Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


Tập Truyện: Một Cảnh Hai Quê

Nguyễn Tấn Hưng



Thế Giới xuất bản 1993

Mục Lục
01. Người Về Từ Cõi Chết 02. Còn Ðâu Thi Vị 03. Ta Tắm Ao Ta 04. Một Cảnh Hai Quê 05. Gió Ðã Ngừng 06. Một Buổi Chiều Thứ Bảy 07. Một Mối Tình Già 08. Số Phần 09. Kẻ Ngược Ðường 10. Bạt của Võ Kỳ Ðiền
   back to top

01. NGƯỜI VỀ TỪ CÕI CHẾT

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Rớ tới một tờ báo, Minh có tật thích đọc ngay những truyện, thơ của những người viết mới, những cây bút mới. Những sáng tác đã trải qua nhiều gạn lọc, thử thách. Phải có cái gì mới lạ, hấp dẫn lắm mới được chọn đăng. Minh tin rằng những bài viết đầu tay của những cây bút mới chắc chắn sẽ làm Minh hài lòng hay ít ra cũng không làm Minh đến nỗi phải thất vọng.

     Cũ đi mới tới, tre tàn măng mọc cho phù hợp với luật đào thải của thiên nhiên? Không hẵn như vậy cho giới cầm bút, Minh nghĩ. Thông thường cũ chưa đi thì mới đã tới, tre chưa tàn thì măng đã mọc. Xen lẫn với nhau. Và hầu hết những người viết, từ amateur cho đến chuyên nghiệp, đều là những cây tre không chịu tàn, đều là những dòng mực không chịu cạn. Viết như thở, ngưng viết là ngưng thở. Vì vậy phải viết đến chết. Rồi thậm chí nhiều người đã viết đến chết mà còn trăn trối: chưa viết hết được những gì mình muốn viết.

     Hóa ra người cầm bút có cái tham vọng còn to lớn hơn những người làm chính trị nữa. Không ai chịu về hưu, không ai thích làm ẩn sĩ. Vùng vằng không chịu nhường đất, nhường vườn cho thế hệ sau. Tại sao không giao cho những người mới, với những tư tưởng mới, hành động mới? Tại sao không giao cho lớp trẻ, với những khuynh hướng trẻ, tiếng nói trẻ? Nói chính trị có khác! Tre không chịu tàn thì măng cũng khó mà mọc. Tội lỗi. Tội lỗi là sự không cạn dòng, càng viết nhiều càng kinh nghiệm càng hay. Tre không tàn mà tre thành cổ thụ. Thế mới lạ. Những cây cổ thụ tàn rộng xum xê che hết những vùng trời. Những cây cổ thụ đó họa hoằn mới thấy trổ hoa, những nụ hoa để đời, vẫn mọc đầy trong những ban biên tập chủ lực của nhiều tờ báo.

     Vốn là người viết cũ, Minh hiểu rõ hơn ai hết và Minh hết sức mến phục những người đã mang đầy tội lỗi đó. Minh nghĩ rằng là một người cầm bút, không ít thì nhiều, trong người phải có cái chất thần thánh . Không thần thánh sao được một khi chỉ là số trăm trong số triệu. Ðào tạo kỹ sư, bác sĩ nếu không dễ thì khó vẫn còn thực hiện được, nhưng đào tạo một thần thánh thì việc khó dễ đã không còn là vấn đề. Chẳng có trường nào đào tạo nhà văn, nhà thơ cả. Chỉ là thiêng liêng un đúc mà thôi. Bởi vậy, nhiều khi đọc những bài bình luận văn học, đọc những lời hạ bệ dành cho một thần thánh lớn vì hoàn cảnh ép buộc mà phải trao thân cho một chủ nghĩa, một chính trị, một xu thời, Minh thấy tội.

     Riêng Minh với năm ba cuốn sách chẳng ra hồn, Minh gọi mình là dead wood danh từ mà người bạn trẻ người Mỹ làm gần bên hay xài cho đám già. Minh vui vẻ chấp nhận tình trạng dead wood của mình vì từ lâu Minh thấy mình cạn dòng. Một trường hợp bất thường của những người cầm bút? Cái thân cây chết lịm của Minh đang đứng trơ trọi giữa rừng xanh như một biểu tượng của sự lạc hậu, lỗi thời? Minh không còn viết nữa. Chỉ đọc thôi. Như cố gắng tìm chút sinh khí cho cái thân cây chỉ biết hấp thụ mà không còn phát tiết. Ở tình trạng dead wood cũng chưa chắc đã yên. Sớm muộn rồi sẽ có ngày bị đốn làm củi, bị hạ bệ sát ván. Ngay cả vấn đề ngâm nga một hai câu thơ để quên đời, cũng đặt Minh vào tình trạng đi xuống:

     - Than ôi! Tuổi còn xanh sao tóc đà đã bạc? Hồ trường? Hồ trường biết đổ về đâu? Ðổ về Ðông Phương thì xa xôi ngàn dặm. Mà đổ về Tây Phương thì cũng ngàn dặm xa xôi...

     - Ðây, đổ vô đây, đổ vô họng em đây nè. Hennessy ở bên này coi vậy chớ cũng còn mắc lắm anh Minh à. Khỏi cần Ðông phương, Tây phương chi cho xa xôi ngàn dặm, ngay đây cho nó thực tế hơn. Làm thơ được như anh cũng là hay lắm. Nhưng, làm thơ mà phải được năm bảy đồng một giờ, thì em cũng rán ngồi làm thơ như anh từ lâu rồi. Thôi, vô đi ông ơi. Cụng với ông một ly nè...

     Rượu không cay mà câu nói chí tình đó làm Minh cay. Cái thế hệ sau, cái lớp trẻ trôi sông lạc biển nơi xứ lạ quê người này quả tình đâu cần thơ, văn. Ở Việt Nam nghề cầm bút là nghề kiếm tiền để sống, bên này nghề cầm bút là nghề gì đây? Là nghề hy sinh? Hy sinh cái thì giờ dành để kiếm tiền trong cái xã hội kiếm tiền là mục đích chính của mình? Sự hy sinh của những Bá Nha đã biết triệu triệu Tử Kỳ quên đi cái thú nghe đàn. Chính vì vậy mà Minh cạn dòng, lui về ở ẩn. Rồi đi xa hơn một bước, Minh đã lùi về cõi chết, từ lâu chẳng còn tiếp xúc với ai trong cộng đồng người Việt.

     Vậy mà Minh lại biết rành rẽ ngọn nguồn hơn ai hết những gì xảy ra trong cộng đồng người Việt. Chỉ cần mấy cái miệng độc thân tại chỗ ở hãng lựa đồ vụn của Minh là Minh có thể biết luôn cả tình hình thế giới. Ai nói đàn ông không lắm chuyện? Cũng là niềm vui cho cuộc sống qua ngày. Minh không ngờ cuộc đời "ngụy quan" của mình chỉ còn lại những ngày tháng nhìn những lớp vụn vằn, dập dẹp, rơi rớt từ những xác xe phế thải chạy hoài không ngừng trên sàn máy dây chuyền. Sắt theo sắt, nhôm theo nhôm, đồng theo đồng..., và quarter theo quarter , dime theo dime . Cứ thế mà bê, mà lượm.

     Minh kéo chăn đắp lên tới cổ, buông mắt trở lại trang báo đọc tiếp. Nguồn giải trí duy nhất còn lại của Minh. Không hiểu người viết mới tháng này viết chuyện gì mà tâm trí Minh nãy giờ nhảy tuốt ra ngoài. Là một mục măng chai, mới nhú lên khỏi đất thì ủ rủ, tàn lụn cũng không biết chừng. Cặp mắt Minh tiếp tục ngấu nghiến những dòng chữ li ti phải cần cái kính già phóng đại lên đôi chút mới thấy rõ nét... Chuông điện thoại bỗng reo vang. Giờ này mà ai gọi bất lịch sự vậy cà? Không sợ làm mất giấc ngủ của người ta sao? Ðợi tới tiếng reng thứ ba Minh mới chụp cái ống nghe, giọng ngái ngủ:

     - Hello.

     - Hello, bác Minh đó hả? Mạnh giỏi bác? Công đây. Xin báo cho bác biết một tin buồn: Mẹ của anh Trung mới mất lúc chín giờ ở nhà thương Baptist.

     Rồi, một người đã thật sự đi vào cõi chết, Minh xót xa:

     - Vậy à. Tội nghiệp quá hả. Mấy tuần trước mới gặp bà bác, thấy bả vẫn còn sân sẩn.

     - Vâng, vậy mà chết rồi. Tin cho bác hay bác có xuống thăm thì xuống ngay bây giờ kẻo trễ. Thiên hạ đang rần rần ở đây, kẻ lãnh may đồ tang, người lo nhang khói, nghi lễ...

     - Ðể tôi tính coi. Cám ơn anh đã báo tin cho tôi.

     Mười một giờ hơn thì còn tính gì nữa, Minh nhìn đồng hồ. Ở dưới đó thế nào quân sư cũng nhiều, mà thừa tướng cũng không thiếu. Như vậy Minh có tới cũng muộn thôi, không ai chia phần cho Minh giúp họ đâu. Ngủ lấy sức mai đi làm, Minh với tay tắt đèn. Bóng đêm chợt đưa cuộc đời buồn tẻ, lẻ loi của Minh chìm vào quá khứ.

     Minh không ngạc nhiên về cái chết của mẹ anh Trung. Chết vì yếu tim, lên tăng xông máu. Chuyện mổ tim, nối ống dẫn tim, open heart surgery , by pass , là chuyện bác sĩ Mỹ làm hàng ngày như cơm bữa. Nhưng, đừng thấy vậy mà coi thường. Gặp trường hợp này, cũng nên có ý kiến thứ hai, second opinion . Chỉ thấy mệt mệt rồi nghe lời dụ dỗ của bác sĩ xin đi mổ thì khốn. By pass cũng dễ dàng thành pass away . Tụi Mỹ có sức, nhiều người mới mổ hai ba ngày đã ra phòng ngoài đi tới, đi lui. Còn người mình đâu có khỏe như vậy. Bà bác mổ một tuần mà chưa ra khỏi phòng cứu cấp, phòng intensive care . Lý do hết sức là lạ lùng đối với cái xứ văn minh tột đỉnh này: sút mối nối. Máu rỉ xung quanh lồng ngực. Từ tim qua phổi, rồi từ phổi qua luôn ngũ tạng. Sức già mà mổ, rồi mổ lại lần nữa, lần nữa thì làm sao mà sống. Vậy mà miệng anh Trung lúc nào cũng cái giọng làm tỉnh:

     - Bà già tôi khỏe nhiều rồi, sắp ra khỏi phòng hồi sinh.

     Ðó chỉ là lời nói trấn an. Chưa ra khỏi phòng hồi sinh thì làm sao mà khỏe được. Ðến lúc đi thăm bà bác Minh mới thấy tận mắt cái cảnh chiến đấu vô hiệu quả của những dụng cụ điện tử, những medical hi-tech . Lực lượng ngăn chận bước tiến tử thần. Mặc dù bị cột vô giường bằng những sợi băng trắng mà tay chân bà già vẫn quơ quào như người chạy xe đạp trên không.

     - Mẹ tôi bây giờ thế nào anh?

     - What can I say, men.

     Tiếng trả lời cụt ngẳn của người y tá làm Minh rất đỗi ngạc nhiên, đến độ phải buột miệng lên tiếng:

     - What ? Thằng này nó nói cái gì kỳ cục vậy Trung?

     Người y tá Mỹ muốn chứng tỏ mình nghe hiểu được tiếng Việt, quay qua tiếp chuyện luôn cả Minh:

     - You really don't understand what I say, men! The same thing, men. Nothing changes. Nothing improves.

     Trung xen vào:

     - Ðừng thèm nói chuyện với thằng khùng đó chi cho mệt. Mình hỏi tới hỏi lui hoài, tụi nó phát điên hết rồi.

     - Ê, đám này làm ăn lương chớ đâu phải volunteer , Trung. Tưởng ở Việt Nam mới có thứ y tá loại này, ai dè bên Mỹ cũng lềnh khênh. Bác chắc đâu có nhận ra mình hả Trung?

     - Bà già không biết gì đâu. Tay chân cử động như vậy chỉ là do hệ thần kinh điều khiển thôi. Bây giờ đỡ rồi, hồi sáng bả giựt dữ lắm chớ không nhẹ nhàng như vậy đâu. Chỗ này là chỗ hết cười tới khóc anh ơi, lúc tụi nó nói vầy lúc tụi nó nói khác, không hiểu cái đám bác sĩ ở đây nó làm ăn ra sao. Thôi mình đi ra đi, để bà già nghỉ cho khỏe...

     Chiều ngày sau đi làm về, cơm nước xong xuôi Minh mới xuống chia buồn cùng gia đình người chết. Một người Việt Nam chết đầu tiên trong vùng. Tội cho bà bác mới được chính thức đoàn tụ gia đình với con cháu chưa đầy năm. Một thời gian ngắn như vậy mà ông bà bảo trợ dám nói bà đã enjoy đầy đủ cái hương vị của đời sống Mỹ. Cũng tại đám bác sĩ không có lương tâm chức nghiệp. Nếu còn ở lại Việt Nam, bà già dám chưa chắc đã chết. Xe của người quen đến chia buồn đậu khít khít dọc hai bên lề, Minh nối đuôi vô chiếc cuối. Tản bộ từ đàng xa, Minh thấy bà con trong phố đứng đầy ngoài sân, xen lẫn với những người mặc đồ tang. Có người đội mấn, cầm gậy tre nữa. Anh Ít, chủ tịch hội Ái Hữu Người Việt vội vã chạy lại bắt tay:

     - Sao anh Minh, lúc này khỏe không anh? Lâu quá tôi không gặp anh...

     - Cám ơn anh, tôi vẫn bình thường, vẫn ngày hai buổi sáng vác ô-tô đi chiều vác về. Còn anh thì sao?

     - Mệt lắm anh ơi. Con cái ngày một lớn, lo không kịp với tụi nó... À, anh Trung có nhờ tôi nói giúp, gia đình anh đang cần tiền mặt để thanh toán chi phí cho đám tang, thành thử bà con mình ai muốn phúng điếu thì chỉ cần đưa phong bì thôi nghe anh Minh.

     - Vậy hả? Cũng tiện cho mình, khỏi phải ra tiệm đặt vòng hoa, vòng cườm gì hết.

     Anh chủ tịch này mới qua năm 82 nhưng về mặt chính trị thì thâm niên hơn đám lão làng ở đây nhiều. Chỉ ở một năm mà từ thường dân lên phó chủ tịch, rồi qua năm sau nắm luôn chức chủ tịch. Người Việt làm thợ hàn chung một hãng với anh ta đông lắm, làm gì không thắng phiếu. Ở ghế chủ tịch một năm, theo điều lệ của hội là phải bầu lại, hắn ta lờ luôn không triệu tập bỏ phiếu gì cả. Học sách Marcos, hắn định làm chủ tịch cho đến khi có một người đàn bà nổi dậy. Ðàn bà bên này là số một mà. Ðàn bà không có mà đàn ông cũng không có, hình như chẳng ai màng đến cái chức vụ quan trọng không lương đó. Chỉ ông Triệu là không vui, vì nhiều lần lăm le cái chức đó mà giựt không được. Ổng hay phàn nàn:

     - Bầu bán làm chi, nhiệm kỳ life time cũng đâu có chết Tây, Ma-rốc nào đâu. Mấy thằng tiền hậu bất nhất đó mà nói làm gì.

     Minh bắt tay, nói vài câu xã giao với ông Triệu. Rồi tiếp tục như vậy với những người khác đang đứng thành hàng. Minh như ông tướng đi duyệt binh, không cần biết ai lạ ai quen. Thoáng thấy bóng thằng Hoàng ở cuối hàng thì may hồn nó chuồn đâu mất. Nó đang hận Minh tím gan thì làm sao tay bắt mặt mừng. Thằng Hoàng này thì còn hơn anh chủ tịch một bực, chưa già mà cứ hăm he vuốt râu, nhổ râu mấy tay già. Chỉ không đến dự đem dạ vũ do nó tổ chức mà Minh cũng bị nó làm lớn chuyện:

     - Tại sao mấy lần trước người ta tổ chức thì anh đi, mà tới phiên Hoàng tổ chức thì anh không đến. Anh nói đi, lý do của anh thế nào?

     Mời người ta, người ta đi hay không là quyền của người ta. Tại sao người ta không đi là điều mình phải nhức đầu mà suy nghĩ lấy. Vợ đẻ, con đau, sình bụng, ỉa chảy, personal business ... thiếu gì lý do để nói. Hỗn láo. Tổng thống Reagan cũng không dám ngang nhiên đặt cái câu hỏi vớ vẩn đó với Minh. Ai lại ngược đời, ngu ngốc như vậy.

     - Anh thấy không cần thiết phải trả lời câu hỏi của Hoàng, Hoàng muốn hiểu sao thì hiểu.

     - Anh chơi như vậy thì chơi với ai. Từ rày về sau Hoàng thề có trời, Hoàng không thèm chơi với anh nữa.

     Dễ sợ chưa. Chỉ tại Minh làm lớn mà qua lại với đám nhỏ thì phải chấp nhận cái thiệt thòi, thua lỗ về lời ăn tiếng nói mà thôi. Rồi nó sẽ hối hận, sẽ xin lỗi. I am sorry , Hoàng đã nói câu đó nhiều lần với Minh rồi thì nói thêm một lần nữa cũng chẳng sao... Người cuối hàng bây giờ không phải là Hoàng mà là Trung, xùng xình trong bộ đồ tang mới may bằng vải mùng. Mặt mày còn bơ phờ, hốc hác vì những đêm canh bệnh không ngủ. Minh hỏi trước:

     - Ê, không sợ đảng Ku Klux Klan đốt nhà hay sao mà dám ăn mặc như vầy?

     - Anh khỏi nhắc, tụi nó đã gọi điện thoại cho tôi rồi. Chắc là đám Mỹ đen vòng vòng quanh đây. Nó hỏi tôi nhập đảng hồi nào chớ...

     - Rồi Trung giải thích ra sao?

     - Giải thích cái gì? Tôi bảo tụi nó tới đây tôi cho một cái hòm KKK mang về mà chôn.

     - Thật vậy hả? Ê, rồi vụ chôn cất thật sự cho bác thì bà con mình lo liệu như thế nào đây?

     - Tụi Mỹ nó thầu hết rồi, mình chỉ lo tiền thôi. Xác bà già đã chuyển từ nhà thương ra nhà quàn Vogler. Tắm rửa, tẩn liệm, nhập quan, xe cộ, chôn cất, gì gì... đám đạo tỳ ở đó lo hết. Mua luôn thành một package , rẻ mắc tùy theo túi tiền. Tối mai, gia đình tôi có chương trình tiếp khách và thân nhân đến chia buồn ở ngoài đó. Từ bảy giờ đến chín giờ. Trưa ngày sau, mười một giờ, quan tài sẽ được đưa vô nhà thờ làm lễ, khoảng một tiếng, rồi đưa thẳng ra nghĩa địa Old Town.

     - Như vậy ở nhà đâu có làm bàn thờ, cúng kiến, vái lạy gì hả? À, mà gia đình anh Trung công giáo thì đâu có mục này?

     - Tôi cũng không rành nữa. Nghe bà chị nói có làm bàn thờ ở nhà quàn. Nhang đèn thì chắc cũng có cho hợp với phong tục người mình. Ai lạy thì tôi lạy trả, ai xá thì tôi xá trả.

     - Không ai lạy đâu, theo tôi nghĩ, qua bên này cũng nên chế bớt... Ðám đàn ông ở ngoài sân, vậy chắc đám đàn bà ở trong nhà hả Trung? Ðể tôi bước vô chào bà con luôn một thể.

     Khỏi cửa, Minh gặp ngay bà chủ tiệm may Meiweh đang ngồi chần dần trong phòng khách. Meiweh là tiếng Mỹ đọc trại từ tên của người đẹp, Mây Huê, đang diện cánh áo hồng bông to tổ bố như đi ăn đám cưới.

     - Chồng tao là bác sĩ. Ðã làm bác sĩ được thì làm cái gì lại không được.

     Ðó là lời tuyên bố của em dành cho anh, còn lời tuyên bố của em dành cho em thì còn quỉ khóc thần sầu hơn nữa:

     - Tao nói tiếng Việt không rành, nhưng chửi lộn tiếng Việt thì tao chưa chắc đã thua con mẹ nào đâu nha. Ðứa nào chọc tao là đứa đó tới số.

     Vợ lai Tàu của một cựu y sĩ quân đội VNCH chạy qua bên này phải đổi lối ăn nói theo kiểu dùi đục chấm mắm ? Trước khi ra tiệm, bà ta cũng có một thời gian làm công học nghề ở một tiệm may người Greek. Trong thời gian này có bốn bà Việt Nam làm chung, kết cuộc một bà di tản xuống Texas, một bà chạy qua Cali, một bà nhảy qua hãng dệt, và một bà đăng ký thất nghiệp. Thâu thập kinh nghiệm của những người đi trước, bà thứ tư chịu đựng được một thời gian kỷ lục, ba tháng, rồi cũng phải tuyên bố đầu hàng:

     - Làm chung với con mẹ đó, suốt ngày tôi không dám hở môi, ngồi nín như nín địt vậy mà con mẻ cũng kiếm chuyện... Tự nhiên con mẻ phát thanh: ngày hôm qua thằng chồng bác sĩ của tao ăn gà tây rồi trong bụng kêu cúc, cúc, cúc... Có phải thiệt là lãng xẹt hôn. Vậy rồi nó dịch ra tiếng Mỹ cho mấy con mẹ Mỹ nghe, cười tôi nữa chớ. Nó phải biết, phải kiêng tên của bà nội nó là Cúc mới phải.

     Gặp đám đàn ông, bà chằn lửa này cũng chẳng từ. Ngó thằng lé làm ơn đừng liếc ngang liếc dọc, đằng này nhè ông Văn mặt rỗ hoa mè mà bà ta đành đoạn hạ một câu không thương tiếc:

     - Ông về ông cà cái mặt ông cho láng đi rồi hãy tới đây nói chuyện với tôi.

     Thiên hạ sợ quá không ai dám qua lại thành thử bà ta chỉ còn nước chơi với Mỹ. Chơi với Mỹ thì thành Tàu lai Mỹ. Chính cha mẹ ruột còn chịu không thấu thì huống hồ gì người dưng. Bảo trợ qua được một tuần thì tống khứ ông bà già về Cali bữa đói bữa no với bạn bè vì sợ cái private life bị xâm phạm... Minh cũng sợ họa vào thân, lên tiếng trước:

     - Chào chị Mây Huê, chị mạnh giỏi chị?

     - Chào anh. Anh mạnh giỏi?

     - ...

     Ngồi tiếp theo bà Mây Huê là đám gia đình ông Lẩu. Gia đình này rất có phước, con cái qua đây đứa nào cũng học thành tài. Bằng bốn năm, kỹ sư, programmer . Chắc vì vậy nên đám này tự cao tự đại, coi thiên hạ ở đây già trẻ đều chẳng ra gì. Tới nhà nó, nó dòm mình như dòm khỉ vậy ta ơi , có người phân trần như vậy. Thằng con trai trưởng nhỏ hơn Minh năm bảy tuổi mà cứ gọi Minh trổng bằng tên, không anh ông chú bác gì hết. Thành thử đám này cũng nổi tiếng, mệnh danh là đám tiên học văn hậu học lễ ... Minh vẫy tay tổng chào mọi người rồi tiện đường đi luôn xuống nhà ăn. Tránh voi chẳng xấu mặt nào. Minh gặp ngay đám độc thân tại chỗ, đầu tàu là Ðăng đang cười toe tét:

     - Ê, Minh, lâu quá không gặp. Lại đây ngồi uống nước trà nói chuyện đời coi.

     Minh kéo ghế ngồi:

     - Sao, lúc rày làm ăn có khá không Ðăng?

     - Cũng vậy thôi, có khá lên cái gì đâu. Làm lao động cực thấy mẹ mà cái xương sống vác tre rừng hồi mình đi cải tạo nó không chịu hợp tác. Khá hay không là tùy cái đám chiropractic đó Minh ơi. Tụi nó bẻ xương đã lắm, không bẻ nó nhức chịu không thấu. Kẹt cái là hãng bảo hiểm sức khỏe nó không chịu trả một trăm phần trăm. Minh qua đây trước, không có đi cải tạo, đỡ quá mà. Minh biết hôn, tre đốn không sợ mà lúc vác về mới sợ, cái xương sống của mình phải ẹo qua ẹo lại đặng lách cây tre qua những cây khác mà đi...

     - Ai cũng có số phần hết Ðăng ơi. Hồi 75 tôi đâu có tính chạy qua Mỹ đâu. Tôi ở đảo, tôi xin đi về đất liền mà về không được đó chớ. Tụi tài công lái ghe lạc đường rốt cuộc tụi Thái vớt, đưa tôi về Thái Lan luôn. Bằng không thì tôi cũng có cơ hội nếm mùi tù Việt Bắc với Ðăng rồi.

     - Ê, nghe đồn sắp sửa đổi đi chỗ khác hả? Ở lại đây cho vui, Minh đi mất thêm một người bạn già cùng lứa. Ðám già mình ngồi nói chuyện với nhau còn hiểu nhau chút chút chớ còn đám nhỏ, mình tấp vô không hợp gu chút nào hết.

     - Ai đồn mà lẹ vậy. Muốn về Cali còn phải chờ cái số của mình nó có tới hay không nữa chớ. Thời buổi này công ăn việc làm ở bên đó cũng đâu phải dễ kiếm. Chắc tôi sẽ hưu trí, dưỡng già ở cái xứ này thôi...

     Nhờ cái đám ma mà người Việt trong cộng đồng Burlington này có cơ hội gặp nhau. Minh cũng có cái cơ hội nhận diện nhiều khuôn mặt mới qua, đã thay đổi nhanh chóng theo sự đi lùi của nền văn hóa dân tộc. Việt Nam ở đâu cũng vậy, càng đông càng nhiều chuyện , câu nói này đi đâu cũng nghe. Nhìn chung, thành phố Burlington này là ít lộn xộn nhất.

     Ở thành phố lớn Durham, còn có nhiều nhân vật nổi tiếng hơn nữa. Ðặc biệt nhứt là ông Ưng làm ở cơ quan xã hội, đặc trách giúp đỡ dân tỵ nạn Việt Miên Lào. Tự nhiên trở thành cha nuôi của đám con mồ côi, đám trẻ dưới tuổi vị thành niên chạy qua đây không cha mẹ anh em. Vợ con đó mà ông dám cả gan dẫn con gái nuôi đi biển chơi cả tuần. Ðến lúc ông Vĩnh vượt biên chạy qua mới té ra ông cha ruột là bạn thân của ông cha nuôi. Lôi nó ra tòa, phải lôi nó ra tòa. May là có nhiều người khuyên can, cho nên ông cha ruột nghĩ tình, dằn lòng bỏ qua. Chuyện này nhờ vậy mà chưa tới tai người Mỹ, đỡ tai tiếng cho đám dân Việt lưu vong. Xứ Durham đúng là xứ xô bồ, lính lên quan, thường dân thành tri phủ, master ra doctor . Ðó là chưa dám đá động tới mấy bà ngày xưa lấy Mỹ, nhất là bà Dangerfield hay khoe của, khoe hột xoàn, và khoe luôn cái gái nhà lành của mình. Chỉ có ai thiên lôi đánh ba búa không chết mới dám tin.

     Qua ngày sau Minh nghỉ làm nửa buổi để đưa bà bác đến nơi an nghỉ cuối cùng. Cũng là dịp tốt để Minh biết thêm việc chôn cất máy móc ở bên này như thế nào. Chuẩn bị tương lai cho chính mình, Minh nghĩ. Từ nhà quàn, cảnh sát có còi hụ hướng dẫn đoàn xe về nhà thờ. Linh cửu người chết được đưa vô chánh điện cho Cha làm phép. Hát vài bài ca xưng tụng Chúa, giúp người quá cố vui vẻ về chầu thiên đình.

     Sau đó, đoàn xe lại tiếp tục nối đuôi nhau ra nghĩa địa. Là một ngọn đồi trọc thì đúng hơn. Cỏ được cắt sát mặt đất phẳng lì như một lớp thảm xanh. Nghĩa địa mà sao không có mộ bia? Nhìn kỷ mới thấy mộ bia để nằm, làm bằng thép thật dầy. Mục đích không phải để chống lại sương gió mà là để chịu đựng cái sức nặng cả chục tấn của mấy chiếc xe cắt cỏ nặng như máy cày. Muốn làm mộ bia đứng cũng được, nhưng phải tốn thêm tiền. Nhiều hơn tiền mua đất là cái chắc. Tại vì loại bia tháo ra lấp vào này dù gọn gàng cách mấy cũng gây trở ngại lưu thông ít nhiều cho người và xe cắt cỏ.

     Ðiểm hẹn của mọi người là cái tent sọc xanh ve chai dựng lên giữa đồi. Quan tài người chết được máy hạ huyệt giữ thăng bằng bên trên cái lỗ vuông vức góc cạnh đã được đào sẵn cũng bằng máy từ lâu. Cha làm phép lần cuối. Cái bình hương bằng đồng, khói bay nghi ngút được lắc tới lắc lui vòng vòng huyệt. Minh lại gần, nhón chân chồm qua vai mấy người đứng trước nhìn xuống. Trong huyệt đã có sẵn cái kim tỉnh bằng xi măng khoảng vài phân bề dầy trông như một cái hòm cũ. Hạ huyệt. Bốn sợi dây dù to bản ở bốn góc từ từ dài ra theo tiếng khóc của đám con cháu.

     Có người khóc mà phải quay mặt đi không được nhìn quan tài. Các quân sư, thừa tướng đã bấm độn cho biết bà già chết giờ trùng không hợp với phái nữ. Con cháu gái lẽ ra không cho đưa đám nhưng phút cuối cùng quần thần đổi ý, viện cớ giờ giấc tính theo Tây phương chưa chắc đã linh nghiệm thật sự. Tiếng khóc lên đến nấc cao tột đỉnh khi chiếc xe fork lift bê cái nấp xi măng úp lên thùng kim tỉnh. Ðời đời cách biệt. Một cành hoa, một nắm đất rải lên phần mộ như dấu hiệu vĩnh viễn chia tay. Tiếng chiếc xe ủi đất nổ máy sẵn sàng phía bên ngoài đã vô tình tắt hết những lời khóc than ai oán.

     Từ lâu, Minh đã sống âm thầm trong cõi chết. Vậy mà cái chết thật sự của bà bác lại ám ảnh Minh liên tiếp mấy hôm sau. Minh thấy mình như lên tăng xông máu. Thấy mình đau tim, sắp chết đến nơi. Chết trùng hay là một sự trùng hợp oái oăm? Minh không chết mà ông thân sinh của Minh chết. Trời Phật, sao không ai đánh điện tín cho Minh hay hết vậy cà. "... Chị biết nói sao đây? Ba mất ngày... Ba lên nhà chị chơi, mấy ngày trước đó chị thấy Ba đi tới đi lui vẫn bình thường. Không ngờ qua ngày sau Ba bị kiết, đi tiêu ra máu. Chị chở Ba vô phòng cứu cấp ở nhà thương đa khoa, bác sĩ vô cho Ba chai nước biển và Ba từ từ tỉnh lại. Nhưng trưa hôm sau, chị phát hiện hai chân Ba lạnh ngắt, một chân bầm tím, mồ hôi trên trán rịn ra thiệt nhiều. Chị lo quá chừng. Mười giờ đêm, Ba mệt, tăng xông máu lên 20, 21... bác sĩ cho Ba thở bằng bình dưỡng khí. Ba thều thào: Gỡ ống này đi, đem Ba về nhà đi con. Rồi Ba kêu tên từng đứa con một, mở mắt nhìn chị hồi lâu không nói thêm tiếng nào, từ từ nhắm lại. Chị xin cho Ba được thở bằng bình dưỡng khí chờ cho con cháu ở xa về thấy mặt. Sáng ngày sau, bình dưỡng khí vẫn còn hơi, nhưng Ba đã tắt thở từ lúc mười giờ. Con Phương Lan ở Sài Gòn về không kịp. Ba chỉ bịnh có hai ngày rồi chết, không đòi hỏi một sự khổ cực nào của con cháu. Cái chết của Ba quá bất ngờ làm gia đình không ai chuẩn bị, tuy nhiên chị em cũng cố gắng lo cho Ba đầy đủ: có bổn đạo đến tụng kinh, có lễ nhạc, có múa phá hoàn, múa đuốc. Gia đình buồn, nhưng mừng ngày an nghỉ cuối cùng của Ba đông đảo bà con, xóm giềng. Ðèn điện được chuyền từ nhà ra kim tỉnh xây phía sau vườn sáng trưng nên người ta tưởng chừng như đây là những ngày lễ vui. Tình chòm xóm, nghĩa đồng hương từ lúc đem Ba về cho đến giờ an nghỉ cuối cùng thật chí tình, khó quên, khó lòng đền đáp được. Bây giờ mọi việc như đã xong em à. Phim tráng sẵn chị gửi qua em để rửa lớn, giữ bên đó một bổn và gửi về chị một bổn để thờ. Má nhớ Ba nhiều, sức khỏe giảm sút. Bây giờ chị em mình phải dốc lòng, tập trung lo lắng cho Má..."

     Thật quá bất ngờ và chính Minh cũng chưa chuẩn bị với cái tin sét đánh như vậy. Minh không biết phải nghĩ gì, làm gì cho vơi nỗi sầu riêng tư. Một cái chết ở Mỹ và một cái chết ở Việt Nam, cũng là một cái chết mà sao khác nhau một trời một vực. Thiên hạ, chòm xóm ở đây đâu ai buồn nghĩ đến một cái chết xa xôi bên kia nửa vòng trái đất. Minh phải gửi tiền về nhà. Ở nhà lúc nào cũng cần tiền, nhất là lúc này.

     Ngày sau, Minh nhận thêm một lá thư nữa, của Phương Lan. "... Bảy giờ sáng bé Thanh đã đến Sài Gòn cho em hay, em nghỉ bán về ngay mà không kịp. Ba đã mất trước đó vài giờ, nhưng hai mắt vẫn còn mở trừng trừng. Em vuốt mãi Ba mới nhắm được một con, còn một con không chịu nhắm chắc là còn nuối tiếc đến anh. Ðến lúc gần liệm, chị em cả nhà vuốt nữa, rồi chú Tư, cô Năm, cô Sáu cũng vuốt mà con mắt vẫn mở rộng như còn sống. Tụi em liệm luôn con mắt mở đó. Anh rửa hình ra xem thì thấy rõ hơn..."

     Trớ trêu thay, con tiễn đưa người chết bên này, ai tiễn đưa cha bên đó? Minh thấy mình bất hiếu với phụ thân. Bóng cha già chống gậy trông con bên luống mía cạnh mái hiên xưa nay đã thật sự không còn. Tình phụ tử biết sao đền đáp. Những lo lắng, dặn dò cuối cùng của ngày nào Minh khoác áo ra đi không bao giờ trở lại đã làm tâm hồn Minh thêm tang thương. Minh phải làm gì đây?

     Minh lập một bàn thờ và một mình đốt ba nén nhang khấn nguyện. Cầu cho linh hồn cha được sớm tiêu diêu nơi miền cực lạc... Không được, ta phải ngoi lên từ cõi chết, Minh thì thầm. Minh có trách nhiệm phải làm cho những cái chết bất ngờ này đội mồ sống dậy. Bằng cách gì? Viết trở lại? Phải. Phải ghi lại những phản ảnh của xã hội ngày hôm nay. Cái xã hội đã một lần đẩy Minh lùi về cõi chết. Cái cây dead wood của Minh cũng phải sống trở lại, phải đâm chồi nẩy lộc, phải trổ hoa. Cây tre của Minh không thể tàn vội vàng như vậy. Dòng mực của Minh không thể cạn tức tưởi như vậy. Dù chỉ còn là cái xác không hồn, bệ rạc như người về từ cõi chết, Minh cũng phải cố gắng trở lại làng văn, cái vùng trời không biên giới của mình, để hoàn thành nhiệm vụ thần thánh do thiêng liêng giao phó. Cái chất liệu thần thánh trong người đã làm Minh hãnh diện tách rời khỏi đám đông, mà hầu hết nay đã thành giả nhơn giả nghĩa, như mấy vần thơ xa xưa:

     Một vũng nước trong năm bảy dòng nước đục
     Chín mười người tục không có một người thanh
     Biết ai tâm sự như mình
     Chọn tơ thêu lấy tượng Bình Nguyên Quân


     Với lòng nhân từ, bác ái của vị anh hùng, Minh lại bàn giấy vội vã viết câu vào đề: Người về từ cõi chết...

   back to top

02. CÒN ÐÂU THI VỊ

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Làm người ai cũng thích đi du lịch. Tôi làm người. Vậy tôi phải thích đi du lịch. Tam đoạn luận của ông Aristotle chứng minh rõ ràng như vậy thì làm sao mà trật được. Tôi phải thích đi du lịch. Nhưng, thích đi du lịch là một chuyện mà đi du lịch được hay không là chuyện khác.

     Trước hết phải có tiền. Tiền bỏ ống, tiền mượn bạn bè, tiền vay credit union , tiền bán nhà, tiền cướp nhà bank ..., tiền gì mặc kệ, phải đào cho ra. Cho đầy đủ. Nếu dư giả thì càng hay. Vì đi du lịch khác với đi ăn mày, không thể hà tiện được. Mà một năm đi du lịch mấy lần? Một lần! Trời, vậy thì tiếc tiền làm chi. Tiền mặt và traveler check sẵn sàng như dám mua hết cái thế giới này, vậy mà cái credit card vẫn kè kè mang theo mình như là lá bùa hộ mạng. Rồi, có lá bùa hộ mạng thì phần tiền coi như được giải quyết tạm gọi là ổn thỏa.

     Kế đến là phải có thì giờ. Vắn tắt là phải có những ngày nghỉ, phải có vacation . Ðiểm này thì đám con cháu nhà mình bảo đảm thua đứt mấy ông bà cụ nhà ta. Cũng nên làm một bảng thống kê về nghỉ hè, để xem có bao nhiêu người nghỉ cùng một lúc, và có thể, có bao nhiêu gia đình đi chung một chuyến? Bây giờ, với lứa tuổi muộn màng của tôi, chuyện đi du lịch theo kiểu đi làm người hùng cô độc coi bộ hơi lỗi thời và thêm phần tội lỗi.

     Nhưng thuở xưa, thuở làm trai trong thời chinh chiến, thường thường ai cũng có một thời làm người hùng cô độc. Thời làm lính độc thân, thời anh tiền tuyến em hậu phương. Riêng tôi, ngoài hai chữ độc thân còn phải phụ đề thêm nhiều thứ lỉnh kỉnh khác nữa. Thêm chữ tàu, thành lính tàu độc thân. Vì vậy trời càng thường xuyên bắt tôi đi du lịch. Thêm chữ thủy vào chữ tàu, lính tàu thủy độc thân, thành thử những thương cảng, hải cảng, doi vịnh, đảo hòn ở miền biển được dịp... ủi bãi dài dài. Tối thiểu cũng phải đi qua, biết qua Thành nội, sông Hương của Huế, chợ Hàn chợ Cồn của Ðà Nẵng, trường Sư Phạm của Qui Nhơn, sông Ðà Rằng của Tuy Hòa, xóm Bóng, hòn Chồng, cầu Ðá của Nha Trang, làng của Cam Ranh, Thanh Hải của Phan Rang, rồi gì gì nữa của... Phan Rí, Phan Thiết, Vũng Tàu, Cà Mau, Năm Căn, Côn Sơn, Rạch Giá, Phú Quốc và hòn Thổ Châu Poulo Panjang? Mặc dù không sang trọng bằng những thiên đường nổi Carnival Cruise, Scandinavian Cruise , nhưng được một điểm là khỏi tốn tiền tàu.

     Trở về đất liền, du lịch miền Trung tôi đi gần hết quốc lộ 1, du lịch miền Nam tôi đi gần hết quốc lộ 4. Cũng dư giả. Du lịch miền núi tôi theo trục tiến quân đánh vào vùng Tam Biên từ Qui Nhơn lên Pleiku, Komtum, Dakto và trục rút quân thất thủ Vùng 2 từ Ban Mê Thuộc chạy xuống Ninh Hòa, Nha Trang. Cũng thừa thãi. Tóm lại, tôi được đi du lịch nhiều chỗ. Nhiều chỗ mà ông bà, cha mẹ của tôi chưa hề đặt chân tới. Nhiều chỗ mà ngay cả mấy ông triệu phú cũng không đủ phương tiện để mà đi tới, biết tới. Những chuyến đi đó đối với tôi đã trở thành vô giá, vì vậy tôi vẫn hay làm cao với vợ tôi:

     - Em phải biết anh có được cái may mắn đã hân hạnh đặt chân lên khắp cõi bờ đất nước quê hương.

     Gớm! Nhưng cũng chẳng sai lệch gì cho lắm, theo tôi nghĩ, vậy mà vợ tôi hoàn toàn không đồng ý. Trật một ly đi một dặm, vợ tôi lần nào cũng phán rằng:

     - Nhưng anh chưa có đi Ðà Lạt kia mà!

     Câu nói đó cứ làm tôi nghẹn họng. Phải, ở Việt Nam mà không du lịch Ðà Lạt thì cuộc đời du lịch của mình kể như không đi đến đâu hết. Vợ tôi không thích những chỗ có dấu chân lãng bạc giang hồ của tôi, cứ nhằm vào thác Gougah, thác Prenn, thác Cam Ly, hồ Than Thở, hồ Xuân Hương, đỉnh Lâm Viên, cà phê Tùng, v. v. mà đi. Dò dẫm trong trí nhớ, không quên một điểm nào, không lạc một đường nào. Tôi, chẳng qua nhà giàu mà thiếu mẻ rang, vừa quê vừa giận. May là lúc vợ tôi "tham quan," chỉ có chị Hồng và anh Tạ Ký, huấn luyện viên trường Võ Bị, hộ tống nếu phải một anh chàng bá vơ nào khác thì bệnh tức của tôi sẽ còn trầm trọng nhiều hơn. Chỉ thiếu mỗi cái ly lớn bằng một dặm đó mà suýt chút nữa tôi đã trở thành con Thạch Sùng! Còn ai mà dám hô hào bước chân mình đã trang trải trên khắp miền đất nước quê hương? Từ ải Nam Quan cho tới mũi Cà Mau?

     Bây giờ qua xứ người, tôi vẫn làm người, nên tôi vẫn phải thích đi du lịch. Nhưng để tránh mục đường anh anh đi đường em em bước, thường thường tôi dẫn vợ con tôi theo. Các hãng tư của Mỹ vốn vẫn xài sang hơn Hải Quân Việt Nam, sẵn sàng đài thọ cho cả gia đình di tản free , chẳng khác nào du lịch free , thì tội gì không bồng bế nhau đi cho biết đó biết đây với người ta. Phần tôi, nếu nhập chung mấy bận đi phỏng vấn tìm việc, nhận việc, bỏ việc, đổi việc tôi dám nói: tôi đã hai lần đi gần hết chiều ngang nước Mỹ. I-90 ở mạn Bắc và I-40 ở mạn Nam. Cũng đủ chán. Nhưng tôi không dám tuyên bố ầm ĩ với vợ tôi nữa đâu, vì tôi biết câu trả lời sẽ là:

     - Mà anh cũng chưa đi tới thành phố New York!

     Mặc dù New York của Mỹ không thể so sánh với Ðà Lạt của Việt Nam, nhưng tôi vẫn thua kém vợ tôi ở điểm này. Cũng tại mấy hãng hàng không Mỹ chịu chơi, đánh đấm lẫn nhau, dám bán vé khứ hồi cho bà con đến New York shopping với giá 49 đồng 99 xu. Mà thử hỏi ai là người có thì giờ rỗi rảnh để đi shopping ?

     Hải Quân Việt Nam đã theo đức Trần Hưng Ðạo đi vào dĩ vãng, thời mới ra trường, college lẫn university , cũng từ từ rơi vào quá khứ. Những chuyến đi du lịch không tốn tiền đã lẳng lặng đi sâu vào quên lãng. Lâu lắm rồi tụi tôi không có dịp đi du lịch. Không phải không có thì giờ mà thật ra chỉ vì một lý do hết sức giản dị: móc tiền túi của mình. Ði du lịch khác với đi ăn mày, đâu có hà tiện được. Chính vì câu nói đó, ý nghĩ đó mà phải chần chờ. Rồi phải theo chủ nghĩa xét lại, thêm vào đó một dấu hỏi. Kết cuộc, hà tiện thì không phải hà tiện, nhưng tính kỹ, xài kỹ.

     Ở Việt Nam, nơi ăn chốn ở cho người đi du lịch thông thường đã có bà con hay bạn bè lo sẵn. Bên này đâu có dễ dàng như vậy. Thâm tình lắm mới có chuyện ăn nhờ ở đậu. Rồi chỉ riêng có mình mình rỗi rảnh rong chơi, trong lúc bạn bè vẫn phải bận bịu công ăn việc làm, khơi khơi đến quấy rầy hạnh phúc của người ta ai lại không ngại. Vả lại, đâu phải chỗ nào mình muốn thăm viếng là có bạn thâm tình ở đó. Như vậy, tự lo lấy thân vẫn là điều tốt hơn hết.

     Chi phí nặng nhất của những chuyến du lịch đúng ra không phải là tiền ăn mà là tiền ở. Ăn thì nhiều chớ ở bao nhiêu , câu nói này trật đường rầy nhiều chỗ. Hotel, motel hạng trung bình, giá một đêm cũng tròm trèm nửa tuần lương minimum wage . Ðó là trường hợp hai vợ chồng son, một phòng đơn, một giường chiếc là đủ thấy ấm cúng, không còn biết cô độc, lẻ loi. Ðằng này con cái bề bộn như tụi tôi, muốn đóng đô ở đâu cũng đòi hỏi nhiều phòng đôi, giường đôi. Trở ngại đó chớ... À há, tại sao mình không đi du lịch theo kiểu... đi cấm trại? Những đêm lửa trại của thuở học trò bao giờ cũng vẫn là những đêm đẹp đẽ nhất, êm đềm nhất trong đời. Vậy thì phải tạo cho con cháu mình có cái cơ hội này. Vừa đỡ tốn, vừa vui.

     Tôi bắt đầu nghiên cứu, xúc tiến. Cấm trại cũng có nhiều hình thức. Bình dân thì vác theo cái lều vải, trung lưu thì kéo theo chiếc pop-up camper , sang giàu thì mua luôn xe để dành đi du hí, camper có máy, recreation vehicle . Tôi xếp tôi vào hạng trung lưu nên tôi tìm mua pop-up camper . Vớt được một chiếc đời 75, hiệu Jayco, mua cũ về tu bổ lại. Loại trung, 6 feet 12 feet , có sáu chỗ ngủ, gồm bốn chỗ ở hai tấm ván lót nệm hai đầu và hai chỗ do bàn ăn sập xuống ở khoảng giữa. Có bồn rửa mặt, tủ lạnh, bếp gaz và mối nối điện nước. Chỉ cần gắn cái trailer hitch vô cái cản sau của chiếc xe Van là xong. Ăn chắc mặc bền, năm này qua năm khác sẵn sàng kéo đi khắp xứ. Ðám con tôi lại không chịu làm kẻ trung lưu, tự xếp mình vào thành phần bình dân, có chỗ ngủ dành sẵn trong xe mà cứ đòi mua cho được mấy cái lều cá nhân.

     Phần ở đã xong, bây giờ đến phần ăn. Ở thì nhiều chớ ăn bao nhiêu . Phải hôn đó? Cũng trúng phần nào mặc dù mới nghe có vẻ ngược đời. Nhưng trúng chắc một điều là mình khác với Mỹ, thay vì phải ăn tiệm, eat out , mỗi khi đi du lịch, tụi tôi dự trù mỗi ngày mỗi đi chợ, đi tới đâu nấu ăn tới đó. Nói đúng ra, các món ăn ở nhà hàng thứ thiệt của Mỹ thì quá mắc không hợp với chính sách thắc lưng buộc bụng. Còn fast foods, hamburger, hot dog thì tốt hơn ta về ta ăn cá ao ta .

     Chỗ ăn ở đã xong, xe cộ xăng nhớt dầu mỡ cũng đã đâu vào đó, bây giờ chỉ còn một câu hỏi:

     - Em định đi đâu?

     - Ði Washington D.C.. Em nghe nói trên đó có nhiều cửa hàng Việt Nam bán áo quần, nữ trang rẻ lắm. Tiệm ăn nữa, đủ món Trung Nam Bắc muốn ăn món gì cũng có. Rồi đền đài, danh lam, thắng cảnh, di tích lịch sử... thiếu gì chỗ đáng xem. Còn anh, anh định đi đâu?

     - Ði biển. Lâu rồi không ra biển, anh thấy nhớ biển muốn nhìn lại biển. Chỗ nào cũng được, miễn có biển. Biển, biển, biển... em biết hôn?

     - Như vậy em đề nghị mình đi Washington D.C. trước, xong bận về mình vòng ra biển. Hợp ý em cũng vừa lòng anh. Ði luôn một lần, vacation không đi thì thôi, đi một lần cho đáng. Mấy đứa nhỏ cũng đòi đi thiệt lâu, xả hơi cho đã trước khi đi học trở lại.

     Vacation đi một lần phải cho đáng? Xả hơi phải cho đã trước khi đi học? Làm như là đi Âu Châu, Úc Châu, Ai Cập, Trung Quốc không bằng. Chỉ vòng vòng mấy tiểu bang miền Ðông dọc theo bờ biển Ðại Tây Dương này thì đã thấm vào đâu. Do kinh nghiệm của những người Mỹ thích đi cấm trại truyền lại, tôi dở cuốn campbook của hội AAA ra nghiên cứu. Những khu cấm trại của AAA, KOA, của những hãng địa phương, và những State Park mọc lềnh khênh trên bản đồ. Mặc tình lựa chọn. Có ghi rõ lộ trình, số trại, tiện nghi công cộng: hồ tắm, nhà tắm, nhà cầu, chỗ giặt quần áo, chỗ thả tàu cho những người có tàu, chỗ câu cá cho những người thích đi câu... v.v.. Chi tiết về giá cả, thời gian cần thiết trước khi dành chỗ, cách thức đóng deposit , cũng như thời khóa biểu mở cửa hàng năm của trại cũng được ghi đầy đủ trong đó. Có dấu AAA hoặc KOA thì mắc một chút nhưng bảo đảm sẽ sạch sẽ, khang trang hơn. Trật tự và an ninh nữa, ban đêm có người đi tuần?

     Mấy tọa độ dọc bờ biển Atlantic đã được chấm và một ngày đẹp trời cuối tháng tám đã đến. Hai vợ chồng, bốn nhóc, một thằng cháu và một thằng Mỹ con biết ăn nước mắm, tất cả hân hoan chuẩn bị lên đường. Tôi lo máy móc, xe cộ, camper , phụ tùng, bản đồ. Bọn nhỏ lo gom góp dụng cụ du hí: cần câu, vợt tennis , vợt vũ cầu, banh tròn, banh bầu dục, phao tắm, lều cá nhân, đèn pin, vv. Vợ tôi lo áo quần sport , khăn khiếu, giày dép và lương thực ăn dọc đường trên xe: chả giò, thịt gà quay, sandwiches . Nước ngọt, bia chất đầy thùng đá. Không quên mang theo cây đàn và mấy cuốn băng nhạc Việt Nam. Gửi bịch dog foods cho người láng giềng nhờ chăm sóc hai con Lucky và Bingo là việc làm sau cùng trước khi dứt khoát ra đi.

     - Hê, tất cả nghe đây. Còn ai quên món gì, điều gì nữa không?

     - Ba có lấy máy chụp hình và phim của ba con để trên đầu tủ?

     - Má mầy lo cái vụ đó mà... à, em có đốt nhang trên bàn thờ?

     - Rồi, em làm xong tất cả rồi. Chỉ có anh là không nhớ cái gì hết mà thôi.

     Cứ theo I-40 về hướng Ðông, rẽ qua I-85 tại Durham, tiếp qua I-95 tại Petersburg là thẳng một đường về D.C.. Xe mới ra khỏi home town một đỗi thì mấy đứa nhỏ bắt đầu ngủ gà ngủ gật, không còn nghe láp dáp bàn chuyện. Chỉ còn vợ tôi chịu khó nhướng mắt nhìn đường với tôi cho có bạn, thỉnh thoảng tiếp tế lương thực, một đùi gà, một lon nước ngọt. Chạy thẳng một lèo như tàu suốt không ngừng lại chỗ nào hết, khoảng sáu tiếng thì đến nơi. Pohick Bay Regional Park là chỗ tụi tôi sẽ cấm trại cũng dễ tìm. Mặc dù hơi xa thành phố nhưng tôi biết mình chọn đúng chỗ, cái gì trông cũng mới, cũng sạch sẽ.

     Trời về chiều. Vài giọt nắng còn sót lại trong ngày lấp lánh trong tàn cây, bóng mát. Cuộc sống gần gủi, hòa hợp với thiên nhiên bao giờ cũng thanh bình, êm ả. Một con sóc chạy lăn quăn trên cành cây, vài tiếng chim hót đâu đó. Cảnh nào cảnh chẳng hữu tình? Sau khi lấy thăng bằng cho chiếc camper theo bọt nước gắn sẵn bên thành xe, đám nhỏ xung phong dựng lều. Bốn trụ sắt bốn góc làm sườn, được nâng lên bằng một tay quay. Hai tấm ván lót nệm ở hai đầu kéo ra làm giường. Hạ cánh cửa xuống, gắn mấy đường biên của trần vải vào kẽ nhôm là có ngay một căn phòng kín ruồi muỗi, kín gió sương. Bàn ăn được dựng lên, bếp gaz được lôi ra. Nối ống nước, mạch điện dẫn vào xe không khác gì tàu về bến, cặp cầu, xài điện bờ, nước bờ. Xong, mấy đứa nhỏ đi vô rừng tìm củi khô đặng để dành nấu bếp và đốt lửa trại. Chất đầy xung quanh lò mà vẫn thích đi kiếm thêm. Ðể chạy, giỡn, la hét. Vợ tôi sợ mấy người láng giềng phiền hà, rầy:

     - Nè, không được làm ồn ào quá như vậy. Nhỏ nhỏ thôi, không phải chỉ có mỗi mình mình ở đây nghe.

     Tôi phân bua:

     - Kệ nó mà, biết đâu tụi Mỹ lại vui lây với sấp nhỏ...

     Ðợi tất cả tắm rửa xong xuôi trở về lều tôi mới bắt đầu nhúm lửa. Ðóm lửa gia đình. Mặc dù thiếu những bài hát dân tộc và những bàn tay cùng lứa nối nhau thành vòng, nhưng cái hình ảnh bập bùng của đóm lửa cũng đang sưởi ấm lòng tôi. Bằng một phương thức khác cho một niềm vui khác. Không mấy chốc, đóm lửa thành bếp than hồng. Vợ chồng tôi tay trong tay nhìn đám nhỏ say sưa chăm sóc mấy miếng thịt sườn ướp ngũ vị hương. Mùi thơm bay theo khói, nồng nàn cả một vùng trời. Sau bữa cơm chiều đám nhỏ biến mất trong mấy phòng chơi video game . Tôi lấy đàn dạo cho vợ tôi nghe những bài bản quen thuộc. Không tưởng tượng ra mình đang ở xứ người. Nơi đây có cái gì của một vùng quê miền Nam với trùng trùng điệp điệp những vườn cây ăn trái.

     Ngày đầu tiên chúng tôi dành nhiều thì giờ cho các thắng cảnh, đền đài. Khổ nhất là tìm chỗ đậu xe, vòng đi vòng lại đôi ba lần mới tìm được chỗ trống. Bắt đầu từ mạn Nam của sông Potomac với công viên Lady Byrd Jonhson. Qua cầu Memorial Bridge đến thăm đài kỷ niệm Thomas Jefferson với hàng anh đào cành lá xum xê trồng quanh hồ, những cây anh đào nghe nói mang về từ bên Nhật. Vòng lên đài kỷ niệm Lincoln. Ðến đài kỷ niệm Việt Nam, nhìn tượng mấy người lính Mỹ đăm chiêu, ngơ ngáo bên cạnh bức tường bằng đá đen khắc tên những người đã hy sinh cho cuộc chiến bại. Ði dọc theo bờ hồ không được gọi là hồ mà là reflecting pool , đến thăm cây viết chì dựng đứng, đài kỷ niệm George Washington. Thiên hạ dập dìu như chợ tết Việt Nam, đủ mọi quốc tịch, màu da, sắc tộc. Chụp hình lia lịa mà vẫn thấy chưa đủ, phải nhờ người khác chụp thêm.

     Mãi xem những tác phẩm điêu khắc, kiến trúc có thật vẫn thường thấy trong báo, trên TV, trong phim của thủ phủ D.C. mà quên đi mình đang đói. Ðến xế trưa, vợ tôi mới nhắc chừng đến chợ Việt Nam. Vòng một mạch xuống Wilson Boulevard, một khu phố ở chợ cũ của Sài Gòn có khác, với những bảng hiệu tiếng Việt có phụ đề Anh ngữ. Tất cả ăn hủ tiếu Mỹ Tho dằn bụng, rồi qua tiệm khác ăn cơm. Như vậy mới đủ sức đi vòng vòng shopping . Tôi và mấy thằng nhóc cảm thấy thất thế, chỉ có vợ tôi và đứa con gái là tâm đồng ý hợp. Ðể thay đổi bầu không khí, tôi ghé vô tiệm sách còn mấy đứa trai nhào vô quán ăn có chứa bàn bi da. Một thời gian thật lâu, tất cả quay về điểm hẹn. Vợ tôi vẫn còn tiếp tục lựa quần áo, vải thêu, vòng ngọc. Tôi hối:

     - Chiều rồi, phải về trại. Mình còn ghé tiệm thực phẩm mua đồ ăn đặng làm cơm nữa!

     - Anh khỏi lo, em mua hết rồi, chất đầy xe để phía sau tiệm kia kìa. Ðợi em kêu bà chủ tính tiền mấy thứ này rồi đi về là vừa.

     Tôi thở phào nhẹ nhỏm, may là có tiệm thực phẩm nằm trong tiệm vải... Ðêm hôm đó tụi tôi nấu nướng ăn trong xe, nhưng đám nhỏ vẫn không quên phần đốt lửa trại.

     Tòa Bạch Ốc và tòa Quốc Hội nằm trong chương trình thăm viếng của ngày thứ hai. Vì hồi đi không có coi ngày cho nên bây giờ tụi tôi được toán cảnh sát cỡi ngựa làm dàn chào ngay trước cổng tòa Bạch Ốc. Nghe nói đám biểu tình đông lắm, đang chuẩn bị xuống đường làm dữ, chẳng biết đòi bảo vệ những bào thai chưa đẻ hay bảo vệ mấy bà chửa hoang. Không muốn rước họa vào thân, tụi tôi lấy tòa Smithsonian thế vào. Rồi chỉ vòng vòng hai tòa nhà này mà mất hết nửa ngày. Kể ra cũng có nhiều vết tích lịch sử và những công trình sáng tác lạ mắt để thưởng thức, chiêm ngưỡng. Trưa này, mặc dù mấy đứa nhỏ đòi ăn pizza , vợ tôi cũng lôi cổ tụi nó trở về khu Việt Nam, ăn cơm Việt Nam. Ngoài việc đi long rong coi hàng, vợ tôi còn tìm được một tiệm bán thuốc bắc có thầy bắt mạch cho toa tại chỗ. Biết là mình không có bệnh hoạn chi hết mà vợ tôi cũng ngồi vô coi mạch hốt thuốc, sửa huyết, điều kinh. Thêm một lô dầu trắng, dầu xanh, dầu nhị thiên đường mang về rất là đủ bộ.

     Ngày thứ ba đi thăm sở thú. Mục đích chính là đi xem con gấu trắng, mắt đen đốm đen, panda bear , của Trung Quốc tặng cho Mỹ. National Zoo của Mỹ cũng không lớn hơn Thảo cầm viên ở Sài Gòn bao nhiêu. Nhưng, có nhiều thú lạ và tổ chức ngăn nắp hơn. Trên sơ đồ chỉ dẫn lối đi còn có thêm màu mè, xanh trắng đỏ. Theo lối đi màu xanh sẽ thấy những con này, theo lối đi màu đỏ sẽ thấy những con kia, cũng dễ chọn lựa. Với tôi, chỉ là hình ảnh của một thuở nào xa xưa. Nhưng với đám nhỏ, đây là hiện tại, là ngạc nhiên, là thích thú. Rồi làm gì làm, coi gì coi, xế trưa cũng phải trở về khu Việt Nam như một thông lệ. Lần này khác hai lần trước, chán cảnh đi vòng vòng xem mớ quần áo đàn bà, tôi không theo vợ con tôi vô tiệm mà đi thăm chợ trời nằm phía sau. Không ngờ ở cái chợ chồm hổm này người ta bày bán đủ thứ cải đậu, rau thơm, và ngay cả thịt heo tươi cắt theo kiểu bên nhà. Cũng còn cái không khí Việt Nam với những tiếng trả giá, tiếng khen chê món hàng giữa kẻ bán người mua. Trong cảnh quang thúng ngổn ngang đó có người gọi giật tôi lại:

     - Ðại ca, đại ca, ông đi đâu đây? Có nhìn ra thằng em không? Bây giờ ông ở đâu?

     Tôi quay lại trong mừng rỡ, ngỡ ngàng bắt tay thằng đàn em:

     - Trời, Khương, anh ở đây hả? Từ hồi rời trại Thái Lan là tôi mất liên lạc với mấy anh luôn. Bảy tám năm rồi. Tôi mới dọn về tiểu bang Noth Carolina được hơn năm. Sao, đám độc thân của mình hồi đó đi chung một nhóm hay đi riêng từng người?

     - Ði chung đại ca ơi, mà mấy thằng em mình qua đây không đứa nào dạy dỗ được, tụi nó bê bối hết trơn, chẳng đứa nào chịu học hành, lo làm ăn gì cả. Rồi lần lần chính tui cũng vậy. Bây giờ đại ca về nhà tui chơi chớ? Tui đang ở Rockville, khoảng nửa tiếng lái, chung với thằng sponsor già của tui từ hồi qua đây đến giờ.

     - Tôi có kéo theo cái pop-up camper , cả gia đình đang cấm trại ở dưới Pohick Bay State Park. Bà xã và mấy đứa nhỏ đang ở trong tiệm đằng kia.

     - Phải đại ca đi một mình, ở lại vài ngày, tui dẫn đại ca đi chơi. Phòng trà ca vũ nhạc, đại nhạc hội..., à há, tui dẫn đại ca đi xuống đường 14 trả thù dân tộc...

     - Bậy nà. Vợ con anh thì sao? Có bảo trợ qua được không? Anh còn sống độc thân hay đã vướng vít cô nào?

     - Ðộc thân thì không hẳn độc thân, mà vướng vít thì cũng không hẳn vướng vít, nó làm sao ấy ông ơi. Giấy tờ bảo trợ tôi lo đầy đủ hết rồi mà bên nhà chưa được kêu làm giấy xuất cảnh... Ðể tôi ghi số điện thoại, cho đại ca, đại ca có cần gì thì gọi. Ông tới chơi bất cứ lúc nào, nhà đủ chỗ chứa hết đám con ông, ông đừng có lo. Sao, qua đây có thêm đứa nào nữa hôn?

     - Cũng bốn đứa đẻ bên nhà thôi, cắt đốt cột rồi... Tình cờ gặp lại anh tôi cũng mừng, không đến chơi coi cũng không được. Nhưng thiệt tình, sáng mai tôi tính phải về sớm. Hay là anh xuống lều chơi với tụi tôi, đường đi nước bước ở đây anh rành, nó dễ hơn.

     - Nói như vậy thì thôi tôi ghi luôn cho ông cái địa chỉ cho rồi, để tiện bề liên lạc. Có dịp thầy trò mình sẽ còn gặp lại sau, ông từ North Carolina lên đây cũng gần mà.

     - Qua đây làm nghề gì Khương?

     - Tui làm thợ sửa máy hình ông ơi. Canon, Chinon, Minolta, Yashica khỉ khô gì của tụi Nhật là tui sửa ráo trọi, mỗi ngày cả hai ba chục cái. Còn đại ca?

     - Tôi được đi học lại. Ra trường làm thợ điện cho Western Electric. Khương này, có muốn đi gặp bà xã và mấy thằng nhóc không?

     - Tui ghé đằng này có chút việc, một lát tôi tạt qua.

     - Nhớ nghe. Bà xã rất mong gặp lại Khương và mấy thằng em của mình đó!

     Khương bỏ tấm giấy ghi địa chỉ của tôi vô túi rồi vội vã đi lại chỗ đậu xe. Tôi vào tiệm Mekong bằng cửa sau. Thiên hạ đông như kiến cỏ. Tôi tìm vợ con tôi còn khó, huống hồ Khương. Vả lại, tại sao nó không nghĩ rằng lúc nó trở lại thì tụi tôi sẽ không còn ở tiệm này? Tại sao nó không đi cùng với tôi? Chắc nó định vọt luôn! Ngày xưa Khương là sĩ quan trực trung tâm hành quân, trong khi tôi làm trung tâm trưởng. Trung tâm trưởng với sĩ quan đi phiên cũng chẳng gắn bó, sống chết gì với nhau cho lắm. Tình lính văn phòng nó khác xa với tình lính tác chiến. Lúc chạy chạy cùng một ghe, coi như cùng chung một số phận. Ra khỏi Việt Nam, từ chỗ cùng chung một số phận đi tới chỗ cùng chung một cấp, ngang hàng ngồi với nhau cũng rất gần. Không còn kẻ trên người dưới, ai cũng như ai phải làm lại từ đầu. Khương còn nghĩ tình thầy trò, chào hỏi tôi như vậy cũng là đẹp lắm rồi, tôi nghĩ.

     Sáng ngày sau theo dự trù là phải đi sớm, vậy mà lúc khởi hành mặt trời đã lên cao, sương đọng trên lều chừng như đã khô. Phần viếng thăm thủ đô nước Mỹ của vợ tôi đã xong, bây giờ đến phần tôi, đi biển. Tôi đi ngược lên đường US 50, xuyên qua tiểu bang Delaware, vòng ra biển. Trạm ngừng đầu tiên là thành phố Annapolis có trường hải quân. Annapolis, École Navale de Brest, trường hải quân Nha Trang là những trung tâm đào tạo sĩ quan hải quân của Mỹ, Pháp và Việt Nam. Tôi thấy chiến hạm, chiến đĩnh trong vịnh rõ ràng hơn khi chạy ngang qua cầu Chesapeake Bay Bridge. Hồi tưởng lại ngày nào ở Nha Trang với những lần hải hành thực tập đầu đời. Thấy nhớ tàu, nhớ sóng biển, nhớ những lần đi phiên, nhớ những bữa ăn trong carré sĩ quan..., nhớ đủ thứ.

     Con đường US 13 tiếp nối, dẫn chúng tôi xuống Chesapeake Bay Bridge-Tunnel. Khoảng ba chục cây số đường cầu, như từ Sài Gòn lên Biên Hòa, với hai đoạn đường hầm ngầm dưới đáy biển mỗi đoạn khoảng ba cây số. Không hiểu Mỹ bắc cây cầu này với dụng ý gì? Làm cảnh hay để phô trương kỹ thuật? Cây cầu không có một vị trí chiến thuật chiến lược nào hết, và cũng không giúp ích gì cho hệ thống vận tải đường bộ của nước Mỹ. Mặc kệ. Tôi chỉ thấy gió biển làm lòng tôi hân hoan, khoan khoái. Một vài con hải âu lạc đàn bay rà rà theo xe. Nghe vẽ nghe ve, nghe vè nói ngược, xe chạy dưới nước, tàu chạy trên bờ ... Xe chạy dưới nước? Không, xe chạy trên biển, vì hai bên đều là biển, và cây cầu nhìn trước nhìn sau đều chun xuống biển. Gần đến bờ Norfolk, Virginia, tôi lại gặp thêm một cảnh ngược đời nữa: tàu dầu, hàng không mẫu hạm chạy trên đầu xe hơi. Ai dám nói như vậy? Nên nhớ rằng, hồi xưa ông Nguyễn Trường Tộ chỉ vì nói thật mấy chuyện ngược đời mắt thấy tai nghe mà đã bị chém đầu.

     Ðầu đường hầm, cuối đường hầm là hai hải đảo nhân tạo có hình hạt đậu. Hai đoạn đường hầm vị chi bốn đảo, bốn chỗ duy nhất có thể đậu xe nghỉ xả hơi, hóng gió biển. Và nhìn lại đoạn cầu đã chạy qua. Chạy một mạch không được ngừng và không được chậm hơn vận tốc ấn định tại vì mỗi chiều chỉ có một lane . Trong bốn đảo có một cái được làm lớn hơn, có tiệm bán quà kỷ niệm, có quán ăn, có cầu câu cá bắc ra ngoài xa. Thiên hạ tụ tập ở đây chật nghẹt, du khách cũng có mà người đi câu cũng có. Chụp hình, lại chụp hình.

     Xuyên qua thành phố Norfolk, theo đường 17, đường 158 tụi tôi đi xuống vùng Outer Bank của North Carolina. Một dãy đảo hẹp bề ngang dài chiều dài, như những củ mì, nối tiếp nhau thành hình chữ S giống giống như nước Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào. Là một cái Vạn Lý Trường Thành thiên nhiên chống lại sóng gió Ðại Tây Dương? Cũng hợp lý, vì đây là vùng biển được coi là nguy hiểm nhất của nước Mỹ, mệnh danh là "nghĩa địa Ðại Tây Dương." Tàu chìm từ thời Kha Luân Bố cho đến thế hệ hiện đại, nguyên tử này vẫn còn nằm lềnh khênh ngoài khơi. Thống kê cho biết hơn sáu trăm chiếc trong vòng bốn trăm năm. Lý do là tại hai dòng nước ngược chiều chảy xiết bên nhau, từ Bắc vô Nam và từ Nam ra Bắc. Rồi những cồn cát ngầm coi vậy mà cũng lanh lẹ, biết ăn theo thuở ở theo thời, uyển chuyển di hành theo kẻ mạnh, sóng ngã chiều nào tràn sang chiều đó.

     Ðến mạn bắc Outer Bank thì trời cũng nhá nhem tối. Tôi chạy thẳng đến vùng Vịt, Duck, để tìm chỗ cấm trại cho gần. De xe vào chỗ đậu xong xuôi, tôi chia phần với vợ tôi:

     - Bây giờ như vầy, một mình anh ở lại đây dựng lều, còn em làm ơn dẫn mấy đứa nhỏ đi tắm. Nóng nực cả ngày trên xe, đứa nào đứa nấy chua lè.

     Vợ tôi lại thắc mắc chuyện khác:

     - Rồi tính sao chuyện cơm nước? Vòng vòng đây, em không thấy quán tiệm nào hết.

     - Em đừng lo, để đó cho anh.

     Dựng lều và sắp xếp đồ đạc chưa xong thì tôi đã thấy vợ tôi và đám nhóc chạy trở về như bị ai rượt. Tôi ngạc nhiên hỏi:

     - Tắm gì lẹ vậy.

     Vợ tôi than:

     - Cái địa danh Vịt mới nghe đã vô duyên, đã vậy khu cấm trại lại còn vô duyên hơn nữa, không có nước nóng, nước lạnh lạnh run hà.

     - Thiệt hả? Tụi này rip mình off !

     Lỡ rồi. Chỉ tại tôi làm biếng không chịu chạy thêm một đoạn đường nữa, xuống State Park. Thầm nghĩ cứ để dành đó, ngày mai sẽ xuôi Nam luôn một lèo...

     Tiếp nối Duck là vùng Kitty Hawk, Kill Devil Hill, Nags Head, Whalebone. Không nổi tiếng như Kitty Hawk, không được lấy làm tên cho một hàng không mẫu hạm, nhưng Kill Devil Hill lại là nơi đã viết lại lịch sử rất quan trọng của nền văn minh nhân loại. Chỗ mà hai anh em Wright Brothers đã bay thí nghiệm chiếc máy bay đầu tiên. Nhìn chung, vùng này đâu đâu cũng có những đụn cát cao như núi, vàng như trấu, rất thuận tiện cho người xưa tập bay, cũng như rất thuận tiện cho người nay tập hang glider .

     Rồi đến một National Park mà không được gọi là National Park: National Seashore, bờ biển quốc gia. Tên nghe xôm trò như vậy nhưng thật ra đây chỉ là một đảo hoang. Wild life được protected . Có nghĩa là chim trời, cá nước được bảo vệ? Có nghĩa là rừng mắm mọc dầy và cỏ lau mọc cao trên cát mặn cũng được bảo vệ nốt? Ai mà biết được! Biết chăng chỉ là sự tắt ngấm từ lâu của những ngọn hải đăng, nay đã thành những di tích lịch sử. Ngọn hải đăng sơn sọc đen trắng theo kiểu candy can ở Cap Hatteras vẫn còn đứng vững sau nhiều lần tu bổ đã trở thành ngọn hải đăng cao nhất của miền Bắc Mỹ. Ngọn hải đăng đã một thời làm con mắt thần của biển, có thể nhìn thấy tàu bè xa hàng mười bảy hải lý, khoảng ba mươi hai cây số.

     Từ mũi Hatteras qua đảo Oracoke phải đi bắc. Khoảng nửa giờ giống như qua bắc Mỹ Thuận, nhưng khác một điểm là được đi free , khỏi phải mua vé. Tại bến bắc này, tôi rất đỗi ngạc nhiên vì đàn hải âu. Dạn không thể tưởng, dám mò tới ăn luôn miếng bánh mì tôi đang cầm trên tay. Ðâu cần wild life protected mà từ đâu không biết tụ tập đông đảo như đám bồ câu ở tòa thánh Vatican. Chí choé điếc tai. Mấy đứa con tôi thì thích xem hải âu đớp bánh mì trên không trung. Xẹt qua xẹt lại như star wars mà không đụng nhau mới là lạ.

     Còn một chuyến bắc nữa từ đảo Oracoke vào đất liền, Morehead City. Dài hạn hơn, những ba tiếng đường biển. Và phải tốn tiền toll , mười đồng một xe không chạy khỏi đằng trời. Tôi chưa từng đi một chuyến bắc nào lâu như vậy. Thời khóa biểu rời bến cặp bến hàng ngày đã được ấn định sẵn. Phải gọi điện thoại giữ chỗ trước nếu không muốn bỏ ra ba giờ ngồi không chờ chuyến kế. Cũng là loại bắc hai từng như bắc ở Việt Nam, nhưng lớn hơn một chút. Lại một ngạc nhiên khác với đàn hải âu, cứ vần vũ bay theo chiếc bắc ra giữa biển khơi. Chi chít và đen nghẹt như đám bồ hong đang bay trên đầu người khổng lồ lúc trời chạng vạng tối. Những mẫu bánh mì của tất cả mọi người cứ tiếp tục xịt lên không trung như những ngòi pháo.

     - Không phải chỉ những người làm lính thủy mới biết thương mến con hải âu, phải không?

     Tôi hỏi đám con tôi như vậy.

     Trước khi đến Salter Path, một triple A campground ở vùng Atlantic Beach, chúng tôi ghé thăm North Carolina Aquarium. Tưởng là một trung tâm nghiên cứu về hải sinh tương tự như Hải học viện Nha Trang, với hàng ngàn chai hũ ngâm rượu các xác chết của đủ loại sinh vật sống trong biển mặn, ai dè chỉ vài chục lồng kiếng nuôi cá biết lội. Cá ngựa, cá mú, cá đuối, cá mập. Cầu gai, sao biển, ốc tai tượng, đồi mồi. Ðặc biệt có loại cá bowlfin , giống như con cá bống trứng lớn bằng cườm tay của mình, đã xuất hiện trên quả địa cầu này khoảng một triệu ba trăm ngàn năm. Mấy dòng chữ giới thiệu nói như vậy. Nhìn chung thứ nào cũng ăn khách. Nhưng, thực khách chiều hôm đó phải là gia đình tôi, một bữa thịnh soạn đủ bộ tôm cua sò hến ăn với bánh tráng rau sống mua từ D.C. Xong, đi ngủ sớm để lấy sức cho ngày mai vì chương trình có phần hơi nặng: sáng tắm biển, trưa cào sò, bắt ốc trong Pamlico sound , vùng nước giữa đảo và đất liền.

     Chương trình buổi sáng không có gì thay đổi. Tắm biển. Toàn là dân trắng chỉ có bọn tôi là dân vàng và tuyệt nhiên không thấy dân đen. Bãi biển không lài như bãi Trước lội cả cây số nước chỉ tới ngực, mà giống như bãi Nha Trang, bãi Sau. Những lượn sóng thật lớn phủ vào bờ trắng xóa. Mấy đứa con tôi mới được tắm biển ở Mỹ lần thứ nhất. Mới đầu sợ, dần dần quen, khoái, tắm hoài không chịu lên. Tôi còn sợ hơn đám con tôi nhiều vì sực nhớ ra chưa đứa nào đã biết bơi rành rẽ.

     Chương trình buổi trưa thay đổi thấy rõ vì mục cào sò không hấp dẫn mấy. Cả tiếng mà chỉ được một dozen . Tôi và vợ tôi chuyển sang nghề bắt chem chép, con muscle , mọc đầy trong mấy bãi lát. Ðám nhỏ đi vãi chài, tay chài năm thước đường kính mới mua trong tiệm bán cần câu. Tụi Mỹ chỉ chài vòng vòng trong mé mục đích bắt meno , cá con, để làm mồi. Nhưng đám con tôi chịu khó lội ra xa nên bắt đủ thứ: cá đối, cá rô, cá đuôi đỏ, tôm lóng, tôm thẻ, ghẹ. Tay làm hàm nhai, chiều ngày đó gia đình tôi cũng có bữa ăn toàn đồ biển.

     Ðêm đến, mấy đứa nhỏ đi chơi game , chỉ còn lại hai vợ chồng nên tôi đề nghị đi ra biển hóng gió. Bãi biển về đêm trở nên vắng lặng. Một vài cặp có lẽ là nhân tình song bước trong âm thầm, đồng lõa. Chỉ còn tiếng sóng vỗ bờ ì ầm nghe rõ mồn một. Như một bãi biển nào ở Việt Nam? Ngoài khơi cũng vậy, vài ánh đèn leo lét của tàu đánh cá, tàu buôn. Cũng như một bãi biển nào ở Việt Nam? Tôi bỗng nhớ Nha Trang, anh nhớ Nha Trang , tôi nói nhỏ với vợ tôi như vậy. Tôi bỗng thấy con đường Duy Tân, thấy dãy villa trông ra biển, thấy bãi cát mịn màng hiện ra trước mặt. Và bên tai tôi, tôi còn nghe toàn tiếng nói của ngôn ngữ duy nhất tôi yêu từ khi mới ra đời...

     - Anh đi đâu vậy?

     - ...

     Tôi lội xuống nước mà tôi không hay. Hình như tôi muốn sờ mặt nước xem có thật đây là biển của Nha Trang? Tiếc thay, nước biển này không phải là nước biển Thái Bình Dương. Thất vọng, buồn vô tả. Những ngày cấm trại, những di tích lịch sử, những hình ảnh ghi lại trong tôi đột nhiên trở thành vô nghĩa. Tôi cảm thấy mọi thứ chỉ thật sự có nghĩa nếu nơi này là quê hương, là Việt Nam.

     Nhớ biển ta đi biển
     Biển nào cho giống biển Nha Trang
     Chốn này, biển gì đây?
     Sao ngó quanh toàn cao ốc
     Ra vào chẳng dễ dàng!
     Vậy rồi ta tìm đâu
     Bar số 5 xuống Chutt
     Dấu chân thèm lang thang?
     Bỗng nhiên chìm xuống
     Bao nỗi rộn ràng
     Biển này làm gì giống biển Nha Trang!
     Tìm đâu ra đám dã tràng
     Dưới chân ta toàn sand fleas
     Bảo sao ta không vừa ý
     Biển còn đâu thi vị
     Còn đâu thi vị...


     Qua ngày sau, mấy đứa con tôi chẳng hiểu hay chỉ hiểu lờ mờ cái lý do tại sao tụi nó phải dọn trại sớm hơn chương trình dự trù một ngày. Riêng tôi, suốt đường về lòng tôi cứ ngân lên tiếng vọng: còn đâu thi vị...

   back to top

03. TA TẮM AO TA

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Gặp nhau hàng ngày chẳng ai thèm để ý, đến lúc sắp xa nhau mới thấy người chăn gối kề cận bên mình là quan trọng. Ngay cả những cặp chưa phải là vợ chồng. Trước khi lên limousine ra phi trường, Trí nồng nàn bá cổ ôm hôn cô girl friend tóc vàng đã move in với chàng hơn sáu tháng nay. Nụ hôn nào cũng nhầy nhụa, ướt át nhưng đây là lần đầu tiên Trí cảm thấy có chất mằn mặn của tình yêu và mùi thơm tho của luyến tiếc. Thỏ thẻ giọng oanh vàng, người tình riêng đã ân cần dặn nhỏ Trí một câu:

     - Honey , anh không cần phải chase cái đám con gái ở dưới đó, nghe chưa?

     Trí gật đầu, đáp nhanh:

     - Ừa, anh hứa. Và em tốt hơn cũng làm giống như anh vậy. OK?

     Tình yêu kiểu Mỹ là thế. Có thể nói nó dễ dàng đến rồi cũng dễ dàng đi. Nhưng, phải chấp nhận một điều là sòng phẳng. Ăn đồng chia đủ, thiếu một góc cũng không xong. Cũng có cái hay của nó. Check book riêng, mua sắm riêng, ăn uống riêng, ngay cả những liên hệ gia đình và những ý nghĩ suy tư cũng vẫn là personal business . Như vậy cái gì là của chung? Có phải chăng là bầu trời này, là trăng, là sao, là cái apartment , là cái giường và những giây phút ái ân? Người đàn bà Mỹ, theo Trí quan niệm, như là một áng mây. Phải biết chiêm ngưỡng cái áng mây đó trước khi nó thay hình đổi dạng hay vụt tan ra từng sớ mỏng. Tan hợp hợp tan, như chẳng có gì bền bỉ tuyệt đối hết. Rồi lỡ có ngày chia tay thì... chia tay. Chẳng ai thèm mang nặng thêm một nỗi ân oán giang hồ.

     Còn người đàn bà Á đông thì sao? Trí đang thèm tìm hiểu, khai phá thêm! Thêm nữa, ở những khung trời xa lạ. Hay đang hăm hở trở về bến cũ? Cũng chẳng sai! Nhơn chi sơ tay rờ vú mẹ, tánh bổn thiện cái miệng đòi bú , đã làm thân con trai mà không rượt cái đám con gái thì rượt ai? Hơn nữa không mấy khi được "sút chuồng," bắt Trí phải làm tên bất bình thường, nguyễn thị, thì coi sao được. I promise, anh hứa. Nhưng chắc phải "hứa một đường, làm một nẻo" thôi. Trí mỉm cười với riêng mình.

     Suốt nửa tiếng trên xa lộ, Trí và người tài xế da đen không một tiếng qua lại. Cũng có thể hắn tiếc lời mà cũng có thể hắn quá nể trọng Trí qua cách ăn mặc. Ông lớn, big boss, business man có khác. Xe đến phi trường, Trí trả tiền và không quên lấy receipt cất vô cặp, sẵn sàng cho cái báo cáo công tác sắp tới.

     Chiều phi trường Raleigh-Durham rơi chầm chậm. Lối ra vào thưa thớt người đi. Qua khỏi lớp cửa tự động, Trí thấy quày Delta Air Line ngay trước mặt. Chàng trình vé và nhân viên kiểm soát gõ vào computer. Xong, đi thẳng ra cổng 22 theo lời chỉ dẫn. Ánh nắng vàng chói chang in vết dài trên nền thảm màu xám tro nhạt. Qua vách kiếng, Trí thấy chiếc Boeing 727 của mình đã lù lù đậu sẵn đó tự bao giờ. Tiếng động cơ chạy chậm ngân dài như tiếng ong kêu. Chuyến bay chót về thành phố Atlanta, thủ phủ của miền Nam. Ngó trời ngó đất chỉ một thời gian ngắn, chưa tàn điếu thuốc của ông già ngồi kế bên, thì tiếng hướng dẫn hành khách lên tàu vang lên trên máy phóng thanh. Trí vạch tay xem đồng hồ, bingo , không sai một phút. Máy bay Mỹ có khác.

     Biết lơ lửng trên không khoảng một giờ hơn nên chẳng ai thèm ngủ. Vả lại có muốn ngủ cũng không được. Vì đèn fasten seat belt vừa tắt thì mấy cô chiêu đãi viên liền lụp cụp đẩy xe rượu, nước ngọt, snack đi cười xã giao với khách ngay. Thấy họ sốt sắn làm việc như vậy thì cũng đừng tưởng là họ yêu nghề. Làm lấy có thôi, làm sớm nghỉ sớm, làm cho xong cho rồi. Nụ cười mới chớm trên môi, chợt tắt. Có để ý sự khựng lại đó mới thấy nó sượng sùng, trò hề làm sao. Cảm tình gì với những người cả đời chưa chắc đã gặp lại lần thứ hai. Với khách đầu đen thì nụ cười đó còn được programmed cho tắt sớm hơn một chút. Thấy dễ ghét hơn một chút.

     Gậy em đập lưng em, Trí thử trả đũa. Nụ cười nửa mùa, nửa chừng trên môi Trí cũng chợt tắt. Không thấy được chính mình, nhưng Trí tự hình dung một khuôn mặt giống khỉ. Vì không giống khỉ sao được khi người đối tượng bị phản ứng. Ngỡ ngàng, ngơ ngác nhìn Trí trân trối như nhìn một quái vật. Trí lấy làm thỏa mãn cười tươi làm hòa đỡ lấy ly coke và gói almond rang. Ðược dịp để mắt dò xét người đẹp từ đầu đến chân. Trí bâng quơ cười mỉm, cười thầm. Lại cười, An nam ta gì cũng cười .

     Moi trong bọc back seat của ghế phía trước, Trí lôi ra một tờ báo. Ðọc quảng cáo, nhai almond, và quan sát bạn đồng hành là ba việc làm cùng một lúc. Bên cạnh Trí, phía cửa sổ, là một bà Mỹ sồn sồn đang trổ tài đan áo. Xỏ xiên móc ngoéo thật là thuần thục. Nhanh nhẹn, nhặm lẹ như muốn tranh thủ cái thì giờ nửa đời còn sót lại của bà. Chẳng thèm quan tâm đến thế sự, nhân tình xung quanh. Cũng là một lối sống. Bên kia aisle là hai người Á đông mắt một mí, tóc muối tiêu. Nhựt Bổn thì phải, vì trong cuộc đàm thoại nghe nhiều vần ô ở cuối chữ, giống giống như kimono, seiko, Tokyo, Yamamoto... Cũng chẳng phiền thế sự, nhân tình xung quanh, coi Trí như không có trên tàu.

     Bỗng nhiên một trong hai cái đầu muối tiêu quay lại nói chuyện với những người Mỹ ngồi phía sau. Trí cứ nghĩ là họ không chịu nổi đám khói tàu đang mù mịt tỏa lên trần phi cơ, vì hàng ghế Trí đang ngồi là hàng ghế chót bét của khu cấm hút thuốc. Nhưng, sau mấy lần gật đầu xã giao và chìa bàn tay năm ngón viết phụ đề Nhật ngữ, hai người mới dám thong thả bấm nút cho ghế dựa từ từ ngã về phía sau. Duỗi chân ra thoải mái, lim dim. Á, ngộ chưa, Trí nói thầm! Lịch sự Á đông có thừa như vậy sao? Trí bắt chước làm theo. Nhưng bấm nút đẩy lưng ra sau một cái rẹt chẳng cần hỏi ai tiếng nào. Không làm gì khác hơn được. Can't help it . Màu mè hơn, Trí còn với tay tắt ngọn đèn con trên trần rồi mới khoanh tay nhắm mắt ngủ.

     Mà có ngủ được đâu. Thiền chưa hết một nửa cây nhang là có tiếng báo động sắp sửa đáp của phi hành đoàn. Tiếng động cơ như nhỏ lại và mọi người bỗng nhiên đâm ra nhốn nháo. Kẻ mở mắt ngồi thẳng lưng, người vương vai trở mình cựa quậy. Bà Mỹ ngưng đan, dõi mắt qua cửa sổ nhìn xuống đất. Trí dòm ké, để mắt ngó nghiêng nghiêng. Nắng bên ngoài dường như tắt, vài chỗ đã thấy lên đèn. Bấm nút cho ghế dựa chạy về phía trước, thắt lại an toàn, Trí sẵn sàng chờ đợi. Lỗ tai rồi sẽ bị lùng bùng, nhưng nhức. Nói lớn cũng chẳng ai nghe. Phi cơ chòng chành một chút rồi sẽ gập ghềnh trên phi đạo. Không có không tặc, không có near miss , không có mid air collision . Chỉ cần vậy thôi... Trí nhẹ nhỏm người khi máy bay phom phom trên đường vào bến đậu.

     Concourses A, B, C, D ? Là cái quái gì? Là subway , là đường xe điện ngầm? Rõ mình nhà quê lên tỉnh, Trí nghĩ thầm. Phi trường Hartsfield này phải là một trong những phi trường quốc tế. Cái gì cũng to lớn và khác xa so với phi trường nhà. Tản bộ trên thang máy nằm ngang một đỗi thì Trí đến trạm subway đầu tiên. Không cần đọc lại lần thứ hai lời chỉ dẫn cách quá giang, Trí nhảy vô nếm mùi văn minh tân tiến với người ta.

     - Cửa sẽ đóng trong vòng hai phút... Cửa sẽ đóng trong vòng hai phút... Cửa sẽ đóng trong vòng một phút...

     Giọng lải nhải trong hệ thống âm thanh thật là quái đản, chẳng giống tiếng người chút nào hết. Tiếng của một robot , một alien từ thế giới xa lạ nào thì đúng hơn. Trong đầu Trí như vọng về tiếng hát của Jo Marcel..., chúng là lũ người máy, chỉ còn mình anh mong nhớ em, chỉ còn mình anh mong tìm em, tìm em ... trong cuốn băng Ðời 11, Dạ vũ Biển. Rồi bing, cửa đóng lại sau một phút đúng, như không sai lệch một nanosecond nào. Vù vù vù, toa xe không người lái vụt tự động chạy nhanh như gió. Trí đứng phía sau nhìn vào khoảng đường hầm xây bằng đá tảng, hun hút tối om. Ðường hầm từ dinh Ðộc Lập ra nhà thờ Cha Tam có ngon lành lắm chắc cũng giống như vầy thôi. Không mấy chốc, toa xe lại tự động thắng lại, ngừng lại.

     - ... Cửa sẽ đóng trong vòng hai phút... Cửa sẽ đóng trong vòng một phút...

     Ðóng? Ðó, có giỏi đóng thì đóng đi, lũ người máy! Trí nhảy ra đi bộ trở lại, không thèm chơi cái trò trẻ con đó nữa. Bên ngoài vừa rộng rãi khoảng khoác vừa có đủ thì giờ ngắm nhìn người đẹp. Ðường nào trước sau cũng về La mã, cũng phải dứt điểm ở chỗ gọi là terminal . Thế thôi. Và nhờ vậy Trí mới có dịp đi qua các thang máy nghiêng loại hai ba từng cao, ở trên nhìn xuống thấy ngộp. Ngộp thì có ngộp nhưng không phải lo bị trượt chân té lăn cù từ chót đỉnh vì dưới chân mình thiên hạ đã đứng chật nghẹt. Trí chỉ lo hành lý của mình rồi không biết sẽ chạy về đâu. Người một nơi của một ngã, một lần nữa Trí học khôn. Lần sau có đi đâu chỉ cần đem theo một ít áo quần là đủ. Không cần khăn khíu giày dép mọi thứ lỉnh kỉnh. Một sắc tay xách theo mình là tiện nhứt.

     Atlanta, thủ phủ của dân chống đối miền Nam, rebel , chống lại đám hay dành cầm quyền miền Bắc, yankee , trong thời nội chiến Mỹ. Thời Nam Bắc phân tranh. Nhưng lạ quá, chẳng thấy gì giống trong phim mà Trí đã mấy lần xem tới xem lui hết vậy? Rất tiếc, rất tiếc! Tất cả có lẽ đã cuốn theo chiều gió, gone with the wind rồi. Ðừng mơ mộng!

     Quả thật Atlanta bây giờ là một thành phố rực rỡ đèn màu. Từ xa nhìn vào, đám nhà chọc trời ở down town dính liền nhau nhấp nhô như mô hình của một hải đảo ánh sáng. Tuy nhiên, Trí chỉ được phép nhìn thoáng qua mà thôi vì Trí còn phải lái xe. Ðường I-85 năm sáu lane một chiều đã là lạ con mắt, mà chiếc Toyota Camry thuê của hãng Avis cũng đang lạ tay lái. Con gái có đứng chật bên đường chưa chắc Trí đã dám liếc ngang liếc dọc nói gì nhà cửa, tiệm quán. Sáu mươi lăm, bảy chục dặm một giờ băng qua thành phố. Chính vì vậy chẳng bao lâu Trí đã đến Sheraton Hotel nằm chênh vênh trong khu phòng sở làm việc Century Center.

     - Tên của ông, thưa ông?

     - ...

     - Thẻ American Express Corporate Card của ông, thưa ông?

     - ...

     Chẳng thèm nói một tiếng với em tóc vàng tại quày nhận khách, Trí chỉ làm những động tác của một người thi hành lệnh. Ðám này cũng chỉ là một lũ người máy mà thôi. Là một anh hùng hảo hán như Trí mà vẫn bị xem thường như loài thảo khấu. Chẳng thấy cây bảo kiếm (phù hiệu IBM làm bằng vàng 14) đang đeo bên mình (gắn trên cà vạt) đây sao? Trà đình tửu điếm hạng sang của Mỹ mà chẳng biết cách chiều chuộng khách giang hồ có máu mặt gì hết. Quán trọ bên đường thời Võ lâm ngũ bá, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu đại hiệp... mới bước vào thì đã có tiểu nhị khúm núm mời rượu thịt rồi. Không ai dám giục giặc hỏi tới hỏi lui một tiếng.

     - Ðây là chìa khóa phòng của ông, thưa ông!

     - ...

     Chín trăm mười bốn? A, cái bọn gian tà này dám để Trí nằm tuốt luốt trên lầu thứ chín! Nhưng mà có thang máy thì lầu chín hay lầu hai mươi ba, hai mươi lăm gì gì cũng vậy thôi. Trí xách hai cái vali lớn lót tót đi tìm elevator.

     Vòng quanh một nửa vòng trong của cái building cất ba mặt thành hình tam giác này, Trí gặp được phòng. Tra chìa khóa vào ổ khóa mở cửa bước vô phòng. Một cử chỉ hết sức thong thả tự nhiên... Bỗng Trí giựt mình dợm chân muốn nhảy trở ra. Thích khách? Ðịnh thần nhìn kỹ lại Trí mới hay chỉ là bóng của mình trong gương! Cái thằng hotel designer nào ngu quá, ai lại lấy kiếng gắn lên cửa tủ móc áo quần bao giờ. Muốn dộng cho một chưởng mười thành công lực nhưng chỉ sợ chính mình bể tan tành từng mảnh vụn. Trí bỏ hai cái vali nằm tựa tủ búp-phê rồi để nguyên đồ mặc ngã người lên giường nằm nghỉ. Tâm tư thả lần theo buổi ăn chiều. Bò bít tết loại New York strip sẽ là món ăn chính. Một tuần bị đi học cho hãng chứ đâu phải cho Trí, thì tội gì không sống những ngày huy hoàng và những đêm... nhứt dạ đế vương.

     Sáng ngày sau vào lớp học Trí mới công nhận rằng người xưa nói đúng: những chí lớn thường dễ gặp nhau. Trong lớp học quốc tế này, Japanese, Chinese, Indian, Iranian, Iraqi, West German, GI Mỹ và ngay cả Vietnamese, Trí, đều gặp nhau ở một điểm: để tâm đến chương trình du hí nhiều hơn là chuyện dùi mài kinh sử. Chẳng học cho lắm có cấm thầy cũng gửi bằng cấp về nhà. Biết đám học trò vẫn còn cưu mang cái bệnh lười cố hữu cho nên chương trình học được sắp xếp rất là thoải mái. Buổi sáng dành cho bài giảng, buổi chiều dành cho bài làm. Buổi sáng kể như kẹt rồi, nhưng buổi chiều mặc tình du di, làm sớm vọt sớm. Chuyện xong hay không xong cũng không lấy gì làm quan trọng. Cuối khóa, học trò còn có đôi lời phê bình thầy, chấm điểm phương cách giảng dạy của thầy, thì thầy cũng đâu nỡ cho đám học trò bất đắc dĩ này ôm trứng vịt.

     Trở về phòng ngủ, thảy mấy cuốn sách trên bàn, Trí chụp ngay cuốn điện thoại yellow pages . Chỉ cần tới một tiệm bán thực phẩm thì Trí sẽ tìm ra tất cả. Vũ trường Maxim rồi ta cũng sẽ đến mà nhà hàng Ðồng Khánh rồi ta cũng sẽ đớp, Trí tự nhủ. Và cả người đẹp tóc đen nữa rồi ta cũng sẽ yêu. Nhưng quái lạ thay, ở một thành phố lớn top ten của Mỹ như Atlanta lại chỉ có hai tiệm thực phẩm Á Ðông: Asian Food Mart và Oriental Food Market? Trí hơi ngạc nhiên. Mấy chục ngàn dân Việt ở đây mà chỉ có hai người theo nghề buôn bán? Chẳng lẽ phải đợi cho đến năm 2000 dân mình mới chịu quên cái câu: nhứt sĩ, nhì nông, tam công, tứ thương? Trí dò lại bản đồ và thấy tiệm Oriental Food Market nằm ngay trên đường Buford. Chỉ quẹo ra đây là tới. Trí xách xe ra đường. Lúc gặp đường Buford thì cứ nhằm hướng Bắc trực chỉ. Rồi vòng lên vòng xuống Northwood Plaza, Pinetree Plaza hai ba bận Trí mới tìm được cái tiệm mình muốn tìm. Chẳng phải Việt Nam ta mới khổ! Dĩ nhiên không ai khác hơn là mấy anh ba, Tàu Chợ lớn! Bảng hiệu tiệm loại chữ An nam hệt khuôn này chạy qua tới đây cũng còn gặp. Cứ vào.

     - Ông có cần chi không, thưa ông?

     Ðôi môi mỏng và nụ cười duyên, nhưng rõ ràng đuôi mắt một mí không có một mãi mai nào Giao Chỉ cả. Thất vọng. Bằng tiếng ngoại quốc, Trí trả lời:

     - Tôi chỉ xem vòng vòng.

     Cô chủ tiệm còn nhỏ quá so với tuổi của Trí. Vừa coi quán vừa đọc sách. Sách gì? Sách học hay là tiểu thuyết Quỳnh Dao. Hay là Tứ thư ngũ kinh? Con gái làm gì đọc Tứ thư ngũ kinh, nói chuyện Phong Thần? Trí rảo quanh một vòng coi hàng. Mùi nước mắm xì dầu pha trộn với mùi khô mực khô mặn quen thuộc của những tiệm tạp hóa Á đông. Tiệm nào cũng vậy, ngần ấy thứ đó lỉnh kỉnh. Không có gì gọi là đáng mua, Trí trở ra quày tính tiền diện kiến cái cô chủ tuy non choẹt nhưng dễ thương. Lại một nụ cười duyên. Duyên chớ không tình. Lần này vì Trí không cười đáp lễ cho nên Trí nghĩ mình giống Tàu. Nhưng không muốn cô chủ hiểu lầm mình là Tàu, Trí gõ gõ ngón tay trên mặt kiếng, chỉ mấy cuốn băng nhạc tiền chiến đang nằm chung một thùng với những băng nhạc tiền mất nước bán sale đồng hạng 1 đồng 99 xu:

     - Cô làm ơn lấy cho tôi cuốn đó.

     - Ông là Viet-lam-mese?

     Viet-lam-mese hay Vietnamese gì cũng vậy, Trí gật đầu. Qua bên này rồi mà cũng còn cái giọng Chợ lớn. Shit , Trí rủa thầm. Biết ân oán giang hồ giữa mình và cô chủ Chợ lớn gốc Hồng Kông hay Ðài Loan này chỉ tới đây là chấm dứt, Trí trả tiền rồi lơn tơn trở ra xe. Mặc dù không có speed bump trong khu shopping nhưng Trí cũng chạy từ từ. Biết đâu có một cái restaurant của người Việt mình quanh đây? Bỗng hàng chữ V.N. Discount Center đập vào mắt Trí. V.N. thì phải là Việt Nam thôi! Vì ngoài hai chữ Việt Nam ra V.N. chắc chắn không thể stand for một cái gì khác được! Trí de xe vào bãi đậu. Hân hoan, hớn hở bước vô tiệm.

     - Chào anh, anh mạnh giỏi?

     Một giọng nói trong hơn tiếng chuông treo trên cửa ra vào.

     Ô hay! Ít ra cũng phải như vầy. Khuôn mặt trái soan nữa chớ, dễ thương hết sức. Ðẹp não nùng nữa chớ. Mái tóc cắt ngắn để lộ đôi bông tòn teng bằng đá đen, onyx , bự cỡ. Chiếc áo hiệu CocaCola màu gan gà phủ luộm thuộm trên chiếc váy cùng màu cũng đúng là mốt đương thời. Vậy mà tiệm vắng que không có khách. Chẳng lẽ ở Atlanta này không có con trai độc thân? Trí đáp gọn:

     - Chào cô chủ, cô mạnh giỏi?

     - Hình như anh mới tới đây lần đầu phải không? Chắc anh ở thành phố nào gần đây, vì nếu anh ở Atlanta thì em phải biết!

     Trí giựt mình bởi cách xưng hô anh anh em em coi bộ hơi cởi mở này. Thêm vào đó một nụ cười hiền. Vậy là ở lành gặp hiền. Duyên tiền định. Trí bạo dạn lây:

     - Em xem tướng cũng khá lắm nhưng chỉ trúng được phân nửa thôi. Anh mới tới đây lần đầu thiệt nhưng không phải từ một thành phố nào ở quanh đây mà tuốt từ tiểu bang North Carolina lận.

     - Ồ, North Carolina hả? Ðể em tính coi, North Carolina, South Carolina, Georgia... vậy thì cũng không xa lắm.

     "Giót già," muốn êm tai phải phát âm như vậy? Có lý! Không nên "Giọt gia, Giọt gia" như Trí, sai bét. Trí chẫm rãi:

     - Ừa, chỉ khoảng ba trăm dặm thôi, năm sáu giờ lái xe. Anh đi học. Hãng gửi anh xuống đây tu nghiệp một tuần.

     - Như đi chơi hả? Sướng há!

     - Anh tên Trí. Em tên gì? Sang đây lâu chưa?

     - Em là Hoàng. Tụi em mới sang đây hồi 80.

     Tụi em? Sao lại tụi em? Ðừng thắc mắc! Trí bảo mình vậy rồi nói:

     - Mới qua mấy năm mà em đã làm được cô chủ, hay quá! Anh đi từ hồi 75 đến giờ, mười năm hơn mà chẳng làm nên trò trống gì hết. Mãi đến bây giờ cũng còn phải đi học lóm của người ta. Nè, nếu anh đoán không sai thì em đi chung với gia đình ba má anh chị em của em phải không?

     Không trả lời câu hỏi của Trí, Hoàng bày tỏ tâm tình mình ở một khía cạnh khác:

     - Qua bên này sớm như mấy anh chuyện học hành khỏi bị lỡ dở. Lúc tụi em sang đây thì kể như là muộn màng rồi. Chỉ có ông xã em chịu khó đi học lại, bây giờ anh ấy đã ra trường, đi làm cho hãng điện, lương một năm cũng được bốn chục ngàn. Còn em, em học hết vô nên mới nhảy ra làm ăn đó chớ. Em có bà cô ở bên Cali cũng buôn bán như vầy, yểm trợ cho em làm thử. Em thấy nếu đi làm công cho Mỹ năm bảy đồng một giờ thì cũng vậy thôi. Ðằng này em lấy công làm lời, đồng vô đồng ra sống cũng không đến nỗi tệ lắm mà mình được làm chủ lấy mình, anh thấy không?

     Còn trẻ vậy mà đã có chồng? Có chồng! Ði đâu cũng gặp có chồng! Anh phải làm sao để cứu em ra khỏi cảnh chim lồng cá chậu? Trí đánh một dấu hỏi nhỏ vào đồng lương bốn chục ngàn, rồi làm ra vẻ tự nhiên tiếp lời:

     - Ông xã làm tiền nhiều quá, anh mà như em thì anh ăn ở không ở nhà cho nó sướng cái thân, bán quán bán tiệm làm chi cho mệt.

     Bây giờ Trí mới để mắt nhìn quanh căn tiệm. Bên cạnh Trí là ba cái quày bằng kiếng kê liền nhau thành dãy, đựng nữ trang và đồng hồ đắc tiền Seiko, Citizen, Longines. Trên tường, áo quần thời trang treo xen kẽ với tranh sơn mài, có mai lan cúc trúc hoặc võng anh đi trước võng nàng theo sau. Ở mặt tiền, những món quà kỷ niệm rẻ tiền bày lẫn lộn với đám lục bình cổ. Ðồ giả nhưng cũng có vẽ canh tiều ngư mục hoặc tranh thủy mạc. Khoảng giữa là chỗ dành cho những stand tròn, móc áo quần đàn ông đàn bà đủ loại. Từ quần jean, áo sơ-mi chim cò cho đến jupe dài váy ngắn.

     - Anh qua đây một mình hay có vợ con?

     Vợ con? Nói ra chưa chắc cô em đã tin, nhưng Trí cũng nói:

     - Tuổi anh coi như đã luống mà tình trạng bên này gái thiếu trai thừa như em thấy, thì chuyện lấy được vợ đâu phải dễ em biết không? Chắc anh ở giá suốt đời thôi!

     Ngưng một chút Trí gạ gẫm:

     - Hay là em có ai quen đó, giới thiệu cho anh đi! À, mà ngày trước quê em ở đâu, tỉnh nào? Kể anh nghe vài kinh nghiệm chung sống với Việt cộng coi.

     - Gia đình ba má em ở Sài gòn, cuối đường Trần Hưng Ðạo. Ðến lúc Việt cộng vô, biết trước sau gì không đi cũng bị đuổi, nên ba má em dọn về Long Thành đường ra Vũng Tàu. May là lúc làm ăn có tiền ba em có cho người khẩn rẫy lập vườn ở ngoài đó, bằng không thì chắc khó sống. Năm đó em đỗ phần hai, em đang học Marie Curie mà...

     Như chợt nhớ ra một điều gì, Trí cắt ngang:

     - Ðường nào dài cho bằng đường Trần Hưng Ðạo hả?

     - Á, như vậy hồi xưa anh đi hải quân? Ối, mấy ông hải quân các anh bay bướm quá trời ai mà chịu cho thấu. Mấy con nhỏ bạn em đứa nào cũng có bồ hải quân, em thấy tụi nó khổ sở quá mà em sợ.

     Nghề nghiệp bỗng nhiên bị đụng chạm, Trí nói:

     - Cái gì? Chưa bao giờ anh thấy ai mà ăn nói lạ lùng như em như vậy. Hải quân hầu hết là những kẻ chung tình, lênh đênh trùng dương nổi sóng nhưng lúc nào cũng nhớ về người mình yêu. Thế ngày xưa em yêu lính gì và bây giờ em lấy chồng lính gì?

     - Yêu là một chuyện mà lấy chồng là chuyện khác. Em lấy chồng thầy giáo. Lính và nhất là lính hải quân các anh thì chẳng qua để dành làm người tình thôi.

     - Người tình thôi là nghĩa làm sao?

     - Nói anh Trí nghe chơi, ở đời ai mà không có những mối tình lẩm cẩm trước khi lập gia đình phải không? Nhưng mà hồi đó nói thiệt em không ưa lính, nhất là lính tàu, em chỉ thích kỹ sư bác sĩ thôi. Vậy mà sau 75 em thấy mến thấy thương ngụy quan ngụy quân hết sức mới khổ chớ. Mà không riêng gì em, ba đứa em của em tụi nó đứa nào cũng vậy. Mới đó mà bây giờ đứa nào đứa nấy đã chồng con đầy đàn hết rồi. Anh biết không, tụi em như bị trời trả báo, đi tìm hải quân đỏ con mắt đặng lấy làm chồng. Mà đâu có phải đụng anh chồng hải quân nào thì mình cũng được đưa đi vượt biên đâu, phải không anh? Rõ khổ. Rốt cuộc rồi chỉ có em là dám cả gan đi đường bộ băng qua Miên rồi qua luôn Thái Lan. Cũng chẳng có một anh chàng lính rừng nào hộ tống, mà chỉ có mỗi một anh thầy giáo quèn mới quen mà thôi. Phần ba cô em của em, ôi thôi, cho đến bây giờ ba anh chàng hải chèo vẫn còn bỏ neo cắm sào tại Việt Nam.

     Chẳng biết những lời Hoàng vừa nói có phải là sự thật hay không, nhưng Trí thấy mình như kẻ đang bị hài tội, bị hạ bệ sát ván nên bắt đầu cũng muốn ăn nói bạt mạng:

     - Cái miệng của em đúng là cái miệng bán hàng xén. Nói tới nói lui, nói xuôi nói ngược, nói sao nghe cũng được. Nghề này làm gì có dạy ở Marie Curie?

     - Á, nói cho vui vậy mà. Chớ anh nghĩ coi, em phải làm gì khi ngồi không ở đây suốt mười tiếng mỗi ngày?

     Một bà Mỹ bước vô tiệm. May thay. Hoàng chào hỏi lấy lệ và để bà ta tự nhiên dạo quanh xem hàng. Trí nghĩ đã đến lúc phải giã từ người em gái mới gặp lần đầu nhưng tưởng chừng quen biết đã nhiều năm. Trí biết mình rồi sẽ trở lại để tiếp tục câu chuyện hướng về quê hương đang bỏ dang dở nửa chừng này. Trí hỏi:

     - Thường thường mấy giờ em đóng cửa?

     - Tám giờ, nhưng những khi có khách thì vẫn phải ở trễ cho đến khi họ về hết.

     Bụng đã đói và chân đã mỏi. Muốn chắc ăn, Trí hỏi thăm Hoàng:

     - Gần đây có quán ăn Việt Nam nào của mình không? Sao chẳng thấy ai list trên sổ điện thoại hết vậy? Kể cả tiệm của em.

     - Tiệm em mới ra được năm sáu tháng thôi thành thử chưa có quảng cáo... Quán ăn hả? Em nghe nói có quán cơm và quán nhậu bình dân hiệu Việt Nam của ông Trình ở đường Lindbergh và mới nghe có nhà hàng Aloha của một người Việt gốc Thái mới mở chừng vài tháng nay không biết ở đâu. Trên con đường này thì tiệm Á Ðông mình nhiều lắm. Trăm người bán vạn người mua phải không anh? Người ta làm được mình làm được. Nhưng hình như không có quán ăn. Ðể coi, đối diện bên kia đường thì có tiệm may Sài Gòn, tiệm thực phẩm Thanh Nghĩa của bà Việt gốc Lào, xuống chút nữa là tiệm Asian Food Mart của bà Việt gốc Miên. Chính cống Việt Nam có tiệm Khánh Tâm của bà Tâm cũng ở đường này nhưng về phía này và tiệm Ðại Nam của ông Phong ở khu Piedmont.

     Chỉ cần có quán nhậu của ông Trình là đủ rồi, Trí xin kiếu:

     - Thôi anh phải đi. Lại đây tán dóc không, chẳng có mua của em món gì hết. Làm phiền quá, xin lỗi nha.

     - Ðược mà, nếu anh có rảnh thì cứ ghé lại đây chơi.

     Trí ra ngoài xe xem lại bản đồ tìm đường đi xuống quán nhậu. Trí cảm thấy vui vui. Giọng Hoàng, giọng người em gái mới quen cũng còn lẫn quẫn quanh đây. Cũng dễ thương. Người đàn bà Á Ðông nói chung, người đàn bà Việt nói riêng sẽ không là một áng mây. Không dễ gì biến dạng nhanh chóng giữa bầu trời này. Mà theo Trí, có thể giống như một món đồ cổ. Phải biết cái giá trị của nó mới thưởng thức hết cái đẹp tìm ẩn bên trong. Ðàn ông không chase đàn bà thì phải chase ai? Ðúng là Trí đang trên đường đi tìm...

     Chiều ngày sau Trí tự tan học và về phòng sớm hơn một chút nữa. Trong lòng thì muốn chạy lại thăm Hoàng ngay, nhưng nghĩ mới gặp ngày hôm qua bữa nay đến nữa sợ Hoàng hiểu lầm mình phải lòng cô em thì càng không ổn. Mà có phải lòng hay không thì chính Trí, Trí cũng không rõ. Ði ngắm phong cảnh thành phố đã, để cho cái nhớ nhớ nó gặm nhắm tâm hồn mới thấy sự gặp nhau là quan trọng cần thiết.

     Trí đổi đường chạy thẳng ra xa lộ đi về Stone Mountain National Park, kỳ quan nhân tạo duy nhất trong vùng. Confederate Memorial, một tác phẩm điêu khắc tạc trên vách núi để kỷ niệm những vị anh hùng của miền Nam trong thời nội chiến. Tổng thống Jefferson David đang cỡi ngựa cùng hai ông tướng cận thần Robert Lee và Thomas Jackson. Ngựa đi trên núi có phần vĩ đại hơn voi đi trên giấy, nhưng vẫn nhỏ hơn nhiều so với bốn cái mặt đá của bốn ông tổng thống Mỹ, đã được điêu khắc gia Gutzon Borglum ghi lại trên núi Mount Rushmore ở South Dakota. Chắc ông tổ Borglum căm giận cái công trình điêu khắc nửa chừng của mình ở đây bị cạo phá nên nổi sùng làm một cái gì thiệt lớn để đời?

     Hình ảnh mấy ông tổng, ông tướng không thể làm phai mờ hình ảnh người đẹp, cho nên chiều ngày sau, sau khi đi học về Trí hăm hở đi thẳng về V.N. Discount Center. Nhưng khi bước chân vào tiệm, cái ao ước được gặp lại người mình quen nhau từ kiếp trước, sau 48 tiếng đồng hồ xa vắng, đã bị chết tức tưởi bởi một câu hỏi ngớ ngẩn của một anh chàng lạ mặt:

     - Chào anh, anh cần mua gì ạ?

     Hoàng, cô chủ tiệm bé bỏng, xinh xinh của Trí không còn nữa. Kẹt. Chẳng lẽ mình nói thẳng là mình đến thăm vợ của người ta. Mà nói dối mình chỉ là khách qua đường ghé tiệm xem hàng, mua hàng thì cũng không xong. Ðóng kịch không khéo người thứ ba lại càng nghi ngờ hiểu lầm. Trí ngập ngừng:

     - Vậy chắc anh là anh chủ tiệm, là chồng của cô Hoàng tôi có dịp gặp trước đây?

     - Dạ phải. Hoàng ơi Hoàng, có người đến kiếm em đây nè. Anh chờ một chút, vợ tôi bận may mấy cái áo ở phía sau.

     Trí mừng thầm. Dù sao có Hoàng ở đây thì cũng đỡ ngột ngạt, lúng túng hơn. Hoàng chạy lên tức thì, trên mặt có chút gì bẽn lẽn không tự nhiên như buổi ban đầu:

     - Hi . Ðây là anh Trí mà em có lần nói cho anh nghe đó. Còn đây là ông xã em, ảnh tên Cương.

     Không biết Hoàng có nói với chồng thật hay không mà Trí thấy Cương bắt tay mình trong vẻ hơi sượng sùng:

     - Chào anh, hân hạnh được biết anh.

     Trí đáp lại:

     - Chào anh. Hôm nay anh không đi làm à?

     Cương trả lời:

     - Tôi làm on call , chừng nào có công việc thì họ gọi nên rảnh giờ nào là nhào ra đây giờ nấy.

     Trí chưng hửng. Ngày hôm kia mới nghe Hoàng nói chồng làm bốn chục ngàn một năm mà, sao lại có vụ on call . Ðàn bà rõ có tánh hay khoe khoang, brag too much . Con học đại học Chính trị kinh doanh Ðà Lạt mà có lần có bà dám nói con tôi học trường đào tạo Thủ tướng. Trí đã nghe khoe như vậy. Nói như Hoàng cũng chưa có gì gọi là quá đáng. Thì ra miệng lưỡi của cô bán hàng xén này thật đã chẳng vừa. Trí bỗng quên đi lòng thành thật của mình đối với người đồng hương trong chốc lát, định đóng kịch trả đũa. Và việc trước tiên là Trí phải nêu rõ cái lý do tại sao mình dám ngang nhiên đến thăm vợ của người ta:

     - Thấy cô Hoàng và anh mới sang đây có mấy năm mà làm ăn phát đạt quá, tôi định ghé ngang hỏi thăm, học hỏi thêm chút kinh nghiệm để trở về North Carolina mở tiệm thử thời thử vận. Làm công cho Mỹ chẳng khác nào đi lính Việt Nam. Tiền lính tính liền, mười mấy năm không dư được một cây.

     Cương chắc không đọc nỗi thâm ý của Trí nên trả lời rất thành thật tự nhiên:

     - Thôi anh ơi, phát đạt cái gì. Tôi muốn đóng cửa dẹp tiệm đây mà anh đòi mở tiệm. Coi vậy chớ không phải vậy đâu, mệt lắm. Thà là hai vợ chồng đi làm đồng lương căn bản, sống cần kiệm qua ngày, dư chút đỉnh gửi về nhà giúp đỡ gia đình thì được rồi. Càng cao danh vọng càng nhiều gian nan. Bởi cái tiệm này mà tôi phải làm hai job , rồi vợ tôi hàng đêm phải thức khuya hơn để sửa mấy cái áo kiếm tiền thêm, mới bù đắp nổi chi phí. Hàng về tới thì tiền mặt phải có để chồng ngay. Bên này đâu có ai tin ai mà cho mình mua thiếu mua chịu. Thì giờ trôi qua không hay không biết, chẳng lợi lộc sướng ích gì đâu. Tôi định tìm người sang quách vừa tiệm vừa khách cho người ta, tôi đi làm chuyện khác cho nó nhẹ cái thân.

     Bộ anh chàng này sợ Trí mở tiệm giựt mối hay sao mà bàn trớt thấy rõ như vậy cà? Hay thật sự đây là một kinh nghiệm đau thương cho những ai muốn làm triệu phú ở Mỹ? Nhưng, bỗng dưng cô em Hoàng lại giải thích cho Trí một cách khác:

     - Anh nói vậy làm anh Trí ảnh nản. Thì phải chịu cực chịu khổ, chịu lỗ mấy tháng đầu, rồi từ từ mới đứng vững chớ. Khách hàng càng ngày càng nhiều thêm nếu mình biết cách mua chuộc họ. Coi vậy chớ đồng ra đồng vô sống cũng được lắm anh. Anh có chịu cực chịu khổ thì tiền anh làm ra cũng đổ vô đó chớ chạy đi đâu. Ban đầu tụi em định bỏ ra vài ba chục thôi, tiệm bây giờ cũng đến bảy tám chục. Như vậy mà cũng chưa đủ mặt hàng. Bốn năm chục ngàn làm ra là vốn của mình, mặc dù nó bị kẹt nằm chết cứng đó thật. Anh cứ làm thử đi, tụi này gửi hàng về anh bán, mỗi thứ một ít.

     - Hoàng có chịu bán chịu cho anh không?

     Cương nói thay:

     - Chỉ khi nào quen biết lắm, như bà cô tụi này, thì mới nói chuyện mua chịu được. Mà nói là mua chịu chớ thật ra trả liền phân nửa, còn phân nửa trả trong vòng vài tuần sau. Ðâu có chuyện thiếu chịu năm này tháng kia như bên mình. Ở đây chỉ có cash thôi, personal check nhiều khi chưa chắc họ đã nhận. Anh thấy mệt chưa? Chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ!

     Trí nói phân hai:

     - Ừa, thấy ra cũng khó thật, nhưng có phước làm quan có gan làm giàu. Mình muốn làm giàu thì phải có gan, phải take chance .

     - Take risk thì có còn take chance thì không, theo tôi nghĩ.

     Ðầy đủ quá cho một vụ học khôn. Khi không tới tán tỉnh vợ người ta, khi không đòi làm chủ tiệm. Mười năm không dư được một chỉ nói gì được một lượng hay một hai ngàn. Trí thấy mình như thoát nạn, cái nạn dám take risk khi mò tới đây. Còn cái risk muốn làm chủ tiệm kể như được thông qua ngay từ buổi ban đầu. Tiệm quán gì hai lần Trí ghé qua đều thấy vắng bóng khách hàng thì thử hỏi đào đâu ra hai ngàn một tháng để trả tiền mướn chỗ. Nghĩ cũng đau đớn cho phận lo làm giàu. Ðể giã từ, Trí hỏi một câu hỏi mà hình như Trí đã hỏi rồi, chỉ khác một điều là tiếng em phải được thay thế bằng một cái tên:

     - Ở đây ngoài quán Việt Nam và quán Aloha, mình còn quán nào nữa không cô Hoàng?

     - Còn quán nào nữa không anh?

     - Anh cũng không rành.

     - Vậy tối nay chắc phải chịu phép ăn cơm Mỹ. Thôi tôi đi nghen.

     Hoàng nói vói theo:

     - Khi nào rảnh anh tới chơi.

     Trí trả lời:

     - Chắc về luôn, từ đây đến cuối tuần cũng không còn mấy hôm...

     Chiều ngày sau đi học về, chưa tởn mùi thất bại của ngày hôm qua, đầu óc Trí lúc nào cũng mang mang về việc ghé thăm Hoàng lần chót. Chiều mai chiều thứ sáu sẽ là ngày về. Mất một tướng chẳng thấm vào đâu, lấy Kinh châu mới là đắc thắng , bởi vậy Trí đi. Nhưng lần này Trí biết khôn, gọi điện thoại thăm dò trước. Biết được Hoàng ở tiệm một mình, Trí mừng rơn.

     Ðến nơi khác hẳn với sự suy đoán của Trí, lần này tiệm của Hoàng có ba bốn ông khách choai choai ở một thành phố lân cận đến mua đồ. Hoàng bữa nay trông đẹp hẳn ra với cánh áo tơ đỏ thẳm và chiếc váy màu đen. Ðôi má bị phản chiếu màu áo, hồng hồng thêm một chút nữa. Hoàng cười tươi chào Trí rồi quay qua tiếp tục chiều chuộng những người khách trẻ phương xa. Giới thiệu thêm những món hàng mới về, góp ý kiến về thời trang đang thịnh hành, cũng như trình bày quan điểm về màu sắc thích họp cho người trẻ kẻ già.

     Trí đưa mắt vòng vòng đếm mặt hàng. Có đến vài trăm thứ. Nội mấy chai dầu gió cũng hơn cả chục loại. Trí lõm bõm nghe đám nhóc nói vì ăn bài nên có tiền dư đi mua sắm đồ kẻng. Ðể dự đại nhạc hội có ca sĩ từ Cali sẽ đến trình diễn vào cuối tuần này. Hết khen chê áo quần, giày vớ lại sang qua ngắm nghía mầy cái đồng hồ. Bữa nay Hoàng trúng mối, nhưng Trí không thích như vậy. Cản trở, mất thì giờ. Sau một hồi lâu mặc cả, Trí vẫn chưa thấy có chuyện gì ngã ngũ giữa chủ và khách. Trí định rời khỏi nơi đây. Duyên nợ không thành thì chắc phải chờ chuyến sau. Bỗng Trí lóe lên một hi vọng. Nếu là dân Marie Curie, Lasan Taberd thì Hoàng chắc phải biết những câu thơ này, Trí lật mặt sau tờ giấy quảng cáo lui cui viết để lại như sau:

     Khi già nua ngồi bên lò sưỡi
     Quay tơ và ca ngợi thơ ta
     Tiếc thay nàng nói Ronsard
     Tán dương ta đẹp khi ta đương thì *

     Hãy gọi điện thoại cho anh số 567-1234 nếu em muốn anh đưa em đi ăn tiệm và nghe anh... tán dương em đẹp
.

     Trí nói:

     - Hoàng, anh để lại em cái note này. Em nhớ đọc. Anh phải đi ngay bây giờ.

     Trở lại phòng với một xâu bia và hộp bò khô, beef jerky , Trí mở tivi xem đỡ buồn. Ðài ESPN? Sport? Goft? Trí nghĩ mình chưa đến nỗi già dữ như vậy! Nhưng mấy đài kia giờ này chắc cũng chỉ có cartoon cho con nít thôi. Làm biếng sang đài, Trí để nguyên nghe tiếng nói. Trí trông chừng cú điện thoại của Hoàng, nhưng lòng dặn lòng nếu không được điện thoại trong vòng một tiếng đồng hồ thì Trí sẽ đi ăn một mình. Coi như định mệnh đã an bài. Thì giờ trôi qua thật chậm. Không duyên không nợ thì thôi, chỉ một giờ. Nhưng rất may, mới đến nửa giờ thì đã có chuông reo. Cám ơn Pierre de Ronsard, Trí chụp vội ống nghe:

     - Hello.

     - Hello. Phải anh Trí đó không?

     - Anh đây Hoàng.

     - Anh đến đón em lúc bảy giờ được không? Bữa nay em muốn đóng cửa sớm, bán được bao nhiêu đó cũng đủ rồi.

     Trí reo mừng:

     - Hay là anh để đến rước em ngay bây giờ. Mình đi ăn sớm một chút có được không?

     Hoàng ngập ngừng trong giây lát:

     - Vậy cũng được.

     Không bao lâu Trí đến V.N. Discount Center. Tiệm vắng khách. Hình như Hoàng cũng đang trông đang đợi, dõi mắt về phía cửa. Thấy Trí, Hoàng tắt hết đèn, khóa cửa đi ra. Adultery , tội dâm loạn, ngoại tình? Hoàng là một thủ phạm và Trí là một đồng lõa? Trí không đến đón, chỉ mở cửa xe ga lăng đưa tay mời. Những bài học xã giao hải quân lâu lắm rồi đã không được đem ra sử dụng. Hoàng ngồi vào ghế, nhấc cặp đùi thon dài vào trong, kéo skirt phủ lên gối. Màu đỏ và màu đen làm nước da của Hoàng trở nên trắng hồng. Trí nhìn xuống làn áo mỏng, gò ngực phập phồng, hấp dẫn đến nỗi quên cả đóng cửa xe. Hoàng ngước nhìn dò xét rồi bỗng dưng chẳng bị ai tra vấn mà nói như khai thiệt:

     - Ông xã em bữa nay đi sửa computer ở dưới Alabama. Hai ngày nữa ảnh mới về.

     Trí không khỏi giật mình trước thái độ của Hoàng. Rõ ràng là có sự sắp đặt trước. Thì ra ai là người chủ động, ai là người bị động? Trí hay Hoàng, người nào đang cầm cương? Trí đáp bâng quơ:

     - Vậy à.

     Trí đóng cửa xe, đi vòng phía sau qua ngồi vào ghế lái, rồ máy. Một mùi thơm thoang thoảng trong xe. Mùi nước hoa đắc tiền cũng như mùi da thịt của người đàn bà. Người đàn bà Á Ðông mà Trí hằng mơ ước. Trí lúng túng không biết phải đối xử ra sao. Vì đây là lần đầu tiên Trí giao du với một người đàn bà có chồng, một người đàn bà đang là vợ của một người đàn ông khác.

     Ðể tránh tai tiếng và sự dòm ngó của thiên hạ, Trí đưa Hoàng vào quán ăn Front Porch trong Sheraton Hotel, nơi Trí đang cư ngụ. Một quán ăn có cái không khí và khung cảnh ấm cúng đặc biệt như chỗ dành riêng cho những cặp nhân tình đang đi hưởng tuần trăng mật. Dưới ánh đèn đôm đốm mờ ảo, Hoàng trông đẹp hẳn lên, thoang thoảng nét liêu trai. Thơ mình vợ người , câu nói này có ý nghĩa gì sâu xa hơn nữa không đây? Trí cứ hiểu theo cái nghĩa mộc mạc của nó. Vợ người ắt phải đẹp. Dù cái đẹp đó có pha thêm một chút lộng lẫy của một món đồ chơi đắc tiền đi nữa.

     Lúc bồi dọn thức ăn lên, Trí gắp bỏ một hai miếng vào chén Hoàng, nửa đùa nửa thật:

     - Bao nhiêu năm hành hiệp giang hồ mà đây là lần đầu tiên anh mới gặp em, người đàn bà có tâm hồn phiêu bồng, lãng bạc hơn anh tưởng. Anh hỏi thật em, đến với anh đêm nay em có sợ chồng em...

     Hoàng cắt ngang, nói một hơi:

     - Sợ gì? Em chỉ xem anh như một người anh thôi. Nếu anh không muốn, thì em sẽ xem anh như một người bạn. Mà nếu anh không thích nữa, thì em sẽ xem anh như một người tình. Như em đã nói với anh rằng lính, nhất là lính biển như các anh, tốt hơn chỉ để dành làm người tình. Những người tình không chăn gối.

     Trí càng ngạc nhiên, há hốc hỏi:

     - Những người tình không chăn gối? Em nói nghe lạ quá! Không chăn gối thì làm sao gọi là người tình cho được? Chẳng lẽ làm người tình chỉ là để nhớ, để mong, để trông, để đợi, để tôn thờ một thần tượng? Ở bên này giờ văn minh rồi em ơi, làm gì có chuyện cao thượng ỡm ờ đáng dẹp bỏ đó!

     - Thôi đi ông ơi, ăn xong em phải đi ngay cho kịp giờ đón hai đứa con của em đang gửi ở nhà bà baby sit nữa kìa. Qua bên này văn minh thật, nhưng anh thấy không, ai cũng máy móc cả. Giờ giấc chạy như tên bay!

     Ai cũng máy móc cả và giờ giấc chạy như tên bay? Thất bại! Trí vỡ lẽ và biết mình đang thua xa, không cách chi chạy kịp theo Hoàng. Ước vọng được chiếm giữ, gần gũi một người đàn bà Á Ðông chợt tan biến mất. Ðôi bàn tay búp măng đều đặn đang gọn gàng cầm dao, nĩa. Khuôn mặt dịu hiền kia vẫn thách thức với rạo rực yêu thương. Những sợi tóc mây lòa xòa bên má, mơ màng quyến rủ. Và đôi gò ngực phập phòng dưới làn lụa mỏng. Trí dừng lại tại đó. Nhìn kỹ hơn, soi mói hơn. Tất cả thân hình đối diện ấy phải là của Trí trong đêm nay. Một đêm ôm ấp, mây mưa trên tầng lầu thứ chín. Chỉ cần một chuyến thang máy đi lên. Cao, cao thêm tí nữa... Nhưng không, tất cả đã rơi rụng, vuột hẳn tầm tay. Ngoài sức tưởng tượng của Trí. Tình đời là thế chúng nó đều thế, tình nào vừa xong cho tàn luôn, chỉ cần tiền đô xanh xanh, xanh xanh, thơm ngát ngát yêu, tiền thôi ..., tiếng hát của Jo Marcel lại vang dội trong đầu Trí thêm một lần nữa.

     - Anh ăn đi chớ. Lẹ lẹ lên để trễ!

     Cao lương mỹ vị bày đầy trên bàn bỗng dưng đâm ra nhạt nhẻo. Trí lắc đầu:

     - Em làm anh ăn hết vô. Chắc anh phải đưa em về sớm hơn anh dự tính để em có đủ thì giờ đi đón con em.

     Rồi cả hai Hoàng và Trí bắt đầu yên lặng. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Trí không biết Hoàng đang nghĩ gì, nhưng biết chắc nàng không hề có ý dấn thân, tự nguyện. Xã hội này cũng không cho phép ai cưỡng bức ai. Trong giây lát, Trí đứng dậy lại quày trả tiền rồi cùng Hoàng tay trong tay trở ra bãi đậu xe. Một cuộc chia tay khi vòng tay vừa mới ấm, như Trí đã đoán trước, rồi cũng sẽ xảy ra...

     Chiều ngày sau đi học về, mặc dù trong lòng vẫn ao ước muốn nhìn lại một lần nữa cái khuôn mặt dễ thương, hiền thục của người em nhỏ, nhưng Trí đã lẳng lặng lái xe thẳng ra phi trường. Trên phi cơ, Trí giả vờ say ngủ. Không màng đến mấy cô chiêu đãi viên xinh đẹp, không thèm gặm almond rang, không cần nước ngọt, đầu óc suy nghĩ miên mang. Trí thật sự chưa hiểu nổi người đàn bà Á Ðông, người đàn bà Việt Nam. Nó chập chờn đưa đẩy chớ không dứt khoác, quyết liệt như những người phụ nữ Tây phương, những áng mây dễ dàng chiêm ngưỡng và có thể dễ dàng hòa tan vào bầu trời xanh lơ, vời vợi này. Trí tự hỏi, hai đàng đàng nào thích hợp với Trí hơn?

     Trí đã hứa với honey tóc vàng của mình những gì và vì lý do nào Trí đã quên? Trí thấy mình có lỗi. Thôi thì bây giờ ta về ta tắm ao ta cũng chưa muộn mà! Trí không ngờ mình có thể đem ngụ ngôn Việt Nam gán ghép cho thân phận một cô gái Mỹ tài tình như vậy! Cái ao tắm mát phương Ðông kia, trong đó có đôi mắt tròn đen láy, có suối tóc huyền huyễn hoặc gió trăng, có rong rêu cỏ dại của thời con gái... như đã trở thành cổ tích xa xưa, quá khó để cho Trí trở về.

     Phi trường Raleigh-Durham đã lên đèn. Trời sập tối. Một chút gió vào đêm êm đềm, dìu dịu...

     * Thơ dịch của Pierre de Ronsard (không nhớ tên dịch giả):

     Quand vous serez bien veille, au soir, à la chandelle,
     Assise auprès du feu, devidant et filant,
     Direz chantant mes vers, en vous émerveillant:
     Ronsard me ce'lèbrait du temps que j'étais belle


   back to top

04. MỘT CẢNH HAI QUÊ

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Chiều thứ sáu mà trời lại mưa! Thất bại! Nóng đến cháy da chảy mỡ cũng không sao, lạnh cho buốt xương nhức cốt cũng không sao, và gió máy dù có chướng ngược độc địa như thế nào đi nữa cũng không sao, chỉ có mưa là tầm bậy. Chiều thứ sáu, khởi đầu của một cuối tuần luôn luôn đầy hứa hẹn, mà phải bị ướt át, tan tành, mục rữa vì những giọt mưa không thần thánh chút nào hết đó mới oan. Rồi, take your times . Không như mọi khi, Tâm phải vùn vụt lái xe về nhà, chui xuống bếp lục lọi một cái gì, hùng hục nhai nuốt. Ðể kịp thì giờ vọt ra sân với lũ bạn, sẵn sàng chiến đấu những trận tennis có cá độ, bia và đồ nhắm. Tennis, chỉ có mưa là tầm bậy. Mà tennis đối với đám già này chẳng qua chỉ là cái cớ. Thể dục thể thao, exercise , thì ít mà mục đích để gặp nhau, họp nhau đi nhậu thì nhiều. Quân, dân, cán, chính tỵ nạn giờ gom góp lại cũng tạo dựng được một cái phong trào.

     Mưa. Bà xã Tâm thích lắm. Khỏi phải thắc mắc, khỏi phải gạn hỏi Tâm đi đến chừng nào mới về. Giờ về đối với đám nhậu thì khó lòng mà nói cho trúng. Từ nửa đêm đến hai ba giờ sáng có lẽ là câu trả lời hợp lý nhất. Tại vì tất cả đều tùy vào hoàn cảnh, thời cuộc của bữa tiệc. Có đủ mồi đủ rượu, có hăng say tranh luận, bàn cãi? Còn giờ đi, trái lại đã ấn định sẵn và không được trễ. Vì trễ thì thiếu tay thiếu độ, dễ bị đứng ngoài nhìn người ta chơi. Toàn là thiện nghệ cỡ... học trò của Lendl, Edberg, Wilander, Mac Enroe... thì ai mà chịu làm fan ? Bởi vậy phải chạy lẹ lẹ cho đúng giờ hoặc giả sớm hơn một chút cho chắc ăn. Vậy mà bữa nay Tâm không một chút gì hối hả.

     Không thấy chiếc Toyota xập lết đậu trước nhà, Tâm biết ngay mấy thằng con của anh đã vọt đi xứ nào rồi. Tuy vậy, bước vô cửa thấy đứa con gái đang nằm sofa coi TV ở phòng khách, Tâm cũng hỏi:

     - Anh hai, anh ba đâu? Em đâu?

     - Anh hai, anh ba đi dợt wrestling ở đằng trường, chuẩn bị cho big matches ngày mai ở West High. Thông- gy đòi đi theo để coi.

     - Nữa, lại wrestling , lại đô vật. Tối ngày tụi nó chỉ lo cho cái animal sport đó thôi hả? Còn má con đâu?

     - Má ở dưới nhà bếp, đang luộc càng cua cho ba nhậu.

     - Really ? Hèn chi trời mưa thì phải!

     Tâm thắc mắc, chẳng lẽ chỉ khi nào có Tâm ở nhà thì bà xã anh mới quan tâm tới việc nấu nướng? Nhiều lần Tâm ăn cơm nguội trước khi ra sân kia mà. Chắc thiếu người thưởng thức tài nghệ chế biến món ăn của mình lúc làm xong, nên bà xã anh không lấy việc lửa củi bếp núc làm quan trọng hứng thú. Tâm biện hộ cho vợ như vậy. Bề gì tối nay không đi nhậu được với bạn bè thì nhậu một mình, có vợ đưa hơi cũng đỡ buồn. Mà cũng là dịp tốt để thay đổi bầu không khí. Bạn bè hoài, cãi lộn hoài ba cái vấn đề lẩm cẩm, như tha hương cầu tài, đóng hụi chết nuôi gia đình, bằng hữu, sự chìm nổi của các phong trào chính trị quân sự... cũng chán ngấy. Vắng nhau một hai tuần họa may có chuyện mới để nói, có đề tài mới để bàn.

     Tâm định xuống bếp hôn môi vợ một cái để tỏ lòng yêu thương, nhưng thôi. Tân tiến quá bà xã anh sẽ lên mặt. Cũng muốn bắt chước Mỹ cho honey lên ngang hàng với mình dữ lắm, nhưng Tâm bị cái nếp sống thôn dã và phong tục ruộng đồng của quê hương miền Nam tiêm nhiễm vào tận xương tủy, nên anh không làm sao thay đổi được. Ðàn ông cứ phải là số một. Chuyện nhỏ nhặt như vậy mà Tâm làm không xong, trong khi nhiều người khác sang đây, chỉ cần ngày trước qua ngày sau là họ đã lột xác. Nhất là đám choai choai, punk còn hơn Mỹ. Mà lột xác không thì cũng chẳng cần phải nói làm chi, lột luôn hồn mới là điều đáng sơ: bỏ đạo cũ theo đạo mới. Chưa đủ, có người còn dám nhảy ra hô hào, lôi cuốn đồng hương của mình vào con đường mới chuộng cũ vong mới ngặt. Phần Tâm, Tâm nghĩ rằng mình còn nhiều tội lỗi để làm thì đâu có sám hối vội vàng như vậy. Hơn nữa, Tâm vẫn đinh ninh rằng với tấm lòng ngay thẳng chân thật có trời đất biết của mình, ngày nào Tâm bỏ đao búa xuống là ngày đó tức khắc Tâm sẽ thành chánh quả. Bởi vậy rời gươm giáo đồ tể làm chi vội? Tâm thay đồ warm up rồi trở ra phòng ăn cười tình với vợ:

     - Bữa nay ông trời không biết mắc chứng gì mà mưa cả ngày hả? Mưa như mưa phùn gió bấc, mưa như mưa bão lụt miền Trung không bằng. Cảnh buồn người có vui đâu bao giờ? Nhìn trời u ám, ảm đạm như vầy sao anh thấy nhớ nhà ghê.

     Bà xã Tâm nhẹ nhàng phụ họa:

     - Anh mà cũng biết nhớ nhà? Nhớ tennis thì có! Nhờ mưa nên anh mới dám ở nhà được một bữa. Con cái lớn rồi, mình già cả rồi, anh đâu còn trai trẻ gì nữa? Nói anh hoài, anh cũng nên tốp bớp lại cái vụ giao du với lũ du thủ du thực đó, tối ngày say sưa đầu làng cuối ngõ không sợ người ta cười.

     Lại cái luận điệu cũ rích, nhưng Tâm phải nói cho vừa lòng vợ:

     - Một tuần mới có một lần. Mà cuối tuần này anh định ở nhà thì trời bất dung nhơn đảng lại mưa. Rõ, mưu sự tại nhơn mà thành sự tại thiên, thiên thời địa lợi nhân hòa sao mà nó hợp tình hợp cảnh quá...

     Vấn đề tennis, vợ chồng Tâm như hai kẻ đồng sàng dị mộng. Nhưng về vấn đề ăn khai vị, món càng cua luộc, thì vợ chồng Tâm rất tâm đầu ý hợp. Ăn riết như ghiền. Càng cua loại nào cũng ngon: snow crab, stone crab , và luôn cả blue crab , càng ghẹ cũng ngon. Ai mới nhìn vô tưởng là cọp ăn bù mắt, vỏ không chớ làm gì có thịt, đã vậy phải đập dập rồi rỉa từng thớ mỏng thì biết chừng nào mới ăn xong một càng. Ấy, muốn thưởng thức hương vị của càng cua thì trước hết cũng nên học qua cái nghệ thuật ăn càng cua. Không biết ăn thì ăn từng thớ mỏng, còn biết ăn thì ăn nguyên một miếng thịt. Lẽ dĩ nhiên phải có đồ nghề, phải có cái kềm tách càng cua lận về từ mấy tiệm all you can eat càng cua, hay ít ra phải có cái nut cracker . Rồi phải biết chỗ mà bấm và uốn nắn sao cho miếng thịt rút ra khỏi vỏ, gọn lỏn như cái đùi ếch đang cầm trên tay. Chấm chanh muối tiêu thì rượu có vô đầy hũ cũng phải rót hết trở ra. Nhưng đừng có dại dột tham ăn, ăn cho lẹ mà hương vị càng cua nó mất đi. Không còn gì chán cho bằng ăn càng cua có người lột sẵn!

     Lai rai gần hết thau càng cua thì hai đứa lớn của Tâm mò về, oang oang bàn chuyện. Tiếng của thằng anh hai:

     - Vấn đề quan trọng là tao phải make weight . Tao đang năm pound over weight mày biết hôn? Sáng ngày mai nhịn đói, tắm nước nóng xả hơi tao có thể sụt hai pound . Coach thế nào cũng bắt tao chạy mấy chục mile , có thể sụt thêm một pound nữa. Còn hai pound không biết phải làm sao. Không make weight được thì tao phải đấu independent . Lại gặp thằng Gary và tao phải để cho nó thắng mới quê. Tao mà thắng nó thì điểm toàn đội của trường mình sẽ kém so với mấy trường kia mày biết hôn?

     Thằng anh ba phát biểu ý kiến:

     - Thì tối nay đừng ăn cơm. Mà anh có make weight được thì anh cũng phải đấu với thằng Thái Lan, anh cũng thua. Thằng lùn đó khó vật, bắp tay bắp chân của nó cuồn cuộn như body builder , chắc nó tập tạ dữ lắm!

     Tâm để ý nghe từng tiếng một, hét vọng ra cửa:

     - Mưa gió như vầy mà hai đứa bây đi đâu tới giờ này mới về?

     Thằng anh hai chạy xuống hớn hở đáp lời:

     - Ba à, ngày mai ba rảnh phải không ba? Ba muốn đi coi con đấu đô vật hông? Có con chơi cho trường ba khỏi cần mua vé vô cửa, phụ huynh học sinh đi coi đông lắm. Nguyên cả thứ bảy ngày mai, từ sáng đến chiều.

     Không đi thì con nó tủi thân với đồng bạn, mà đi thì coi như là trực tiếp khuyến khích nó theo nghiệp wrestling càng không ổn, Tâm dùng dằng ướm lời:

     - Hứ, ba mầy không có rảnh để đi coi cái vụ đó với mầy đâu.

     - Ba không thích đô vật hả? Why ? Ðô vật này không phải như đô vật chiếu trên TV đâu. Trên TV tụi nó đánh cuội, còn đô vật của high school, college thì đánh thiệt và có luật lệ giao đấu đàng hoàng.

     Bà xã Tâm xen vào:

     - Sao hai đứa bây không chọn bóng chuyền, bóng rổ, đá banh, đánh banh, hay là đánh... tennis như ba con vậy có phải nhẹ nhàng và lịch sự hơn không?

     - Má à, volley ball dành cho con gái, mấy thứ kia dành cho con trai, tụi con lớn rồi tụi con phải chơi man sport .

     - Em nói với anh rồi, đã nói không cho chơi là không cho chơi, vậy mà lần hồi anh cũng ký giấy phép cho nó.

     Tâm biện bạch:

     - Well , qua bên này rồi em phải cho tụi nó có chút freedom chớ. Em hồi nhỏ thì sao? Có phải em thích cái gì thì em cũng đòi cho được? Tụi nó thích chơi thì để cho tụi nó chơi. Ê, mà chỉ một lần này thôi nghen, hai đứa bây nghe rõ chưa?

     Bà xã Tâm không muốn nghe nữa, gạt ngang:

     - Thôi, tắm rửa đi đặng đi ăn cơm. Ba mày coi kìa, bên màng tang nó sao mà trầy trụa hết nữa rồi. Coi chừng có ngày tụi nó bẻ mày gãy cổ cho mày biết thân nghen!

     - Không có đâu, con mạnh mà. Nè... hự... má thấy goft ball muscle của con chưa? Ha ha..., con pin tụi nó down , con không thể để mấy thằng bạn của con nó disappointed . Thế nào con cũng được cái letter W cho cái letterman jacket của con.

     - Ối, cái chữ W đó tao ra ngoài tiệm tao mua thiếu gì, ở nhà tao may cũng được.

     Thằng anh hai lắc đầu nguầy nguậy:

     - Á à, má không mua được ở đâu hết, chỉ có earn nó mà thôi. Con phải work very hard cho trường đó... Ba à, hồi nhỏ đi học ba có chơi môn sport nào cho trường của ba không?

     Câu hỏi đột ngột này bất chợt khơi lại một dĩ vãng màu mỡ của tuổi học trò. Con trai thì phải chọn thể dục thể thao, con gái thì phải theo nữ công gia chánh. Hồi đó chiều nào đi học về Tâm lại không ghé sân banh, Tâm hất mặt trả lời:

     - Sao lại không! Ba giữ gôn, ba làm goali cho đội bóng tròn hội tuyển toàn trường. Ðể coi năm đó ba học lớp mấy nè, lớp 10 thì phải...

     - Rồi ba có lãnh cái letter không?

     Tâm muốn nói rất tiếc là hệ thống học đường ở Việt Nam không có bày ra cái vụ tưởng thưởng đặc biệt gì cho học sinh xuất sắc về bộ môn thể dục thể thao. Chỉ là một môn học lấy điểm như mọi môn khác mà thôi. Nhưng bà xã Tâm nạt vội:

     - Không ai quan trọng hóa cái letter đó như tụi bây hết, có cũng được không có cũng được. Thôi đi tắm lẹ lên đặng ra ăn cơm.

     Ðợi cho hai đứa đi rồi bà xã Tâm mới tiếp:

     - Mười lăm, mười sáu tuổi rồi mà tụi này sao nó khờ quá...

     Bữa cơm chiều hôm đó có tôm rang dừa, canh rau dền, spinach , nấu với tôm tươi đập dập và kim-chi thế cho món dưa cải là những món mà Tâm rất thích. Chắc cũng nhờ trời mưa? Người ta thường nói cơm ngày ba bữa nhưng sang đây cơm ngày một bữa đã thành phong tục mới của những gia đình Việt Nam. Vì thông thường, buổi sáng có cereal , sữa tươi và buổi trưa có lunch cafeteria , nước ngọt. Học trò cũng như người đi làm. Bởi vậy, đối với Tâm duy nhất chỉ có bữa cơm chiều là có ý nghĩa. Và ăn món gì cũng được, miễn có cơm, có chén đũa là Tâm thấy vui. Cái vui của hương vị quê nhà. Nhưng đối với lũ nhỏ lại khác, tụi nó chưa chắc đã thắm thía cái hương vị quê nhà như Tâm. Mặc dù đã được kiềm chế uốn nắn tối đa, vậy mà tụi nó hình như lại thích dùng cái nĩa hơn là đôi đũa. Rồi nhiều lần không còn e dè dấu diếm gì nữa, tụi nó dám tuyên bố thẳng rằng món ăn Việt không đủ chất bổ dưỡng, thiếu nutrition . Có phải như vậy không? Vô lý, dân mình nhiều người đã sống trên trăm tuổi kia mà, Tâm phản kháng thầm.

     Ngồi nán lại nói chuyện sau bữa cơm là một thông lệ của gia đình Tâm. Một câu chuyện trong ngày ở trường học hay ở sở làm trước khi tan hàng nhiệm vụ ai nấy lo. Người hay nêu đề tài là Tâm, nhưng hôm nay anh cụt hứng chưa biết phải vào đề như thế nào... Mưa vẫn rơi đều đều ngoài hiên. Về hình thức thì mưa ở đâu cũng vậy, nhưng về nội dung mưa ở Mỹ thật sự khác hẳn với mưa ở Việt Nam. Như dòng nước chảy trên máng xối tỏn tỏn nghe rõ mồn một kia chẳng hạn. Dòng nước ngọt ngào, mát mẻ đó không thể để chảy bừa bãi xuống đất mà phải dẫn vô hồ, vô lu, vô những hàng mái dú bằng những bẹ chuối, những thân cau chẻ ra làm rãnh...

     - Ba má à, như vậy hồi nhỏ ba má sống ở Việt Nam như thế nào?

     Thằng anh hai đột nhiên nêu thắc mắc. Dòng suy tư của Tâm hướng về quê nhà qua những giọt mưa bị ngưng trong tích tắc rồi được tiếp nối ngay, vì câu hỏi lại cũng đưa Tâm về một quá khứ thật mông mênh. Ở Việt Nam Tâm sống ra sao? Tâm nghĩ rằng mình trình bày dù có hay cách mấy đi nữa thì tụi nhỏ chắc cũng không thể hình dung được cái cảnh sống của miền quê miền Nam như thế nào. Nhưng cũng nên nói qua cho tụi nó biết. Lờ mờ cũng được, có còn hơn không. Suy nghĩ một hồi mà không biết phải bắt đầu từ đâu, Tâm nói đại:

     - Thì ba má sống ở miền quê, ở ngoài country chớ không phải ở thành thị như mình bây giờ. Ðời sống của dân quê thì cực khổ rồi, nhưng những niềm vui trong cái khổ cực đó không phải là không có... Nội cái nước xài cũng là mệt đứt hơi. Không có faucet với hai vòi nước nóng nước lạnh lúc nào cũng sẵn sàng cho mình như vầy đâu. Phải múc nước đục từ ngoài sông, trong rạch, dưới đìa, trên ao, bên mương... đổ vào mái dự trữ. Cái mái cũng giống như cái thùng barrel đựng wine ở đây vậy nhưng làm bằng đất sét hầm như người ta hầm gạch. Rồi phải lóng phèn cho trong. Phèn chua, sour alum , là loại tinh thể hóa học đóng khối bằng cườm tay có tác dụng lôi những chất bẩn trong nước xuống đáy. Cầm cục phèn chua quay vòng vòng thế này và cạ nhẹ vào thành mái cho mau tan má-my hả?

     Bà xã Tâm không phải hiểu lờ mờ như mấy đứa nhỏ mà chừng như rất rõ ràng, bâng khuâng tiếp lời:

     - Ừa... Ðó là nước để tắm giặt, nấu ăn, rửa chén thôi, còn nước uống phải là nước mưa chuyền từ máng xối chảy vô hàng mái tàu được đặt riêng biệt ngoài mái hiên nhà nào cũng có. Nước mưa không có nhiều chemical như nước trong vòi bên này đâu. Nước trong vòi độc lắm gây ra đủ thứ bệnh, còn nước mưa uống vô vừa mát vừa đã khát. Nhiều nhà người ta còn thả bí đao trong đó cho có vị ngọt.

     Chẳng biết hai câu nói vừa rồi vợ chồng Tâm đã dành cho riêng mình hay nhằm vào mấy đứa nhỏ? Hình như hai người đang tâm sự với nhau, đang nhìn lại những gì đã mất thì đúng hơn. Nếu muốn cho mấy đứa nhỏ thấy được cái hình ảnh đơn sơ mộc mạc đó thì hai câu tả cảnh sơ sài như trên đâu làm sao thực hiện nổi cái mục đích lớn lao của người nói. Vậy mà thằng anh ba hỏi tới:

     - Nước mưa đựng trong barrel rồi làm sao mà uống?

     Bà xã Tâm tiếp luôn:

     - Thì lấy tô, lấy lon, lấy gáo múc ra mà uống, chẳng lẽ mày đút đầu chun vô đó mà uống như chuột sao, cái thằng này hỏi kỳ hôn! Nước múc ra gáo đôi khi còn phải cẩn thận thổi mấy con lăng quăng dạt ra một bên không khéo uống luôn vô bụng, đau bụng mà chết. Tụi mầy tối ngày chỉ uống pepsi, coke, yellow mello, dr. pepper không thì làm gì mà biết được. Lăng quăng! Con lăng quăng Mỹ kêu là gì hả, ba mầy?

     - Larva? Mosquito larva phải hôn bây?

     - Má means má uống con mosquito larva ?

     - Chớ gì nữa! Ngơ ngơ, ngáo ngáo như mầy nốc vô là cái chắc, rồi nó nở ra muỗi trong bụng thì chết tổ nghe con, hả hả... Nói cái cảnh dân quê nghèo nàn nghe tội quá. Nước dưới sông thì cứt nổi lềnh khênh, ỉa đái đó, tắm giặt đó, rồi múc lên nấu nướng cũng đó. Mấy đứa con mình về bên đó thấy vậy chắc nó không chịu nổi đâu anh hả? Cho tụi bây tắm nước lạnh luôn, củi lửa đâu mà nấu nước nóng!

     Ðứa con gái bắt đầu góp chuyện:

     - Ở Việt Nam không có bồn tắm, không có bath tub, shower hả má?

     - Tắm diệm, tắm thau thì có. Là cái chậu lớn cỡ bằng một ôm tay này, bằng đất sét nung hoặc bằng nhôm. Tụi mầy lúc nhỏ đứa nào không tắm như vậy, bây giờ lớn chồng ngồng hết rồi thì chắc là cho nhảy xuống sông cứt nổi lềnh bềnh mà thôi.

     - Như vậy ở Việt Nam cũng không có cầu tiêu, toilett bowl ?

     - Có làm sao mà có, ở thành thị thì họa may. Ở dưới quê người ta làm cầu tiêu ngoài mé sông, cầu tiêu cá nhân cũng như cầu tiêu công cộng. Chùi đít cũng đâu có toilett paper thơm tho mềm mại như ở đây đâu, mà chùi bằng giấy nhựt trình, lá cóc kèn, lá chuối khô... Chùi lá chuối tiêu nghe nói trị được bịnh trĩ ba mầy hả?

     Tâm phân trần:

     - Em nói giỡn hoài, cũng có chỗ người ta làm cầu cá tra, cầu cá dồ chớ.

     - Ðó là chuyện ỉa, còn chuyện ăn thì còn tồi tàn hơn. Mấy con có biết hôn ở nhà quê đâu có ai xài tủ lạnh. Thường thường người ta đựng thức ăn thừa trong tủ ăn. Tủ ăn là một cái tủ cây có hai phần. Phần dưới trống đặng dễ để nồi niêu, xoong chảo, mẻ rang. Phần trên được làm kín bằng những song cây đứng để ngừa chuột bọ, hoặc làm kín hơn bằng lưới kẽm hay lưới ni lông để cản ruồi muỗi. Kiến thì giữ bằng những chậu nước nhỏ có cù lao ở giữa, kê dưới chân tủ. Vậy mà đôi khi kiến còn thả bè, bắc cầu leo lên được nữa đó. Rồi gián nữa, cockroach , tự do bay tứ tung. Nhưng mấy thứ đó không ghê bằng con dời, không biết từ đâu mà nó vô được mới chết, ba mày hả? Hừ, chính mình mình con ghê.

     Tâm hỏi:

     - Nè, con dời tiếng Mỹ kêu bằng gì? Cái con nhỏ như con trùn, mà chỉ ban đêm tắt đèn mới thấy, sáng lên như con đom đóm, firefly !

     - Ba nói con glow worm? Glow worm bên này cũng có, hồi ở nhà cũ anh hai bắt được một con trong tủ áo, con bắt một con lớn hơn ở ngoài sân.

     - Ô chết! Sao tụi mầy không nói cho ba biết. Trời, con đó nguy hiểm lắm, đứa nào touch là bị nó ăn. Dời ăn thành ghẻ độc lắm không trị được người ta gọi là ghẻ hòm... Em biết hôn, chỗ anh làm có thằng Mỹ gốc Ðức cũng bị ghẻ hòm, nó nói bác sĩ bên này chỉ cho thuốc uống và thuốc rửa để cầm cho khỏi lan rộng ra chớ không thể nào chữa hết tận gốc. Ngày nào đi làm nó cũng phải quấn băng, phải bịt trắng cái ống quyển của nó. Tội thiệt, cái bệnh theo hành nó suốt đời. Vậy mà lũ này có biết gì đâu. Sure, you know that is the glow worm?

     - Yes ! Ba muốn con lật encyclopedia cho ba coi hôn? Cô giáo có nói đó là con larva của một loài European beetle . Không phải con ngâu, Japanese beetle , như ba thường thấy đâu. Phấn của loại larva này nguy hiểm lắm. Tụi con đốt nó chết tiệt mà... Rồi, chuyện gì nữa ba má nói tiếp cho tụi con nghe đi.

     Bà xã Tâm mơ hồ:

     - Vậy mà người ta vẫn sống, vẫn làm ăn, vẫn lớn lên, rồi già rồi chết trong yên bình, thanh thản. Không mấy khi nghe heart attack, cancer, diabetes . Bà con thân thuộc, cha mẹ, anh chị em mình bên đó giờ này chắc cũng vậy...

     Cũng vậy? Cũng vậy đã là may phước lắm rồi, Tâm nghĩ. Ngày xưa trong cái khổ đó cũng còn cái tự do, như là luồng sinh khí đã nối liền mọi thứ với nhau làm cho người ta vui sống. Tự do bây giờ đã bị tước đoạt mà cái ách cộng sản lại phải tròng thêm lên đầu, thì cái khổ đó chỉ được cộng thêm vào bởi một cái đau mà thôi. Với cuộc sống gần như xa hoa phung phí này, ai làm sao mà không thương, không nghĩ đến những người còn ở lại. Nhưng với sự đua chen của cái xã hội xô bồ ở xứ này, những nỗi thương nhớ, nghĩ suy rồi không mấy chốc cũng bị xóa mờ hay bị đẩy vào quên lãng theo dòng thời gian.

     - Má..., má kể tiếp đi.

     - Kể gì nữa? Nghe qua tụi mầy cũng chẳng có biết gì đâu. Chỉ khi nào tụi con có sống trong hoàn cảnh đó mới hiểu sâu xa, thắm thía được. Cứ tưởng tượng đi, can you live without electricity ? Ban đêm phải đốt đèn chong, đèn bong bóng để học bài. Ðó là đèn dầu lửa giống như kerosene lamp bên này, còn đèn cầy, candle , thì không ai có tiền đâu mà mua.

     Ðứa con gái rùng mình:

     - Chắc sợ ma hả má? Chết thằng Thông- gy rồi, mà con cũng không dám ngủ by con- self nữa!

     - Ừa, ở bên đó ma nhiều lắm. Chết bắn, chết chém, chết oan, chết tức tưởi không thì linh hồn làm sao khỏi dật dờ, sương gió? Nghĩ lại mà thương, ông ngoại bà ngoại làm sao mà dám về miếng vườn ở dưới An Hóa để ở cho được. Như là đám rừng, tịch mịch âm u với dẫy đầy mồ mả. Cất cái chòi trên nền nhà cũ của ông cố, cái nhà thờ bị bom dội sập hết chỉ còn cái nền không. Rồi huê lợi vườn ở đâu mà sống? Chẳng lẽ đi khai rừng hoang mà lập vườn mới trở lại? Ban đêm muỗi mòng nhiều hơn đom đóm đậu gốc bần, quơ tay ra là đụng. Bên này tụi mầy sướng quá trời, tối ngủ khỏi giăng mùng, khỏi bắt muỗi. Giường chiếu cũng không có rận rệp chi hết.

     - Rận rệp là gì hả má?

     - Má cũng không biết tiếng Mỹ kêu là gì nữa. Con đó nhỏ xíu bằng đầu tăm xỉa răng này, ban ngày nó trốn trong mấy kẽ hở ở giường ván, đợi ban đêm mới bò ra đi hút máu. Nó cắn đau lắm không phải như kiến cắn đâu, như ong chích vậy. Ðổ nước sôi, đổ dầu lửa hoài mà sao nó không chết hết mới lạ. Còn rắc bột ÐT thì cứ như thoa phấn thoa sãi cho nó thôi.

     - Mình cứ gọi là bed bugs hả?

     Tâm hơi chột dạ, phản ứng:

     - Má mầy nói vậy hóa ra Việt Nam mình cái gì cũng bết bát hết sao? Coi vậy chớ có cái tình nên mình mới nhớ dai dữ vây. Tắm sông cứt nổi lềnh bềnh cũng có cái đam mê của nó. Ðốt đèn dầu cũng có cái thơ mộng của nó. Ngủ mùng cũng có cái thi vị của nó. Nằm chiếu rệp cũng có cái thú đau thương của nó.

     - Em bây giờ mà trở về bên đó không biết có sống nổi hay không? Ðường xá xe cộ bên này bon bon, về bên mình thì đạp xe đạp, cuốc bộ, lội sình chắc chịu không thấu. Ðó là chưa nói tới chuyện lên gò, leo dốc. Rồi di chuyển từ chỗ này qua chỗ khác làm gì có xe đò con chó chồm, làm gì có greyhound hay trailway ? Xe lô xe đò cà rịch cà tang cũng không có đủ mà chạy, trong khi bên này mỗi người xài một chiếc xe nhà.

     Thằng anh hai đưa ý kiến:

     - Như vậy con không về Việt Nam đâu!

     - Con cũng vậy!

     - Con cũng vậy!

     - Tại sao? Việt Nam dù có really poor tụi con cũng cần phải về đó để biết where you come from như thế nào. Tụi con là Vietnamese chớ đâu phải American. That is your root , tụi con phải love proud cái root nghèo khó đó mới phải. Không có nó không có you .

     Tâm muốn chuyển sang đề tài khác, cắt ngang:

     - Tại em chỉ nói toàn những chuyện thiếu thốn, kém cỏi của dân quê mình thì tụi nó làm sao mà không mặc cảm... Tụi con cũng nên biết là ở thành phố, như ở Bến Tre, Mỹ Tho, Sài gòn mình người ta ai ai cũng có đủ thứ, nào TV, tủ lạnh, nhà lầu, xe hơi như ở đây vậy. Lúc ba làm được tiền, mức sống của gia đình mình còn cao hơn mức sống hiện tại bây giờ ở Mỹ nữa. Mà em thấy anh nào có nói sai điều gì?

     Bà xã Tâm lại giải bày theo kiểu khác:

     - Ba má có cái tuổi trẻ của ba má, tụi con có cái tuổi trẻ của tụi con. Lẽ dĩ nhiên tụi con growing up ở đây thì phải chịu ảnh hưởng ở đây. Về Việt Nam được hay không đó chỉ là chuyện tương lai, chuyện hiện tại là ba má chỉ mong rằng các con chịu khó siêng năng học hành, good grade, straight A như bé Hồng là ba má vui. Chứ còn wrestling , đô vật, thắng bại cho trường thì ba má thật sự không màng. Các con hãy làm theo lời ba má căn dặn rồi tự nhiên các con sẽ thấy tại sao các con tự hào mình là người Việt Nam.

     Ðứa con gái đáp lời:

     - It's confused . Nhưng, nếu ba má muốn tụi con về Việt Nam thì tụi con sẽ về...

     Tâm cắt ngang lần nữa:

     - Thôi, whose turn dọn bàn, rửa chén bữa nay?

     - Con.

     - Do your chores đi rồi đi làm home works . Tao với má mày phải đặt lưng nằm nghỉ một chút đã.

     Bữa cơm chiều chấm dứt với nhiều ý niệm mới trong đầu Tâm, khác hẳn với những lần tiệc tùng, tranh luận với bạn bè. Tâm nghĩ có lẽ bà xã anh nói đúng, anh đâu còn trai trẻ gì nữa một khi con cái anh đã biết nghe và hiểu được chuyện đời. Tâm xô ghế đứng dậy đi lại cửa sổ nhìn ra ngoài. Trời vẫn mưa và mây vẫn xám. Mưa thành thị mưa thôn quê, mưa Sài Gòn mưa Hà Nội, mưa Mỹ mưa Việt Nam mưa nào cũng buồn buồn. Buồn thêm một chút nữa là Tâm không biết thế hệ con cháu của mình rồi sẽ đi về đâu? Ðám ở Việt Nam sẽ thành cộng sản và đám ở Hoa Kỳ sẽ thành Mỹ? Ðám ở thành phố sẽ thành homeless và đám ở miền quê sẽ thành dân kinh tế mới? It's confused , ngay chính cả Tâm. Nhiều câu hỏi chưa có câu trả lời dứt khoát! Nhưng, dứt khoát một điều là Tâm và những người cùng thời có lẽ sẽ làm đại diện cho một lớp người Việt Nam mới: lớp người nói tiếng Mỹ sẽ không bao giờ rành và sẽ quên dần tiếng mẹ, lớp người đang sống một cuộc đời một cảnh hai quê. Vì ai cũng hiểu rằng:

     Ra đi là sự đã liều
     Nắng mai phố lạ, mưa chiều thôn xưa
.

   back to top

05. GIÓ ÐÃ NGỪNG

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Người Việt mình chạy qua xứ người bây giờ ai ai cũng bắt chước dân bản xứ một điều: cai đẻ. Không riêng gì đàn bà, đàn ông cũng sợ đẻ. Một hai đứa là đủ nuôi, đẻ nhiều khổ nhiều. Cắt đốt cột, tử cung buồng trứng ống dẫn tinh..., cho bể khổ bớt trầm luân? Ðẻ không còn là một thiên chức! Ðẻ như máy theo kiểu ông bà cha mẹ mình bỗng trở thành một thứ xa xỉ theo chế độ cộng sản ở bên nhà, trở thành một cái gì hết sức lạc hậu xa xưa của thời đá đẽo theo chế độ tự do ở bên đây. Cái máy đẻ bây giờ bằng mọi cách phải được kiểm soát chặt chẽ. Không cắt đốt cột thì phải uống birth control pill , đặt vòng xoắn hay xài condome .

     Bà Gia kia, tuổi sắp sửa về chiều mà không chịu nổi cái cảnh mất tự do ân ái cũng đòi cắt dạ con cho được. Rồi sợ tiếng nói không mấy trong trẻo của mình càng ngày càng trở nên ồ ồ, cạc cạc như đấng lang quân nên lúc nào cũng ôm theo mấy ống hormone kè kè bên mình, trong túi áo trong xắc tay thấy mà tội. Cái tội giống như cái tội của mấy bà già sắp sửa rụng răng, mà dám cắn răng chịu đau cho mấy tên nha công kiềm kẹp tròng cái niềng kẽm hai hàm cười toé bạc, như con gái đang thời mới lớn. Than ôi:

     Bà già đi chợ cầu Bông
     Ghé xem một quẻ có chồng lợi chăng?
     Xem rồi ông bói nói rằng
     Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn!


     Nhưng còn thua bà Nghị một bực. Thuở đời nay thằng chồng còn sống nhăn răng ra đó, vậy mà bả tưởng mình lấy bậy thằng nào có bầu, đợi cái bụng chình ình lên rồi bả mới quyết định đi phá thai. Hồi ở Việt Nam, hai người chẳng biết có cưới hỏi gì không nhưng dầu sau đã chung sống với nhau có một mụn con. Rõ khổ. Rồi sẵn đó làm luôn, thiến. Bà chớ không phải ông. Vì vậy mặc dù chưa được hân hạnh hành nghề thái giám, số phần của ông Nghị đường đường một đấng nam tử mạnh khỏe như Trương Phi mà suốt đời chỉ được làm ông ngoại. Ngoại trừ trường hợp bà Nghị chịu cưới vợ lẻ cho ông. Tiếc thay, bên này làm gì có chuyện đó. Vợ chồng không xách nhau ra tòa ly dị như một cái dịch, đã được coi là tình sâu nghĩa nặng lắm rồi.

     Tuy sợ đẻ như sợ cháy nhà, nhưng đám con Rồng cháu Tiên qua bên này lâu lâu cũng có đẻ. Và bởi lâu lâu cũng có đẻ một lần đó cho nên đầy tháng, thôi nôi thiên hạ ở đay hay làm đám rình rang dữ lắm, còn lớn hơn đám giỗ ông cố tổ nữa. Nhất là con so, con trai đầu lòng hay cháu nội đích tôn. Thôi thì bà con được dịp nhậu nhẹt, nhảy đầm, linh đình chúc tụng lẫn nhau.

     Chạy trời không khỏi nắng, bây giờ đến phiên Thái làm đám cho con hắn. Trả lễ đồng bào. Thế thôi. Vì con hắn không phải cháu nội đích tôn, mà là cháu nội rài. Cũng không phải trai, mà là gái. Cũng không phải con so, mà là con rạ. Chỉ để trả lễ đồng bào. Hễ có vay thì có trả. Thật là dễ hiểu, chẳng cần phải giải thích dài dòng. Nửa đêm giờ tý canh ba, vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi . Lập đi lập lại thì cũng cùng một nghĩa vậy thôi. Trả lễ.

     Nhưng khác với thiên hạ, thay vì đi mướn hội trường YWCA như mấy người trước đã làm, lần này Thái tổ chức tại club house của khu chung cư mà hắn đang ở. Có người hỏi tại sao làm vậy thì hắn ta vui miệng:

     - Tôi không muốn vợ tôi nhảy đầm. Non ngày non tháng nhảy dựng dựng sớm quá cái gì nó cũng xệ hết, thòng hết mấy cha nội à.

     Bởi câu trả lời đó mà đêm nay chỉ là đêm ăn nhậu thuần túy. Bảo đảm nhạc sống thì sống không nổi mà nhạc chết cũng chết chìm luôn. Khỏi ai phải ngứa giò, ngứa cẳng. Khỏi ai phải õng ẹo, ngửa tới, nẫy lui.

     Trạng gọi điện thoại cho anh bạn láng giềng:

     - Ê, Công nè, tối nay có đi ăn đám đầy tháng hôn?

     Ðầu kia có tiếng trả lời:

     - Ðâu có ai nhắn nhủ gì với Công đâu. Ðám đầy tháng nào?

     Trạng ngạc nhiên:

     - Thiệt hay giỡn vậy Công? Ở nhà úm vợ hay là đi thì nói cho biết. Nếu đi thì cho Trạng đi ké với cho có bạn.

     - Thiệt mà. Chẳng ai đếm xỉa đến thằng Công này cả.

     Kỳ ha. Chẳng lẽ hai đàng đang xích mích, vợ chồng Thái và vợ chồng Công xưa nay vẫn thân nhau, coi nhau như anh em một nhà mà. Trạng nói thêm:

     - Vừa thôi, làm bộ làm tịch hoài. Chớ vợ chồng thằng Thái chưa nói gì với Công hết à?

     - Không, không có mời. Nhờ Trạng tiết lộ nên mãi đến bây giờ Công mới biết đó.

     Thôi chết rồi. Chẳng ai đánh mà khai. Khi không mà hài danh hài tánh khổ chủ trong lúc không biết hai đàng đang giận yêu với nhau, hay là đang sửa soạn chém giết nhau thiệt. Cũng khó mà đoán được lòng người. Lỡ khai rồi thì cũng nên đứng ra tìm cách giảng hòa, Trạng thong thả:

     - Thì thằng Thái cũng đã chính thức mời tụi mình rồi trong những lần gặp nhau trước đây ở ngoài sân tennis . Bây giờ có mời nữa thì cũng là sự lập lại mà thôi. Mà theo Trạng nghĩ chắc thằng Thái nó sợ Trạng lú lẫn quên ngày quên tháng nên mới nhắc chừng như vậy...

     Công cắt ngang:

     - Chẳng ai mời mọc tự nhiên vác mặt mốc tới thì ai mà coi cho được cha.

     - Ðược rồi, được rồi, để Trạng xách xe qua đó đón hai vợ chồng Công. Làm khó làm dễ hoài...

     Thiệt là thương nhau lắm cắn nhau đau . Cũng tại vì quá sốt sắn với bạn bè mà sinh ra phiền phức. Mà có gì đâu, chung qui cũng chỉ vì việc đi thăm đẻ lẻ tẻ đó. Một chậu hoa thay cho một cân thịt. Dễ dàng quá, đẹp đẽ quá vậy mà một đàng đòi đi một đàng không cho. Tại sao không cho? Tại vì Công đang có tang, bà già mới chết bên nhà, phải kiêng phải cử. Chỉ sợ con nhỏ sẽ khóc lòi rún. Vậy mà không chịu nói thẳng để lâm vào thế tình ngay lý gian. Tính tới tính lui lựa lời từ chối khéo, không mấy khéo, làm người nghe hiểu lầm. Mà gấp gáp gì dữ vậy, đợi đầy tháng đã. Như Trạng đây này, còn lâu mới mãn tang ba năm của ông già, mà rồi cũng có người thỉnh tới.

     Biết có đem kiệu rước vợ chồng Công cũng không đi, Trạng xin kiếu. Nửa đường Trạng tấp vô rủ Cao, người anh em thuộc dòng độc thân tại chỗ với Trạng, cùng đi. Không hẹn mà Trạng đến thật đúng lúc, Cao sửa soạn vừa xong. Hai đứa chung một xe vòng xuống K-Mart mua hai thùng tã làm quà. Ðến nơi, vòng tới vòng lui hai ba bận Trạng mới tìm được cái club house nằm tuốt trong hốc bà Tó.

     Qua khung kiếng cửa sổ, thiên hạ lố nhố bên trong. Trời lập đông, gió lành lạnh. Hà, vợ anh Thái, như chực sẵn bên trong nhanh nhẹn mở cửa:

     - Ồ, vô đi vô đi hai ông thần. Hai ông không giả gạo không bồng em, không vợ đẻ không con đau sao ma tới trễ quá vậy?

     Trạng không dấu diếm:

     - Vợ đẻ con đau thì có bác đảng lo rồi, bận là bận tìm hai cái thùng quà lý tưởng này nè.

     - Hai anh tới chơi được là vui rồi, quà cáp làm chi cho mất công.

     Cao xen vào:

     - Giỡn hoài! Ở bên mình ăn mấy chục bao gạo nó mới lớn, thì bên này cũng vậy phải bịt mấy trăm thùng tã nó mới chịu nhổ giò đó nghen, coi vậy chớ mà mệt à.

     - Bà con mới lấy đồ ăn vừa xong thì hai anh tới, thiệt là đúng lúc, khỏi phải xếp hàng. Mời hai anh cứ tự nhiên. Mì xào với vịt quay là hai món tụi này đặt ở nhà hàng Péking đó, hai anh có chê thì chê mấy ông thợ Tàu nấu bếp chớ đừng chê tụi tui nghen.

     - Ăn giỗ đi trước lội nước đi sau , tụi mình tới trễ thiệt là thất bại Cao hả? Thôi nhào vô Cao ơi, kẽo không kịp nữa...

     - Anh khỏi lo mất phần. Ðồ ăn tụi em làm nhiều lắm, second time cũng chưa chắc đã hết mà.

     Cao đỡ lời:

     - Ði vòng vòng chào bà con cái đã, cha nội. Chẳng lẽ mình tới đây chỉ để lo chuyện ăn, chuyện nhậu?

     Trạng thẳng thắn:

     - Ô cái ông Cao này bữa nay kỳ hôn. Bộ không thấy bà con người ta đang bận dàn chào cái dĩa thịt thơm phức kia sao? Không có ai rảnh rỗi để "hai ho" với Cao thì Cao cần gì phải nói tránh.

     Rồi Cao cũng nối đuôi Trạng lấy đồ ăn. Trên bàn dài có bốn cái khay cạn đáy hình chữ nhật bằng stainless steel , hai cái có đèn cồn đốt bên dưới đun nước sôi giữ nóng thức ăn. Của nhà hàng Péking cho mượn là cái chắc. Trông lịch sự, sạch sẽ. Mì xào, vịt quay, chả giò chiên chả lụa chiên, bánh phòng tôm, bánh hỏi thoa mỡ hành và rau sống nước mắm. Ðầy dĩa, Trạng ghé qua tủ lạnh vớt một lon Bud cầm tay cho đủ bộ rồi mới chịu đảo một vòng nhìn đồng hương. Rất đông khách, nhưng hình như toàn là đàn bà và con nít. Chào chị, chào chị, đi đâu cũng chào chị. Còn bọn đàn ông trốn xứ nào?

     Ăn thông với club house là phòng tập thể thao. Ðạp cánh cửa khép hờ, Trạng bắt gặp nguyên một đám sồn sồn đang oang oang bàn chuyện, chia thành hai ba nhóm kẻ dựa người vịnh vào các dàn tập tạ nautilus . Ðám lão làng có được một cái bàn vuông kê trong góc đang ngồi nhâm nhi đấu láo với chai rượu mạnh. Chào xã giao. Hê, mạnh giỏi, mạnh giỏi? Ok, ok! Ăn thông với phòng tập thể thao là phòng chứa máy giặt máy sấy. Bọn choai choai đang đóng đô trên mấy cái nấp máy, cũng ồn ào không kém. Lại chào xã giao. Ok, ok? Nhờ trời mạnh giỏi, mạnh giỏi!

     Thăm dò tình hình xong Trạng quyết định trở lại nhập bọn với đám lão làng. Có lẽ ngoài Trạng ra không ai dám tham gia với đám này cho nên duy nhất còn mỗi một chiếc ghế trống đang chờ đợi. Kéo ghế ngồi, Trạng mở đầu câu chuyện:

     - Chào ông chủ tịch. Sao? Buổi họp về việc tổ chức Tết liên thành phố vừa rồi kết quả ra sao ông? Hổng nghe ai đá động gì hết vậy?

     - Ô, bữa hôm đó tôi và anh Gia có đi dự phiên họp theo lời mời của anh Lương ở dưới High Point. Nhưng theo sự bàn thảo và đồng ý của anh chị em ở đây, tôi có chuyển lời bà con cho họ biết là mình có truyền thống tổ chức Tết riêng tại tỉnh nhà, nên rất tiếc không tham gia vào công việc chung được...

     Ông Gia tiếp lời:

     - Tôi nghe đồn thằng cha Lương đó là Việt Cộng. Lần tổ chức nhạc nhiếc gì gì trước đó anh ta đã phỉ báng ông Phi, ông Ưng và ban đại diện thành phố Durham, bảo là ỷ đông cướp công cướp của, lợi dụng danh nghĩa cộng đồng để đề cao cá nhân, vụ lợi riêng tư.

     Trạng hơi ngạc nhiên:

     - Vậy à? Nghe anh Thái nhà mình nói anh Lương là thiếu úy hải quân, khóa 23 cùng khóa với anh Thái mà, không lẽ hắn ta lại là Việt Cộng?

     Ông Lữ ngồi bên cạnh Trạng chêm vào:

     - Ối, cái thằng Thái nó mà biết cái quái gì. Mà chỉ có Trạng là hải quân mới tin nó là thiếu úy hải quân thôi, ở đây ai mà không biết.

     Trạng càng ngạc nhiên hơn. Chẳng lẽ mình nghe lộn? Trạng bèn hỏi lại:

     - Anh nói gì tôi không hiểu. Anh nói anh Thái không phải là sĩ quan hải quân?

     Không trả lời câu hỏi của Trạng, ông Lữ bàn sang vấn đề khác:

     - Tôi thiệt chưa từng thấy ai mà chịu khó, bỏ công bỏ của như tên Lương đó hết. Gọi điện thoại từng nhà, đi tiếp xúc từng người. Thử hỏi hắn phải mưu đồ một cái gì chớ? Ngày làm tám tiếng về nhà mệt thấy mẹ, ai ở không mà đi làm những chuyện như vậy? Hắn ta lại mới tới, nếu có muốn xưng hùng bá thì cũng từ từ, đừng làm quá trớn.

     Nghĩ tình đồng quân chủng, Trạng lên tiếng:

     - Tôi không bênh hắn. Nhưng đừng thấy anh ta chịu khó hô hào đồng bào tham gia những công việc có ích lợi chung, rồi lại chụp mũ anh ta là Việt Cộng. Nè, xưa nay ở đây có người nào đứng ra kêu gọi bà con đóng góp mà thành công vượt bực như anh ta không? Năm ngàn đô giúp cho quỹ cộng đồng đâu phải là ít! Tôi nghĩ mình nên xét lại vấn đề, đừng có tánh tài năng đố kỵ, thấy người ta làm được thì kiếm cách dèm pha.

     Thuận, anh của Thái, đứng ngoài nghe lõm bõm cũng nhào vô:

     - Ai nói tên Lương đó không là Việt Cộng?

     Trạng phân trần:

     - Hắn ta là thiếu úy hải quân mà, cùng khóa 23 với anh Thái mà, sĩ quan hải quân đâu có tệ như vậy.

     - Ai nói với anh hắn thuộc khóa 23?

     - Thì em của anh, anh Thái!

     - Ối giời ơi, tới giờ này mà anh còn tin lời thằng Thái thì bỏ mẹ rồi...

     Thuận cất tiếng cười ngất ngưỡng, bỏ đi... Trạng không hiểu tại sao một người anh lại có thể mở miệng nói về thằng em ruột mình bằng những lời có vẻ hạ bệ như vậy mà cười vui cho được. Hình như Trạng chưa biết một điều mà thiên hạ đã biết? Nhưng thời may có ông Lữ kề tai giải thích:

     - Nói nhỏ cho Trạng nghe, Trạng tới đây sau nên không rõ vụ này, thằng Thái chỉ là thằng hạ sĩ thôi. Nó còn đội bánh tiêu mà. Nó đi chung tàu với thằng Từ làm ở hãng bánh Royal Cake đó. Bữa nào gặp thằng Từ, Trạng thử hỏi thằng Từ thì sẽ rõ trắng đen hơn.

     Sao có chuyện lạ như vậy? Còn đội "polo" thì cao lắm chỉ là hạ sĩ nhất thôi. Nhưng tại sao có lần chính Thái đã khoe với Trạng là thẻ căn cước quân nhân và chứng chỉ tại ngũ vẫn còn mang được qua tới bên này. Chữ HQ-ThÚy ghi đậm nét và chữ ký của thiếu tướng Nguyễn Xuân Trang phòng tổng quản trị kia chẳng lẽ lại là giả? Hay là bôi cạo, sửa lại, đánh máy lại? Vô lý! Ðâu có ai làm chuyện đê tiện vậy! Tánh tình của Thái theo sự nhận xét của Trạng thì cũng là hạng người biết điều, chơi được. Trạng ngỡ ngàng:

     - Thiệt vậy à?

     Bên kia bàn, ông Gia bây giờ cả quyết:

     - Tôi dám cá cha đó mà không là Việt Cộng là tôi nghỉ sở Ba Son đó. Chỉ có Việt Cộng chi tiền cho chả ăn ở không, chả mới có thì giờ đi làm những chuyện tầm ruồng cho thiên hạ. Ai người ta cũng lo chuyện gia đình người ta trước hết. Theo các anh nghĩ, đứng vai trò như các anh đi, các anh có chịu bỏ chút thì giờ quý báo của mình để làm một chuyện không công như hắn ta không? Chỉ mỗi cái thì giờ thôi?

     Trạng không nghĩ đến chuyện anh Lương là Việt Cộng nữa, mà Trạng đang thắc mắc về trường hợp của Thái, khổ chủ của buổi tiệc đầy tháng ngày hôm nay. May là không có Thái ngồi tại bàn, nếu nghe được những lời này thì hắn ta nghĩ sao? Người ta thường nói ở Việt Nam sau 75 sâu bọ lên làm người, chẳng lẽ ở bên này sau 75 cũng có chó mèo lên làm người? Thiệt khó nghĩ!

     Bên kia phòng đàn bà con nít bỗng nhiên có tiếng cười hét, vỗ tay vui mừng vang dội át luôn những lời bàn thảo của đám lão làng. Trạng cầm lon bia của mình đứng dậy, chạy sang. Mở quà? Hèn chi! Bình sữa, núm vú? Cho ai đây? Cho con bé hay cho thằng cha của nó? Rõ ràng là chơi nghịch, tặng quà để làm trò cười... Rồi hết cười tới khóc. Tiếng con nít ré lên phía sau bộ sa-lông. Ðánh lộn, dành đồ chơi với nhau là cái chắc. Rồi khóc dây chuyền hết đứa này tới đứa kia. Sau cùng khóc hội đồng, khóc cả đám. Trạng thấy lòng ngao ngán. Thời ẩm bồng của Trạng đã qua. Ðám con của Trạng bây giờ lớn khôn rồi, biết viết những dòng thư mực tím gửi sang Mỹ thăm ba thì chắc hẳn không còn cảnh này. Trạng chợt nhớ đến vợ, đến con... Thôi để mấy bà ở đó dỗ nó đi, Trạng đi về, Trạng nghĩ vậy.

     Mới nghĩ tới mà có người đã làm. Chắc không chịu nổi đám con nít khóc la, thiên hạ từ từ rút lui. Vài cặp đã đứng cạnh lối ra bắt tay vợ chồng Thái chào tạm biệt. Trạng qua phòng laundry room lôi Cao cùng về. Cái thằng này già mà không biết thủ phận, Trạng nghĩ. Cứ tưởng mình còn trẻ lắm tấp vô chơi với đám mới lớn, rồi còn quên mình là độc thân tại chỗ hăm he kết bè kết đảng với đám độc thân thứ thiệt. Ðúng là già không nên nết. Trạng réo:

     - Ê, Cao. Về, khuya rồi.

     - Còn sớm mà. Lại đây bàn chuyện quốc nội, quốc ngoại với mấy thằng em mình một chút đi.

     - Ừa, muốn ở lại chính chị chính em cũng được, nhưng tốt hơn hết Cao nên tìm người khác đi quá giang đi, Trạng phải về có chút việc...

     Không cần nói với gia chủ, Cao lẳng lặng theo Trạng ra cửa sau chuồn êm. Trời không một chút gió nhưng Trạng cảm thấy lạnh. Tạt qua tiệm Seven Eleven xách thêm mấy xâu bia, Trạng định bụng ghé ngang nhà Cao uống tiếp. Mới làm hai ba lon chưa thấm vào đâu. Chạy quanh quẹo mấy con đường quen thuộc, lúc hơi sưỡi bắt đầu tỏa ra trong xe thì vừa đến nơi. Cao hối:

     - Ê, chần chờ gì nữa, vô chơi chút đi!

     Thấy đèn trong nhà sáng trưng, Trạng biết con vợ chắp nối, một con trông lòi con mắt, của Cao chắc đi hàng xóm xem chỉ tay hai mươi lá đã về nên không muốn làm phiền. Trạng viện cớ:

     - Thôi, ngồi ngoài này lai rai hay hơn. Có nhiều chuyện đám đàn bà không nên nghe. À Cao nè, Cao có biết thằng Thái không phải là sĩ quan hải quân hôn? Bấy lâu nay tụi mình lầm hết!

     Có lẽ bị tụi nhỏ kèm đủ "dose," Cao hơi lè nhè:

     - Lầm cái gì cha? Cha lầm chớ ai mà lầm... Thôi đi, hừm, cha đi guốc trong bụng thiên hạ mà cha cứ giả bộ ngây thơ hoài.

     - Thiệt mà. Mới nghe ông Lữ nói hồi nãy Trạng mới vỡ lẽ!

     - Giỡn hoài, thì hồi nào nghe cha nói thằng Thái coi vậy mà không có trình độ, Cao tưởng cha có con mắt nhìn đời sâu hơn thiên hạ.

     Trạng giải thích:

     - Ðâu có. Tại vì lần đó Trạng giải toán cho nó. Trạng chỉ ngụ ý tại sao nó là sĩ quan hải quân mà trình độ toán lại thấp kém như vậy. Thế thôi. Nhưng Trạng biết đó là trường họp không thể tránh được vì sau này hải quân thiếu sĩ quan nên thâu nhận luôn đám tú tài ban A, ban C, ban D. Tóm lại, thiệt là mất hết truyền thống và như vậy rõ ràng thằng Thái nó đã làm nhục Hải quân. Thế nào cũng có ngày Trạng hỏi thẳng nó cho biết. Với cấp bực của Trạng, Trạng có thể rầy nó được mà.

     Cao cười ra tiếng:

     - Thôi xin can cha đi. Qua bên này rồi thì còn gì quan với lính, đù me mấy ông tướng kia tụi nó còn coi chẳng ra gì huống hồ cấp úy như cha. Mà nói ra thì có lợi lộc gì chớ? Chuyện đó thì ai mà không biết, chỉ có mình cha giả bộ ngây thơ.

     Trạng gằn giọng:

     - Ngây thơ, ngây thơ! Ngây thơ cái gì?

     Cao thở dài:

     - Hừ, nghĩ lại đau khổ và tội nghiệp là cho thằng Từ. Trạng đâu có giao du với đám nhỏ, đám độc thân Trạng đâu có biết. Là bạn cùng khóa 72 tân binh, cùng tàu HQ 500 mà bây giờ thằng Từ vẫn phải kêu thằng Thái là thiếu úy. Một điều thiếu úy hai điều thiếu úy, cha không thấy sao? Thằng Lương ở High Point, thằng đó mới thiệt là thiếu úy hải quân khóa 23. Cao thấy thằng đó có tinh thần nhưng bị người ta chụp mũ... Ối, mà còn nhiều chuyện thúi như mắm, cha không tiếp xúc nhiều sao cha biết được.

     Rõ ràng bấy lâu nay mình rơi vào cảnh ếch ngồi đáy giếng mà mình không hay, Trạng tự xét như vậy. Không ngờ một chuyện nhỏ nhặt này mà nẵm nay Trạng không thấy nổi, không hiểu nổi. Nhưng Trạng biết mình có cái nhìn riêng, nói:

     - Hê, bên Không quân của Cao thì Trạng không biết sao, nhưng bên Hải quân của Trạng thì xưa nay Cao phải biết rất là quan liêu. Nhờ cái quan liêu đó mà Hải quân có nề nếp, kỹ cương hơn. Quan ra quan lính ra lính. Trạng nghĩ có dịp nào thuận tiện Trạng sẽ nêu vấn đề này với Thái. Trạng thấy vẫn được, vẫn hợp lý. Phải dạy cho nó một bài học tối thiểu về môn "Xã giao Hải quân," để nó biết thế nào là vàng thiệt, thế nào là vàng giả.

     - Thôi đi cha ơi, đừng có tin tưởng vào mình, vào truyền thống hải quân của cha thái quá như vậy... Cao thấy thằng Thái coi vậy chớ nó cũng biết ăn năn hối cải. Kể từ ngày có cha là hải quân thứ vàng thiệt tới đây, cha để ý đi, mỗi lần cha nhắc tới vấn đề binh nghiệp cha thấy thằng Thái dạo sau này có bao giờ xen vô bàn luận chuyện gì nữa không? Nó luôn luôn kiếm cách đổi đề tài. Thôi, Cao khuyên cha đừng làm vậy. Dĩ vãng vàng son của mình, mình cũng nên quên hết đi. Mình cũng lờ đi những gì thằng Thái đã lỡ làm, đã lỡ tuyên bố. Nó cũng hiểu lắm chớ, biết ăn năn lắm chớ. Chỉ còn một chút hãnh diện để người ta sống, dù là giả tạo đi nữa, thì xin cha cũng đừng nên bóp chết. Chẳng lẽ cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng...

     Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng? Có lý! Thằng này nói có lý! Trạng hối hận thấy mình đã hơi quá đáng. Mặc dù trong thâm tâm Trạng vẫn đau buồn, đau buồn thiệt. Tại vì Trạng biết mình bất lực trong hoàn cảnh này. Không thể thay đổi, không thể làm gì khác hơn. Trạng thở dài. Cao cũng thở dài... Rồi như có một sự đè nén nào bị vỡ bờ bên trong, Cao bỗng nhiên đâm ra hằn học:

     - Damn it! Cao thấy thằng Thái vậy mà còn xài được hơn là thằng Trung. Một thằng lầm lỗi ít ra còn biết mình lầm lỗi, còn một thằng thì hèn hạ hơn, lầm lỗi mà không muốn biết mình lầm lỗi.

     Trạng sững sốt:

     - Trung úy Trung? Gì nữa đây, Cao mới nói cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng mà.

     Cao tiếp:

     - Cao thấy thương thằng Thái nhưng bực thằng Trung. Trung úy cái gì, trung sĩ Trung thì có. Dám chắc nó chỉ là thằng hạ sĩ quan "mê vô" thôi, không có pilot trực thăng, cessna, L 19 gì cả. Vậy mà mở miệng ra lúc nào cũng tưởng mình là pilot thứ thiệt mới kẹt cho Cao. Nó qua mặt mấy cha hải quân như cha thì được, cho đằng này Cao là người trong nghề mà, không quân thứ vàng thiệt mà, chỉ cần một câu nói hớ là lộ tẩy ngay...

     - Thiệt hôn đó Cao hay là chỉ suy bụng ta ra bụng người?

     - Nó múa rìu còn kém quá mà sao qua mắt thợ được. Nhớ tuần rồi mình nhậu ở nhà Công hôn? Trạng có để ý Cao chỉnh nó về vấn đề xăng trực thăng hôn? Xăng trực thăng thì phải tính bằng pound, không thằng sĩ quan nào không biết, vậy mà nó còn cãi với Cao, cố tình xài chữ galon. Galon thì chỉ xài cho L 19, cessna thôi, vì nó nhỏ quá. Ðã trật đường rầy mà còn cố ôm vô lăng, Cao cũng lờ đi cho nó nói cho suông câu. Mấy cha không ở trong nghề mấy cha làm gì biết được.

     Trạng lần này cười ra tiếng:

     - Thật vậy sao? Lại thêm một tên trung úy không có cầu chứng tại tòa! Có một lần nhậu trước đây cũng tại nhà Công, Cao còn nhớ trung úy Trung kể chuyện cho tất cả anh em mình nghe về vụ đi họp với trung tướng Nguyễn Khoa Nam trước khi Việt Cộng tiếp thu hôn? Ðể coi nó nói ông Nam nói gì? À, đúng rồi nó nói ông Nam bảo rằng: Vì dân tộc đất nước, tôi mong các anh hãy dẹp bỏ tình riêng, chỉ cần một tháng xa vợ xa con, để cùng tôi tận lực chiến đấu... Ha ha, chẳng biết ông Nam có nói những lời vàng ngọc đó hay không, nhưng bắt buộc thằng Trung phải là sĩ quan nó mới có cơ hội đi dự buổi họp này. Không những là sĩ quan, còn phải là sĩ quan cao cấp nữa. Ðại úy quèn như Cao thì làm gì có cái may mắn ngàn đời kia. Nó cho nó làm trung úy đã là nhịn Cao một bực rồi. May mắn hơn nữa là nó chưa dám đề cập đến vấn đề Phục quốc... Mà tại sao bữa đó Cao không dám lên tiếng ừ hử, chỉnh đốn hàng ngũ gì với nó hết vậy? Vụ này rồi Cao sẽ xử trí ra sao đây?

     - Chịu thôi. Chỉ cần nó có tinh thần tự giác, tự hối như thằng Thái là Cao vui rồi. Còn muốn vạch trần bộ mặt thật của nó thì thiệt tình chẳng có gì khó khăn hết, nhưng làm như vậy mình thấy mình có vẻ tiểu nhân quá. Chẳng trách ai được. Biết đâu chừng trong khóa của cha hay khóa của Cao cũng có thằng dám vỗ ngực tự xưng mình là đại tá. Thời buổi này vàng thau lẫn lộn...

     Sương khuya rơi ướt kín ... mặt kính trước. Số lượng bia trong bọc giấy dầu đã vơi đi hơn nửa. Không ngờ bữa tiệc đầy tháng ngày hôm nay, một bữa tiệc không có nhảy đầm, không kèn không trống, mà đối với Trạng lại có nhiều ý nghĩa hơn mấy lần trước. Trạng kết thúc:

     - Lạnh quá rồi, thôi, Trạng đi về. Bữa nào gặp lại.

     Cao mở cửa xe:

     - Ừa, uống hết nổi rồi, bữa nào gặp lại.

     Cao lững thững đi vô nhà... Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng? Một câu hỏi bâng quơ trong trí Trạng, bất chợt Trạng lên tiếng:

     - Ê Cao, trở lại đây Trạng nói cái này.

     - Còn gì để nói, hả?

     - Trường hợp của Cao thiệt là nghịch lý, biết sao hôn, gió đã ngừng mà cây chẳng lặng. Và cũng có thể cái cây gai góc này nó sẽ còn rung động mãi mãi với thời gian...

     Cao quay lưng đi, cười vang. Trạng de xe ra đường. Gió đã ngừng? Trời đêm im phăng phắt...

   back to top

06. MỘT BUỔI CHIỀU THỨ BẢY

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Tấn vừa xếp mớ giấy tờ bừa bãi trên bàn cho thứ tự vừa hỏi vợ:

     - Em nói gì?

     - Em nói trưa này con bé Duyên nó mới có period lần đầu.

     Tấn ngạc nhiên:

     - Cái gì? ... Ồ, vậy hả. Năm nay nó bao nhiêu tuổi?

     - Nó mười ba tuổi rồi, con của anh mà anh cũng không biết bao nhiêu tuổi nữa hả Tấn?

     Bỗng dưng Tấn thấy mình thành ông cụ. Ðã đến lúc Tấn phải tỏ ra đạo mạo nghiêm nghị với lũ nhỏ đã không còn nhỏ như hồi nào. Một lần nữa Tấn phải thay đổi. Cũng như dạo đó, ngày Tấn ngượng ngùng ôm khai trầu rượu đi cưới vợ. Không người lớn cũng phải tỏ ra người lớn, con nít mà có vợ thì coi sao được. Rồi ngày nào mộng làm cha lớn dần theo bụng vợ, thời son trẻ vút bay đi. Tấm thân người lớn của Tấn còn phải thêm phần tỏ ra điềm đạm, đứng đắn nữa. Thời gian ấy vậy mà hiu hiu gió thổi, qua hồi nào không hay... Bây giờ làm ông cụ? Cũng chẳng sao. Vấn đề quan trọng là đứa con gái đến tuổi dậy thì, tuổi khai sinh cái hiện tượng làm mẹ của phái nữ. Phải làm gì đây? Không bao lâu lại sẽ đến tuổi cặp kê, trai gái mèo mả gà đồng. Hũ mắm treo dàn bếp? Ðừng có lo, Tấn nhủ thầm. Qua bên này ăn hamburger, hot dog chẳng ai thèm mang cái hũ mắm đó đi theo làm gì. Hơn nữa, có dàn bếp ở đâu mà treo? Tấn hỏi:

     - Nó có sợ lắm hôn?

     Hồng trả lời:

     - Không đâu, em có nói cho nó biết trước. Với lại đám Mỹ bạn của nó thường có sớm hơn đám nhỏ Việt Nam mình, có đứa chỉ mới mười tuổi mười một tuổi, vậy mà cũng biết nói nhau nghe.

     Tấn bâng quơ:

     - Cũng được. Cho mụn trên trán và gò má của nó xuống bớt.

     Biết đám con của mình không có cái cơ hội sống cách biệt trong the blue lagoon , Tấn hầu như quên đi, không chú ý đến sự phát triển về thể xác của con cái. Người luôn luôn để tâm đến vấn đề này là Hồng, vợ anh. Ðứa nào bể tiếng nổi trái cổ, đứa nào dậy ngực trổ mả vợ anh đều ghi nhận hết, thấy hết. Ðối với Tấn về phía con trai thì cũng dễ hiểu thôi, vì có kinh nghiệm bản thân. Những cảm giác lạ lạ từ lúc con cu ngói mới mọc lông măng cho đến khi con dê xồm mọc râu kẽm, cũng không phải là không có. Nhưng, chuyện tu mi của kẻ thân dài vai rộng đối với Tấn chẳng lấy gì làm quan trọng. Chuyện làm quen với stayfree, playtex tampon, depend có lẽ là chuyện phải hãi hùng hơn, đáng tìm hiểu. Tấn hỏi vợ:

     - Nè, hồi nhỏ em bị lần đầu thì em có sợ hôn?

     - Anh hỏi chi vậy..., ai mà nói chuyện kỳ cục.

     - Chỉ có anh với em thôi, đâu có ai nghe đâu mà em sợ, em mắc cỡ.

     Không biết có phải vì mắc cỡ hay không mà một lúc lâu Tấn không thấy Hồng trả lời. Chuyện này có gì ghê gớm đâu mà sống để bụng chết mang theo? Thật có những chuyện vợ không thể nói với chồng, và ngược lại thật có những chuyện chồng cũng không thể thố lộ cho vợ biết? Vậy thì thương nhau, ăn ở với nhau làm gì? Hồng không nói thì thôi. Tấn bỗng nhiên nhớ nhớ những người tình đã đi qua trong đời mình. Ừa, những cuộc tình lớn những mối tình con của Tấn, Tấn đâu đã nói hết cho Hồng nghe!

     Có tiếng Hồng lên tiếng:

     - Hồi xưa em có lần đầu là vào ban đêm, đến sáng trắng thức dậy mới hay. Em tưởng mình đái dầm, định lết ra khỏi giường đi kiếm quần khô thay đồ. Nào ngờ lúc quay lại xem chừng bãi nước đái mới hay đỏ cả chiếu. Hoảng hồn không hiểu tại sao mình đái ra máu. Rồi nghi là bị ai đánh, ác thiệt, đánh vào chỗ kín. Nhưng không thấy đau đớn gì cả, cũng lạ. Sợ quá rờ đáy quần ướt nhẹp, không dám ra khỏi mùng, cũng không dám kêu ai. Ðến lúc má bắt gặp, má mới giải thích cho biết...

     Ngưng một chút, Hồng nói tiếp:

     - Anh làm gì đâu mất tiêu đi, hổng thấy ừ hử trả lời trả vốn gì hết vậy?

     Tấn đang đọc cái report mới gửi tới nằm trên chồng hồ sơ. Làm một công xong hai việc, vừa gạch màu highlight những điểm quan trọng vừa part time nghe Hồng kể chuyện. Bị hỏi ngang xương, Tấn quýnh quáng đáp:

     - Hả, thì em cứ nói đi anh đang nghe mà. Nè, lúc đó em học đệ thất phải hôn? ... Wait a minute, Sir!

     - Come see me when you have a chance.

     - O. K.


     Hồng xen vào:

     - Ai nói gì vậy? Hello...

     - Hello, anh nghe đây. Thằng xếp của anh nó mới đến đưa cho anh cái memo . Nó vừa đi khỏi... Rồi sao nữa, má nói gì với em?

     - Không thèm nói chuyện với anh nữa đâu. Nói với anh như nói với đầu gối, anh để tâm để trí đi chỗ khác mà nói gì.

     - Anh nghe mà.

     Một hồi lâu Hồng tiếp:

     - Má nói con gái đến tuổi thì phải có như vậy, thay đổi máu huyết cho da dẻ hồng hào.

     - Chỉ vậy thôi? Lúc đó em bao nhiêu tuổi?

     - Ðể coi..., cũng mười ba. Em về quê bên Bến Tre vào cuối tuần.

     - Con Duyên năm này mười ba, em lúc đó cũng mười ba, hèn chi người xưa nói đúng: nữ thập tam nam thập lục. Lấy chồng từ thuở mười ba, đến năm mười tám thiếp đà năm con . Em giống y chang, sanh năm một điều chi hả?

     - Thì lỗi tại anh chớ tại ai, chẳng ai trồng khoai đất này...

     Câu nói của Hồng bỗng khơi lại cho Tấn một dĩ vãng xa xưa. Phải rồi, lỗi tại Tấn chỉ vì Tấn đòi đốt sách. Sách Cao Ly Ðầu Hình, kết hợp mười thiên can với mười hai địa chi: nam dụng can nữ dụng chi. Chồng Ất dậu vợ Mậu tý, Ất thủ Tý chi đồ. Tấn đã nhiều lần đọc đi đọc lại trang này nên vẫn còn nhớ rõ lời bàn và vài câu chú. Ðại khái hai tuổi này rất hạp rất tốt, chỉ phải tha hương xa nhà. Nhưng, sống đầm ấm êm thuận suốt đời ví như rồng cọp núp ẩn rừng xanh, long hổ tự phục, đại sanh gia sự, xiên từ lạc xứ . Người chồng tánh tình rất quân tử cho nên gia đình dù có gặp khó khăn tai nạn buổi đầu nhưng rốt cuộc sẽ được sung sướng vẻ vang về sau, quân tử dũng khí, gian nan tại tiền chi phúc hậu . Ngặc một điều đặng hào của mà chẳng đặng hào con, chỉ sanh được một đứa con trai mà thôi, hữu đăng khoa hữu sanh nhất nam tử...

     Sách dám quả quyết như vậy, rủi không nuôi được đứa con trai duy nhất ấy thì lấy ai nối dòng, lấy ai lập cháu nội đích tôn? Giấy hồng đơn của ông thầy đồ còn ghi rõ như ban ngày thì ba má Tấn làm sao chấp thuận cuộc hôn nhân này cho được.

     Ðốt, đốt hết mấy cuốn sách tầm ruồng đó đi , Tấn nói như vậy. Yêu mà, yêu quá cỡ thì cần gì sách vở, chữ nghĩa. Tần Thủy Hoàng hồi xưa đốt sách, chôn sống học trò vì Tần quốc thì Tấn bây giờ cũng dám làm như vậy lắm nhưng chỉ vì người tình. Khác với thời Ðoạn Tuyệt phong kiến cổ hủ của Nhất Linh, thời này là thời Yêu văn minh tân tiến của Chu Tử nên con đặt đâu cha mẹ dám cũng phải ngồi đấy lắm. Nhất là con trai trong hoàn cảnh lính trận sa trường, sống nay chết mai thì cha mẹ vì thương con chiều con là sự thường.

     - Anh có nghe em nói hôn?

     - Nghe.

     Nghe thì hai lỗ tai có nghe nhưng tâm hồn của Tấn cũng còn đang thả tận đâu đâu. Chỉ vì mấy cuốn sách? Phải, chỉ vì đòi đốt mấy cuốn sách đó mà Tấn luôn luôn bị lương tâm dày vò, cắn rứt. Tấn thấy mình như đã làm một việc gì hết sức trái ngược với luân thường đạo lý. Chỉ vì tình, lụy vì tình. Thà là cạo đầu đi tu, uống thuốc chuột tự tử như nhiều người đã làm cũng còn nhẹ tội, đỡ tầm bậy hơn là đòi đốt sách, Tấn nghĩ. Uổng công cho mày ăn đi học cho nhiều, giờ này sách vở thánh hiền mày đòi đem ra mày đốt , ba Tấn buồn buồn nói với Tấn như vậy.

     Ðến lúc Hồng sanh cho Tấn thằng con trai thứ hai thì Tấn mới an tâm là sách Cao Ly Ðầu Hình chưa chắc đã trúng một trăm phần trăm. Có lẽ ngoài căn bản một trăm hai chục thiên can phối họp với địa chi, người ta còn phải tính thêm phần cung mạng, giờ giấc và nơi sanh nữa. Cái cung mạng Tích lịch hỏa của Hồng và cung mạng Tuyền trung thủy của Tấn chắc có gì tương sanh tương ứng, biến hóa khôn lường cho nên hai đứa không phải chỉ có nhứt nam tử mà là tam quí nam tử... Tấn đổ thừa cho vợ một hơi:

     - Lỗi nào tại anh? Lỗi tại em tặng anh miếng bội ngọc. Lỗi tại em hăm hở muốn chồng. Lỗi tại em năn nỉ ba má gã gắp cho anh. Lỗi tại em xúi anh đòi đốt sách để cho em lai sanh ra một lũ tiểu tử, tiện tỳ mà em còn phải nói.

     Hồng phản ứng ngay:

     - Hứ, sao anh không nói là anh mê hoặc dụ dỗ gái chưa đến tuổi vị thành niên. Bản mặt vậy mà theo người ta như là đỉa đói. Ban ngày ban mặt mà đòi chèo chẹo như con nít đòi kẹo.

     Tấn mơ màng nhớ lại thời mới lớn, tuổi của mộng mơ, bồng bột. Một phố phường cũng đủ cho bệnh tương tư, cần chi đến ba mươi sáu. Chuyện trai gái, tình yêu bao giờ cũng được đóng dấu mật, tối mật, khẩn, thượng khẩn. Dấu diếm cha mẹ, anh chị là chuyện đương nhiên. Bởi vậy bảy tám năm trời quen nhau mà Tấn và Hồng chưa đứa nào biết mặt song thân của người đối tượng, thế mới là lạ.

     Rồi anh chiến binh một chiều dừng chân nơi phố xưa nay đã cháy tiêu tan thành tro bụi sau biến cố Mậu Thân. Không biết đâu là đường đâu là ngõ, Tấn hỏi thăm đại một người đàn ông xa lạ đang đứng trước căn nhà lụp xụp mới dựng trên vuông đất mà Tấn nghĩ là nền nhà cũ của người yêu: Thưa bác, có phải đây là nhà của cô Hồng? Người đàn ông nhìn Tấn từ đầu đến chân dò xét, không thèm trả lời, bảo thằng nhỏ đang đứng một bên: Vô trỏng kêu chị Tư mày có người quen tới kiếm . Rồi mới quay qua Tấn từ tốn: Cậu chờ một chút .

     Chẳng lẽ ông bác này sẽ là ông già vợ tương lai? Thôi chết rồi, sao lại nhằm ngay ông bô mà hỏi thăm cô con gái. Mà chẳng hề gì, Tấn lấy lại bình tĩnh, mình là vàng thiệt thì đâu sợ lửa. Hên là bộ quân phục màu xanh nước biển và cặp ga lông thiếu úy còn mới sáng ngời trên vai chắc chắn sẽ làm Tấn ra vẻ con nhà đàng hoàng, đứng đắn lễ nghĩa. Ồ anh Tấn, anh về hồi nào vậy, vô trong này đi anh , Tấn chỉ muốn Hồng ngã vào vòng tay để Tấn được ôm trọn vào lòng cái thân hình bé bỏng đó, chớ đâu phải những câu chào hỏi xoàng xĩnh kia. Nhưng Tấn liếc qua thấy ông bác xa lạ đang trân trối trừng mắt nhìn Hồng như chưa từng thấy ai làm chuyện lạ lùng như vậy trên thế gian này. Hồng nắm tay Tấn kéo đi, quên luôn bài học lịch sự xã giao, không màn giới thiệu Tấn là ai cho ông bác xa lạ.

     Trong lần gặp gỡ đầu tiên đó, mặc dù không nói ra nhưng Tấn cũng ngầm báo cho ông bác không quen ấy một tin buồn theo ý của ổng, một tin vui theo ý của Tấn: không bao lâu nữa Tấn sẽ dẫn con gái của ông đi khắp chân trời góc biển. Và tin vui đó đã đến thật vì đám cưới của Hồng và Tấn đã diễn ra tại căn nhà lụp xụp kia chỉ vài tháng sau. Ông già vợ bấy giờ mới biết ngán chàng rễ thuộc hạng chưa đi đã chạy, chưa nói đã làm.

     Tấn đổi đề tài hỏi Hồng một câu mà hình như Tấn đã hỏi đi hỏi lại nhiều lần.

     - Nè, đêm anh gặp ba lần đầu, lúc anh về em có bị ăn đòn không em nói hết cho anh nghe coi.

     Hồng trả lời:

     - Lúc đó em đã lớn chồng ngồng rồi, bị đòn gì nữa. Nhưng, bị rầy quá cỡ. Anh cũng biết ước vọng của ba là mong cho con cái đi học thành tài. Trai cũng như gái, đứa nào chăm chỉ học hành không bạn bè lêu lõng là ổng thương ổng lo. Bằng ngược lại thì ổng hạch hỏi tra vấn đủ điều và nhiều khi còn đánh đòn sanh tử. Ðêm nào ổng kêu ra kiểm bài là phải bầm mình. Thi rớt đệ thất thì thôi, khỏi nói. Chuyện trai gái thì em rút kinh nghiệm của chị Ba, thành thử ba tưởng em tối ngày chỉ biết cặm cụi với bài vở, sách đèn. Từ hồi nhỏ cho đến lớn em biết ba chưa bao giờ nghĩ rằng em có bạn trai. Ông già bị big surprise vì đêm đó ổng thấy anh và em tự nhiên quá như đã bồ bịch mấy mươi đời.

     - Ba nói gì với em?

     - Thì ba nói chuyện bạn bè phải xếp qua một bên để lo việc học hành, chuyển được trường từ Bến Tre về Mỹ Tho đâu phải dễ. Ðại khái như vậy. Ổng bảo là ổng hết sức thất vọng, mặc dù em nói thật em chỉ có anh là bạn trai. Hồi thời đó sao mà ổng khó khăn với chị Ba và em dữ quá. Mấy đứa em sau này ổng lại dễ, tụi nó có bạn trai đi chơi tùm lum ổng có rầy, có đánh gì dữ tợn đâu. Bị cấm đoán quá con cái nhiều khi cũng có phản ứng. Lấy chồng đại cho rồi, trước sau gì cũng lấy...

     - Lấy anh hả? Nhưng mà... nếu đúng như em nói thì em nào có thương yêu gì anh?

     - Hứ, anh có biết là anh may phước tốt số lắm hôn?

     Lấy được vợ dĩ nhiên là may phước rồi. Mà lấy được người tình mà Tấn yêu thương thì còn phải phước đức mấy đời. Nhưng Tấn cũng nói ngược lại:

     - Chớ em không may phước tốt số thì em cũng làm gì lấy được anh.

     - Còn lâu. Mấy người đi hỏi trước anh ngon lành hết sức mà chẳng biết sao em lại không chịu để ưng anh cù lần quá, không biết take care vợ con gì hết.

     - Thiệt vậy hả?

     - Chớ gì nữa! Chỉ cần cái anh chàng cháu kêu trung tướng Tôn Thất Ðính bằng cậu là đủ hơn anh mấy bực rồi. Anh muốn nghe chuyện không em kể cho nghe. Cũng tại bà năm Nương con của cô Ba, chớ ai biết ất giáp gì. Mà nói có mồ ma của thằng Ðức, thằng Nguyễn Minh Ðức bạn của anh hồi nhỏ anh còn nhớ hôn? Bà Nương đi thăm thằng Ðức lúc đó đang học năm thứ tư Võ Bị Ðà Lạt nên anh chàng bạn cùng khóa lơ tơ mơ đó mới có dịp làm quen đặng nhờ bả giới thiệu em út. Bả nhè em mà bả đi giới thiệu mới chết. Bả lấy hình em cho bả, bả tặng luôn người ta hồi nào không hay. Mới thấy hình thôi mà anh chàng đã mê mẫn tâm thần. Rồi sau khi ra trường, anh chàng cậy cô Ba dắt ba má anh chàng xuống nhà coi mắt. Hên là ông già không chịu gã, nói là giữa hai gia đình có sự cách biệt, và em cũng còn nhỏ chưa học tới đâu hết.

     Tấn biết là Hồng đẹp, một thời là hoa hậu của trường nữ Trung học Bến Tre, nhưng vẫn không ưa cái tật hay nói lên của vợ. Mèo khen mèo dài đuôi, Tấn phải chặt cho nó cụt bớt:

     - Hên hay xui? Ông già không chịu, nhưng em chịu. Sao hồi đó em không ưng phức nó cho anh thì bây giờ anh đỡ biết mấy. Thằng đó tên gì, sao chưa lần nào em kể cho anh nghe hết vậy?

     - Tạ Ðức Khâm. Trước ngày đám cưới của mình mấy bữa, nó qua nhà nó làm dữ. Cũng tại bà Hương chủ tiệm phở Ngy bên Bến Tre, cháu kêu ông Ðạo Dừa bằng cậu. Không biết là bả khoe hay là tình cờ mà thằng Ðức đọc được cái thiệp cưới của mình, rồi cho thằng quỉ đó hay. Nó dẫn một đám lính xách xe jeep chạy về Mỹ Tho, ngay ngày nhóm họ. Cô Ba mình vì lúc trước đã một lần làm bà mai hụt của nó nên bây giờ tiện bề cổ đứng ra cổ lãnh đạo luôn. Cổ năn nỉ nó quá trời, sợ nó làm ẩu. Súng, đạn, lựu đạn nó mang đầy mình. Cổ nói số của cháu với Hồng không có duyên có nợ thì thôi, với địa vị của cháu thì cháu lo gì không tìm được một người khác đẹp đẽ, danh giá hơn cháu Hồng của nhà này . Vậy mà nó chẳng chịu, nó nói tại sao coi nó chẳng ra gì, mới bác hôn nó chưa đầy năm mà bây giờ làm đám cưới. Rồi ai nói gì nói, nó ngồi lì chẳng chịu đi đâu hết, đòi phải được gặp mặt em. Rốt cuộc em phải ra nói chuyện với nó, nó mới chịu về.

     Gay cấn thiệt, Tấn vội hỏi:

     - Em nói gì với nó?

     - Thì em nói tôi chẳng quen biết gì anh, tôi không thương anh, giữa tôi và anh không có gì hết thì anh tới đây làm gì. Nó mới tiu nghĩu đi ra. Cô ba nhắn tin chị Hương bên Bến Tre nhờ khuyên lơn nó phụ giùm cho bả... À, mà cũng tức cười, sau 75 con Bé Năm với con Cúc Lan lên Sài gòn đi làm, lại mướn ngay nhà của nó ở mới là kỳ. Nhà ở đường Bà Hạt trong Chợ lớn. Mới hay lúc đó nó đã cưới vợ và theo quê vợ về bên Bến Tre. Nó thề nó phải cưới cho được gái Bến Tre hay sao hổng biết. Nhà chỉ còn lại hai ông bà già, già lắm...

     Tấn thở phào. Như vậy cũng không có chuyện gì đáng quan tâm, chuyện trai gái liên hệ lăng nhăng thời còn trẻ ai mà không có. Ban đầu Tấn nghĩ là Hồng nói đùa chọc mình chơi cho vui, nhưng bây giờ Tấn biết là Hồng nói thiệt. Tại sao đợi đến giờ phút này con cái đầy đàn mới nói? Nếu Hồng nói ngay sau khi sự việc xảy ra thì Tấn phải đối xữ như thế nào? Tự ái, danh dự của Tấn có bị tổn thương không? Cũng như tại sao Tấn không bao giờ dám kể cho Hồng nghe chuyện Thu Hà xuống nhà trọ thăm Tấn ngay trước ngày đám hỏi một bữa. Em xuống thăm anh bất thình lình như vầy anh có mừng hôn? Mừng chớ, mừng thiếu điều muốn xón đái. Em ghé tiệm kem Mây Hồng mới mở dưới đường Trưng Trắc để xem bà chị bà con của em làm ăn ra sao, tiện đường ghé biếu anh mấy thứ lỉnh kỉnh này . Mô Phật, vậy là lạy Chúa đừng cho em biết chuyện ngày mai. Em xuống đây không phải với mục đích đánh ghen hay ngăn chận cuộc hôn nhân của anh và vợ anh là được rồi. Sống để bụng chết mang theo, Tấn không thể nào nói chuyện này cho Hồng biết được. Ðàn bà kỳ lắm, không bao giờ quên những chuyện lăng nhăng của chồng. Nhớ dai tận mạng. Có dịp là cứ lập đi lập lại bản điệp khúc hài tội, trách hờn. Chuyện thay đổi một thành kiến trong đầu một người đàn bà có thể nói như là một trong những việc làm khó khăn nhất trên đời.

     Tấn giả vờ bực mình:

     - Chuyện hệ trọng như vậy tại sao em dấu anh lâu dữ vậy hả?

     - Chuyện đó là chuyện vui thôi, còn chuyện buồn này nữa để em kể anh nghe. Số là đối diện nhà cô Ba, chỗ bót Hoàng Hùng cũ đó, có ông anh bà con bên dượng Ba hồi xưa cũng mê em dữ lắm. Bà con mà, ai mà để ý chuyện tình ý kỳ cục của ảnh. Em chỉ xem ảnh như anh thôi, bạn của anh tư Phúc, anh sáu Toản mà. Ðến hồi biết em đã lập gia đình, lúc đó mình có thằng Thông thì phải, ảnh tự tử chết mới khổ chớ.

     Nữa, lại chuyện gì đây? Tấn nghi ngờ:

     - Làm sao em biết được người ta tự tử?

     - Nghe nói ảnh đang làm Tiếp vận và đâu mới đổi về Ðức Hòa. Không biết ảnh buồn chán đến mức độ nào mà anh dám lấy súng lục bắn vô đầu. Ðể lại một bức thư tuyệt mạng cho bà già.

     - Em có đọc lá thư trong đó nói gì không?

     - Chỉ nghe anh tư Phúc kể lại.

     - Anh Tư sạo với em, cho em lên một chút mà em cũng tin thiệt. Mà anh đó tên gì? Tại sao từ hồi đó đến giờ em cũng chưa hề nói cho anh nghe?

     - Nói cho anh nghe cũng đâu có lợi lộc gì, buồn thêm thì có. Tự nhiên không ít thì nhiều em bị mang tội giết người. Không biết ảnh tên thiệt là gì, chỉ biết ở nhà kêu là Chuột Nhỏ. Hai anh, anh Chuột Lớn anh Chuột Nhỏ. Thiệt tội nghiệp.

     Lại một chuyện sống để bụng chết mang theo tự nhiên bật mí. Tấn xét lại chuyện mình, không biết hồi xưa có ai thương mình rồi mộng không thành đi tự tử hay không? Hình như không có. Phá thai thì có, nhiều lắm. Cũng không làm sao đem chuyện đó nói với Hồng cho được. Tấn tiếp tục khai thác những bí mật của vợ:

     - Còn ai thương em, mê em, đau khổ vì em nữa hôn, kể hết cho anh nghe một lần đi. Nay em kể chuyện tên này mai em kể chuyện tên kia nghe nó nhức nhối lắm, thà cho nó thấu xương một lần.

     - Em nhớ tới đâu thì nói tới đó, thiệt hổng biết bao nhiêu chuyện vớ vẩn lẩm cẩm hồi còn nhỏ. Mà anh nghĩ lại coi thời tuổi trẻ của mình sao mà hồn nhiên, vô tư, vui vẻ quá hả? Bây giờ con cái ngày một lớn, đủ thứ chuyện lo chán quá! Ước gì mình trẻ lại, ước gì mình được sống ở quê nhà. Ước gì em có dịp dẫn anh về quê ngoại bên làng An Hóa...

     - Sorry, I thought you already get off the phone. I need to talk to you.

     Tấn bụm ống nói:

     - OK. I will be there, soon .

     Thằng xếp của Tấn giống như người nhắc tuồng đến thật là đúng lúc. Cứ mỗi lần Hồng ước gì, ước gì... là Tấn sợ. Kinh nghiệm bản thân cho biết nếu để Hồng tiếp tục thả hồn mơ màng về quê hương thì chẳng bao lâu Hồng sẽ sụt sùi, nghẹn ngào. Âu cũng là một cách hạ màn không viết trước. Tấn muốn chấm dứt bằng một câu trây trua với vợ, chỗ này chẳng đứa nào nghe được tiếng Việt:

     - Má my, anh phải đi gặp thằng xếp. Em tắm rửa sạch sẽ rồi nằm sẵn đó chờ anh, lát nữa anh về anh trị tội.

     - Kẹt rồi, em cũng mới bị. Ai biểu hồi hôm tối thứ sáu mà anh lại ngủ khò sớm như vậy.

     Tấn thất vọng. Ðiệu này nếu không làm overtime được ở nhà thì cũng nên tiếp tục làm overtime ở hãng:

     - Bậy bạ quá! Em muốn bắt chước con Duyên bữa nay làm con gái mười ba mới có period lần đầu hả? Sợ hôn? Vậy tối nay anh về trễ trễ một chút nha, anh ở nán lại đặng làm xong cái project này cho rồi.

     - Trễ là mấy giờ?

     - Tám chín giờ, khoảng đó! Chớ em nghĩ coi bài anh thuộc làu làu mà cô giáo cấm không cho trả, thì em cần gì phải hối thúc anh về sớm sớm chớ.

     - Thôi cũng được.

     Tấn gác điện thoại, cấm đầu cấm cổ đọc cái văn thư trước khi đi nói chuyện với xếp. Một buổi chiều thứ bảy, hừ, một buổi chiều làm overtime với muôn vàn hình ảnh Việt Nam.

   back to top

07. MỘT MỐI TÌNH GIÀ

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Vì chạy theo công việc mà gia đình Trung phải dọn về Lexington, North Carolina. Một thành phố tương đối nhỏ so với các thành phố lân cận. Tuy nhiên cộng đồng người Việt ở đây không phải nhỏ. Ðiều đặc biệt là phần lớn dân ở đây đều là dân trí thức. Nhiều người đỗ kỹ sư, tiến sĩ, thạc sĩ.

     Với căn bản tú tài hai và một hai năm đại học không tín chỉ, Trung nghĩ chỗ đứng của mình trong cộng đồng có lẽ cũng không đến nỗi tệ. Nhưng ở đời có mấy khi nghĩ gì trúng nấy. Tưởng tượng một đường mà thường thường thực tế lại một nẻo. Trung cũng muốn đến trường đi học cho quen mặt chữ với người ta, nhưng hoàn cảnh không cho phép. Tuổi tác coi như đã muộn màng, cộng thêm sự trễ nải đôi ba năm nằm bên đảo khi chạy thụt mạng sang đây. Rồi lớp nào tiền nhà tiền xe, lớp nào tiền trả vé máy bay tỵ nạn cho cả gia đình mười người, lớp nào tiền quà cáp gửi về Việt Nam... thôi thì trời kêu ai nấy dạ: bằng lớn giựt không được thì giựt bằng nhỏ. Bằng cu-li.

     Chỉ hận cái bà Bùi, tiến sĩ Nguyễn thị Bùi, lên mặt kẻ cả khuyên Trung một câu:

     - Qua bên này việc học hành, cấp bằng rất là quan trọng, cậu có biết không? Cầm được cái "tấm giấy lộn" đó trong tay, cậu dù có làm lương minimum wage đi nữa, đi đâu cũng có người nể nang kính trọng.

     Hóa ra dân Việt mình ở xứ người trọng nhau, nể nhau chỉ vì tấm giấy lộn? Còn lễ nghĩa nhơn tình để đâu, chẳng lẽ bà con xem thường vứt hết vô sọt rác. Và nếu quả như vậy thì Trung dù có làm lương gấp đôi gấp ba lần minimum wage , tiếng nói của Trung cũng không có người nghe? Kỳ thiệt. Cái quan niệm nghèo mạt cổ hủ đó của dân Việt Nam đi đâu vẫn cứ mang theo, đem ra xài hoài không biết chán. Trung không bênh cái nghề cu-li của mình, cu-li thì có gì để bênh, nhưng phải hiểu rằng nghề nào cũng vẫn là nghề. Phải biết là đôi khi có tiếng mà không có miếng. Phải biết là mấy ông kỹ sư điện, kỹ sư hóa học chưa tìm được việc vẫn đi làm minimum wage ở Mc Donald, Burger King dài dài. Thiếu cha gì ở đây. Không làm vậy thì con đường duy nhất chỉ là con đường tiếp tục học lên mà thôi. Mà chẳng lẽ chạy qua đây để đi học suốt đời. Với Trung, dầu gì đi nữa cái giá trị của con người chưa hẳn đã tùy thuộc hoàn toàn vào tấm giấy lộn.

     Nhà Trung thuê nằm trong khu ít người Việt. Nói nhà thì cũng hơi quá đáng, thực ra đây chỉ là một nửa của cái duplex . Lúc mới dọn tới, người đầu tiên đến xông nhà của Trung là bà Bùi. Tự nhiên như hồi ở Việt Nam, bà không cần gọi điện thoại, không cần make appointment . Không phải bà không biết luật lệ giang hồ ở Mỹ, nhưng sở dĩ bà tự tung tự tác muốn viếng thăm thiên hạ bất cứ lúc nào tùy ý bà là tại vì bà đang làm ở văn phòng phụ trách về dân tỵ nạn Á Ðông. Bà tự coi mình như là người bảo trợ chung cho cả ba dân tộc: Việt, Miên, Lào. Thậm chí bà còn tưởng chính bà là người ban ơn, bố thí trợ cấp xã hội cho những người được hưởng. Muốn cho ai thì cho, toàn quyền quyết định, sinh sát. Chẳng trách mấy người Việt gốc Lào gốc Miên, có người đã có cháu nội cháu ngoại mà vẫn gọi bà bằng bà và xưng con ngọt. Mà tại sao bà không biết ngượng hà?

     - Già quá bấm hết vô thì còn ngượng ngùng cái nỗi gì. Vả lại nếu biết ngượng thì làm sao có cả chục thằng boy-friend một lượt cho được.

     Thiệt vậy à? Trung chỉ biết sơ sơ là bà ta đã sắp sửa ngũ tuần nhưng vẫn còn độc thân. Ðộc thân thứ thiệt, phải gọi bà miss Bùi đàng hoàng. Nghe đâu bà du học bên này từ hồi ông Diệm và là em ruột của cựu đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Maroc. Chịu mồ hôi Mỹ quá cho nên bà không thèm về nước. Mãi đến ngày mất nước, tình cờ gặp lại đồng hương tản lạc chạy sang đây bà mới ngậm ngùi than thân trách phận: ôi, biết ngày nào ta mới được trở lại quê hương? Rõ, đau khổ!

     Kể từ khi chương trình đoàn tụ gia đình có tiếng vang, bà Bùi càng ngày càng trở thành nhân vật quan trọng trong cộng đồng. Mặc dù ở đây có nhiều cử nhân, tiến sĩ, bác sĩ nhưng đâu phải ai có bằng cấp cao thì dịch được khai sinh, hôn thú, thẻ căn cước, chứng chỉ tại ngũ... Bởi dư thì giờ ăn không ngồi rồi cho nên bà Bùi nhảy ra cáng đáng đòi dịch mấy giấy tờ hình hộ, luật pháp cho đồng hương. Trong khi chuyên môn của bà thuộc về ngành xã hội. Trước làm giúp sau lấy tiền và từ từ bà ta có thêm một nghề tay trái.

     Nhưng phải đợi cho đến khi chương trình xin vào công dân Mỹ được phát động rầm rộ thì bà Bùi mới thật sự là nhân vật số một trong cộng đồng. Số một đây không phải tại vì bà sẽ là người đích thân đứng ra làm lễ tuyên thệ cho đồng bào, mà chẳng qua chỉ là người có trách nhiệm phát đơn cho xóm giềng bà con! Ê, chỉ việc phát đơn cho xóm giềng bà con thì có gì quan trọng mà phải gọi là number one ? Có chớ. Ðộc quyền phát đơn, monopoly . Xin Mỹ, Mỹ không cho, chỉ lại bà ta. Rõ ràng có sự bắt tay, cả bọn săn-tăng ăn-công-ký với nhau. Kết bè đánh lận con đen, đầu cơ tích trữ đơn nhập tịch, black market đồng chủng đồng hương. Không chịu thì thôi. Ai có ngon thì mặc sức chịu khó bỏ ra nửa ngày xách xe chạy xuống trung tâm di trú và tỵ nạn của tiểu bang ở Charlotte mà xin đi.

     Bà làm ơn nghĩ tình cháu..., chị làm ơn nghĩ tình em ..., ngọt xớt như đường phèn vậy thì may ra bà chị mới bố thí cho xấp giấy của nhà nước, có hơi hám mấy đồng tiền đóng thuế của mình. Lẽ dĩ nhiên bà cháu, chị em chỉ là trước mặt hay trên te'léphone thôi chứ còn sau lưng hay trong bụng hả, thiên hạ ai ai cũng nghĩ... ngược lại. Bà biết nhưng bà vẫn lờ đi, lên mặt được lúc nào hay lúc đó. Cầm được mấy tờ đơn ân huệ trong tay chưa hẳn đã chắc ăn đâu, vì nếu sơ ý lỡ tay làm trật một cái thì kể như tiền mất tật mang, nước bọt thành nước dãi. Ðơn xin lần thứ hai bắt buộc phải gay go hơn lần thứ nhất nhiều. Gãy lưỡi năn nỉ mà vẫn bị nặng lời, đại khái:

     - Cậu có biết cậu đã vô tình thâm lạm công quỹ không?

     Trời đất, cộng sản cũng chưa bằng! Mà câu nói này nên để cho bộ đội nón cối, công an thành nói thì đúng hơn. Công quỹ của Mỹ tỉ tỉ đô la mà nhằm nhò gì ba cái đơn từ lẻ tẻ này, bà chị Bùi. Biết nói cho lắm rồi rốt cuộc vẫn là:

     - Thôi cậu gửi tôi mấy con tem đi, tôi sẽ bỏ phong bì gửi về tận nhà.

     Thiệt là hết chỗ nói! Chớ còn mấy con dấu đóng tem bulk rate đó đâu, sao không ấn xuống một cái cho đám tha hương này nhờ. Nhiễu điều phủ lấy giá gương , đương nhiên bà phải nhớ câu này. Nhưng đối với bà, người trong một nước có lẽ không có giống da vàng. Mới nhớ ra bà chị là những kẻ đứng bên lề. Bà nào có dịp được làm thuyền nhân, chạy loạn vắt giò lên cần cổ thì làm gì bà biết. Mà thử hỏi: có hay không một bà Bùi thứ hai trên đất Mỹ?

     Nhưng phàm con người ta đã lên đến đỉnh cao tuyệt đỉnh, number one rồi thì trước sau gì cũng có ngày đổ dốc. Anything that goes up must come down . Ngày đổ dốc, down hill của bà đã đến. Ðó là ngày mà ông bác sĩ Tiến phàn nàn rằng không biết bà Bùi vì vô tình hay cố ý mà dám cho ông born out of wedlock của ba má ông. May là bà Mỹ nhận đơn xin đoàn tụ gia đình hỏi lại nên mới lòi ra cớ sự:

     - Mầy có phải là con sinh ra trong khi cha mẹ mầy chưa có lập hôn thú không?

     Ông giẫy nẩy:

     - What? No, no, no. Á à...

     Bác sĩ Tiến giận bà Bùi tím gan. Bả dám tố cáo không bằng chứng, nhưng ràng ràng trên giấy trắng mực đen, rằng hồi xưa mẹ ông Tiến có chửa hoang. Cho nên ổng không làm tùm lum sao được. Ổng đòi thưa bả rà tòa vì cái tội tự khai mình có đầy đủ khả năng để dịch: I am competent to translate ... "Phán rằng án này thế vì khai sinh cho: Phan Tiến" thì đâu có gì dính líu với hôn thơ, giá thú? Giấy tờ đoàn tụ của ông Tiến vì vậy mà phải bị đình trệ, mãi cho đến khi nhà nước cộng sản Việt Nam ngưng cấp giấy xuất cảnh mới điều chỉnh xong.

     Cái huông xuống dốc của bà Bùi cũng chưa chịu ngừng tại đó. Ai đời đám đàn ông ở đây lủ khủ, trăm thiên mà bà dám đứng ra triệu tập buổi họp để thành lập hội ái hữu cho cộng đồng. Chắc bả muốn làm bà chủ tịch? Hừ, bà chẳng những không được làm bà chủ tịch mà còn bị trở thành "bà lái heo!"

     Số là ngày họp hôm đó cũng cận Tết, cho nên ban đại diện mới được bầu lên đề nghị sẽ làm một con heo quay cho tiệc mừng xuân, đón Tết năm này. Bà Bùi xung phong lãnh đạo việc mua bán, đổi chác với lò thịt. Ông Sâm, Lương Triệu Sâm, người tình già của bà thống thiết kết luận một câu:

     - Không ngờ "chị" Bùi của tôi sang đây lại học được nghề lái heo. Giỏi thật!

     - Tướng của bả làm bà "giặc nái" coi cũng được mà...

     Như nhớ lại thời vàng son, ông Văn cựu "giặc lái ngụy" bỗng dưng phát ngôn một câu bừa bãi làm mọi người cùng cười vang. Bà Bùi, bà lái heo, chết tên kể từ đó.

     Ông Sâm chính là người đang ở cạnh nhà Trung. Next door neighbor , đang làm chủ một nửa cái duplex phía bên kia. Ổng là người thứ hai xông nhà của Trung sau bà Bùi. Hình như ông nhỏ hơn bà Bùi một hai tuổi cho nên bên ngoài ông vẫn gọi bà Bùi bằng chị. Tuy nhiên hai người nếu xáp lại gần nhau trông rất xứng đôi vừa lứa. Dĩ nhiên cho mối tình già. Bà Bùi độc thân, còn ông Sâm thì mặc dù một vợ hai con, nhưng đang đăng ký độc thân tại chỗ. Thuyền về bến có mòi thuận buồm xuôi gió vậy mà có người đang tâm muốn bẻ gãy tay chèo, thọc gậy vào bánh xe:

     - Hứ, gái tơ mà phải lòng trai có vợ!

     Tơ với không tơ? Rồi bả phải lấy ai bây giờ? Lấy Mỹ à? Mỹ lấy từ khuya rồi, chán ngấy rồi nên mới thèm của quý gởi qua từ quê nhà. Dạo ấy cũng chính là lúc bà đang làm đầu tàu, xách động đẩy mạnh một phong trào mới: phong trào phụ nữ liên đới tìm cách ly dị chồng mũi lõ mắt xanh cho mấy bà lấy Mỹ. Ðể về với quê hương, trổ tài tìm hiểu trai mới lớn, trai tân? Phải, trai mới lớn bên này lềnh khênh, lúc nhúc như vòi vì con gái đứa nào chẳng ngó lên. Thôi thì mấy bà mặc sức mặc tình lựa chọn, và cũng có bà thành công.

     Trời mưa nước chảy qua sân
     Em lấy ông Mỹ qua lần thì thôi
     Bao giờ ông Mỹ chầu trời
     Thì em lại kiếm một người trai tơ
     Trai tơ ơi hỡi trai tơ
     Ði đâu mà vội mà quơ nạ-dòng


     Ðó là những câu ca dao mới, "lấy ông Mỹ" thay vì "lấy ông lão." Nhưng người đời ở bên này đã lai Mỹ quá xá rồi, phàn nàn hay chỉ trích gì gì thì cũng vậy, nói thẳng:

     - Có ai trai tân mà phải lòng gái già? Ðã vậy, gái già lấy Mỹ hai ba con. Ham đồ cũ, đi chôm vợ second hand? Thằng ăn cái chi mà ngu quá vậy!

     Những câu nói xiên xỏ đó mỗi ngày Trung nghe rõ mồn một bên tai, tại vì nhà của ông Sâm là chỗ chứa bài. Xì phé, xì lát, xập xám, tứ sắc..., đủ hết, không thiếu món gì. Ðánh lớn có đánh nhỏ có và đôi khi đánh lộn cũng có. Không riêng gì đàn ông con trai mà luôn cả đàn bà con gái: kẻ đánh thay chồng người nắm luôn tay con. Rần rần như cái chợ. Hồi nào nhà mới dọn vô Trung đã muốn dọn trở ra ngay, chỉ ngặt một điều là khó mà tìm được một chỗ nào giá cả tương đối khả dĩ như chỗ này. Lần lần rồi Trung cảm thấy mình lia thia nay đã quen chậu.

     Trung không biết chính xác quê quán của ông Sâm ở làng nào, quận nào, tỉnh nào. Ổng chỉ nói mơ hồ là tổ tiên của ông sinh ra trên vùng đất "sơn bất cao thủy bất thâm." Và có lẽ không bằng lòng với mệnh trời "nam đa trá nữ đa dâm" cho nên ông mới đặt tên hai đứa con của ông, một trai một gái còn kẹt với vợ ông ở bên nhà, là Lương Thâm Sơn và Lương Cao Thủy. Trung nghĩ rằng: Thâm Sơn thì hợp với cùn cốc thâm sơn, tên người con trai còn nghe được; chớ Cao Thủy thì ắt hẳn không hợp với giang cùn thủy tận, tên người con gái nghe không ổn chút nào hết. Như vậy chắc khó mà cải được cái mệnh trời!

     Ðể công bằng, trời đã mang tới cho ông một niềm vui đặc biệt khác. Chẳng phải là một giai nhân sắc nước khuynh thành, mà chỉ là anh chàng tài tử Hồng Kông đóng vai Trương Vô Kỵ trong Cô Gái Ðồ Long, Vi Tiểu Bảo trong Lộc Ðỉnh Ký, Cầu Diêm Khách trong Hoàng Hà Ðại Phong Vân... Lương Triều Vỹ. Nhưng khác với mấy bà mấy cô mê mệt anh chàng này vì tài diễn xuất, ông Sâm mê chỉ có cái tên. Ông có cảm tưởng như anh chàng này có bà con họ hàng gì lâu đời với mình. Không bà con sao được khi ông chỉ cần sửa chữ lót của mình từ chữ Triệu thành chữ Triều:

     - Hừ, Lương Triều Sâm. Hay, hay. Thanh tao, hảo hán.

     Ông gật gù với chính mình như vậy.

     Phiền một nỗi ông có sửa chữ gì, kiểu gì vẫn có người gọi ông bằng cụ, Cụ Sâm. Chửi cha không bằng pha chữ , ấy vậy mà có nhiều người bắt chước giọng của ông nhưng nói không rành, trọ trẹ thành ra Củ Sâm. Củ Sâm thì cũng được đi. Chỉ có mấy thằng Mỹ nghịch tự trong hãng cứ gọi ông rõ ràng là Cu Sam, của quý của Uncle Sam . Mấy người làm chung hiểu ý giải thích cho ông biết, tưởng là ông sẽ bừng bừng tức giận ai dè ông lại khoái chí. Cười híp mắt.

     Ông Sâm coi vậy mà tục một cây. Ngoài những tiếng địa phương của ông ít người biết tới, ông còn dạy Trung luôn những tiếng lóng miền Bắc, chẳng hạn như cái "buồi" của đàn ông và cái "lập là" của đàn bà mà chính Trung tới bây giờ cũng chưa cảm nhận sâu xa được. Ngôn ngữ mỗi miền mỗi khác và Trung thích kiểu miền Nam hơn, nói huỵch tẹt ra luôn cho nó gọn... Ông Sâm đến từng tuổi đó mà mở miệng ra là ổng cứ xài giấy năm trăm. Không có tiếng lóng tiếng liếc gì cả. Chửi thề như là một cái bệnh vô phương cứu chữa của ổng. Mà cũng lạ, không bao giờ nghe ổng chửi thề khi có mặt đàn bà, con gái hay là những đêm ổng hứng tình ngâm thơ: thơ tục.

     Chuyện ông Sâm hứng tình ngâm thơ là chuyện họa hoằn lắm mới thấy xảy ra. Có thể coi đó là một sự trùng hợp của nhiều yếu tố, nhiều điều kiện tiên quyết. Vào cuối tuần, vắng sòng bài bạc, có bạn bè thân thích, có mồi ngon rượu quý..., và nhất là phải có người đưa hơi... thơ.

     Ông Sâm chịu bác sĩ Tiến vào đề lắm, vì ông này cũng một cây thuộc nằm lòng mấy bài thơ chỉ dành riêng cho phái nam. Nhưng bác sĩ Tiến có một ngoại lệ là không bao giờ đem mấy bài quen thuộc của bà Hồ Xuân Hương ra làm bài dẫn nhập.

     Ít ra cũng phải như vầy:

     - Này cụ Sâm, có bao giờ cụ ngâm bài thơ "Hái Chè" cho bà Bùi nghe chưa? Quên mất là của ai rồi, nhưng bảo đảm bà Bùi bả mà nghe được chắc bả phải mất vía, té ngửa ra đó. Ðây:

     Hôm qua em đứng hái chè
     Có thằng phải gió nó đè em ra
     Em xin nó chẳng chịu tha
     Nó đè nó đút đầu cha nó vào
     Ối giời em sướng làm sao
     Em càng lúc lắc nó càng vào sâu


     Trung phụ họa:

     - Ðã thiệt. Nhưng, bên này làm gì có vườn chè, vườn trà để mà hái anh Tiến? Bộ anh tính xúi bác Sâm làm bà Bùi tại trận trong Groger, Food Lions, Safe Way, Piggly Wiggly à?

     Không để tâm vào câu nói của Trung, ông Sâm cho ý kiến:

     - Cái đó trắng trợn tục tĩu quá, ngửi không vô. Tao nhân mặc khách thì phải ngâm những bài thơ như vầy. Ðể coi, à, bài thơ này tuyệt. Luôn cả cái thể thơ cũng tuyệt. Có nghe thơ thất ngôn tam tuyệt, độc ngôn tuyệt chưa?

     Trung xen vào:

     - Cái gì bác Sâm? Xưa nay cháu chỉ nghe lục bát, ngũ ngôn, bát ngôn, thất ngôn bát cú... làm gì có thứ tuyệt tuyệt.

     Ông Sâm từ tốn:

     - Loại thơ này đã thất truyền từ lâu rồi, cứ nghe tôi ngâm rồi sẽ hiểu. Này, hãy tưởng tượng cảnh hai vợ chồng đang nằm trên giường. Bây giờ vợ trách chồng:

     Dài lưng tốn vải để làm chi
     Tắm mát ăn no lại ngủ khì
     Mình ơi thức dậy chiều em tí
     Ði


     Ông Sâm đắc ý mỉm cười, rồi tiếp luôn:

     - Ði. Ha ha, có thấy cái độc đáo của độc ngôn tuyệt chưa. Một chữ thôi, làm nhiệm vụ của cả một câu. Ðộc hơn nhứt dương chỉ nữa. Nghe lại nè: Dài lưng tốn vải để làm chi, tắm mát ăn no lại ngủ khì, mình ơi thức dậy chiều em tí, đi...

     Bác sĩ Tiến như bị thấm đòn, chống hai tay bên càm thừ người ra suy nghĩ. Trung nói:

     - Hay. Hay thiệt và lạ lùng thiệt... Rồi sao nữa bác Sâm, phải tới phiên anh chồng trổ tài đối đáp chớ?

     - Ðúng vậy, cái anh này cũng biết thưởng thơ. Nhưng đừng có nóng nải. Ðây, anh chồng trả lời:

     Ba ngày mắc bận việc văn bài
     Mỏi cả xương sườn mỏi cả vai
     Mình ơi cho anh xin gác lại
     Mai


     - Cái ông này giống bác quá bác Sâm ơi, coi bộ hết sí quách rồi. Việc văn bài thì có gì đâu cực nhọc mà mỏi cả xương sườn mỏi cả vai. Tù cải tạo cộng sản bị hút hết gân hết cốt, hết xương hết tủy mà qua đây người ta còn cưới vợ mới, làm ăn dài dài. Cái ông nhà thơ này yếu quá!

     - Bởi vậy cho nên nó bị con vợ nó chê, cằn nhằn. Lẳng lơ như thế này:

     Ông này sao lắm chuyện lông bông
     Rán chút cùng em có tí bồng
     Nay cứ hẹn mai mai hẹn mốt
     Không


     - Hay. Lại y chang như bà Bùi. Bả chịu hết nổi bác Sâm à? Rồi trong trường họp này bác phải tính sao đây?

     - Thì mình cũng phải phản đòn chớ. Ðộc hơn thịt vịt xiêm lai này này...

     Ông Sâm gắp một miếng thịt vịt bỏ vào miệng, trệu trệu một hồi rồi nuốt trọng. Thêm một hớp rượu đưa cay, xong, ông thong thả ngâm tiếp:

     Ngủ chung lắm lúc bực mình sao
     Mình thì muốn không nó cứ gào
     Muốn chết thì ông cho nó chết...


     Ngừng một chút ông Sâm đưa ý kiến:

     - Ðó, còn chữ chót tôi để cho ông Tiến này, anh Trung này đâu làm ơn làm cái chấm hết, on-boong-phi-nanh , cho chàng thi sĩ coi.

     - Một chữ thôi?

     - Thì phải một chữ thôi chớ sao. Ðộc ngôn tuyệt mà lị.

     - Với tuổi sung sức của cháu, cháu xuống bút như thế này: Vào!

     - Còn ông Tiến, sao?

     - Cũng "Vào" luôn!

     Ông Sâm lắc đầu nguầy nguậy:

     - Không xong, không xong rồi... Người ta đang ở trên giường mà vào là vào đâu? Nếu đang đứng xà nẹo dưới bếp thì được. Ðây chữ cuối này nhà thơ diễn tả một cách hết sức lâm ly, ai oán, rùng rợn:

     Nào ...

     - Có lý, có lý quá! Quả là tâm hồn thơ. Bài này của ai vậy bác?

     - Ðừng hỏi thơ của ai! Của bạn bè! Người làm thơ và người thuộc thơ đều là bạn bè với nhau cả. Nhớ được bài thơ đã là may phước...

     Nãy giờ như chờ mãi mới tới phiên mình, bác sĩ Tiến gằn giọng lấy hơi:

     - Xong chưa cụ Sâm? Cụ nhớ đời bài thơ này là phải. Ðây, bây giờ hãy nghe thơ của quan Huyện từ kinh đô gửi về quê cho vợ bé, với sự chiếu cố rất nồng nàn của Cống Quỳnh;

     Này thơ quan Huyện gửi về quê
     Nhắn bảo bu bây chớ ngứa nghề
     Kinh đô anh mang thằng cù lẳng
     Quê nhà em giữ cái trai he
     Hãy còn vướng vít như hang thỏ
     Hay đã tan hoang như lỗ tê
     Có ngứa nén lòng xin cố nhịn
     Ðợi hai ba bữa nữa ta về


     Không có giọng ngâm lê thê trầm bổng hoặc đứt khúc đứt đoạn như ông Sâm, bác sĩ Tiến thường đọc bài thơ luôn một lèo. Trung nêu thắc mắc:

     - "Cù lẳng" với "trai he" là cái gì hả anh Tiến?

     - Cái anh Trung này lại hỏi khó! Thì đại khái cũng giống như "buồi" với "lập là" mà cụ Sâm hay nói vậy.

     Ông Sâm khen:

     - Ðược lắm, được lắm. Thời buổi này cái lỗ nào lại chẳng bằng lỗ tê, lỗ trâu...

     Rồi ông Sâm chuyển qua thứ khác:

     - Bây giờ đến lục bát nghen, nghe này:

     Lấy chồng từ thuở mười lăm
     Chồng chê tôi bé không nằm với tôi
     Ðến năm mười tám đôi mươi
     Tôi nằm dưới đất chồng lôi lên giường
     Một rằng thương hai rằng thương
     Có bốn chân giường gãy một còn ba
     Ai về nhắn mẹ cùng cha
     Chồng tôi nó đã giao hòa với tôi


     - Lần này làm dữ quá vậy bác Sâm! Sập giường, gãy giường mà cũng đem được vào thơ thì thiệt là hay.

     Bác sĩ Tiến im lặng, trầm ngâm. Ông Sâm buồn buồn giải thích:

     - Sập giường, gãy giường này không phải là lúc sung sướng đến cực điểm như anh tưởng đâu, mà là đau khổ đến tận cùng ấy. Có biết bài thơ này của ai không?

     Hỏi cho có hỏi vậy thôi, vì ông Sâm đã tự mình trả lời ngay:

     - Của nhà cách mạng lão thành Phan Bội Châu. Mục đích của ông là để nhắn nhủ đôi lời với các nghĩa sĩ của ta tại quê nhà. Lấy chồng từ thuở mười lăm có nghĩa là cụ đi làm cách mạng vào năm 1915, đến năm mười tám, hai mươi thì cũng vậy ám chỉ năm 1918, 1920 của thời Ðệ nhứt thế chiến. Chồng là thằng Nhật Bản, vì muốn bành trướng thế lực trong vùng Ðông Nam Á, mà phải nài nỉ bắt tay với cách mạng. Bốn chân giường ám chỉ bốn người lãnh đạo phong trào Ðông Kinh Nghĩa Thục tức Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Cường Ðể và Nguyễn Thượng Hiền. Gãy một còn ba là tại vì cụ Tăng Bạt Hổ mất sớm...

     - Thiệt vậy hả bác Sâm?

     - Chớ anh bình thơ, giải thơ của cụ như thế nào nữa đây?

     - Không ngờ bác Sâm ngoài chuyện nhớ thơ còn nhớ lịch sử nữa. Cháu bây giờ quên tuốt luốt hết rồi. Rõ, hậu sanh bất khả úy, tệ thiệt...

     Và đúng là tệ thiệt. Vì đó là lần ngâm thơ duy nhất của ông Sâm và bác sĩ Tiến mà Trung cảm thấy có ý nghĩa. Nó làm cho Trung, dù chỉ là thoáng qua, tưởng nhớ đến những vị anh hùng đã xã thân bảo vệ đất nước quê hương, chống địch ngăn thù. Những lần khác chẳng qua chỉ nhằm vào người tình già Nguyễn Thị Bùi của ông Sâm. Những bài thơ tục không chỗ nói.

     Rất tiếc ông Sâm không còn ở đây nữa. Ông không còn là next door neighbor luôn luôn ồn ào của Trung nữa. Người bạn già đã mang lại cho Trung chút ít hương vị quê nhà. Kể từ khi một gia đình Mỹ dọn vô, Trung và gia đình coi như bị xô vào cảnh cô độc, lẻ loi.

     Ông Sâm phải đổi đi xứ khác làm ăn vì chuyện khủng hoảng tình cảm không tránh được đã xảy ra giữa hai người. Hai người với hai cá tính rất là khác biệt nhau, mà không hiểu tại sao lại có "cái thuở ban đầu lưu luyến ấy." Ông Sâm phải trả bà Bùi lại cho Mỹ và đó là một giải pháp hợp tình hợp lý nhất. Và Trung nghĩ ông Sâm có lẽ sẽ không bao giờ cảm thấy ân hận. Vì ông còn phải lo vấn đề bảo trợ cho vợ con ông. Thua thiệt xưa nay vẫn là người đàn bà?

     Trong lá thư dài mới gửi, Trung tập tễnh làm thơ, định chấm giúp giùm ông Sâm một dấu chấm hết, on-boong-phi-nanh , cho một mối tình già mà chẳng biết có được như ý muốn của ổng hay không. Trung viết như vầy:

     ... bác có biết hiện thời ở xứ này trẻ con hay hát những câu đồng dao sau đây:

     Bà Bùi với lại ông Sâm
     Chưa ăn đã bới chưa nằm đã mơ
     Trách ai lòng dạ hững hờ
     Lexington chẳng ở chạy sang bờ Cali...


   back to top

08. SỐ PHẦN

             NGUYỄN TẤN HƯNG

     Thuở sinh tiền, ông nội tôi là người có chức phận trong làng. Làng Bình Phan quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho. Người trong làng thường gọi ông nội tôi là ông Hương thân Lành, vì rất đơn giản: ông nội tôi làm Hương thân và tên Nguyễn văn Lành. Tấm giấy chỉ định chức vụ được ông nội tôi lọng kiếng đàng hoàng, đem chưng ngay giữa phòng khách nhà trên. Giống như người ta chưng cái bằng cấp Tiến sĩ vậy. Chữ Hương Thân và chữ Nguyễn văn Lành bự tổ chảng chiếm gần hết nửa tờ giấy, được viết đậm nét bằng mực tím với ngòi viết lá tre thật đẹp.

     Tôi nghĩ ông nội tôi bỏ tiền ra mua cái chức đó cho có bề thế với người ta chớ ông nội tôi không làm cái mốc xì gì trong làng trong xã hết. Tối ngày ông chỉ có việc xách xe máy dầu, chiếc motobécan , chạy rong đi thăm vợ con, cháu chắt mà thôi. Hoặc thỉnh thoảng ông đi coi ruộng hay đi đá gà. Thời đó, thời 1950, có được chiếc xe đạp hiệu alcon với hai càng thắng bọc theo ghi-đông đã là quá sang nói gì đến xe máy dầu. Như vậy phải nói ông nội tôi là người có của, có bề thế, dư ăn dư để.

     Ở trong nhà nếu có người lỡ kêu vua Gia Long là Nguyễn Phúc Ánh thì cũng chẳng sao, nhưng kỵ nhứt là tiếng Lành tên của ông nội tôi, đừng ai dại mồm kêu ẩu. Phép vua thua còn thua lệ nhà chớ nói gì lệ làng. Chỉ kẹt chữ "ngon" nó thường được âu yếm vuốt đuôi bởi chữ "lành" nên nhiều lần tôi bị má tôi vả thiếu điều tét bản họng.

     - Ông tiên tổ mầy chớ ở đó mà ngon với lành...

     Mà chứng nào rồi cũng vẫn tật nấy, không làm sao kềm hãm được khi mình đang ngon trớn hết sức ngon... lành. Và cũng lạ, chỉ má tôi đánh thôi chớ ba tôi không đời nào đếm xỉa tới việc này. Thì ra nội tướng bao giờ cũng mạnh hơn khi ở trong nhà, tôi thấy như vậy.

     Ông nội tôi có bốn bà nội. Gọi theo thứ tự là: bà nội ruột, bà nội lớn, bà nội ba và bà nội nhỏ.

     Bà nội ruột có năm người con, ba trai hai gái. Sành, Sỏi, Vinh, Hiển, và Thêu. Ba tôi là người con trai thứ, Ba Sỏi. Thành thử, nếu nói về phía bên nội tôi có đầy đủ bác, chú và cô. Kể ra ông nội tôi đặt tên cho con mặc dù không thanh tao nhã nhặn cho lắm nhưng cũng có vần, có ý nghĩa. Có sành sỏi thì mặc may gia phả dòng họ mới có vinh hiển được chớ. Nhưng, mới có vinh hiển được một chút mà nghĩ ngay đến chuyện nhàn hạ, thêu thùa may vá thì thiệt là trật đường rầy hết sức. Bởi cái trật đường rầy hết sức đó mà bà nội tôi mất sớm khi sanh cô sáu Thêu? Vì vậy chỉ có Thêu mà không có Thùa. Và cũng không có May, Vá gì nữa cả.

     Rất tiếc tôi không biết nhiều về bà nội ruột của tôi vì bà mất lâu lắm trước khi tôi sinh ra. Ngay cái khuôn mặt của một người đàn bà đứng tuổi, đẹp nghiêm trang trong tấm hình họa lớn cũng không cho tôi một ấn tượng nào. Mặc dù tôi được thấy nhiều lần. Nhiều lần tôi đốt nhang bàn thờ ông bà nằm phía hiên tây. Khác với ông nội tôi, mỗi lần nhắm mắt lại là tôi có thể hình dung không những những đường nét nhăn nheo trên mặt, má hóp mắt sâu, mà luôn cả dáng đi tướng đứng cũng như tiếng cười giọng nói của ông.

     Bà nội lớn không có con. Lúc về già sống thui thủi một mình ở miệt Bình Phục Nhứt thấy mà tội. Chỉ tại vì bà không chịu ở với đứa con, đứa cháu nào hết. Nhưng, nhờ vậy mà Tết năm nào tụi tôi cũng có dịp viếng thăm nội. Ði Tết nội, đem trà lá bánh mức cho nội.

     Rồi tiện đường đi thăm luôn bà cố trong chợ Mới cách đó vài cây số đường xe ngựa (mãi sau nầy mới có xe lam). Bà cố tôi sống rất thọ, đến 104 tuổi mà không hề lẫn. Vào một đêm nào đó đã ghi sẵn trong sổ Nam Tào, bà ngủ luôn giấc ngủ ngàn thu, không một lời trăn trối. Trưa ngày sau, ông Ba tức là anh thứ ba của ông nội tôi, đi viếng mẹ hằng ngày như thường lệ mới phát giác ra là bà đã mất. Bà cố tôi sống một mình trong căn nhà nhỏ nằm bên góc trái nhà của ông Ba, tự lo chuyện nấu ăn, tắm giặt cho đến ngày chết. Ðám ma của bà cố tôi tại chùa Chợ Mới làm lớn lắm vì con cháu tụ về quá đông. Bà đã có cháu sơ, cháu sở gì rồi. Bác Hai tôi lúc đó làm Chủ tịch Hội đồng xã Bình Phục Nhứt nên có ra lệnh bắn mấy phát mút-cơ-tông dàn chào, lúc động quan cũng như hạ huyệt.

     Bà nội ba cũng không có con với ông nội. Nhưng bà có một người con trai riêng tên Phấn. Tại sao tôi phải gọi chú Phấn là chú Tư tôi cũng không biết nữa. Lẽ ra tôi phải gọi chú Phấn là chú Năm, vì tôi đã có chú tư Vinh là chú ruột rồi. Ðiều tôi biết chắc là chú tư Phấn cao nghều nghệu, cao hơn bác Hai một thước bảy mươi hai của tôi nữa. Tôi chỉ gặp chú tư Phấn vài lần, vào những dịp Tết. Vì tôi nhớ chú hay dẫn tôi đi đánh bầu cua cá cọp ở đầu cầu trên, trước cửa nhà máy xay lúa của ông sáu Quây. Bà nội ba với chú tư Phấn sống an phận với nghề xay hàng sáo và tiệm bán gạo, cám ở chợ Dinh thuộc quận Hòa Ðồng, tỉnh Gò Công.

     Phải nói người đẹp gái và kiểu cách nhứt là bà nội nhỏ của tôi. Bà ở với ông nội tôi có hai người con gái, cô bảy Nhãn và cô tám Lài. Kêu tiếp theo cô sáu Thêu cho đúng thứ hạng, chớ không còn theo vần nữa. Sành, Sỏi, Vinh, Hiển, Thêu, ... thêu gì, ... thêu Nhãn, Lài. Nghe cũng tạm được. Nhưng, tôi nghĩ việc lấy tên hoa quả đặt cho hai cô có lẽ là ý của bà nội tôi. Có điều hơi kẹt cho anh chị em tôi là hai cô còn nhỏ quá, ngang ngang tuổi mà bắt anh chị em tôi phải gọi bằng cô thì cũng hơi ngượng miệng. Trước mặt bạn bè lại càng không ổn chút nào hết. Hai cô nhỏ tuổi hơn chị Hai tôi và chỉ lớn hơn tôi khoảng hai ba tuổi gì đó thôi. Ði học mặc dù khác cấp nhưng cũng chung một trường. Năm cô Tám tôi đậu tú tài một thì tôi đậu trung học đệ nhứt cấp. Năm cô lãnh phần thưởng của tổng thống thì tôi lãnh phần thưởng của tỉnh trưởng. Kể ra cảnh muộn chồng muộn con cũng hơi phiền.

     Mặc dù ba bà nội còn sàng sàng đó, ông nội tôi lúc về già không chịu ở với bà nào hết. Lắm vợ tối nằm không ? Ðã vậy ông cũng không chịu ở với đám con trai. Ông tá túc với đứa con gái, cô năm Hiển của tôi. Có lẽ tại vì cô Năm tôi giàu, giàu nhứt quận Chợ Gạo với hiệu tạp hóa Thuận An ai cũng biết tiếng. Miếng ăn thức uống cho ông nội tôi nhờ vậy có thể được chăm sóc đầy đủ chu đáo hơn.

     Tóm lại, ông nội tôi hồi đương thời làm ăn khá giả và lúc về già cũng được khuây khõa, an nhàn. Ông để lại đời không có gì đáng kể ngoài một mớ ruộng đất, của cải cho con cháu. Người nào không ăn của hương quả thì được ông nội tôi cho vàng và tiền mặt, có ghi rõ trong di chúc.

     Vậy mà bao nhiêu cơ nghiệp tài sản ông nội tôi đã tốn công gầy dựng cả đời người đều phải tiêu tan trong chớp mắt chỉ vì cái nạn cộng sản. Bao nhiêu đất điền để lại cho đám con trai, cho bác hai Sành, ba tôi và chú tư Vinh, tiếp tục làm ăn đều bị xung công, tịch thu hết.

     - Ruộng vườn bây giờ giao cho Bác Ðảng rồi, mình chỉ làm thân ăn nhờ ở đậu trên đất của mình thôi con ơi.

     Ba tôi hay ngậm ngùi kể lể như vậy.

     Nhưng tội nhất là cô Năm của tôi, cô bị đánh tư sản thẳng tay. Nhà lầu hai ba tầng, tiệm hàng xén, tiệm vải, tiệm vàng, tiệm phụ tùng xe đạp xe honda đều bị Bác Ðảng cướp hết. Trở về ruộng cất cái chòi ở cạnh nhà ba tôi, khổ sở trăm bề. Cô không điên vì của đã là may phước lắm rồi.

     Thì ra cái nạn 75 là đại nạn. Cái nạn sâu bọ, ruồi muỗi lên làm người. Câu nói đầu môi này bây giờ đã trở thành ca dao mới. Ðể hàm chỉ cái nạn chung của toàn thể quốc gia dân tộc chớ không riêng gì một ai. Và khổ thay, nguyên cả một dòng họ gia phả chỉ có mỗi mình tôi là chạy thoát được ra xứ người, tránh được cái đại họa không phải tru di mà là... bần cùng tam tộc.

    

     Mười năm sau, mãi đến tháng tư năm 85 tôi mới có tin dượng Tám của tôi đã vượt biên và định cư tại thành phố Ottawa, thuộc tỉnh bang Ontario, Canada. Tôi mừng. Thế thôi. Vì tôi chưa từng gặp mặt ông dượng của tôi lần nào cả. Tôi chỉ nghe phong thanh là hồi tôi đi lính thì cô Tám của tôi lấy chồng. Một giảng viên trường Khoa học và thầy của cô thì phải? Thầy giáo nào chẳng hay mê học trò? Nhứt là học trò đẹp nhứt nhì phân khoa như cô Tám tôi. Với cái nhan sắc mặn mà ở tuổi xuân thì mà bà nội nhỏ của tôi còn để lại.

     Phải đợi thêm tám tháng nữa thì tôi mới mừng thật sự. Vì có tin cô tám Lài của tôi và bốn nhóc đã vượt biên và được an toàn bảo lãnh về Canada đoàn tụ với chồng. Bởi vậy ngay giữa mùa đông tuyết rơi tầm tã mà tôi vẫn phải xách xe chạy cả ngàn dặm về mạn Bắc để thăm gia đình cô dượng Tám. Bà con xa ra xứ người còn quyến luyến nhau huống hồ tình cô cháu tôi ngày nào cùng học chung một trường. Hơn nữa, biết đâu chừng nhờ chuyến ngược Bắc này tôi mới có cơ hội biết thêm cái lạnh thấu xương của những vùng lạnh nhất thế giới?

     Ðó là mùa giáng sinh 85, vợ chồng con cái tôi làm một chuyến xuất ngoại về xứ của băng tuyết: Gia Nã Ðại. Tôi lần theo đường I-81 đi lên. Ghé lại nhà người quen ngủ nhờ một đêm tại thành phố Harrisburg, thuộc tiểu bang Pensylvania. Trưa ngày hôm sau thì đến thành phố Syracuse, thuộc tiểu bang New York. Ở khoảng này, dọc theo đường thỉnh thoảng đã thấy những vách núi "hóa thạch" thành vách băng, vì nước trong núi rỉ ra đông đặc lại thành nước đá. Thành icicle . Với những cột thạch nhủ lộ thiên bự cỡ. Trông lạ lạ với những người quen sống ở miền Nam như tụi tôi.

     Qua thành phố Nước, Watertown, một đỗi thì gặp dòng Saint Lawrence đang lấp ló. Trời mưa tránh trắng trời nắng tránh đen , chỉ một khoảng đen nhỏ ngoằn ngoèo ở giữa vùng băng giá trắng phau. St. Lawrence waterway, một xa lộ đường thủy làm ranh giới giữa Mỹ và Canada nối liền hồ Ontario, một trong năm Ðại hồ, với biển. Chảy qua nhiều thành phố lớn như Montreal và Quebec. Nhưng, trục thủy lộ này bây giờ như bị giới hạn hẳn, không thấy tàu bè qua lại. Mà ơ kìa, ở cái xứ văn minh tột đỉnh này qua cầu cũng phải đóng tiền, mua vé? Thiệt chẳng khác nào qua cầu Chợ Gạo ở Việt Nam! Và nhìn kia, công viên quốc gia Ngàn Ðảo, Thousand Islands National Park! Làm nhớ ngày nào tôi đã đặt chân lên xứ Ngàn Hồ, Thousand Lakes Country, vùng New Ulm phụ cận Mankato, thuộc tiểu bang Minnesota. Ở miền Nam Việt Nam ngàn sông ngàn rạch có dư, mà có ai gọi là xứ ngàn sông ngàn rạch bao giờ. Rõ Mỹ. Cái gì cũng muốn phô trương.

     Rồi vùng trời biên giới giữa Mỹ và Canada cũng không có gì khác lạ. Chỉ là thành phố tiếp nối thành phố thôi. Trạm kiểm soát không có hàng rào kẽm gai, không có chòi canh, không có xe tăng súng ống gì cả. Lạ thiệt. Người gác biên giới đưa tay chận xe, ngó sơ người và hành lý trong xe rồi khoác tay cho đi không quên câu chúc vui:

     - Have a good day, folks .

     Thì ra chuyện vượt biên giới ở các nước Tây phương không có gì đáng lo ngại cả, dễ hơn từ tỉnh này sang tỉnh khác của nước CHXHCN Việt Nam, cộng sản Việt Nam nói trắng ra, là cái chắc.

     Chẳng biết vô ý hay cố tình lây cái tật hay phô trương kỹ thuật của Mỹ, dân tộc xứ Lá Cây Phong không thèm dựng trụ đồng như Thái Thú Giao Chỉ mà chỉ xây gần quan ải một cái tháp thật cao, sừng sững bên đường. Làm vật trấn biên giữa hai xứ. Tôi gán cho nó cái tên "hồ nước một cột," vì có dáng dấp của cái "chùa một cột" ở xứ mình. Chỉ khác một điều là "hồ nước một cột" này cao quá và có cầu thang đi lên vòng vòng như con rắn Y tế, còn "chùa một cột" thì chỉ có mấy bậc tam cấp thấp lè tè...

     Xa lộ Canada cũng không khác gì xa lộ ở Mỹ mấy. Ðiểm khác nhau rõ rệt nhất có lẽ là các bảng chỉ dẫn về khoảng cách, được ghi bằng cây số thay vì dặm. Lại khơi dậy những khoảng cách quen thuộc bên nhà: Sài Gòn - Mỹ Tho 70 cây số, Sài gòn - Vũng Tàu 110 cây số chẳng hạn. Vận tốc giới hạn là 100 cây số giờ, thấp hơn vận tốc giới hạn tự đặt ra của các tay lái xe đò miền Tây trên quốc lộ 4 là cái chắc. Tấp vô một trạm xăng để đổ thêm xăng. Dung lượng được tính bằng lít thay vì ga-lông. Ôi, sao mà giống cái xứ Việt Nam quá. Hóa ra bấy lâu nay mình bị Mỹ đồng hóa mà mình không hay. Mười năm, ôi mười năm tình tự nhung nhớ quê hương, giờ như đang nổi dậy trong lòng.

     Theo xa lộ 401 chạy dọc theo sông Saint Lawrence một đỗi rồi rẽ qua đường 16 về thành phố Ottawa, thủ phủ của tỉnh bang Ontario. Tất cả vạn vật được phủ trùm một lớp tuyết dầy. Băng giá chất chồng giá băng. Dòng sông Ottawa cũng như những cái hồ nhân tạo đã trở thành những sân khấu rất lý tưởng dành riêng cho bộ môn ice skating . Khu dân chúng cư ngụ nhìn chung cũng giống giống các thành phố khác ở vùng đông bắc Mỹ. Nhà cửa hay cất theo kiểu đưa đầu song ra đường. Hà tiện đất, nhà này cách nhà kia vài bước. Làm như bên hông nhà nào cũng có một cái hẻm nhỏ. Những bậc tam cấp bằng xi-măng bước lên nhà làm khoảng sân trước đã nhỏ càng nhỏ thêm.

     Vòng tới vòng lui hai ba bận tôi tìm được cái chung cư mà cô dượng Tám của tôi đang ở. Chui vô cái lobby ngay cổng chánh bọn tôi bị khựng lại vì cửa bên trong đã khóa kín. Bởi từ ngày qua Mỹ đến giờ gia đình tôi ở toàn là "nhà riêng," chưa từng nếm mùi apartment nên tôi hơi ngạc nhiên, lúng túng. Dân Canadian định làm khó dễ gì đây? Lại một bài học khôn? Loay hoay một chút rồi cũng mò được cách thức vô nhà: phải bấm số để liên lạc với người mình muốn tới thăm.

     - Allo...

     - Cô hả cô Tám? Hùng đây cô, cô mở cửa cho tụi cháu vô đi. Lạnh quá.

     - Ồ, Hùng đó hả? Mới tới hả? Ðể cô mở cửa cho, khi nào nghe tiếng kêu è è thì đẩy vô.

     Tôi làm đúng như lời dặn. Lọt vô trong cảm thấy ấm lại ngay. Nhào vô thang máy, bấm tầng số 4. Cái gì cũng máy móc hết. Cuối cùng tìm được phòng.

     - Vô đi, vô đi. Con của cháu hết đó hả? Mấy trai mấy gái vậy?

     - Dạ, bốn đứa cô. Ba trai một gái.

     - Cô cũng bốn đứa, cũng ba trai một gái. Mấy đứa này có biết nói tiếng Việt hôn?

     Ðám con tôi chạy ào vô nhà. Vợ tôi và tôi chùi giày kỹ lưỡng trên tấm thảm nhỏ trước khi bước vô phòng khách. Tôi trả lời:

     - Tụi nó nghe hiểu được chớ không biết nói đâu cô ơi. Hồi mới qua đây mới có một hai tuổi khó kềm lắm, riết rồi tụi nó như Mỹ. Chào ông Tám, bà Tám và mấy chú mấy cô đi con.

     Ðứa gật đầu, đứa giơ tay tuyên thệ:

     - Hai, hai..., hai.

     - Ừa.

     Rồi cô Tám tôi chê:

     - Chỉ biết hai-ho vậy thôi hả? Mầy dở đó. Cô thấy nhiều gia đình qua đây hồi 75, con cái họ vẫn nói tiếng Việt như thường... Ðây, dượng Tám cháu đây, hai dượng cháu đã gặp nhau lần nào chưa?

     Tôi bắt tay người đàn ông có vẻ lớn tuổi hơn tôi:

     - Hình như chưa, phải hôn... dượng Tám?

     Dượng hỏi dồn:

     - Ừa, mà cháu là thằng anh hay là thằng em vậy cà? Anh chị Ba chỉ có hai đứa trai thôi phải không em?

     Cô Tám tôi giải thích:

     - Ảnh chỉ có ba đứa trai lận. Thằng lớn thằng Tấn, thằng này thằng Hùng, và còn một thằng nhỏ nữa, còn kẹt bên nhà. Mới đó mà anh quên hết trơn vậy.

     Dượng phân trần:

     - Anh đâu có biết đứa nào là đứa nào. Mấy lần nhậu với anh Ba thì nghe ảnh nói sơ sơ về tụi nó, chớ đâu có gặp thằng nào lần nào đâu.

     Tôi xen vào:

     - Như vậy thì chắc cô dượng cũng chưa gặp Lan, vợ cháu lần nào hết phải hôn?

     Cô Tám tôi thở dài:

     - Chưa. Lớn lên rồi mạnh ai nấy đi, tứ tán hết. Cô nhớ sau khi ông nội mất, cháu đi hải quân, cô với dượng Tám cháu lập gia đình. Rồi chẳng bao lâu, cô dượng di chuyển lên Ðà Lạt lập nghiệp. Bà nội về ở với cô kể từ ngày đó. Dượng Tám cháu làm ở Trung tâm Nguyên tử lực, thuộc Nguyên tử lực cuộc Việt Nam, còn cô thì làm trong phòng thí nghiệm sau khi xong bằng Cử nhân Hóa học. Nghe nói cháu sang bên này học giỏi lắm phải hôn?

     Tôi tình thiệt:

     - Cháu gần xong cái master. Nhưng, có xong rồi chắc cũng khó đổi nghề đổi sở lắm. Hãng xưởng của Mỹ coi bộ đang trên đà xuống dốc. Dượng Tám bây giờ làm ở đâu dượng Tám?

     - Dượng làm cho chính phủ Canada. Công việc cũng tương tự như ở Nguyên tử lực cuộc Việt Nam vậy thôi. Nhờ dượng có mười mấy năm kinh nghiệm trong nghề nên tìm việc cũng dễ...

     Cô Tám tôi muốn nói rõ hơn:

     - Bằng của dượng Tám cháu là bằng Mỹ mà. Xứ nào cũng công nhận hết nên khỏi phải đi học lại. Dượng Tám cháu tốt nghiệp ở VPI, Virginia Polytechnic Institute. Lâu quá rồi, hai mươi năm chưa hả anh?

     - Lâu hơn chớ!

     Tôi thắc mắc:

     - Vậy hồi mất nước cô dượng sống với tụi Việt cộng ra sao?

     - Nó bắt dượng Tám cháu tiếp tục làm cho nó. Cháu nghĩ lương công nhân viên nhà nước của Việt cộng thì làm sao mà sống. Thua mấy người buôn bán chợ trời. Nhưng được một cái là còn có xe cộ di chuyển nên cũng dễ tìm mối vượt biên. Dượng Tám cháu chạy bốn lần mới được đó. Cô và mấy em chỉ đi một lần. Hết vàng hết bạc, hết tiền hết của, công trình dành dụm mười mấy hai chục năm tiêu tan hết cả. Cô còn thiếu nợ chủ ghe mấy lượng vàng chưa trả nữa đây. Chút nữa họ sẽ đến chơi, dượng Tám cháu có mời họ tới ăn tiệc sẵn dịp có gia đình cháu lên, mừng ngày cô cháu mình hội ngộ. Họ là ân nhân của gia đình cô dượng... Thôi, hổng ấy vợ thằng Hùng xuống bếp làm giúp cô một tay đi, để hai dượng cháu nó trên này nói chuyện.

     Vợ tôi nhỏ nhẹ đáp:

     - Dạ, để cháu phụ với cô. Cô định làm món gì vậy?

     - Cô cũng chưa biết.

     Hai người đàn bà xa lạ, đột nhiên phải coi nhau thân cận gần gũi, thiệt cái dây thiêng liêng chồng vợ nó quấn quít chẳng khác nào dây... tơ hồng. Tôi nghĩ thầm, có lẽ sự thông cảm giữa hai người đàn bà sẽ dễ dàng hơn trong căn bếp Việt Nam.

     Mấy đứa nhóc của tôi và mấy đứa nhóc của cô dượng Tám tôi cùng một chạng tuổi, đáng lẽ rất dễ kết thân với nhau nhưng trở ngại là sự bất đồng ngôn ngữ. Và phải kêu bằng chú và cô, uncle aunt , thì làm sao không khỏi ngạc nhiên cho được. May là có mấy món đồ chơi, mấy chiếc xe điện, nên đã xúm nhau dồn vô một góc phòng.

     Tôi với ông dượng người Quảng cũng còn xa lạ lắm. Mặc dù ông Quảng này đã lai dân Sài Gòn nhiều rồi. Tôi ngồi nghe ông kể chuyện lúc mới sang:

     - Úi chà, hồi mới qua tụi nó thảy dượng vô một cái trường đại học ở một thành phố gần đây, vừa đi làm vừa học tiếp những cái thiên hạ mới phát minh mà mình chưa biết. Coi như đi tu nghiệp vậy. Lương tháng có vài trăm bạc không đủ đâu vào đâu, không gửi về cô Tám cháu một cắc. Tụi này định bốc lột sức lao động của mình đây. Dượng cũng nản rồi, chỉ mong có việc gì làm chính thức ngày hai buổi như người ta, dành thì giờ còn lại lo gia đình vợ con, chớ đua đòi gì nữa. Rồi may quá, dượng được Bộ năng lượng của Canada mời tới interview . Dính, dượng đi làm luôn. Nói ngay cũng nhờ ông thầy ổng giới thiệu, chớ mình mới qua biết ất giáp gì mà mò. Công ăn việc làm coi như tạm ổn, lương hướng cũng tạm đủ sống... Hồi xưa, dượng có nhậu với dượng Bảy, dượng Năm và ba của cháu vài lần. Nhớ anh Ba mỗi lần nhậu ảnh hay nói rề rề dữ lắm. Không biết lúc mất nước ảnh sống ra sao?

     Tôi kể lể:

     - Tiêu tan hết dượng ơi. Ruộng vườn giao hết cho Bác Ðảng rồi, mình chỉ làm thân ăn nhờ ở đậu trên đất của mình mà thôi (vô tình tôi lập lại lời nói của ba tôi, trong thư). Cháu thỉnh thoảng phải gởi quà về phụ giúp gia đình.

     Dượng vui miệng nói tiếp:

     - À, nói gì chớ vấn đề gởi quà về nhà thì cô Tám cháu rành lắm, dượng chịu thua. Cô Tám cháu mới qua nên biết món nào thịnh hành, bán có giá ở Việt Nam, chớ thông thường người ta chỉ chạy ra tiệm gởi một thùng thuốc tây là xong. Làm như ở xứ mình ai cũng đau bịnh sắp chết hết. Thiệt cái xã hội chủ nghĩa của cộng sản nó không ra cái thể thống gì hết cả. Cháu không sống với nó nên cháu không biết, mà có nói cho lắm cháu cũng không hiểu nổi đâu. Nó làm con người ta phản ứng như con vật vậy.

     Tôi đưa hơi:

     - Mấy tụi bạn cùng khóa viết thư cho cháu kể chuyện ở tù, học tập cải tạo nghe cũng thảm não lắm.

     - Ðó đó, chỉ cần bị nó quản lý một thời gian ngắn là nếm đủ hết những nỗi bất hạnh khổ đau của thiên đường vô sản. Dượng chạy mặt tụi nó từ lâu rồi. Phải tìm đường "chui" lẹ lẹ. Vả lại, có ở lại thì con cái của mình cũng không ngóc đầu lên được...

     Mặc dù tụi tôi nghe nhiều hơn nói, nhưng buổi tiệc ngày hôm đó rất vui. Ðây là buổi họp mặt của những người đồng thuyền đồng cảnh trong hai cuộc vượt biên thì đúng hơn. Hai cuộc vượt biên xuất phát từ một mối, hai chiếc ghe đóng cùng một chủ. Tất cả khó khăn, khổ cực bây giờ chỉ còn là những kỷ niệm êm đềm, những nỗi vui không bao giờ quên. Và nhờ đó tụi tôi được dịp biết thêm lối sống của gia đình cô dượng tôi hồi nào ở Ðà Lạt, Nha Trang trong thời gian trước và sau khi mất nước. Nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục , cô Tám tôi cũng bị ảnh hưởng ít nhiều về phong tục của người miền Trung. Tôi thấy cô pha một chút mắm tôm vào chén nước mắm chấm. Gà xé phay mà cũng đòi hỏi hương vị mắm tôm? Cách ăn này ở phương trời nào, xứ nào?

     Kể ra buổi hội ngộ của cô cháu tôi cũng không đến nỗi ngỡ ngàng như tôi tưởng. Nhứt là đối với những người thân của cô, chồng con cô. Cũng như những người thân của tôi, vợ con tôi. Xa nhau bao nhiêu năm mà tình thương dành cho nhau vẫn tràn đầy. Tuy nhiên, quan niệm sống giữa hai gia đình hình như có điều gì rất khác biệt. Phải chăng đó chính là sự khác biệt của một gia đình có sống với Việt cộng và một gia đình không?

    

     Sau chuyến ngược Bắc trở về không bao lâu thì tôi được thư dượng Bảy của tôi đã vượt biên và đang định cư ở Texarkana. Một thành phố nhỏ thuộc hai tiểu bang Texas và Arkansas. Một nửa thành phố nằm trong tiểu bang này và một nửa nằm trong tiểu bang kia. Ðường ranh giới là một đại lộ lớn chạy xuyên qua và chia đôi thành phố. Khỏi cần nghiên cứu sâu xa về ngôn ngữ học tôi cũng đoán biết Texarkana là do hai chữ Texas và Arkansas viết liền nhau rồi đọc trại ra.

     Cũng như lần trước, tin dượng Bảy tôi tìm tự do đến nơi đến chốn chỉ làm tôi mừng sơ sơ thôi. Vì tôi cũng chưa hề gặp mặt ông dượng thứ bảy của tôi lần nào. Hình như cô Bảy tôi lại lấy chồng sau cô Tám, tôi nhớ mang máng như vậy. Phải đợi đến lúc cô Bảy và ba nhóc được đoàn tụ gia đình theo kiểu ODP thì tôi mới mừng thật sự. Tôi không hiểu dượng Bảy tôi bảo trợ cách sao mà chỉ trong vòng nửa năm mọi chuyện đều xong xuôi, trót lọt. Gõ cửa đúng nhà , chạy thuốc trúng nước ?

     Tình cô cháu một lần nữa lại bùng lên, gia đình vợ con tôi tức tốc ngàn dặm xuôi Nam đi về miền Texas. Ngay giữa mùa hè nắng cháy, lửa đổ như thiêu. À há, vậy thì đây là dịp may để bọn tôi biết thêm cái nóng nung người nóng nóng ghê của những vùng nóng nhứt thế giới? Tôi tự an ủi như vậy!

     Theo xa lộ I-85 tôi đi thẳng một mạch về thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia, thủ phủ của miền Nam. Ðã một thời "cuốn theo chiều gió," theo bà Margaret Mitchell. Với sự giới thiệu trước của một người bạn, tôi ghé qua Stone Mountain cho tất cả gia đình được dịp "tham quan" mấy tay tổ miền Nam. Mấy tay thất trận trong thời nội chiến của Mỹ. Mấy tên cao bồi cỡi ngựa bắn súng được tạc trên vách núi, tròn như cái mấm rơm vĩ đại. Một khối toàn bằng đá hoa cương. Trong đó có tổng thống Jefferson David. Thiên hạ viếng thăm đông như kiến cỏ. Quần đùi, áo nịt ngực (nhiều cái top allmost less ), dép không râu lẹp xẹp nhỡn nhơ vui đùa trước gió. Mùa hè mà. Tôi chiêm ngưỡng không phải người đẹp (bà xã cú đầu) cũng không phải "những vị anh hùng dân tộc" (không phải của mình) mà chỉ cái công trình điêu khắc thôi. Cũng là một sáng tác có một không hai. Ai muốn xem rõ những nét đục đẽo có thể mua vé ngồi vào thùng xe thổ mộ để đi dây... như dây tử thần, ngược lên đỉnh núi trọc.

     Nhưng tôi đâu có thì giờ làm chuyện đó. Tôi phải chạy cho kịp giờ đã ấn định. Tiếp tục lên đường, theo I-20 xuyên qua tiểu bang Alabama, tới thành phố Birmingham. Qua khỏi Birmingham một đỗi, thì trời đã về chiều. Tôi đành tìm một motel ngủ qua đêm. Và theo lời đề nghị của đám con tôi, phải tìm cho được cái motel nào có hồ tắm. Một phần vì trời mùa hè nóng nực, một phần vì mấy đứa nhỏ vừa mới "tốt nghiệp" lớp bơi sơ cấp và trung cấp tại tỉnh nhà. Con cái của hậu duệ Trần Hưng Ðạo mà không biết bơi thì tội lỗi lắm. Trầm nghịch suốt mấy tiếng đồng hồ dưới nước không thua gì Yết Kiêu. Tôi thấy tinh thần bơi lội của đám nhóc con của tôi lúc ấy quả thiệt là cao.

     Sáng ngày sau tiếp tục lên đường, băng qua tiểu bang Louisiana để về Texas. Tôi cứ tưởng xuống tới khoảng này là có thể thấy ruộng lúa giống như bên nhà. Hay ít ra cũng có dừa chuối, vườn tượt, cây trái như cảnh thôn quê Việt Nam. Nhưng tôi hoàn toàn thất vọng. Vì dọc theo xa lộ I-20 từ Birmingham dẫn đến Dallas vẫn còn nhiều rừng thông. Chán ngắt một màu. Thỉnh thoảng mới có những đồng cỏ hoang cao đến ngực mà nhìn xa xa tôi cứ mường tượng như những ruộng mía miệt Ðức Hòa, Ðức Huệ với lò đường Hiệp Hòa. Ngược lại, về phía phong thổ thảo mộc của Mỹ, tụi tôi bắt đầu nhận ra một loại cây ít thấy ở miền cao nguyên. Ðó là cây pecan , môt loại hồ đào ( walnut ), có trái cho hột dùng làm bánh pecan-pie . Nhiều cây cao lớn, mười lăm hai chục thước có, không thua gì những cây đa sống lâu năm ở đầu làng.

     Vừa chạy xe vào drive-way tôi liền thấy một người đàn ông lạ mặt, dong dõng cao, quần ngắn áo sơ mi, bước ra hiên:

     - Tụi nó tới rồi em ơi, sao mà tìm nhà hay quá vậy cà. Ðứa nào là thằng Hùng?

     Bóng cô Bảy tôi và mấy đứa em lố nhố chạy ra. Người nào cũng gầy ốm, đen đúa. Tôi nhảy xuống xe bắt tay ông dượng chưa gặp nhau lần nào:

     - Chào dượng Bảy, chào cô Bảy. Cô qua đây được bao lâu rồi? Cô ốm quá!

     - Ờ, ở với Việt cộng thì ai mà mập cho nổi. Cô mới tới chưa đầy tháng. Thôi, vô nhà chơi, con mầy hết đó hả?

     - Dạ, bốn đứa đó cô, ba trai một gái. Còn cô được mấy đứa?

     - Ba. Hai gái một trai.

     Tôi ra lệnh cho đám nhóc:

     - Thưa ông Bảy, bà Bảy và mấy chú mấy cô đi con.

     Ðứa khoanh tay, đứa cúi đầu:

     - Thưa ông Bảy, thưa bà Bảy..., thưa ông Bảy, thưa bà Bảy con mới tới...

     Cô Bảy tôi giả lả:

     - Ừa... Thôi mà, thưa thưa cái gì. Cha, thằng khỉ này coi bộ muốn cao hơn má nó nữa kìa.

     Tôi làm tày khôn, giới thiệu:

     - Cô Bảy, dượng Bảy nè em.

     Bị vợ tôi chọc quê:

     - Em biết cô Bảy mà...

     Rồi vợ tôi quay sang cô dượng:

     - Cô cũng không thay đổi mấy, chỉ ốm hơn hồi đó nhiều lắm. Chào dượng Bảy, dượng mạnh giỏi?

     Dượng Bảy chép miệng:

     - Cha, qua bên này thì đương nhiên là phải mạnh giỏi rồi. Chỉ lo thiếu tiền gởi về Việt Nam thôi.

     Tất cả tuần tự chui vào nhà tránh nắng, tránh nóng. Tôi vừa đặt đít ngồi xuống salon thì ông dượng, tuy mới quen nhưng hình như không có gì xa lạ lắm, liền đưa ý kiến:

     - Thằng Hùng mầy uống gì, làm một lon bia nha. Bia bên này bảo đảm không thiếu như bên nhà đâu.

     Tôi tán thành ngay:

     - Dạ được dượng. Ở đây nóng và hầm dữ quá, phải uống bia cho nó đã khát.

     Dượng lại tủ lạnh lấy bia, khui cho tôi, rồi quay sang cô con gái đứng bên cạnh:

     - Con, con đi lấy nước ngọt cho mấy cháu uống đi. Mình làm cô, làm chú tụi nó không mà. À, mấy đứa này có rành tiếng Việt hông đây?

     Tôi đỡ lời:

     - Dạ bập bẹ thôi dượng, như dượng mới thấy tụi nó thưa đó.

     - Trước sau gì cũng thành Mỹ hết, ba đứa con của dượng mới qua mấy ngày mà đã chập chững nói tiếng Mỹ với lũ bạn của nó rồi. Lẹ thiệt.

     Tôi khơi chuyện:

     - Hồi xưa dượng có đi lính hôn dượng Bảy?

     Dượng từ tốn trả lời:

     - Dượng xuất thân từ ngành sư phạm. Lúc mới ra trường bị đổi tuốt lên Ban-Mê-Thuộc dạy một thời gian rồi mới đổi về Mỹ Tho. Sau đó có chương trình động viên giáo chức nên dượng cũng phải vô lính. Ở lính cho tới ngày mất nước.

     Cô Bảy tôi nói vọng sang từ bên căn bếp:

     - Dượng Bảy mày đeo lon trung úy đó. Nhưng ỷ y có thân nhân là Việt cộng làm lớn trong xã Thanh Bình nên không chịu chạy sớm như người ta.

     Tôi ngạc nhiên:

     - Ủa, quê dượng Bảy ở Thanh Bình, Gò Cát à? Cháu có vô trỏng chơi mấy lần, tại vì cháu có thằng bạn thân ở trong đó. Ba nó là Việt cộng, còn nó là sĩ quan Thủ Ðức. Không biết hồi mất nước hai cha con đối xử với nhau như thế nào?

     Dượng cười:

     - Ối, cái đám du kích xã Thanh Bình mà nhằm nhò gì. Mấy lần nhậu say dượng chửi tụi nó túi bụi, tụi nó có dám làm gì dượng đâu? Mấy thằng công an xã, chi ủy, huyện ủy đều là đàn em, học trò của dượng hết. Mình phải biết lựa chỗ lựa thời đem gậy ông đập lưng cha nó. Cho tụi nó biết tay, tụi nó ngu lắm. Làm vô đi cháu...

     Vợ tôi đã theo cô Bảy phụ làm đồ ăn dưới bếp. Mấy đứa nhỏ đã chạy ra ngoài sân, ngoài nhà xe hết. Hình như ngoài đám con của cô dượng và đám con của tụi tôi còn có thêm một đám đông con của láng giềng chòm xóm nữa. Ðám này mới qua trước vài năm, biết nói cả hai thứ tiếng Mỹ lẫn Việt. Như vậy cô cháu, chú cháu cũng dễ làm quen nhờ đám thông dịch viên bất đắc dĩ này. Nhưng, tụi con tôi vẫn còn thắc mắc tại sao phải kêu những đứa cùng tuổi nó bằng uncle aunt .

     Nốc một hớp bia, tôi hỏi tiếp:

     - Sao hồi đó dượng không chạy?

     Dượng phản ứng ngay:

     - Chạy chớ sao không chạy. Trưa ngày 30 tháng 4 dượng đang ở quận Chợ Gạo chớ đâu. Lúc ông Minh tuyên bố đầu hàng, dượng vô dinh quận rủ mấy thằng bạn cùng đi, tụi nó không chịu đi. Mấy ngày sau dượng xách xe honda chạy lên Mỹ Tho, chạy xuống Gò Công bàn tiếp với tụi bạn. Cũng không thằng nào chịu bỏ xứ. Dân miền Nam mình thiệt không hiểu rõ cộng sản như thế nào hết. Cứ đinh ninh là lúc Việt cộng lên nắm chính quyền thì cũng vậy thôi, chạy chi cho mất công. Tới lui đôi ba bận không tìm được phương tiện, mối mang nào hết nên dượng cũng nản, nằm nhà luôn. Tới đâu hay tới đó...

     Hai dượng cháu ngưng một chút vì cô Bảy và vợ tôi tiếp tế đồ nhấm. Một dĩa thịt bò xào cần tây nghi ngút khói và chén nước mắm bầm tỏi ớt lấm tấm đỏ. Thơm phức. Gắp một miếng thịt bỏ vào chén, dượng nói tiếp:

     - Ăn tự nhiên đi cháu. Qua bên này có gì ăn nấy. Cá tôm, cua mắm, gà vịt không dễ gì kiếm như bên mình... (?) Ai dè nó đâu có để cho mình yên. Bác dạy nó vô sản hóa, bần cùng hóa nhân dân. Ðảng dạy nó vơ vét tận ống chí đáy. Không chừa một món. Ðói, ai cũng đói dài người. Rồi nhân dân mình coi vậy chớ học khôn lẹ lắm. Phen này cho cha con tụi nó chết đói trước. Từ gạo thóc đến những khoai bắp, ngô lang... cái thứ khỉ khô gì ăn được đều bỏ vô bao ny-lông thảy xuống đìa, xuống mương hết. Dấu. Bởi vậy bao ny-lông bên mình có một thời lớn nhỏ gì cũng mắc dàng trời. Thiệt tình nó ngu ơi là ngu. Biết thân phận mình là một nước nhược tiểu, cũng giống như đi ở đợ mấy nước lớn, thà là ở đợ mấy thằng giàu còn có chén cơm tô cháo để ăn, ai đi ở đợ chi cái thằng nghèo mạt rệp cho áo quần không có bận, hả?

     Ði đâu cũng nghe chửi cộng sản hoài, chán quá. Phần tôi, tôi không dám đá động tới cộng sản tại vì tôi chưa chính thức sống với nó một ngày nào. Chỉ sợ chửi không đúng mốt thiên hạ chê. Tôi bèn phân tách tình hình:

     - Mười năm qua cộng sản đã biến Việt Nam thành một nước nghèo nhứt thế giới, không kể Miên và Lào. Cháu tưởng giờ này lũ đó đã sáng mắt ra rồi chớ. Chung quanh mình những tấm gương không cộng sản của Nhật Bổn, Ðài Loan, Ðại Hàn, Thái Lan... ai ai người ta cũng trên đà tiến triển.

     - Thì vậy mới nói. Nó còn nằm mơ, còn ngủ say trên chiến thắng. Tưởng đâu là đánh bại được anh Mỹ anh Ngụy là hay rồi. Ai ngờ những kế hoạch rừng rú của tụi nó đưa ra không ai chấp nhận hết. Chẳng ai muốn thi hành hết. Tại vì nó hoàn toàn đi ngược lại lòng dân. Tại vì nó làm cho thiên hạ ai ai cũng điêu đứng, khổ sở. Cháu thấy hôn, gia đình cháu, chị em cháu còn ở lại bên nhà, ý là có cháu tiếp tế mà cũng không sao sống nổi.

     Tôi hỏi:

     - Như vậy dượng nghĩ sao về tương lai của nước Việt Nam mình? Nghe nói cha con nó đang hăm he quay về với tư bản mà. Cho tư nhân được quyền mở cửa hàng, lập hãng xưởng xí nghiệp riêng.

     Dượng quả quyết:

     - Ối, nó nói như vậy chớ còn lâu lắm nó mới làm. Mà xương cốt nó đã là khỉ thì dù có lột mấy lớp da, thay mấy lớp lông thì cũng khỉ thôi. Rồi thử hỏi ai dám đứng lên cải thiện nó? Trừ phi tụi nó tự giết lẫn nhau chết tiệt...

     Tự giết lẫn nhau? Hay quá, hay quá! Nhưng làm cách nào để tụi nó tự giết lẫn nhau chết tiệt đây?

     Tôi đang suy nghĩ tìm câu trả lời thì hàng xóm quen biết cô dượng Bảy tôi bắt đầu ùn ùn kéo đến chơi. Lại một cuộc họp bạn tưng bừng? Thật vậy, cuộc hội ngộ của cô cháu tôi, một lần nữa, đã diễn ra trong không khí gia đình hết sức ấm cúng.

     Có điểm khác với lần trước đi thăm cô dượng Tám tôi ở Canada, là dân Việt ở đây hay bàn đến những mánh khóe làm ăn trên đất Mỹ. Làm sao lãnh được tiền an sinh xã hội, làm sao có bảo hiểm sức khỏe của chính phủ, làm sao xin được nhà dành cho những người lương thấp. Ðại khái như vậy. Và tôi không ngờ có người cho biết luôn những cơ quan chuyên lo về vấn đề này ăn huê hồng tiền mặt. Văn phòng chi nhánh mọc lên lềnh khênh ở Dallas. Có luật sư lo giấy tờ thủ tục cần thiết. Có bác sĩ sẵn sàng khám nghiệm và chứng nhận mình có những chứng bệnh bất bình thường, không tìm ra xuất xứ, nguyên do. Họ cho rằng chỉ cần tốn vài ngàn để rồi ngồi không hưởng lợi suốt đời (?) thì quả