nội, mà đành viết... chuyện trong Nam.

     Các nhà văn người Nam, trước hay sau di cư 1954, viết văn, viết báo vẫn xài giọng văn chung chung, nghĩa là không rặc giọng Nam bộ, chỉ trừ Hồ Biểu Chánh với nhiều tiểu thuyết: Vì nghĩa vì tình, Cha con nghĩa nặng v.v. Phú Ðức với Châu về hiệp phố , một nhà văn lão thành (tôi quên tên) với chuyện Võ đông sơ-Bạch thu hà v.v. rồi kế đến Nam Ðình Nguyễn Thế Phương, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên... sao họ không bị ảnh hưởng, để đến sang đây mới có nhóm người gốc miền Nam viết với văn phong miền Nam?

     Cứ xin đan cử về tôi (xin đừng rầy tôi quá chủ quan). Từ lúc vào "ăn cơm nhựt trình" năm 1952, rồi năm 1955 quen các ký giả Bắc, Trung, Nam trong nhà báo, tôi có sẵn trang báo trong tay sao không viết? mà phải đợi sang đây mới... cầm bút lên? và khi viết lại viết với giọng đặc sệt miệt vườn?

     Như đã trình bày ở trên, tôi cũng giống như anh Lê văn Siêu, Vũ Bằng... lúc 1954. Tôi bỏ ruộng vườn, mồ mả ông bà, sang đây... nhớ quá, lần đầu trong đời mà.

     Khác hơn các anh di cư 1954 từ miền Bắc vô Nam rồi nay lại bỏ xứ - Cái xứ sau này chỉ là tạm bợ, ít có kỷ niệm như nơi chôn nhau cắt rún. Chúng tôi nhớ thì phải thốt lên, không bằng lời, thì bằng lời văn mộc mạc để kể chuyện quê mình, nơi có vườn, có ruộng, có âm thanh, có tiếng nói của nơi đó (phải không Hưng?). Từ đó, dầu có muốn viết theo lối văn đã thấm trong đầu từ lâu, cũng không thể nào viết câu:

     - Nè, thằng tư Thẹo đâu rồi. In như có trái dừa rụng sau hè. Tao nghe nó rớt cái bịch. Chạy ra lượm vô nghen .

     Chẳng lẽ với lời bà mẹ quê Nam, mà viết:

     - Tư Thẹo đâu rồi. Dường như có quả dừa rơi đánh xạt sau vườn đấy. Mày ra nhặt vào nhé .

     Mà đâu phải chỉ có các cây viết miền Nam qua đây mới nhớ quê, mới viết. Anh chị em miền Trung nữa chớ, nào là Võ Ðình với Mấy món Tết mặn mà , một Túy Hồng với Hạt gạo Huyền Trân , hoặc một Huyền Châu với Mùa Xuân trên Gò Bồi ... (trang 139).

     Tôi xin mạn phép nói lan man hơi nhiều để góp thêm ý vào chặng hành trình thứ hai của "chàng." Bây giờ mời các bạn nhảy phóng theo tác giả đến tiểu bang New Jersey. Hãy chạy mau mới kịp vì anh hải quân này lái xe... ẩu lắm, mặc cho các cô gái Mỹ ở đấy bóp kèn inh ỏi, cứ lái phom phom như lời văn tuôn chảy nhẹ nhàng trên giấy.

     Nhờ tác giả dẫn độc giả đi từ trang 29 đến trang 41 để tìm bắt mạch ông lang tây Lê văn Lân mà mình biết thêm tiểu bang Mỹ nhiều đèn xanh đèn đỏ, xa lộ lớn xa lộ nhỏ...

     Không biết những trang của chặng thứ ba, Nói chuyện với đàn em , Nguyễn Tấn Hưng có thấy hãnh diện là được quen biết nhiều các văn nghệ sĩ Việt Nam tại xứ người chăng, chớ tôi và bạn đọc thích vô cùng, vì ở chặng này, được biết rất nhiều văn nghệ sĩ thành danh trên văn đàn mà từ lâu mình nghe tiếng.

     Hãy đọc chầm chậm mới thấy Nguyễn Tấn Hưng "giỏi thiệt." Anh khai toẹt tác phẩm nào của ai, nội dung hay ho, phong phú ra sao? Hãy theo tác giả vào đoạn đường này để thấy miệt vườn Mỹ Tho sum suê văn nghệ sĩ cũng như dừa xiêm Bến Tre, cam ngọt Cái Bè... Mà sao lại có nhiều nữ giới quá? Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn... mười một (lời tác giả).

     Gì chớ nhà văn nữ của Miệt Vườn mà Hưng kể nơi chương nầy vừa đẹp lại vừa giỏi mà... dữ (trong văn chương) để có nhiều người mến mộ và trồng cây si:

     Thiên hạ mười phương đã ngất ngư,
     Kẻ mong thành cá, kẻ thành sư.
     Tên bay một phát, chim bầy rớt,
     Khoái chí chưa tề, bớ tiểu thư
.

     (thơ Cung Vũ)

     Phải thú thiệt, tôi đọc chương nầy tới hai lần mới qua chương kế và tôi tin là độc giả khi đọc đến đây cũng sẽ như tôi. Tác giả kể tác phẩm cũng như tâm tánh con người của nhiều cây viết miền Nam đàn em (lời tác giả) nam cũng như nữ, minh bạch, rõ ràng theo khả năng từng người... vậy mà khi đọc xong, cứ phải mơ màng nghĩ tới "bốn con chuột dừa" của Bến Tre và "múi bưởi" Biên Hòa?

     Ðúng là văn võ song toàn như Hưng đã "dám" ghi vào chặng 5. Anh chàng thủy thủ bộc trực ngày xưa chỉ biết có hoa biển và sóng cuộn bạc đầu, thấy sao nói vậy, vậy mà giờ đây nhảy tọt vào văn giới để... đẻ ra tác phẩm văn chương. Chúng ta hảy theo hành trình của nhà võ nầy khi muốn mặc thêm áo nhà văn để thấy tâm trạng nôn nao của người ham "thai nghén văn nghệ."

     Có mang thai thì phải có sanh, rồi nào là kêu Thầy, rước Mụ, ký tên vào khai sanh v.v... bao nhiêu tâm tư lo lắng cho đứa con của mình... Hởi bạn đọc! bạn đang muốn thành văn sĩ có tác phẩm ra mắt bàng dân thiên hạ? Hãy theo Nguyễn Tấn Hưng ở chặng nầy để... rút kinh nghiệm. Bảo đảm không khô khan đâu, hãy đọc mới thấy cái lo của người cha khi đứa con tinh thần chưa ra đời, không biết mặt mũi ra làm sao mà vẫn cứ thấy đời đáng yêu quá chừng (trang 86).

     Nguyễn Tấn Hưng có cái duyên như vậy đó làm cho tôi cứ tiếc hùi hụi, nếu một con giáp về trước, tôi cũng ở tuổi Hưng bây giờ mà không bị Cộng Sản làm cho tha hương, tôi có được diễm phúc như anh: quen nhiều bạn nam nữ có tài danh, có duyên, có sắc? để có dịp viết riêng một cuốn về giao tình giữa mấy bà và tác giả...

     Còn đang tiếc rẻ nghĩ ngợi thì thấy tác giả phân trần: Tìm hiểu về bản sắc và chất liệu của các nhà văn nhà thơ nữ thì nẫm nay "bà già trầu" đã tắm rửa kỳ cọ sạch sẽ hết trơn trên các mặt báo, thì làm sao "ông Trùm" có thể bí mật thò bàn tay ngọc thọc bàn tay vàng vào đó, đặng mà mò mẫm sờ nắn thêm cho được nữa đây? (trang 96).

     À, té ra chuyện viết những "giai thoại hồng" toàn là những nữ văn, thi sĩ (như gánh Phụng Hảo năm 1958, toàn là nữ ban), Nguyễn Tấn Hưng còn thua Phù Lưu thái thái một bước, anh phải nhận là không tài nào viết như máy theo kiểu Hồ Trường An, chỉ đôi ba tháng mà hoàn tất năm bảy trăm trang nhỏ to về các nữ sĩ...

     Nguyễn Tấn Hưng ơi là Nguyễn Tấn Hưng! Tôi đang muốn trách anh chàng "Trùm" nầy cứ loay hoay với đề tài văn học mà hổng dẫn độc giả và tôi "đi," thì đến chương Tây Du. Vậy là như người đang khát mà gặp nước đá chanh, tôi say sưa uống những dòng chữ tả cảnh vùng đất đỏ Arizona, Hưng dẫn chúng ta đến ốc đảo Ðào Hoa, nhà của nữ họa sĩ Thu Hương với sân chim, với tiếng hót trong hoa lá, rồi sau đó đi về hướng Grand Canyon, một trong những kỳ quan thế giới (lời tác giả).

     Tôi không trích dẫn hết cái hay, cái lạ... nhiều lắm, nhiều lắm, do Hưng kể nơi đây, mà chỉ mời các bạn có óc say mê phiêu lưu lại trót mang... kiếp nghèo, không tiền đi du lịch, cứ theo "ké" Nguyễn Tấn Hưng ở chương nầy.

     Ðang rung cảm với thiên nhiên miền Trung xứ Cờ Hoa thì chợt đến chặng đường nói về những tác phẩm Miệt Vườn.

     Chúng ta đã nghe nhiều lời khen, tiếng phê bình về tuyển tập trên 6 tháng nay ở khắp nơi rồi. Nhưng hãy nghe thêm lời chỉ dẫn của Hưng ở chương nầy mà tìm đọc những sáng tác văn chương đó để thấy tình yêu quê hương phảng phất thể hiện qua một cuộc đặt trúm bắt lươn ở một làng gần Cái Răng, một chuyến quá giang trên phà Rạch Miễu, một lần làm rể ở bên nhà vợ, một con sóng ở bãi biển Vũng Tàu, một trái bần chua bên cồn Rồng, một con rắn vú nàng trong gốc tre già, một tuồng hát bội ở Lăng Ông Bà Chiểu, một căn nhà bỏ lại sau lưng, một cô nhi viện ở Sa Ðéc, một đứa em xấu số trong gia đình, một giấc mơ trở thành văn sĩ, một đời làm bầu gánh cải lương, một tâm tình của bà mẹ già lo cho đứa con tật nguyền, một buổi hái cau hay một màn đánh đáo ... (trang 139).

     Cuốn sách nào hễ có đoạn dẫn nhập thì phải có đoạn kết, tôi đọc mải miết Nguyễn Tấn Hưng theo các chặng đường mà lòng thấp thỏm sợ... tới đích rồi chăng. Bởi vì lời văn anh bình dị nhưng đầy đủ vui buồn, lại có tí xíu tếu tếu nên đọc không chán. Ðoạn đường xuống núi của anh cứ chạy phom phom không có viên sỏi, cục đá nào nằm cản lối. Sao mà nó như con tàu lướt trên sóng êm.

     Qua hết vùng đất đỏ khô cằn, đi dần đến vùng Cali, nơi mà chỗ nào cũng phố xá người Việt, bảng hiệu chữ Việt, giao thiệp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ... Sướng chưa? Ðừng dại gì mở miệng nói tiếng Mỹ mà thành nhà quê (trang 141).

     Nghe mà thèm. Nếu có lá me bay bay vai áo thì ngỡ là đang đi trên đường Gia Long, nào phải là Bolsa, phải không Hưng?

     Ông Trùm của một thuở ơi! Tôi say mê theo lời văn chơn chất của anh suốt nữa ngày rồi đó. Nhờ anh, tôi và đọc giả biết mùi của Las Vegas, thiên đường hay địa ngục (?) địa giới, được biết dung nhan và tác phẩm các văn nghệ sĩ miền Nam đang sống xa quê hương. Nhờ anh tôi mới biết xứ dừa Bến Tre có 4 con chuột xinh xinh. Tôi chắc rằng 4 con chuột biết uống nước dừa nầy phải là Chuột Bạch mao, hồng nhĩ, mắt đỏ như cườm, dễ thương như vậy, ai nở đem Ngũ vị hương và Tàu vị yểu ướp vào ăn cho uổng.

     Vậy để cám ơn "ông Trùm" "hải quân" "lái xe xuống núi" nầy, tôi liền ngồi vào bàn để viết gởi sang... không phải lời Tựa mà chỉ một câu: Một lần đi là biết bao lần nhung nhớ ...

     Calgary, tháng 5 năm 1991

   back to top

21. THAY LỜI TỰA CHO TẬP TRUYỆN MỘT NỖI BUỒN RIÊNG

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Sau tác phẩm đầu tay, Một Ðời Ðể Học , do ông Mai Thảo viết tựa, bấy lâu nay tôi vẫn hay nhờ các văn hữu đi trước đề bạt cho tác phẩm mình. Với quan niệm nhằm lưu lại một vài kỷ niệm trong niềm tâm giao cùng các văn hữu thân quen ấy. Tuy nhiên, lần này có hơi khác!

     Cũng qua một thân tình, mới đây một bạn văn cho biết, đại khái, chưa chắc là độc giả đã hiểu rõ và đồng quan điểm với ý định đó của tôi! Mà có thể lắm độc giả sẽ hiểu lầm rằng tác giả đã chưa vững tin vào tài năng của mình cho nên cần phải có một người đi kèm, viết lên vài lời khen tặng mời mọc người đọc. Ðó là chưa nói đến những bạn văn khác có thể sẽ dèm pha, ganh tị vì không có được những cơ may quen biết, giao lưu thân mật với một số đông những người cầm bút như tôi! Quả thật là chí lý! Ðến nỗi, tôi phải viết ra đây những dòng này như để lưu lại một kỷ niệm vui vui với một người bạn văn!

     Rồi, càng chí lý hơn nữa khi tôi là người cũng đã có dăm ba tác phẩm trình làng, với ít nhiều tiếng vang! Nhất là trong thời gian gần đây có vài bằng hữu, kẻ đi trước người theo sau, lại nhờ tôi viết bạt, bình thơ, điểm sách! Thôi thì kể như giờ phút đã đến, từ nay, tôi phải tự mình viết tựa cho mình vậy. Không kể những trường hợp đặc biệt, dĩ nhiên.

     Tựa hay bạt viết cho một người khác, với tôi, ngoài những giao tình qua lại phải có, thông thường chỉ là những dòng phê bình một chiều: khen. Người viết tựa hay bạt phải chịu khó đọc kỹ tác phẩm, suy ngẫm và tìm ra những điểm hay theo ý mình mà thổi phồng lên, trong khi phải lờ đi những điểm dở. Lắm lúc chưa chắc đã nói lên được dụng ý, tâm sự cùng nỗi lòng của tác giả gởi gấm trong đó, vì mỗi người cầm bút đều có một cách viết riêng và một trình độ thưởng ngoạn riêng!

     Bảo đảm không ai có thể hiểu rõ một tác phẩm hơn là chính tác giả! Song le, kẹt một điểm, tác giả không thể tự huênh hoang, bốc thơm cho mình! Ngoại trừ những kẻ đã..., chớ ai mà làm như vậy xem ra kỳ chết đi được! Bởi thế, tự viết cho mình một vài điều là chuyện không thể và không nên xem thường. Dễ dàng chăng là họa hoằn đối với những người đang viết dưới dạng thức một chủ đề, vì có thể dựa vào đó để nói thoáng qua những điều mình sẽ trình bày, xây dựng, ước mơ!

     Nhưng thử hỏi, có ai dám đặt bút viết khơi khơi mà không nhắm vào một mục tiêu, một chủ đề, một hướng nhìn nào chớ? Có hết! Ngay cả những người chuyên viết tiểu thuyết mua vui, dã tưởng đi nữa! Chẳng qua là có người đã nêu lên được một điều gì lớn lao và trong khi đó có người lại chỉ vẽ ra một cái gì nho nhỏ!

     Ở đây, với Một Nỗi Buồn Riêng , tôi cũng chỉ mong là mình đã vẽ ra được một cái gì nho nhỏ mà thôi! Tại sao?

     Tại vì, quốc gia hưng vong thất phu hữu trách ! Ðiều mà, không riêng gì tôi, tất cả những người chúng ta đang sống ly hương nơi đất khách quê người đều hằng tâm nghĩ tới! Có phải? Nhưng đặt vấn đề là một chuyện mà làm được gì hay không là một chuyện khác! Với một người cầm bút, nêu lên chủ đề là một chuyện mà viết được gì hay không là một chuyện khác! Và tôi tự cảm thấy mình đã hoàn toàn thất bại, bất lực!

     Vì tôi đã để ngòi bút của tôi dẫn dắt tôi đi lang thang khắp mọi chân trời, góc biển! Trong giông tố bão bùng khơi lại bóng quê hương! Trong biển cả lắc lư con tàu đi vinh danh người chiến sĩ! Trong lòng từ tâm của những người chuyên môn lường gạt có pa-tăng! Trong hương say dục tình thấp thoáng bóng liêu trai! Trong tình yêu giao hòa bất kể màu da phong tục! Trong êm ả gia đình và thiên nhiên huyền thoại! Trong những đua đòi bóng sắc của giới quần hồng! Trong nỗi chết chưa rời tay trong tay cùng Chúa, Phật...

     Ô hay, cái gì lạ thế! Một quái thai thời đại chăng? Thưa rằng, không đâu, chỉ là tác phẩm mà tôi có phần nào ưng ý thôi! Xin mời quý bạn đọc ghé mắt vào xem!

     Winston-Salem, cuối Ðông năm Tân Mùi

   back to top

22. CON NGƯỜI VÀ BÚT PHÁP CỦA NGUYỄN TẤN HƯNG QUA "MỘT NỖI BUỒN RIÊNG"*

             VÕ KỲ ÐIỀN

     Chiều nay tôi lại được cái vinh hạnh lấn chiếm đài phát thanh, nói theo kiểu Kiệt Tấn, để giới thiệu nhà văn kiêm chủ nhân nhà xuất bản Miệt Vườn Nguyễn Tấn Hưng với quyển Một Nỗi Buồn Riêng mới ra lò còn thơm phức mùi giấy mực.

     Tôi quen biết với Nguyễn Tấn Hưng qua thơ từ trao đổi cho nhau từ năm 1988, khi anh hoàn thành tập truyện đầu tay Một Ðời Ðể Học và gởi tặng. Tôi đọc xong và biết rằng Hưng sẽ là một cây viết có hạng, không những vì nghệ thuật viết lách, vì lối văn trôi chảy mà điểm nổi bật ở tác giả là cái sức sống phi thường, cái nghị lực phi thường hiếm hoi ở một nhà văn mới bắt đầu sáng tác. Cái ưu điểm nầy vẫn được thể hiện đều đặn ở các tác phẩm sau. Khi anh nhờ tôi viết bạt cho cuốn Một Cảnh Hai Quê (1989) tôi cũng hứa liều, nhưng trong bụng tin rằng anh không thế nào thực hiện nổi. Làm sao trong một năm mà viết được ba bốn cuốn liên tiếp. Một Ðời Ðể Học, Một Thuở Làm "Trùm", Một Chuyến Ra Khơi ... Tôi vốn làm biếng lắm và không có thì giờ nhiều. Nhè đâu mới vừa hứa xong thì bản thảo được gởi ngay đến nằm chình ình trên bàn viết với bức thơ nhỏ kèm theo - "... biết anh bận lắm nhưng rán giúp dùm thằng em." Rồi sau đó năm, bảy cuốn nữa tác giả gởi tặng ào ào, đọc vừa hết cuốn nầy thì nhận tiếp theo cuốn kia, như vậy là tác giả Nguyễn Tấn Hưng ở góc trời Winston-Salem kia viết không kịp thở và bạn bè cùng độc giả, trong đó có tôi, đọc cũng không kịp thở. Vừa qua, tôi nhận được quyển ký sự Một Lần Xuống Núi rồi tiếp sau đó vài tuần là tập truyện Một Nỗi Buồn Riêng . Trong bao thơ gởi kèm tờ giấy nhỏ, ôi cái tờ giấy oan nghiệt có một câu viết khiến tôi xao xuyến - "... hổng chừng thằng em sẽ ra mắt sách ở Montréal..."

     Quí vị cũng biết theo luật giang hồ của văn giới, một tác giả chỉ nhận xét phê bình hay viết tựa, viết bạt cho tác giả bạn chỉ một lần và duy nhất một lần thôi. Ðiều nầy không bắt buộc nhưng là một thông lệ, một qui ước. Tại sao vậy? Khi nhận định về một tác giả những nét chính yếu, ưu khuyết điểm phải được tìm ra, ghi nhận đầy đủ. Nếu viết thêm lần nữa, thì cũng lập lại những ý đó mà thôi. Tôi yên chí, đọc sách chùa của bạn gởi cho mà không sợ bị bắt làm công quả. Tôi đã viết cho Nguyễn Tấn Hưng bài bạt quyển Một Cảnh Hai Quê rồi, từ năm 1989 lận!

     Nhè đâu, một hôm ông Chủ tịch Văn Bút Québec khều tôi cười cười:

     - Nói cái nầy anh nghe, có ba tác giả "ngoại quốc" muốn qua Montréal mình ra mắt sách, vui lắm, toàn là anh em thân tình, tôi đã nhận lời hết rồi...

     Tôi vừa nghe vừa run, chưa kịp hỏi gì hết thì được nghe tiếp:

     - Tất cả có ba người: Thụy Khanh, Nguyễn văn Ba, Nguyễn Tấn Hưng... thì mình cũng có ba người.

     Tôi hỏi:

     - Mình cũng có ba người, ai vậy?

     Ông Chủ tịch Lưu Nguyễn cười và nói tỉnh rụi:

     - Thì anh Trang Châu, anh Ðỗ Quý Toàn với anh nè...

     Trời đất! Cái vụ Võ Ðình vừa mới xảy ra, rồi kéo dài thêm những vụ rắc rối bên lề, anh em Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại với Văn Bút Québec muốn khùng luôn hơi sức đâu còn viết lách với nói năng. Nhưng dầu sao thì bạn Lưu Nguyễn đã hứa rồi, mọi chuyện đâu vào đó như "ván đã đóng hòm" làm sao mà cạy cho ra. Tôi suy nghĩ thiệt khôn ngoan giành trước - Tôi chọn nói cho Thụy Khanh. Dầu sao thì Thụy Khanh cũng đẹp đẽ, duyên dáng hơn hai ông bạn "miệt vườn" của tôi. Một bên là dân Parisiense sang trọng quí phái, một bên là dân ở Nha Mân, Sa Ðéc với Quơn Long, Bình Phục Nhứt, Mỹ Tho, các bạn nghĩ coi mình phải chọn ai? Dễ quá mà!

     Nhưng ở đời, mười chuyện mình muốn thì hết chín không như ý. Việc công việc tư dồn dập, thành ra trời xui đất khiến sao đó loay hoay anh Trang Châu đặt cọc cô Thụy Khanh, Ðỗ Quý Toàn xí phần Nguyễn văn Ba, và ông Trùm Nguyễn Tấn Hưng lọt vô vòng tay thầy giáo làng là tôi đây. Tôi đâm nghi ngờ có sự âm mưu sắp xếp của ông Chủ tịch Lưu Nguyễn với ông Tổng thơ ký Lê Tấn Lộc trong vụ nầy. Thôi không biết là duyên hay nợ, cũng đành rán mà ôm ông Trùm, chớ thiệt tình trong bụng, muốn ôm người khác! Thành ra hôm nay tôi nói hay hay dở ông Trùm rán mà gồng mình chịu trận. Một lần cho tởn tới già... Nhưng cuối cùng thì tôi thấy hình như mọi sự có bàn tay của định mệnh an bài. Hôm gặp Kiệt Tấn trong cơn say nhè, anh ta chỉ vào mặt tôi nói - Hồ Trường An, Nguyễn văn Ba, Nguyễn Tấn Hưng thuộc văn chương miệt vườn, còn Võ Kỳ Ðiền không phải, bạn thuộc văn chương miệt cù lao. Tôi ngớ ra, sau vài phút mới hiểu, mình được sanh đẻ ở cù lao Phú Quốc rồi lại viết về cù lao Bidong, hiện đang sinh sống ở cù lao Montréal. Văn chương cù lao đi chung với văn chương miệt vườn là xứng đào xứng kép. Thôi vậy cũng hay. Thành ra hôm nay là buổi nói chuyện của nhà văn cù lao Võ Kỳ Ðiền nói về con người và tác phẩm của nhà văn miệt vườn Nguyễn Tấn Hưng.

     Trước khi đi vào câu chuyện, tôi xin phép được nêu lên đây vài thuật ngữ mà tôi sẽ phải dùng vì đó là những chữ riêng biệt của Nguyễn Tấn Hưng. Nói về Nguyễn Tấn Hưng mà không dùng những chữ của Nguyễn Tấn Hưng thì làm sao trình bày hết được con người Nguyễn Tấn Hưng!

     Ðó là những chữ "đàn anh, đàn em." Nguyễn Tấn Hưng bắt đầu làm quen với văn giới lúc còn ở bên quê nhà, hồi còn đi học rồi đi lính. Theo như tôi biết, anh đã viết cho báo Văn của Mai Thảo và có đến tòa soạn để gặp nhà văn nầy. Bẵng đi một giai đoạn dài - đi lính, chạy giặc, tỵ nạn, đi học lại - anh bắt đầu cầm bút lại và bài vở có đăng khắp trên các mặt báo hải ngoại. Và tôi cũng cẩn thận ghi chú là anh dùng chữ "đàn anh, đàn em" không có nghĩa là viết cao viết thấp, viết hay viết dở, cũng không phải là viết trước viết sau mà là căn cứ vào tuổi tác. Hễ lớn tuổi là anh mà nhỏ tuổi là em, nói theo kiểu nhà binh, trong quân trường, khóa đàn anh, đàn em. Tôi may mắn được sanh ra trước Hưng vài ba năm nên được làm anh, ngon lành. Còn ông bạn Nguyễn Hữu Chung tuy lớn tuổi hơn tôi nữa nhưng vì ở xa lại không quen biết nhau, có lẽ thế hệ của anh Chung là thế hệ "già" quá rồi nên Hưng không biết, tính tuổi lộn gần mười năm, kêu Chung bằng đàn em ngon ơ! Lần đầu tiên khi đọc ngang qua chỗ sai sót nầy, tôi khoái hết sức làm im thinh thích, không cho Hưng hay, trong bụng muốn để ông bạn già Nguyễn Hữu Chung làm đàn em của tôi luôn, lâu chừng nào hay chừng nấy, cầu trời khẩn Phật đừng có ai nhắc nhở để Nguyễn Tấn Hưng đính chánh, mấy thuở được làm đàn anh của một người nổi tiếng như Nguyễn Hữu Chung!

     Danh từ thứ hai mà Nguyễn Tấn Hưng ưa nhắc đi nhắc lại là chữ "Văn chương miền Nam." Anh tha thiết chữ nầy cho đến nỗi hai lần anh lên Washington D.C. là hai lần anh nhắc đến nó trong những bài nói chuyện - Lần đầu trong buổi ra mắt sách Giai Thoại Hồng của Hồ Trường An, Hưng đã thuyết trình đề tài Ðôi Lời Về Văn Chương Miệt Vườn (tại trường Ðại Học George Mason, thủ đô Washington vào ngày 25-6-1989).

     Lần thứ hai, buổi ra mắt hai quyển Tuyển Tập Những Cây Viết Miền Nam Một Chuyến Ra Khơi , Nguyễn Tấn Hưng đã nhắc lại vấn đề nầy trong bài Tính Chất Chung Quyết Trong Văn Chương Miệt Vườn . Trong các nhà văn có văn phong miền Nam, Nguyễn Tấn Hưng là người dan díu, mê man mấy chữ "Miền Nam" lẫn "Miệt Vườn" nhứt. Nguyễn văn Ba cũng có niềm say nầy nhưng xét ra thua cái đam mê của Nguyễn Tấn Hưng xa lắm. Do đó mà sau loạt bài nói chuyện về đề tài nầy, ông Trùm bị một độc giả là ông Nguyễn Hoàng làm một bài thơ dũa một mách te tua, đại ý cho là kỳ thị Nam Bắc. Thực ra theo chỗ tôi thấy, Hưng không bao giờ có ý xấu nầy, anh kính trọng Mai Thảo chơi với Nguyễn Mộng Giác, Hà Huyền Chi, Duy Lam... nghĩa là ai anh cũng quí trọng như nhau, đâu có phân biệt nhưng vì anh thích viết theo lối văn phong địa phương quá sức, thành ra ưa nhắc đi nhắc lại mà thôi. Vì anh thường dùng lẫn lộn chữ "văn chương miền Nam" với "văn phong miền Nam" nên mới có sự hiểu lầm đó. Văn phong miền Nam là một khuynh hướng nhỏ, một cách viết với giọng văn của miền Nam, nằm trong một nền văn học miền Nam. Văn chương miền Nam, là một nền văn chương gồm tất cả các cây viết Nam Trung Bắc... tất cả cùng đóng góp công sức tài năng nghệ thuật của mình cho quê hương, đất nước. Những nhà văn nầy sống bên bờ sông Gianh như Ðào Duy Từ, Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Hữu Hào thời Trịnh Nguyễn hoặc bên nầy vĩ tuyến 17, sau năm 1954 như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam...

     Ðể trả lời cho sự hiểu lầm nầy, ông Trùm đặt tên luôn cho nhà xuất bản của mình là nhà xuất bản Miệt Vườn . Nguyễn Tấn Hưng cũng không tha thứ cho bất cứ ai đụng chạm tới anh em cầm bút của nhóm nầy như trường hợp Trần Vũ nhận định trong bài Những Vòng Tường Ghetto đăng trên Hợp Lưu số 2 và ông Trùm đã đập lại thẳng tay như sau - "... mới có một hai tác phẩm trình làng mà dám viết một bài như vậy thì còn chữ nào đúng hơn hai chữ lộng ngôn để dùng, phải không quí vị!"

     Danh từ thứ ba của Nguyễn Tấn Hưng là danh từ ông Trùm. Ðây là tên mà tác giả tự đặt cho mình qua nhan đề của tác phẩm Một Thuở Làm "Trùm" . Quyển nầy gây xao động trong dư luận văn giới, cũng có kẻ chê, cũng lắm người khen. Dầu khen hay chê, tác phẩm nầy là một tác phẩm nổi tiếng làm nên tên tuổi của Nguyễn Tấn Hưng. Danh hiệu ông Trùm nổi bật, bạn bè gọi mãi thành tên. Nguyễn Tấn Hưng biến thành ông Trùm. Trùm đây là trùm tình báo, Trưởng Phòng Nhì Vùng 4 Duyên Hải, Ðặc Khu Phú Quốc. Chữ "trùm" được đóng trong ngoặc kép vừa có ý nói lên sự thật mình là cấp trên của một số đàn em thân tính vừa có ý mỉa mai, giễu cợt cái chức vụ an ninh tình báo...

     Ðại khái Nguyễn Tấn Hưng có thói quen dùng những chữ thoạt mới nhìn qua thì có vẻ ngang tàng nhưng xét kỹ thì thấy nét dễ thương của nó. Nét dễ thương của một người còn mang trong mình dòng máu ruộng vườn miền Nam. Nhưng những người nông dân miền Nam cũng có chung gốc gác là nông dân đất Bắc, vì nghèo khổ (làm ruộng, đi lính, bị đày...) nên phải mạo hiểm làm cuộc Nam tiến theo chính sách đồn điền của chúa Nguyễn, tìm đất mới khai phá để sống còn. Họ vừa chiến đấu vừa cày cấy. Tính tình do đó mà nẩy nở phát sinh theo hai chiều hướng đối nghịch. Khi thiệt hiện tánh chất phác, khi thiệt ngang tàng, dữ dội, càng ngày càng khác biệt với nếp sống nếp suy nghĩ của người giàu có, người trí thức còn lại ở đất Thăng Long ngàn năm văn vật. Bởi vì những người nông dân miền Nam đó vừa làm dân, vừa phải làm hết. Nguyễn Tấn Hưng thừa hưởng trọn vẹn hai đặc tánh nầy của đất Nam Kỳ Lục Tỉnh hơn các bạn văn của anh. Chúng ta hãy nghe anh Võ Ðình nhận xét - "Nhưng Nguyễn Tấn Hưng có những đặc biệt khác với những người kia là Nguyễn Tấn Hưng đã lớn lên, đã trưởng thành trong quân đội... là cái điểm rất đặc biệt mà những người kia, những Võ Kỳ Ðiền, Kiệt Tấn, Nguyễn văn Sâm, Nguyễn văn Ba... không có. Hồ Trường An cũng từng ở trong quân đội nhưng Hồ Trường An chỉ là sĩ quan văn phòng, từng thú nhận là tôi chỉ ngồi chơi lai rai vậy thôi. Chứ còn ông Nguyễn Tấn Hưng nầy thì phải lên tàu, trôi dạt khắp đó đây."

     Cái dòng máu lính thú của tổ tiên thời Trịnh Nguyễn được tăng cường bổ xung bằng những năm gia nhập binh chủng hải quân rồi thêm những năm theo ngành khoa học, ngành điện tử ở Ðại Học đã khiến cho Nguyễn Tấn Hưng xông xáo, lăn xả, bất chấp mọi trở ngại. Con người lý trí vượt trội con người tình cảm. Nguyễn Hưng Quốc có lần đã nói - Có nhà văn thiên về tâm, có nhà văn thiên về trí. Theo tôi, Nguyễn Tấn Hưng là một nghệ sĩ đa tài - anh viết văn, làm thơ, viết biên khảo, đặt nhạc - nhưng dù bộ môn nào lý trí anh cũng vượt trội hơn tình cảm. Chúng ta thử nghe đôi lời than thở, chỉ hơi buồn mà không có nước mắt rưng rưng:

     Chàng còn đâu nội ngoại để về. Ðể viếng thăm trong những khi rỗi rảnh hay để tá túc trong những khi hoạn nạn. Nội ngoại của chàng giờ ở xa lắm, mút tận bên kia bờ đại dương. Cái cơn bão ngoài đời dẫu có chợt đến rồi cũng chợt đi, nhưng những cơn bão trong lòng Quốc thì hình như mãi mãi không bao giờ tắt lịm. Ngày nào còn Cộng sản ngự trị trên miền đất nước thân yêu thì ngày về lại cố hương, tìm gặp những người thân thương của Quốc như mãi mãi còn xa (truyện ngắn Một Nỗi Buồn Riêng trang 33).

     hoặc:

     Thình lình, mắt Gia bỗng hoa lên với cảnh vó câu. Rập rình chiến mã, gươm đao. Bất giác, chàng không còn nhớ gì nữa, lắp bắp hát luôn câu kết, như cố tình muốn đưa cái dĩ vãng không mấy vàng son của thời đại mình, thật nhanh chóng, vào lãng quên (truyện ngắn Ðưa Dĩ Vãng Vào Lãng Quên trang 47).

     Có những giây phút rảnh rỗi, Nguyễn Tấn Hưng nhớ về Việt Nam thân yêu, nhớ mảnh vườn nhỏ ở quê nội, quê ngoại, nhớ lu nước mát sau hè, nhớ cây cau già trước ngõ, nhớ chiếc võng cho thằng Sơn Nhái, nhớ thương đời sống binh ngũ hải hồ. Cứ coi cách anh miêu tả, anh thương mến nó biết bao nhiêu vậy mà khi kết luận anh viết tỉnh queo theo như trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư:

     Chàng ngửa mặt thì thầm trong bóng đêm:
     - Ôi, không có cảnh biệt ly nhưng sao mà buồn vậy!


     Hoặc đã nương theo câu vọng cổ:

     Rồi đành cam thọ tử vì mắc kế của Lữ Mông...

     Cái tình cảm dào dạt phong phú của người nông dân ruộng vườn bị cái lý trí của người khoa học, người quân nhân chận đứng. Nguyễn Tấn Hưng đã kìm hãm được sự xúc động. Lúc nào cũng vậy, đời anh là một chuỗi ngày phấn đấu vui sống vươn lên trên nỗi khổ đau. Do đó mà có lần tôi đã viết cho Hưng: "Cái lý trí lấn áp tình cảm trong tập truyện là một khuyết điểm đồng thời cũng là một ưu điểm. Từ lâu trong tiểu thuyết của ta chứa đựng nhiều nước mắt quá, mỗi lần đọc xong một tác phẩm, cả người như muốn bịnh. Tôi muốn thấy nụ cười thay cho nước mắt... thấy được niềm vui sống, dù đang ở trên xứ người. Chỉ cần bao nhiêu đó nhà văn Nguyễn Tấn Hưng cũng đủ được mọi người trân trọng quý mến."

     Nhưng có phải cái lý trí, cái sức mạnh tinh thần đó làm nên nhà văn Nguyễn Tấn Hưng? Không phải. Nguyễn Tấn Hưng sở dĩ được nổi tiếng mau lẹ nhờ ở bút pháp đặc biệt. Ngòi bút của Nguyễn Tấn Hưng khỏe mạnh, tung hoành, trôi chảy. Võ Ðình đã ghi nhận cách viết của anh như sau: "lúc nào cũng viết một cách rầm rộ, vui vẻ và thoải mái như vậy, khơi khơi như vậy." Ðể thấy rõ nét cái bút pháp đặt biệt Nguyễn Tấn Hưng, chúng ta thử làm cuộc so sánh nho nhỏ với vài tác giả cùng nhóm thuộc văn phong miền Nam.

     Theo tôi thì không ai có đủ thẩm quyền nói về điều nầy hơn Hồ Trường An hết. Có lần trong cuộc phỏng vấn, Hồ Trường An đã nhận định về văn mình... Văn tôi hơi giống văn của Kiệt Tấn, của Nguyễn Ðức Lập và của Nguyễn Tấn Hưng ở vài chỗ. Có lẽ bởi vì Kiệt Tấn, Nguyễn Tấn Hưng và tôi đều ở trên phần đất Tiền Giang (tỉnh Mỹ Tho và tỉnh Vĩnh Long) nên có cùng một ngôn ngữ chăng?

     Tôi đồng ý điểm ghi nhận nầy ở câu "... giống một vài chỗ." Bạn Hồ Trường An đã kỹ lưỡng khi viết chỉ có bấy nhiêu vì Kiệt Tấn, Hồ Trường An và Nguyễn Tấn Hưng, xét về bút pháp khác xa nhau nhiều lắm. Nguyễn Tấn Hưng nghĩ sao viết vậy, câu văn khỏe mạnh, trôi chảy, tự nhiên không trau chuốt. Xét theo tính cách giáo khoa thì văn Nguyễn Tấn Hưng rất gọn gàng, gồm có chủ từ, động từ, túc từ... minh bạch. Trong khi đó văn của Kiệt Tấn rất nhiều trạng từ, tĩnh từ (Nguyễn Hưng Quốc đã viết "Ông không mừng, ông mừng húm. Ông không khoái, ông khoái chí tử, ông không quên, ông quên tuốt luốt, ông không hôn, ông hôn chùn chụt)...

     Riêng văn của Hồ Trường An vì mê Hồ Biểu Chánh nên trong văn có hơi hám của lối biền ngẫu, tứ lục thời quốc ngữ phôi thai đầu thế kỷ. Hồ Trường An viết "tim bảy lỗ héo khô, gan bảy lá héo hắt" hoặc "chưa chi mà chị đổ hô con hai Túy Hoa nầy hỗn dữ, bửa đầu mãnh hỗ, bóp cổ Thiên Lôi, xé đôi gấu ngựa, vật ngửa Chằng Tinh."

     Không cường điệu đầy xúc cảm như Kiệt Tấn, không dài dòng đối chọi mỹ miều như Hồ Trường An, Nguyễn Tấn Hưng không viết thì thôi mà hễ viết thì như "lên xe sang số và đạp hết ga, chạy thẳng một mạch không quanh qua quẹo lại, không biểu diễn uốn éo gì ráo. Nếu gặp chướng ngại vật, như có ai láng cháng chê tới chê lui, là tài xế phóng xe lên cán luôn, chết bỏ rán chịu." Vậy mà lại hay, mới lạ chớ! Chúng ta thử đọc một đoạn anh tả cảnh bão tố:

     Bất thình lình, trên trời như có một đoàn chim sắt đang bay tới, rất đông: h... ùm, ùm ùm... Dưới đất cũng vậy, một đoàn tàu đang chạy ngang qua: h... ùm, ùm ùm... Mang theo những tiếng sét đồng loạt nổ long trời, và những lằn chớp xanh ma trơi bủa vây tứ phía. Có lẽ trời đang sập thiệt. Quốc thấy mình như đang lạc vào chốn địa đàng của loài khủng long, với những tiếng gào thét thất thanh trước khi lâm chiến, tử nạn. Chàng chạy lại khung cửa kéo, slide door, rọi đèn pin ra ngoài. Nhờ bóng tối bên trong mà chàng thấy rõ hết. Trời đất, những hạt mưa nằm ngang dầy đặc, vùn vụt bay không ngớt dưới sức mạnh của cuồng phong. Những thân cây to lớn ở bìa rừng phía sau nhà cong vòng như những cây sào của các lực sĩ điền kinh. Ngọn nhịp lên nhịp xuống như ngọn cần câu cắm đang bị cá ăn. Những con đom đóm bay đêm đã bị đánh rạt xuống lớp cỏ, đang nằm im một chỗ thoi thóp chớp ... (truyện ngắn Một Nỗi Buồn Riêng trang 21).

     Có thể xem đây là một đoạn văn tiêu biểu cho bút pháp Nguyễn Tấn Hưng, lối viết đơn giản như nói chuyện "có lẽ trời đất đang sập thiệt" thể hiện được cái tánh tình vừa chơn chất vừa dễ thương. Chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp nét ruộng vườn bị lai giống với óc khoa học phối họp với tinh thần xông xáo. Sự quan sát bén nhạy, trí nhớ sáng suốt Nguyễn Tấn Hưng đã hấp thụ và đồng hóa cuộc sống ở Mỹ rất nhanh, khác hẳn với các bạn văn khác cuộc sống ở xứ người khó khăn, lợn cợn như nước với dầu. Việc nầy chúng ta thấy rõ anh dùng nhiều từ ngữ địa phương một cách tự nhiên, không cố ý. Tuy nhiên do ảnh hưởng nếp sống mới, một hiện tượng lạ là anh lại ít dùng ca dao, câu hò, câu hát như phần đông cây viết miền Nam, bạn anh. Tôi nói anh dùng nhiều từ ngữ địa phương có hai ý. Từ ngữ địa phương cũ là nơi anh đã sống nửa đoạn đời đầu ở Bình Phục Nhứt, ở Mỹ Tho... và từ ngữ địa phương mới, là vùng đất anh định cư ở Mỹ, Winston-Salem. Anh nói tiếng địa phương miệt vườn Hậu giang, Tiền giang khơi khơi, đồng thời anh nói tiếng Mỹ, chửi thề tiếng Mỹ... cũng khơi khơi.

     Ta đọc thử một đoạn:

     ... duy nhất chỉ có sự dẫn nhiệt từ từ, heat transfer, từ điểm nóng đến điểm lạnh tựa hồ như những phân tử không khí đã đặc lại thành chất cứng. Máy lạnh. Rõ ràng chàng cần gấp một cái máy lạnh. Chàng đề máy, máy nổ ngọt ngào. Gạt cần điều chỉnh air-conditional từ vị trí normal qua gạch maximum, chàng mở quạt ở tốc độ thiệt lớn, high. Hơi nóng phả vào mặt thiếu điều muốn cháy râu, phỏng trán.

     - Damn it!


     (truyện ngắn Một Nỗi Buồn Riêng trang 12).

     Trong một đoạn ngắn 9, 10 dòng, Nguyễn Tấn Hưng đã dùng tới 6 tiếng Mỹ anh nói tiếng trơn tru như chúng ta nói... tiếng Việt. Ðây là một hiện tượng mới phát xuất ở trong các tác phẩm hải ngoại. Tôi cũng tìm gặp nhiều tác giả khác ở Mỹ thì viết xen trộn tiếng Mỹ (Anh), tiếng Pháp ở bên Tây, tiếng Hòa Lan ở xứ đất thấp và tiếng Ðức ở xứ sở của Hít Le... Tôi không có ý kiến về việc pha trộn nầy. Tuy nhiên vì tôi là thầy giáo, ngày xưa có dạy học, tôi không thể tưởng tượng được nếu các nhà giáo Việt Nam mình bây giờ, gặp phải một bài văn mà đầy tiếng Mỹ, tiếng Tây, tiếng Ðức, tiếng Na Uy... thì các vị đó là sao đọc, làm sao hiểu và làm sao giảng dạy cho học trò?

     Ðiều nhận xét cuối cùng, chúng ta cùng nhau bàn về tánh cách thành thực của Nguyễn Tấn Hưng. Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc đã viết "Tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá tư tưởng một triết gia là tính chất độc sáng. Tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá tư tưởng một nhà văn là sự chân thành." Và ông đã đánh giá và tin tưởng nhà văn Kiệt Tấn là thành thật nhứt. Ông cũng tỏ ý hoài nghi về sự thành thật của các nhà văn khác. Riêng tôi, tôi cũng tin là nhà văn Kiệt Tấn trong tác phẩm chứa đầy sự thành thật nhưng nếu so sánh kỹ với ông Trùm thì e rằng chúng ta phải cùng nhau xét lại. Nói chung các nhà văn miền Nam ít hay nhiều đều bộc lộ nét mộc mạc, thành thật. Hình như tất cả đều có nhu cầu bộc bạch tâm sự, kể lể chuyện đời riêng tư của mình khác hẳn đa số các nhà văn gốc Trung, gốc Bắc. Vì lẽ đó, ta đọc trong truyện của họ, nhân vật chánh xưng "tôi" dễ dàng tự nhiên. Trong tác phẩm, Kiệt Tấn đã viết về gia đình mình, cha mẹ, anh chị, cùng các người yêu rất rõ, rất kỹ. Nhưng anh đã viết về những cảnh sống nghèo khổ ở nơi thâm sơn cùng cốc, cha mẹ anh gốc nông dân thật quê mùa không miếng đất cắm dùi, người chú thứ chín thì câm, người anh tuy học giỏi nhưng nghèo phải bỏ học đi làm thợ mộc, còn các người yêu của anh là Tuyết bán quán ở bắc Mỹ Thuận, Hoa bến đò Rạch Miễu, mấy em Hồng, Tuyết ở Ngã Năm, Ngã ba... cho đến khi du học thì người yêu của Kiệt Tấn cũng là những em đầm Diane, Danielle và một đám yêu nữ tóc vàng, mắc xanh gặp trên tàu, ở quán rượu... Nhưng thực tế thì bạn Kiệt Tấn đã giấu đi phân nửa tài sản mà ông có. Kiệt Tấn đã bỏ qua giai đoạn thành công, giàu sang của gia đình anh. Như tiệm bán đồ gỗ của ba má anh lớn nhứt nhì ở Vĩnh Long, người anh vào quân đội làm quận trưởng một quận lớn, anh Lê Tấn Lộc và Kiệt Tấn đều học giỏi và đi du học ở Paris và khi về nước thì giữ các địa vị trọng yếu trong chánh quyền, và hầu như trong tất cả truyện ngắn, truyện dài của Kiệt Tấn hình ảnh người vợ chỉ xuất hiện để canh chừng ông chồng hoang đàng, rượu chè be bét... Anh giấu đi mất biệt bà Kiệt Tấn, một thời là hoa khôi của tỉnh Vĩnh Long, bà Kiệt Tấn đẹp cho đến nỗi dầu anh đi năm sông bảy suối, cuối cùng cũng phải quay trở về cầu Cái Cá tình nguyện đặt dưới quyền sai khiến, cằn nhằn của bà. Như vậy Kiệt Tấn chỉ thành khẩn khai báo với độc giả có phân nửa. Trong khi đó thì ông Trùm tuy làm nghề tình báo nhưng cuộc đời có bao nhiêu đều khai ra tuốt luốt hết. Anh cũng nói về cái quê mùa nghèo khổ của gia đình (cha mẹ ở thôn quê, làm nghề buôn gỗ, lúc nhỏ đi trọ học ở Mỹ Tho vất vả... rồi cuộc đời tỵ nạn đầy mồ hôi, nước mắt). Anh viết luôn những tánh xấu như khi làm Trùm ăn hối lộ, tham nhũng... Nhưng Nguyễn Tấn Hưng thành thật hơn các bạn khác khi anh can đảm viết về những cái tốt, cái hay của mình, cùng vợ và con.

     Người Việt Nam ta, mấy ngàn năm ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa nên sống khép kín. Ðiều gì thuộc về mình, vợ và con cùng nhà cửa phải giấu thiệt kỹ và nếu cần phải nói thì nên bỏ bớt đi, hạ thấp xuống. Nhà thì tệ xá, vợ thì tiện nội, còn mình thì kẻ hèn nầy, bỉ nhân, tại hạ... Thoạt nhìn thì như vậy là khiêm tốn nhưng xét ra cho cùng là giả dối, thiếu sự thành thật. Con mình đẹp, vợ mình đẹp tại sao lại phải giấu biệt đi, tại sao lại nói xấu? Nhà mình lớn, sang trọng, tại sao lại nói nhỏ hẹp, mình học giỏi, bằng cấp lớn tại sao phải nói ngược lại? Tôi đồng ý với Nguyễn Tấn Hưng hoàn toàn khi anh trình bày rất chính xác tài năng học hành anh đang có, cái nhan sắc tươi mỡn đẹp như rau non mới hái ngoài vườn của vợ anh và đứa con gái lớn xinh xắn, đẹp đẽ mà vợ chồng anh sung sướng dẫn con đi dự giải tuyển lựa hoa hậu của tiểu bang (truyện ngắn Hoa Hậu Xứ Dương Ðào trang 147).

     Như vậy rõ ràng Nguyễn Tấn Hưng là nhà văn thành thực nhất trong số những người thành thực. Anh đã vượt lên trên sự khiêm tốn giả vờ của một quan niệm già nua, cũ kỹ đồng thời điều nầy cũng xác nhận được tính cách hội nhập mau chóng vào xã hội thực tế của đất Bắc Mỹ của anh. Và cũng nhờ cái đặc tánh nầy, nền văn học Việt Nam ở hải ngoại có được thêm một ngòi bút đặc biệt... khi chơn chất, lúc bạt mạng, nói theo kiểu phê bình của Trần Vũ!

     Riêng tôi, tôi yêu quí và trân trọng ngòi bút "khi chơn chất, lúc bạt mạng" của ông Trùm Nguyễn Tấn Hưng biết bao nhiêu!

     * Bài nói chuyện ra mắt sách Một Nỗi Buồn Riêng của Nguyễn Tấn Hưng tại Montréal ngày 17-10-1992.

   back to top

23. MỞ CHO THI NHẠC TẬP MỘT THOÁNG TRONG MƠ

             HÀ HUYỀN CHI

     Ở buổi hội thoại tình cờ tại Florida, nơi nhà riêng của người thơ nữ Thanh Hiền (có Thừa Phong, Bội Ðiệp, Hà Trung Yên, Lê Bá Năng, Nguyễn Tấn Hưng, và một số văn, thân hữu khác tôi không thể nhớ tên), câu hỏi được nêu lên rất nổ: "Có khác biệt nào giữa một người viết văn và một người làm thơ? Khi làm thơ thì tứ đi trước hay từ đi trước?"

     Ở người bạn văn, Thế Giang, tác giả Thằng Người Có Ðuôi , thì vấn nạn ấy có chiều nhẹ nhõm hơn, dễ thương hơn: "Thi sĩ các ông sướng thật, cứ là một mình một ngựa, các ông ung dung sáng tác không cần bàn viết, và đôi khi không cần cả giấy bút nữa. Nói thật, tôi ghen với các ông đấy." Câu trả lời khi ấy là những tràng cười ròn rã trên quầy rượu vào khuya đã vãn tửu khách.

     Ở phát biểu của Viên Linh trên Thời Tập thì một nhà thơ thất bại có thể thành công trong nghiệp văn, và chưa từng có nhà văn thất bại nào đã tìm được chỗ đứng tốt trong thơ. Cũng theo Viên Linh thì chỉ có người làm thơ mới chịu bỏ nhiều thời gian cho việc loay hoay tìm tòi, mài chuốt một từ ngữ chưa hoàn chỉnh, đắc vị.

     Người viết văn nào cũng có lúc thử làm thơ. Nhưng số người nặng lòng với thơ hơn, lưu trữ in thành thi tập, vốn không nhiều. Trong giòng văn chương hải ngoại chúng ta có: Thơ Cao Tần (bút hiệu khác của Lê Tất Ðiều), Ðất Khách của Thanh Nam, Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Ðền của Mai Thảo, Thơ Tù , và Em, Tôi, Sài Gòn, Hà Nội của Duyên Anh... Và hôm nay, chúng ta có Một Thoáng Trong Mơ của Nguyễn Tấn Hưng.

     Những bài thơ Hưng đọc thấy rải rác trên các tạp chí Văn, Làng Văn, Sóng, Văn Học, Thế Kỷ 21, Ngày Nay, Ðẹp , v.v. không cho tôi một ấn tượng rõ nét. Bây giờ có dịp ngồi đọc bản thảo thi tập Một Thoáng Trong Mơ , do tác giả nhờ đề tựa, tôi đã có cái nhìn bao quát hơn về thơ Nguyễn Tấn Hưng.

     Cảm tưởng như giữa thơ và văn của Nguyễn Tấn Hưng đã có chung một tâm thể, một lối nhìn, một cách diễn đạt. Dường như thơ, trong quan niệm của Hưng chỉ là một thể loại văn vần. Mỗi bài thơ là một tiểu truyện, dàn trải theo khuôn nếp riêng. Không có những câu thúc về thể thức, ném đi những quy luật âm ngữ, bằng trắc.

     Nguyễn Tấn Hưng chưa tạo dựng được trong thơ anh sự cô đọng và chiều sâu cần thiết. Tuy nhiên, thơ anh quả nhiên là có nhiều chỗ khác người. Nơi những vần điệu mộc mạc, bình dị của anh, người đọc đã thấy những lấp lánh tỏa ra từ chữ nghĩa, cho những rung động, phản chiếu bất ngờ:

     Mưa thu lùa tâm bão
     Gió thổi hạt mưa bay
     Nhìn kia cơn sóng gợn
     Ngập lụt hồn ai đây
...

     (Mưa Thu, tr 46)

     Hổm rày nhớ giọng khế chanh
     Em ơi đừng nỡ giận anh suốt đời
...

     (Lời Trần Tình, tr 66)

     Em có biết vì tim anh em giữ
     Nên đời anh là chuỗi thất tình si
...

     (Tạ Từ, tr 79)

     Trở lại cuộc mạn đàm văn chương đã có với Hưng ở Florida: "Khi làm thơ thì tứ đi trước hay từ đi trước?" Câu hỏi như một viên sỏi ném xuống mặt hồ, mà dư ba của vấn đề đã vượt khỏi tầm giới hạn. Tôi đáp hồn nhiên theo phản xạ: "Cả hai yếu tố trên đều có ưu điểm riêng của nó. Miễn thơ hay là được."

     Thí dụ một cách đơn giản hơn, thi sĩ làm thơ cũng giống như một họa sĩ vẽ tranh. Hắn ta đứng trước khung vải đo lường, phác thảo, bố cục trước khi vẽ: Ðó là tứ đi trước, bởi hắn ta đã có sẵn chủ định là sẽ vẽ cái gì, cách nào. Từ đi trước là khi hắn cao hứng ném đại lên khung vải một hay nhiều tảng mầu khác nhau. Kế đó, hắn soi ngắm và tùy nghi dựng lên cung điện nguy nga hay vực sâu, biển chết, theo chất liệu mới khai phá, thu nhận được từ vô thức. Ở thơ Hưng là tứ đi trước.

     Nguyễn Tấn Hưng viết văn, Nguyễn Tấn Hưng soạn nhạc, Nguyễn Tấn Hưng làm thơ, Nguyễn Tấn Hưng chọc cười..., người sĩ quan Hải Quân đã nửa đời giao duyên cùng biển cả, nửa đời gá nghĩa với văn chương. Tôi nghĩ rằng Một Thoáng Trong Mơ chỉ là một bến tạm trong hải trình tiến đến sự toàn bích ở cõi thơ đích thực mà thuyền trưởng Nguyễn Tấn Hưng đang giong buồm tìm gặp.

     Lacey, tháng 10, 1991

   back to top

24. ÐỌC NHẠC THƠ TẬP MỘT THOÁNG TRONG MƠ

             ÐÀO HUY ÐÁN

     Tôi xin giới thiệu với quý bạn tập thơ nhạc Một Thoáng Trong Mơ của Nguyễn Tấn Hưng. Thơ nhạc vốn là nghề tay trái của anh trong lãnh vực văn học nghệ thuật. Nghề tay trái , đó chỉ là một cách nói, bởi vì anh ít sáng tác thơ nhạc mà thường viết văn xuôi như truyện ngắn, truyện dài, bút chiến, tiểu luận, và viết bạt cho các tác phẩm của các văn hữu của anh.

     Dù vậy, con người thơ và con người nhạc của anh vẫn có những kẽ hở của thời gian để vươn vai đứng dậy, chững chạc và tự tin, tung ra các chiêu thức ngoạn mục.

     Tập thơ nhạc Một Thoáng Trong Mơ được nhà thơ Hà Huyền Chi viết lời giới thiệu, nhận xét rất cảm thông và cũng rất đứng đắn như sau:

     Cảm tưởng như giữa thơ và văn của Nguyễn Tấn Hưng đã có chung một tâm thể, một lối nhìn, một cách diễn đạt. Dường như thơ, trong quan niệm của Hưng chỉ là một thể loại văn vần. Mỗi bài thơ là một tiểu truyện, dàn trải theo khuôn nếp riêng. Không có những câu thúc về thể thức, ném đi những quy luật âm ngữ, bằng trắc.

     Tập thơ có tám bản nhạc của Nguyễn Tấn Hưng được nhạc sĩ dương cầm Linh Phương soạn hòa âm rất công phu như: Chờ (có thêm lời Anh ngữ), Hè Nhớ, Mưa Thu, Ðổi Ðời, Tình Muộn, Tiễn Anh Về Biên Khu, Biên Khu Chiều Gió Lộng, Anh Ra Ði Nơi Này Ðã Chết và một bản nhạc Hóa Thân , thơ của tác giả được Phan Ni Tấn phổ nhạc.

     Nhạc của Hưng không hẳn liệt vào nhạc thính phòng quý phái, nhưng nó không nghèo nàn âm điệu như loại nhạc dân ca Bole'ro đã từng làm say lòng lớp quần chúng có thị hiếu thấp kém. Dù có những bản theo thể điệu Valse , hay Tango , hay Fox Moderato , nhưng chúng không lọt vào loại nhạc vũ trường. Ý nhạc thanh thoát đã làm cho chúng nó có dáng dấp nhạc thính phòng, nhất là những bản theo thể điệu Boston .

     Thơ của Nguyễn Tấn Hưng có những câu đầy ngôn ngữ rất thi ca, tức là những ngôn ngữ chỉ dành để cấu trúc cho thơ. Chẳng hạn:

     Tuyết thay mây phủ lưng đèo
     Thoảng nghe tiếng suối chảy theo sườn đồi
     Cội nguồn một chiếc lá rơi
     Chim bay về xứ đứng ngồi không yên


     (trích trong bài Cửa Sổ , trang 31)

     hoặc:

     Môi tim êm ả lời ru
     Nhặt khoan tiếng vọng sương mù bủa vây
     Môi đa tình thoáng ngất ngây
     Nụ hôn trăng gió chợt bay vào hồn...


     (trích trong bài Giấc Mộng Hồng , trang 77)

     Nguyễn Tấn Hưng sử dụng linh hồn ca dao rất thiện nghệ. Anh thường đưa tình ý, nhạc điệu ca dao vào những câu lục bát một cách hồn nhiên, thi vị:

     Tưởng rằng rau sắng Chùa Hương
     Ai dè mướp đắng bên đường gửi sang
     Tưởng đâu là lầu Ông Hoàng
     Ai dè mộng vỡ tan hoang mấy tòa...


     (trích bài hát nói Tri Âm Thời Ðại , trang 90)

     hoặc:

     Xa em độ vẳng tiếng ve
     Không thời gian đó ai dè là đây
     Phượng xin em thắm hè này
     Cho anh gửi nhớ vơi đầy tiếng thơ
     Mây xanh lơ, gió lẳng lơ
     Ve than thở gọi nhện chờ mối ai
     Tình xưa nghĩa cũ còn dài
     Thương em thấy cảnh nhớ hoài ngàn năm


     (trích bài Hè Nhớ , trang 31)

     Một Thoáng Trong Mơ đối với người thơ, nhưng lại gieo một mối cảm hoài sâu sắc, đậm đà, dằng dặc vào tâm hồn người đọc qua rất nhiều bài hoài hương, qua những bài hoài cảm thân phận lưu vong, qua những bài tự trào, qua những thắc mắc về siêu hình về cuộc đời phù ảo. Hướng đi của thơ anh có nhiều lối rẽ ngoạn mục, với đủ mọi thể thơ từ lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn, lục ngôn, thất ngôn, tám chữ, thất ngôn bát cú, tự do, hát nói, hài cú và cả tiếng Anh, đã đem lại cõi thơ anh nhiều màu sắc và đa dạng.

     Những bài hoài hương đặc sắc là Huế trang 53:

     Bạn hỏi chiều nay dạo phố chăng?
     Phú Văn Lâu, Bạch Hổ, Cửa Ngăn
     Tóc thề gió nhẹ vương vào mắt
     Choàng tay khẽ vuốt, em nói răng?


     Thơ quê hương của Nguyễn Tấn Hưng vốn có những hình ảnh rất gần gũi, rất thân thương, chẳng hạn như:

     Nhớ về quê ngoại mà thương
     Có cây mít ngọt như đường thoảng thơm
     Bên hè vung ngọn cây rơm
     Hương mùa lúa chín chén cơm trắng ngần


     (trích bài Tâm Sự Kẻ Ra Ði , trang 52)

     Bài thơ Về Mỹ Tho , trang 80 và trang 81 là một bài truyền cảm nhất. Ở đây có nhiều địa danh như Vòng Nhỏ, Xóm Tre, Rạch Miễu, cồn Phụng, đường Trưng Trắc, vườn hoa Lạc Hồng, cồn Rồng, đại lộ Hùng Vương, trường Nguyễn Ðình Chiểu, cầu Quay, chợ Cũ, khu Vườn Lài, sông Bảo Ðịnh, dòng Tiền Giang, bến đò Ty Công An, chùa Vĩnh Tràng. Tôi trích đoạn 6 và đoạn 7:

     Có ai về Mỹ Tho
     Nhớ theo sông Bảo Ðịnh
     Thả trôi ra tận vàm
     Tắm mát dòng Tiền Giang

     Có ai về Mỹ Tho
     Ðón đò Ty Công An
     Hành hương chùa Vĩnh Tràng
     Xin đốt giùm nén nhang...


     Thơ viết về quê hương được tác giả sử dụng bằng ngôn ngữ mộc mạc, đơn giãn, chẳng những gợi cảm m&#