Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Tập Truyện: Một Chuyến Ra Khơi
Nguyễn Tấn Hưng
Làng Văn xuất bản 1990
Mục Lục
00. Thay Lời Tựa của Tác Giả
01. Dòng Sông Của Tùng
02. Thành Phố Và Quân Trường
03. Những Ngày...
04. Mùa Ðông Và Con Ðường
05. Chỗ Hẹn
06. Bến Cạn
07. Hạm Trưởng Và Ngọc
08. Thư Cho Người Tình
09. Một Chuyến Ra Khơi
10. Trăng Mật Bến Sông Cầu
11. Bạn
12. Những Buổi Mưa Chiều
13. Bạt của Lê Nhật Thăng
back to top
00. THAY LỜI TỰA
NGUYỄN TẤN HƯNG
Ngoài chuyện làm bích báo, tôi bắt đầu viết,
không rõ là mình viết văn hay chỉ là kể chuyện,
một năm sau khi tôi vào lính. Lính tàu. Dạo đó
đâu vào khoảng mùa thu năm 67. Thắm thoát mà đã
hai mươi năm trôi qua. Truyện đầu tiên, truyện
Thành Phố Và Quân Trường
, viết cho
đặc san
Ra Khơi
của Trung Tâm Huấn Luyện Hải
Quân Nha Trang. Người thứ nhất đọc văn
của tôi, xin cứ tạm gọi là văn đi, là Khiết,
Ðào Ðức Khiết, thằng bạn thân bắc kỳ
nằm chung phòng với tôi. Sở dĩ tôi đưa
cho nó đọc là vì hai điểm, thứ nhứt nó là con
mọt sách ngồi đâu đọc đó, và thứ hai nó
biết hỏi ngã, chính tả rành hơn tôi. Bạn
bắc kỳ được một điểm là nhờ vào việc hơi
rắc rối này. Lần lần về sau, muốn chắc ăn hơn,
tôi tra luôn tự điển. Người thứ hai đọc văn
của tôi là HQ Ðại Úy Nguyễn Ðình Ðiều, gốc
Huế, chủ bút đặc san
Ra Khơi
. Cũng may là
cả hai đều khen. Làm tôi hăng máu viết luôn mấy
bài cho
Ra Khơi
, lấy nhiều mấy bút hiệu
khác nhau vì bài nào Ðại Úy Ðiều cũng đòi
đăng hết.
Rồi tôi gửi bài cho
Lướt Sóng
, đặc san
của Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở Sài Gòn.
Bạo gan hơn, tôi gửi bài cho
Văn
. Gửi một
lô chỉ được chọn đăng một bài, truyện
Những Ngày...
, còn bị gọi là
bài lai cảo. Nhớ một lần ghé
Văn
, hỏi
tổng thơ ký tòa soạn tiền nhuận bút,
"... viết thêm nữa đi, đăng một bài nữa
rồi trả tiền luôn, không có bao nhiêu lấy
làm gì...," Trần Phong Giao trả lời tôi như
vậy. Gửi thêm bài dài dài nữa mà không
bao giờ thấy đăng bài thứ hai. Chán
nản. Rồi phần lu bu gia đình vợ con, tôi
dẹp nghề. "Sự nghiệp văn chương vĩ
đại" của tôi ở Việt Nam cũng chỉ có
chừng đó.
Chạy qua Mỹ năm 75 làm lại cuộc đời. Năm năm
ở South Dakota, học AAS, rồi học BS. Năm năm ở
North Carolina, học MS. Bằng cấp bên này coi bộ
dễ lấy hơn ở bên mình, hình như cứ đọc và
hiểu được sách là đậu. Mười năm chỉ biết
làm lụng, học hành, và gửi quà về Việt Nam cho
cha mẹ, anh chị em ... Cho đến mùa thu 85, nhân
một lần viếng thăm Washington D.C., tôi tình cờ
thấy báo
Văn
bày bán ở trong tiệm tạp hóa. Không
ngờ
Văn
cũng biết chạy qua Mỹ làm lại cuộc
đời, đã tới số 40.
Tôi bắt đầu mua
Văn
đọc trở lại, cũng
như hồi nào tôi vẫn hay đọc
Văn
ở Sài
Gòn. Viết thì hết rồi, chết rồi, chết
lâu rồi ... Nhưng, một hôm vợ tôi soạn
lại mớ giấy tờ, đồ đạc mang theo từ
Việt Nam, bỗng nhiên lòi ra mấy xấp bản thảo
của tôi lẫn lộn trong hồ sơ ban khen, huy
chương, tưởng lục. Tiếc rằng, bài còn,
bài mất, bài không đoạn kết. Tôi viết
lại, đánh máy lại và gửi ông Mai Thảo,
rằng tôi muốn in thành sách để kỷ
niệm. Ðể kỷ niệm, that's it! Ông Mai Thảo
trả lời tôi rằng, "... bài chưa đủ một
phần hai cuốn sách, nếu in ra nhiều lắm chỉ
được 100 trang thôi. Như vậy cuốn sách
quá mỏng, không được. Vậy có thêm
bài nữa thì hơn..."
Viết? Viết gì nữa đây? Sao thấy ngán
quá chừng! Nhưng, đâu còn con đường
nào khác hơn, nếu mình muốn có một kỷ
niệm để đời với người ta? Tôi bắt
đầu cố gắng ngồi vào bàn viết, viết
trở lại, ký tên thật. Và mãi hơn nữa năm
sau tôi mới thấy tên tôi xuất hiện trên mục
Người
Viết Mới Tháng Này
với truyện
Dòng
Sông Của Tùng.
Tôi thấy tôi viết cũng đâu đến đổi
tệ lắm, mèo khen mèo dài đuôi, vậy mà
nhiều bài gửi không được đăng. Suy
đi nghĩ lại mới thấy mình hình như bị hai
chữ chính trị nó đàn áp. Thời buổi
này mà viết chuyện tình hải quân thì làm
sao chống lại với Bác và Ðảng được.
Viết càng trung thực thấy càng là phản
động, báo nào dám đăng. Làm thơ
rúng động như ông tù Nguyễn Chí Thiện,
viết nghĩa khí như các nhà văn Võ Kỳ Ðiền,
Nguyễn Ngọc Ngạn
thì bài nào của họ mà chẳng được
lên khuôn. Bài của tôi có lẽ chỉ còn
một mảnh đất dung thân, đặc san
Ðệ Nhị
Hải Sư
, đặc san của khóa 17 SQHQ. Bạn bè
có chửi rủa thêm nữa cũng chẳng sao. Thời
buổi này là thời buổi phải nói về căm
thù Cộng Sản, phải nói về vượt biên,
phải nói về trại tỵ nạn, phải nói về tù
Việt Bắc ..., mới ăn khách được. Rất
tiếc tôi chưa có ngày nào nếm mùi gian truân
khổ ải dưới chế độ Cộng Sản hết.
Tuy nhiên, những gì của tôi, phần lớn là những
gì tôi đã sống với bạn bè và những
người tình trong hải quân như một chủ
đề, tôi vẫn muốn được trình làng.
Cho nên, nếu bạn đọc không tìm được
những màu sắc mới trong những bài của tôi
xuất hiện sau này trên
Văn, Làng Văn
, ... lúc
tôi đặt vấn đề đổi hướng, thì vui lòng xin
đừng trách. Hẹn bạn đọc ở các tác phẩm
sau.
Sau cùng, sách có in được hay không là
cũng nhờ anh Nguyễn Hữu Nghĩa, chủ bút
Làng
Văn
. Tôi thành thật biết ơn anh.
back to top
01. DÒNG SÔNG CỦA TÙNG
NGUYỄN TẤN HƯNG
Vào mùa khô, cái nắng của những
làng quê miền Nam kéo dài dai dẳng. Trẻ con
trần truồng rong chơi. Bụi đóng lớp dầy
trên phiến lá, trên hàng rào... Con
đường mòn heo hút, mặt cát đất gồ
ghề trắng bệch, thỉnh thoảng một chiếc xe bò
chất đầy lúa, một người đàn bà
gánh hai bó rơm to hơn người uể oải, lê
thê. Quang cảnh đìu hiu vắng vẻ, không còn
sức sống, không có dấu hiệu hoạt động.
Mảnh đất giồng bỏ lâu không xới, cỏ
mọc xen lẫn rơm rạ phủ lên mấy lớp. Cải
bẹ đầy ngồng, hành le hoe vàng cháy. Dân
trong xóm chui vào những túp lều, bóng mát
sống hòa mình với thiên nhiên, thời tiết.
Tất cả đều giản dị, mộc mạc như ý
nghĩ, ước mơ của họ.
Một nhánh sông lẳng lặng hiền hòa, một
đầu chảy ra kinh Chợ Gạo. Chỗ gặp nhau là
ngã tư giáp nước, có cặp cá bống mú
lâu đời đào hang thành nồi gọ ăn thông
vào đất bờ hàng mấy cây số. Người
ta bảo vậy! Nước xoáy cuồn cuộn và
đôi khi làm chìm những chiếc ghe chở khẳm,
những người không biết vái cúng đất
trời. Ðầu kia là ngã ba Vàm Bà Lọ.
Một nhánh nhỏ chạy về miệt xóm Bến, cầu
Láng Tượng. Mùa nầy, nước biển vào
sâu nên mặn chát, đôi khi lờ lợ.
Nước trong xanh, những con cá nước ngọt cay
mắt nổi lờ đờ. Người ta làm vó bắt
cua biển, những con cua thật to, vàng lườm.
Vào mùa mưa, nước trên nguồn đổ xuống,
dòng sông đổi màu, nửa đục lừ lẫn
cát đỏ, nửa xanh rong rêu của cỏ rác
Ðồng Tháp Mười. Nhưng bấy giờ thì
nước ngọt, việc cày cấy bắt đầu, cỏ
cây xanh tươi và đường trở nên ướt
át nhầy nhụa. Dấu chân người, dấu chân
trâu, vết bánh xe còn lại khi nắng lên.
Dân nơi này ai mà không rõ từng bụi bần,
bập lá, cột đóng đáy cho đến chiếc
xáng chìm của dòng sông. Lúc nước ròng
sát, bãi bùn phơi bày những hang cá kèo, cá
óc nói, người ta xách chĩa lội sình đâm
ếch nhái lẩn trốn trong mái dầm, ô rô, đi
mò tôm ở những bọng cây tróc gốc và trong
những bụi quau, vẹt bị sạt ra ngoài khơi.
Nước lên, những chiếc xuồng đi giăng câu,
vớt tôm càng, những ghe chở dừa xiêm về Sài
gòn, những ghe chài chở trấu bán cho dân dùng
đốt lò thay củi và thỉnh thoảng một chiếc
ghe chở đồ gốm, mái lu nồi... theo dòng trôi
trên sông như những đám lục bình vô căn
cứ.
Làng mạc qui tụ hai bên bờ cây cối um tùm, xa xa
mới gặp một căn nhà và ngoài kia là đồng
ruộng. Cho đến gần chân cầu, làng xóm trở
nên tấp nập hơn, có nhà ngói, tiệm tạp
hóa, tiệm hớt tóc... Cầu được bắc
vững chắc vào thời tỉnh lỵ Mỹ Tho và quận
Chợ Gạo là những chấm đen lớn trên bản
đồ. Cầu Sắt, không hiểu cái tên của
nó do đâu mà có. Người ta đồn rằng
hồi trước có ông bác vật Lang đi qua, cầm
cây gõ vào thành cầu và bảo là năm Dậu
thì nó sập. Ông bác vật Lang giả câm và
bị Tây nhốt vào núi Cấm.
Chừng nào
ngựa đá qua sông, Thủy Hoàng xuống biển thì
ông mới về
. Ông bảo như vậy, và đó
là thiên cơ mà
thiên cơ
thì
bất khả
lậu
.
Ðầu cầu trên có nhà máy
xay lúa, đầu cầu dưới có trại cây.
Dân quê chỉ biết cấy lúa xay ra gạo ăn, cất
nhà thật to, kê tán, và nghỉ ngơi hưởng
thụ. Ông thầy Năm có bùa Lỗ Ban, thường
làm lễ dựng nhà cho dân có nói rằng cuộc
đất này tốt lắm. Mấy gò mả đá xanh
chôn trong hàm rồng là điềm lành. Trong
tương lai, vùng này sẽ sản sinh một bậc kỳ
tài. Mả bà Phủ khi chết được chôn
đứng, nằm chơ vơ giữa đồng, trong âm
thầm cổ kính còn có vẻ thiêng liêng huyền
bí. Hai bên đầu cầu, dọc theo bờ sông là
con đường duy nhất của làng. Con đường
cũng uốn khúc theo sông, len lỏi trong vườn
tược ruộng đồng xa tít. Sáng sớm mù
sương, đàn bà con gái đi chợ, kẻ gồng
người gánh lũ lượt. Chiều xuống, từng
đàn trâu quay về, bác nông phu vai vác cày,
miệng ngậm điếu thuốc vấn tay vui vẻ. Từng
đàn cò trắng xếp hàng bay về tổ. Không
ai nghĩ đến việc rời bỏ lũy tre
làng. Ðình đám, mùa màng, hội hè
xảy ra đều đặn... Người lớn, trẻ con
sống êm đềm, bình thản.
Ầm,... ầm, ầm... tiếng nổ của mấy
quả bích kích pháo rơi gần cầu và các
loại súng thi nhau nổ không ngớt. Tiếng máy
tàu lên xuống rì rầm, những loạt đại
liên xé nát bầu không khí. Ðạn dưới
tàu, đạn hướng đồn, đạn việt cộng
bay veo véo. Tiếng la ơi ới ngoài hàng dừa,
bụi chuối, trong bót... tất cả hỗn loạn gấp
rút. Tùng chụp vội cái gối nhỏ chun vô
"trản xê," mò mẫm tìm chỗ ngồi. Nó run
lập cập. Những ánh chớp tóe lửa trên mái
nhà, cột phên, mùi thuốc súng khét
lẹt... Tùng cảm thấy tiếng đạn nổ quá
gần, hình như bên kia tấm ván, trên trần.
Súng dưới tàu bắn lên từng nhịp theo
điệu nhạc giật gân, tiếng dội ào ào trong
cành cây, bập lá nước... Máy bay tới,
Tùng không còn phân biệt được tiếng
đạn, tiếng bom, tiếng động cơ, có lẽ nó
bắn dọc theo lộ hay vòng đai ấp chiến
lược... Hỏa châu thả đầy trời. Qua
kẽ ván, gộp cây Tùng thấy rõ màu vàng
hừng hực. Máy bay bắn như trâu rống. Tùng
cúi gập người theo tiếng nổ, theo ánh lửa...
- Ba mày đâu ?
- Ổng còn nằm ngoài chiếu.
- Sao không vô đây, còn đợi gì nữa,
cái ông này kỳ.
- Ba ơi, vô hầm đi ba.
- Ba, ba...
Loạt đạn FM đi trọn vào nhà làm át
tiếng nói mọi người. Tiếng khung kính, chai
hũ rơi loảng xoảng. Tùng nói thầm, cha nó,
cứ bắn vô nhà không! Tùng nằm co quắp.
Trong bác Năm, ông Tám chắc không sao, nhà Tùng
sát mé sông. Con Yến, thằng Tâm bây giờ
chắc cũng như nó, ngủ hầm. Ban chiều, con
nhỏ đã giận Tùng, không cho Tùng chơi chung
cái xâu chuỗi bông vú sữa vàng vàng.
Phải chi Tùng đừng nhát sâu nó! Một
tiếng nổ chát chúa. Tùng nghe tiếng người
hét, ngã gục. Miểng phang vào nhà rào rào
trên cây xiên, đòn tay...
- Ba ơi, ba...
Một trái đạn nữa nổ ngay trên nóc. Tùng
lắng nghe, có tiếng người rên rỉ.
- Bà ơi, tôi bị thương rồi, tôi bị...
Và tiếng nói nhỏ dần... Má chui ra khỏi hầm
ôm xác ba vật vã:
- Trời ơi, ông sao vậy?
Chị Ba, anh Tư mếu máo:
- Ba ơi, ba có sao không ba?
Ba hai mắt nhắm nghiền, thở thoi thóp. Một vết
thương to từ quai hàm đi lên phía tai, một
trên ngực xuyên qua lưng, máu đỏ cả áo.
- Con Vân lấy võng, võng ba mày đi coi!
Chị Ba dò đường trong bóng tối ra nhà sau.
Má khóc và chị em Tùng cũng khóc theo. Tùng
đưa tay vuốt máu trên mặt ba. Ðạn vẫn
nổ đều. Tùng mồi đèn bong bóng và cố
gỡ cây song. Má, chị Ba mỗi người một
đầu đòn. Anh Tư ôm mền, áo quần băng
ra đường vội vã. Tùng không còn biết
sợ.
- Thằng nhãi con, đứng lại không tao bắn bây
giờ...
Lính trên cầu la lối.
- Ba tôi bị thương rồi ông ơi.
Một loạt đạn nổ thinh không. Tùng lùi
lại ngơ ngác. Màu da của ba xám ngắt, Tùng
nhìn lo âu. Ầm... một tiếng nổ ven lề cỏ
bên đường, tóe lửa. Ngọn đèn trong tay
Tùng vụt bay đi và Tùng không còn biết gì
nữa...
Dân trong làng đã bắt đầu quen
với chiến tranh. Họ cam chịu và khung trời cũng
đổi thay. Không ai còn lạ về một trận
đánh, một vụ công đồn hay một cái xác
vô thừa nhận được lôi về công sở.
Dân chúng làm việc theo tin tức chiến sự. Ban
đêm không còn ai ở ngoài đường hay
ngoài đồng. Con đường bờ sông bị
đứt đoạn bởi những bảng "tử địa,"
mô đất. Hầm chông len lỏi trong cỏ cây.
Những cây cầu ván, cầu dừa bắc qua mương,
cống dẫn nước vô ruộng bị phá sập.
Một con đường vòng ra ruộng thật xa và gặp
lại bờ sông ở một điểm không phải sát
bên kia. Thỉnh thoảng người ta thấy một
phòng thông tin, một cửa tam quan. Cờ giải phóng
và biểu ngữ đầy đường. Dòng sông
cũng thay đổi theo. Hai bên bờ giờ đây
những bụi cây mái dầm, cóc kèn um tùm chằng
chịt. Những chiếc xuồng gắn máy đuôi tôm,
tàu binh, tàu mặt dựng chạy phành phạch suốt
ngày. Chiến tranh càng lan rộng, nếp sống con
người càng vội vã và những gì trầm lặng,
cổ tích bị lùi dần vào quên lãng. Trẻ
con không còn đến trường đều đặn.
Chúng không còn thì giờ đếm ván cầu mỗi
trưa đi học. Không còn các buổi chiều
mưa to gió lớn, tung tăng trên đường về
hái vội lá chà là, lá dúi, về nhà thay
đồ ngồi vào bếp vừa hơ lửa, vừa bỏ
từng chiếc lá vào lò để nghe những tiếng
nổ tí tách. Bây giờ, trên lộ đá xuất
hiện những đoàn xe tăng, xe mười bánh.
Những người lính đút vội vào túi, vào
cặp chúng chiếc kẹo cao su, bánh hộp... Súng,
đạn, nón sắt đen ngòm như nước da của
họ. Sáng sáng không có bác nông phu dắt
trâu ra đồng, không còn ai đi chợ, không có
ngọn đuốc làm bằng cọng đu đủ, không
có tiếng tù và gọi nhau đi cấy; thay vào
đó, là những đoàn người từ một xứ
sở xa lạ nào, tay súng vai đạn, giày đinh,
áo trây-di lẳng lặng đi hàng một vào làng.
Trên đầu có máy bay, dưới sông có tàu
ghe gắn súng liên thanh... Người dân đã
quen dần với chiến tranh rồi... Bỗng nhiên mảnh
đất, dòng sông của họ trở nên quan trọng,
bị giành giật. Từ ngã tư Hòa Bình vào
xóm Bến qua cù lao Tân Thới là huyết lộ của
Việt cộng. Bót được đóng dày thêm
dọc theo lộ đá. Hai đầu cầu, đồn
được xây lại cẩn thận, rộng lớn, có
giăng dây thép gai, có lính Mỹ, có chòi canh.
Người dân quên dần những câu ca dao, những
điệu hò cấy lúa, những bài hát đưa em.
Mỗi chiều họ gấp rút thu gọn công việc.
Ráng mây hồng phương tây rung động theo
tiếng nổ xa xa. Họ thầm cầu mong không là
tiếng bom mà là tiếng trời gầm báo hiệu cơn
mưa...
Tùng lấy cây bình linh đẩy cái
thây thằng chổng ra xa cho trôi theo dòng nước,
miệng lẩm bẩm:
- Ông ơi, ông, sao ông lại ghé vô chỗ
này, ông đi bình yên!
Nó có cảm tưởng như vừa thả xuống một
chiếc tàu xếp bằng giấy. Con Yến, con Vi, thằng
Tâm đứng dựa gốc mãng cầu nhìn theo, sợ
hãi. Cái xác đã mất đầu, chân tay cong
queo, tái mét, quần áo tả tơi mục nát, rung
rinh trong nước còn rõ ràng hai túi xếp trên
ngực. Cái dây nịt thắt bụng như chia xác ra
làm hai phồng to, sình thúi. Ở bắp đùi
rớt ra một mảng thịt, ruồi bâu quanh vo ve, dòi
bọ nhung nhúc. Ra khỏi mấy nhánh cây khô,
cái xác được dòng nước cuốn đi.
- Ghê quá hả anh!
- Ừ, thôi đi về.
Tùng vin vào cây bàng, bước
dè dặt trên mấy miếng ván bắt làm sàn
nước đầy rong rêu. Ba hôm nay, người ta
vớt được rất nhiều xác trôi sông và
có lẽ còn nữa. Trận đánh lớn quá.
Nghe đâu đụng độ ở cầu Xây, mấy
tiểu đoàn Việt cộng mới về, thua chạy rút
về miệt Rừng Lá. Hôm đó Tùng thấy
lính cũng chết, xác được vô hòm, xác
quàn trong chiếu để lên xe hồng thập tự.
Nhưng không ghê bằng mấy chú chổng chết
trôi. Tùng thấy người ta lấy băng trắng
quấn bít chín cái xác hôm qua tại đầu
cầu. Ðàn ông qua lại cầu bị chặn lại
bắt đi khiêng xác. Người ta xịt alchool,
bột, xức dầu nhị thiên đường cho đỡ
hôi. Cá tôm đem bán không ai mua vì nó
rỉa thịt người. Ðáy không đóng, lờ
không đặt. Dòng sông đầy bèo cám, cỏ
chỉ dơ bẩn. Người lớn trốn chạy để
khỏi bị bắt đi khiêng xác, trẻ con thì đi
coi... Tùng lấy gáo múc nước rửa mặt
rồi vòng hè sau đi ra. Nó buồn lắm. Cửa
nhà trên, cửa trại cây một dãy đóng
bưng bít. Trong nhà, mái ngói đổ trên
bàn, những vết cắt của bom đạn để lại
khắp nơi. Giờ, nhà còn mỗi Tùng là
lớn. Mỗi ngày Tùng rủ con Yến về nhà
chơi một lần. Tối, nó dẫn mấy đứa em
về nhà con Yến ngủ. Nhà con Yến có cái
hầm đào sâu xuống đất, trên nóc là
bồ lúa, không như cái hầm nhà Tùng làm
dưới sàn cây giữa hai cây đà, chỉ tấn
thêm mấy gộp gỗ vụn.
- Về đi Tùng ơi, chiều rồi!
Con Vi muốn anh Tùng của nó ngủ ở nhà. Tùng
cũng muốn như vậy nhưng nó lại thích có con
Yến bên cạnh.
- Ừ, thôi tối nay, tao, mày, con Phương, con
Hạnh về nhà ngủ hén... Mà vậy rồi cơm
đâu ăn?
- Mình ăn cơm nhà con Yến rồi mình về
nhà mình mình ngủ. Sao ba má lâu về quá
hả?
- Không được, như vậy bị ông Tám
rầy...
Dân trong làng chết nhiều, dù nghĩa
quân hay du kích cũng đều là dân làng
hết. Mỗi lần nghe tin một người chết,
người ta nghĩ ngay đến cuộc đời hắn và
tất cả đều đáng thương. Từ thằng Ri
con bác thợ mộc, thằng Học con ông trưởng
Năm, thằng Quá con ông thầy chích, thằng sáu
Cua... Trong một gia đình, anh đi lính, em đi
giải phóng là thường. Lính không đi thì
Việt cộng cũng bắt! Rồi lớp trẻ con sinh ra,
lớn lên trong bom đạn, không biết nặn đất
làm bánh, làm con thú để chơi nữa. Chúng
học hút thuốc, học suy tư, học đánh bài con
tây cúp con ách... Hai bên bờ sông không
còn màu xanh. Lúa đồng mọc lẫn cỏ hoang.
Vườn tược trơ trọi vì thuốc khai quang.
Những ngôi nhà vắng vẻ, cây rơm cũng tàn
ngọn. Ý nghĩ bỏ làng ra đi nhen nhúm trong
lòng mọi người nhưng họ lưỡng lự vì
hình ảnh dòng sông Tham Thu, cây Cầu Sắt, ngôi
chùa Bàn Bà, mả bà Phủ... còn đậm nét
trong lòng họ.
Ánh đèn leo lét không xóa được
vũng tối bao la. Nước ròng chảy mạnh, cọ
vào mạn xuồng róc rách. Gió lướt trên
mặt sông lạnh ngắt. Bốn bề vắng lặng,
yên ngủ, chỉ còn tiếng nhà máy xay chạy
đêm rì rầm. Tùng ngồi bắt mấy con trùn
trong lon ra chặt khúc, Tâm móc vào lưỡi câu.
Nhợ mới được nhúng sắn, săn cón.
Nước chảy quá mạnh, những cục đá dằn
đáy làm chúi mũi xuồng, lái nhổng lên,
dạt qua dạt lại mỗi lần Tâm phăng tới một
lưỡi câu. Tâm móc vào bửng xuồng và
lấy chân đè xuống. Ban chiều nó phải mất
cả tiếng đồng hồ mới giăng được
đường câu từ bên này qua bên kia bờ.
Khúc sông có hang cá ngát và một gốc cây,
câu sẽ được nhiều cá nhưng nước
lớn, dây câu dễ bị mắc gốc lắm. Lần
trước thăm được hai con cá lăng lớn.
Lần này ít quá, thỉnh thoảng Tâm mới bỏ
vô khoang một con cá chốt hay con cá lù đù.
Lưỡi nào cũng hết mồi. Dây câu tẻ
nước re re. Rác rưới, lá lú mắc vô
dầy đặc. Tâm vừa móc mồi vừa gỡ rác,
thỉnh thoảng nắm dây câu búng "rẹt" cho trôi
đi có vẻ rất rành nghề. Sáng mai về chắc
ông nội Tâm thích lắm và con Yến phải khen
bọn Tâm, Tùng. Ba của Tâm đi lính lâu
lâu mới về thăm một lần. Nhà ông nội
Tâm có cổng đẹp lắm, làm bằng xi măng,
có khắc chữ Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ
và mấy chữ "an-nam."
- Tùng, gỡ phụ tao coi...
Cái gốc bập lá nước thật to, tàu lá còn
xanh mắc cứng vào dây câu. Tùng vạch từng
sóng lá cho lách qua dây. Những con rạm chạy
hụp xuống nước. Tùng thoáng thấy một
khuôn mặt đen xì và một ánh mã tấu
sáng lóe lên. Dây câu đứt phựt. Tâm
đang nắm dây câu mất đà bị giựt rơi
tòm xuống sông. Bụi lá trôi đi phăng
phăng. Xuồng chao đi, chao lại, trôi dạt giữa
dòng. Tùng chới với nhảy vội lại nắm
cây dầm khuấy nhè nhẹ. Tùng quay lại nhìn
bụi lá, lo sợ. Bóng đêm vẫn tràn
đầy. Ánh đèn lồng chiếu xuống dòng
sông lấp lánh sóng vàng nhạt.
Một lúc lâu không thấy bóng dáng Tâm, Tùng
hốt hoảng. Một ý nghĩ lóe lên, Tùng bơi
nhanh lại gốc bần nắm dây câu phăng đi.
Từng cục đá dằn đáy, những con cá mắc
câu giãy đành đạch. Tùng không thèm
gỡ nữa. Bỗng nhiên,
đùng... đùng... chát... ầm... những loạt
đạn đua nhau nổ ròn tan. Ánh đèn pha
quét lên thật sáng và lửa đạn tiếp tục
tuôn vào đồn. Bóng người thấp thoáng,
ngã gục và tiếng hô xung phong vang rền. Bàn tay
Tùng vừa đến mút dây câu. Một mảng
áo sọc lớn còn dính vào hai lưỡi câu
sắc. Ầm... lửa đỏ rực cả một góc
trời, bay tóe lên không. Nhịp cầu thứ hai
gãy gập xuống. Những họng đại liên thay
nhau nổ, hỏa châu bốc cháy và đồn cũng
cháy theo. Cầu sập rồi. Tùng thấy rõ
những thanh sắt cong queo và đà cây gãy vụn.
Chừng nào ngựa đá qua sông, Thủy Hoàng
xuống biển thì ông mới về
. Tùng hoa mắt
rụng rời, đưa tay lên vuốt mặt. Nước
sông đọng trên môi Tùng mằn
mặn... Tạch... tạch... tạch... đạn rơi
lõm bõm quanh xuồng. Tùng cúi mọp xuống khoang,
quên hẳn Tâm, người bạn đang đắm chìm
trong dòng sông hiền hòa. Xuồng âm thầm trôi
theo dòng nước
...
back to top
02. THÀNH PHỐ VÀ QUÂN TRƯỜNG
NGUYỄN TẤN HƯNG
Ðệ Nhị Bắc Giải là khóa đàn
anh. Huy nghĩ mình còn nhiều vòng kiềm tỏa.
Kỷ luật là những bất công đều trút lên
đầu khóa đàn em. Thông lệ của tất
cả mọi quân trường. Bây giờ biết khổ
thì đã muộn rồi. Huy không thể sống hoàn
toàn cho mình mà là sống phần lớn vì mọi
người, sống để làm đẹp mắt để
làm vừa lòng một viên thượng sĩ, một
ông đại úy. Ngẫm nghĩ lại quân đội
là một tổ chức đàn áp có hệ thống
thì không phải là không đúng lắm. Biết
thế Huy yên phận và cố tạo sự
"thoải-mái-đáng-yêu" mỗi khi có dịp. Huy
không còn biết trách mình hay trách ai. Hình
như chính vì vậy mà Huy buông xuôi, buông
xuôi trong sự học tập cũng như buông xuôi
trong sự vuốt ve âu yếm. Hình như tất cả
đều giả tạo, giả tạo ngay cả lời nói
hùng hồn của bài diễn văn đón tiếp Huy,
khi Huy vừa đặt chân vào cổng quân trường.
Những con nai tơ chợt thấy sợ sệt trong khu rừng
bao la huyền bí. Những khuôn mặt, những galon
sáng ngời bỗng nhiên là thần tượng. Huy
đã thay đổi và thay đổi thật nhiều ngay
từ lúc giã từ bạn bè. Giờ, Huy là lính.
Một vòng Ðộc Lập-Trần Quí Cáp,
toán tuần kỷ đã làm xong bổn phận. Huy xin
phép niên trưởng đi ăn sáng và bắt
đầu cuộc hành trình. Cũng như mọi khi,
hơn ba tháng nay Huy vẫn lang thang như thế. Bao
nhiêu bà con thân thuộc, chung vào một cái làng
xa xôi miền Nam. Huy cô độc nơi xứ lạ
quê người. Huy nghĩ tại sao chú bác cô
dì của mình không phải là một người ở
Pháp, ở Huế, ở Nhật... để có dịp mình
đến thì có nơi ăn chốn ở. Và ý
nghĩ thế hệ Huy là khởi điểm, là nền
tảng cho đàn con cháu mai sau gây cho Huy một niềm
tin "vượt thắng." Những con đường quen
thuộc, những quán giải khát quen thuộc là những
nơi tạm nghỉ khi mỏi chân. Lắm khi Huy thấy
"đi bờ," đi phố theo nghĩa hải quân, là một
cực hình. Nhưng không thể nào nằm trong trại
đọc sách hay tán gẫu được. Dù sao
không khí bụi đường cũng hấp dẫn hơn
không khí trong vòng rào kẽm gai. Huy định
ghé thăm mấy cô bạn gái có cái sắc diện
mà bọn con trai phải bỏ ra bạc ngàn để lấy
lòng nhưng thôi. Huy thấy nản lắm nếu phải
tiếp tục chuỗi ngày vô vị. Huy thấy mình
nhút nhát thật nhưng ít ra còn giữ được
cái gì "đứng-đắn-phương-pháp." Ở
thành phố buông bắt này không là môi
trường để Huy lấy làm giang sơn. Không
còn gì để bám víu.
Từ nhà ông Quan giặt ủi, Huy thả lần
xuống bến xe sau một giấc trưa đầy đủ.
Trời đổ chiều, nắng gai gắt. Phen này có
tù tội thì cũng là việc trời sắp đặt.
Nghĩ vậy, Huy vào Nhã Khánh. Lúc nào cũng
đông nghẹt, không còn bàn trống. Huy lại
ngồi đối diện với một giai nhân mà Huy thấy
là đẹp nhất, không son phấn, vẻ nữ sinh.
Lâu lắm Huy mới bắt chuyện:
- Cô đi một mình hay đang chờ đợi ai?
Cô ta lắc đầu:
- Ai đâu, việc gì phải chờ đợi ở
đây.
Một ý nghĩ về cô gái thoáng qua trong óc, qua
giọng nói trong trẻo, làn môi xinh xinh. Huy lại
hỏi:
- Xin lỗi, cô có thể cho tôi mượn xem bản
nhạc. Chắc cô hát hay lắm?
- Không, tôi mới tập.
Những dòng chữ viết tặng thật trìu mến. Huy
mỉm cười... Huy trả tiền nước mặc dù
cô gái từ chối đôi ba lần và cả hai đi
về phía chợ, công viên Ðào Phi Yến. Trời
xuống dần. Câu chuyện đến phần "đổ
vỡ" vì Huy vẫn tự hào trong màu áo hải
quân, trong khi cô ta vẫn ca tụng hai người anh họ
không quân đang theo học bên Mỹ. Con trai vẫn
thích chọc tức người đẹp vừa phải
để nghe những lời gay gắt đầy vẻ yêu
thương, cũng như người con gái mến cái
vẻ cục mịch trong lời nói của người khác
phái, Huy nghĩ vậy. Chiều đi. Từng chiếc
lá bàng rơi là đà mặt cỏ.
- Xin phép ông tôi về. Tôi nói với ba me
xuống phố vài tiếng đồng hồ mà bây giờ
trời hẳn tối.
Huy chợt nhớ:
- Cô tên gì nhỉ?
- Ông cứ gọi tôi là Uyên Trang.
- Bao giờ tôi có thể gặp lại cô?
- Thứ bảy tuần sau.
Huy tính nhẩm ngày đi bờ:
- Ðược rồi, chúc Trang vui vẻ.
- Nhớ kỹ nhé, ở đây, sáu giờ rưỡi.
Huy về trại.
Căn nhà mướn chung với các bạn trong
xóm Phường Củi giúp Huy đỡ ngột ngạt
mỗi khi đi ra phố. Không hiểu tụi bạn làm
cách gì để tiêu pha cho hết những ngày cuối
tuần. Thành phố muôn màu, dancing, hotel, nào danh
lam thắng cảnh, nào bãi cát nên thơ nhưng
quá chán. Lắm khi đi bờ Huy chỉ vì việc xem
ciné hay mua vài món vặt. Cho đến trưa này
Huy chưa biết về đâu vì chìa khóa nhà Huy
đã đánh rơi mất tiêu từ ban sáng. Huy
đánh bạo trở lại nhà Cúc lần nữa nơi
mà mỗi khi ghé Huy không dám ngồi đến năm
phút. Nửa chừng đường Huy chợt thấy tấm
bảng "làm chìa khóa." À, đây là dịp may,
vừa có chỗ nghỉ chân vừa tiện việc. Huy
lấy thuốc ra hút, phân vân với giá một trăm
đồng một chìa, tại vì ông thợ sẽ đi
tới nhà với mình... Rồi một cặp mắt trong
khung cửa sổ nhà bên nhìn Huy không chớp.
Nhưng Huy không thèm để ý, Huy đang nghĩ,
đang thèm được tắm và ngủ một giấc
ngủ trẻ thơ. Một căn nhà nhỏ, xung quanh có
tàn cây bóng mát.
- Anh Huy.
Huy giật mình, nheo mắt, không có lẽ đây là
Uyên Trang mà hơn hai tháng trời một cú hẹn
bất chợt chưa phai. Huy nửa mừng nửa giận,
nhưng cái dáng dấp mảnh mai, cái mái tóc
búp bê và làn da hồng mịn trước mặt
đã làm Huy sung sướng, đã làm Huy vừa
lòng sau nhiều ngày ấp ủ nhớ mong. Huy chào
ông thợ và bước sang nhà. Trang mời Huy uống
trà trong vẻ ngập ngừng.
- Ba má cô có ở nhà không?
- Thưa, đi vắng.
- Cô ở đây mà tôi tìm mãi không gặp.
- Anh có biết địa chỉ đâu, kể cũng
lạ, không hiểu ngọn gió nào đưa anh tới.
À, mà sao hôm đó anh không đến?
- Cô còn phải hỏi, nếu tôi không chờ cả
giờ, cả tôi và một anh bạn...
Huy lau mấy giọt nước còn đọng trên mi tóc
rồi thả mình trên lớp nệm. Một ngàn
đồng một tháng cũng đáng đồng tiền,
thời buổi này gạo châu củi quế không dễ
gì tìm được cái nhà trọ như vầy. Huy
nghĩ đến sự tình cờ, dun rủi gặp lại
người mà Huy thấy thương mến ngay từ phút
ban đầu. Huy muốn ngủ thật say mà đầu óc
mãi vẫn vơ.
Hơn ba tuần nay Huy bị phạt liên miên,
trọng cấm, khinh cấm, khổ dịch và nhất là
cấm trại dài hạn. Chung qui chỉ vì việc đi
bờ. Trong khám tối, Huy không nghĩ nhiều đến
hình phạt mà nghĩ còn ai có thể hiểu mình.
Ngoài kia tiếng ồn ào, tiếng cười hét vang
rân. Cuộc sống tập thể bề ngoài lúc nào
cũng vui vẻ nhưng mỗi khi nghĩ đến niềm
riêng hay những lúc đêm về có sống với
riêng mình mới thắm thía nỗi cô đơn.
Nhiều đêm Huy thao thức không hẳn vì người
yêu mà vì một cảm xúc nào trong nỗi xa gia
đình. Một hình ảnh nhỏ nhặt cũng đủ
lôi mình vào lối mộng. Huy nhớ nhà, nhớ
những món ăn gia đình, trái đậu bắp dầm
tương mà hai năm thụ huấn nơi này Huy sẽ
không bao giờ tìm gặp. Trong ánh lửa bập
bùng, những khuôn mặt đăm chiêu, đang
đêm khuấy hồ dán tủ thanh tra, làm Huy nhớ
nhiều đến những đứa bạn lạc loài cùng
sống vui sống khổ của một thời thơ ấu.
Bây giờ mỗi đứa mỗi ngả. Hơn tám
tháng quân trường, Huy đã nhận hai cái
điện tín báo tin về những cái chết vì
chiến trận. Cái giấy phép đặc ân còn
ghi rõ ràng "Không thuận vì sự việc đã
rồi," Huy còn giữ làm kỷ niệm. Bây giờ Huy
thấy nhớ Phương, nhớ giọng ca Uyên Trang, mỗi
chiều thứ ba trên làn sóng địa phương.
Những cuộc hẹn hò, những lần ciné, bát phố,
những lần pinic âm thầm như hiện ra trong khói
thuốc, trong ánh sáng tranh tối của phòng
giam...
"Phương em, anh không muốn em vào thăm
anh trong lúc này. Dù sao, những ngày xa cách
đủ để cho mình hiểu trọn hai chữ yêu
thương... Anh muốn thì thầm cho em vừa đủ
nghe, anh nhớ em hơn những gì anh viết ra
đây..." "Em đang nghĩ đến tương lai của
chúng mình. Những gì anh hứa với em, em không
mong gì hơn. Em không yêu anh vì cái lon Thiếu
Úy. Em yêu anh vì lẽ sống... Một tiếng
nói của em cũng đến vạn người cầu xin.
Nhưng, anh, vài hàng anh rõ nỗi lòng người con
gái đã thầm yêu..."
Chúa nhật, mười giờ hơn. Hôm nay
Huy làm thượng khách. Một hân hạnh cho
chàng. Từ lúc quen nhau Huy đã lại thăm
Phương nhiều lần nhưng chưa bao giờ gặp ba
má Phương. Hai thằng em trai nhỏ mến Huy theo
chị nó, để đòi quà.
- Anh thay đồ ngồi chơi để em xuống làm
bếp giúp má.
Huy nhìn Phương trìu mến...
Huy nhớ lại
đêm qua, nhớ màu áo đỏ thẵm, nhớ bản
nhạc "... chiều nay ra khơi, thoáng thấy mắt em
nhuốm buồn, đời anh là gió sương..." mà
Phương trình diễn ở Hội Trường. Không
để yên được, Huy chui tọt vào trong hậu
trường. Bộ đồ treillis ba tuần nằm sương
chưa giặt. Huy lặng lẽ ngồi cạnh Phương,
cạnh Uyên Trang, thì thầm:
- Mấy tên đó trong ban nhạc đó hở?
- Vâng, anh ghen không, nghề nghiệp.
- Có gì, có điều là tóc tai nên cắt
ngắn còn hai phân chứ không nên để u sù
như vậy, rệp chết.
- Anh chỉ được cái nói giỡn.
- Này nhé, anh vừa đi tuần mấy vọng canh,
tạt ngang qua đây gặp lúc em đang nhận quà
tặng của chỉ huy trưởng có vẻ trịnh trọng
lắm.
- Anh quỉ, người ta run thấy mồ mà còn kêu.
- Lúc đó ổng có nói gì không?
- Có.
- Sao?
- Khi em nói cám ơn, ổng nói bộ tôi già
lắm hay sao mà kêu bằng ông.
- Hèn chi anh thấy em cười có vẻ tình lắm.
Huy bị cái tát tai nên thân, Phương hỏi:
- À, ông ấy cấp bậc gì anh nhỉ?
- Suỵt, chết đó, đừng có hỏi kỹ.
- Thôi anh đi đi, ở đây kỳ lắm. Sáng
mai lại nhà em ăn cơm nhe, em có chuyện nói.
Huy phân vân:
- Nếu anh không bị gạch tên trong giấy đi
bờ...
Mâm cơm dọn xong xuôi, tất cả ngồi vào bàn,
Phương nói:
- Má sơi cơm, anh Huy sơi cơm.
Huy ngạc nhiên:
- Em nói gì vậy?
- Ăn cơm người ta phải mời, anh không mời
em không ăn đâu.
- Trong Nam anh hô "ăn cơm bây" mà chậm chậm
đã mất phần rồi nói gì đợi mời.
Bác sơi cơm, Phương sơi cơm, hai em Hoàng,
Dũng sơi cơm.
Phương cười:
- Mời gì kỳ vậy, mời người lớn hơn
mình thôi.
Huy cũng cười, tiếp:
- Dạ thưa bác, còn bác trai đâu?
Má Phương gắp bỏ vào chén Huy cái đùi
gà, hối hả:
- Ổng chiều mới về, cậu ăn thật tình xem
như ở nhà, tôi bận đi ngay, tôi ăn
trước. Phương, xong rồi dọn nghe con.
- Dạ.
Huy biết rành là ông bị cảnh sát bắt giữ
ban nãy vì hút thuốc phiện, thằng bé chạy
vào báo tin có vẻ khẩn khoản và bí mật.
Huy cố nuốt trôi miếng gà giống hệt món gà
xào trong trường mà Huy nhiều lần chán bỏ
ghét.
Bal Ðệ Nhị Bắc Giải mãn khóa,
Ðệ Nhị Hải Sư lên năm thứ hai. Huy có
vẻ luộm thuộm khi sửa lại dây vàng, écuisson,
cặp lon. Huy ngồi nơi trạm chờ hai giờ hơn.
Mưa càng lúc càng to. Từng đám những
chiếc áo mưa lướt qua cổng trường, từng
chuyến xe lam đừng lại. Bal ngoài trời trở
thành bal trong phòng ăn. Trên đường đi,
nước mưa đọng vũng, kêu sột soạt theo
bước chân. Ðôi giày trắng lem luốc. Huy
chen vào đám đông rút khăn lau nước.
Thật nhiều người đẹp, Huy tìm mãi một
người mà không thấy. Tiếng nhạc hòa lẫn
với tiếng mưa rơi. Thỉnh thoảng Huy miễn
cưỡng dìu một cô ra piste, nửa muốn về
phòng hay làm chuyện gì khác, nửa không muốn
bỏ dở cuộc vui.
- Bà xã mày đâu mà lang thang đây?
- Chắc cô nàng lười không vào hoặc bỏ
rơi tao rồi.
- Ủa, tao mới gặp ban chiều, vào đây sớm
lắm.
- Mày nói sao, cô ta mặc đồ gì nào?
- Jupe vàng, đi với một lô bạn gái.
- Mày làm gì biết nó.
- Thì cái con nhỏ có đôi môi tao muốn
cắn một cái đi phố với mày tuần rồi.
- Tụi nó ngồi hướng nào?
- Gần ban nhạc.
- Mày ở đây, tao đi tìm xem. Ðào mày
đâu?
- Ngồi kia.
- Vui vẻ nhé...
Ðiệu slow càng về khuya càng rả rích. Huy
gợi chuyện:
- Phương à, anh tìm em mỏi mắt.
- Chứ em cũng vậy, hỏi thăm mấy anh bạn của
anh, họ bảo là anh đi bờ.
- Thế anh gửi thiệp cho em làm gì.
- Thì em cũng tìm anh chứ làm sao. Anh uống bao
nhiêu bia, say rồi sao mà không bước gì cả.
- Ðông quá đứng một chỗ có tiện hơn
không.
Huy vuốt tóc, ôm sát Phương vào lòng.
Phương ngã đầu lên vai, hôn vào cổ. Huy
rùng mình khẽ đẩy Phương dìu bước...
Người thưa dần, Huy đưa Phương ra ngoài.
Trời mát lạnh, lất phất bụi mưa. Huy muốn
tìm chỗ nói chuyện thật nhiều với Phương,
nên đề nghị:
- Em đợi ở đây, anh xuống phòng lấy xe
đưa em về, xe tốt lắm đó, đừng khen.
Ra ngoài phố mình mới đi ăn được chứ
bây giờ không nên xuống câu lạc bộ.
Phương đồng ý. Một đoạn đường
khá xa, Huy thốt lên:
- Chết, xe này lại dở chứng, có lẽ hết
xăng rồi em ơi.
Huy đỗ dựa lề. Phương nói:
- Biết vậy em không thèm đi, xe gì "quê" quá.
- Còn đùa nữa, bây giờ tính sao, đón xe
dọc đường vậy.
Từng chiếc một vụt qua tóe nước mặc Huy
đưa tay vẫy. Hồi lâu mới được chiếc
xe honda dừng lại. Loay hoay mãi Huy mới tìm
được lon "bia" để lấy xăng.
- Cám ơn.
- Ông bà âu yếm quá.
- Thế còn đằng ấy...
- Giờ đến phần mình. Anh đưa em đi
đổ xăng rồi hãy về nhà sau, không thôi
lúc trở về anh hi vọng dẫn bộ cái của nợ.
- Giờ này thì còn ai bán.
- Thì phải kêu cửa chứ sao.
- Mất mặt quá, hải quân Lèo, anh lúc nào
cũng bị rắc rối.
- Mai anh về Sài Gòn để em khỏi phải lúc
nào cũng lo âu. Có nhớ anh không?
Ðường phố vắng tanh. Huy ngừng xe gần
nhà. Cả hai nhìn nhau thật lâu, một sự tiễn
biệt cho một người trở lại cố hương.
- Thôi em về...
- Phương...
Phương ngã vào vòng tay Huy. Chàng đặt
lên môi nàng chiếc hôn nồng nàn tha thiết
nhất.
- Mười hai giờ, mình hôn nhau có trời
đất biết.
Phương rời tay Huy bước đi.
- Bonne nuit.
Huy nhìn theo bóng Phương đến khuất. Mai đi
rồi, Huy biết rằng mình nhớ mãi nụ hôn giã
từ, và làn môi còn ấm lại giữa biển khơi.
Huy nhảy rào, một động tác quen thuộc
thi hành trong năm phút, đổi lấy tám trọng
cấm dễ dàng. Bộ treillis đã làm Huy lột
xác hải quân nhưng Huy vẫn còn ngại bộ mặt
quen thuộc của mình làm sĩ quan có thể nhận
dạng cách xa hàng hải lý. Huy lầm lũi trên
đường. Trời sắp về đông, lành lạnh.
Những đường hẻm chằng chịt của khu phố
không làm Huy bỡ ngỡ. Huy xoa tay, gõ cửa, chờ
đợi một sự ngạc nhiên, một sự mừng rỡ
ôm chầm lấy Huy như mọi khi. Nhưng nỗi rộn
rã trong lòng đã tan biến ngay.
- Em nó mới đi ciné, Huy ngồi chơi.
Mất toi công "thám hiểm" đêm này. Sơn,
người anh một cha khác mẹ với Phương hơn
năm năm trời tha hương vừa trở về
trường Sơ Ðẳng để làm tròn hải
nghiệp. Và ba của Phương. Ba người
đàn ông đang nghĩ về ba nẻo. Một sự
yên lặng dai dẳng, xa lạ. Rồi ba Phương bắt
đầu:
- Này cậu Huy, vấn đề giữa Phương và
cậu từ lâu tôi định nói nhưng không có
dịp. Lẽ tất nhiên cậu cũng hiểu việc trong
nhà có con gái lớn. Tôi rất dễ dàng trong
việc giao thiệp, bạn bè cũng như tôi rất
khó trong vấn đề hôn nhân. Mới là mới
mà cũ là cũ. Nếu cậu nghĩ đây là
chuyện qua đường, một cuộc tìm vui khi xa nhà
thì cậu cứ nói thẳng, hoặc là đến nơi
đến chốn thì tôi không bắt buộc.
Người lớn chỉ là phần phụ thuộc mà
thôi, việc chính là của hai người, cậu hãy
suy nghĩ kỹ...
- Tôi nói thật với Huy, tôi là anh Phương
nhưng ít khi được gần gia đình. Tôi
không rõ cho lắm. Con gái mười hai bến
nước trong nhờ đục chịu. Tôi là hải
quân tôi rõ nếp sống hải hồ. Ba má tôi
nói như vậy để hiểu rằng nếu Huy đã
có gia đình hoặc hứa trước nơi nào thì
mình suy nghĩ sớm để khỏi lủng củng về
sau. Biết rằng cấp bực của tôi thấp hơn Huy
nhưng nếu cần tôi sẽ theo đến cùng...
Huy thấy nóng cả mặt không phải vì sợ sệt,
vì biết mình không phải là thành phần
đểu giả. Huy ngẩn người chỉ vì sự
đột ngột:
- Ðược hai bác thương thì quí hóa cho
cháu lắm rồi. Dù sao cuộc đời của cháu
còn dài, cháu còn học, còn ra trường.
Phương và cháu còn thì giờ tìm hiểu nhau.
Việc giữa Phương và cháu nếu cháu không
nghĩ tới thì cháu không bao giờ đến
đây...
Ba Phương nói vọng vào trong:
- Mẹ mày có nghe Huy nó nói không?
Từ nhà Bích Vân, Huy và Phương
lững thững trên vỉa hè. Trời sẩm tối...
- Cô bạn của em có vẻ sexy quá hở?
- ...
- Nhà của cô ta có vẻ xưa mà sao cô ta
mới quá em nhỉ?
- ...
- Em làm gì vậy, không nghe anh nói hở?
- Không.
- Em kỳ thật, anh có làm điều gì để em
giận đâu, giờ mình đi ăn nhé.
- Không.
- Kỳ ghê, có gì thì em nói, chứ không
không mãi là thế nào.
- Anh không lịch sự gì cả.
- Lịch sự cái gì?
- Dưới phố lúc nào cũng bỏ đi, mua hàng
mà không trả giá thì phải làm sao. Ðến
nhà người ta, chưa đầy năm phút, ngồi
lấy thuốc ra hút tỉnh bơ làm như ghiền chết
đi được.
- Thế cấm anh à.
- Ít ra cũng phải đợi người ta mời, bằng
không thì thôi, về nhà đã, chả ra gì.
- Lạ ghê.
- Anh nói với ai vậy, anh lúc nào nói cũng
không đầu không đuôi, "trông lạ ghê, kỳ
ghê..."
- Chứ nói làm sao nữa, "em của anh trông kỳ
ghê à...," nói được như vậy là may.
- Thôi, mai mốt đừng đi theo tôi nữa, làm
như trí thức lắm vậy.
- Sĩ quan hải quân chứ bộ "kít" sao.
- Anh đi đâu thì đi, tôi về.
- Phương, Phương chờ anh đi với...
Về đến nhà trời đã tối mù.
- Hai đứa bây đi đâu mà lâu dữ vậy,
nhà chờ cơm mãi.
- Dạ Phương đòi đi thăm cô bạn, nhà
ăn cơm rồi hả má.
- Ðã ăn đâu nào, mai mốt đi nhớ giờ
ăn cơm với.
- Còn ba đâu má.
- Ổng mới đó mà. Bữa nay con mấy giờ
vào trại?
- Dạ muốn vào lúc nào cũng được, con
đi không có phép.
- Vặn cho má cái đèn lớn đi Huy, từ nay
đợi cuối tuần hãy ra, "dù, dù" như vầy
hoài lại bị phạt vạ, còn thằng Sơn nữa,
thứ bảy này không biết có được phép
hay không, làm cơm rình rang rồi lại bỏ.
Thôi sửa soạn ăn cơm đi, còn em đâu?
- Dạ Phương chắc ở nhà sau.
Huy cởi áo mắc lên móc, rồi ra nhà sau rửa
mặt. Tiếng thút thít làm Huy giật mình...
- Trời ơi, làm gì khóc vậy Phương. Anh
có làm điều gì không phải? Ba má thấy
lại rầy anh cho xem. Có gì thì nói với anh
chứ sao lại khóc.
Phương thổn thức:
- Em biết phận em rồi, anh khinh em, anh là quan quyền,
còn em là ca kỹ.
- Em hiểu lầm lời nói của anh, em không phải
đi ca hoài như vậy được, em phải tiếp
tục học thêm và chọn lấy một nghề mai
sau. Danh dự của anh một phần mà của em
nữa. Anh không thương em thì anh không nói
như vậy. Thôi không nhắc tới nữa, giờ em
muốn làm gì thì làm, lúc nào em cũng làm
anh bối rối.
Huy lấy khăn thắm nước lau mặt cho Phương:
- Hở một chút lại khóc, anh biết làm sao
đây. Vào ăn cơm đi để ba má đợi.
Ổng bả nhìn ra ổng bả lại hỏi, khổ ghê.
- Anh để mặc em.
- Thôi cho anh xin lỗi, gì cũng tại anh cả...
Rồi có lần Phương trách Huy:
- Anh hôi rượu quá đi, không biết đến
bao giờ anh mới hết uống rượu, con trai gì mà
say sưa, anh mà một lần nữa thì đừng nhìn
mặt em.
- Lâu lâu mới gặp bạn bè, em phân nửa,
bạn bè phân nửa, còn anh là số không.
- Rồi lại trúng gió như hôm nào, còn
phải nói, bây giờ mà như lúc trước
mười một, mười hai giờ đêm mới về
thì đừng mong em chờ cửa, cứ đi ngủ
đầu đường xó chợ cho biết.
- Như vậy thì ba sẽ rầy em, ba lúc nào cũng
về phía anh, "thôi làm lên chi bồ..." ba nói
chứ chẳng cần đến anh nữa. À, mà ban
sáng mình đi thăm cô gì đó em nhỉ?
- Cô Bảy.
- Rồi má giới thiệu anh là gì.
- Là fiancé của em.
- Hồi nào, sao anh không nghe.
- Người ta nói nhỏ ở nhà sau chứ la lớn cho
anh biết à.
- Cái thằng chồng Phi Luật Tân nói tiếng Mỹ
không nghe được gì cả..., cũng cỡ em.
- Làm như anh giỏi dữ.
- Tạm thôi, đủ để người ta hiểu,
người ta yêu. Cái Akai nghe sướng thật em
nhỉ, vậy mà má đòi nghe cuộn băng vọng
cổ làm anh mất hứng, nhạc ngoại quốc có
phải rộn chân không.
- Anh tối ngày chỉ có biết nhảy với nhót,
chẳng làm nên tích sự gì cả.
- Thế còn em, "bum" nào mà em không có mặt.
Ông ăn chả bà ăn nem, chứ em vừa gì.
- Anh làm như em là ca-ve không bằng.
- Anh định nói như vậy mà em nói trước
rồi.
- Thôi, không thèm nói chuyện với anh nữa.
- Ừa, để rồi coi đứa nào chịu thua, anh
cũng không thèm nói.
Huy vói tay khép cánh cửa sổ, trời lạnh quá.
Huy tung chăn đắp cho cả hai lên tận cổ, vùi
mặt vào mái tóc Phương giọng nhè nhè:
- Ng... u... ngủ.
Hồi lâu, Huy cất tiếng:
- Ngủ không được em ơi. Tại có em
nằm gần, thôi em nằm xa xa anh một chút coi.
Phương im lặng. Huy khẽ đẩy:
- Làm bộ ngủ hả, nghe anh nói không?
- Anh này kỳ, người ta không thèm nói
chuyện mà lải nhải mãi.
- Này, tuần rồi em đi công tác ở Qui Nhơn
có gì vui không?
- Vui chứ sao không, có mấy ông đại úy
ga-lăng hết chỗ chê.
- Sướng nhé, em lúc nào cũng để ý
đến mấy chuyện vớ vẩn đó chứ không
biết học hỏi gì cả. Em biết Qui Nhơn cái
gì, em có biết mộ Hàn Mặc Tử không. Tây,
Huê-kỳ ở đâu không biết chứ mấy thành
phố ven biển là có tàu anh tới.
- Anh được có cái nước nói giỏi làm
như chuyện gì cũng biết, em còn đi thăm
nhiều nơi hơn anh nữa kìa mà em không thèm
nói, động một chút ra mặt thầy đời.
- Chứ sao, con người hải quân là con người
quốc tế mà. Anh chuyện gì cũng biết.
- Em chuyện gì cũng biết..., trừ một chuyện
chưa biết...
- Chuyện gì?
Huy suy nghĩ hồi lâu rồi nói nhỏ:
- Thế em muốn biết bây giờ hả, anh tưởng
em còn thơ ngây.
- Thôi đi, dễ dữ à...
Huy xoay người ôm chầm lấy Phương. Mấy
sợi tóc lòa xòa trước mặt, Phương bé
bỏng nằm gọn trong vòng tay. Mùi thơm da thịt
làm Huy bàng hoàng. Ngoài kia trời vắng vẻ,
gió xào xạc cành cây. Huy nghĩ tình
người đi biển có bao lần gần nhau. Bàn
tay Huy rung động. Phương giả vờ say ngủ.
Từng nút áo sịt mở. Huy thấy tim mình
đập nhanh, không còn gì để nói. Bên
phòng kia hẳn ba má Phương đang an giấc.
back to top
03. NHỮNG NGÀY...
NGUYỄN TẤN HƯNG
Tôi đánh thót bụng một cái, chiếc
C130 lao vào không gian nặng nề. Tôi nhìn lại
mọi người trong tàu, những người đã
cùng tôi sốt ruột trong khi chờ đợi chuyến
bay. Một trăm hành khách, mười lăm Mỹ,
mười lăm Ðại Hàn, còn bảy mươi là
Việt Nam. Sĩ quan cũng như lính ngồi bẹp
xuống sàn nhôm thành hàng. Những "sac marin, Air
France, Boeing International" bỗng nhiên thành ghế dựa.
Ánh sáng chui vào lỗ kính tròn yếu ớt.
Trên trần vải nylon những đường dây
điện chằng chịt. Ống thả hơi lạnh tuôn
không ngớt những làn sương trắng, không
làm giảm nhiệt độ trong người. Mồ hôi
nhỏ giọt. Người đàn bà thả hai chân
gác lên thành vali vạch vú cho con bú. Bên
cạnh, người lính có lẽ là chồng mở mắt
nhìn đứa con còn đỏ hỏn. Người lính
Mỹ giữ sàn sau đẩy lệch cái te'léphone mang
vòng ngang đầu, đưa điếu thuốc vào
miệng, châm lửa. Mọi người im lặng.
Tiếng động cơ rì rầm ru ngủ...
- Chết cha, anh Tân chết rồi Sáu ơi.
Tôi vừa lẩm nhẩm đọc cái điện tín
vừa cởi bỏ bộ đồ Thái Cực Ðạo.
Sáu tần ngần và tôi cũng ngẩn ngơ. Một
người bạn thiết, một người anh. Những
dòng chữ thật gọn: "Anh tư chết tại Sa
Ðéc, Nguyễn thị Anh."
- Mày xin phép về coi, sao kỳ cục vậy...
Tôi vụt nhớ đến lời của thiếu tá giám
đốc quân huấn: "Lúc này các anh đi phép
hơi nhiều. Chỗ nào mà không bom đạn,
nhà tôi cũng trong vùng chiến tranh mà tôi có
về đâu."
- Mày chớ tao, không cho phép tao cũng trốn về.
Cho đến lúc cầm giấy phép trên tay tôi vẫn
còn phân vân. Ngày thi mãn khóa đã gần
mình mất bài vở và lắm ngày tù tội còn
ghi trong sổ phạt. Liệu mình có được như
bạn bè. Không lẽ anh Tân chết thật? Mà
chị Anh đánh điện tín thì bao giờ lại sai
chạy. Tôi còn hi vọng, dù chỉ còn một
phần ngàn đi nữa, tôi vẫn muốn anh Tân còn
sống, ảnh sẽ đón tôi ở cổng nhà và
nhìn tôi cười ha hả. Một đám cưới
hay một bữa tiệc bù cho cái điện tín giả.
Suốt cả ngày qua tôi mệt mỏi. Bài thiên
văn hàng hải tôi có nghe được chữ nào
suốt hai giờ trong giảng đường. Từ bộ
chỉ huy Vùng Hai Duyên Hải đến bộ chỉ huy 5
Tiếp Vận, từ đại úy Hảo đến người
hạ sĩ, từ ụ cát có ổ súng trung liên
đến người bộ binh cầm súng chào, từ HQ 07
đến US Navy, từ emergency đến leave... chạy loạn
cả lên trong đầu óc, trong bước chân, trong
những chuyến xe quá giang... Rồi trạm tiếp liên
nhớp nhúa...
- John Smith.
- Hia.
- Clark.
- Hưa.
... Rồi một tràng tiếng Ðại Hàn trong máy
phóng thanh. Tất cả đều nhốn nháo. Snack-bar
bị đại đội Biệt Ðộng Quân về Pleiku
giành nhau mua nước ngọt, bánh mì. Người
trung sĩ quân cảnh xô bọn lính ra xa và
đóng rầm cánh cửa sổ:
- Các anh xếp thành hàng hai nghe rõ chưa.
- Trưởng toán hướng dẫn Biệt Ðộng
Quân yêu cầu gặp phòng điều hành có
việc cần.
- Hành khách đi Sài Gòn nghe đọc tên lên
tàu...
Ánh nắng chiều chiếu xéo vào khung cửa in một
vệt cắt trên nền xi măng. Trời bốc lửa...
- Thiếu úy đi phép?
- Vâng, anh ở bờ hay chiến hạm?
- Dạ, tôi ở Ðà Nẵng, đổi về Sài
Gòn. Tới Nha Trang buồn quá tôi tắm biển hai
ngày. Hôm qua chờ ở đây trọn một ngày,
mấy chiếc cất cánh rồi đáp trở lại,
bữa nay là bốn ngày trễ phép. Thiếu úy
ở Vùng Hai?
- Không, tôi ở Trung Tâm.
- Thiếu úy có tên chưa?
- Chắc chuyến tới.
- Ðến chiều lận, tôi cũng vậy, mình
thuộc thành phần stand-by đi ké tụi Mỹ, mệt
lắm.
- Vậy hả, anh đi thường không?
- Nhiều lần rồi...
Người lính Mỹ lục đục kéo cánh cửa
sổ cong lên trần. Gió tạt vào phần phật,
tiếng động cơ nổ dòn hơn. Ðôi
người bò lại gần, nhìn xuống đất.
Một vài người lính vừa chợt tỉnh, ngơ
ngác đưa mắt quan sát vòng quanh rồi buông
mình nằm trở lại. Tôi tiếp tục dựa
đầu vào lưng thằng Mỹ, cái lưng dài
và cong...
Trời Sài Gòn đầy bụi, một lớp đỏ
bám trên áo và kính mắt. Những con
đường thành phố, những khoảng đất
trống xen kẽ với những căn nhà lỗ chỗ
đạn bom. Nước mưa kẻ những đường
to, những vết cháy, thành lem luốc. Tôi ghé
lại nhà. Chị về quê và anh cấm trại.
Dưới sàn gạch, những đứa nhỏ xa lạ nằm
lăn ra ngủ. Một bà già tóc bạc hết nửa
nhìn tôi ngần ngại.
- Tôi lãng tai, cậu nói lớn mới nghe được.
- Cháu là em vợ anh Khai.
- Vậy hả. Nhà tôi ở khu Bình Tiên cháy
rồi tản cư ra đây. Bây giờ đi Nha Trang
hả?
- Không, ở ngoải mới về, bây giờ đi về
nhà dưới tỉnh.
Tôi thay đồ, ra nhà sau múc vội vài lon
nước xối lên người cho đỡ nóng, dở
garde-manger xới một dĩa cơm, chút thịt kho tàu
và mấy cọng cải ngâm dấm ăn qua loa. Tôi
mặc đồ civil và xếp lại mấy giấy tờ
cần thiết. Tôi tạt qua nhà Thu.
- Trời ơi, làm sao anh về được. Anh có
hay tin gì ở nhà chưa?
- Rồi.
- Anh Tư chết, đụng trận.
- Chết thiệt hả?
- Trời, thiệt chứ sao.
Tôi cảm thấy buồn và khuôn mặt người
yêu trở nên đáng ghét. Một chút hi vọng
đã tiêu tan. Tôi tưởng tượng đến
nấm mộ và những vòng khăn tang. Thật như
vậy rồi.
- Ngày mai nghỉ học, em xuống thăm.
- Thôi, mất công lắm, anh về thăm mộ một
chút rồi anh đi liền, bữa nay chắc đã chôn
cất.
- Mở cửa mả hôm qua.
Tôi đứng đậy kiếu từ. Thu đưa tôi
ra cổng...
Nắng đã tắt, bến xe đò vắng, bến xe lô
cũng vắng. Ðường đi chắc còn kẹt,
tôi đi lần về phía chợ định ngủ nhờ.
Tôi không hiểu tôi đang nghĩ gì, buồn quá
phải không. Như thế này là đau khổ?
Thật tình tôi không muốn về. Hai anh em trai
chết đi một, liệu ba má tôi nghĩ làm sao khi
gặp lại tôi, người con từ phương xa trở
về thăm cái chết của anh. Tôi nghĩ đến
ngôi nhà, tôi nghĩ đến đám tang, bàn
thờ và những nén hương. Tôi đi trong
hoàng hôn và những bước chân không chủ
ý.
- Gì mà chạy hớt ha, hớt hải vậy cha nội!
- Pháo kích.
- Nghe xa mà.
- Người ta chạy tán loạn kia kìa, không
thấy sao...
- Bậy, cảnh sát rượt thằng nhỏ móc túi,
pháo kích đâu mà ở chợ búa...
Tôi rẽ vào ngõ hẹp, nhà cất san sát, chênh
vênh. Những căn gác, những sợi kẽm giăng
phơi đồ, những thùng tôn-nô chứa
nước... Một ngày đường mình đã
đi tới đâu?
Tôi đốt ba nén hương cắm vào
lư. Mùi hoa huệ phảng phất. Tôi nhìn khung
hình, vòng hoa cườm có chữ "Thành Thật
Phân Ưu." Trong dĩa mica còn đựng cái huy
chương anh dũng bội tinh với nhành dương
liễu, cái bông mai bằng thau còn mới tinh và
chữ Trung Ðoàn 15.
Hưởng dương nhị
thập thất tuế. Phục vị vọng Nguyễn văn
Tân hiển linh chánh vị thần chủ. Tử ư sơ
bát nhật ngũ ngoạt mậu thân niên
. Tôi
chớp mắt, giữ lại những giọt nước mắt trong
rèm mi, chực lăn xuống má. Tôi đứng như
vậy thật lâu, nghĩ rằng linh hồn anh hãy về
chứng chiếu cho em...
- Ðạn AR 15 đi từ trán trở ra sau ót.
- Việt Cộng làm gì có AR.
- Sao lại không.
- Chết hồi nào đâu, bị thương nặng
đưa về Cần Thơ mà.
- Mày nói, chính tao bồng ổng lên phi cơ,
môi mấp máy như muốn trối điều gì,
mười phút sau thì chết, máu trào ra miệng...
- Số quân 63A sáu trăm ba chục ngàn thì
đúng là của ổng rồi.
- Bảy người chết, có ổng là sĩ quan
thôi. Cái hòm cao lớn đó. Còn nhận
được cây đàn, cái radio, đồng hồ...
- Bà đừng đốt nhang khóc lóc nhiều quá,
mấy cái hòm kia bung nấp thì nguy...
- Mười ngàn mướn xe đưa ảnh từ bển
về đó chú.
- Về tới nhà má biểu gỡ lá cờ, huy
chương đem cất liền.
- Mấy thằng Việt Cộng hay được chận
đường không cho người ta đi thăm.
- Họ cũng trốn đi, mấy người thợ làm
cho ba mình ngoài xóm.
- Má thì sợ...
- Tủi lắm em ơi, người ta nói là chết
bắn không cho đem vô nhà, để mái hiên hay
nhà cầu. Chị nói mãi ba mới cho đem đặt
ở nhà trên. Bàn thờ chị mới cho kê chứ
ba má để trống trơn.
- Ðem về tới nhà ba giờ chiều, mười giờ
sáng hôm sau thì chôn, không có lễ nhạc,
buồn lắm, bảy tám người khiêng thụt ra xe lam
chở lên huyệt, chị tư mày với cháu Thanh
ngồi theo.
- Bây giờ yên mồ yên mả rồi chị cũng
mừng cho nó. Ba má buồn rồi chẳng ai lo. Ba
cứ nằm trong buồng thỉnh thoảng khóc thét lên:
"Con ơi, anh con không còn, ba cũng... không còn." Ba
nhắc tên em.
Ban đêm tôi về quận không dám ở nhà.
Dân cư chạy loạn ở đến ba bốn chục
người tối nào cũng xem ti-vi náo động.
Tôi không làm sao ngủ được. Cái chết
của một sĩ quan uất hận đến thế sao! Tôi
nghĩ đến những thằng du kích có lẽ là
những thằng đã từng đá banh ngoài ruộng
với anh Tân và tôi hồi nhỏ. Tôi nghĩ
đến những thằng lính đồn, những thằng
địa phương cùng học với tôi hồi tiểu
học. Bọn nó còn gia đình, tụi nó, một
theo lính một theo cộng sản cho ba má được
sống yên ổn. Chỉ có chúng tôi xa nhà từ
bé, bỏ làng ra đi. Bây giờ ngày chết trở
về mọi người bỏ rơi chăng? Có ai mà
nói lý tưởng ở những miền quê thâm sâu
này. Ban ngày, tôi về, những người khách
đến chia buồn ai mà tôi không quen, những
người đã có con chết vì mặt trận, chết
vì quốc gia. Những vùng giao tiếp như vầy
người dân phải chịu khổ cả hai mặt. Họ
hỏi thăm bây giờ tôi đóng ở đâu.
Tôi muốn nói tôi ở một đơn vị tác
chiến hơn là ở quân trường. Tôi muốn
bây giờ tôi là một chiến sĩ thực sự
đang cầm súng chiến đấu. Bọn lính giữ
đồn nhìn tôi trong bộ quân phục xa lạ.
Những con mắt quan sát, dòm ngó nhưng tôi cũng
hiểu "cọp nào rừng nấy," tôi chỉ là con số
không của chiến trận trên vùng đất quê
hương tôi.
- Ảnh đã lãnh lương chuẩn úy chưa?
- Chưa nữa đó, còn lãnh trung sĩ, tháng
này định lãnh rappelle xong, mua xe honda để những
ngày về hậu cứ ảnh đi về nhà cho tiện,
chưa mua xong thì ảnh đã chết rồi. Mới
tuần trước đây ảnh dù về nói là đau
bao tử, thấy khoai lang củ nho nhỏ thèm không dám
ăn. Ảnh cũng định xin về bịnh viện Dã
Chiến 3 nằm nghỉ, nhưng hồi ảnh về bên ấy
buồn vui gì đó với đơn vị trưởng
nên cũng đi hành quân sau khi ở xong mấy ngày
tù. Ði trận rồi ảnh chết luôn. Trước
đó ảnh bị thương nhẹ ở tay. Phải chi
nó cụt chở về nằm bệnh viện thì đâu
có chết. Ảnh còn xui tháng năm này, nếu qua
khỏi thì không còn gì nữa. Tôi nói ảnh
lo về văn phòng đi, tiếc mấy chục ngàn rồi
thì chết mà ảnh không chịu. Bây giờ
không còn thấy mặt, con Thanh như vầy mà đã
mất cha rồi...
Tôi ở lại ba ngày, đến cúng cửu. Thật
trống vắng. Trưa nào tôi cũng ra ngoài quận
uống bia. Tôi bắt chước má tôi, mỗi bữa
ăn để sẵn chén cơm đôi đũa, Tân
về ăn cơm con, và tôi nghĩ như có anh ngồi
đối diện. Tôi nhớ những lần hai đứa
gặp nhau vội vã, khi cả hai cùng khoác áo
chiến. Tôi đi trước, anh đi sau, anh chết
trước và tôi sẽ chết sau, chúng ta là những
lượn sóng vỗ bờ. Tôi bỗng nhiên căm
thù cộng sản. Tôi nguyện trả thù. Tôi
sẽ bắn vào đầu Việt Cộng. Ngày đi ba
má tôi dặn dò đủ điều. Bây giờ
còn lại mình con, con rán giữ gìn. Tôi ghé
lại mộ anh. Tôi chào anh lần cuối. Tôi
chào lần đầu tiên với một ý nghĩ vị
quốc. Tôi không hiểu linh hồn anh đang đi lên
thiên đường hay xuống địa ngục.
Tôi trở lại quân trường và đêm
nay mưa nhiều quá. Tôi thu mình trong chăn ấm
cô đơn. Từ lâu, lúc anh Tân còn sống,
tôi vui cho tôi bằng những mối tình, rượu
chè cờ bạc. Những gì gọi là bổn phận
tôi đổ dồn về anh. Anh càng lo gia đình,
tôi càng tiêu pha...
- Như vậy là nó tròn chữ hiếu với tao và
má mày. Không hiểu với lương trung sĩ mà
mỗi tháng nó gửi tiền về nhà thì làm sao
mà xài. Ba nghĩ lại ba còn khổ thêm.
Tôi cầm tiền mà má đưa cho tôi trang trải
nợ nần mà không còn biết nghĩ thế nào.
Thư anh cho tôi:
"... còn mày thì sao. Bao giờ
ra trường, có được xuất ngoại tu nghiệp
không, chắc không chớ gì. Tù nhiều quá
làm sao đi được. Dịp may trong đời mày
mà mày không muốn thì tao không biết mày
nghĩ thế nào. Tao tiếc cho mày lắm đó.
Ít hàng cho mày. Tao nói với mày như vậy,
mày có buồn tao thì buồn... Anh mày."
Vâng,
có lẽ tôi đã đánh mất dịp may
trong đời tôi rồi chăng? Ở đây tôi
mưu đồ cái gì, ngoài cái lon thiếu úy
chớ. Tôi đã mang vào đời tôi một ý
nghĩ đen tối lắm không? Okinawa và đệ
thất hạm đội! Cuộc đời tôi phải
chăng được quyết định không do chính
tôi mà do một nhóm người nào. Tôi bỗng
nhớ anh Tân nhiều quá. Lúc nào chỉ hai
đứa thôi còn đi học, một viên gạch
ném trúng vào đầu tôi, máu chảy, vì thau
chén ăn năm bảy ngày còn ngâm. Một mâm
cháo nóng hất trọn vào người tôi vì tôi
nói anh khờ với bạn bè. Ngày nào tôi vác
cây củi rượt anh băng qua cây cầu dừa
để lấy lại chùm mận ngon. Ngày nào tôi
với anh ngồi bên lộ đá câu cá rô về
làm cơm...
- Mày chiên trứng kiến nhiều sáp quá, mồi
móc thả xuống nước không chìm. Mai tao làm
cho mày coi.
Và tôi nhớ dáng người lom khom đi tìm tôi
trong đêm diễn hành lễ Quốc Khánh 67. Mình
cùng đi cho đất nước thanh bình, mình cùng
đi cho đời trai... Tôi bỗng gọi tên anh,
gọi tên anh thì thầm... Tôi ngửa mắt nhìn
bóng đêm. Những giọt lệ lăn dài xuống
thái dương.
Những ngày... phép đặc ân đã qua và
nửa đời còn lại anh dành cho tôi. Tôi
sẽ làm gì cho ba má tôi, cho các em tôi. Tôi
sẽ biên thư về cho gia đình, cho Thu, cho Hồng,
và những bức thư cuối cùng của tôi mà anh
không bao giờ đọc.
"Hoàn lại nơi gửi,
vì đương sự đã tử trận."
Tám
trang giấy học trò tôi đã viết gì trong hai
giờ Hải Pháo. Sao bỗng nhiên tôi viết lại
tên tám anh chị em tôi. Sao tôi viết tên anh
những hai lần để đọc lại tôi phải gạch
bỏ đi một nửa. Phải chăng anh đã mang
đến cho tôi một điềm lạ cũng như anh
báo mộng mọi người với khuôn mặt máu me.
back to top
04. MÙA ÐÔNG VÀ CON ÐƯỜNG
NGUYỄN TẤN HƯNG
Em trở lại thành phố này đang độ người
ta sửa soạn lễ Noel đó anh. Chuyến bay cuối
cùng đem em đến, trả em về nơi mà em đã
lớn lên trong niềm thương ba má. Bây giờ ba
má em đã mất rồi, mất vì chiến tranh đó
anh, anh đã hay chưa! Em còn gì nữa đâu,
còn gì cho đời mình. Em không muốn sống
trong kiếp thừa thãi. Mọi người như xa lạ.
Ngày xưa còn có anh để em còn yêu, còn
sống. Trở lại đây em không muốn tìm lại
những gì đã mất, cái gì đã nung nấu
tâm hồn em hơn mấy năm nay. Nhưng con
đường này, bờ cỏ len thềm, những hàng phi
lao chao gió, cũng tiếng sóng rì rào, bọt
nước trắng xóa. Biển biết buồn không anh?
Bãi cát yên lặng, phẳng lờ, im lìm muôn
đời với những con dã tràng nhỏ nhoi dễ
mến. Ðó, có gì thay đổi đâu, cũng
như tâm hồn em lúc nào cũng yêu anh. Không
yêu anh sao em dám hiến dâng đời mình. Hai
năm trời anh theo học ở thành phố này đã
cho em một thời huy hoàng. Bây giờ là vũng
tối. Em muốn cất giữ nó làm một kho tàng
vô giá cho mình. Anh còn nhớ hôm đó mình
ngồi thật lâu, chờ đến trăng lên, muôn
vì sao lấp lánh. Em nhớ tiếng nói trầm ngâm
của anh kể lại đời mình trong tuổi thơ xa
nhà trọ học. Nghèo khổ, số phần đã
bạc đãi anh quá nhiều. Ăn bát phở
đầu tiên mà không biết là bát phở nữa
phải không anh. Anh làm đủ thứ việc, thợ
sơn, bồi bàn, phu lục lộ... Anh bảo là
không còn một sự nhục nhã nào làm anh sờn
lòng. Anh thành tên ăn cắp, anh đã vào
tù khi tuổi mình chưa vị thành niên và bây
giờ đã là một sĩ quan hải quân. Anh tự
đốt đuốc soi sáng con đường mình đi.
Anh chưa biết khóc bao giờ, rất khác với em
thường hay khóc. Mà sao anh mỉm cười khi
thấy em khóc chớ. Anh lúc nào cũng coi mọi
chuyện tầm thường hay sao? Anh không hiểu
nỗi-ưu-tư-ray-rứt đến độ giết lần
mòn thể xác em sao! Có lẽ dòng máu cứng
rắn, lãng bạc, giang hồ của con người hải
quân, con người đã chịu đựng phong ba bão
táp, còn giữ lại và thấm nhuần trong huyết
quản của anh. Có phải anh là hiện thân của
ba anh không? Em chưa biết ba lần nào. Em chỉ
biết ba trong câu chuyện đắm tàu mà anh kể em
nghe... Ông là thủy thủ thời Tây còn cai
trị xứ mình. Người An-nam làm lính trong
đơn vị hải quân Pháp là đầy đủ
lắm rồi, đầy đủ với chức vụ giữ và
phát rượu mỗi sáng cho sĩ quan và đoàn
viên trên tàu. Ðó, cái thùng tôn-nô
chứa rượu đã cứu ông trong bảy ngày
lênh đênh trong vùng biển Ðịa Trung Hải khi
chiếc tàu Normandie chìm xuống trong đêm tối, trong
sự bốc cháy, nổ tung khủng khiếp của trận
hải chiến lừng danh. Da thịt đã cháy, đã
thúi vì nắng vì gió biển để trôi dạt
vào một làng đánh cá miền Bồ Ðào Nha.
Ông đã được chữa trị và gửi về
hải quân Pháp. Nước Pháp bấy giờ là
cách mạng, họ hỏi ông theo De Gaulle hay chính phủ
đương kim. Theo De Gaulle thì phải trở về London.
À, cái thành phố có vẻ thích hợp và mới
lạ. Từ một chiếc tàu buôn cũ kỹ nhất,
ông đã đưa được lên bờ với sự
đón tiếp nồng hậu của hải quân, kèn
trống, cờ xí đầy đường, dàn chào danh
dự, và những lời hoan hô cho mỗi mình ông
đơn thân độc mã không người tùy
tùng. Ông cảm động, ông không ngờ, và
lần đầu tiên trong đời bắt tay với một
sĩ quan già hải quân thiếu tá Pháp. Ðó,
cuộc đời hải hồ rộng rãi mênh mông của
ông chỉ bằng cái chức thượng sĩ già khi
trở về Việt Nam. Những vết sẹo cháy sém
đủ làm ông hãnh diện lắm rồi... Bây
giờ ông còn đâu, anh chỉ gặp ông lần
cuối cùng trong bóng đêm ngoại ô một thành
phố xa lạ. Vì anh là đứa con rơi. Anh
không muốn tiếp nối con đường của ba anh đi
nhưng số phận đã an bài. Hoàng Miên anh
ơi, anh có biết em nhớ anh không? Khung trời
ngày xưa đâu còn bóng dáng anh. Cũng
công viên, cũng con đường ven biển, cũng
những gốc bàng mà những cuộc hẹn hò, những
lần giận hờn anh đang diễn ra trước mắt em
đây. Em không còn khóc nữa, em đã lớn
rồi. Ðôi khi em nghĩ làm sao em tạo lập cuộc
đời khi em là đàn bà. Những thằng trung
úy, đại úy, những giáo sư, con buôn, thằng
Ân, thằng Bảo, thằng Miller... đã làm em nhờm
tởm cuộc đời này quá rồi. Em nhớ đến
anh, đến dáng người gầy, nhỏ của anh. Vẻ
mặt anh không thể hiện một nét gì nghệ sĩ
mà sao cuộc đời anh sao quá đầy đủ cho
một nhà thơ. Em nhớ mãi cái câu anh trả
lời khi em bảo hải quân không có những cây
thịt to, cao nghệu như không quân. Anh bảo hải
quân coi ốm o vậy chứ mà "yếu" lắm. À,
sức mạnh của anh là ý chí, là kiên nhẫn
phải không. Những gian truân, thất lạc đã
cướp mất của anh một phần thể xác nhưng
đã dâng hiến cho anh những kinh nghiệm sống
khôn cùng...
Hắn là con người lì lợm thật, dám đi
song bước với tôi như một cặp tình nhân
đang độ yêu nhau. Cái gương mặt rắn
rỏi, cái thân xác gầy gò, cái làn da tái
mét của hắn như bị gió biển sóng cồn
cướp mất đi hồng huyết cầu.
- Cô về nhà?
- Tôi về nhà à! Cũng nên lắm...
Ðó, hải quân tán gái đó anh. Những
lời nói có vẻ thô lỗ, cục mịch làm sao
như bàn tay gồ ghề, như đôi môi thâm
đen vì nhựa thuốc. Hải quân ngụy trang với
bộ đồ trắng, bộ đồ dạ demi-saison để
bọn con gái hiểu lầm. Mà có phải hiểu
lầm lắm không anh? Em yêu anh cũng vì màu
áo hải quân. Hắn cũng như anh chỉ thích
đi bên em và yên lặng, một sự yên lặng
bề ngoài. Cái đêm cuối cùng trước khi
anh trở về Sài Gòn và nụ hôn ràn rụa
nước mắt làm sao em quên được hở anh.
Lũ đàn ông, con trai các anh tham lam quá, tham lam
đến độ không chịu bỏ rơi người mình
yêu khi đã hết yêu. Nhiều đêm trong căn
gác trọ em đọc lại những bức thư mà anh
thỉnh thoảng gửi về cho em. Bây giờ anh ở
đâu? California hay Texas? Anh là người nhái hay
là kỹ sư thủy đạo gì đó hở anh.
Không bao giờ anh nói cho em hiểu rõ ràng một
điều gì, cho đến cái tên của những cô
nhân tình của anh. Em biết tất cả và lạ
gì với cái tánh bướng bỉnh của anh từ khi
bỏ đệ thất hạm đội trốn về Sài Gòn,
ở Duyên Ðoàn làm đơn xin đổi chỗ
khác vì lý do không thích hợp với đơn
vị trưởng, cũng như sáu tháng trời đày
ải Poulo Obi.
- Nhà cô ở đường gì?
- Tôi cũng không biết tên... nhưng tôi có
thể mò về được.
Giọng hắn trầm hơn giọng đại-hồ-cầm
nhưng tôi vẫn thích thế. Cái dáng điệu
cứng nhắc của hắn có cái gì ngại ngùng
và đáng thương lạ. Không hiểu tại sao
bọn đàn ông hay theo đàn bà nói những
câu ngớ ngẩn. Cảm tình gì với những
người một năm không gặp lấy một lần.
Hắn làm tôi buồn cười vì tôi thấy hắn
còn non choẹt, nhưng cái điệu tán gái ỡm
ờ của hắn chứng tỏ rằng hắn bất lịch sự
lắm chứ chẳng phải chơi. Có lẽ hắn bạo
dạn. Tôi cũng đồng lõa bạo dạn như
hắn, đã âm thầm bước đi. Tôi cũng
không muốn xua đuổi hắn ngay bây giờ...
Anh Miên à, đôi lúc em thấy bối rối lắm
rồi. Ngày tháng cứ trôi đi cũng như anh
còn lang thang, lênh đênh sông hồ, rồi đây
những chiều Ðà Lạt, Huế, Bonard làm em thấy
rùng mình trong cơn buốt giá tâm hồn. Em
đã mất anh rồi hay sao? Em muốn ở mãi trong
vòng tay bao dung của anh. Em muốn anh ở gần em, dù
cho một phút giây nhỏ nhặt nào cũng đủ
làm em mãn nguyện. Hơn hai năm trời em đã
không làm nên tích sự gì với chứng chỉ
dự bị khoa học. Có lẽ em sẽ học luật
để thấy tâm hồn em không còn cằn cỗi,
để em còn thấy lý lẽ đời mình, một
lý lẽ thu hình như con ốc đang nằm yên trong
vỏ. Nhiều đêm bấn loạn trong trang sách,
những ý nghĩ lộn xộn trôi qua trong trí óc
em. Xã hội này có suy đồi lắm không và
em đã trụy lạc hay chưa. Anh đã đi rồi,
đi xây dựng cuộc đời, đem tình thương
trang trải khắp miền đất nước quê
hương. Anh phải làm cho dân Việt ngoi lên,
thoát khỏi vòng nhược tiểu. Anh đã làm
gì và anh biết không ở cái thành phố nên
thơ trầm lặng này đã có lính Mỹ, lính
Ðại Hàn, lính Úc, lính Phi, lính Biệt
Ðộng Quân, Nhảy Dù, Không Quân, Hải
Quân... Chiến tranh là một hiện tượng phải
không? Chiến tranh đã cướp mất của em
những người thân yêu, đã cướp mất
của anh cuộc đời nhung lụa. Anh Miên ơi, bao
giờ mình mới được vui...
- Ðã đến rồi đấy à?
- Vâng, đứng đợi một chút.
Tôi vòng cửa sau vào, bật đèn, mở cửa
trước. Hắn bước vào ngã mũ để
trên tủ búp. Salon dầy một lớp bụi, ẩm
mốc, trên bàn con còn mấy miếng mứt gừng,
một gạt tàn đầy ắp. Mạng nhện
nữa! Hắn lấy khăn tay trịnh trọng lót ngồi
trong khi tôi tìm cây chổi lông. Hắn xoa tay
lấy thuốc ra hút tự nhiên và tôi ngồi yên
ngắm làn khói. Hắn mỉm cười.
- Ở một mình có cô đơn lắm không?
Tôi thấy hắn như tiếc lời, lâu lâu mới
nói một câu cụt ngẳn như ra lệnh. Tôi
nghĩ hắn khô khan quá hay hắn suy tư chuyện
gì. Ðàn ông luôn luôn mang trong mình một
tâm trạng đang lo, lo đại sự, đại để
như làm sao giữ được người mình yêu.
Hắn làm tôi không ưa được với cái
tính thật đàn ông đó... Gió tạt
vào thềm và tiếng xào xạc của những hàng
cây ngoài đường. Lạnh quá! Hắn
đứng dậy vứt tàn thuốc rồi khép cửa.
Tại sao hắn không tấn công tôi! Hắn lười
biếng cũng như những con thằn lằn bất động,
chỉ ngó mà không buồn "đớp" mấy con muỗi.
Tôi không hiểu hắn ra làm sao cả và chắc
hắn cũng không hiểu tôi tí gì. Rồi hắn
đến ngồi cạnh tôi, nhìn tôi thật lâu,
vòng tay qua lưng tôi từ tốn:
- Anh hôn em.
Tôi không kháng cự và hắn hôn thật đúng
cách. Hắn làm người tôi mềm nhũn, rã
rời... Tôi xoay người gối đầu trên bệ
để tay, duỗi chân đẩy hắn ra cho thoải mái:
- Hãy để tôi yên một chút!
Mắt tôi nhìn lên trần nhà lem luốc, ướt
sũng nước mưa...
Cái tổ uyên ương của chúng mình ngày
xưa đó anh. Mấy vỏ chai whisky, mấy cái ly
còn nằm trong tủ kính, chậu hoa nylon đã bạc
màu, mấy khung ảnh playboys sứt rách. Ngần ấy
còn đọng lại mặc dù anh Duy đã tu bổ
rất nhiều. Em không hiểu anh Duy tậu ngôi nhà
này làm chi mà năm khi mười họa mới về
ở một lần. Anh còn nhớ anh ấy không? Bây
giờ là đại úy pilot. Ảnh có vợ rồi
mà chưa bao giờ làm đám cưới.
Ðược gần hai năm thì cô nàng bỏ đi.
Tội cho anh Duy chỉ biết tìm quên trong những
chuyến bay. Lẽ sống của anh Duy chỉ còn là
những làn bom đốt rừng, những huy chương
đầy ngực. Một lần phi cơ bị cháy và ghi
nhận là mất tích trong trận chiến mùa mưa
miền Trung. Hơn tháng sau thì mò về gặp lại
em cười: "Tao mà chết trong trận đó đem xác
về sẽ được ân thưởng Bảo Quốc Huân
Chương." Ngày xưa anh thân với anh Duy lắm
mà. Anh Duy là con một, say nghiệp sống, còn thả
mình trong dòng suối đam mê. Cũng như anh đi
mà không bao giờ trở lại. Em vẫn muốn sống
một mình để còn yêu anh. Nhưng em có giữ
được anh đâu. Ðời anh là những
chuyến đi dài nối tiếp. Anh còn nghĩ rằng
hải quân lấy vợ là nuôi con hàng xóm, thà
để hàng xóm nuôi con mình nữa hay không. Anh
quá lắm. Anh không có vẻ gì đẹp trai,
gầy nhom, mắt sâu, màu da đen thui, dáng lêu
nghêu như người nghiện mà sao được
nhiều người thương. Em vẫn thích vẫn
hãnh diện vì anh. Tại sao hải quân mười hai
bến nước mười ba bến tình mới sống nổi
hả anh? Căn nhà này giờ đây buồn tẻ,
đâu còn vẻ ấm cúng thuở mình sống bên
nhau như vợ chồng. Những đêm anh đi chơi
về khuya mưa ướt cả áo. Anh lại uống
rượu nữa. Anh làm em lo. Em xoa dầu cho anh. Anh
ngủ thật say và lúc nào cũng nằm sấp,
đầu nghẻo sang một bên... Anh Miên ơi,
đó là giấc mơ của chúng mình phải không
anh. Nhiều đêm em thao thức nhìn bóng đêm,
em nghĩ như anh còn bên em, em khẽ gọi: "Miên
ơi, anh đâu..."
Hắn di tàn thuốc, khẽ đứng dậy sửa lại
nếp áo:
- Thôi tôi đi, tôi sẽ trở lại thăm.
À, tên gì nhỉ?
Rồi hắn vạch tay xem đồng hồ. Hắn cũng
giống anh ngày xưa mỗi bận đi bờ.
- Mấy giờ vào trại? Tôi tên Thùy.
Hắn gật gật đầu rồi lững thững quay đi.
Ở hắn có gì hao hao giống anh. Cái miệng như
muốn nhếch mép cười khinh đời. Em bắt
đầu so sánh rồi đó, một sự so sánh
khách quan. Hắn sau anh năm khóa. Em có thể
yêu hắn không? Tại sao hắn không ở lại
đây đêm nay. Một sự mơn trớn, dễ
dàng. Hắn muốn giữ kỷ luật. Là sinh viên
sĩ quan mà không nhảy rào, không ở tù thì
không phải là sinh viên sĩ quan đúng nghĩa
phải không anh? Lại một khóa nữa. Các anh
mỗi năm một lần đem sóng gió về cho thành
phố này, cho những bông hoa miền duyên hải luôn
luôn dành những cảm tình tha thiết nhất cho
lính tàu. Từ ngày em yêu anh, những chuyến xe
lam về quân trường trở nên quen thuộc, cổng,
điếm canh, phòng điều hành cũng như lối
về câu lạc bộ trong những đêm dạ vũ
vẫn còn là những hình ảnh thật sống trong tim
em. Biết rằng kẻ nào tiếc nuối dĩ vãng
vàng son, mơ ước một tương lai rực rỡ,
mà không sống cho hiện tại thì rốt cuộc
cũng không nên chuyện gì. Nhưng, em biết
làm sao hơn. Em không muốn bắt đầu lại cho
một mối tình với những đón đưa
thương nhớ. Tất cả dừng chân qui tụ vào
một điểm cuối cùng như celestial point kinh dị
trong chuyến về Guam của anh, mênh mông trong vòm
trời này như bể cả, đại dương. Em
không còn lộ trình cho chiến đĩnh. Con
đường tiếp nối cũng không khác gì con
đường đã qua, sẽ là sóng gió bão
bùng, sẽ là chịu đựng. Con đường tình
yêu đã là lối mòn trong tâm tưởng của
em, của anh, của tất cả mọi người.
Em cầu nguyện cho chúng mình được bình an
và mùa Giáng Sinh năm này em không mong gì hơn,
những tội lỗi, đam mê, trơ trẽn của mình
được gột rửa. Em sẽ không ở đây
một ngày nào. Em đi...
back to top
05. CHỖ HẸN
NGUYỄN TẤN HƯNG
Thiềm châm một điếu thuốc rồi rời
băng đá đi dọc theo đường sắt dọc
theo bờ sông lên chợ Hàn. Tàn cây nối
tiếp nhau trên cao đưa ra lộ như mặt tiền
một hangar. Thiềm đưa tay vuốt những bụi
mưa bám trên mí mắt rồi thọc tay vào áo.
Những đám mưa thờ ơ, nhẹ nhàng của buổi
sáng ở một thành phố miền Trung luôn luôn
dành cho khách lạ sự ngạc nhiên thích thú.
Bầu trời như chìm trong sương u buồn ảm
đạm. Các cửa hàng vẫn làm việc và
người đi cũng tấp nập trong yên lặng.
Trước mắt Thiềm áo màu như dạ vũ.
Áo đi mưa, áo blouse dài ngắn đủ kiểu
đủ loại. Thỉnh thoảng một đôi giày
bóng loáng, một chiếc áo dài được nhìn
luộm thuộm dưới gót chân, cặp kè vượt
qua mặt Thiềm. Tự nhiên Thiềm thấy vui vui.
Một vài hạt nước lớn, đọng mãi trên
cành rơi thành tiếng nhỏ trên vai áo. Thiềm
muốn tìm lại một cảm tình nồng nàn dành cho
quê hương, nhưng trí tưởng tượng của
Thiềm không còn sức bén nhạy. Sự thực
là vậy, chỗ nào đối với Thiềm cũng lởn
vởn mùi chết của chiến trận. Người ta
nói tới đã nhiều rồi, người ta nghĩ tới
cũng nhiều rồi, bao nhiêu cách trình bày cũng
y hệt như Thiềm đã chứng kiến. Có khác
chăng vừa chứng kiến xong thì chết, còn Thiềm
vẫn sống. Bởi vậy cho nên cái không khí
hòa trộn với khói súng ở thành phố vẫn
chưa làm Thiềm hoàn hồn. Nhưng, giây phút
này đối với Thiềm là một đặc ân.
Thiềm chưa hiểu mình phải hưởng như thế
nào, vui như thế nào. Phía xa kia là Ngũ
Hành Sơn với chùa Non Nước, gần lại là
cầu Trịnh Minh Thế dẫn về bán đảo Tiên
Sa và sát bên mình mặt sông rộng thênh thang,
vài chiếc thuyền con xuôi dòng. Bao nhiêu đó
quen thuộc với Thiềm từ lâu. Thiềm muốn vạch
cho mình một lối mới, nhưng hình như đó
là lối gần nhất để "trở về." Dù chỉ
một thời gian rất ngắn, bằng nhiều lý do bó
buộc, Thiềm thấy khó khăn hết sức, nghĩ mãi
rồi cũng không còn lối thoát. Thiềm gán cho
mình hai tiếng "trở về" để tự an ủi dù
đó là sự phản bội với chính mình.
Lúc nào Thiềm cũng cố dằn nỗi bực bội
không đâu để chỉ muốn nghe một lần thật
sự "trở về," sự ấm cúng của gia đình.
Bước chân không chủ định cũng dìu Thiềm
đến nơi. Trời lạnh căm căm, những chiếc
lá khô dán xuống mặt đường, ướt một
lượt nước mỏng phơi bày thân xác.
Thiềm chùi giày vào mảnh bao trước nhà gõ
cửa đứng đợi.
- Ồ, anh Thiềm, anh đến chơi, vào trong đi anh,
ướt hết...
Con đường sắp đến khúc quanh. Hai
bên bờ đê là ruộng gò bỏ hoang, cỏ mọc
cao lên đến ngực, trổ bông lấm tấm.
Thỉnh thoảng người ta còn nhận ra vài vuông
nhà nhỏ trong bóng cây cao, mái tranh đổ
xuống. Chủ nhà bỏ đi, đương nhiên
trở thành lô-cốt hoặc điểm kích đêm.
Phía xa giáp với chân núi là làng, suốt
ngày suốt tháng chỉ còn lại những cây cối
trơ ngọn, những mồ mả và nền đúc bằng
xi-măng. Màu xanh cũng trở nên xám ngắt, tàn
lụn rồi hòa đồng với đất núi, phải
nhìn thật lâu thật kỹ mới hiểu được
đó là nơi trù phú thịnh vượng một
thời. Thiềm quen mắt hơn, rất hài lòng vì
đã tìm được vết đen lưng chừng của
một ngọn dừa đứt đôi ngọt lịm giữa
tàn cây. Chỉ có chỗ duy nhất của Thiềm
mới nhìn thấy được. Thiềm chọn một
mô đất ngay chỗ đó làm chỗ định cư
cho hai mươi bốn giờ trừ hai bữa ăn và giấc
ngủ tạm bợ. Dọc hai bên bờ đê, cách
khoảng độ trăm bước một người không
phân biệt chủng tộc, Việt Nam, Mỹ, Ðại
Hàn... cũng được, ngồi đó ôm súng
ngó chừng xuống mặt ruộng. Một bức tranh dị
thường, một trò đùa không có tiếng
cười...
... Ðoàn xe bị kẹt mỗi lúc một dài thêm
ở hai đầu. Mười lỗ mìn làm sạt
đất xuống con lạch nhỏ trông như giao thông
hào. Mặt lộ chỉ còn một nửa để đi
lại. Từ tờ mờ sáng Thiềm còn thấy
đoạn chót, bây giờ có chút nắng, cái
đuôi của đoàn xe chắc dài không kém
đoàn quân dùng làm vòng đai cho con lộ...
Những hạt sương còn đọng cao trên ngọn
cỏ, trong vắt, đong đưa theo chiều gió rồi
rơi tòm xuống đất hoặc tan ra nhiều hạt nhỏ
phản chiếu long lanh. Thiềm đủ thì giờ ngắm
nhìn, nghiên cứu thiên nhiên. Từng cục
đất, con kiến, cọng cỏ non, tính chất và
công dụng không biết để làm gì. Dạo
trước, Thiềm gác giặc giữ đường như
thế này ở miệt Lăng Cô dọc ra Huế. Ban
ngày còn nhìn thấy những đoàn tàu đi
sửa chữa đường sắt. Thiềm cố ý
để mắt theo dõi cho đến lúc nó chui vào
đường hầm. Một nỗi vui nhỏ nhoi nào
đó trong tiếng cọ sát rập rình của bánh
xe mà Thiềm nhớ thuở thanh bình xa xưa. Thiềm
vẫn thích đi xe lửa như muốn đi du
lịch... Ban đêm nhìn đèn điện phía
Cầu Hai phía xóm nhà nối tiếp, còn thấy sự
sống, còn thấy nền văn minh... Rồi sau đó
Thiềm lại đổi lên đóng dọc theo đèo
Hải Vân. Thiềm bắt buộc ngắm mây bay là
đà, bắt buộc phải hưởng cái mát lành
lạnh của gió núi. Lắm khi nhìn khách trên
xe ngậm "pipe" phì phà ấm cúng, Thiềm ước ao
cũng được như vậy. Những cây cầu bắc
ngang qua lòng suối, những quãng đường cong queo
và vực thẳm, bên này Thiềm có thể hình dung
tổng quát hải cảng Ðà Nẵng với thương
thuyền tàu chiến và bên kia một cái đầm
rộng lớn với đủ thứ lờ, lưới, đăng,
đó cùng ghe thuyền đánh cá nhỏ nhoi.
Thiềm tiếc hoài không có nổi một máy ảnh
để ghi lại một trời lang thang... Còn ở
đây bây giờ tệ quá, chỉ có cỏ may và
tranh khô trên gò. Cỏ may còn cho Thiềm một
cọng bông ráy tai chứ tranh khô chưa biết phải
làm gì. Ban đêm u buồn hơn bao giờ hết.
... Ánh nắng càng lúc càng gay gắt. Mặt
trời ngang đỉnh đầu. Cái nóng hâm hấp
trong người, thái dương mồ hôi chảy thành
dòng. Thật lâu rồi đoàn xe không còn
nhúc nhích nữa. Có chiếc buồn quá tắt
máy, có chiếc để ga-răn-ti thỉnh thoảng bực
tức rú lên vài cái ồn ào nhức óc nhức
tai. Một vài bà bạn hàng vấn lại lá
thuốc Cẩm Lệ bập bập trên môi oang oang bàn
chuyện...
- Bén nhau thì bén, đường xé mà có
tọi gì.
- Từ Ðà Nẽng đi Họi Ăn mấy chục cây
số mà đi từ séng đến giừ, ở nhà con
khọt con le.
- Này, này, ở đèng trước làm răng
chú?
Thiềm quay lại ngước nhìn, chưa tìm
được ai hỏi vớ vẩn như vậy thì tiếp
theo những tiếng cười rũ rượi:
- Hén là Ðại Hèn...
Một vài tiếng súng chỉ thiên, một bàn tay
lông lá, to lớn dơ lên ra hiệu lùi lại,
một câu nói nộ nạt không ai biết gì...
Thiềm mỉm cười, lắc đầu. Viên đất
trong tay đã đổi màu, bóng loáng. Thiềm
thấy mình vô tư quá trên bao nỗi lo lắng
của mọi người. Thiềm không có quyền,
không đóng góp được gì ở nơi
này. Chỉ cần cái thẻ có hình giống
người là đủ. Tội cho những người dãi
dầu mưa nắng, lem luốc một chút là bị giữ
lại không cần phân trần, không cần ra dấu.
Rồi quen đi, như phong tục mới của xứ đồi
núi. Nhục nhã rồi cũng sẽ quen, lẽ tự
nhiên. Nhìn lại từ đầu đến chân cái
gì không là của ngoại quốc. Bỗng nhiên
Thiềm nghĩ nhiều đến quê hương, khung trời
thân yêu đó ngày nào bé thơ Thiềm
đã sống và lớn lên bình thản, tràn
đầy yêu thương. Từ một ngôi trường
mái tranh vách đất, từ một gốc phượng,
từ những bờ đê ruộng vườn mênh mông.
Những giây phút trầm mặc đó không giữ
được lâu trong trí não mặc dù Thiềm rất
mong muốn. Thiềm sợ lắm sự dày vò tâm
tư, sự thất lạc lý trí. Mỗi lần như
thế, như luôn luôn in trong trí nhớ, Thiềm mở
bi-đông đánh ực một ngụm nước. Thiềm
cố nghe tiếng nước chảy trong lòng huyết quản
như đã khô cằn từ lâu.
... Trời đã về chiều, ánh nắng vàng
nhạt soi mói Thiềm trong cơn đói lả, trong bữa
ăn chực sẵn trên lều. Từng chiếc xe một
lừ đừ vượt qua đều đặn, tiếng máy
nổ với mọi cố gắng mệt mỏi. Một khoảng
thời gian đủ để một quả bom rơi xuống trong
làng nay đã thành mật khu, nghĩa địa.
Những cột khói dâng cao thay cho khói cơm chiều
trong tiếng phản lực cơ rền rĩ như thúc
giục bóng đêm. Những khuôn mặt đăm
chiêu lo ngại đường xa không tới...
Thiềm vương vai đứng dậy trông chừng toán
đi kích ra thay vừa quan sát mọi người trên xe
để hi vọng tình cờ bắt gặp một người,
một người Thiềm đã yêu thương mật
thiết.
Không hiểu tại sao Thiềm phải "bay" về
thành phố mà chưa bao giờ Thiềm cảm thấy
thích thú. Nhưng đã đi rồi thì không
về nhất là về cho đúng giờ cơm. Có
lẽ nào chúng bạn chê cười Thiềm không
còn chỗ đi chơi, không có mục gì mới
lạ! Thiềm đơn độc, mồ côi... Hai
bên vỉa hè mọi thứ bày bán lặt vặt
ngổn ngang. Trên trần sạp những chiếc áo mưa
hai màu, những sợi dây nịt to bản lủng la, lủng
lẳng. Dưới nền bù loong, hộp quẹt,
ci-ra... Người ta nghĩ ngay đến sự lậu thuế
và sự tấp nập vui vẻ của chợ trời. Thiềm
ngắm nhìn, trả giá nhưng không dứt khoát
được gì. Cả một thành phố náo nhiệt
này không còn món nào để Thiềm chọn
lựa, ưng ý.
Những đám mây đen trôi lầm lì trong cơn
gió lạnh càng lúc càng nổi lớn. Khi thành
phố sắp sửa lên đèn thì trời cũng bắt
đầu rớt hột. Một lớp nước lẫn cát,
vàng đục đặc quánh tăng vẻ nhớp nhúa
cho con lộ. Mọi người lom khom dưới mái
hiên, dưới mấy tấm poncho. Các gian hàng thu
dọn gấp rút. Cơn mưa càng lúc càng nặng
hạt, dai dẳng. Từng cặp, từng nhóm đứng
sát lại chen chúc nhìn những giọt mưa làm
lỗ chỗ mặt đường. Thiềm châm lửa
hút, nhìn những cô gái đứng co ro bên
cạnh. Hai tay buông thõng, mặt cúi xuống mơ
màng. Cố lấy tinh thần để thốt lên một
lời tán gẫu, nịnh đầm nhưng rồi Thiềm
vẫn yên lặng. Một ý nghĩ trên đôi
môi bóng mịn trên khuôn mặt ngây thơ.
Giá trời bỗng nhiên tối hẳn lại, chắc Thiềm
sẽ dành một chiếc hôn tha thiết nồng nàn
nhất đời trong giây phút kỳ thú này. Mưa
vẫn rơi nhưng đã nhẹ hạt, và mọi
người lần lượt kéo nhau ra về. Ðến
lúc không còn đối tượng, Thiềm mới chịu
khoác áo mưa lầm lũi. Thiềm nghĩ có thể
Thiềm bỏ tiền ra để ngủ một đêm nhưng
thôi...
- Ồ, anh Thiềm, anh đến chơi, vào trong đi anh,
ướt hết...
Thiềm cũng lấy làm lạ là hình như chỉ khi
nào trời mưa Thiềm mới đến căn nhà này,
nghe lại câu nói này, duy chỉ lần này là ban
đêm. Thiềm cố nhắc lại một vài kỷ
niệm không ra gì mà ngày xưa Thiềm và
Phượng đã đi chơi với nhau như không
quen. Nơi xứ lạ, gặp lại người đồng
hương dù ghen ghét thù hằn cũng dễ dàng
thân mật. Thiềm cố lợi dụng điểm đó
để bắt tình với Phượng không là gì
của nhau đã đi làm sở Mỹ, đã khá
giả, tiện nghi. Phượng hỏi Thiềm đã nghĩ
thế nào cho Phượng, có gì khác hơn
không? Hẳn nhiên Thiềm nhận thấy ở
Phượng một lối sống già dặn, từng trải.
Từ xưa kia Thiềm không muốn tìm hiểu ở
Phượng. Nhưng bây giờ, ngay lúc này, Thiềm
bắt đầu mặt dày mày dạn, thô bạo táo
gan. Thiềm tỏ tình, nửa đùa nửa thật:
- Ðêm nay chắc anh phải ngủ lại đây chớ
anh chẳng còn biết đi đâu. Phượng thưa
với má thử xem.
Phượng trầm ngâm không nói. Một thời gian
dài im lặng đủ để nghe một dãy dài
tiếng cắt kè. Ðầu óc Thiềm quay cuồng
một âm thanh ô nhục. Thiềm nhìn lớp nhung
trên tay ghế, nhìn cái ti-vi, giải rideau rồi
ngượng ngùng:
- Mà thôi, phiền quá hả, anh tìm nơi khác
cũng được.
Phượng đứng lên khép cánh cửa, che bớt
gió. Thiềm cảm thấy trong người nóng bừng
lên, cố mỉm cười tự nhiên như để vui
vẻ kiếu từ.
- Ồ, anh ngủ lại đêm này cho vui. Phượng
ở nhà có một mình. Mấy em và má
Phượng đã đáp phi cơ về Cần Thơ
thăm bà ngoại rồi...
Thiềm ngạc nhiên không vì lời nói của
Phượng mà vì tâm hồn Thiềm đã trở
nên thế nào rồi. Phượng đã đỡ
lời, phá bỏ cái ngột ngạt của một sự
cầu xin, nài nỉ...
Rồi một ý nghĩ một cảm giác lạ thoáng qua,
Thiềm nhìn Phượng từ đầu đến chân,
thèm muốn, nghi ngờ...
back to top
06. BẾN CẠN
NGUYỄN TẤN HƯNG
Hoàng hôn đã lan tràn sớm hơn mọi
khi vì những đám mây nước phía trời
tây. Khu bến tàu thưa thớt. Những chiếc
tàu hàng cũ kỹ, đưa những cần trục rỉ
sét tua tủa trên sàn. Những xác tàu chìm
được kéo lên cạn, những chiếc tàu dòng,
tàu LCVP nằm yên trong vịnh. Khoảng đường
sắt không còn dùng bất động với những
thùng to làm chỗ để hàng, để trú mưa
nắng. Mấy chiếc xà-lan ken nhau thay cho cầu
cập... Còn bên kia bờ, khu mới thiết lập,
tàu bè ngoại quốc đủ các màu cờ đậu
san sát. Những cột ống khói, những cửa kính,
cửa hublot, những đường sơn sóng nước
thấy rõ từ đàng xa. Những trụ sắt, những
cây đà gỗ, bù-loong chứng tỏ sự vững
chắc của cầu cập. Trên nền được
đúc bằng xi măng có đường viền cẩn
thận. Dây cable, dây gai to cỡ buộc chằng chịt
vào các trụ bittle. Ở đó là một thế
giới riêng biệt, không phải ra vào dễ dàng
như ý muốn. Nhưng đó là phần đất
Việt Nam...
Lam để mắt nhìn một vòng rồi quay về với
thân phận. Nhân viên cuối cùng đã trở
về chiến hạm. Chiếc Yabuta nổ dòn tách xa.
Máy kéo neo chạy rần rật. Vòi nước rửa
bùn, cát theo dây xích tuôn xuống biển làm
đục ngừ một vùng...
- Tả tiến hết.
- Tả tiến hết.
- Máy tả tiến hết.
Tàu bọc theo doi, trườn qua mỏm núi lướt
đi. Tiếng ra lệnh của sĩ quan trưởng phiên,
tiếng lập lệnh của người "thủy thủ lập
lệnh," truyền xuống phòng lái, hầm máy... qua
hệ thống ống loa, tiếng thi hành lệnh dội trở
lên đều đều như những cơn sóng giữa
trùng khơi.
- Hai máy tiến hai.
- Lái, hai máy tiến hai.
- Tiến hai. Hai máy tiến tiến hai.
Phao đã lên đèn. Ðấu hiệu bên cạn,
bên sâu dẫn lối vào bến ngoằn ngoèo.
Ðài ra-đa trên đỉnh núi chạy lùi trong
khoảnh khắc. Người thủy thủ đứng sau
lái chiếc PGM neo gần bờ đưa pô-lô vẫy
bạn. Một lối tiễn đưa. Tàu ra khơi bao
giờ cũng buồn, nhất là trời chiều hôm nay,
lòng người cảm thấy bâng khuâng, lưu luyến
những phút giây bến bờ. Bầu trời xám xịt
và gió lạnh tạt qua vùn vụt. Tàu còn đi
cũng như Lam còn cô đơn. Lam thấy như
vậy mặc dù ở thành phố nào Lam cũng
được chiều chuộng săn đón. Ðó chỉ
là những gì tạm bợ. Lam cố nghĩ là mình
đang vui nhưng không khi nào mãn nguyện. Hình
như lúc nào Lam cũng có thái độ đi tìm
và không hiểu đến bao giờ Lam mới bắt
gặp. Ý nghĩ đó làm niềm suy tư của Lam
trở nên nửa đường... Thành phố chỉ
còn là một vừng sáng. Rặng núi tiệp màu
không gian. Ðêm xuống. Antenne ra-đa quay đều
và đèn hải hành bật cháy. Những lưỡi
sóng cao dập vào mạn mũi, tàu dạt đi trông
thấy. Nhân viên im lặng làm việc không phải
vì nhiệm vụ vất vả, khó khăn, nhưng có
lẽ không ai muốn thốt ra một lời nào thừa
thãi, một câu đùa cho phí sức. Rồi tàu
bắt đầu lắc mạnh. Những cánh cửa "kín
nước" quên khóa, mở ra đóng vào rầm rầm
theo nhịp sóng. Các móc, khoen, rõ rẽ đong
đưa, lủng lẳng cọ vào thành trục tạo
thành một vết mòn. Ðường dây cột
thuyền con, chiếc "you-you" dùng để
đi bờ, rít lên kẽo kít mỗi lần tàu
nghiêng đến độ. Những lượn sóng dồn
dập nâng cao mũi rồi chúi xuống đánh "binh"
vào mạn lườn. Tất cả rung chuyển như
muốn vỡ ra, rần tay nắm. Nước biển bị
sàn mũi múc lên bay tung tóe theo làn gió mạnh
thành những hạt sương muối bám vào tóc,
mặt. Rít chịt. Hốc hác. Cứ như thế
này một lúc cả bọn bò lăn ra cho mà coi.
Người ta nhìn lính thủy với một ý nghĩ sung
sướng, ăn chơi? Mỗi lần như thế Lam có
ý nghĩ khác: "nếu được một lần quá
giang chiến hạm chắc không ai dám bước xuống
tàu lần thứ hai." Ấy vậy mà người lính
biển phải sống mãi. Lam cười thầm...
- Bên phải 5.
- Lái. Bên phải 5.
Trong tíc tắc, tiếng phòng lái vọng lên:
- 5 bên phải. Tay lái 5 bên phải.
- Ðọc "cấp" liên tục.
- Lái. Ðọc "cấp" liên tục.
- ..., 120, 125, 130..., 150...
- Lái thẳng như vậy.
- Lái thẳng như vậy.
- Lái thẳng, 150 độ, hai máy tiến hai.
- Lái đàng hoàng nghe.
- Nghe.
- Ai lái đó.
- Hạ sĩ Kiên đây.
Những ánh chớp bắt đầu xoẹt và tiếp theo
những tiếng nổ rền trời. Cơn mưa giông
sắp tới. Mọi người nhìn về phía chân
trời trước mặt. Những đám mây đen
đổ xuống thành hàng như trăm ngàn con rồng
đang hút nước. Lam bước xuống ghế:
- Ði vào đường chưa Yên?
- Dạ xong rồi, hạm trưởng.
Lam lại bàn dở hòn đá cuội, xem nhật ký
hải hành. Giờ, 19g30. Vân độ, 8.
Hướng, 150 độ. Gió, đông đông
bắc. Vị trí, 197 độ Poulo Gambia, 15 hải
lý. Trên hải đồ, những point vị trí lệch
lạc theo lộ trình. Những dấu hiệu gọi hạm
trưởng được ghi đầy đủ vào những
vùng nguy hiểm có nhiều đảo san hô hay vũng
cạn... Rồi bỗng nhiên, kình... ào, ào,
ào... Compas, bút chì, tẩy, thước crass
(thước song song), ba
bốn hòn đá cuội theo chiều nghiêng rơi ngổn
ngang xuống mặt sàn. Người thủy thủ già
ôm "lầu hải bàn" văng xuống thềm. Lam với
tay giữ chặt cầu thang... Rầm... rầm, rầm...,
lon-ton, lon-ton... Ðồ vật không được giữ
thi nhau lăn lóc. Những giọt mưa lớn hạt rơi
lộp độp trên trần đài chỉ huy, bay vào
mặt rát rạt. Kình... ào, ào,
ào... Ðôi bàn chân như bị dở hổng
lên và người chực bay đi.
- Cho ba khoảng cách.
- Ci-ai-ci (Combat Information Center).
- Nghe.
- Cho ba khoảng cách làm point coi.
- Ra-đa không có écho...
- Ra-đa không có écho, thiếu úy.
Yên hét to:
- Không có écho? Coi kìa, coi kìa..., gọi
phòng lái xem lái kiểu gì quay mòng mòng kỳ
cục vậy.
Người "thủy thủ lập lệnh" đưa mồm vào
ống loa:
- L... ái.
- Nghe.
- Ðọc cấp coi.
- 170 độ.
- 170 độ, thiếu úy.
- Bên phải 10.
- Bên phải 10.
- 10 bên phải. Tay lái 10 bên phải.
- Hữu tiến hết.
- Lái. Hữu tiến hết.
- Ðài chỉ huy.
- Nghe.
- Máy hữu tối đa 2000 vòng.
- Sao vậy, cơ khí đâu, điện thoại hầm
máy...
Mưa lòn vào khe, hốc, ướt ngoi ngóp. Ánh
đèn hải hành leo lét trong bóng đêm. Ánh
sáng lân tinh của làn sóng chạy dài lấp
lánh. Kình... ào, ào, ào... Người thủy
thủ ôm cột hải bàn từ từ quỵ xuống. Quan
sát viên buông vội ống dòm xuống ngực, dang hai
tay chụp lấy thành tàu. Viên hạ sĩ vận
chuyển vừa lượm dụng cụ hải hành vừa ói
mửa lên láng. Sĩ quan trưởng phiên đầu
trần, mũ casquet rơi vào trong góc, áo quần bê
bết. Lam lần tay đi lại ghế:
- Qua bên trái, phải đi chẻ sóng.
- Bên trái 10... Chắc bão tới hạm
trưởng...
- Bên trái 10.
- 10 bên trái. Tay lái 10 bên trái.
- Gọi trung sĩ Khánh bắt liên lạc vùng xem sao.
- Dạ.
- Lái thẳng như vậy.
- Lái thẳng như vậy.
- Lái thẳng. 160 độ, hai máy 2000 vòng...
Gió càng lúc càng mạnh, sóng càng lúc càng
cao, mưa càng lớn, tàu càng quay. Trôi dạt,
không còn phương hướng. Tất cả nghiêng
đổ, văng bên này, quật bên kia. Chiếc phao
đào thoát bay vụt ra xa, rơi tọt xuống
biển...
- Gọi phòng lái, lái cẩn thận.
- Phòng l... ái...
Chưa nói hết câu, hắn mửa ào ào trong ống
loa. Lam thấy chới với. Sàn tàu trơn trợt,
nhớp nhúa. Hãy gắng lên, bám vào vị
trí. Lam thấy lẫn lộn, cột buồm, ra-đa, máy
chính, máy điện, chân vịt... Lam dang hai chân
cố đứng thẳng người. Lượn sóng ụp
tới, phủ nước lên nửa con tàu. Áo thấm
nước mưa, sát vào da, lạnh như cắt. Còn
một máy, sóng tới nữa. Biển giận dữ,
cuồn cuộn... Ào, ào, ào... Tàu dựng
đứng chồm lên sóng. Không còn thấy hải
đăng, không còn bến bờ...
Lam vào phòng riêng, thấm những giọt nước
còn sót lại trong vòi vào khăn, lau mặt.
Tiện nghi xuống đến mức độ tối thiểu sau
cơn bão lốc.
Trên là trời, dưới là
nước, giữa là ta
, Lam mỉm cười với lấy
tờ nguyệt san, để nguyên đồ mặc, giày
vớ, ngã lên giường. Chiếc quạt máy quay
hết tốc độ, hơi nóng còn vất vưởng xung
quanh. Lam nhắm mắt một giây nghĩ như vầy là
quá hạnh phúc, rồi mở đôi tờ báo úp
lên mặt.
Lam thức giấc, không biết mình đã ngủ bao
lâu. Bước lên đài chỉ huy mới hay bây
giờ là "hoàng hôn thiên văn," hoàng hôn của
những vì sao, cho vòm trời đầy sao của mùa
đông này. Vách sắt, cửa kính lấp lánh
tinh thể muối, đọng lại sau những ngày tuần
dương. Ngoài khơi những tàu dầu, tàu Shell,
tàu viễn dương đèn sáng như đuốc
hoa. Thành phố Cấp rực rỡ. Vịnh yên như
mặt hồ. Lam đưa tàu rẽ vào nguồn, dòng
sông trải ra phẳng lì trong bóng đêm trông
như đồng lúa xanh màu. Ra-đa chết. Không
sao. Nỗi khao khát đoàn tụ gia đình của
thủy thủ đoàn và của chính Lam thúc giục.
Không còn gì nguy hiểm nữa. Một cơn bão
rớt, một đêm lạc đường, nhìn đèn
Kê-gà ra đèn Rạch-trang thì đã sao. Tóc
rối bời, râu mọc dài lởm chởm. Lam quyết
định, "còi nhiệm sở vận chuyển." Tàu
không neo, không, tàu đi. Tiếng còi tàu như
đã đọc lên và hòa lẫn với niềm ao
ước của mọi người. Sài gòn, Sài gòn
đẹp lắm...
Lam về Mỹ Tho. Căn nhà vừa được
quét nước vôi trở nên sáng sủa. Mái
ngói đỏ au. Bên hiên còn khoảng trống,
che fibro-cement làm nhà xe. Chiếc Simca 1000 xinh xắn.
Xung quanh có vườn hoa, những con đường nhỏ
trải đá trứng, những viên gạch đỏ xếp
xiên xiên thành hàng. Phía sau là giếng
nước, hồ chứa. Ðó, công trình dành
dụm của Lam từ bao nhiêu năm nay! Lối xóm quen
thuộc, họ cùng sống với Lam từ thuở Lam còn
đi học trung học, với những căn nhà tồi tệ
hơn cũng chính trên mảnh đất này. Con
đường chưa được trải cao su, với những
bóng đèn điện lu mờ. Những trụ sắt
của hãng CEE khiêm tốn. Nhưng khu phố có
tiếng là mát và sạch sẽ. Lam rất ưng ý
với tổ ấm của mình trong những ngày về bến
vui vẻ, êm đềm. Chỉ là những khoảng thời
gian ngắn ngủi thôi. Trong nhà đồ đạc
vén khéo. Ở phòng khách, ngoài tủ
búp-phê, bộ sa-lông..., Lam cho kê thêm một
bàn giấy cạnh cửa sổ...
- Anh Lam về bây ơi.
Rồi cả bọn túa ra vây quanh, mỗi đứa nói
một câu, đứa nắm tay, đứa cầm sac tay, níu
kéo. Lam thấy vui vui trong niềm vui của một
người anh. Việc trước tiên là Lam thay
đồ, tắm rửa rồi ra nhà sau nằm võng hoặc
thả lăn trên nền gạch nhà trên. Lam chẳng
thích leo lên giường nệm bây giờ. Lam châm
lửa, hút, và nghĩ đến những việc làm
cần thiết trong những ngày ở lại đây, đi
thăm bạn bè, đi phố với Hoài, Trinh. Khi vào
nhiệm vụ Lam đứng đắn bao nhiêu lúc về
nhà Lam trẻ con bấy nhiêu. Lam thích cười
đùa.
- Này Trinh, cưng lấy xe lên đón Hoài xuống
chơi nghe.
- Anh mới về là đã lo cho cô nàng rồi,
phải chi ba má được vậy.
Lam cười:
- Thôi mà, nhờ một chút mà, được
việc đi.
- Ừa...
Hoài và Trinh học một lớp và Lam biết Hoài
từ hồi còn bé. Hồi ấy Lam không để
ý, cứ xem Hoài như em gái, như Trinh. Hoài
có nước da thật trắng và môi đỏ như
son. Rồi Lam đi lính, dĩ vãng đi lần vào
quên lãng... Nhưng, một lần nào Lam viết
thư về thăm Hoài, rồi những liên hệ đặc
biệt bắt đầu. Hoài viết thư hay lắm,
đọc đến mê. Lam tỏ tình khi cả hai ở hai
phương trời và Lam được đáp lại
bằng những dòng chữ tha thiết, hứa hẹn. Lam
sống trong tình yêu bằng những cánh thư hơn
một năm trời, và những lần về phép sau
đó hai đứa dè dặt ý tứ, cử chỉ.
Lam có đôi lần đến nhà thăm Hoài, chỉ
gặp má Hoài, còn ba Hoài thì lúc nào cũng
đi làm xa. Hoài có người anh đã lập gia
đình và ba người em gái nhỏ. Hoài hay
mắc cỡ và dễ hờn... Bây giờ ai cũng
biết chuyện, mọi người khen Hoài đẹp và cho
Lam là có phước.
- Lâu quá không gặp, trông anh có gì khác
không mà nhìn ghê vậy.
- Anh ốm và đen thêm.
- Như vậy thì không sao, tưởng đâu anh
sứt tai vẹo mũi... Còn Hoài thì lúc nào
cũng đẹp, hai đồng tiền dư giả này cho anh
có được không?
- Anh quỉ...
- Chiều nay Hoài rảnh chứ?
- Không rảnh cũng không được.
- Anh lấy xe lên đón Hoài đi phố nhé.
Lúc này Việt Cộng có về thường không.
Ngại quá, nhà cửa gì ở xa tít mù. Xuống
ở đây đi học có tiện hơn không.
- Tụi em đi trước à.
- Ừa, chút nữa anh sẽ lên sau. À, nhớ
chừa cho anh phần trái cây nha.
Nhà Hoài nằm trên quốc lộ 4, trong một khu
vườn rộng lớn. Trước nhà có cầu bắc
qua con lạch nhỏ. Cổng đi vào thật đẹp
có hoa thiên lý, hoa tóc tiên. Và bên trong
người ta nhận ra một trang trại được khởi
lập hơn là một gia đình đơn giản.
Chiều chiều ra bờ lạch ngồi câu cá, tối tối
dọn bàn ghế ra sân ngồi uống trà ngắm
trăng. Nhưng, thời này làm lính ít ai dám
về ở đêm. Chỉ còn lại những người
giữ nhà, chăm nom vườn tược, những cây
xoài ráp, những cây mận hồng đào, cam quít.
Chỉ có lũ nhỏ ở nhà, má Hoài có việc
đã xuống chợ Mỹ Tho chưa về. Cả bọn
làm cơm ăn lấy. Xong bữa cơm chiều, chỉ
có Lam theo Hoài trở lên phòng khách. Biết
có người theo đuôi, Hoài xoay người lại,
bất chợt bị Lam ôm chặt vào lòng. Rồi
Lam lơi vòng tay đẩy nhẹ Hoài áp vào
tường. Ðôi mắt Hoài long lanh, rực sáng.
Lam nhìn làn môi còn bóng nước. Một vẻ
gì quyến rũ, ru Lam vào cảm giác say sưa ngây
ngất. Lam đưa tay nâng cằm rồi ngắm nhìn
khuôn mặt Hoài thật lâu. Hoài chớp mắt
mỉm cười:
- Anh kỳ quá...
Hoài đổi ý không chịu đi phố, viện lẽ
mắc coi chừng nhà, coi chừng em. Cũng được.
Lam theo Hoài ra vườn hoa phía sau trò chuyện
đến tối mới mò về nhà, lòng phập phồng
chỉ sợ Việt Cộng về bất tử...
Vào thời buổi này, cha mẹ lặn lội đi thăm
con cái là sự thường, nhất là con trai bỗng
nhiên mang tội bất hiếu. Mỗi lần về là
mỗi lần ba má từ quê lên thăm Lam, thăm
ngôi nhà xinh xắn. Những bữa cơm gia đình
ngày xưa Lam không thấy gì đặc biệt, nhưng
bây giờ rất có ý nghĩa vì có sự hiện
diện của ba má của những người thân yêu.
Gia đình sum họp và mọi người như bỏ
tất cả những gì riêng tư cho bầu không khí
chung đầm ấm. Tất cả được chiều
chuộng cũng như tự chiều chuộng lấy mình. Ai
cũng muốn những ngày này, những ngày có Lam,
những ngày vui qua mau được vui trọn vẹn.
Những cách biệt về đời sống, lối cư
xử... quên đi trong khoảnh khắc. Có gì hơi
giả tạo, Lam cũng biết thế. Chỉ bao giờ mình
ở trong tình trạng chung sống mới rõ những niềm
cảm thông sâu xa. Buổi tối, má và Lam nói
chuyện thật khuya. Má dành nhiều thì giờ
để nghe nhiều hơn nói. Bao nhiêu chuyện xảy
ra, đã làm, đã gặp, đã hòa mình
đều được Lam kể lại đầy đủ như
một bản phúc trình. Kể cả những câu
chuyện về bạn gái. Hơn ba mươi tuổi rồi
mà Lam vẫn còn bé bỏng trước gương mặt
dịu hiền của mẹ.
- Mày lớn rồi mà sống còn dở hơi quá.
Ba mày hồi trẻ cũng vậy, nói mấy cũng không
được.
Ba má Lam dạy con bằng cách hoàn toàn thả lỏng,
để con cái tự học và nhận chịu những gì
cuộc đời mang lại. Lam đã sống trong cảnh
hèn hạ nhất, đau khổ nhất cũng như hạnh
phúc nhất. Lam vẫn sống tự do, hành động
theo ý riêng của mình...
Mấy ngày về bến thắm thoát trôi qua, lại
đến ngày lên đường, ra khơi. Lam xếp
đồ vào sac tay thong thả:
- Ði lần này chắc lâu lắm mới về. Ai
là người trông nhiều nhất?
- Lần sau nhớ mua quà đặc biệt cho Hoài
đó.
- Mua cho Hoài con bọt biển nhé, nó sẽ bò
thành hàng vào chân em, quỳ lạy..., chịu
không?
- Bữa nay trông anh Lam đẹp trai ghê.
- Muộn quá, tới bây giờ em mới biết sao Trinh.
Má nhìn Lam mỉm cười:
- Nhớ coi còn bỏ quên món gì nữa không?
- Hết rồi. Còn gì?
Lam véo má Hùng, thằng em út, rồi bước chân
ra nhà xe...
Lam được đổi về bờ hơn hai
tháng nay. Căn cứ hải quân Tân Châu.
Thành phố này tuy nhỏ nhưng không kém vẻ ồn
ào náo nhiệt. Ðiều mà Lam để ý là
từ đây trở về nhà chỉ hơn hai trăm cây
số, một ngày đường với chiếc Simca, Lam có
thể trở về nhà bất cứ lúc nào. Công
việc không lấy gì bề bộn cho lắm. Ngoài
việc tuần tiễu trong những nhánh sông chằng
chịt, chương trình phối họp hành quân với
đơn vị bạn cướp thì giờ của Lam nhiều
nhất. Lam chưa làm được việc gì quan
trọng ngoài việc tu bổ căn cứ. Cổng chính
được đắp thêm mấy ụ cát đặt
thêm súng liên thanh phòng thủ. Và hơn tuần
lễ nay Lam chỉ có đọc sách... Lam rời phòng
giấy ra ngoài sân cờ ngồi hóng mát. Bên kia
sông, hình quảng cáo xăng con sò đậm nét.
Tàu buôn, ghe thuyền lên xuống như mắc
cửi. Bên này chiến đĩnh cập cầu
pon-toon thành dãy. Dòng nước chảy lừ đừ
đục ngầu, Lam búng vèo tàn thuốc ra xa... Lam
bỗng nhớ đến Hoài, băn khoăn ray rức.
- Thưa đại úy, có công điện.
- Công điện gì, khẩn, thượng khẩn.
- Dạ, thanh tra thường niên.
Lam gật đầu bước vào văn phòng... Lam
nghĩ hoài mà không sao hiểu nổi. Bao nhiêu
dự định bỗng dưng dừng lại và một sự
chờ đợi dai dẳng. Lam chưa muốn khám phá
vội, lỡ ra sự thật đúng như vậy thì
buồn nhiều. Thà là để mình còn hi vọng
chút ít. Lam không thể ngờ được, đôi
lúc Lam cũng quả quyết, nhưng rồi tư tưởng
bị bóp méo đi như để tránh tội lỗi.
Liệu mọi người có thể chấp nhận hay không
và nền luân lý cổ truyền này nữa. Lam
chưa tin hẳn vào những chứng cớ. Ðó chỉ
là những gì nhớ lại, một thời xa xưa, lúc
ấy Lam chưa biết gì. Không thể qui trách
nhiệm về mình. Nói chung, Lam phải dấu mọi
người một chuyện: vũng tối và niềm riêng
suy tư. Nhưng lúc nào Lam cũng cảm nhận
những tia mắt soi mói, bắt gặp. Tình yêu
giữa Hoài và Lam đang độ nồng nàn, Lam
nghĩ không thể nào thiếu được. Hoài
thì sao? Hoài có linh cảm chăng? Không, Hoài
vô tư lắm...
Vào thời đó bọn
người lớn bấy giờ yêu nhau, họ không
đòi hỏi nhiều phương tiện. Một chiếc xe
đạp đi hai ba chục cây số để ngủ với
tình nhân một vài đêm là chuyện thường.
Không có giặc giã, miền quê Việt Nam hoa màu.
Cây cầu này, ngõ vào này, ngôi nhà này
không gì khác cả
... Lam thành thật chưa
hiểu nổi. Bọn Trinh cứ gọi Hoài là chị
sáu. Lam thứ năm, đứa em kế mất, rồi
đến Trinh. Hoài được lấp vào chỗ
trống. Hoài làm con nuôi? Những lần về
quê, Hoài vẫn bếp núc, vẫn công việc, vẫn
đùa giỡn với mấy đứa em của Lam. Hoài
cũng gọi ba, gọi má. Ðôi lần Hoài mua
quà gửi về. Không lẽ có sự trùng hợp
ly kỳ vậy. Những lúc họp mặt đầy đủ,
Hoài không có gì gượng ép trong vai "người
con." Nhưng với Lam, những cử chỉ, ánh mắt
đã bắt đầu có gì là lạ. Hoài
trách Lam rất nhiều và điều đó gây trong
đầu Lam một nỗi thắc mắc to lớn. Hoài
đã hiểu sự thật? Mà thế nào là sự
thật?
... Tao không tin mày đã có gì
dính líu. Tao nói thế, mày biết mà dè
dặt. Tao không hiểu trời xui đất khiến thế
nào mà Hoài nó lại tìm về. Má mày
không hiểu gì đâu. Tao nhiều đêm suy
nghĩ
... Bao nhiêu dự định của Lam bỗng
nhiên ngừng lại. Ðến lúc Lam muốn có một
gia đình một tổ ấm thì khó khăn lại
đến. Lam chờ đợi một sự xác nhận? Ba
dành tình thương cho Hoài thật nhiều, thấy
rõ. Có thế thôi. Lạ thật. Làm sao có
thể quên được hình bóng Hoài... Lam lấy
vài ngày nghỉ, cấp tốc về nhà. Lam đến
thăm Hoài, gặp lúc Hoài đang ngủ. Dáng
người thoải mái, chăn đắp nửa người,
hai tay đan vào nhau chấp lên ngực. Rèm mi dài
cong đều đặn. Những sợi tóc mai xõa bên
tai, làn da trắng ngần. Lam nhìn thật lâu và
ý nghĩ Hoài là vợ Lam làm Lam sung sướng.
Như mọi lần, Lam nắm tay Hoài cúi
xuống... Hoài bừng tỉnh:
- Anh Lam. Không. Ðừng làm vậy...
Tiếng nói nhỏ dần như sợ mọi người nghe
thấy. Lam thì thào:
- Sao vậy, Hoài.
- Em..., em...
Trở về đơn vị, mấy ngày sau Lam vẫn còn
suy nghĩ về những cử chỉ khác lạ của Hoài.
Lam chưa hiểu gì cả và nghĩ mình đang sống
trong mơ.
Và khoảng một tháng sau tiếp theo đó, Lam cũng
không hiểu nổi biến cố Mậu Thân và cuộc
tổng công kích. Lam lại vọt về nhà. Lam
vượt qua mấy trạm kiểm soát, lái xe vào
thành phố. Thiết giáp và kẽm gai đầy
đường. Phố không còn ai, nhà nhà đều
đóng cửa. Những người lính áo quần
bê bết bụi đường cầm súng đứng
canh. Tiếng đạn bom nổ rất gần, phía khu nhà
của Lam. Tiếng máy bay phản lực, tiếng "rocket"
nổ chát chúa. Từng cuộn khói đen bốc lên
cao. Lam rẽ vào nhà thằng bạn, Lân hấp tấp
nói:
- Nhà mày chắc tiêu rồi, đánh lớn
lắm. Tụi nó vô bốn năm tiểu đoàn.
Còn giao tranh kịch liệt ở khu bến xe Mới, Bờ
giếng trên, Hãng xáng.
- Không hiểu tụi Hoài, Trinh như thế nào?
- Hôm qua tao có gặp Trinh. Nó bảo cả xóm
bị thương, chết tùm lum. Ở trong nhà mày
nữa. Cả chục thằng núp sau hồ nước.
Ngoài lộ súng bắn vào như mưa. Ở lại
là chết, nên nó đứng dậy đưa hai tay
chạy băng ra đường. Con nít người lớn
túa theo trong làn đạn. Người cuối cùng
bị thương ngã quỵ, không biết là ai. Có
thằng Việt Cộng chết nằm vắt trên cửa sổ
nhà mày. Xe nồi đồng bị B 40 cháy hết
một chiếc...
- Mà mày biết tụi nó ra sao không? Bây
giờ ở đâu?
- Theo anh hai lái xe Hồng Thập Tự xuống dưới
nhà thương.
- Có như vậy. Thôi tao đi đây.
Lam quày xe trở ra. GMC, Jeep chạy xả ga. Lam bị
những người lính chận xét dọc đường.
Một lúc lâu Lam mới đến nơi. Căn phòng
ngủ trực của anh hai Hồng thập tự bây giờ
chứa đếmấy mươi người.
- Anh Lam kìa.
- Ừa,...
Lam nhìn Trinh, Hoài và những ngươi quen trong khu
phố. Những bộ mặt buồn thảm, những đôi
mắt chưa khô, còn đỏ chạch. Dưới sàn
cây ván ép, nồi niêu, chén bát ngổn ngang...
- Tiêu hết rồi chú Lam ơi. Tụi tôi còn
sống đây là cũng nhờ cô Bảy.
- Bom nổ ngay trên nóc nhà mình, tường sập
hết trơn, tủ ghế gãy bét ra.
- Không đứa nào có sao cả hả? Thằng
Hùng đâu?
- Nó nằm ngủ kia kìa.
- Phải hôm Tết về dưới quê với ba má
thì có sao đâu. Hoài có về trên nhà
chưa?
- Dạ, đường đi đi không được,
đang đánh nhau. Không hiểu má em thế nào
nữa.
- Thôi, đừng về nghe, nguy hiểm lắm...
Bên ngoài tiếng con nít khóc thét lên.
Người đàn bà quơ roi rượt thằng nhỏ
chạy vào lều. Tiếng ồn ào không ngớt...
Lam theo tàu trở lại. Bây giờ bắt
đầu bằng hai bàn tay trắng. Không còn gì
ngoài chiếc Simca. Bộ quân phục mới may còn
thơm mùi vải... Chiều tối. Lam cầm ly "cocktail"
đưa lên miệng. Người cố vấn Mỹ đang
nghe máy 25. Khoảng sông đen ngòm. Hai bên bờ
những hàng dừa cao, những loại cây không biết
tên mọc um tùm. Gió lành lạnh. Cuộc
đời hải nghiệp không gì hơn bằng mang vào
mình huy hiệu hạm trưởng,
bánh xe nước
mía với bốn chữ "TÀI-ÐỨC,"
"KỶ-LUẬT."
Mà đã là hạm trưởng
thì không còn trẻ nữa. Lam là một trong
những người hùng của Hạm Ðội. Những
dòng sông, những bến bờ quê hương này
đang được bảo vệ bởi bàn tay người
lính thủy, những người không ngại mưa nắng,
ngày đêm. Cái nóng nung nấu khối sắt đen
ngòm, bốc hơi nghẹt thở. Cái lạnh thấm
vào xương tủy, phải trùm áo dạ, áo lông
cừu. Những vì sao, những con đom đóm làm
quà.
- Ðài chỉ huy. Hướng 10 giờ có écho.
- Écho 10 giờ, thiếu úy.
- Nghe. Theo dõi.
Lam kéo cao cổ áo, rời ghế ngồi bước ra
thành tàu. Dòng sông đến khúc quanh. Tàu
đi giữa dòng bóng đêm dày đặc. Bóng
đèn "5watt" soi lộ trình trên hải đồ leo
lét.
- Écho tả hạm.
- Écho tả hạm, thiếu úy.
- Nghe.
Tâm, người sĩ quan trưởng phiên, cũng
bước ra ngoài bao lơn lõ mắt nhìn. Lam không
thấy gì cả. Chắc là ghe buôn. Sao lại
không đèn đuốc. Chỗ này là khúc nguy
hiểm... Tạch, tạch..., tạch..., chát..., véo...
Lửa tua tủa, xẹt vào mạn tàu...
- Ghe Việt Cộng?
- Còi nhiệm sở tác chiến!
- Còi nhiệm sở tác chiến, còi nhiệm sở
tác chiến...
Một loạt AK đi trọn vào đài chỉ huy.
Thằng Mỹ ngã gục, đầu lõm một lỗ, máu
văng tứ phía. Lam chạy nhanh lại khẩu mười
hai ly bảy, lên cơ bẩm, quạt. Tiếng nổ dòn
hơn bao giờ hết...
- Bên trái, rẽ bên trái, tay lái hết.
- Tay lái hết bên trái.
Những khẩu đại bác hai mươi ly, bốn
mươi ly bắt đầu nhả đạn. Tất cả
sẵn sàng. Chiếc ghe chài cỡ lớn đang đâm
thẳng vào chiến hạm. Tiếng đại bác nổ
bùng bùng...
- Hạm trưởng để em.
Lam buông tay ngã vào thành bao lơn. Máu chảy
tuôn từ vai xuống ngực. Ầm..., ầm... Ánh
lửa đỏ rực, chiếc ghe chài bốc cháy. Hầm
đạn nổ, lửa túa lên cao đầy khói.
- Hạm trưởng..., hạm trưởng... hotel tango,
thẩm quyền một bị thương, y tá đâu mau
lên, mau lên...
Lam choáng váng nhìn chiếc ghe chìm từ từ trong
ngấn nước, mỉm cười rồi ngã vào đôi
tay người thủy thủ...
Lam được đưa về bịnh viện ngay trong
đêm đó, và chỉ vài ngày sau Lam hồi
phục. Ðiều đáng nói là vết thương
trên cánh tay không làm Lam đau nhức bằng vết
thương trong tim, nhất là những giây phút cô
đơn trên giường bệnh. Chỉ còn có một
cánh tay có thể hoạt động. Lam đưa cánh
tay trái ốm tong bóp múi cam cho nhỏ nước vào
miệng, chép môi. Mùi cam thơm mát... Rồi
bỗng nhiên có tiếng nói bên mình:
- Anh Lam, anh có sao không?
Lam nhìn Hoài trân trối, ngỡ mình đang mơ,
lần đầu tiên lạc vào lối mộng. Hoài
đặt tay lên lần vải băng mới thay còn
tươm máu xúc động, rơm rớm nước
mắt. Lam khẽ gọi:
- Hoài...
rồi lịm đi trong cơn mê...
Khung phòng rộng rãi, màu vôi xanh nhạt. Trên
tường còn tấm lịch Cogido và bức ảnh khỏa
thân của chủ trước. Bên này kê một
chiếc giường lớn, verni thật bóng, có trụ
móc màng. Cạnh cửa sổ còn bộ sa-lông,
một lọ hoa huệ bằng pha-lê. Ngoài trước
là bao lơn trông xuống mặt đường. Lam
về đây hơn một tuần chờ cắt băng.
Bột đóng cứng, gõ nghe cong cóc. Suốt ngày
Lam không biết làm gì, thì giờ trống trải.
Vết thương bớt nhức nhối ở vai, ngực. Lam
tập viết bằng tay trái, lật sách đọc tiểu
thuyết bằng tay trái. Buổi trưa và chiều
Hoài mua thức ăn về, cả hai dùng bữa. Lam
múc từng muỗng cháo, hớp từng hớp sữa cảm
động. Hoài đã đi làm và trời xui
đất khiến lại đổi về bịnh viện này
sau những ngày loạn lạc. Một trung tâm y tế
toàn khoa. Hai người trông như một đôi
vợ chồng trẻ. Hoài đẹp quá, Lam như chưa
bao giờ thấy ai đẹp hơn nữa. Những giờ
Hoài đến sở, Lam cô đơn, buồn vô hạn.
Buổi sáng, buổi tối Lam thường bắt ghế ra
ngoài bao lơn, ngồi hút thuốc nhìn dây điện
đường, nhìn những bảng hiệu bên kia hè
phố. Tất cả sụp đổ và niềm suy tư cô
đọng. Ðã nhiều lần Lam có ý nghĩ
đánh bỏ mọi thứ và sống cho riêng mình.
Nhưng, có lẽ thượng đế đã an bài.
Hoài là em một phần hai dòng máu của Lam.
Không thể được. Ba Lam và má Hoài có
hiểu cho hai đứa không? Lam không muốn liên
hệ, không muốn ràng buộc gì với những
người không cùng một thế hệ. Lam không
muốn gánh chịu gì cả.
Bóng tối tràn đầy. Ngọn đèn đêm
trên đầu giường tỏa ra vàng nhạt. Lam
nằm nghiêng người sang trái. Hoài ngồi cạnh
Lam săn sóc móng chân. Bàn tay thon dài mềm
mại, trắng muốt. Lam nhìn chiếc nhẫn hồi nào
Lam tặng Hoài trong một buổi chiều tàu ra khơi:
- Bao giờ em còn đeo là ngày ấy em còn yêu
anh.
Hoài vẫn yêu Lam và Hoài sẽ đeo nó mãi
mãi. Những kỷ niệm trải ra trong không gian,
những vụ hè, những ngày thánh lễ, những nụ
hôn thiết tha. Liệu Hoài và Lam có thể giữ
mãi như thế này được không. Hoài và
Lam có tội gì? Lam cố đè nén những uất
ức, chất chứa trong lòng lúc nào cũng chực
vùng lên. Ðêm đến, hai đứa ngần ngại
không dám ngủ chung giường. Hoài trải drap
xuống nền gạch, và Lam có ý định đi
thật xa. Những ý tưởng xung khắc dồn
dập. Sự mơn trớn của tình yêu, của xác
thịt cùng sự trổi dậy của lý trí. Lam
bất động tưởng như mình đã chết.
Một ngày nào đó Hoài sẽ phải đến
với một người đàn ông khác. Lam nhắm
mắt không muốn nghĩ ngợi gì thêm...
- Lam anh, anh không là anh của em, em yêu anh Lam ạ.
Lam nghĩ Hoài muốn nói như vậy. Liệu xã
hội này, luân lý này có chấp nhận cho
điều đó không... Lam bỗng nhiên ôm chầm
lấy Hoài, xiết chặt Hoài trong vòng tay. Con tim
rộn rã. Hoài ngã người xuống giường,
rồi nước mắt chực trào ra đưa tay vuốt
tóc Lam:
- Lam, em yêu anh...
Rời bệnh viện, trở về tàu, Lam cúi hôn lên
trán Hoài lần cuối. Cả hai cùng im lặng. Em
là em gái của anh. Nhưng, anh sẽ yêu em mãi
mãi cũng như anh yêu con tàu này. Ðừng bao
giờ bỏ tàu, "don't give up the ship, ever." Lam hiểu câu
nói thêm một ý nghĩa nữa. Anh sẽ đi mãi
mãi ngoài khơi với tình thương này còn
sót lại. Bến tìm yêu chỉ là bến cạn
của tâm hồn...
back to top
07. HẠM TRƯỞNG VÀ NGỌC
NGUYỄN TẤN HƯNG
Cử có ý định đi hải quân từ hồi còn
nhỏ. Có lẽ vì màu áo hải quân, màu
trắng, trông đẹp mắt. Con gái cũng hợp
với màu này, màu nữ sinh, màu trinh nguyên trong
trắng. Chiều nào ra cầu tàu, Cử thấy mấy anh
thủy thủ lởn vởn trong công viên, anh nào cũng
có bồ. Hào hoa, phong nhã. Với màu áo hải
quân, mình có xấu trai thế mấy đi nữa cũng
có người theo, có người mê mệt. Cử
thấy mình như đã tìm ra chân lý.
Chí
làm trai nam bắc đông tây. Cho phỉ sức vẫy
vùng trong bốn bể
. Bốn bể, năm bể? Phỉ
sức vẫy vùng? Với Cử như có nghĩa là
"vòng tay này sẽ... ôm hết thiên hạ."
Lớn lên, ý định đi hải quân của Cử
cũng lớn lên theo. Vì mấy lần "đưa em sang
sông" về miền Gò Cát, mấy lần Cử cảm
thấy thắm thía với cảnh sông nước bồng
bềnh, nhấp nhô lượn sóng. Tình cảm
đó, tình cảm tuổi thơ thật đẹp, thật
nên thơ. Thêm chữ "thọ" dán chần dần lên
trán nữa thì đi hải quân cũng là một
chọn lựa lý tưởng. Cũng đâu phải dễ
vô. Tú tài hai, ban B. Thi tuyển, hai ba ngàn lấy
một trăm rưỡi. Ðó là một thách thức,
và chính vì sự thách thức này mà Cử cố
gắng hết sức mình để đạt cho được
kết quả. Cử được toại nguyện. Ngày
giã từ bạn bè, giã từ người thân lên
đường nhập ngũ tòng chinh, Cử thấy mình
cũng là người hùng, đôi chút. Có lẽ
vì thời thế mà thôi, chứ thật ra trong thâm
tâm, Cử chẳng thấy mình là Kinh Kha sang Tần hay
là Lê Lai liều mình cứu chúa gì cả.
Cái tư tưởng bấp bênh, không bến bờ
đó của Cử rồi cũng từ từ chìm xuống
lòng đại dương qua hai năm huấn nhục, quần
thảo ở quân trường. Cử trở thành một
sĩ quan hải quân gương mẫu và quyết lòng
phục vụ quê hương với tài năng và nhiệt
tâm của mình. Sĩ quan nào mới ra trường
mà không mang ý nghĩ đó. Nhưng rất tiếc
thực tế nó khác, rất khác.
- Ðù me..., anh là sĩ quan. Tôi cấm anh
không được chơi với đám hạ sĩ quan
dưới tàu, anh nghe rõ chưa. Ở đây là
chiến hạm, không phải như ở bờ. Tụi nó
lờn mặt là có ngày nó nổi loạn. Anh hiểu
chưa?
Ô hay, sao lại có việc này? Mấy câu này
đâu đã ghi trong sách vở hải quân,
chương nào trang nào? Áp lực của hạm
trưởng lại "nặng cân" đến như vậy
sao? Cử có cảm tưởng mỗi lần ông hạm
nhà mình bước chân xuống tàu, tàu "khẳm."
Với cái không khí bị đè nén, ngột
ngạt. Tự ái bị tổn thương. Hiểu cái
gì nữa. Ðủ rồi.
Cái ý tưởng bấp bênh, không bến bờ ngày
nào của Cử như bị va chạm vào đáy quá
mạnh cho nên nó dội lên, trồi lên, nổi
lên. Cử nghĩ mình phải biết ma-lanh, phải
biết đối phó, phải trả đòn với ông
hạm trưởng hay dở trò bắt nạt của mình.
Cho ổng biết tay. Cử đâu có còn là một
sinh viên sĩ quan ngơ ngác như con nai vàng nữa.
Nhưng làm cách gì để đối phó với
ổng đây. Phải sống theo "nghệ thuật sống
trong quân đội." Phải bày tỏ điều gì
mình nghĩ, mình muốn. Ðợi cấp trên hiểu
mình bằng lương tâm của họ trong im lặng
thầm kín thì mình đã trầy vi tróc vảy
rồi. Phải nói gì đây?
Tàu ủi bãi. Bãi Sao Mai, tại vì đối diện
với trường trung học Sao Mai. Nhưng,
tàu về
bến, em hẹn mình ra phố
..., mà trúng ngay ngày
mình trực thì không còn gì xui bằng.
Ðứng trên đài chỉ huy nhìn xuống, thấy
cảnh anh em sửa soạn đi bờ, ra vào cửa đổ
bộ mà bắt chán. Hạm trưởng nữa, xe jeep
tới đón cũng đậu sẵn bên đường.
Cử thở dài, chớp chớp cặp mắt buồn nhìn
quanh. Dòng sông. Sông Hàn. Con đường
dọc bờ sông. Ðường Bạch
Ðằng... Ðà Nẵng. Mới chạm mắt lần
đầu mà coi bộ có điềm trắc
trở... Cử định xuống ca-bin thay đồ nghỉ
cho khỏe thì thấy Ðô, bạn cùng khóa làm
cơ khí trưởng trên tàu, đang nhấp nhô leo
lên cầu thang. Cử định nói: "Bổn phận
mày ở dưới hầm máy, thì ở dưới hầm
máy. Leo lên đây làm gì cho thêm tối
nước." Nhưng, sợ bạn mình mất mặt với
Hải, thằng hạ sĩ quan phụ tá trưởng phiên
của Cử, nên Cử đổi giọng:
- Sao? Mày thấy trên này có lý
không? Trời trong gió mát.
- Mày trực bữa nay hả?
Câu hỏi như móc một cú ngay vô bảng
họng. Cử nghĩ mình thương tình nó, nói
đẹp làm đẹp cho nó mà nó chưa hiểu
lại còn chơi trò bắt bí theo kiểu hạm
trưởng nữa. Thằng này không hiền gì, Cử
xì-nẹc:
- Biết mẹ nó hết rồi còn làm bộ hỏi.
Mày vừa vừa thôi...
Thằng Hải bỗng nhiên xen vào:
- Thiếu úy, thiếu úy mượn thiếu úy
Ðô trực giùm đi. Xứ này của ổng,
ổng rành quá rồi, ổng đâu cần phải đi
bờ... Thiếu úy cũng biết, ông hạm nhà
mình tàu cặp bến là ổng đi tuốt luốt
luôn, chừng nào tàu sắp chạy ổng mới trở
về, ông còn sợ gì nữa.
Thằng này thiệt là gãi đúng chỗ ngứa.
Nhưng hạm trưởng đã cấm không cho chơi với
đám hạ sĩ quan mà! Mà không chơi với
đám hạ sĩ quan thì chơi với ai? Cử phân
vân không biết thằng Hải nói thiệt hay nói
giỡn, tuy nhiên cũng quay qua hỏi Ðô:
- Sao mậy? Mày nghe nó nói có lý không?
- Ai biết đâu mày. Ăn thua giữa mày với
ổng thôi, sợ ổng về bất tử, chớ tao bữa nay
không đi bờ, tao coi tàu cho mày cũng được.
Cử quay lại Hải:
- Mà anh có rành đường đi nước
bước ở đây hay không mà đòi đi.
- Cầu Vòng, Chợ Cồn, Ngã ba Cây Lang đâu
đó tôi không bảo đảm chứ từ đây
lên chợ Hàn thì tôi rành rồi. Tôi dẫn
thiếu úy đi ăn bún bò Huế. Chỗ này
không bằng bún bò Trần Bình Trọng nhưng ăn
được lắm... Ơ, mà kia kìa, thiếu úy
coi, ông khỏi cần ăn ông cũng thấy ngon
rồi...
Tan trường. Ðúng là
em tan trường về,
đường mưa nho nhỏ..., em tan trường về anh
theo
... Những tà áo nhởn nhơ đua bay
trước gió như đang thách thức Cử, thúc
giục Cử. Màu nữ sinh, màu trinh nguyên trong
trắng. Và Ðà Nẵng. Những bông hồng
miền biển, một thành phố miền biển, và nỗi
khao khát muốn tìm hiểu cho nhau trong lần gặp gỡ
đầu tiên, cuối cùng đã lôi Cử ra khỏi
tàu... Sợ gì, hạm trưởng đã vọt
rồi...
Không mấy chốc hai thầy trò Cử nhập bầy với
đàn áo trắng. Những bước chân như
khắc dấu xuống đường, những bước chân
âm thầm sẽ in bóng trong tâm tư. Những giây
phút ngỡ ngàng, trong lôi cuốn, mời gọi. Sẽ
là kỷ niệm, sẽ để đời, nhớ đời.
Cử thấy tâm hồn mình trắng như trang giấy,
một trang giấy mới mở ra, đang đợi chờ
những dòng chữ từ một bàn tay mềm mại...
- Thiếu úy, tui đố thiếu úy chớ hai cô
đi trước mình đây cô nào đẹp.
Thằng này nhập đề coi bộ nghe được, Cử
nghĩ vậy, nhưng vẫn trách:
- Nói nho nhỏ thôi, nói lớn quá người ta
nghe hết. Anh làm như anh là thần thánh, mới
nhìn phía sau mà đã biết phía trước.
- Kinh nghiệm mà thiếu úy, thiếu úy không tin
tôi hả? Tôi chỉ cần nhìn hai bàn tay là
đủ biết rồi.
Hai bàn tay? Ðôi bàn tay buông thõng tự
nhiên biến đi đâu mất, chỉ còn hai mái
tóc thề ngủn ngẳn ngang lưng.
- Cô này.
Hải vừa nói nhỏ vừa chỉ tay vào cô đi
phía ngoài.
Cử muốn coi thử tài đoán
mò của Hải đến đâu, bắt đầu
bước nhanh hơn để vượt qua mặt hai cô
gái. Hải hiểu ý, rẽ vô phía trong lề,
tăng vận tốc. Cử ngạc nhiên, không phải
vì thằng Hải nói trúng, mà đúng ra vì
khuôn mặt của cô gái. Mới ngó ngang ngang
mà đã thấy thơm mát, dịu hiền
rồi... Ði trước độ một khoảng,
Hải kéo Cử dừng lại, quay lại chận
đường:
- Xin lỗi hai cô, hai cô có cần thiếu úy tôi
đưa về không ạ?
- ...
Thôi chết rồi, người đẹp ai mà đi trả
lời cái câu hỏi xán xả như vậy. Thằng
này làm hư bột hư đường rồi, Cử
nghĩ vậy. Phần Cử, Cử còn thấy ngượng
ngượng, chưa quen với mốt tán gái dọc
đường. Cử định nói một câu mở
lời mà không sao tìm được ý.
- Hai cô có bằng lòng hay không thì thiếu úy
tôi cũng theo hà.
Nữa, thằng này lại cứ đổ thừa, đổ
tội cho mình. Nhưng mà nó nói cũng
đúng! Không bằng lòng mình cũng theo
mà. Không theo mà sao bốn người
đang dàng hàng ngang, chiếm gần hết nửa con
lộ? Rồi có người sợ Cử bị xe đụng,
đi chậm lại, chậm lại. Thằng Hải cũng đi
chậm lại. Thành hai cặp. Cử cảm thấy dễ
chịu hơn, nhưng hồi hộp hơn, lúng túng
hơn. Bây giờ không còn thằng Hải, mình
phải nói một câu gì để lấy lòng,
đâu có im lặng hoài được. Cử bắt
đầu:
- Tôi tên Cử, xin lỗi cô tên gì?
- ...
Vừa nói xong đã thấy câu nói không hợp
thời trang chút nào hết. Nhất là khi người
đối tượng của mình không thèm trả lời.
Làm cụt hứng. Nhưng chẳng lẽ mình lại
ngưng ngang ở đây không phát biểu ý kiến
nữa. Mà nói bâng quơ một mình coi cũng
không được. Phải hỏi, Cử tiếp tục
hỏi:
- Nhà cô có gần đây không?
- ...
Cũng không trả lời. Nhưng lần này Cử cảm
thấy đỡ khổ sở hơn vì cô gái có cúi
đầu, có mỉm cười tủm tỉm. Cử lấy
làm hài lòng với nụ cười đó, không
dám nói thêm tiếng nào nữa, sợ nó đổi
màu. Cử bắt đầu im lặng... Một lúc
lâu..., thật lâu. Không hiểu đám thằng
Hải ra sao, không còn nghe tiếng nó lải nhải
nữa. Cử quay lại ngó chừng, thằng Hải và
con nhỏ đâu mất tiêu, không còn bóng dáng.
Không biết quẹo vô ngõ nào, hẻm nào. Trở
lại chuyện mình, Cử gợi chuyện lần nữa:
- Nè, đã gần tới nhà cô chưa? Sao xa
quá vậy?
- ...
- Sao cô không nói gì hết vậy? Bộ cô
ghét tôi lắm hả?
- ...
Lại không thấy trả lời. Cử bắt đầu
thấy chán cái màn một mình độc khẩu.
Phải hồi nãy Cử nói "Sao cô không nói gì
hết vậy. Bộ cô câm hả?" thì có lý
biết mấy. Vừa đỡ tức, vừa chọc cho cóc
giận mặc may cóc nghiến răng... Bất chợt,
Cử nghĩ mình phải nhớ những đường mình
đã đi qua, phải nhớ tên đường, để
lát nữa còn mò đường trở về nữa
chớ. Cử nói nhỏ với mình:
- Bạch Ðằng, Ðồng Khánh, rạp Hùng
Vương, đường Hùng Vương... xa rồi
nha. Mà không thấy nói tiếng nào!
- ...
Cử đã "chai" mà coi bộ phải chịu thua thứ
"lì" này. Mặt mày coi dễ thương vậy mà
tâm hồn sao... chằn không thèm ăn, trăn không
thèm quấn. Ðể rồi coi ai sẽ chịu thua. Cử
sẽ theo hoài theo miết coi rồi sẽ ra sao. Mà
cũng lạ, tại sao cô ta không xua đuổi
mình. Không bước chậm, không bước
lẹ. Cũng không tỏ vẻ gì khó chịu. Cứ
để mình tỉnh bơ song bước như đôi
nhân tình.
- Chợ trời? Ðúng là chợ trời! Khỏi
cần trả lời cũng biết chợ trời rồi.
Người đẹp gì mà hà tiện lời ăn,
tiếng nói quá.
- ...
Song bước như đôi nhân tình! Ðược
như vậy mà còn không chịu hiểu cho. Còn
đòi hỏi, còn muốn quá trớn. Ðâu phải
muốn đi cạnh người đẹp là đi đâu.
Hân hạnh, hân hạnh...
- Ðường Ông Ích Khiêm, đường tên
gì nghe lạ...
- ...
Bữa nay đúng là xuất hành không coi giờ,
trăm sự cũng tại thằng Hải hết, thằng báo
đời...
Quẹo vô hẻm? À, quẹo vô
thì cứ vô, sợ gì. Người đẹp không
sợ, việc gì mình phải sợ.
- Bây giờ đến nhà rồi, mời anh vào chơi.
- ...
Mời anh vào chơi! Dữ hôn, đã gần hết
nửa ngày rồi. Tới phiên mình, Cử không
thèm trả lời cho bỏ ghét. Nãy giờ không
chịu nói, bây giờ phát ngôn bừa bãi lại
đưa mình vào thế kẹt. Chỗ này đâu
phải là chỗ tâm tình, chỗ này đâu phải
là chỗ trai gái. Chỗ này đâu nói
được những lời yêu thương, mật
ngọt. Nhưng cứ thử vào đi, coi cô gái
này dám chơi trò cắc cớ đến mức nào...
- Dạ chào bác.
Cử trả lời người đàn bà, mặc dù Cử
không hiểu bà ta nói gì, hỏi gì. Chỉ
biết nói lẹ quá, nghe như nghe tiếng Tây.
Thấy Cử gật đầu, ngơ ngơ ngáo ngáo nhìn
cô gái như đang cầu cứu, bà chẳng buồn
hỏi thêm câu nào, bỏ mặc hai đứa đi
xuống nhà sau.
- Mời anh ngồi. Chờ em vào trong thay đồ một
xí nhé.
Trời ơi, sao bây giờ nói năng nghe được
quá, tự nhiên quá. Chưa chi đã gọi Cử
bằng anh, xưng bằng em ngọt. Không bỏ công
lội bộ từ bãi Sao Mai lên đến đây.
Cũng may cô em nói chậm chậm, nên Cử mới
hiểu. Tiếng Huế rặc mới nghe
lần đầu đã thấy cay cay. Còn lại một
mình, Cử đảo mắt quan sát một vòng. Nhà
hình như có nhiều phòng phía bên trái và
phía sau phòng khách. Ngăn cách với phòng
khách bằng một hành lang? Phía bên mặt có
cửa sổ trông ra một cái sân rộng tráng
xi-măng. Nhà có vẻ xưa, vì phòng khách
chưng bày nhiều đồ cổ... Rồi cô em trở
ra, mặc một bộ đồ bộ trắng có thêu hoa to
màu xanh nước biển trước ngực. Cầm theo
một cái áo len có ghim sẵn hai cây
đan... Cử nói thầm trong bụng "coi bộ còn
con nít quá," bèn hỏi:
- Em tên gì?
- Em là Ngọc..., chỉ Ngọc thôi.
- Ngọc. Tên đẹp đó. Vậy mà dấu
hoài, tới bây giờ mới chịu nói cho anh biết.
Ngọc vừa đan áo vừa mỉm cười:
- Nếu không làm như rứa thì anh đâu có
dịp mô mà đến đây.
Thì ra con nhỏ không trả lời bao nhiêu câu hỏi
của mình, suốt dọc mấy con đường, là có
dụng ý. Cử như con nai vàng ngơ ngác bị
gài bẫy, mắc bẫy mà không hay.
- Nè, hồi nãy người đó có phải là
"mạ" của em không?
- Chớ ai mô.
- Không biết bà già nói cái gì nữa. Cho
anh xin lỗi nghe.
- Anh muốn em lập lại không?
- Thôi. Không cần đâu. Bảo đảm anh
nghe một lần nữa là anh biết.
- Em đoán... anh lần đầu mới tới đây,
phải không?
Cử gật đầu:
- Có cặp mắt cũng tinh lắm...
Rồi như chợt nhớ tới trách nhiệm và bổn
phận, Cử nói tiếp:
- Nhưng mà anh chắc phải trở về tàu ngay bây
giờ thôi. Ðể rủi tàu chạy mất thì anh
sẽ bơ vơ, không bến không bờ trên đất
lạ quê xa này. Bây giờ anh lỡ đã biết
người, biết nhà, lúc nào rảnh anh sẽ
đến thăm.
Ngọc cảm thấy không vui, mới nói vài câu
đôi môi chưa ấm đã đứng dậy đi
về. Cử không dám nói là mình đang
trực. Vả lại đi ăn bún bò Huế kiểu
này cũng hơi lâu. Thằng Ðô chắc
trông. Ông hạm trưởng không chừng chắc
cũng trông. Ngọc tiễn Cử ra cổng. Nhưng, như
còn tiếc thời gian qua mau, không thèm nói tiếng
nào đưa tay vẫy. Cử quay lưng, cắm đầu
cắm cổ rảo bước. Theo những con đường
cũ... Tự nhiên Cử thấy mọi thứ xung quanh
mình như không còn gì quan trọng, không còn
gì ý nghĩa nữa. Ðà Nẵng đối với Cử
như chỉ còn có mình Ngọc mà thôi. Con
nhỏ thích Cử ngay từ lúc ban đầu, Cử hiểu
vậy.
Nhờ suy nghĩ vẩn vơ mà Cử thấy đường
về như ngắn lại. Không mấy chốc đã
thấy dòng sông. Không mấy chốc đã thấy
tàu. Rồi thấy chiếc xe jeep của hạm trưởng
đậu lù lù trước cửa "ramp"... Thôi chết
rồi, phen này ăn bữa giỗ lỗ bữa cày.
Không ổn, không ổn rồi. Cử chào đáp
lễ anh thủy thủ đang đứng gác hạm kiều
tại cửa đổ bộ rồi hỏi dồn:
- Hạm trưởng về nãy giờ lâu chưa?
- Dạ ổng mới về chừng năm mười phút.
Ðúng là còn hên, trễ một chút xíu nữa
là tiêu tán đường. Thằng Hải không
biết đã về tàu hay chưa? Phải tìm thằng
Ðô mới biết rõ tình hình được.
Nhưng tìm nó ở đâu? Xuống khu sĩ quan?
- Thiếu úy, hạm trưởng cần gặp thiếu úy
gấp. Nãy giờ tôi đi kiếm thiếu úy lung tung
mà không ngờ thiếu úy ở trên này.
Cử hỏi lại anh trung sĩ bí thư:
- Hạm trưởng cần gặp tôi bao lâu rồi?
- Ổng về là ổng hỏi thiếu úy liền.
Tôi đã trình mấy cái công điện bữa nay
cho ổng rồi. Tàu mình sắp sửa đi công
tác, đi Chu Lai chở đạn.
- Anh đưa cho ổng đọc trước tôi thì
bể mẹ nó rồi. Còn chuyện gì quan trọng
nữa không?
- Dạ không.
Trong bụng nóng như lửa đốt, nhưng Cử cố
làm ra vẻ bình tĩnh, tà tà xuống ca-rê sĩ
quan. Ngạc nhiên hơn, Cử thấy ông hạm
trưởng nặng cân của mình đang nói chuyện,
cười đùa với mấy anh em sĩ quan đàn anh.
Một chuyện hiếm có, chưa từng thấy xảy ra.
Có lẽ bữa nay ổng "dê" được bà nào,
nhưng mà nhìn đi nhìn lại xấp hồ sơ
trên bàn, Cử vẫn còn lo âu, hồi hộp.
- Cử đó hả?
Cử vừa kéo ghế ngồi, vừa nói:
- Dạ hạm trưởng gọi tôi?
Hạm trưởng tiếp tục cười, rồi vừa
cười vừa nói:
- Ừ... Tôi biệt phái anh qua HQ 617 bắt đầu
từ ngày mai... Ðù me, hạm trưởng đau bao
tử nằm nhà thương, hạm phó bỏ tàu đi
cưới vợ, sĩ quan đệ tam dẫn tàu lên
cạn cong chân vịt rồi đổ thừa thiếu sĩ
quan đi phiên... Ngày mai tàu đi công tác,
bữa nay anh khăn gói qua Tiên Sa tạm trú chờ HQ
617 về bến là vừa.
Chần chờ một chút, Cử nói:
- Dạ. Hạm trưởng có cần gì nữa không?
- Cần anh cái đếch gì nữa, anh đi tàu
khác mẹ nó rồi.
Cử trở về phòng mà lòng vẫn còn ấm
ức. Kỳ này hạm trưởng chơi mình sát
ván rồi, thẳng cẳng rồi. Tại sao một lũ
sĩ quan dưới tàu mà mình phải bị biệt
phái. Xứ lạ quê người. Tiên Sa, chưa
biết Tiên Sa là đâu. Chưa nói được
với hạm trưởng những điều mình nghĩ,
mình muốn thì đã bị đưa vào cái
cảnh mình chưa dám nghĩ, chưa dám muốn rồi.
Tại mình không khéo "nâng bi" chăng? Còn lâu
mới "nâng bi," coi chừng rồi có ngày ông sẽ
đá cho dập "dế," coi chừng rồi có ngày ông
sẽ phản đòn... Một hồi lâu, anh thủy
thủ ban văn thư mò tới, trao cho Cử một bản
sao của công điện biệt phái:
- Hạm trưởng nói nếu thiếu úy thiếu
tiền xài thì nói chuẩn úy Tài xuất quỹ cho
thiếu úy mượn. Năm ba ngàn gì cũng
được.
Cử thu dọn áo quần và mấy thứ cần thiết
dồn vào sac-marin. Cử cảm thấy tủi thân.
Ðang đi tàu chuyển vận, tàu lớn vững như
hàng không mẫu hạm, chạy một hai ngày là
tới bến, lại bị thảy qua PGM, tàu nhỏ như
cái thúng, lắc lư bềnh bồng mà còn phải
đi tuần dương năm bữa nửa tháng giữa
biển khơi. Vác sac-marin xuống LCM, chiếc tàu
của hải quân lấy làm tàu đò, xẹt qua
xẹt lại hai bến Sao Mai-Tiên Sa mà lòng Cử
bâng khuâng, buồn bã. Cứ nghĩ không biết
sau này mình làm hạm trưởng thì mình sẽ
hành động như thế nào? Cử cũng phải
dữ dằn với đám sĩ quan trẻ tuổi hay
sao? Chắc vậy, nhưng không thể nào "nhỏ mọn"
như ông hạm nhà mình được... Tàu
cập bến Tiên Sa. Cử từng bước, từng
bước lấy sức leo lên dốc. Bộ tư lệnh
Vùng Một Duyên Hải như cất mút trên
đỉnh núi cao.
- Ê Cử, sao mày lang thang đi đâu đây?
Cử mừng rỡ bắt tay thằng Bá, thằng bạn cùng
khóa. Cử thấy mình như chụp được
chiếc phao, thằng này bề gì sinh trưởng quê
quán ở vùng này, chắc nó am hiểu tình thế
hơn Cử. Cử đáp lời:
- Tao bị ông hạm tao chơi mậy. Tao đang ở
HQ-405, Hải vận hạm Tiền Giang, mà mày nghĩ coi
ổng dám tống cổ tao qua Tuần dương đĩnh
mậy. Chạy qua đây tạm trú chờ HQ 617
nè... Ủa, sao mày làm gì ở đây? Tụi
mình, khóa mình đang đi tàu hết mà.
- Tao mà làm được ở đây thì
sướng rồi, mà có làm được đâu.
Tao đang đi phép... Chờ 617 cái con khỉ khô.
Ði theo tao ra Ðà Nẵng nhậu.
- Bậy bạ mậy. Chuyến này mà làm không
xong, trở về, ông hạm tao dám cho tao đi "tàu
ngầm" lắm mày ơi.
- Mày có điên không? Vô trung tâm hành
quân check coi chừng nào 617 về, rồi vọt. Chớ
nó ở luôn ngoài biển rồi mày cũng nằm
đây mà chờ à. Sao bây giờ mày nhát
quá vậy!
Nhát? Nhát sao được:
- Ði thì đi. Chỗ ăn chỗ ngủ mày lo há.
- Ừ, tao dẫn mày về nhà bà cô tao ở.
Chỗ này không đến nỗi tệ.
Cử nhảy lên honda với Bá, phóng đường
bộ trở về Ðà Nẵng. Qua ngã ba Sơn Chà,
qua ngã ba Mỹ Khê, qua cầu Trịnh Minh Thế, qua bãi
Sao Mai... Cử ngạc nhiên không thấy HQ 405, không
thấy tàu mình đâu hết. Mới đó mà
đã kéo neo, rút khỏi bãi chạy mất tiêu
rồi, công tác gì mà khẩn cấp vậy. Xa tàu
như xa nhà, tự nhiên Cử cảm thấy bơ vơ
thật sự. Bơ vơ hơn nữa khi Cử bước
vô tiệm Rồng Vàng, tiệm bán máy tàu biển,
Yanmar, Kubota... Lạ nhà lạ cửa. Giới thiệu,
chào hỏi qua loa rồi Cử theo Bá ra tuốt nhà sau.
Mặc dù có bạn bè đó, nhưng Cử còn
cảm thấy thân mình như thân ăn nhờ, ở
đậu. Thay đồ tắm rửa xong thì đến
giờ cơm. Bữa cơm miền Trung. Cử để ý
mấy dĩa thịt phai. Những lát thịt mỏng
được xếp đều đều xung quanh dĩa, tròn
như cánh quạt. Ðẹp mắt, ngon miệng. Xếp
được như vậy phải là khéo tay, dư giả
thì giờ... Ăn xong, Cử lên lầu kiếm chỗ
nằm nghỉ, lấy sức. Ôn lại một ngày.
Từ lúc tàu cập bến Sao Mai, từ lúc theo Ngọc
lên chợ Cồn, từ lúc bấp bênh bên bán
đảo Tiên Sa, và bây giờ chui vô hàm rồng
Rồng Vàng. Quá đủ cho một ngày, một ngày
đầu tiên, ở thành phố Ðà Nẵng như
không còn xa lạ này. Cử đánh một giấc
ngon lành. Lúc thức dậy thì trời đã vào
đêm, mười giờ đêm. Bạn bè, hàng
xóm của lũ con cháu bà chủ nhà tụ lại
đông như một đảng cướp. Một bàn
tiệc và một sòng xì-phé. Hai món món
nào cũng hợp với Cử, nhậu trước rồi
đánh bài sau. Cho đến tờ mờ sáng thì
năm ngàn mượn quỹ chiến hạm của Cử đi
đong. Nhờ vậy mà sòng bài mới có cơ
hội "vãn." Cả bọn kéo nhau đi ăn sáng,
đi ăn bún bò Huế, rồi trở về ngủ tiếp.
Chiều hôm đó Cử lấy của Bá vài trăm
bạc và chiếc honda đi thăm bồ, thăm Ngọc.
Ngựa quen đường cũ, cứ những "con đường
mang tên em" mà đi thì tới nhà. Vừa bước
vô phòng khách gặp ngay bốn ông tướng đang
chơi cờ. Cờ gì không biết, chỉ biết mấy
ông thay phiên bốc mấy con cờ tướng đựng
trong một túi vải nhỏ. Chí chóe không thua
gì đám ăn cướp. Một ông nói lớn
vào trong:
- Ngọc. Có khách.
Cử lấy làm lạ không hiểu tại sao ông này
biết Cử quen với Ngọc. Ngày hôm qua Cử nhớ
mình đâu có giáp mặt với ông nào
đâu. Chẳng lẽ ai trai trẻ bước chân tới
nhà này đều quen với Ngọc thôi sao. Cũng
xong, Cử khỏi phải hỏi tới hỏi lui, "thưa bác
cô Ngọc có ở nhà không...," cho mất công.
Ngọc bước ra mừng rỡ:
- Anh Cử... Em biết bữa ni thế nào anh cũng
đến. Vào trong này đi anh.
Cử theo Ngọc vào phòng riêng của Ngọc vì
phòng khách đang bị mấy ông tướng chiếm
đóng. Phòng con gái có khác, ngột ngạt
mùi thơm. Màn the trướng gấm, cái gì như
cũng được bọc bằng sa-teng, lụa là. Ở
cửa ra vào còn có treo một tấm sáo trúc
đủ màu lòng thòng, đong đưa. Một cái
giường nệm cá nhân loại lớn, một bàn
viết cạnh cửa sổ trông ra một khoảng vườn.
Trên bàn một chồng sách, một xấp nhạc, và
một cái radio. Một cây đàn móc trên
vách. Hai cái ghế. Cử ngồi cái ghế dựa
vào vách ngó ra cửa, Ngọc ngồi ghế ngồi học
bài... Cử kể lại chuyện lỡ tàu của mình
cho Ngọc nghe, và bây giờ đang chờ chuyến khác.
Ngọc kết luận:
- Nhờ rứa anh mới trở lại thăm em, phải
không? Vừa rồi em nói gì với anh, cho em xin
lại. Cũng bằng thừa, anh vì hoàn cảnh
đẩy đưa, chớ anh nào nghĩ gì đến em.
Hoàn cảnh đẩy đưa! Nghĩ gì đến
em! Mới đó mà Ngọc đã bộc lộ những
chi tiết thầm kín, đã để tình cảm đi
vào chỗ sâu đậm rồi sao? Cử giải thích:
- Không. Không phải vậy. Mà tại sao em lại
nghĩ như vậy chớ? Em phải biết thành phố
này, Ðà Nẵng này, thiếu gì chỗ đi chơi,
thiếu gì nơi ngắm cảnh, mà tại sao anh phải
đến đây. Tại sao anh chỉ biết có bến
tàu và nhà em... Chưa chi đã không chịu
hiểu mà đã trách anh.
Câu nói tâm lý đó có lẽ làm Ngọc
vừa lòng. Mà thật tình Cử nào có nói
dối điều gì. Cử bỗng nhiên thấy Ngọc
như không là "con nít" nữa. Ðăm đăm
nhìn Ngọc, sâu vào khóe mắt, sâu vào da
thịt, cơ thể. Cử vói tay với lấy cây
đàn, móc nhẹ mấy ngón classique.
- Em thích bản gì anh đàn cho em nghe.
Tiếng đàn của Cử chắc cũng đậm
đà, dìu dặt nên Ngọc lấy xấp nhạc ra
lựa bài. Rồi dừng lại ở bài Hoa Biển.
Ngày xưa em anh hay hờn dỗi, giận anh khi anh
chưa kịp tới. Cho anh nhiều lời cho anh bồi hồi
em cúi mặt làm ngơ
... Cử đứng dậy ra
phía sau Ngọc đệm đàn theo lời ca. Giọng
Ngọc trầm bỗng quyến luyến theo tiếng đàn,
đúng nhịp đúng canh. Như một ca sĩ
điêu luyện... Rồi vì "hoàn cảnh đẩy
đưa," cặp mắt Cử chỉ phân nửa để
vào nốt nhạc, phân nửa như dán vào khoảng
ngực trần trong cổ áo sơ-mi của Ngọc. Tiếng
ca dứt, Cử đề nghị:
- Em hát hay như vậy thì đàn cũng phải
hay. Ðàn cho anh nghe đi.
Cử trao đàn cho Ngọc rồi chồm qua lật tiếp
xấp nhạc.
- Em đàn dở lắm mà!
- Biển Tình. Ðàn cho anh nghe bản này
đi. Anh sẽ ca theo em cho có bè.
Nằm nghe sóng vỗ từng lớp xa. Bọt tràn theo
từng làn gió đưa. Một vầng trăng sáng
với tình yêu chúng ta, vượt ngàn hải lý
cũng không xa
... Cử thấy đôi tay mình
như trống không, thiếu thiếu một cái gì.
Và đôi ngực trần từ trên nhìn xuống.
Buộc lòng phải bám víu lên vai Ngọc. Ngọc
rùng mình, uốn éo. Cử bạo dạn hơn, bóp
bóp đôi vai mềm. Vuốt ve làn tóc thề
thướt tha. Lòn tay mân mê làn da trắng ngần
sau gáy. Rồi đi lần xuống ngực. Ngọc
nghẻo đầu sang một bên như muốn giữ tay Cử,
không cho động đậy. Tiếp tục đàn,
tiếp tục ca. Cử sực nhớ... vội vàng rút
tay ra. Bước lại đóng cửa. Khóa cửa.
Khép luôn cửa sổ. Ánh sáng chỉ còn len
lỏi qua song lá sách và căn phòng trở nên
mờ ảo. Ngọc ngừng ca, ngước mắt
như muốn hỏi Cử làm gì kỳ vậy, bị Cử
đưa ngón tay trỏ lên miệng "xì" cho một cái
rồi cúi xuống hôn lấy hôn để. Cử một
tay ôm Ngọc, một tay với lấy cái radio bật công
tắc. Tiếng nhạc dội ra che bớt tiếng xào
xạc, lụp cụp trong phòng. Không ngừng
được nữa, Cử bồng Ngọc lên giường.
Ngọc sợ hãi, hai mắt nhắm nghiền không dám
mở. Trong ánh sáng chập chờn, đồng lõa
với cơn mê, Cử thấy mặt Ngọc đỏ như
tôm luộc. Cử lột từng khuy áo..., để
lộ bộ ngực trần, trắng trong... Rồi đến
phiên Cử, vội vàng tự mình tốc áo
sơ-mi..., may là Cử đang mặc đồ civil...
Ngọc gối đầu lên tay Cử, má áp vào
ngực. Những giọt nước mắt lăn xuống
áo thấm vào da Cử nóng nóng. Cử rùng
mình thấy mình có tội, có trách nhiệm, có
bổn phận với Ngọc, người con gái mới tròn
tuổi dậy thì. Trong radio như có tiếng hát
Khánh Ly dìu dặt...
ta yêu nhau lần đầu,
thương nhau trọn đời, giữ mãi câu
thề
... Cử ôm sát Ngọc vào mình. Căn
phòng như tối thêm, bóng đêm như đã
xuống... Rồi có người gõ cửa:
- Ngọc ạ, xuống ăn cơm con. Hai đứa bay
làm chi lâu dữ rứa?
Cử giật mình không dám cựa quậy, Ngọc
ngước mặt nói vọng ra:
- Mạ xuống trước đi, tí xíu nữa tụi
con xuống ngay.
Tiếng bước chân xa dần xa dần. Cử đề
nghị:
- Hay là hai đứa mình đi ăn tiệm đi. Xong
mình đi phố... Mai anh đi rồi, núm níu với
em lúc nào hay lúc nấy...
Ðêm hôm đó Cử theo HQ-617 ra khơi mà lòng
mãi bâng khuâng, vương vấn chuyện bến
bờ. Thân hải quân "mười hai bến nước." Lại
một bến nữa, không biết đời Cử rồi
sẽ tấp vào đâu. Cử châm một điếu
thuốc, điếu thuốc của Ngọc, cho Ngọc. Kem
đánh răng, xà bông, mì gói nữa... đầy
đủ quá, Ngọc mua cho Cử, lo lắng cho Cử nhiều
quá. Trên tàu lạ, không thấy ai quen, không
còn ai tâm sự. Chỉ có Cử mới hiểu
được Cử, nỗi yêu bến thương bờ của
mình như thế nào. Tàu chạy theo trục
đông bắc, vòng tới vòng lui. Thành phố
đó, ngọn hải đăng đó, mờ mờ trên
trời tây mà Cử mỏi mòn mong ngóng cho chuyến
đi ngắn lại... Nhưng trớ trêu thay, đã
ngắn lại không ngắn mà lại dài ra, dài ra
như mãi mãi như không biết đến bao
giờ! Vì HQ-617 có lệnh trở về Sài Gòn
giám định. Trở về Sài Gòn? Ngay bây
giờ? Giữa biển khơi? Thật vậy sao? Mọi
người nhảy nhót reo mừng, duy một mình Cử chỉ
còn biết kêu trời. Tội cho anh, tội cho em Ngọc
ơi. Anh ra đi mà không lời giã biệt. Cử
thấy mắt cay cay khi biết mình rời xa em gái
Huế... anh
chợt đến chợt đi
em
vẫn
biết, trời chợt mưa chợt nắng bởi vì
đâu
, anh
ra đi mà không bảo gì nhau...
Rốt cuộc Cử về bến Bạch Ðằng, Sài Gòn,
trước HQ-405 hơn một tháng. Hơn một tháng
đi phép không giấy tờ. Cử không biết có
nên cám ơn hay trách hờn ông hạm trưởng hay
"thù giặc" của mình đây.
Khăn gói trở về tàu cũ, Cử cứ tưởng
ổng sẽ đổi tánh ai dè cũng chứng nào
tật ấy. Cũng chửi sĩ quan như tát nước
vô mặt.
- Tôi cấm anh không được buôn bán gì
ở dưới tàu này hết nghe không? Chở mấy
thùng thuốc lá PX đó là có ngày anh ngồi
tù anh biết không? Còn tôi, tôi là hạm
trưởng... tôi làm gì thây kệ mẹ tôi...
Á..., thây kệ mẹ hạm trưởng là phải
rồi..., mấy thùng thuốc lá PX làm sao so sánh
với mấy trăm bao gạo được. Bị chửi
riết rồi quen, Cử đâu màng đến mấy
điều lặt vặt đó nữa. Cử chỉ mong một
điều, một chuyến công tác Ðà Nẵng, mà
trông hoài không thấy. Gần một năm trời,
mấy bận trở ra miền trung nhưng chỉ tới Qui
Nhơn là cùng. Cử chỉ còn ôm ấp lá
thư duy nhất của Ngọc, lá thư gửi về HQ-405,
chạy lên bộ tư lệnh Hạm Ðội, chạy xuống
HQ-617, rồi mới chạy trở qua HQ-405 cho Cử. Những
dòng chữ thiết tha chờ đợi... và một tấm
hình của Ngọc, cắt thành hình trái tim, có
kết chỉ lam tim tím ngoài rìa như một mặt
dây chuyền. Cử xem hình Ngọc mà lòng thêm
tức tưởi.
Thêm một chuyến đi Nha Trang, lại chỉ đến Nha
Trang thôi, tàu đi xa thêm một chút nữa không
nổi! Dở hàng xuống, bốc hàng lên... rồi
giờ khởi hành về Sài Gòn cũng đến
đúng như dự trù. Hạm trưởng về tàu
thì tàu sắp chạy... À, bữa nay hạm
trưởng chịu chơi, dám dẫn em theo tàu, Cử
nghe hình như có tiếng con gái chót chét bên
phòng hạm trưởng... Tàu rời bãi và Cử
trúng ngay ca đầu, ca chiều. Xuống ca chiều là
tới giờ cơm, giờ cơm mà Cử ghét nhất,
giờ cơm phải ăn cơm chung với hạm
trưởng. Bởi vậy, Cử là người sau chót
bước chân vào phòng ăn... Cử sựng lại,
một phút chết điếng như trời trồng, vì
người ngồi đối diện với hạm phó, chỗ
dành riêng cho khách của hạm trưởng, lại
là Ngọc. Ngọc của Cử. Suýt chút nữa
Cử đã vẫy tay chào, đã kêu tên thành
tiếng. Ngọc nhìn Cử trân trân. Cử kéo
ghế ngồi im lặng nhưng trong lồng ngực trái tim
như đã muốn nhảy ra ngoài. Không dám ngó
về phía Ngọc, lòng phân vân cay đắng.
"Ðù me, hạm trưởng dám cua bồ của mình
thì bỏ mẹ rồi, chơi như vậy thì chơi
với ai," Cử rủa thầm. Mà tại sao Ngọc lại
vô Nha Trang? Hèn chi mấy lá thư của Cử chỉ
đi mây về gió... Cử chỉ của Cử và
Ngọc có khéo cách mấy cũng không qua mặt
nổi ông hạm trưởng già dặn tình đời,
ông hướng về phía Cử oang oang tuyên bố:
- Ê, đây là cháu của hạm trưởng
nghe. Mười phương tám hướng cũng phải
chừa một nghe. Không có anh nào lạng quạng
à...
Rốt cuộc Cử thấy bữa cơm đó là bữa
cơm ngon, bữa cơm mừng vui, bữa cơm mà lần
đầu tiên Cử thấy hạm trưởng của mình
nói chuyện nghe được. Trở về phòng
riêng, đầu óc Cử quay cuồng, lẫn lộn với
những ý tưởng xung khắc, dồn dập. Phải
tìm cách giải bày với Ngọc để Ngọc khỏi
hiểu lầm. Phải chuẩn bị một chương trình
đi chơi thật hấp dẫn cho Ngọc. Và
lẽ dĩ nhiên phải tiếp tục qua mặt hạm
trưởng. Xa nhau một thời gian, không
hiểu Ngọc có thay đổi gì không? Có
giận Cử không, giận Cử là cái chắc. Lạy
trời, Ngọc vẫn như xưa. Mà làm sao tìm
cách nói chuyện với Ngọc. Phòng hạm
trưởng đâu phải dễ ra vào. Phải rình,
phải chờ hạm trưởng lên đài chỉ huy.
Lòng Cử rối beng như mớ bồng bồng...
- Ê Thành, chiều mai mày đi chơi với tao
được không? Khoảng hai giờ trưa. Nhớ
dẫn theo con Thu nghe. Tao sẽ giới thiệu với tụi
mày con bồ mới của tao. Hẹn em được
rồi. Con nhỏ này đẹp không thể tả
được mày à, tại vì nó không phải
là dân Sài Gòn. Cháu kêu bằng chú của
ông hạm trưởng tao.
- Mày đang ở đâu vậy?
- Ðang ở cầu E hải quân công xưởng nè,
tàu mới về bến mậy. Mai tao sẽ ghé lại
nhà mày trước khi đi nha.
Hai chiếc Vespa tạt vào trường Lê Quí
Ðôn. Ngọc đúng hẹn. Ðúng giờ tan
lớp. Giới thiệu sơ sơ rồi hai cặp đèo
nhau ra Thảo Cầm Viên. Cho tới bây giờ Cử
vẫn chưa nói được gì nhiều với Ngọc,
nhưng hiểu Ngọc vẫn còn với mình. Trường
họp gặp lại nhau cũng hơi hi hữu. Cử nháy
mắt Thành một cái khi thấy Thành trân trố
nhìn Ngọc ôm sát eo ếch Cử, như chưa từng
thấy ai như vậy bao giờ... Ngọc và Thu cũng
dễ làm thân, Cử và Thành để hai người
tản bộ, theo xa xa phía sau để dễ dàng nói
chuyện riêng. Hai dáng dấp in bóng bên hồ sen
như hai nàng tiên nữ.
- Con nhỏ có sắc đó, nó chịu mày
quá. Mày mà không "vớt" được nó
là dở, ông hạm mày sẽ chê mày là cù
lần Cử ơi.
- ...
Cử thấy thằng bạn mình sao chậm tiến quá,
nhưng mà nó làm sao nhìn thấu được nội
cảnh giữa Ngọc và Cử. Cử định trả
lời "đợi mày nhắc thì đã muộn
rồi." "Vớt," tại cái tội "vớt" đó mà
bây giờ chắc phải trong nhờ đục chịu.
Không biết hạm trưởng mà biết chuyện này
thì ổng sẽ chửi Cử đến mức nào.
Chuyến này chắc khỏi phải đi "tàu ngầm,"
chỉ cần đi "mò tôm" thôi. Cử bâng quơ
trả lời Thành bằng những câu hỏi:
- Tao kêu ông hạm trưởng mát điện của
tao bằng chú coi cũng được chớ mậy? Mày
thấy sao?
Thành lõ hai mắt to ngạc nhiên nhìn Cử, ra
tuồng: Nói giỡn hay nói thiệt đây!
Gió đầu xuân mơn man thổi. Một mùa
xuân hội ngộ, trùng phùng.
back to top
08. THƯ CHO NGƯỜI TÌNH
NGUYỄN TẤN HƯNG
Ðã bao lần những cuộc tình trôi đi
trong đời người như những cánh lá vàng
mùa thu. Người tôi yêu và người yêu
tôi cách xa vạn dặm, chỉ còn là chiếc bóng
không hồn. Những cánh thư đã bắt đầu
ẩm mục, những trang nhật ký đã bắt đầu
phai mờ. Ngần ấy còn đọng lại như dấu
vết trên phiến đá mòn ngoài hoang đảo.
Mái tóc nào còn xõa bờ vai, đôi môi nào
còn mộng ước, ngày xưa và sẽ đến bao
giờ phải không em? Một ngày qua, thêm một
ngày đam mê trổi dậy. Tình thương
nào cho quê hương, tình thương nào cho em.
Tất cả không bao giờ tồn tại cũng như những
sớ mây hồng trên cao. Tình thương một
giờ cũng đậm, nghĩa ái ân một lần cũng
khó quên. Hãy chia nhau phần mình rồi ra đi
biền biệt. Không ai thấu hiểu được mình
cũng như chính mình. Một hạt cát giữa
đại dương, một hạt cát của biển tình
long lanh trong sáng như sao đêm. Rồi như buổi
chiều tàn, chỉ còn một chút ngắn ngủi ngậm
ngùi, tất cả rồi sẽ im lìm chìm theo bóng
đêm đen...
Và trong giây phút ngắn ngủi ngậm ngùi
này, Hùng nhìn Trầm khẽ nói:
- Lâu quá rồi em nhỉ!
Trầm mỉm cười, không đáp. Trầm bây
giờ trở nên ít nói. Mấy năm trời xa
cách, Trầm vẫn chưa thấy mình đã lớn.
Lúc quen nhau, Trầm chưa nghĩ gì. Không hiểu
tại sao Trầm cứ nghĩ sẽ có ngày còn gặp
lại Hùng. Trầm cũng không thấy hình bóng
một chàng trai nào có thể giữ được trong
lòng, những người thầm lén yêu Trầm, muốn
cưới Trầm. Bây giờ tình cờ gặp lại
nhau, Trầm nghĩ, biết bao nhiêu thay đổi cho mình,
cho Hùng. Tất cả như bắt đầu trở lại
trong ngẩn ngơ dò xét. Trầm cố nhớ lại
cái cảm tình của mình đã dành cho Hùng
ngày xưa...
- Chắc anh có nhiều bạn gái lắm phải
không? Trông anh bạo dạn hơn trước.
Hùng cũng đang nghĩ về Trầm. Bây giờ
Trầm cũng hoàn toàn thay đổi? Trầm như
một bông hoa đang thời nở rộ, tràn đầy
nhựa sống, cả thể xác lẫn tâm hồn. Những
gì Trầm đã gặt hái được cho một học
trò từ miền quê lên tỉnh, những gì Trầm
lĩnh hội được trong tuổi dậy thì. Rõ
ràng Trầm khác xưa rất nhiều, từ giọng nói
cho đến nụ cười. Nghĩ lại chuyện ngày
xưa Hùng nói:
- Từ hồi xa nhau đến giờ, có khi nào em chịu
khó để một giây một phút cho anh đâu
nói gì đến nhớ. Anh viết cho em rất đều
mà anh có nhận của em dòng chữ nào đâu.
Nhiều lúc anh nghĩ anh chỉ viết cho anh, cho một
tình yêu đơn phương. Em không thấy sự
kiên nhẫn của anh...
- Tại sao anh không nghĩ là em không nhận
được thư anh. Em học trường công chứ
đâu phải trường tư, thư từ bị kiểm
soát.
- Anh thấy với ngần ấy thư chồng chất, liên
tục, mấy bà giám thị phù thủy của em cũng
không thể nào làm ngơ được... Em đã
nhận được thư anh?
Trầm mỉm cười, nhớ lại những lần bị ban
giám đốc gọi lên phàn nàn để lãnh
những bức thư đã được kiểm duyệt.
Trầm không hiểu tại sao Trầm không lần nào
viết thư trả lời Hùng...
Anh biết lắm
lúc anh đã bấn loạn, cuồng tín trên trang
giấy. Anh vẫn quí mến em như thuở nào, anh
vẫn thương yêu em như thuở nào, một tâm
hồn thùy mị trong trắng. Cái cảm giác thi
vị len lỏi gậm nhấm tâm hồn anh. Anh thèm
muốn những kỷ niệm êm đềm mà em và anh
chung sống. Trên con đê này, ruộng đồng
này, và khu vườn ngoài kia. Buổi chiều sập
tối và những bước chân âm thầm. Mảnh
trăng tròn lố dạng in bóng trên mặt nước
bao la mà anh đã ví như mặt hồ Than-Thở.
Lần ấy là lần đầu tiên anh cầm tay em mân
mê rung động
... Làm sao mà trả lời
những lời thư như vậy?
Giờ đây cũng trên con đê này, bờ ruộng
này, và khu vườn ngoài kia, Hùng nói:
- Em có còn nhớ khu vườn đó
không? Bây giờ không vào đó được
rồi. Lá mận chắc đã rụng đầy
liếp. Lần này anh cho em nửa quả mận của
anh thì em chịu ăn không?
- Lần này anh lại không có, xui quá!
Lâu rồi Trầm không còn về thăm quê, gia
đình đã dọn lên tỉnh. Trầm ước ao
có ngày đưa Hùng về quê. Khoảng vườn
của ba má Trầm chắc làm Hùng hài lòng.
- Nếu như ngày xưa chúng mình không giận
nhau, vẫn tiếp tục rong chơi, thì bây giờ chắc
em không còn là của anh nữa. Anh cũng không
còn gì cho em. Em có nghĩ như vậy không?
- Em cũng nghĩ như anh. Em không hiểu sao em lại
hờn anh lâu dữ như vậy. Âu cũng là duyên
may, như vậy anh khỏi phải trách em nữa.
- Cho đến giờ phút này anh chưa hiểu
được em. Lần cuối cùng mình gặp nhau anh
vẫn xem là một kỷ niệm đẹp. Trong suốt
lộ trình anh nao nức muốn tìm gặp em, cho em một
sự ngạc nhiên mừng rỡ. Nhưng em im lặng như
không muốn có sự hiện diện của anh...
- Rồi anh ra về, biền biệt tăm hơi. Mãi
đến bây giờ anh mới nhớ ra trong đời anh
còn có em... Em cũng không hiểu lúc đó
em làm thế nào đi nữa...
Ðiều mà Hùng còn hiểu được là Trầm
vẫn đẹp. Trầm vẫn đẹp mãi trong lòng
Hùng. Dáng điệu thướt tha, làn da trắng
mịn và đôi mắt rực sáng Hùng thường
bắt gặp mỗi khi thức giấc. Hùng đã sống
trong sự lắng đọng đó, an ủi lấy
mình... Hùng nắm tay đỡ Trầm ngồi xuống
ven đê bên hàng cây cao vút. Chiều xuống,
những gợn nắng hồng nhuộm tươi cỏ cây,
trong sáng như sau cơn mưa rào. Dưới chân
lạch nước lờ đờ trôi, đọng đậy
lớp rong rêu. Gió nhẹ lao xao cành lá. Hùng
choàng tay qua vai khẽ ôm Trầm sát vào người
mình. Mùi tóc, mùi da thịt như lan vào Hùng
trong từng lớp mỏng. Hùng cứ đinh ninh rằng
ngày nào Hùng gặp lại Trầm, Hùng sẽ
cưới Trầm. Liệu có được như vậy hay
không?
Rồi trong cánh đồng mênh mông bát
ngát, con kinh dài như mất hút vào khoảng
không. Ðứng trên sàn chiến đĩnh, Hùng
có thể thấy sâu vào bờ hàng mấy cây
số. Chỉ toàn là cỏ, mọc cao như lúa
được mùa. Hùng thấy bóng dáng Trầm
như ở cuối chân trời. Hùng tưởng
tượng như mình đến đó như đến
với người vợ mới cưới hơn là trở
về đơn vị. Trong vùng đất xa lạ này,
Hùng như tự an ủi lấy mình, đưa mắt
tìm những gì quen thuộc nơi quê nhà. Không
có gì, chỉ còn ngọn gió trong lành và ruộng
hoang trùng trùng điệp điệp. Lúc nhìn
thấy ngọn núi in hình trên nền trời tây,
Hùng bùi ngùi biết mình đã đi xa...
Anh
đã xa em rồi... Anh thấy lòng nao nao như chợt
mất vật gì quí giá không tìm thấy
được ở nơi này. Anh thấy thiếu một
khoảng trời, anh thấy thiếu một hơi thở giữa
bao la vũ trụ... Ðã bao lần những cuộc tình
trôi đi trong đời người như những cánh
lá vàng mùa thu... Em có buồn không khi chúng
mình xa nhau. Em thấy không, anh gọi tên em, anh gọi
tên em để làm mồ chôn cho những cuộc tình.
Những cuộc tình rồi như buổi chiều tàn, chỉ
còn một chút ngắn ngủi ngậm ngùi, sẽ im lìm
chìm theo bóng đêm đen. Anh chấp nhận bóng
đêm làm mùa xuân của chúng mình, cho
người anh yêu hai lần gặp gỡ...
back to top
09. MỘT CHUYẾN RA KHƠI
NGUYỄN TẤN HƯNG
Nằm bệnh viện Hải Quân một tuần
mà Ðông thấy dài như một tháng. Suốt
ngày thì giờ trống trải. Sáng ngủ dậy
trễ. Mười giờ bác sĩ đi thăm bệnh,
mười hai giờ người nhà đem cơm vào
ăn. Ba giờ chiều bác sĩ đi thăm bệnh
lần nữa, sáu giờ người nhà đem cơm vào
ăn. Rồi ngủ, rồi dậy trễ...
Cũng trong vòng có một tuần mà Ðông
đã chứng kiến nhiều cái bệnh ly kỳ,
nhiều cái chết cũng ly kỳ.
Ông già nằm kế bên Ðông bị chai gan, vô
nước biển nước biển không vô, trào trở
ra xung quanh cây kim, lẫn lộn với nước vàng
ướt cả nệm. Sáng ngày thằng con ông vô
thăm, cứ tưởng là ông đi tiểu trong
đêm, cằn nhằn đủ thứ. Hết phương
cứu chữa. Qua ngày sau bác sĩ cho giấy xuất
viện, bao xe đò về quê ngay, chỉ sợ chết
dọc đường.
Tên trung sĩ nằm phòng kế bên chẳng biết
làm ăn ác nhơn thất đức ra sao mà bị
người ta kiếm thầy thư cho một bụng, cái
bụng phình lên, to hơn bụng bò. Bác sĩ
thì đâu có nghĩ đến chuyện bùa ngải
rừng thiêng, cứ vài giờ thọc cây kim tổ bố
từ sau lưng rút ra đôi ba thau nước, nước
nhờn lẫn máu tươi. Cái bụng xẹp xuống
rồi lại phình lên, mà có thấy anh ta ăn
uống gì đâu. Ba ngày liên tiếp như vậy,
ai ai cũng lắc đầu cho số phần của hắn ta.
Qua ngày sau bác sĩ cấp giấy chở xác của
hắn về nhà xác khám nghiệm.
Cũng trong phòng này, ông thượng sĩ già
mới nhập viện ngày hôm qua, cho nằm một mình
tuốt trong góc, ông ta bị lao phổi thời kỳ thứ
ba. Ðến mười một giờ đêm tự nhiên
ông ta ho rũ rượi, rồi ho luôn ra máu, máu
bắn ra làm đỏ cả mặt drap đỏ cả nền
gạch bông trắng. Bác sĩ trực ký giấy cho
ông ta đi vô Chợ Rẫy hay Gral gì đó ngay trong
đêm. Tiếng còi hụ của xe Hồng Thập Tự
làm ai cũng thức giấc...
Riêng phần Ðông thì ba ngày mới vào viện,
những cơn sốt trên bốn mươi độ làm
Ðông tưởng mình cũng sắp chết. Phổi
có nước, bác sĩ bảo vậy. Cũng may là
bệnh mới nhuốm, nước chưa có nhiều, chỉ
cần chích thuốc cho nó kẹo lại. Péniciline
một triệu làm hai mông của Ðông chai cứng,
khập khiễng cả tiếng đồng hồ sau mỗi khi
chích. Bây giờ đỡ rồi, hi vọng sẽ
được xuất viện nay mai, ở đây buồn quá.
Ðông vạch tay xem đồng hồ. Một giờ
trưa. Cả phòng yên lặng, người ngủ kẻ
đọc sách. Ðông khẽ đứng dậy đi
lại cửa sổ nhìn ra phía mặt tiền, đường
Cường Ðể. Bên kia đường, Hải Quân
Công Xưởng, xưởng Ba-son, nhân viên đi ăn
trưa trở vào làm việc tấp nập. Xe jeep, xe GMC,
xe gắn máy đủ loại đủ cỡ ra vô cổng
chánh, cổng phụ ồn ào náo nhiệt. Một
cảnh sống ngoài đó và một cảnh chết trong
này. Ðông lắc đầu quay trở lại
giường nằm nghỉ. Mắt nhắm mắt mở, mơ
màng lim dim...
- Anh, có phải anh là thiếu úy Ðông không?
Ðông bật ngồi dậy, vận dụng tâm trí cố
nhớ một hình ảnh quen quen, một vóc dáng gì
giống giống cô gái đang đứng trước mắt
mình nhưng hoàn toàn thất bại. Ðông trả
lời:
- Phải, tôi là thiếu úy Ðông, xin lỗi
cô tìm tôi có chuyện gì?
- Em đến thăm anh đây.
Ðông vừa ngạc nhiên vừa giật mình:
- Nhưng tôi chưa được biết cô là
ai? Xin lỗi cô tên gì?
- Em là Thu Thu. Chuyện dong dong dài dài lắm
để rồi em sẽ kể anh nghe. Em từ Nha Trang vào
thăm anh đây, bây giờ để em nghỉ một
chút đã.
Nói xong Thu Thu nghiêng người ngã lên giường,
Ðông lật đật ngồi nép sang một bên
nhường chỗ. Thu Thu có vẻ mệt thật, hai tay
đan vào nhau gát lên mái tóc thề, hai mắt
nhắm nghiền, ngực phập phồng nằm thở.
Ðông ngẩn ngơ không hiểu chuyện gì. Thu
Thu? Cái tên nghe lạ lạ. Ðông chưa quen ai
tên Thu Thu bao giờ. Vói tay kéo tà áo trắng
lòng thòng bên giường phủ lên đùi cho
người con gái, Ðông suy nghĩ chưa biết phải
xử trí ra sao thì Phước, anh bạn nằm
giường kế bên, cười nói:
- Ê, gì vậy Ðông?
Ðông nhúng vai trả lời:
- Ai biết gì đâu...
Cả hai im lặng một hồi thì Thu Thu tỉnh dậy,
mở mắt ngơ ngác nhìn quanh. Cái tính
mát-mát bốc đồng, nhưng gương mặt
đẹp, dễ thương. Ðông gợi chuyện:
- Nè, bây giờ chuyện gì em có thể nói cho
anh nghe được chưa? Nếu cần anh giúp đỡ
điều gì thì cứ nói, anh sẽ lo liệu cho.
Nói đi.
Thu Thu ngập ngừng:
- Anh... đi ra ngoài phố với em được không?
Ðông sửng sốt:
- Ði phố? Em có biết anh là một con bệnh
mới bớt bớt không?
- Anh đi thì em mới kể chuyện cho anh nghe!
- Hừ...
Em là ai? Sao em xinh đẹp quá vậy? Sao em dễ
dãi quá vậy? Xưa nay trâu tìm cột chớ
cột nào tìm trâu! Xưa nay trai mời gái chớ
gái nào rủ trai! Do dự một hồi, Ðông quay
qua hỏi Phước:
- Ê Phước, mượn xe của toa một chút nghen.
Không cần suy nghĩ, Phước trả lời ngay:
- Ðược.
Ðông quay lại Thu Thu:
- Vậy em chờ anh ở đây.
Ðông lấy đồ lính vào trong phòng tắm thay
đồ. Thu Thu móc ví lấy gương soi mặt,
chải lại tóc. Một lúc sau Ðông bước ra,
Phước đưa chìa khóa:
- Chiếc honda dame màu xanh lá cây, bảng số
GÐ..., đậu bên trái.
- OK.
Thu Thu cặp tay Ðông đi xuống cầu thang như
đôi nhân tình đang hồi thắm thiết. Mùi
thơm con gái phảng phất, lâng lâng. Liêu trai,
thần thoại, ly kỳ. Ðông thấy sự dan díu
như bắt đầu.
Xe quẹo cua vòng ra bến Bạch Ðằng một đỗi,
Thu Thu cất tiếng:
- Mình xuống tàu chơi đi anh!
- Ðâu có được, tàu đậu ở bến
Bạch Ðằng 1 này là chiến hạm biệt phái
cho tư lệnh, đâu có phải xuống là xuống.
Hơn nữa mình đâu có quen ai ở dưới
đó.
- Chớ em có quen gì anh. Anh là gì Ðông?
- Nguyễn Nhật Ðông.
Thu Thu choàng tay ôm eo Ðông thật sát:
- Anh là Nguyễn Nhật Ðông, em là Trần Thị
Thu Thu. Ðông, Thu Thu, không biết anh với em có
duyên nợ gì đây?
Lưng Ðông ấm ấm, nhột nhột với cử chỉ
quá tự nhiên của Thu Thu. Ðông trở lại
vấn đề:
- Bây giờ anh muốn nghe chuyện của em.
- Lát nữa đã. Trước sau gì em cũng
kể cho anh nghe mà...
Ðông gửi xe trước lối vào Eden. Ban đầu
định rủ Thu Thu vào xem ciné nhưng nghĩ mình
mới quen nên đổi ý, nắm tay dắt Thu Thu băng
qua Rex rồi xuống Pole Nord. Chọn bàn trống trong
góc, Ðông kêu một ly coca-cola rồi đưa tờ
menu cho Thu Thu:
- Em uống gì kêu.
- Cho tôi một ly cà phê sữa.
Thu Thu nói gọn một câu với người bồi bàn.
Ðông nghĩ thầm: Con gái gì mà vào tiệm kem,
không ăn kem, không uống nước sinh tố mà
lại uống cà phê sữa như đàn ông, con trai.
Thu Thu tiếp thêm:
- Mình ăn cơm đi anh.
Ðông làm tài khôn:
- Tiệm kem làm gì có cơm.
- Chứ sao người ta ăn đó?
Ðông lấy làm lạ gọi người bồi bàn
lại hỏi:
- Bộ ở đây bây giờ cũng có bán cơm
trưa nữa hả?
- Dạ đâu có. Mấy người làm ở
đây họ ăn cơm trễ đó mà.
Ðông nhìn Thu Thu, lắc đầu:
- Quê quá.
- Em đói bụng.
- Ðược rồi để anh lo. Kể chuyện của
em đi.
Im lặng hồi lâu rồi Thu Thu nói luôn một mạch:
- Em có người yêu cũng hải quân như anh,
nhưng anh ấy vừa mới mất mấy ngày nay. Anh
biết anh Quế không? Chắc anh không biết
đâu! Em buồn, em đi lang thang. Em vào đây
được mấy hôm, nửa muốn biết Sài Gòn
nửa để giải khuây. Em đang ở nhà bà
chị và ông anh rể. Nếu tiện thì có thể
em ở đây ghi tên đi học luôn. Em nửa
muốn học Dược nửa muốn hoặc Y Khoa. Anh
thấy em có khùng khùng không?
À, thì ra cô nàng đang thất tình. Quế
nào? Phải Trần Chính Quế không? Ối,
chuyện đã qua thì cho nó qua luôn, hãy nghĩ
đến chuyện hiện tại:
- Nè, mới vô Sài Gòn lần đầu mà sao em
dạn dữ vậy. Em thiệt không sợ anh bắt cóc
hả? Mà làm sao em tới bịnh viện thăm anh
được?
- Em đi với ông anh rể của em mà, ảnh cũng
hải quân.
Thì ra vậy. Ðông hỏi:
- Rồi anh ấy đâu?
- Còn làm việc ở dưới bộ tư lệnh.
Ðông hỏi thêm:
- Anh của em cấp bực gì và nhà anh ấy đang
ở khu nào?
- Ảnh trung sĩ, làm ở phòng Tâm Lý
Chiến. Nhà ảnh đang thuê ở đường
Nguyễn Văn Học. Cư xá của nhà máy
nước Nguyễn Văn Học. Em chỉ biết có
vậy, anh rành khu đó không?
Ðông không trả lời câu hỏi của Thu Thu,
thở dài:
- Chuyện của em cũng không có gì quan
trọng. Rồi thời gian nó sẽ làm phôi pha
đi. Em chưa hỏi chưa cưới, chưa mang bầu
chưa có con thì chuyện gì phải lo.
Thu Thu xẵng giọng:
- Chuyện như vậy mà anh cho là không quan
trọng? Anh đâu hiểu gì được em!
Ðông định nói: Anh đâu phải là thần
thánh, mới biết em có mấy tiếng đồng hồ,
nhưng thôi. Ðông im lặng. Thu Thu cũng im
lặng... Ðông trả tiền nước rồi đưa
Thu Thu ra ngoài:
- Giận anh hả?
- Ðâu có.
Thu Thu ghé lại xe bánh mì ở góc đường mua
luôn hai ổ. Không cho Ðông trả tiền, cầm
một ổ đưa cho Ðông. Ðông từ chối,
Thu Thu vọt miệng:
- Anh không ăn em ăn hết à, em đói bụng.
- Cứ tự nhiên.
Rồi Thu Thu vừa đi vừa ăn. Ðông choàng tay
ôm vai, hai đứa cặp kè đi lần về phía
bùng binh. Trong phút chốc cái xa lạ, ngượng
ngùng của buổi ban đầu vụt biến đi mất,
nhường chỗ cho thân mật tự nhiên. Da thịt
cạ vào nhau. Khuôn mặt trái soan hiền dịu,
Ðông tưởng tượng đến nụ hôn đầu
rồi mỉm cười một mình. Nửa đường
băng qua Khai Trí xem sách. Loay hoay chẳng mua
được gì, sau cùng Ðông hỏi:
- Thu Thu này, bây giờ em muốn anh đưa em về
nhà hay là em muốn trở lại bệnh viện với anh?
- Em muốn ra chợ..., mình còn nhiều thì giờ
mà.
- Nhưng anh phải trở về trước giờ bác
sĩ khám!
Thu Thu do dự:
- Ừ, thôi về cũng được. Anh cho em xuống
ở bộ tư lệnh. Em cần gặp ông anh của em.
Vòng xe về bến Bạch Ðằng, Ðông đậu xe
dựa lề rồi đưa Thu Thu vào phòng chờ
đợi. Thu Thu mở ví lựa ảnh viết
tặng. Ðông nhìn qua chợt nói:
- Cho anh tấm lớn kia thì anh mới chịu, mấy tấm
nhỏ này anh không lấy đâu.
Thu Thu thở ra, tiếc, nhưng rồi cũng chiều ý
Ðông:
- Khi nào rảnh, em sẽ đến thăm anh.
Ðông hăm dọa:
- Nè, nếu không đến thăm anh thì anh sẽ
tìm đến tận nhà đó...
Một cuộc chia tay không gì bận bịu. Về tới
nơi cũng vừa đúng lúc bác sĩ bắt
đầu đi thăm bệnh. Ðông đi thẳng vào
trong thay đồ, mặc lại đồ nhà thương,
trở ra leo lên giường nằm nghỉ. Bác sĩ
Hoàng ngó Ðông lom lom. Chẳng màng. Ðầu
óc Ðông bây giờ chỉ lảng vảng hình bóng
Thu Thu. Ai ngờ Ðông có một người em gái
hậu phương duyên dáng như vậy! Ðông
nghĩ chắc mình sẽ lên cơn sốt trở lại.
Bác sĩ khám xong, vừa đi khỏi thì Phước
như không thể chờ đợi được nữa,
hỏi dồn:
- Thế nào toa, chuyện ra sao? Coi bộ toa có số
đào hoa! Con bé dễ thương quá cỡ!
Ðông thành thật:
- Tự nhiên con nhỏ vào thăm moa, thế thôi...
Rồi như chợt nhớ ra điều gì, Ðông tiếp:
- À, mà moa cũng quên hỏi nó tại sao nó
lại thăm moa mà chẳng thăm ai khác. Như toa
chẳng hạn! Không được, moa phải check lại
với mấy cô y tá.
Ðông nhảy xuống giường, Phước lót tót
theo sau. Cả hai đi ra phòng trực. Ðông lên
tiếng:
- Hồi trưa này làm sao mà mấy cô cho con bé
đó vào thăm tôi?
- Con bé nào?
- Còn con bé nào nữa!
- À, cô ấy nói là cho cô ấy thăm ông
sĩ quan nào ở phòng Chiến Tranh Chính Trị hoặc
phòng Nhì. Phòng Chiến Tranh Chính Trị thì
không có ai hết, phòng Nhì thì chỉ có mình
thiếu úy thôi.
Phước cười ra tiếng:
- Phòng Nhì toa như vậy thì bỏ mẹ
rồi. Ðặc công cộng sản nó vô tới
trong ruột, trong tim mà còn chưa hay.
- Vừa thôi! Ðặc công cộng sản đâu
có đứa nào coi được như vậy toa...
Rồi ngày qua ngày, Ðông mỏi mắt trông chờ
hình bóng Thu Thu mà than ôi, người ra đi có
bao giờ trở lại? Mãi cho đến ngày xuất
viện cũng vẫn biền biệt tăm hơi. Không
còn chần chờ gì nữa, Ðông phải ra tay nắm
lấy cái phao cuối cùng. Một chiều cuối tuần,
Ðông xách Vespa thân hành đến nhà máy
nước Nguyễn Văn Học. Một dãy cư xá
lợp tôn lạnh vách ván năm căn. Hỏi thăm
từng nhà, từng nhà một. Thu Thu? Thu Thu
nào? Thu Thu của Ðông? Sao chẳng ai biết gì
hết vậy? Thôi rồi,
tìm em như thể tìm
chim, chim bay biển Bắc anh tìm biển Nam.
Ðông được lệnh đổi về Bình
Thủy, Cần Thơ. Bộ tư lệnh Hải Quân hành
quân Sông. Ðông không ngạc nhiên gì hết,
Ðông đã biết trước vì đã tiếp
xúc với đại tá trưởng phòng. Nhân
viên phòng Nhì mỗi lần thuyên chuyển cũng
dễ thở hơn, có thì giờ chuẩn bị, thu
xếp. Không như quân số thuộc phòng Tổng
Quản Trị, như trên trời rớt xuống, đùng
một cái khăn gói lên đường. Ở Sài
Gòn lâu rồi cũng chán, đổi về Vùng 4
bề nào cũng đỡ hơn trở ra miền
Trung. Ðược dịp đi thì đi, Ðông còn
độc thân, đâu có nhà cửa con cái thì
gì phải bận tâm. Chỉ có bạn bè, nhưng
rồi sẽ gặp lại, Ðông tự an ủi như vậy.
Hôm nay là ngày cuối của Ðông, tất cả
nhân viên trong phòng được nghỉ sớm hơn
một giờ, kéo nhau ra hành lang phía sau làm tiệc
nhỏ tiễn Ðông lên đường. Bia lon và
đồ khô, có vậy thôi mà cũng vui,
được dịp ăn nói cởi mở. Bia hết thì
ai nấy cũng ra về. Trời lập đông, gió
từ bên hãng BGI thổi qua lành lạnh. Nghĩa,
người bạn cùng khóa, và Ðông là hai
người còn lại sau cùng cũng lững thững đi
xuống cầu thang...
- Thiếu úy, phải thiếu úy làm ở phòng
Nhì?
Ðông nhìn anh trung sĩ đang nhìn chầm chập
vào bảng tên của mình, trả lời:
- Phải, có chuyện gì không?
- Tôi muốn nói chuyện riêng với thiếu
úy một chút.
Nghĩa hiểu ý, xen vào:
- Thôi tao về trước nghe mậy. Hôm nào
tụi mình gặp lại. Chúc mày đi may mắn.
Ðông chờ Nghĩa xuống hết cầu thang, vẫy tay
tiễn bạn, rồi mới trở lại vấn đề:
- Sao?
- Thiếu úy có biết Thu Thu không?
Thu Thu? À Thu Thu! Ðông chỉ gặp Thu Thu có
một lần đó rồi cả năm qua kẻ chân trời
người góc biển. Sao hắn ta lại biết? Suy
nghĩ giây lát, Ðông nói:
- Biết chớ! Tôi biết Thu Thu lúc tôi nằm
bịnh viện. Lâu quá rồi tôi cũng muốn
quên. Nếu tôi đoán không lầm thì anh
là anh rể của cô ấy phải không?
- Dạ phải, dì Thu có kể chuyện ghé thăm
thiếu úy cho vợ chồng tụi tôi nghe.
- Hừ, tôi với cô ấy có lẽ có duyên
mà không có nợ! Anh tìm tôi lúc này
cũng hơi muộn rồi vì ngày mai tôi sẽ lên
đường đi Cần Thơ. Dạo này anh ở
đâu?
- Tụi tôi dọn về cư xá Cửu Long từ dạo
đó đến nay...
Ðông ngắt ngang:
- Hèn chi.
Rồi cảm thấy mình lỡ lời, tự nhiên vạch
lưng cho người ta xem thẹo, lật tẩy cho người
ta biết là mình đã tìm đến đó.
Nhưng hắn hỏi lại:
- Thiếu úy đổi luôn về Cần Thơ à?
Ðông gật đầu:
- Ừa.
- Dì Thu cũng đã xuống Cần Thơ mấy
tháng nay, đang học lớp Cán Sự Y Tế.
- Anh nói sao? Thu Thu đang ở Cần Thơ
à? Lại không hẹn mà gặp nữa
rồi... Thôi, tôi phải đi. Chúc anh ở
lại mạnh giỏi.
- Cám ơn thiếu úy. Hi vọng có ngày còn
gặp lại thiếu úy...
Hình bóng Thu Thu lại lởn vởn theo Ðông suốt
con đường Sài Gòn-Cần Thơ-Bình
Thủy. Ðông thấy lòng nao nao nhung nhớ, rõ
ràng là duyên kỳ ngộ. Trường Cán Sự
Y Tế? Ðược! Rồi Ðông sẽ đến
hang hùm để bắt hùm con..., hùm cái, hùm
dậy thì.
Tất cả sĩ quan độc Thân dồn vào hai dãy
BOQ, Bachelor Officer Quarter. Là căn cứ Mỹ mới bàn
giao, BOQ ở đây cũng rất là tiện nghi, máy
lạnh từng phòng một vẫn còn đầy đủ.
Mess Hall cũng gần và ông đầu bếp nấu
đồ ăn hết sẩy. Ðông gặp lại một
lô bạn bè cùng khóa, chiều chiều họp mặt
nhâm nhi, tán gẫu, nghe nhạc.
Căn cứ hải quân Bình Thủy và bên kia
đường phi trường Trà Nóc làm thành một
khu quân sự biệt lập trong vùng. Chỉ một
phần nhỏ của căn cứ lấy làm Bộ tư
lệnh hành quân Sông, còn bao nhiêu là Thủy
xưởng. Bây giờ Ðông mới thấy cái
không khí làm việc ở bộ tư lệnh Sài Gòn
ngột ngạt làm sao. Ở đây ai cũng tà tà,
nghĩ đến chuyện chơi nhiều hơn chuyện
làm. Xa mặt trời bớt nóng.
Chỉ cần vài ngày là chỗ ăn chỗ ở coi
như tạm sắp xếp xong. Không thể chờ đợi
lâu hơn, Ðông phải đi tìm Thu Thu. Lại
một chiều cuối tuần, nhưng lần này Ðông
rủ Phát cùng đi vì Phát có chiếc
jeep. Phát nghe chuyện biết là sẽ có màn
hấp dẫn nên chịu đi theo. Ðến đúng
địa điểm ghi nhận trên bản đồ, Ðông
bảo Phát chờ ngoài cổng để một mình
Ðông thăm dò tình hình. Một lúc sau,
Ðông trở ra cũng đơn thân độc mã,
Phát cười hỏi:
- Sao mậy, có gặp được em không mậy?
Ðông thở dài:
- Chả có ma nào tên Thu Thu học ở đây
cả. Chẳng lẽ nó tốt nghiệp sớm! Quê
thiệt. Ðúng là cái tên anh rể lông bông
đó cho tao đi tàu giấy một lần nữa. Ở
đây thì chỉ có một cái trường đào
tạo y tá này thôi, phải hôn? Bà giám thị
cho coi hết danh sách. Năm thứ nhất không có,
năm thứ nhì cũng không. Sao kỳ vậy ta?
Phát cắt ngang:
- Thôi, dẹp Thu Thu của mày qua một bên đi,
ở đây thiếu gì em. Tao chở mày ra bến Ninh
Kiều nhậu.
Ðông buột miệng:
- Ði thì đi.
Cần Thơ! Mới biết nhau mà đã gặp trắc
trở! Chỉ tại mình, Ðông tự nhủ. Thành
phố này còn nhiều điểm, nhiều điều
đáng tìm hiểu, phải vui chơi cho biết đó
biết đây với người ta. Bến Ninh Kiều,
bến xe Mới, cầu Tham Tướng, cầu Ðôi, cầu
Cái Răng, những địa danh nghe lạ tai. Xe lôi,
xe tàu mo nữa làm gì có ở Sài Gòn. Món
nhậu nghe nói cũng khác: rùa, rắn, chim, chuột.
Những xa lạ sẽ là những khám phá cho người
mới tới... Ðông đang nghĩ miên man thì
Phát cũng chạy xe đến bến Ninh Kiều.
Ðông thấy dòng sông, thấy nhà hàng nổi
và những dãy bàn ghế trống lỏng trống trơn
bên bờ. Gió sắp Tết hiu hiu thổi...
Còn sớm, chưa mấy ai đi nhậu giờ này.
Phát đề nghị:
- Ê, tao mày xáp lại hai con nhỏ ngồi đằng
kia cho có bạn.
- Chắc ăn không đó mậy?
- Thì phải thử chớ làm sao biết được.
Có le que vài người, ngồi riêng thấy không
hợp chút nào hết.
Tiến lại gần bàn, Phát lên tiếng trước:
- Xin lỗi hai cô, hai cô có thể cho tụi này
tham gia được không? Cho có bạn! Tụi tôi
sợ ngồi một mình lắm.
Hai cô gái nhìn nhau một lúc, rồi một cô
lên tiếng:
- Mời hai anh cứ tự nhiên.
Phát vừa kéo ghế ngồi vừa nói:
- Hên quá... Tôi là Phát, anh bạn tôi
Ðông. Tụi tôi đóng ở Bình Thủy.
- Khỏi cần giới thiệu cũng biết hải quân
Bình Thủy rồi.
Rồi hai cô gái cười ngặt nghẽo. Ðông
tiếp luôn:
- Còn hai cô, nếu tôi đoán không sai thì
hai cô là... cô giáo.
- Sao mấy anh đoán hay vậy.
Ðông định nói là học trò vì thấy
trên bàn có mấy cuốn sách, nhưng muốn nói
cho hai cô lên một chút. Không ngờ lại
trúng thiệt.
- Nghề nghiệp mà... Xin lỗi hai cô tên gì
cho dễ kêu.
- Chị đây chị Thủy, tôi tên Phương.
- Cô Phương với cô Thủy dạy ở
trường nào? Có gần đây không?
- Hỏi chi kỹ vậy...
Câu nói tạt ngang làm Ðông hơi cụt
hứng. Ðông ngồi kế bên Phương, Phát
ngồi kế bên Thủy. Thấy Phương và Thủy
ăn bánh "cống," Ðông và Phát cũng bắt
chước kêu theo, kèm theo bia. Ðông mới tới
Cần Thơ, cái gì cũng xa lạ, rồi nhớ đến
Thu Thu ngày nào mới đến Sài Gòn, chắc như
Ðông cái gì cũng xa lạ. Ðồng bệnh.
Nhưng mấy cô gái Tây Ðô hình như dễ
thông cảm hơn, dễ kết bạn hơn. Giọng nói
thành thật, tự nhiên. Nói đủ thứ chuyện,
vui đùa đến nỗi thời gian qua không
hay... Lúc Phương và Thủy kiếu từ, Ðông
nhìn quanh thấy bàn nào cũng có người, chật
nứt. Ðèn đuốc sáng trưng. Biết
Phương và Thủy từ chối không chịu cho bọn
Ðông và Phát đưa về nhà thiệt, Phát
nói vói theo:
- Nếu Thủy và Phương có rảnh thì hôm
nào làm ơn lên Bình Thủy ghé thăm tụi
này...
Mấy tiếng đồng hồ mà không ghi được
cái địa chỉ thì dở thiệt. Nhưng ý
người đẹp không muốn cho thì cũng không
làm gì khác được. Ðông thấy mến
Phương, thích cái kiểu cách còn trẻ con.
Nhưng rồi cũng như Thu Thu, một cánh chim trời,
đường ai nấy bay dễ gì gặp lại. Ðông
định đề nghị với Phát đi theo lén,
nhưng thôi, thấy cũng đủ cho một buổi
chiều. Hai đứa chen chân trở về chỗ đậu
xe. Thiên hạ đông như chợ Tết. Vừa ra
khỏi đám đông, Ðông dặm chân tại
chỗ:
- Ê Phát..., chờ tao một chút.
Mắt Ðông không rời hai cô gái đi bên kia
đường. Hình như quen quen, Ðông cố moi
móc trong trí nhớ. Bất thần Ðông nhớ ra,
mừng quá vỗ tay "bốp" một cái:
- Ê, đúng rồi! Thu Thu, Thu Thu chứ còn ai
nữa? Phát, mày ở đây chờ tao.
Ðông chạy băng qua đường chận đầu
hai cô gái:
- Thu Thu. Cô có phải là Thu Thu?
- Anh Ðông. Anh làm em hết hồn. Anh đi
đâu đây? Anh làm gì ở đây?
Ðông tíu tít:
- Thiếu chút nữa anh nhìn Thu Thu không ra. Anh
mới đổi xuống đây được một tuần.
Em ở dưới này bao lâu rồi? Em còn đi
học không?
- Em nghỉ học lâu rồi... À, hôm nào
rảnh anh đến nhà chơi. Anh biết quán cà
phê Lan không? Cách vài căn có tiệm cho
mướn sách, anh đi vào hẻm kế bên đó,
và nhà em là căn nhà gạch thứ ba bên
trái. Nhớ nghen. Em phải đi để chị em
chờ kia.
Ðông nửa đùa nửa thật:
- Gì, lâu ngày mới gặp lại nhau, chưa nói
được câu nào, em bỏ đi thì còn gì
tình nghĩa.
- Không được. Em phải đi. Chị em khó
lắm. Nói chuyện với anh như vầy cũng đủ
bị rầy rồi. Hôm nào tới nhà em nha.
- Thu Thu...
Ðông trông theo bóng Thu Thu cho đến lúc khuất
qua góc phố rồi lẩn thẩn trở về với Phát.
- Mày hên quá chừng. Con nhỏ trông khá
đó. Tới trường không gặp mà chịu
gặp giữa đường hả. Sao mày không đi
theo nó?
Ðông không trả lời Phát. Không ngờ mình
gặp lại Thu Thu. Hơi khó nghĩ. Hình như
có gì thay đổi giữa hai đứa? Mà Ðông
có là gì của Thu Thu đâu? Ðông hiểu
như vậy! Bạn chưa ra bạn, tình chẳng ra
tình, làm gì mình phải bận tâm! Ừ, tại
sao mình không theo Thu Thu? Từ từ! Nhớ lời Thu
Thu dặn dò, Ðông quay qua hỏi Phát:
- Mày biết quán cà phê Lan không?
- Quán Lan ở đây thì ai mà không
biết. Bộ em ở đó hả?
- Gần đó, mày chạy ngang cho tao thấy.
- Chưa gì dấu nữa rồi...
Mấy ngày sau, lẽ dĩ nhiên Ðông trốn bạn
đi tìm Thu Thu một mình:
- Xin lỗi, có cô Thu Thu ở nhà không anh?
Anh chàng ở trần vận quần xà lỏn, đứng
tựa cửa trả lời:
- Thu Thu? Ở đây không có ai là Thu Thu hết!
- Ồ, xin lỗi nha, chắc tôi ghé lộn nhà!
Lộn làm sao được? Rõ ràng chỉ có một
căn nhà gạch duy nhất phía bên trái! Lại cho
mình đi tàu giấy? Có lẽ nào mới đó
mà dọn về cư xá Cửu Long lẹ vậy? Nhứt
quá tam, hai lần ở Gia Ðịnh một lần ở Cần
Thơ là quá đủ cho tội si mê người trong
mộng. Nản thiệt. Chừng nào mới biết học
khôn? Chừng nào mới chịu thỏa mãn? Chưa
đâu, qua tuần sau Ðông ghé lại hỏi thăm
lần nữa:
- Xin lỗi bà có cô Thu Thu ở nhà?
- Ở đây đâu có đứa nào tên Thu
Thu! Nhà toàn là con trai cậu ơi!
Cay đắng chưa? Mà căn nhà này tại sao
lại đổi chủ liên miên? Thôi, mặc
kệ. Ðã xong rồi. Rõ ràng
tìm em như
thể tìm chim, chim bay Phong Nẫm anh tìm Phong Dinh...
Chiều ba mươi Tết. Lần đầu tiên Ðông
ăn Tết xa nhà. Cấm trại một trăm phần
trăm, vui xuân tại chỗ. Ðông cảm thấy
thiếu một cái gì. Không khí gia
đình? Có lẽ vậy.
- Thiếu úy, thiếu úy có người nhà tìm
ngoài cổng.
Ðông thắc mắc:
- Hừ, ba mươi Tết mà ai tìm vậy ta? Trai
hay gái vậy anh?
- Cô này trẻ, đẹp lắm thiếu úy.
Phát xen vào:
- Thôi rồi, con Thu Thu nó tới tìm mày đặng
nó giao con kia kìa!
Ðông giả vờ:
- Thu Thu nào? Bậy mậy, nói vậy tụi nó
cười tao!
Ðông vội vã đứng dậy về phòng thay
đồ.
- Ê, bộ đi luôn không trở lại sao mậy.
- Sao biết được. Nếu tao không trở lại
trong vòng nửa tiếng thì tụi bây cứ tiếp
tục nhậu. Khỏi chờ.
- Thằng dám mê người nhà bỏ bạn bè.
Ðông chưa đoán ra ai là người đang
chờ mình ngoài cổng. Trẻ, đẹp. Không
lẽ Thu Thu. Thu Thu làm gì biết Ðông ở
đây. Mà hải quân thì chỉ có hai nơi,
Vùng 4 Sông Ngòi hoặc Bình Thủy thì ai tìm
chả được. Cũng hợp lý...
- Kìa, anh Ðông, anh còn nhớ em không?
- Chào cô Phương, dữ hôn, mấy tháng
trời mới chịu đến thăm anh một lần. Mấy
tháng trời nhớ thương, chớ làm sao mà quên
Phương cho được.
- Buồn quá, tính lên đây rủ anh đi chợ
Tết cho có bạn.
- Buồn gì, Tết thì phải vui chớ sao lại buồn.
- Anh đi với em xuống phố được không?
- Ði ngay bây giờ?
- Chớ sao. Lẹ lên, trời sắp tối rồi.
- Ði thì đi. Chờ anh thu xếp công việc
đã. Anh đang trực.
Ðông viết giấy nhờ Phát lo dùm "công vụ,"
đưa anh gác cổng chuyển lại, rồi cả hai
đón xe ra phố. Chợ ba mươi Tết vẫn còn
đông nghẹt người ta, Ðông theo Phương
tới lui không biết bao nhiêu phố phường. Coi
thì nhiều mua thì ít. Mỏi chân, Ðông
đề nghị Phương đi xem ciné, rạp Tây
Ðô cũng gần. Phương đồng ý. Tánh
Phương trẻ con, thành thật. Hai đứa mới
đi chơi với nhau lần thứ hai, nhưng tưởng
chừng như đã quen thân từ kiếp trước.
Lúc tan ciné thì đã mười một giờ
rưỡi đêm. Ðông lúng túng chưa biết
phải đưa Phương về nhà hay về... căn
cứ. Một ý nghĩ đen tối, tội lỗi. Hai
đứa đi lần về phía chợ. Phương
đột nhiên nói:
- Em muốn đi chơi với anh suốt đêm nay,
đêm giao thừa. Em không muốn về nhà nữa.
Ðông hết sức ngạc nhiên với câu nói
của Phương. Ðâu ngờ người con gái
hiền hòa, nhã nhặn lại có quyết định
lãng bạc giang hồ như vậy. Ðông thử
mở lời:
- Em muốn về trại với anh không?
- Giờ này thì con xe đâu mà về trại.
- Em nói sao? Không có xe về Bình Thủy hả?
Ðông đâm lo không biết rồi phải về
đâu đêm nay. Những lần đi chơi trước
Ðông có bạn bè, có xe cộ sẵn sàng, có
bao giờ Ðông nghĩ đến chuyện này.
Phương đề nghị:
- Hay là mình vào đây!
Ðông nhìn lên bảng hiệu:
- Khách sạn Phong Nhã...
Ðông vui hưởng một đêm giao thừa ấm
cúng nhất trong đời. Sáng ngày Phương
đưa Ðông về quê thăm ba má Phương.
Xuống cầu Cái Răng, hai đứa lấy vé đò
đi ngược lên nguồn. Dòng sông càng lúc
càng nhỏ lại, nhỏ lại, rồi như một con
rạch. Ðò không đi được nữa, trạm
cuối cùng. Hai đứa tiếp tục đi bộ theo
đường mòn dọc bên bờ sông độ nửa
giờ nữa mới tới nhà. Ðông không hiểu
mình đi đã bao xa. Vườn tượt trùng
trùng điệp điệp. Ba má Phương lại vui
vẻ chấp nhận Ðông như người trong nhà.
Kể cũng lạ. Ðông ở lại đêm mùng
hai, sáng mồng ba Phương đưa Ðông ra bến
đò trở lại Cần Thơ. Ba ngày Tết tàu
đò cũng được trang trí rực rỡ, bông hoa
cờ xí đủ màu, trông đẹp mắt. Ngồi
trong tàu đò một mình, nhìn thiên hạ đi
bộ dọc hai bên bờ sông, áo quần bảnh bao,
lũ là lũ lượt, Ðông thấy mình cô
đơn. Ðông muốn có Phương ở bên
mình, ngay trong giờ phút này, cho cái Tết xa nhà
được thêm phần trọn vẹn...
Vừa mới được thăng cấp trung úy
thì Ðông lại nửa bị nửa được thuyên
chuyển đi nơi khác. Phú Quốc, bộ tư lệnh
Vùng 4 Duyên Hải. Ðông cũng sắp nửa bị
nửa được thăng chức cha. Phương có mang
đôi ba tháng. Cô giáo gì mà khờ quá,
có bầu mà cũng không biết, Ðông hay mắng
yêu như vậy. Ðông đi trước một mình,
khi nào xin được cư xá thì sẽ đem
Phương theo sau. Lần này tiệc tiễn Ðông
lên đường có vẻ thân mật ấm cúng
hơn vì được tổ chức tại nhà. Căn
phố trong khu bến xe Mới mà Phương và Ðông
đã thuê và sống chung với nhau như vợ
chồng... Phát bất thần góp ý:
- Ê, mày thấy gì không Ðông? Nhìn con
nhỏ xướng ngôn viên coi, tao thấy giống quá.
- Ú...i cha! Ðúng rồi! Sao kỳ vậy ta?
Suýt chút nữa Ðông kêu "Thu Thu" thành tiếng
ngay trước mặt Phương. Lâu lắm rồi không
gặp, hình bóng Thu Thu tưởng đã phai mờ trong
tâm trí, ai dè mới thấy Thu Thu dù chỉ trên
màn ảnh ti-vi, Ðông cũng không khỏi không
giật mình.
- Chuyện gì vậy?
Ðông nhanh trí:
- Ối, anh Phát ảnh muốn nhìn bà con đó
mà.
Phương chẳng nghi ngờ gì hết. Phương
chẳng biết hình bóng Thu Thu đã trở về trong
tâm trí Ðông. Cái hình bóng đã nhiều
lần theo Ðông vào giấc ngủ và ảnh
hưởng đến Ðông luôn cả cử chỉ,
lời nói. Sáng ngày sau Ðông kiếm cớ vào
sở, gọi điện thoại ngay đài truyền hình
Cần Thơ tả oán:
- Chiều hôm qua xem ti-vi trong phần tin tức, tôi
thấy cô xướng ngôn viên quen quen, phải cô
ấy tên là Trần Thị Thu Thu không anh?
Ðầu kia trả lời:
- Ðể tôi check lại xem...
Và một lát sau:
- Ðúng rồi, cô ta là một trong những thí
sinh dự tuyển cho đài chúng tôi, nhưng chưa
có kết quả.
- Anh cho tôi xin địa chỉ của cô ấy có
được không anh?
- Dạ không được ạ. Chúng tôi không
có quyền tiết lộ những chi tiết cá nhân.
Ðông thấy mình hố, hỏi một câu hỏi ngớ
ngẩn. Ðã quen biết Thu Thu mà lại xin địa
chỉ từ một người khác thì quen biết kiểu
nào? Thì ra Thu Thu vẫn còn ở Cần Thơ, lẩn
quẩn đâu đây. Nhưng muộn rồi vì ngày
mai Ðông ra đi, sẽ không còn cơ hội.
Mưa lai rai suốt mấy ngày liền, ảnh hưởng
bão lụt miền Trung, trời u buồn ảm đạm.
Như buổi chia tay buồn ảm đạm của Ðông.
Rồi suốt đêm nằm trên tàu từ Rạch Giá
ra Phú Quốc, Ðông không nhắm mắt được
tí nào. Ðông nhớ Phương nhiều lắm,
thỉnh thoảng lại quay ra nhớ Thu Thu. Ðông trách
mình như có vợ, thêm sắp có con, sao lại
nghĩ vẩn vơ.
Ðông tạm trú ở BOQ, một dãy dài cất
sát bờ biển, ngày đêm sóng vỗ rì
rào. Chờ xin cư xá gia đình sĩ quan, cất
cũng gần đây, sát bên ngoài vòng rào
bộ tư lệnh. Ðông hi vọng sẽ có một
căn trống nay mai. Ðại úy trưởng phòng
thì dễ rồi, đại úy Hưng, thầy trò cũ.
Ðông có lần đã làm sĩ quan phụ tá cho ổng
hồi còn ở Sài Gòn. Ðông cứ đinh ninh
mình được đại ca kéo về đây vì chỗ
này chỗ ăn chịu. Nhưng đại úy cho biết
tất cả sắp xếp đều do ở trên. Cũng
hên!
Vài tuần sau, đại úy rủ Ðông làm lai rai
trên sân thượng của quán Bò Vàng, đại
úy đưa cho Ðông một phong bì:
- Phần của anh đó.
Ðông mở hé thấy nhiều quá:
- Ở đâu vậy đại ca?
- Ở đâu thì lần lần rồi anh sẽ
biết. Ở ngoài này dễ làm ăn lắm. Hồi
tôi mới ra tôi cũng ngỡ ngàng như anh.
Nhưng Ðông chỉ nghĩ đến chuyện mình:
- Có chút "địa" dằn túi thì đỡ rồi,
nhưng chừng nào đại ca mới cho tui đi phép
đây? Tui phải về thăm con vợ đang mang bụng
bầu của tui đại ca ơi!
- Về cái gì, mới ra chưa đầy tháng mà
đòi về rồi. Tuần tới lo vụ tiếp cư ba
chục ngàn dân tỵ nạn từ Vũng Tàu chuyển
ra mà hộc xì dầu, anh đi sao được, để
từ từ đã.
Trại tù Phú Quốc có lần lấy làm trại cai
sì-ke bây giờ biến cải làm trại tỵ nạn.
Một lô sĩ quan đi học các khóa tham mưu trung
cấp, cao cấp được biệt phải tăng cường
cho công tác này. Họp trưa, họp chiều, họp
tối, họp lớn, họp nhỏ..., họp liên miên.
Sĩ quan tham mưu cấp tá đang học một khóa
đặc biệt: khóa trưởng trại. Bao nhiêu
trại? Năm chục. Ba chục ngàn năm chục
trại, mỗi trại sáu trăm. Sáu trăm đâu
phải ít, chắc phải che thêm lều trong rừng.
Vấn đề an ninh thì sao? Giao cho mấy tiểu
đoàn đặc khu. Ăn uống thì sao? Nước,
hạn chế tối đa. Thực phẩm, không thiếu,
máy bay Mỹ sẽ chở ra. Nồi niêu xoong chảo,
sẽ viện trợ cấp tốc từ Rạch Giá. Tiểu
tiện, chưa quyết định được, tạm thời
xài mấy ngàn cái giá, đào lỗ xong rồi
lấp lại.
Phòng Nhì làm gì? Giải giáp quân ta, khám
xét tịch thu hết súng lớn súng nhỏ. Lập
biên bản giữ tiền, vàng, đồ vật quí giá
của đồng bào cho tư lệnh. Mỗi đầu
người chỉ được giữ tối đa một triệu
tiền mặt. Tiền để nhiều trong mình dễ
gây lòng tham cho người bên cạnh. Cấm không
cho dân rời đảo trở về đất liền, không
được làm nao núng tình thế.
Tất cả đều được dự đoán, trù
tính, sẵn sàng. Sáu chiếc cargo của Mỹ, mỗi
chiếc năm sáu ngàn người tới đậu lù
lù ngoài khơi. Tàu há mồm LCVP, LCM, LCU mỗi
chuyến ra bốc một trăm, hai trăm, ba trăm
người. Có khả năng bốc mỗi ngày một
chiếc. Ai nấy hốc hác, tiều tụy, thiếu sức.
Lều cứu thương mọc nhanh như nấm dọc bãi
ủi. Nhiều người già cả, chắc không sống
nổi. Cha làm phép, sư tụng kinh cũng đã cấp
thời biệt phái tới nơi hẳn hòi.
Qua chiếc thứ hai lại gặp bọn sì-ke ma-túy,
cướp bóc, hãm hiếp đàn bà con gái ngay
trên tàu, dân chúng oán than. Làm sao tóm
cổ bọn này? Ðột kích ban đêm. Xong
rồi làm sao nữa? Tử hình. Phải xin lệnh
Sài Gòn? Tử hình tại chỗ. Ngay giữa trưa,
tên đầu xỏ bị đưa ra mé biển cạnh
bãi ủi bắn làm gương trước mặt những
nạn nhân. Ghê quá. Tên thứ hai, tên thứ
ba... giao cho địa phương quân có toán xạ
thủ đàng hoàng. Chiếc thứ ba cũng bị
tình trạng như vậy. Chiếc thứ tư thì
đỡ hơn...
- Anh Ðông, anh Ðông...
Ðông quay lại, sửng sốt:
- Thu Thu, em đi đâu mà mặt mày bơ phờ,
bèo nhèo như thế này. Thêm con của ai bồng
theo lang thang lết thết đây?
- Ðúng là trời cho em gặp anh, em mừng
quá. Chuyện của em dong dong dài dài lắm,
chưa tâm sự với anh được. Bây giờ
mình phải làm gì?
- Lại cũng dong dong dài dài! Thôi, em đứng
đây chờ anh, đừng đi theo họ. Tụi nó
chở em lên trại tù thì khó lãnh ra lắm.
- Chở lên trại tù?
- Ừa, trại tù làm trại tỵ nạn...
Ðông chạy qua chỗ đại úy trưởng phòng:
- Ðại ca cho thằng em mượn chìa khóa xe một
chút. Gặp người nhà, đại ca, phải
đưa về cư xá mới được.
- Nè, rồi anh phải trở ra đây chớ?
- Tôi sẽ trở ra liền mà.
Ðông đưa Thu Thu và đứa bé lên
xe. Bọn lính ngó lom lom, chẳng hiểu chuyện gì.
Ðông giải thích:
- Bây giờ anh đưa em và cháu đây về
nhà thằng bạn anh ở tạm. Hai vợ chồng nó
mới bỏ về miền Trung hồi hôm qua, chắc không
bao giờ trở lại. Bên vợ nó bác đảng,
hình như làm lớn lắm.
Ðông chạy xe ào ào, cát bụi bay mù
mịt. Băng qua thủy xưởng, vòng xuống bộ
tư lệnh, rồi vọt ra cổng chánh. Thu Thu im lặng
suốt khoảng đường ghồ ghề, cong queo. Mở
khóa đưa Thu Thu và đứa bé vào trong xong,
Ðông còn dặn dò thêm:
- Coi như nhà của mình. Muốn làm gì thì
làm, đừng ngại. Nhưng nhớ đừng có đi
đâu nha. Anh trở ra bãi độ một hai tiếng
thì anh về.
- Em cám ơn anh nhiều lắm.
- Cứ nghỉ cho khỏe đi. Ðừng bận tâm!
Ðông trở lại nhiệm sở mà đầu óc
ngập tràn hình bóng Thu Thu. Rõ trời bất dung
nhơn đảng, đi đâu cũng gặp. Ðông
cứ trông cho hết chuyến càng sớm càng tốt.
Cũng may chiếc thứ tư này chở ít người
hơn nên loay hoay một chút thì đến chuyến
LCU chót. Xong một ngày tiếp cư. Còn hai
chiếc nữa. Ngày mai lại bắt đầu. Ðông
về BOQ tắm rửa, thay đồ civil rồi mới ra
thăm Thu Thu.
- Ðể em dọn cơm cho anh ăn.
- Anh định dẫn em đi ăn ngoài phố. Ra
ngoài này anh làm ăn rất là khá giả.
- Anh chị bạn của anh chắc gấp đi dữ lắm,
hình như chẳng có mang theo thứ gì, tất cả
còn y nguyên. Thấy trong tủ lạnh còn đồ
ăn, em làm sơ sơ khỏi phải đi đâu cho
mất công..., miễn là anh đừng chê.
Ðông chiều ý Thu Thu. Cơm nước xong thì
trời đã tối hẳn. Thu Thu tìm chỗ giăng
mùng cho đứa bé, Ðông nằm võng kế bên
giường. Ðồ đạc của người lạ xài
cảm thấy ngượng ngượng. Trước lạ sau
quen, cũng tại hoàn cảnh đẩy đưa chớ ai
muốn vậy.
- Chạy loạn kiểu này coi bộ thằng nhỏ thấm
đòn, nằm ngủ say sưa! À, mà con ai vậy Thu?
- Con của anh Quế.
Quế nào? Ðại úy Quế, Trần Chính
Quế? Suy nghĩ một lát Ðông giật mình hỏi:
- Là con của em? Sao tới bây giờ em mới nói
cho anh biết?
- Thì hồi nào mới gặp anh ở Sài Gòn, ở
Pole Nord, anh nói chuyện của em đâu có gì quan
trọng.
- Trời đất, anh làm sao biết được lúc
đó em có mang... À, mà cách đây khoảng
một tháng, anh còn thấy em trên ti-vi Cần Thơ
mà sao bây giờ lại trôi nổi tới đây.
- Ủa, sao anh biết được chuyện
đó? Rất tiếc là em không được
trúng tuyển nên mấy ngày sau em trở về Nha Trang
thăm nhà. Rồi chạy luôn.
- Còn căn nhà gạch ở gần quán Lan?
- Hai lần anh đến thăm, em đều biết. Em
ở đó chớ đâu. Nhưng em nghĩ cho số
phần của em, nghĩ tới anh, rồi em quyết định
tốt hơn không gặp anh nữa. Trừ phi trời cho
em gặp anh bất thần như vầy.
- Thiệt vậy à? Sao em ác quá vậy Thu!
- Không hiểu duyên nợ của anh và em ra sao mà
giờ này em còn gặp lại anh ở đây. Anh
như vị cứu tinh của mẹ con em...
Ngưng một lát, Thu Thu gợi ý:
- Anh Ðông này, hay là anh vào đây nằm
chung với mẹ con em đi. Bên ngoài muỗi
lắm. Mình sẽ thức với nhau, trắng đêm
tâm sự...
Làm gì có chuyện trắng đêm tâm
sự? Ðông nghĩ tới Phương, nhớ tới
lời mời gọi của người con gái trong đêm
giao thừa. Rồi Ðông lại nghĩ tới thân
phận mình. Mới hai ba năm qua mà Ðông
đã thay đổi quá nhiều. Tình cảm của
Ðông bây giờ không còn trẻ con như
xưa. Ôi, những giấc mây mưa, những yêu
thương mời gọi! Một lần nữa Ðông
biết mình rốt cuộc rồi cũng không sao từ
chối được...
Ngày 30 tháng 4, lúc Ðông thức
dậy thì trời đã gần đứng
bóng. Ðông mở radio thăm dò tin tức
kịp thời nghe lời hiệu triệu của
tướng Minh...,
để tiết kiệm xương
máu của chiến sĩ và đồng bào
..., và
lõm bõm sau đó...
chuẩn bị bàn giao cho
những người anh em phía bên kia
... Tiếng
còn tiếng mất trộn lẫn với tiếng rè rè
lúc to lúc nhỏ của loại máy ấp chiến
lược. Ðông hốt hoảng:
- Sài Gòn đầu hàng? Thu Thu ơi, em và con
em chuẩn bị chạy tiếp. Ðể anh vào bộ
tư lệnh xem tình hình ra sao.
Tư lệnh họp tất cả sĩ quan ở hội
trường, người lính cận vệ cho biết
như vậy. Ðông chạy về phòng thay
đồ lính, đến nơi cũng vừa đúng
lúc tư lệnh tuyên bố:
- Bây giờ chúng ta chỉ còn hai con đường,
một đi hai ở. Nhưng tôi muốn các anh, kẻ
ra đi người ở lại trong vòng trật tự...
Lập tức có bàn tay đưa lên cắt ngang lời
nới:
- Xin tư lệnh cho biết, tư lệnh đi hay ở?
Câu hỏi này cũng gút mắc dữ, bộ thằng
này là Việt Cộng nằm vùng hay sao? Ai
vậy? Rể ông Bò Vàng!
- Riêng phần tôi, nếu các anh cần tôi ở
lại để duy trì trật tự trong thời gian kẻ
đi người ở này, tôi sẽ ở lại. Nhưng
trước giờ phút cuối cùng tôi thề sẽ ra
đi, dù một chiếc thuyền con giữa biển khơi
tôi cũng phải đi...
Ðủ quá rồi. Chạy. Mình phải lo thân
mình. Ðông chạy ra cổng thì đúng lúc
Thu Thu bồng con chạy vào. Nhanh lên. Súng đã
nổ lai rai bên ngoài vòng đai. Thiên hạ
đổ xô vào căn cứ. Bọn Ðông chạy
xuống cầu tàu, xuống chiếc ghe riêng
của phòng Nhì đúng như đại úy trưởng
phòng đã dự trù. Dân chúng túa theo tràn
ngập bộ tư lệnh trong phút chốc... Chiến
hạm nhổ neo, ghe lớn ghe nhỏ nổ máy.
Chiếc tàu Mỹ chở dân tỵ nạn từ Vũng
Tàu đổ lên đảo, bây giờ chỉ chở toán
nhân viên đài Mẹ Việt Nam mới được
đưa xuống hồi tối đêm qua, cũng bắt
đầu xả khói ra khơi. Chạy. Ai cũng
chạy. Không ngờ sự tan rã xảy ra trong
chớp nhoáng.
Ghe rời cầu tách bến, trực chỉ các chiến
hạm nằm cạnh hòn Thơm đang từ từ di
chuyển. Ðông cảm thấy mình mất mát
một cái gì quá lớn lao! Rồi bỗng
nhiên Ðông nghĩ đến Phương, quên bẵng
mẹ con Thu Thu đang ngồi bên mình, bâng quơ
trách đàn anh:
- Phải chi đại ca cho đàn em về Cần Thơ
thăm vợ con thì được rồi. Một chuyến
ra khơi là một lần chia ly vĩnh biệt...
back to top
play audio
10. TRĂNG MẬT BẾN SÔNG CẦU
NGUYỄN TẤN HƯNG
Ðêm đã khuya, tiệc đã gần tàn.
Hoàng nghĩ mình đãi bữa nay cũng không
đến nỗi tệ lắm. Bạn bè có mặt
đầy đủ. Mình không quí người ta ai
quí mình, mình không đến với người ta ai
đến với mình. Cũng có lý. Ở cái
thành phố nặng mùi thuốc lá này, Winston-Salem,
North Carolina, số gia đình Tar-Heel gốc Giao Chỉ của
mình cũng không có mấy. Ðếm đầu
ngón tay. Số ít nhưng tình nhiều. Chiều
thứ sáu mà không có điện thoại của bạn
bè thấy như thiếu một cái gì. Mình muốn
quên hãng xưởng, quên làm lụng để thấy
weekend còn dài. Chiều thứ bảy vẫn là những
mục tiêu lớn. Và chiều chúa nhật là
những gì còn sót lại, những gì khẩn cấp
cần thiết, vì thứ hai còn phải đi làm. Ba
chiều phải có một chiều, một chiều cho đồng
hương, cho quê hương. Ba chiều có đủ ba
chiều thì càng hay. Lắm khi liên tiếp ba chiều
được Việt ngữ hóa, sáng thứ hai vào sở
phát ngôn mấy tiếng Mỹ đầu ngày như bị
ngọng. Buổi họp về việc tổ chức văn nghệ
gây quỹ bữa nay cũng thành công. Còn dợt
nhạc, còn gặp nhau dài dài...
- Anh cũng ở Sông Cầu nữa hả. Mà sao anh
biết Nghề ở Sông Cầu?
Hoàng cũng không hiểu câu chuyện đầu
đuôi ra sao mà bây giờ dẫn tới màn này,
câu hỏi này. Hoàng trả lời đại:
- Thì nghe thằng Thành nó mới nói.
Nghề ra vẻ trầm ngâm suy nghĩ:
- Từ hồi qua Mỹ đến giờ em chưa bao giờ
nói với ai là em ở Sông Cầu.
Hoàng cắt ngang:
- Sao vậy. Quê hương của mình mà, làm
gì mình lại chối bỏ.
- Em chỉ muốn sống với quê hương cho riêng
mình mà thôi. Em cứ nghĩ hình như trên
đất Mỹ này không còn ai biết Sông Cầu
là gì cả. Thằng Thành nữa, nó chỉ biết
em ở đó thôi chứ nó đâu có biết
Sông Cầu về cái gì đâu... Mà anh còn
nhớ trường trung học Sông Cầu ở hướng
nào không?
- Nhớ cái gì! Anh chỉ nói sơ sơ từ
chiếc tàu chìm trong vịnh, cái sân banh ngó vô
dinh quận, bến xe đò cạnh quốc lộ 1, cái
chợ cất bằng cột dầu vuông, lợp tôn cũng
sát bên quốc lộ 1, với những buổi chợ phiên
có bạn hàng xuống từ trên núi, và... những
con heo nái dẫn con dạo phố cùng đường là
đủ diễn tả Sông Cầu, cần gì cái
trường trung học.
- Trời đất ơi, vậy là anh rành quá
rồi. Không ngờ em lại gặp anh. Anh ở Sông
Cầu vào lúc nào?
Nghề đưa tay ra bắt tay Hoàng, xiết thật mạnh
như tỏ lòng kính mến đàn anh. Hoàng lâng
lâng thả hồn về một thời xa xưa, những
ngày tháng nên thơ tại cái thành phố nhỏ
nhoi miền biển này. Kỷ niệm như có đối
tượng để được khơi lại, để
được bột phát, để được
thấm thía một lần. Hoàng bắt đầu
kể truyện.
Phục vụ trên Hải vận hạm Tiền Giang HQ 405 mới
được hơn một năm thì tôi được
lệnh đổi lên bờ. Tôi là một trong những
thằng cùng khóa bị đổi về bờ sớm
nhất. Không khá được! Tất cả bạn
bè đều còn ở dưới Hạm Ðội mà
mình phải lên bờ. Lẻ loi, bơ vơ, lạc
đàn. Thiệt tình mà nói, lúc đó tôi
đang khổ với ông hạm trưởng lé của tôi,
tôi đang bị trù giống như thời tôi còn
ở trong trường. Thuở đời nay, dưới tàu
mà cũng bị cấm trại dài hạn, cho đến khi
có lệnh mới. Nhưng, tôi vẫn còn thích đi
tàu, đi tàu như đi du lịch khỏi tốn
tiền. Tàu cập bến lúc nào cũng có bạn
bè vì chiếc nào cũng có bạn cùng khóa,
pont cũng như cơ khí. Vả lại hồi xưa
mình đâu có khí phách anh hùng, đâu có
chọn tàu tuần dương miệt mài biển khơi
thì đâu gì phải lo. Tàu vận chuyển có
hải hành nhiều lắm là bốn ngày bốn đêm,
Sài Gòn-Ðà Nẵng chẳng hạn, thì cũng
cập bến, có dịp ngắm nhìn người đẹp,
có dịp say sưa. Cầm cái công điện thuyên
chuyển đã thấy bất mãn mà lại thuyên
chuyển về Tây Kết, bộ tư lệnh Vùng 2 Duyên
Hải, Nha Trang, thì lại càng bất mãn hơn.
Huấn luyện ở đó hai năm, hai năm tung tăng
khắp phố phường, hang cùng ngõ hẻm đã
nhàm chán rồi. Vậy mà bị đưa trả về
đây. Lúc ra trường tất cả đã bàn
giao cho khóa đàn em, cho con cái, cháu chắt hết
rồi, bây giờ đâu có đòi lại
được. Hơn nữa tôi cũng sắp sửa hết
còn độc thân, Lan và tôi đã làm lễ
hỏi năm sáu tháng nay, sau chuyến chở hàng về
Cần Thơ. Bởi vậy lúc vác sac-marin vào Tây
Kết tôi tự hứa: sẽ không bao giờ trở ra phố
Nha Trang nữa. Rồi tôi được thảy xuống
làm sĩ quan trực trung tâm hành quân. Chán
chưa. Sĩ quan trưởng phiên trên tàu có
lý hơn nhiều. Xung quanh mình còn có trời,
mây, trăng, nước, còn được ra lệnh, còn
được làm hạm trưởng tạm thời. Trong "ca"
có súp, hết "ca" có đồ nhai, sẵn trong carré
sĩ quan. Trực trung tâm hành quân chỉ thấy
bốn bức tường và khói thuốc. Lên "ca" mì
gói xuống "ca" mì gói ở câu lạc bộ
và... cờ tướng, bi-da. Cờ tướng và bi-da
như là nghề phụ của hầu hết các sĩ quan
trực trung tâm hành quân. Nhờ cờ tướng
và bi-da tôi lại ăn chịu và quen thân với
đại úy Biên, trưởng phòng một, một tay
cầm cơ có hạng.
- Ðại úy làm sao đưa tôi đi khỏi
chỗ này. Tôi chán ở đây quá.
- Mày đi mất tay chơi sao? Còn mấy chỗ
thiên hạ chê đó mày muốn đi thì đi,
Déji, Sông Cầu chẳng hạn.
- Còn mấy duyên đoàn ở phía nam chi cha
nội, Cam Ranh, Thanh Hải gì đó.
- Không dễ gì đổi vô đó đâu, tao
đề nghị tư lệnh cũng bác, mày mới tới
có mấy tháng.
Rốt cuộc rồi cũng có ngày tôi khăn gói
lên đường đi Sông Cầu, duyên đoàn 23.
Còn đỡ hơn Déji, duyên đoàn 21, duyên
đoàn địa đầu của Vùng 2 Duyên Hải.
Hồi ở đây ngày nào cũng mong đi, đến
lúc đi lại thấy buồn buồn, tiếc tiếc.
Chiếc fibro-ciment, loại ghe chỉ được chế tạo
tại hải quân công xưởng Việt Nam, của duyên
đoàn gửi về sửa chữa ở Cầu Ðá
đã xong và sẵn sàng chờ tôi tách bến.
Ngày ra đi tôi đến từ giã đại úy
Biên, ổng lại gửi tôi một câu thòng:
- Hoàng, mày muốn được đổi về Sài
Gòn không? Nếu muốn thì ký tên vô
đây để tao đề nghị mày về học tình
báo. Ở đây cóc có tên nào chịu đi.
Tôi ký tên đại vào chỗ trống có
đánh dấu. Ðúng ra tôi chỉ muốn trở
về Sài Gòn thôi. Học một khóa sáu tháng
mình như được đi phép sáu tháng, học
một năm mình đi phép một năm. Chứ học
tình báo thì tôi chưa biết có thích hay
không. Chẳng lẽ lại đổi nghề à, nghề
hải quân của mình nó cao đẹp nên thơ
lắm, bỏ sao được. Thây kệ tới đâu
hay tới đó.
Tôi xuống ghe duyên đoàn 23 đi về duyên
đoàn 23. Thủy thủ đoàn biết tôi mới
đổi về đơn vị săn sóc tôi rất chu
đáo không như mấy đứa hạ sĩ quan,
đoàn viên ở trung tâm hành quân, công việc
ai nấy làm, mì gói ai nấy ăn, mình như quan
không có lính. Xế chiều ngày hôm sau thì
ghe về đến bến. Vịnh Sông Cầu rộng lớn,
sóng nước nhấp nhô trông như một mặt
hồ hơn là mặt biển. Tôi ngạc nhiên thấy
chiếc tàu chìm, cứ tưởng mình đang đi
trong sông vì tàu thường chìm trong sông chứ
tàu đâu chìm ngoài vịnh. Ống khói, cột
cờ đài chỉ huy in bóng dài trong nắng chiều.
Chỗ này như là chỗ đi câu lý tưởng,
mà sao không thấy ghe tàu đánh cá, xứ gì
lạ vậy. Tất cả như im lặng, không hoạt
động.
Ghe cập cầu, tôi ngạc nhiên thấy người
đón tôi là trung úy Tám, em của thằng bạn
cùng khóa, thằng Kiết. Tôi chào trung úy
Tám, qua lại vài câu xã giao rồi lang thang theo
hắn ta về trại. Duyên đoàn nằm dọc theo
sông Sông Cầu, bắt đầu từ cửa sông có
cái miếu Thổ Thần cho đến cây cầu sắt
trên quốc lộ 1. Một bãi cát dài chỉ thấy
một nhà kho, và một nhà tiền chế trống trơn
không có vách. Nhiều lô-cốt phòng thủ
vòng đai dọc theo bờ sông, có kéo mấy lớp
kẽm gai tròn. Lội cát một khoảng đừ
người mới đến câu lạc bộ, cư xá hạ
sĩ quan và đoàn viên, rồi đến khu sĩ quan
và cố vấn Mỹ. Tôi bỏ đồ đạc vào
phòng rồi xuống câu lạc bộ sĩ quan, Hội
Trùng Dương, một cái nhà sàn ngó ra dòng
sông. Trung úy Ðịnh cùng khóa với ông
Tám, khóa 15, làm chỉ huy phó. Ông Tuấn,
cũng trung úy, khóa 14, làm chỉ huy trưởng. Ai
cũng trung úy hết, chỉ có tôi là thiếu úy,
khóa 17. Mà sao không có đại úy? Tôi
đến đúng vào giờ cơm nên nhảy vô
nhập tiệc luôn. Tất cả đều độc thân,
chỉ có ông Ðịnh là có gia đình,
vợ mới cưới, chưa con cái và có nhà
riêng ở ngoài phố. Cơm nước xong xuôi
còn lại tôi và ông Tám, ông Tám nói nhỏ
cho tôi biết chỉ huy trưởng của mình là em
của trung tướng Lê Nguyên Khang, em của trung tá
Lê Khánh, tỉnh trưởng Khánh Hòa. Vậy sao,
hèn chi ổng mới trung úy đã nắm chỉ huy
trưởng rồi. Tôi thấy mình như Tôn Tẩn
bắt được cây Hạnh huỳnh kỳ. Trên
đầu như có cây dù quá lớn, bảo đảm
lần thuyên chuyển này sẽ không đến nỗi.
Sĩ quan ăn uống khỏi tốn tiền lại có
đầu bếp giỏi, trung sĩ Ngô. Dọn dẹp
phòng ốc, giường nệm và giặt ủi áo
quần có hạ sĩ Nhánh. Còn đòi hỏi gì
nữa. Tôi được chỉ định làm sĩ quan
kỹ thuật, coi việc bảo trì sửa chữa máy móc
tàu bè, kiêm sĩ quan chiến tranh chính trị, lo
việc phát thực phẩm, áo quần cũ, thuốc men,
quà tâm lý chiến nói chung, cho dân nghèo.
Việc hành quân, tuần tiễu do mấy ông lớn lo
hết, lý do, tôi chưa có kinh nghiệm chiến
trường. Còn gì phải đòi hỏi? Cố
vấn Mỹ có ba tên, đại úy Pine, trung úy
Alexander, và trung sĩ Mập, tại vì hắn ta mập
quá và thích được kêu như vậy.
Ðại úy Pine và trung sĩ Mập nói tiếng Việt
cũng khá lắm, biết chửi thề, văng tục.
Không biết ai dạy tụi nó, thâu băng cho tụi
nó mà tối ngày cứ nghe tape, thực tập rồi
phát ngôn bừa bãi, rồi cười.
Tôi ở được ba tuần chưn ướt, chưn
ráo thì đến ngày xin phép về Mỹ Tho
cưới vợ. Ông bà già vợ nghe nói phải
đi ra tận miền Trung thì ngại lắm, nhưng con
gái lấy chồng thì phải theo chồng, đâu có
cản được. Ngày ra đi bà già khóc
sướt mướt làm như tôi đưa con bà
đi tới chỗ chó ăn đá gà ăn muối,
làm công lên chuyện xuống gì nhọc nhằn lắm
vậy. Tôi phải trấn an Lan vì Lan cũng chưa
lần nào ra Trung, ngoài ấy sống được lắm,
em khỏi phải lo gì ráo trọi, tôi nói như
vậy. Và lời nói này quả thật không sai
tí nào hết. Ðây có lẽ là lần đầu
tiên Lan có dịp đi Air Việt Nam. Ðáp xuống
phi trường Tuy Hòa xong hai đứa tôi đón xe
đò về Sông Cầu. Cũng là dịp đầu
tiên cho tôi được đi qua vùng này bằng
đường bộ. Thường thường hải quân
phải đi đường sông đường biển,
nhưng mấy ai dẫn vợ đi tàu, vừa lâu vừa
bất tiện. Ðường miền Trung lên đèo
xuống vịnh, ngoằn ngoèo trong núi, mù tít trong
rừng. Nhiều đoạn di chuyển thật chậm, theo
toán rà mìn của lính Mỹ, lính Ðại
Hàn. Mệt mỏi rồi cũng đến nơi. Phòng
ở độc thân của tôi trở thành phòng có
gia đình. Cũng không sao, kéo thêm tấm rideau
cho kín đáo một chút. Bên mặt là ông
Tuấn, bên trái là ông Tám, ai cũng muốn
dành căn bìa, hai đứa tôi phải ở căn
giữa. Lan cũng nhảy vô carré sĩ quan "ăn
chùa," tạo thêm đề tài cho ông Tám, ông
Tuấn. Bữa ăn nào cũng vậy, ít khi kết
thúc sớm.
- Rồi, bữa nay ông Hoàng chọn ngồi phía này
đặng dễ dàng ngó qua phía đầu cầu bên
kia rồi.
- Ngó qua bên đó rồi sao?
- Bà này làm bộ ngây thơ nữa. Bà
không biết bên đó có cái quán nước
hả. Cô chủ quán cũng coi được lắm nghe,
hồi bà chưa ra cổ để ý ông Hoàng dữ
lắm đó.
- Không biết để ý ông Hoàng hay ông Tám
đây, cái gì cũng đổ tội cho ông Hoàng
hết chắc có ngày nồi cơm bị bể.
Lan xen vào:
- Chỉ huy trưởng nói vừa vừa thôi.
- Cái bà này hiền khô, tui chịu cái tánh
bà bình dân. Người đẹp phải đẹp
cả thể xác lẫn tâm hồn. Tui không ưa
cái thứ son phấn, õng ẹo.
Khỏi cần giải thích tụi tôi cũng biết ông
Tám muốn nói xiên nói xỏ bà Ðịnh, ông
Tám không ưa gái Nha Trang và cũng có lẽ
tại ông Ðịnh là bạn cùng khóa mà trên
quyền... Cơm nước sẵn ngày ba bữa sáng
trưa chiều, còn bữa tối thì đôi khi tụi
tôi phải làm lấy, khi trung sĩ Ngô không có
ở trong trại. Gà vịt thì nuôi sẵn bên
chuồng, cá, cua, tôm hùm thì rộng sẵn dưới
sông muốn ăn lúc nào cũng có. Riêng
phần tôm hùm, mấy đứa có nghề lặn
được giao nhiệm vụ đặc biệt: đi bắt
tôm hùm cho chỉ huy trưởng. Mỗi ngày. Vậy
mà lớp ăn lớp cho cũng hết. Không lần
nào về Nha Trang họp mà ông Tuấn không mang theo
tôm hùm. Tôm hùm vừa cỡ ăn mới ngon,
nhiều con lớn quá, "tôm biết nói," bằng bắp
đùi trở lên thì bị chê, nướng thơm
phức trong lò mà không ai thèm ăn. Trung sĩ
Ngô nấu mấy món ăn kiểu Tây thì hết
sẩy, có điều ai cũng phàn nàn là bánh
mì Sông Cầu sao mà cứng quá, hình như chỉ
làm toàn bằng bột gạo, không có bột mì.
Vài tuần sau ông Ðịnh tổ chức đi biển.
Hải quân tổ chức đi biển thì chỉ có đi
đảo hoang, bãi hoang chưa người đặt chân
tới. Vậy mới thú, vậy mới thần tiên, cứ
tưởng như mình là chúa đảo. Rau sống
bánh tráng làm sẵn ở nhà mang theo, bia lạnh
đã vô thùng đá. Mấy thằng em thì quá
rành với việc đánh cá bằng chất nổ.
Dân đánh không được chứ mình đánh
được, bởi vậy phải kiếm chỗ hoang vắng.
Phải lựa bầy cá thật nhiều, thật to mới làm
một phát. Một trái lựu đạn MK3 là cá
chết ngập mắt cá chân, cá đuôi đỏ.
Xúc lên ghe vài thùng nướng liền tại chỗ,
cá tươi ngọt làm sao. Lần đi này có
thêm vợ chồng đại úy Bê, tiểu đoàn
trưởng tiểu đoàn pháo binh, và vợ chồng
ông Thân, trưởng chi quan thuế.
Tháng sau ông Ðịnh bỗng nhiên được lệnh
đổi về Nha Trang. Tôi mới tới, ông Ðịnh
lại đổi đi, rồi sẽ có sĩ quan thay thế,
hình như ở trong hải quân không ai được
ở yên một chỗ. Ông Tám lên làm chỉ huy
phó, tôi làm sĩ quan đệ tam tuy nhiên công
việc của tôi cũng không có gì thay đổi,
tôi cũng chưa có kinh nghiệm chiến trường.
Vợ chồng ông Ðịnh đi, nhường lại vợ
chồng tôi căn nhà ngoài phố. Tưởng là
thuê là mướn gì ai dè cũng ở không.
Cư xá của quan thuế, cư xá của ông bà
Thân, một dãy nhà gạch năm căn. Nhân
viên quan thuế không có ai thiếu chỗ ở, nên
cư xá được nhường cho các quân binh
chủng bạn, hải quân, cảnh sát, pháo
binh... Ông bà Thân ở cái nhà giữa lớn
như cái dinh có sân cờ, có cổng vào hẳn
hòi. Ðối diện với khu quan thuế, bên kia
đường là nhà của ông bà đại úy
Bê, Lan có thêm bạn để trò chuyện, đi qua
đi lại cũng gần. Lúc này vào dạo hè,
dân miền núi hay xuống miền biển nghỉ mát.
Cô Bộ, em bà Bê cũng từ Kontum xuống Sông
Cầu thăm chị, ở chơi vài tuần trước khi
nhập học. Lan lại có thêm bạn bè nữa
để trò chuyện. Ngang ngang tuổi, cô Bộ và
Lan thân nhau ngay. Ðặc biệt hơn, sau mấy lần
tiệc tùng tại nhà ông bà Bê, ông Tuấn
lại có cảm tình với cô Bộ. Phen này anh
chàng hết dám chọc mình rồi, chọc mình mình
chọc lại. Nói vậy chứ ổng bề gì cũng
là chỉ huy trưởng của một đơn vị,
chuyện tình cảm lúc nào cũng kín đáo,
dè dặt. Ông Tuấn không bị chọc mà ông
Tám lại bị kết làm đề tài:
- Ông Tuấn bây giờ có nơi có chỗ rồi,
giờ chỉ còn mình ông thôi, kiếm một
người nào gần đây đi khỏi phải đi Tuy
Hòa chi cho xa... Cô bán gạo dưới chợ coi
cũng được lắm đó, trung úy.
- Thôi đi ông bà ơi, thôi để tui chịu
khó đi xa xa một chút đi. Ở đây không
được đâu, mang tiếng chết. Chỗ này
nhỏ, có gì một chút thiên hạ đồn rùm
beng lên, khó làm việc lắm.
- Rồi chừng nào cho ăn đám cưới
đây. Lúc này thấy ông đi Tuy Hòa đều
đều, đi hai ba bữa mới về nữa.
- Ði như "đi giải độc" vậy thôi, vợ con
gì, cưới hỏi gì.
Rồi cô Bộ và ông Tuấn càng lúc càng
khắn khít. Nhanh thiệt. Cô Bộ muốn ông
Tuấn về Kontum một lần cho biết nhà, biết gia
đình nhưng chưa biết làm sao để ngỏ
lời. Ngày về cũng gần, không thể bỏ lỡ
dịp may. Rồi không biết ai đề nghị, cô
Bộ và Lan về Kontum trước, ông Tuấn và tôi
hai tuần nữa sẽ lên sau. Gặp lúc đi họp,
ông Tuấn đưa cô Bộ và Lan đi Qui Nhơn ở
một đêm rồi sáng hôm sau mới ra bến xe
đò về Kontum. Tôi có bàn với Lan đi như
vậy em có làm cản trở tay chân người ta
không. Lan bảo cô Bộ không muốn đi một
mình với ông Tuấn, mà ông Tuấn cũng không
muốn như vậy. Cũng được, mình có dịp
đi phép về miền núi. Ðến chừng đi
họp về, ông Tuấn đổi ý không đi Kontum
vì bận lo công vụ, nhiều kế hoạch hành quân
mới của Vùng vừa đưa ra phải chuẩn bị thi
hành. Sẽ có thêm sĩ quan bổ nhiệm về
đây. Tôi phải đi Qui Nhơn rồi Kontum một
mình để đón Lan về. Lần đầu tiên
qua đèo An Khê, lần đầu tiên đi qua Pleiku
phố núi,
phố núi cao, phố núi đầy
sương... đi năm phút, trở về chốn
cũ
..., lần đầu tiên đến Kontum. Cũng
may là ba của cô Bộ làm xếp ở văn phòng
Air Việt Nam nên tôi cũng dễ tìm một chút.
Cô Bộ buồn, khóc, trách ông Tuấn quá chừng
khi thấy tôi đến có một mình. Chẳng làm
gì khác hơn được, Lan và tôi được
dịp đi thăm thành phố có cái nắng chang chang
nhưng lành lạnh này. Còn nhớ chợ Kontum, còn
nhớ dòng sông Dak Bla, còn nhớ ký túc xá Bok
Kiom, và còn nhớ những làng thượng với
những mồ mả có hàng rào cây tạc hình
đầu người. Rồi phút chia tay cũng đến,
ai muốn gửi lời thăm, lời nhắn nhủ, lời dặn
dò? Hẹn rồi sẽ có ngày gặp nhau. Hẹn
rồi sẽ thư từ qua lại. Chúc tụng nhau những
gì thật ân cần, thật tốt đẹp... Ðến
Qui Nhơn thì trời cũng về chiều. Còn chuyến
xe lam cuối cùng về Sông Cầu. Tôi còn hỏi
lại cho chắc:
- Liệu có về kịp không bác tài.
- Kịp mà.
Không ngờ gặp chiếc xe chạy như rùa bò,
chạy hoài không thấy tới đâu hết. Mặt
trời chếch bóng, rồi mặt trời lặn. Vài
ánh nắng chiều thoi thóp. Không cách gì về
kịp, phải chiếc xe khác thì chắc đã tới
mất tiêu rồi. Hành khách đã xuống hết
dọc đường chỉ còn hai đứa tôi ngồi
bó gối. Trời một lúc một tối thêm, xe
bật đèn, chạy được một lúc thì
ngừng lại cạnh cái quán cóc bên đường.
- Mời cô bác xuống xe.
- Sao vậy? Chưa tới mà!
- Không đi được nữa, đi đêm đoạn
này nguy hiểm lắm. Ngủ lại đây.
- Ngủ chỗ này sao được, tụi này đâu
có quen ai ở đây. Ðây là đâu rồi?
- Tuy Luật Hòa.
Chưa từng nghe qua, chưa từng biết tới. Sao có
chuyện này được, bác tài này ác vừa
vừa thôi chứ. Tụi tôi chần chờ chưa chịu
xuống, thì hắn ta tiếp luôn:
- Muốn đi theo tôi thì đi, ở đây thị
tứ còn đỡ chứ theo tui thì càng nguy hơn.
Chẳng lẽ thằng cha này là Việt Cộng nằm
vùng, là giao liên thành phố cũng không
chừng. Chúm được mình thì lập công to
với Bác và Ðảng rồi. Không được,
tôi kéo Lan xuống xe, vào quán uống nước
nghỉ xả hơi trước, rồi hỏi thăm tình
hình sau. Tuy Luật Hòa, Tuy Luật Hòa là
đâu. Chiếc xe lam chạy theo quốc lộ 1 một
đỗi rồi quẹo về phía biển mất dạng.
Gặp thằng Mỹ làm hãng thầu RMK, hắn hiểu
hoàn cảnh và mời hai đứa tôi về chỗ nó
ở, ngủ qua đêm. Ðâu có được,
cũng đâu có tin thằng Mỹ này được.
Cám ơn lòng tốt của nó, tôi còn Lan, còn
vợ con phải bảo vệ. Phải nhờ bà chủ quán
chỉ đường vô văn phòng xã. Khỏi phải
lo, chờ một chút, chờ thằng Mỹ về, đóng
cửa quán rồi đi luôn. Từ quốc lộ vô
xã cũng xa, băng qua mấy nhà kho của Mỹ và
một đơn vị Ðại Hàn. Tại văn phòng
xã anh em nhân dân tự vệ súng ống hẳn hòi
đang tập họp để chuẩn bị phân nhóm đi
canh, đi kích. Ai cũng từ chối khéo. Nước
cùng tôi vọt miệng nói với người trưởng
đoàn:
- Thôi, làm ơn cho tụi tui ngủ tại văn
phòng này đi.
- Không được đâu, tôi khóa cửa và
về ngay bây giờ... À, đâu để tôi
dẫn chú em lại nhà thiếm ba coi.
Bây giờ đi đâu cũng được, tới
đâu tính tới đó, hi vọng gặp hên.
Thêm một đổi quanh quanh quẹo quẹo trong xóm,
chúng tôi đến một dãy nhà lá cất rời
nhau từng cái một, nhưng cái này khít khít
cái kia như thiếu đất.
- Thiếm ba ơi?
- Ai đó.
- Tui đây.
Nghe tiếng người quen thiếm ba mở cửa, cánh
cửa bằng lá được đẩy lên trần, cửa
mở như kiểu mở cửa garage. Người đàn
ông phân trần hoàn cảnh thay cho hai đứa tôi.
Thiếm ba hiểu ý trả lời:
- Cũng được.
Ngọn đèn dầu không đủ sáng, leo lét soi
lờ mờ khắp căn nhà như có một phòng.
Phòng khách có cái bàn và mấy cái ghế,
phòng ngủ có cái giường phía bên kia, phòng
ăn nhà bếp thì cũng có mấy ông táo nằm
đó. Vậy rồi phòng khách đâu, mình
ngủ ở đâu. Thiếm ba chỉ cho cái ghế bố
để dựa bên vách. Mới bước vào nhà
là đã nghe mùi đàn bà đẻ rồi nhưng
chưa dám chắc, đến lúc thấy bộ đi,
tướng đứng của thiếm ba như học trò lễ
mới biết là mới sanh, non ngày non tháng. Tôi
nhảy lại bê cái ghế bố trải ra gọn gàng
như của mình. Cái ghế bố nặng quá chừng
mà không thấy gì mệt nhọc. Thiếm ba lấy
đưa cho tôi một cái mền mới rồi chun vô
mùng với đứa nhỏ chẳng nói thêm tiếng
nào.
- Chị muốn tắt đèn hay để đèn?
- Chú muốn tắt cũng được.
Ðàn bà ở một mình, chắc thiếm ba để
đèn sáng đêm, bữa nay có khách khỏi
phải lo. Tôi thổi đèn, bóng đêm chợt
phủ trùm, đen như mực. Mò mẫm lại ghế
bố nằm, tôi tung mền đắp bít chân bít
đầu cho cả hai. Tôi biết Lan muốn trách tôi
tại sao không ở lại đêm ở Qui Nhơn để
khỏi phải gặp cảnh trắc trở như vầy nhưng
nàng không nói được. Bây giờ phải im
lặng và ngủ thôi, làm ồn ào con thiếm ba
thức thì lại càng không ổn. Nói vậy mà
nửa đêm thức giấc hai đứa thì thào và
làm đủ trò trong chăn mà chẳng thấy thằng
nhỏ giật mình. Tờ mờ sáng thức dậy,
không cần đánh răng rửa mặt, cám ơn
thiếm ba rối rít đặng đi về. Thiếm ba
cũng ừ hử ở trong mùng mà không thèm
bước xuống đất. Cửa không khóa, mở
lên xập xuống là hai đứa đã bước
vào với thiên nhiên, không khí trong lành của
buổi sáng. Cứ theo con đường duy nhất của
xóm mà đi thì gặp đường cái, rồi theo
đường cái ra quốc lộ 1. Bây giờ mới
có dịp nhìn lại cảnh vật hai bên đường
đêm rồi mình đã đi qua. Tất cả như
khác lạ. Ra đến quán thì thấy mấy chiếc
xe lam chạy sớm đã đậu thành hàng. Chỗ
này lại là bến xe? Hai đứa nhảy lên
chiếc đậu đằng trước. Bác tài chờ
khoảng mười phút không thấy ai nữa thì rồ
máy chạy. Không ngờ từ Tuy Luật Hòa xuống
Sông Cầu đâu có xa, thêm chiếc xe chạy như
gió. Về ngang duyên đoàn chưa đến tám
giờ, chưa đến giờ làm việc, Lan và tôi
về nhà tiếp tục ngủ, chuyện "báo cáo tình
hình Kontum" cho ông Tuấn hà hồi phân giải,
thiếu chút nữa bị thiên hạ bắt cóc rồi...
Một tháng sau chuẩn úy Tâm đổi tới đơn
vị. Tâm còn trẻ, ít nói, lại không ưa
hải quân, bảo là bị hải quân bạc đãi.
Từ Thủ Ðức chuyển sang, không được mang
danh hiệu hải quân trung úy, hải quân thiếu úy
như các sĩ quan xuất thân từ trường hải
quân, mà gọi là chuẩn úy chiến binh. Chiến
binh viết tắt là CB. Hạ sĩ quan và đoàn
viên hải quân lại không ưa sĩ quan chiến binh
gán hai chữ "Cán Búa" thay cho chữ CB... Chuẩn
úy Cán Búa... Tôi có trách nhiệm hướng
dẫn và bàn giao chức vụ sĩ quan kỹ thuật và
chiến tranh chính trị cho Tâm. Tôi làm một
lần phát quà thiệt lớn và dẫn Tâm đi
theo. Khu phát quà nằm dưới miệt Gành
Ðỏ, khu nổi tiếng có nhiều Việt Cộng.
Nhân viên ban hai cũng thừa cơ hội này đi theo
để dò la tin tức. Sĩ quan có trung úy Alexander,
Tâm, và tôi, hạ sĩ quan có trung sĩ nhất
Dương phụ tá ban chiến tranh chính trị, trung
sĩ Ninh y tá, và một lô thủy thủ đoàn.
Quà cáp chuyến này mang theo gấp đôi số
lượng. Tất cả dồn lên chiếc "chủ lực,"
loại ghe lớn của hải quân. Vừa vào vịnh
đã thấy một bãi cát thật dài, rồi cát
và rau muống biển xen lẫn nhau trông như một
đồng cỏ xanh bao la, xa tít. Ðến bìa rừng
mới có tàn cây bóng mát, có lẽ vì vậy
mà không ai cất nhà ngoài bãi trống này.
Dương và tôi đến trụ sở ấp trước
tiên, một ngôi nhà lá lụp xụp vừng ba phía
vách để trống mặt tiền và bên trong có
kê một cái bàn và lỏng chỏng mấy cái
ghế đẩu. Nhân viên ban hai mới lên đã
phân tán mỏng vào xóm, hình như tụi nó
đã từng ăn dầm nằm dề ở đây.
Ðường ngang đường dọc, hẻm hóc chằng
chịt trong bụi lá rừng cây. Dân chúng tề
tựu về trụ sở ấp càng lúc càng đông,
người nào cũng trông lê thê, lếch thếch.
Quà tâm lý chiến cất lên xong thì ông
trưởng ấp cũng chỉ thị ông "tà-la," mang
ống loa đi phát động khắp vùng. Ông
tà-la đi theo đường mòn lên xóm trên,
vừa khuất dạng được một lúc thì nghe
một loạt đạn nổ chát chúa, tôi hỏi:
- Cái gì vậy Dương, ai nổ súng mà chưa
có lệnh bậy bạ như vậy?
- Dạ, chắc không có gì lạ đâu.
Anh hạ sĩ đứng kế bên vọt miệng:
- AK nổ đó thiếu úy, không phải mấy
thằng em mình đâu.
Tôi cũng chưa rõ tiếng súng AK khác với
tiếng súng M 16 của mình ra sao. Chưa nghe loạt
thứ hai, chưa biết được. Tôi bảo:
- Sao chỗ này kỳ vậy Dương. Anh kêu anh
em tập họp hết về ngay đây cho tôi.
- Dạ.
Nhìn đi nhìn lại chỉ có Dương, Ninh, một
hạ sĩ và ba thủy thủ lẫn lộn trong đám
dân, còn bao nhiêu đi đâu mất hết. Tôi
có linh tính như đi chuyến này không yên,
nhứt quá tam, hai lần trước phát quà vùng
Từ Nham, Cù Mông thật là tốt đẹp. Xong
việc rồi còn tiệc tùng với dân trong ấp,
còn nhớ món gỏi "cá suốt" đặc biệt,
những ngôi nhà xây bằng đá ong và đám
dân hiền lành chất phác... Ông tà-la chạy
như chạy cà nhắc trở về trụ sở ấp,
nhưng không phải chân mà là tay, cánh tay trái
ôm cánh tay phải xụi lơ, không cử động,
máu me thấm đỏ làn vải đen, mặt mày
nhăn nhó:
- Du kích về nữa rồi. Tôi bị bắn sẻ.
Ninh để ông tà-la ngồi xuống ghế băng bó
vết thương, đạn đi giữa bắp tay trên,
chắc trúng xương. Mấy thằng em nghe tiếng
súng lạ cũng đã tự động qui tụ về,
M 16 lên đạn nghe lách cách. Tôi cũng rút
khẩu Colt 45 lên đạn.
- Còn chuẩn úy Tâm và trung úy Mỹ đâu?
- Chưa thấy lên, chắc đang đi giữa
đường.
- Dương, kêu anh em rút ra bãi thôi. Mình
không rành địa thế, ở đây bất lợi.
- Thiếu úy đi trước đi, tôi cho tụi nó
sắp xếp đồ đạc rồi tôi đi sau.
Ông tà-la, Ninh, và vài ba đứa nữa theo tôi,
còn phần đông ở lại với Dương. Gần
đến bãi mới gặp Tâm và Alexander. Thằng
Alexander thấy ông tà-la bị thương, thấy máu,
rồi mặt mày tái dần tái dần xanh như tàu
lá. Hắn im lặng rút khẩu Colt 45 lên đạn
sẵn rồi để vô bao trở lại. Tôi yêu
cầu nó gọi trực thăng tải thương. Nó
làm nhiệm vụ và cho biết trực thăng sẽ
đến trong vòng hai mươi phút, bây giờ mình
phải chọn bãi đáp và bảo vệ bãi
đáp. Bãi cát trống này đáp đâu
chẳng được, tầm đạn Việt Cộng trong bìa
rừng cũng bắn không tới. Chuyện này
dễ. Ông tà-la được để lên băng ca
lúc nào tôi không hay, sắc mặt biến đổi,
mất hết thần khí. Dương và đám nhân
viên còn lại khệ nệ khiêng mấy bao bột mì,
mấy bành áo quần cũ trở ra bãi. Tôi cằn
nhằn:
- Bỏ cha nó trong đó cho rồi, khiêng tới
khiêng lui chi cho mệt.
- Ðể dành cho chuyến tới, thiếu úy, khỏi
phải báo cáo tổn thất.
Tôi kêu Dương sắp xếp nhân viên làm
vòng đai phòng thủ cho bãi đáp. Hơn hai
mươi phút rồi, không thấy máy bay. Thằng
Alexander check lại mới biết hai mươi phút nữa,
tình trạng này chỉ nằm ưu tiên hai. Hai
mươi phút nữa rồi cũng đến. Khói
màu thả lên làm hiệu. Trực thăng lượn
một vòng rồi đáp xuống, băng ca đưa
vào, bốc lên bay đi lập tức... Trong khoảnh
khắc dồn dập này tôi bất thần nhìn ra biển
thấy ghe duyên đoàn xuất hiện chạy ào ào
vào vịnh, một chiếc, hai chiếc, năm chiếc, rồi
hình như cả hải đội của duyên đoàn.
Sao có chuyện gì kỳ lạ vậy. Phút chốc
đoàn chiến đĩnh vào tới nơi. Quan, lính
nhảy xuống nước, súng dơ ngang đỉnh đầu
lội vào bờ, đổ bộ, đổ bộ như trong phim
The Longest Day
. Tôi lội ra tiếp ông Tuấn và
đại úy Pine:
- Sao commandant xuống đây?
- Thì chuẩn úy Tâm báo cáo anh đang đụng
Việt Cộng, đang kẹt giữa đường, tiến vô
đất liền không được mà rút ra bãi
cũng không xong.
Bấy giờ tôi mới để ý là không thấy
thằng Tâm ở đâu hết. Không ngờ nó
lội ra ghe còn lên máy báo cáo bậy bạ.
Ðến giờ cũng chưa thấy ló đầu ra.
Tôi giận:
- Tôi đâu có ra lệnh cho nó làm cái gì
đâu. Cái thằng mất dạy này.
Tôi tường thuật mọi sự cho ông Tuấn, chuyện
cũng chẳng có gì là quan trọng. Ông Tuấn cho
biết ổng đã hiểu rồi, thằng Tâm đã
báo cáo lại, nhưng lỡ đi rồi nên xuống
đây luôn. Ðại úy Pine, trước khi lại
tiếp chuyện với thằng Alexander, đến bắt tay
tôi mỉm cười:
- Ðây là một kinh nghiệm tốt cho thiếu úy.
Tôi mím môi gật đầu, gật đầu.
Chuẩn úy Tâm bắt đầu đảm nhiệm chức
vụ sĩ quan kỹ thuật và chiến tranh chính trị,
còn tôi bắt đầu tham gia vấn đề hành
quân tuần tiễu. Một vài lần kích đêm
trong vịnh khi có tin tình báo cho biết Việt Cộng
bè vũ khí từ biển lên núi. Ðại úy
Pine cũng thích đi kích với tôi, hắn lại
thích trực những ca khuya để nhìn
starlight
scope
, vũ khí mới mới trang bị cho duyên
đoàn. Chưa có lần nào tôi bắt
được bè.
Phần hành quân của tôi không gì trở ngại
lắm, chỉ thỉnh thoảng bỏ Lan ngủ một mình,
nhưng phần chiến tranh chính trị của Tâm thì
không ổn chút nào hết. Chuyện gì thằng
Dương cũng lên báo cáo với tôi mà coi
chuẩn úy Tâm như không có, tôi rầy hoài
cũng vậy. Thằng có bệnh kỳ thị "sĩ quan
cán búa" rất nặng. Tôi đứng giữa giải
thích cho hai đứa biết thế nào là truyền
thống, trách nhiệm, bổn phận và có lần
đề nghị với ông Tuấn cho hai đứa làm hai
ngành khác nhau. Ông Tuấn nói để coi lại,
coi lại, rồi chần chờ cũng chưa có gì thay
đổi. Cho đến ngày Thanksgiving, trong lúc ông
Tuấn và đại úy Pine đi họp, ông Tám đi
chơi ở Tuy Hòa, Lan và tôi trên đường
vào trại vì tình hình lúc rày hơi động
không dám ngủ ngoài, vừa bước ngang cửa câu
lạc bộ hạ sĩ quan và đoàn viên thì nghe
mấy tiếng súng nổ chát chúa bên trong. Tôi
bảo Lan về phòng trước để tôi bước
vào xem sao. Thằng Tâm bắn thằng Dương, có
ba phát trúng vô người, một vô bụng, một
vô bắp đùi, và một vô bắp chân. Dễ
sợ chưa. Thằng Tâm chạy biến đâu mất,
đám hạ sĩ quan nóng lòng bạn, đòi kiếm
thằng Tâm trả thù. Tôi hết hồn kêu ông
thượng sĩ quản nội trưởng tập họp tất
cả nhân viên ra tuốt ngoài nhà tiền chế,
giữ tất cả ở đó, và chờ lệnh mới.
Vợ thằng Dương và mấy bà trong cư xá hạ
sĩ quan túa ra, lớp khóc, lớp la, lớp chửi.
Thằng Alexander có mặt tại đó lại chạy đi
kêu trực thăng. Tôi hỏi Ninh câu chuyện
đầu đuôi ra sao, Ninh trả lời:
- Tụi tôi đang nhậu thì chuẩn úy Tâm và
trung úy Mỹ đến cho biết sẽ chiếu phim cho anh
chị em coi. Thằng Dương phản đối chuẩn
úy Tâm nói đi chỗ khác chiếu phim chỗ này
chỗ nhậu, tắt đèn đổ rượu vào lỗ
mũi sao. Chuẩn úy Tâm bỏ đi, không ngờ
một lúc sau ổng trở lại với cây Colt và
bảo thằng Dương, tôi ra lệnh cho anh đi chỗ
khác nhậu chỗ này chỗ chiếu phim. Thằng
Dương đứng dậy nói, chuẩn úy muốn bắn
tôi hả, rồi dang hai tay banh ngực, nè chuẩn úy
có ngon bắn tôi đi. Chuẩn úy Tâm lên
đạn nói, anh bước thêm một bước nữa
là tôi bắn. Thằng Dương bước tới là
ổng bắn.
Tôi bước lại băng ca kéo mền coi vết
thương rồi đấp lại cho Dương. Máu ra
nhiều quá. Dương run rẩy thì thào:
- Tôi lạnh quá thiếu úy.
Trực thăng tới tức thì và anh em phụ đưa
băng ca ra ngay. Vợ thằng Dương trao thằng nhỏ
trên tay cho bà đứng kế bên leo lên trực
thăng theo chồng. Viên đạn vô bụng thấp
quá, sợ trúng bọng đái, khó sống... Tôi
trở về khu sĩ quan tìm Tâm chẳng thấy nó trong
phòng. Chạy qua khu cố vấn Mỹ thấy nó trong
phòng trung sĩ Mập. Tôi chưa có câu nào
thuận tiện để nói, tôi im lặng thì Tâm
mở lời:
- Thiếu úy, tôi không hiểu tại làm sao tôi
lại hành động ngu dại như vậy. Cuộc
đời tôi như đã tàn.
- Chuyện lỡ xảy ra rồi, không thể nào kéo
lại được. Hãy nghĩ đến chuyện sắp
đến thôi. Hi vọng thằng Dương nó không
sao. Mình lo trấn an tụi lính và chờ chỉ huy
trưởng về mới tính được.
Tâm bỗng nhiên nhảy lại chụp cây M 16 treo
trên vách ôm vào lòng. Tôi la lên:
- Tâm, anh làm gì vậy.
- Tôi phải có cây súng mới được,
thiếu úy. Tôi phải bảo vệ tôi.
- Anh ở đây là an toàn rồi. Tôi không
để ai hại anh đâu.
Trung sĩ Mập tiến lại, từ tốn:
- Ðưa nó cho tôi, làm ơn.
Tâm biết mình không thể giữ súng của
người khác được, trù trừ một lúc
rồi đưa súng cho thằng Mập, rồi ôm mặt
khóc... Cũng may, lúc đó ông Tám bỗng
nhiên ở đâu bang bang về. Tôi mừng hết
sức, nói cho ông Tám biết sơ sơ câu chuyện
và điều quan trọng là đám lính vẫn
còn tập họp ngoài nhà tiền chế.
- Ðược rồi. Ðể tôi lo.
Ðêm đó, ai cũng trải qua một đêm phập
phòng. Sáng sớm hôm sau ông Tuấn và đại
úy Pine về đơn vị. Tôi để ông Tám
báo cáo hết mọi việc xảy ra ở nhà và
tôi chuẩn bị đi Qui Nhơn thăm thằng Dương.
Không ngờ nó còn sống, còn nói đùa với
tôi vài câu. Bác sĩ giải phẫu cũng lẹ,
chai nước biển vẫn còn treo, dây nhợ chằng
chịt. Tôi mừng cho nó, cho gia đình vợ con
nó. Tôi bảo tôi sẽ còn ra thăm nó nữa
và tôi phải trở về Sông Cầu trong ngày.
Tôi lại đi thăm thằng Tâm, đang bị nhốt
ở nhà giam của ban quân cảnh tư pháp. Tôi
cho nó biết thằng Dương chưa chết, nhưng
hình như nó chẳng màng về việc chết sống
của thằng Dương. Nó nhắn tôi làm sao cho
gia đình nó hay và biên cho tôi cái địa
chỉ ở khu Hàng Xanh, Gia Ðịnh. Tôi hứa tôi
sẽ làm điều này cho nó.
Tuần sau, thêm một vụ làm chấn động dư
luận nữa. Thằng Dân, một nhân viên của
duyên đoàn đi ngủ đêm với điếm,
không hiểu vì tư thù hay vì Việt Cộng, bị
ném lựu đạn vô phòng nổ banh xác.
Ðâu ngờ cái quận lỵ nhỏ nhoi này cũng
có gái điếm. Rồi vợ con nó từ Sài
Gòn cơm ghe bè bạn ra hốt xương chồng,
khóc, kể lể đủ điều, ông Tuấn cũng
rầu thúi ruột.
Hai vụ khủng hoảng liên tiếp làm tinh thần binh
sĩ trong duyên đoàn xuống dốc kinh khủng. Ði
đâu cũng thấy tụm năm tụm ba bàn tán,
không ai muốn làm việc. Cái thời vàng son
như đã qua, những ngày êm đềm như
đã mất. Ông Tuấn có ý định xin
đổi đi chỗ khác, nhưng tôi lại đi
trước ông Tuấn, tôi có lệnh đổi về
trường Cây Mai học lớp tình báo, cách
đó mấy hôm. Tôi mừng, Lan cũng mừng.
Mình ra đi cũng vừa đúng lúc. Tiệc tiễn
đưa tụi tôi cũng đủ mặt bạn bè. Ai
cũng chúc may mắn, thành công. Còn nhớ ông
Tuấn cho tiền mua vé máy bay, ông bà Thân cho ba
cái áo len, một cho Lan, một cho tôi, và một cho
đứa bé trong bụng. Lan có bầu. Ngày đi
Lan và tôi còn ra miếu Thổ Thần cúng vái
giã từ, cũng như hồi tụi tôi mới tới.
Cầu nguyện cho duyên đoàn, cho những người
ở lại được bình yên. Hai đứa đi xe
đò về Nha Trang rồi mới đáp Air Việt Nam về
Sài Gòn. Phải cho Lan biết Nha Trang, nơi mà hầu
hết những sĩ quan hải quân truyền thống đã
được đào tạo.
Cứ nghĩ như không còn dịp nào để trở
lại miền Trung. Mà thật đúng như vậy.
Mấy năm trước 75 còn gặp thiếu tá Tuấn,
cũng còn độc thân, đổi về làm
trưởng phòng Tâm Lý Chiến ở bộ tư
lệnh Hải Quân. Rồi nghe đâu ông đổi
về làm chỉ huy trưởng "chấm," một
task force
thuộc lực lượng Trung Ương, trong vùng Tuyên
Nhơn, Ðồng Tháp Mười trước khi mất
nước. Còn gặp vợ chồng đại úy
Ðịnh và ba bốn con nhỏ ở Bình Thủy, Cần
Thơ, trên đường thuyên chuyển về lực
lượng Thủy Bộ, Năm Căn, Cà Mau. Còn gặp
lại ông Tám, một nhóc tì và vợ mang một
bụng bầu ở trại Fort Chaffee, Arkansas. Có lẽ
không bao giờ gặp lại thằng Tâm, cô Bộ,
ông bà Bê, ông bà Thân... Cũng không bao
giờ gặp lại đám cố vấn Mỹ... Cho Lan, cho
tôi, sáu tháng Sông Cầu như hai mươi bốn
tuần trăng mật. Tình nào đẹp cho bằng
tình mới cưới...
- Ðáng lý ra em phải gọi anh bằng chú, ba
em, ông Thân như anh kể đó, bây giờ sa sút
lắm rồi. Ba em phải xuống ghe đi đánh cá
mà sống qua ngày.
Hoàng nhìn Nghề trố mắt. Con của ông bà
Thân? Không lẽ thằng nhóc chạy lững cững
ngày đó bây giờ lớn như vầy? Hoàng
chợt nói như đang mơ:
- Phải thật em là con của anh chị Thân
không? Ở Sông Cầu chỉ có một ông Thân
quan thuế thôi.
- Ba em đó.
- Có hai đứa con, một trai một gái.
- Bốn đứa lận, hai trai hai gái. Hai đứa
nữa chắc anh không biết đâu...
... Chuông điện thoại bỗng reo vang, Nghề vội
vã nói tiếp:
- Vợ em kêu nữa rồi. Anh nói là em mới
rời đây chừng năm phút. Thôi em về, dịp
nào em sẽ mời anh chị lại nhà chơi. Trời,
bớn giờ sáng rồi.
Nghề và Thành bước ra khỏi cửa, Hoàng
đầu óc lâng lâng, rã rời, ngã người
lên sofa...
back to top
11. BẠN
NGUYỄN TẤN HƯNG
Sydney, ngày...
Hùng, mãi đến hôm nay tao mới viết thư cho
mày. Nói bận thì cũng quá đáng. Thế
nhưng đời sống ở đây, ở những quốc gia
Tây Phương nói chung, tao sao cảm thấy lu bu tối
ngày. Shopping, clean up, con cái, xe cộ... quay mình
như chong chóng. Tao chẳng cảm thấy thú vị
chút nào, chỉ còn việc đi làm kiếm đủ
tiền mướn nhà, tiền thực phẩm, tiền quần
áo, sách vở cho con. Tao nghĩ rằng mầy bên
đó cũng vậy thôi. Chán ngắt, phải không
Hùng? Tụi mình giờ đây không còn những
con đường thân yêu để rong chơi sau giờ
nghỉ việc, không còn những quán cóc bên
đường để hàn huyên, không còn những
dòng sông, bóng mát với những bờ tre, bụi
trúc trong dịp nghỉ hè, không còn thấy
được trường làng với hàng phượng
vĩ... Nhưng dù thế nào đi nữa vẫn còn
hơn là ở lại Việt Nam với Cộng Sản. Mấy
năm trong trại tẩy não và mấy năm lăn lộn
với Xã Hội Chủ Nghĩa, tao đã có thừa kinh
nghiệm để so sánh và căm thù Cộng Sản
hơn. Ra đi, bọn mình mất thật nhiều, nhưng
đổi lại được một thứ hết sức cao
quý, đó là Tự Do. Không còn sống trong
nhục nhã đầy nước mắt, không còn sống
trong sự khủng bố của công an, không còn bị
đối xử phân biệt của bọn cán bộ đê
hèn dốt nát. Tao cũng muốn kể hết cho mày
nghe cái thời khốn cùng của bọn mình sau 75 mà
mày có cơ may thoát khỏi. Quá nhiều phũ
phàng, tệ hại. Trong tù đã nhọc nhằn đau
đớn như thế nào, như mày biết qua, đọc
qua bài của thằng Quảng, thì ngoài xã hội
với lý thuyết điên khùng của Karl Marx, đời
sống còn nhọc nhằn, đau đớn hơn nữa.
Rời cảnh tù nhỏ sa vào cảnh tù lớn, cảnh
tù mà toàn dân Việt mình phải nhận lấy,
gánh chịu. Vì vậy, tao quyết định thà
chết ở biển khơi, hơn là sống nhục với
bọn Việt Cộng, bọn lợi dụng thời cơ,
đạp người ngã ngựa. Có dịp ở bên
mày, sẽ nói cho mày nghe nhiều hơn về chuyện
dài Xã Hội Chủ Nghĩa. Tao không biết đến
khi nào tao mới có dịp đi một vòng ghé thăm
mày được. Có hai điều trở ngại là tài
chánh và ngôn ngữ. Tiền thì không dư, mà
tiếng Anh thì bập bẹ. Tao đã đậu và
vô làm ở Bưu Ðiện Úc, lương cũng
tạm đủ. Còn bà xã tao thì bỏ nghề
giáo sư ở trường mà chỉ làm giáo sư
riêng cho hai nhóc con ở nhà thôi. Cuộc sống
của vợ chồng tao bên này coi như ổn định.
Hai đứa con tao học hành cũng khá giỏi. Vợ
chồng mày không biết đứa thứ hai. Ðó,
gia tài của tụi tao chỉ có chừng đó. Vợ
chồng tao bây giờ muốn tiến thân nữa cũng
không được. Vì ở bên này, nếu mà
tiếp tục học lên, thì lúc tốt nghiệp, ra
trường xong lại càng khó kiếm việc làm.
Học càng cao, càng khó. Vì kỹ nghệ Úc
còn chậm tiến, chỉ có lấp ráp, không cần
chuyên viên kỹ thuật mà chỉ cần thợ thôi.
Rồi vì màu da sắc tóc của mình, mình cũng
khó nhảy vào mấy chỗ tốt được.
Hùng mến, định chụp vài tấm ảnh để
gửi tặng gia đình mày làm kỷ niệm, thế
mà chưa có dịp. Ðể khi nào dọn về
nhà mới mua, tao sẽ chụp và gửi cho mày sau
nha. Tao mới vừa đặt cọc mua căn nhà gỗ
chừng bốn chục tuổi ở phía nam city Sydney, khoảng
chừng ba chục cây số, mượn ngân hàng xấp
xỉ năm chục ngàn Úc kim, trả nợ mỗi tháng
khoảng bảy trăm, kể cũng chật vật lắm.
Nhưng bắt buộc phải làm vậy, vì mình nghĩ
có an cư thì mới lạc nghiệp. Mấy đứa
nhỏ mỗi ngày mỗi lớn, mình cũng muốn có
một nơi, một chỗ cho riêng mình. Ở thuê,
ở mướn cứ phải dọn nhà hoài, mệt quá.
Mới hai năm ở Úc mà tao đã move ba lần rồi.
Ở Úc, có thằng Lê "lé," Vân "già," Trị
"già," A "say," và Hoàng "gấu." Nhưng A ở Melbourne
và Hoàng ở Adelaide quá xa, chỉ còn Lê, Trị,
Vân và tao ở Sydney. Thỉnh thoảng gặp nhau.
Tụi nó qua trước tao, đã mua nhà hết rồi.
Tao có đọc mấy bài của mày trong Ðặc San
Hải Sư. Ðọc bài của mày lại nhớ mày
nhiều hơn, nhất là nhớ thời tụi mình còn
ở quân trường. Kỷ niệm tô điểm cuộc
đời cho thêm sinh khí, thi vị thì kỷ niệm
cũng gợi cho tâm hồn mình những tiếc nuối,
những man mác buồn. Nhứt là trong hoàn cảnh ly
hương này, mà ngày về sao xa vời vợi. Tao
cứ mơ một ngày quang phục, mình trở về chắc
là vui lắm phải không Hùng? Dịp này, tao gửi
đến mày chiếc áo T-shirt của Bưu Ðiện
Úc này để gọi là nhớ mày thật nhiều.
Viết thư cho mày mà buồn vui lẫn lộn. Hình
ảnh mày, cá tính mày rất rõ nét trong tao.
Từ lúc bước chân vào ngưỡng cửa cuộc
đời cho đến nay, tao vỏn vẹn có mày là
bạn thâm tình đáng ghi nhớ nhất đời, và
kế đến là thằng Phước. Mà bây giờ
mỗi thằng mỗi nẻo xa xôi. Thật tình mà
nói, tao ở đây, hạnh phúc gia đình thì
có mà tình bạn thì không, luôn luôn cảm
thấy "alone." Thân chúc gia đình mày
được nhiều sức khỏe. Tao, bạn mày.
Winston-Salem, ngày...
Việt, nhận được thư mày lâu lắm rồi,
mấy lần định viết cho mày mà viết không
được. Lúc trước thì dễ lắm. Tại
vì tao có nhiều thì giờ, thì giờ trong hãng.
Làm nghề viết sách cho Mỹ, viết mấy cuốn
manual, thì sướng lắm. Một ngày tao làm
thẳng thừng thì chừng vài giờ thôi, thì giờ
còn lại mình làm chuyện riêng, viết thư,
đọc sách chẳng hạn. Từ ngày tao giựt
thêm một cái bằng cấp nữa, nó thảy tao qua
chỗ khác, không phải viết manual nữa, mà viết
program. C language, lu bu lắm, làm hoài không hết.
Không còn viết thư trong giờ làm việc, phải
viết ở nhà, nên mày phải trông... Ðã
vậy không biết nó có cho tao ở đây không,
xếp định đẩy tao xuống trung tâm làm cho Navy,
cách đây ba chục dặm, digital signal processing, hệ
thống khám phá tàu ngầm Nga trong vịnh Mễ Tây
Cơ.
Hôm Noel tao có nhận được thiệp của mày.
Ðọc mấy câu chúc mừng Giáng Sinh tao nói bộ
mày quên hai chữ "mày tao" với tao rồi hay sao mà
bây giờ xài chữ "anh tôi" nghe kỳ cục cái
lỗ tai. Chẳng lẽ Bác và Ðảng đã huấn
luyện mày khùng đến độ đó. Cứ
phân vân hoài.
Kế tao được thư này. Thư làm tao hài
lòng, làm tao cảm động. Tao đang đọc lại
nữa đây. Coi bộ mày viết văn hay hơn tao
nữa rồi. Ðối với tao, nhiều khi tao nghĩ tao
thiếu ở tù Cộng Sản, cuộc đời tao như
thiếu một vài nét chấm phá quan trọng.
Ðọc mấy bài của thằng Quảng thì thấy
khổ cực đó, tủi nhục đó. Mầy có,
thằng Phước có, mà chỉ có tao không có.
Không có cơ hội nếm mùi tù Yên Bái, Bắc
Việt. Không được ra Hải Phòng, không
được về Yên Bái, không được lên
Hoàng Liên Sơn... Tao thua đứt tụi mày ở
điểm này rồi, không gỡ được. Thằng
Phước có nói với t