Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
Tập Truyện: Một Cảnh Hai Quê
Nguyễn Tấn Hưng
Thế Giới xuất bản 1993
Mục Lục
01. Người Về Từ Cõi Chết
02. Còn Ðâu Thi Vị
03. Ta Tắm Ao Ta
04. Một Cảnh Hai Quê
05. Gió Ðã Ngừng
06. Một Buổi Chiều Thứ Bảy
07. Một Mối Tình Già
08. Số Phần
09. Kẻ Ngược Ðường
10. Bạt của Võ Kỳ Ðiền
back to top
01. NGƯỜI VỀ TỪ CÕI CHẾT
NGUYỄN TẤN HƯNG
Rớ tới một tờ báo, Minh có tật thích
đọc ngay những truyện, thơ của những người
viết mới, những cây bút mới. Những sáng
tác đã trải qua nhiều gạn lọc, thử thách.
Phải có cái gì mới lạ, hấp dẫn lắm mới
được chọn đăng. Minh tin rằng những bài
viết đầu tay của những cây bút mới chắc
chắn sẽ làm Minh hài lòng hay ít ra cũng không
làm Minh đến nỗi phải thất vọng.
Cũ đi mới tới, tre tàn măng mọc cho phù
hợp với luật đào thải của thiên
nhiên? Không hẵn như vậy cho giới cầm bút,
Minh nghĩ. Thông thường cũ chưa đi thì
mới đã tới, tre chưa tàn thì măng đã
mọc. Xen lẫn với nhau. Và hầu hết những
người viết, từ
amateur
cho đến chuyên
nghiệp, đều là những cây tre không chịu
tàn, đều là những dòng mực không chịu
cạn. Viết như thở, ngưng viết là ngưng
thở. Vì vậy phải viết đến chết. Rồi
thậm chí nhiều người đã viết đến
chết mà còn trăn trối: chưa viết hết
được những gì mình muốn viết.
Hóa ra người cầm bút có cái tham vọng còn
to lớn hơn những người làm chính trị nữa.
Không ai chịu về hưu, không ai thích làm ẩn
sĩ. Vùng vằng không chịu nhường đất,
nhường vườn cho thế hệ sau. Tại sao không
giao cho những người mới, với những tư
tưởng mới, hành động mới? Tại sao không
giao cho lớp trẻ, với những khuynh hướng trẻ,
tiếng nói trẻ? Nói chính trị có khác! Tre
không chịu tàn thì măng cũng khó mà mọc.
Tội lỗi. Tội lỗi là sự không cạn dòng,
càng viết nhiều càng kinh nghiệm càng hay. Tre
không tàn mà tre thành cổ thụ. Thế mới
lạ. Những cây cổ thụ tàn rộng xum xê che
hết những vùng trời. Những cây cổ thụ
đó họa hoằn mới thấy trổ hoa, những nụ hoa
để đời, vẫn mọc đầy trong những ban
biên tập chủ lực của nhiều tờ báo.
Vốn là người viết cũ, Minh hiểu rõ hơn ai
hết và Minh hết sức mến phục những người
đã mang đầy tội lỗi đó. Minh nghĩ
rằng là một người cầm bút, không ít thì
nhiều, trong người phải có cái chất
thần
thánh
. Không thần thánh sao được một khi
chỉ là số trăm trong số triệu. Ðào tạo
kỹ sư, bác sĩ nếu không dễ thì khó vẫn
còn thực hiện được, nhưng đào tạo
một thần thánh thì việc khó dễ đã không
còn là vấn đề. Chẳng có trường nào
đào tạo nhà văn, nhà thơ cả. Chỉ là
thiêng liêng un đúc mà thôi. Bởi vậy,
nhiều khi đọc những bài bình luận văn học,
đọc những lời hạ bệ dành cho một thần
thánh lớn vì hoàn cảnh ép buộc mà phải
trao thân cho một chủ nghĩa, một chính trị,
một xu thời, Minh thấy tội.
Riêng Minh với năm ba cuốn sách chẳng ra hồn,
Minh gọi mình là
dead wood
danh từ mà người
bạn trẻ người Mỹ làm gần bên hay xài cho
đám già. Minh vui vẻ chấp nhận tình trạng
dead wood
của mình vì từ lâu Minh thấy mình
cạn dòng. Một trường hợp bất thường
của những người cầm bút? Cái thân cây
chết lịm của Minh đang đứng trơ trọi giữa
rừng xanh như một biểu tượng của sự lạc
hậu, lỗi thời? Minh không còn viết nữa.
Chỉ đọc thôi. Như cố gắng tìm chút sinh
khí cho cái thân cây chỉ biết hấp thụ mà
không còn phát tiết. Ở tình trạng
dead
wood
cũng chưa chắc đã yên. Sớm muộn
rồi sẽ có ngày bị đốn làm củi, bị
hạ bệ sát ván. Ngay cả vấn đề ngâm nga
một hai câu thơ để quên đời, cũng
đặt Minh vào tình trạng đi xuống:
- Than ôi! Tuổi còn xanh sao tóc đà đã
bạc? Hồ trường? Hồ trường biết
đổ về đâu? Ðổ về Ðông Phương
thì xa xôi ngàn dặm. Mà đổ về Tây
Phương thì cũng ngàn dặm xa xôi...
- Ðây, đổ vô đây, đổ vô họng em
đây nè. Hennessy ở bên này coi vậy chớ
cũng còn mắc lắm anh Minh à. Khỏi cần
Ðông phương, Tây phương chi cho xa xôi ngàn
dặm, ngay đây cho nó thực tế hơn. Làm
thơ được như anh cũng là hay lắm. Nhưng,
làm thơ mà phải được năm bảy đồng
một giờ, thì em cũng rán ngồi làm thơ như
anh từ lâu rồi. Thôi, vô đi ông ơi.
Cụng với ông một ly nè...
Rượu không cay mà câu nói chí tình đó
làm Minh cay. Cái thế hệ sau, cái lớp trẻ
trôi sông lạc biển nơi xứ lạ quê người
này quả tình đâu cần thơ, văn. Ở
Việt Nam nghề cầm bút là nghề kiếm tiền
để sống, bên này nghề cầm bút là nghề
gì đây? Là nghề hy sinh? Hy sinh cái thì
giờ dành để kiếm tiền trong cái xã hội
kiếm tiền là mục đích chính của
mình? Sự hy sinh của những Bá Nha đã biết
triệu triệu Tử Kỳ quên đi cái thú nghe
đàn. Chính vì vậy mà Minh cạn dòng, lui
về ở ẩn. Rồi đi xa hơn một bước, Minh
đã lùi về cõi chết, từ lâu chẳng còn
tiếp xúc với ai trong cộng đồng người Việt.
Vậy mà Minh lại biết rành rẽ ngọn nguồn hơn
ai hết những gì xảy ra trong cộng đồng người
Việt. Chỉ cần mấy cái miệng độc thân
tại chỗ ở hãng lựa đồ vụn của Minh là
Minh có thể biết luôn cả tình hình thế giới.
Ai nói đàn ông không lắm chuyện? Cũng là
niềm vui cho cuộc sống qua ngày. Minh không ngờ
cuộc đời "ngụy quan" của mình chỉ còn lại
những ngày tháng nhìn những lớp vụn vằn,
dập dẹp, rơi rớt từ những xác xe phế thải
chạy hoài không ngừng trên sàn máy dây
chuyền. Sắt theo sắt, nhôm theo nhôm, đồng theo
đồng..., và
quarter
theo
quarter
,
dime
theo
dime
. Cứ thế mà bê, mà lượm.
Minh kéo chăn đắp lên tới cổ, buông mắt
trở lại trang báo đọc tiếp. Nguồn giải
trí duy nhất còn lại của Minh. Không hiểu
người viết mới tháng này viết chuyện gì
mà tâm trí Minh nãy giờ nhảy tuốt ra ngoài.
Là một mục măng chai, mới nhú lên khỏi
đất thì ủ rủ, tàn lụn cũng không biết
chừng. Cặp mắt Minh tiếp tục ngấu nghiến
những dòng chữ li ti phải cần cái kính già
phóng đại lên đôi chút mới thấy rõ
nét... Chuông điện thoại bỗng reo vang. Giờ
này mà ai gọi bất lịch sự vậy cà? Không
sợ làm mất giấc ngủ của người ta
sao? Ðợi tới tiếng reng thứ ba Minh mới chụp
cái ống nghe, giọng ngái ngủ:
- Hello.
- Hello, bác Minh đó hả? Mạnh giỏi
bác? Công đây. Xin báo cho bác biết một
tin buồn: Mẹ của anh Trung mới mất lúc chín
giờ ở nhà thương Baptist.
Rồi, một người đã thật sự đi vào
cõi chết, Minh xót xa:
- Vậy à. Tội nghiệp quá hả. Mấy tuần
trước mới gặp bà bác, thấy bả vẫn còn
sân sẩn.
- Vâng, vậy mà chết rồi. Tin cho bác hay bác
có xuống thăm thì xuống ngay bây giờ kẻo
trễ. Thiên hạ đang rần rần ở đây,
kẻ lãnh may đồ tang, người lo nhang khói, nghi
lễ...
- Ðể tôi tính coi. Cám ơn anh đã báo
tin cho tôi.
Mười một giờ hơn thì còn tính gì nữa,
Minh nhìn đồng hồ. Ở dưới đó thế
nào quân sư cũng nhiều, mà thừa tướng
cũng không thiếu. Như vậy Minh có tới cũng
muộn thôi, không ai chia phần cho Minh giúp họ
đâu. Ngủ lấy sức mai đi làm, Minh với tay
tắt đèn. Bóng đêm chợt đưa cuộc
đời buồn tẻ, lẻ loi của Minh chìm vào quá
khứ.
Minh không ngạc nhiên về cái chết của mẹ anh
Trung. Chết vì yếu tim, lên tăng xông máu.
Chuyện mổ tim, nối ống dẫn tim,
open heart surgery
,
by pass
, là chuyện bác sĩ Mỹ làm hàng
ngày như cơm bữa. Nhưng, đừng thấy vậy
mà coi thường. Gặp trường hợp này, cũng
nên có ý kiến thứ hai,
second opinion
. Chỉ
thấy mệt mệt rồi nghe lời dụ dỗ của bác
sĩ xin đi mổ thì khốn.
By pass
cũng dễ
dàng thành
pass away
. Tụi Mỹ có sức, nhiều
người mới mổ hai ba ngày đã ra phòng ngoài
đi tới, đi lui. Còn người mình đâu
có khỏe như vậy. Bà bác mổ một tuần
mà chưa ra khỏi phòng cứu cấp, phòng
intensive
care
. Lý do hết sức là lạ lùng đối
với cái xứ văn minh tột đỉnh này: sút
mối nối. Máu rỉ xung quanh lồng ngực. Từ tim
qua phổi, rồi từ phổi qua luôn ngũ tạng. Sức
già mà mổ, rồi mổ lại lần nữa, lần nữa
thì làm sao mà sống. Vậy mà miệng anh Trung
lúc nào cũng cái giọng làm tỉnh:
- Bà già tôi khỏe nhiều rồi, sắp ra khỏi
phòng hồi sinh.
Ðó chỉ là lời nói trấn an. Chưa ra khỏi
phòng hồi sinh thì làm sao mà khỏe được.
Ðến lúc đi thăm bà bác Minh mới thấy
tận mắt cái cảnh chiến đấu vô hiệu quả
của những dụng cụ điện tử, những
medical
hi-tech
. Lực lượng ngăn chận bước tiến
tử thần. Mặc dù bị cột vô giường
bằng những sợi băng trắng mà tay chân bà
già vẫn quơ quào như người chạy xe đạp
trên không.
- Mẹ tôi bây giờ thế nào anh?
-
What can I say, men.
Tiếng trả lời cụt ngẳn của người y tá
làm Minh rất đỗi ngạc nhiên, đến độ
phải buột miệng lên tiếng:
-
What
? Thằng này nó nói cái gì kỳ
cục vậy Trung?
Người y tá Mỹ muốn chứng tỏ mình nghe hiểu
được tiếng Việt, quay qua tiếp chuyện luôn
cả Minh:
-
You really don't understand what I say, men! The same thing,
men. Nothing changes. Nothing improves.
Trung xen vào:
- Ðừng thèm nói chuyện với thằng khùng
đó chi cho mệt. Mình hỏi tới hỏi lui hoài,
tụi nó phát điên hết rồi.
- Ê, đám này làm ăn lương chớ
đâu phải
volunteer
, Trung. Tưởng ở Việt
Nam mới có thứ y tá loại này, ai dè bên Mỹ
cũng lềnh khênh. Bác chắc đâu có nhận
ra mình hả Trung?
- Bà già không biết gì đâu. Tay chân
cử động như vậy chỉ là do hệ thần kinh
điều khiển thôi. Bây giờ đỡ rồi, hồi
sáng bả giựt dữ lắm chớ không nhẹ nhàng
như vậy đâu. Chỗ này là chỗ hết
cười tới khóc anh ơi, lúc tụi nó nói
vầy lúc tụi nó nói khác, không hiểu cái
đám bác sĩ ở đây nó làm ăn ra sao.
Thôi mình đi ra đi, để bà già nghỉ cho
khỏe...
Chiều ngày sau đi làm về, cơm nước xong
xuôi Minh mới xuống chia buồn cùng gia đình
người chết. Một người Việt Nam chết
đầu tiên trong vùng. Tội cho bà bác mới
được chính thức đoàn tụ gia đình
với con cháu chưa đầy năm. Một thời gian
ngắn như vậy mà ông bà bảo trợ dám nói
bà đã
enjoy
đầy đủ cái hương
vị của đời sống Mỹ. Cũng tại đám
bác sĩ không có lương tâm chức nghiệp.
Nếu còn ở lại Việt Nam, bà già dám chưa
chắc đã chết. Xe của người quen đến
chia buồn đậu khít khít dọc hai bên lề, Minh
nối đuôi vô chiếc cuối. Tản bộ từ
đàng xa, Minh thấy bà con trong phố đứng
đầy ngoài sân, xen lẫn với những người
mặc đồ tang. Có người đội mấn, cầm
gậy tre nữa. Anh Ít, chủ tịch hội Ái Hữu
Người Việt vội vã chạy lại bắt tay:
- Sao anh Minh, lúc này khỏe không anh? Lâu quá
tôi không gặp anh...
- Cám ơn anh, tôi vẫn bình thường, vẫn
ngày hai buổi sáng vác ô-tô đi chiều vác
về. Còn anh thì sao?
- Mệt lắm anh ơi. Con cái ngày một lớn, lo
không kịp với tụi nó... À, anh Trung có
nhờ tôi nói giúp, gia đình anh đang cần
tiền mặt để thanh toán chi phí cho đám tang,
thành thử bà con mình ai muốn phúng điếu
thì chỉ cần đưa phong bì thôi nghe anh Minh.
- Vậy hả? Cũng tiện cho mình, khỏi phải ra
tiệm đặt vòng hoa, vòng cườm gì hết.
Anh chủ tịch này mới qua năm 82 nhưng về mặt
chính trị thì thâm niên hơn đám lão
làng ở đây nhiều. Chỉ ở một năm mà
từ thường dân lên phó chủ tịch, rồi qua
năm sau nắm luôn chức chủ tịch. Người
Việt làm thợ hàn chung một hãng với anh ta
đông lắm, làm gì không thắng phiếu. Ở
ghế chủ tịch một năm, theo điều lệ của
hội là phải bầu lại, hắn ta lờ luôn không
triệu tập bỏ phiếu gì cả. Học sách Marcos,
hắn định làm chủ tịch cho đến khi có
một người đàn bà nổi dậy. Ðàn
bà bên này là số một mà. Ðàn bà
không có mà đàn ông cũng không có,
hình như chẳng ai màng đến cái chức vụ quan
trọng không lương đó. Chỉ ông Triệu
là không vui, vì nhiều lần lăm le cái chức
đó mà giựt không được. Ổng hay phàn
nàn:
- Bầu bán làm chi, nhiệm kỳ
life time
cũng
đâu có chết Tây, Ma-rốc nào đâu. Mấy
thằng
tiền hậu bất nhất
đó mà nói
làm gì.
Minh bắt tay, nói vài câu xã giao với ông
Triệu. Rồi tiếp tục như vậy với những
người khác đang đứng thành hàng. Minh
như ông tướng đi duyệt binh, không cần biết
ai lạ ai quen. Thoáng thấy bóng thằng Hoàng ở
cuối hàng thì may hồn nó chuồn đâu mất.
Nó đang hận Minh tím gan thì làm sao tay bắt
mặt mừng. Thằng Hoàng này thì còn hơn anh
chủ tịch một bực, chưa già mà cứ hăm he
vuốt râu, nhổ râu mấy tay già. Chỉ không
đến dự đem dạ vũ do nó tổ chức mà Minh
cũng bị nó làm lớn chuyện:
- Tại sao mấy lần trước người ta tổ
chức thì anh đi, mà tới phiên Hoàng tổ
chức thì anh không đến. Anh nói đi, lý
do của anh thế nào?
Mời người ta, người ta đi hay không là
quyền của người ta. Tại sao người ta không
đi là điều mình phải nhức đầu mà suy
nghĩ lấy. Vợ đẻ, con đau, sình bụng, ỉa
chảy,
personal business
... thiếu gì lý do để
nói. Hỗn láo. Tổng thống Reagan cũng không
dám ngang nhiên đặt cái câu hỏi vớ vẩn
đó với Minh. Ai lại ngược đời, ngu ngốc
như vậy.
- Anh thấy không cần thiết phải trả lời câu
hỏi của Hoàng, Hoàng muốn hiểu sao thì hiểu.
- Anh chơi như vậy thì chơi với ai. Từ
rày về sau Hoàng thề có trời, Hoàng không
thèm chơi với anh nữa.
Dễ sợ chưa. Chỉ tại Minh làm lớn mà qua
lại với đám nhỏ thì phải chấp nhận cái
thiệt thòi, thua lỗ về lời ăn tiếng nói mà
thôi. Rồi nó sẽ hối hận, sẽ xin lỗi.
I
am sorry
, Hoàng đã nói câu đó nhiều lần
với Minh rồi thì nói thêm một lần nữa cũng
chẳng sao... Người cuối hàng bây giờ không
phải là Hoàng mà là Trung, xùng xình trong bộ
đồ tang mới may bằng vải mùng. Mặt mày
còn bơ phờ, hốc hác vì những đêm canh
bệnh không ngủ. Minh hỏi trước:
- Ê, không sợ đảng
Ku Klux Klan
đốt
nhà hay sao mà dám ăn mặc như vầy?
- Anh khỏi nhắc, tụi nó đã gọi điện
thoại cho tôi rồi. Chắc là đám Mỹ đen
vòng vòng quanh đây. Nó hỏi tôi nhập
đảng hồi nào chớ...
- Rồi Trung giải thích ra sao?
- Giải thích cái gì? Tôi bảo tụi nó
tới đây tôi cho một cái hòm KKK mang về
mà chôn.
- Thật vậy hả? Ê, rồi vụ chôn cất
thật sự cho bác thì bà con mình lo liệu như
thế nào đây?
- Tụi Mỹ nó thầu hết rồi, mình chỉ lo
tiền thôi. Xác bà già đã chuyển từ
nhà thương ra nhà quàn Vogler. Tắm rửa, tẩn
liệm, nhập quan, xe cộ, chôn cất, gì
gì... đám đạo tỳ ở đó lo hết. Mua
luôn thành một
package
, rẻ mắc tùy theo túi
tiền. Tối mai, gia đình tôi có chương
trình tiếp khách và thân nhân đến chia buồn
ở ngoài đó. Từ bảy giờ đến chín
giờ. Trưa ngày sau, mười một giờ, quan tài
sẽ được đưa vô nhà thờ làm lễ,
khoảng một tiếng, rồi đưa thẳng ra nghĩa
địa Old Town.
- Như vậy ở nhà đâu có làm bàn thờ,
cúng kiến, vái lạy gì hả? À, mà gia
đình anh Trung công giáo thì đâu có mục
này?
- Tôi cũng không rành nữa. Nghe bà chị
nói có làm bàn thờ ở nhà quàn. Nhang
đèn thì chắc cũng có cho hợp với phong tục
người mình. Ai lạy thì tôi lạy trả, ai
xá thì tôi xá trả.
- Không ai lạy đâu, theo tôi nghĩ, qua bên
này cũng nên chế bớt... Ðám đàn ông
ở ngoài sân, vậy chắc đám đàn bà ở
trong nhà hả Trung? Ðể tôi bước vô chào
bà con luôn một thể.
Khỏi cửa, Minh gặp ngay bà chủ tiệm may Meiweh đang
ngồi chần dần trong phòng khách. Meiweh là tiếng
Mỹ đọc trại từ tên của người đẹp,
Mây Huê, đang diện cánh áo hồng bông to tổ
bố như đi ăn đám cưới.
- Chồng tao là bác sĩ. Ðã làm bác sĩ
được thì làm cái gì lại không được.
Ðó là lời tuyên bố của em dành cho anh, còn
lời tuyên bố của em dành cho em thì còn quỉ
khóc thần sầu hơn nữa:
- Tao nói tiếng Việt không rành, nhưng chửi
lộn tiếng Việt thì tao chưa chắc đã thua con
mẹ nào đâu nha. Ðứa nào chọc tao là
đứa đó tới số.
Vợ lai Tàu của một cựu y sĩ quân đội VNCH
chạy qua bên này phải đổi lối ăn nói theo
kiểu
dùi đục chấm mắm
? Trước khi ra
tiệm, bà ta cũng có một thời gian làm công
học nghề ở một tiệm may người Greek. Trong
thời gian này có bốn bà Việt Nam làm chung, kết
cuộc một bà di tản xuống Texas, một bà chạy qua
Cali, một bà nhảy qua hãng dệt, và một bà
đăng ký thất nghiệp. Thâu thập kinh nghiệm
của những người đi trước, bà thứ tư
chịu đựng được một thời gian kỷ lục,
ba tháng, rồi cũng phải tuyên bố đầu hàng:
- Làm chung với con mẹ đó, suốt ngày tôi
không dám hở môi, ngồi nín như nín địt
vậy mà con mẻ cũng kiếm chuyện... Tự nhiên
con mẻ phát thanh: ngày hôm qua thằng chồng bác
sĩ của tao ăn gà tây rồi trong bụng kêu
cúc, cúc, cúc... Có phải thiệt là lãng
xẹt hôn. Vậy rồi nó dịch ra tiếng Mỹ cho
mấy con mẹ Mỹ nghe, cười tôi nữa chớ. Nó
phải biết, phải kiêng tên của bà nội nó
là Cúc mới phải.
Gặp đám đàn ông, bà chằn lửa này
cũng chẳng từ. Ngó thằng lé làm ơn
đừng liếc ngang liếc dọc, đằng này nhè
ông Văn mặt rỗ hoa mè mà bà ta đành
đoạn hạ một câu không thương tiếc:
- Ông về ông cà cái mặt ông cho láng đi
rồi hãy tới đây nói chuyện với tôi.
Thiên hạ sợ quá không ai dám qua lại thành
thử bà ta chỉ còn nước chơi với Mỹ.
Chơi với Mỹ thì thành Tàu lai Mỹ. Chính cha
mẹ ruột còn chịu không thấu thì huống hồ
gì người dưng. Bảo trợ qua được một
tuần thì tống khứ ông bà già về Cali bữa
đói bữa no với bạn bè vì sợ cái
private
life
bị xâm phạm... Minh cũng sợ họa vào
thân, lên tiếng trước:
- Chào chị Mây Huê, chị mạnh giỏi chị?
- Chào anh. Anh mạnh giỏi?
- ...
Ngồi tiếp theo bà Mây Huê là đám gia
đình ông Lẩu. Gia đình này rất có
phước, con cái qua đây đứa nào cũng học
thành tài. Bằng bốn năm, kỹ sư,
programmer
.
Chắc vì vậy nên đám này tự cao tự
đại, coi thiên hạ ở đây già trẻ đều
chẳng ra gì.
Tới nhà nó, nó dòm mình
như dòm khỉ vậy ta ơi
, có người phân
trần như vậy. Thằng con trai trưởng nhỏ hơn
Minh năm bảy tuổi mà cứ gọi Minh trổng bằng
tên, không anh ông chú bác gì hết. Thành
thử đám này cũng nổi tiếng, mệnh danh là
đám
tiên học văn hậu học lễ
... Minh
vẫy tay tổng chào mọi người rồi tiện
đường đi luôn xuống nhà ăn. Tránh voi
chẳng xấu mặt nào. Minh gặp ngay đám độc
thân tại chỗ, đầu tàu là Ðăng đang
cười toe tét:
- Ê, Minh, lâu quá không gặp. Lại đây
ngồi uống nước trà nói chuyện đời coi.
Minh kéo ghế ngồi:
- Sao, lúc rày làm ăn có khá không Ðăng?
- Cũng vậy thôi, có khá lên cái gì
đâu. Làm lao động cực thấy mẹ mà cái
xương sống vác tre rừng hồi mình đi cải
tạo nó không chịu hợp tác. Khá hay không
là tùy cái đám
chiropractic
đó Minh
ơi. Tụi nó bẻ xương đã lắm, không
bẻ nó nhức chịu không thấu. Kẹt cái là
hãng bảo hiểm sức khỏe nó không chịu trả
một trăm phần trăm. Minh qua đây trước,
không có đi cải tạo, đỡ quá mà. Minh
biết hôn, tre đốn không sợ mà lúc vác
về mới sợ, cái xương sống của mình phải
ẹo qua ẹo lại đặng lách cây tre qua những
cây khác mà đi...
- Ai cũng có số phần hết Ðăng ơi. Hồi
75 tôi đâu có tính chạy qua Mỹ đâu.
Tôi ở đảo, tôi xin đi về đất liền
mà về không được đó chớ. Tụi tài
công lái ghe lạc đường rốt cuộc tụi
Thái vớt, đưa tôi về Thái Lan luôn. Bằng
không thì tôi cũng có cơ hội nếm mùi tù
Việt Bắc với Ðăng rồi.
- Ê, nghe đồn sắp sửa đổi đi chỗ
khác hả? Ở lại đây cho vui, Minh đi mất
thêm một người bạn già cùng lứa. Ðám
già mình ngồi nói chuyện với nhau còn hiểu
nhau chút chút chớ còn đám nhỏ, mình tấp
vô không hợp gu chút nào hết.
- Ai đồn mà lẹ vậy. Muốn về Cali còn
phải chờ cái số của mình nó có tới hay
không nữa chớ. Thời buổi này công ăn
việc làm ở bên đó cũng đâu phải dễ
kiếm. Chắc tôi sẽ hưu trí, dưỡng già
ở cái xứ này thôi...
Nhờ cái đám ma mà người Việt trong cộng
đồng Burlington này có cơ hội gặp nhau. Minh
cũng có cái cơ hội nhận diện nhiều khuôn
mặt mới qua, đã thay đổi nhanh chóng theo sự
đi lùi của nền văn hóa dân tộc.
Việt
Nam ở đâu cũng vậy, càng đông càng
nhiều chuyện
, câu nói này đi đâu cũng
nghe. Nhìn chung, thành phố Burlington này là ít
lộn xộn nhất.
Ở thành phố lớn Durham, còn có nhiều nhân
vật nổi tiếng hơn nữa. Ðặc biệt nhứt
là ông Ưng làm ở cơ quan xã hội, đặc
trách giúp đỡ dân tỵ nạn Việt Miên
Lào. Tự nhiên trở thành cha nuôi của
đám con mồ côi, đám trẻ dưới tuổi
vị thành niên chạy qua đây không cha mẹ anh
em. Vợ con đó mà ông dám cả gan dẫn con
gái nuôi đi biển chơi cả tuần. Ðến
lúc ông Vĩnh vượt biên chạy qua mới té
ra ông cha ruột là bạn thân của ông cha nuôi.
Lôi nó ra tòa, phải lôi nó ra tòa. May là
có nhiều người khuyên can, cho nên ông cha ruột
nghĩ tình, dằn lòng bỏ qua. Chuyện này nhờ
vậy mà chưa tới tai người Mỹ, đỡ tai
tiếng cho đám dân Việt lưu vong. Xứ Durham
đúng là xứ xô bồ, lính lên quan, thường
dân thành tri phủ,
master
ra
doctor
. Ðó
là chưa dám đá động tới mấy bà ngày
xưa lấy Mỹ, nhất là bà Dangerfield hay khoe của,
khoe hột xoàn, và khoe luôn cái
gái nhà
lành
của mình. Chỉ có ai thiên lôi
đánh ba búa không chết mới dám tin.
Qua ngày sau Minh nghỉ làm nửa buổi để đưa
bà bác đến nơi an nghỉ cuối cùng. Cũng
là dịp tốt để Minh biết thêm việc chôn
cất máy móc ở bên này như thế nào.
Chuẩn bị tương lai cho chính mình, Minh nghĩ.
Từ nhà quàn, cảnh sát có còi hụ hướng
dẫn đoàn xe về nhà thờ. Linh cửu người
chết được đưa vô chánh điện cho Cha
làm phép. Hát vài bài ca xưng tụng Chúa,
giúp người quá cố vui vẻ về chầu thiên
đình.
Sau đó, đoàn xe lại tiếp tục nối đuôi
nhau ra nghĩa địa. Là một ngọn đồi trọc
thì đúng hơn. Cỏ được cắt sát
mặt đất phẳng lì như một lớp thảm xanh.
Nghĩa địa mà sao không có mộ bia? Nhìn
kỷ mới thấy mộ bia để nằm, làm bằng
thép thật dầy. Mục đích không phải
để chống lại sương gió mà là để
chịu đựng cái sức nặng cả chục tấn của
mấy chiếc xe cắt cỏ nặng như máy cày.
Muốn làm mộ bia đứng cũng được, nhưng
phải tốn thêm tiền. Nhiều hơn tiền mua
đất là cái chắc. Tại vì loại bia tháo
ra lấp vào này dù gọn gàng cách mấy cũng
gây trở ngại lưu thông ít nhiều cho người
và xe cắt cỏ.
Ðiểm hẹn của mọi người là cái
tent
sọc xanh ve chai dựng lên giữa đồi. Quan tài
người chết được
máy hạ huyệt
giữ
thăng bằng bên trên cái lỗ vuông vức góc
cạnh đã được đào sẵn cũng bằng
máy từ lâu. Cha làm phép lần cuối. Cái
bình hương bằng đồng, khói bay nghi ngút
được lắc tới lắc lui vòng vòng huyệt.
Minh lại gần, nhón chân chồm qua vai mấy người
đứng trước nhìn xuống. Trong huyệt đã
có sẵn cái kim tỉnh bằng xi măng khoảng vài
phân bề dầy trông như một cái hòm cũ.
Hạ huyệt. Bốn sợi dây dù to bản ở bốn
góc từ từ dài ra theo tiếng khóc của đám
con cháu.
Có người khóc mà phải quay mặt đi không
được nhìn quan tài. Các quân sư, thừa
tướng đã bấm độn cho biết bà già
chết giờ trùng không hợp với phái nữ. Con
cháu gái lẽ ra không cho đưa đám nhưng
phút cuối cùng quần thần đổi ý, viện cớ
giờ giấc tính theo Tây phương chưa chắc
đã linh nghiệm thật sự. Tiếng khóc lên
đến nấc cao tột đỉnh khi chiếc xe
fork lift
bê cái nấp xi măng úp lên thùng kim tỉnh.
Ðời đời cách biệt. Một cành hoa, một
nắm đất rải lên phần mộ như dấu hiệu
vĩnh viễn chia tay. Tiếng chiếc xe ủi đất nổ
máy sẵn sàng phía bên ngoài đã vô tình
tắt hết những lời khóc than ai oán.
Từ lâu, Minh đã sống âm thầm trong cõi
chết. Vậy mà cái chết thật sự của bà
bác lại ám ảnh Minh liên tiếp mấy hôm sau.
Minh thấy mình như lên tăng xông máu. Thấy
mình đau tim, sắp chết đến nơi. Chết
trùng hay là một sự trùng hợp oái oăm? Minh
không chết mà ông thân sinh của Minh chết.
Trời Phật, sao không ai đánh điện tín cho Minh
hay hết vậy cà.
"... Chị biết nói sao
đây? Ba mất ngày... Ba lên nhà chị chơi,
mấy ngày trước đó chị thấy Ba đi tới
đi lui vẫn bình thường. Không ngờ qua ngày
sau Ba bị kiết, đi tiêu ra máu. Chị chở Ba
vô phòng cứu cấp ở nhà thương đa khoa,
bác sĩ vô cho Ba chai nước biển và Ba từ từ
tỉnh lại. Nhưng trưa hôm sau, chị phát hiện
hai chân Ba lạnh ngắt, một chân bầm tím, mồ
hôi trên trán rịn ra thiệt nhiều. Chị lo
quá chừng. Mười giờ đêm, Ba mệt, tăng
xông máu lên 20, 21... bác sĩ cho Ba thở bằng
bình dưỡng khí. Ba thều thào: Gỡ ống này
đi, đem Ba về nhà đi con. Rồi Ba kêu tên
từng đứa con một, mở mắt nhìn chị hồi
lâu không nói thêm tiếng nào, từ từ nhắm
lại. Chị xin cho Ba được thở bằng bình
dưỡng khí chờ cho con cháu ở xa về thấy
mặt. Sáng ngày sau, bình dưỡng khí vẫn
còn hơi, nhưng Ba đã tắt thở từ lúc
mười giờ. Con Phương Lan ở Sài Gòn về
không kịp. Ba chỉ bịnh có hai ngày rồi chết,
không đòi hỏi một sự khổ cực nào của
con cháu. Cái chết của Ba quá bất ngờ làm
gia đình không ai chuẩn bị, tuy nhiên chị em
cũng cố gắng lo cho Ba đầy đủ: có bổn
đạo đến tụng kinh, có lễ nhạc, có múa
phá hoàn, múa đuốc. Gia đình buồn, nhưng
mừng ngày an nghỉ cuối cùng của Ba đông
đảo bà con, xóm giềng. Ðèn điện
được chuyền từ nhà ra kim tỉnh xây phía
sau vườn sáng trưng nên người ta tưởng
chừng như đây là những ngày lễ vui. Tình
chòm xóm, nghĩa đồng hương từ lúc đem
Ba về cho đến giờ an nghỉ cuối cùng thật
chí tình, khó quên, khó lòng đền đáp
được. Bây giờ mọi việc như đã xong
em à. Phim tráng sẵn chị gửi qua em để rửa
lớn, giữ bên đó một bổn và gửi về
chị một bổn để thờ. Má nhớ Ba nhiều,
sức khỏe giảm sút. Bây giờ chị em mình
phải dốc lòng, tập trung lo lắng cho Má..."
Thật quá bất ngờ và chính Minh cũng chưa
chuẩn bị với cái tin sét đánh như vậy.
Minh không biết phải nghĩ gì, làm gì cho vơi
nỗi sầu riêng tư. Một cái chết ở Mỹ
và một cái chết ở Việt Nam, cũng là một
cái chết mà sao khác nhau một trời một vực.
Thiên hạ, chòm xóm ở đây đâu ai buồn
nghĩ đến một cái chết xa xôi bên kia nửa
vòng trái đất. Minh phải gửi tiền về
nhà. Ở nhà lúc nào cũng cần tiền, nhất
là lúc này.
Ngày sau, Minh nhận thêm một lá thư nữa, của
Phương Lan.
"... Bảy giờ sáng bé Thanh
đã đến Sài Gòn cho em hay, em nghỉ bán
về ngay mà không kịp. Ba đã mất trước
đó vài giờ, nhưng hai mắt vẫn còn mở
trừng trừng. Em vuốt mãi Ba mới nhắm
được một con, còn một con không chịu nhắm
chắc là còn nuối tiếc đến anh. Ðến
lúc gần liệm, chị em cả nhà vuốt nữa, rồi
chú Tư, cô Năm, cô Sáu cũng vuốt mà con
mắt vẫn mở rộng như còn sống. Tụi em
liệm luôn con mắt mở đó. Anh rửa hình ra
xem thì thấy rõ hơn..."
Trớ trêu thay, con tiễn đưa người chết bên
này, ai tiễn đưa cha bên đó? Minh thấy
mình bất hiếu với phụ thân. Bóng cha già
chống gậy trông con bên luống mía cạnh mái
hiên xưa nay đã thật sự không còn. Tình
phụ tử biết sao đền đáp. Những lo lắng,
dặn dò cuối cùng của ngày nào Minh khoác
áo ra đi không bao giờ trở lại đã làm
tâm hồn Minh thêm tang thương. Minh phải làm
gì đây?
Minh lập một bàn thờ và một mình đốt ba
nén nhang khấn nguyện. Cầu cho linh hồn cha
được sớm tiêu diêu nơi miền cực
lạc... Không được, ta phải ngoi lên từ
cõi chết, Minh thì thầm. Minh có trách nhiệm
phải làm cho những cái chết bất ngờ này
đội mồ sống dậy. Bằng cách gì? Viết
trở lại? Phải. Phải ghi lại những phản
ảnh của xã hội ngày hôm nay. Cái xã hội
đã một lần đẩy Minh lùi về cõi chết.
Cái cây
dead wood
của Minh cũng phải sống
trở lại, phải đâm chồi nẩy lộc, phải
trổ hoa. Cây tre của Minh không thể tàn vội
vàng như vậy. Dòng mực của Minh không thể
cạn tức tưởi như vậy. Dù chỉ còn là
cái xác không hồn, bệ rạc như người
về từ cõi chết, Minh cũng phải cố gắng trở
lại làng văn, cái vùng trời không biên giới
của mình, để hoàn thành nhiệm vụ thần
thánh do thiêng liêng giao phó. Cái chất liệu
thần thánh trong người đã làm Minh hãnh
diện tách rời khỏi đám đông, mà hầu
hết nay đã thành giả nhơn giả nghĩa, như
mấy vần thơ xa xưa:
Một vũng nước trong năm bảy dòng nước
đục
Chín mười người tục không có một
người thanh
Biết ai tâm sự như mình
Chọn tơ thêu lấy tượng Bình Nguyên Quân
Với lòng nhân từ, bác ái của vị anh hùng,
Minh lại bàn giấy vội vã viết câu vào
đề:
Người về từ cõi chết...
back to top
02. CÒN ÐÂU THI VỊ
NGUYỄN TẤN HƯNG
Làm người ai cũng thích đi du lịch. Tôi
làm người. Vậy tôi phải thích đi du
lịch. Tam đoạn luận của ông Aristotle chứng
minh rõ ràng như vậy thì làm sao mà trật
được. Tôi phải thích đi du lịch.
Nhưng, thích đi du lịch là một chuyện mà
đi du lịch được hay không là chuyện khác.
Trước hết phải có tiền. Tiền bỏ ống,
tiền mượn bạn bè, tiền vay
credit union
, tiền
bán nhà, tiền cướp nhà
bank
..., tiền gì
mặc kệ, phải đào cho ra. Cho đầy đủ.
Nếu dư giả thì càng hay. Vì đi du lịch
khác với đi ăn mày, không thể hà tiện
được. Mà một năm đi du lịch mấy
lần? Một lần! Trời, vậy thì tiếc tiền
làm chi. Tiền mặt và
traveler check
sẵn sàng
như dám mua hết cái thế giới này, vậy mà
cái
credit card
vẫn kè kè mang theo mình như
là lá bùa hộ mạng. Rồi, có lá bùa hộ
mạng thì phần tiền coi như được giải
quyết tạm gọi là ổn thỏa.
Kế đến là phải có thì giờ. Vắn tắt
là phải có những ngày nghỉ, phải có
vacation
. Ðiểm này thì đám con cháu
nhà mình bảo đảm thua đứt mấy ông bà
cụ nhà ta. Cũng nên làm một bảng thống
kê về nghỉ hè, để xem có bao nhiêu
người nghỉ cùng một lúc, và có thể, có
bao nhiêu gia đình đi chung một chuyến? Bây
giờ, với lứa tuổi muộn màng của tôi,
chuyện đi du lịch theo kiểu đi làm người
hùng cô độc coi bộ hơi lỗi thời và
thêm phần tội lỗi.
Nhưng thuở xưa, thuở làm trai trong thời chinh
chiến, thường thường ai cũng có một thời
làm người hùng cô độc. Thời làm
lính độc thân, thời anh tiền tuyến em hậu
phương. Riêng tôi, ngoài hai chữ độc
thân còn phải phụ đề thêm nhiều thứ
lỉnh kỉnh khác nữa. Thêm chữ tàu, thành
lính tàu độc thân. Vì vậy trời càng
thường xuyên bắt tôi đi du lịch. Thêm
chữ thủy vào chữ tàu, lính tàu thủy
độc thân, thành thử những thương cảng,
hải cảng, doi vịnh, đảo hòn ở miền biển
được dịp...
ủi bãi
dài dài. Tối
thiểu cũng phải đi qua, biết qua Thành nội,
sông Hương của Huế, chợ Hàn chợ Cồn
của Ðà Nẵng, trường Sư Phạm của Qui
Nhơn, sông Ðà Rằng của Tuy Hòa, xóm Bóng,
hòn Chồng, cầu Ðá của Nha Trang, làng của
Cam Ranh, Thanh Hải của Phan Rang, rồi gì gì nữa
của... Phan Rí, Phan Thiết, Vũng Tàu, Cà Mau, Năm
Căn, Côn Sơn, Rạch Giá, Phú Quốc và hòn
Thổ Châu Poulo Panjang? Mặc dù không sang trọng
bằng những thiên đường nổi
Carnival Cruise,
Scandinavian Cruise
, nhưng được một điểm là
khỏi tốn tiền tàu.
Trở về đất liền, du lịch miền Trung tôi đi
gần hết quốc lộ 1, du lịch miền Nam tôi đi
gần hết quốc lộ 4. Cũng dư giả. Du lịch
miền núi tôi theo trục tiến quân đánh vào
vùng Tam Biên từ Qui Nhơn lên Pleiku, Komtum, Dakto và
trục rút quân thất thủ Vùng 2 từ Ban Mê
Thuộc chạy xuống Ninh Hòa, Nha Trang. Cũng thừa
thãi. Tóm lại, tôi được đi du lịch
nhiều chỗ. Nhiều chỗ mà ông bà, cha mẹ
của tôi chưa hề đặt chân tới. Nhiều
chỗ mà ngay cả mấy ông triệu phú cũng không
đủ phương tiện để mà đi tới, biết
tới. Những chuyến đi đó đối với tôi
đã trở thành vô giá, vì vậy tôi vẫn hay
làm cao với vợ tôi:
- Em phải biết anh có được cái may mắn
đã hân hạnh đặt chân lên khắp cõi
bờ đất nước quê hương.
Gớm! Nhưng cũng chẳng sai lệch gì cho lắm, theo
tôi nghĩ, vậy mà vợ tôi hoàn toàn không
đồng ý. Trật một ly đi một dặm, vợ
tôi lần nào cũng phán rằng:
- Nhưng anh chưa có đi Ðà Lạt kia mà!
Câu nói đó cứ làm tôi nghẹn họng.
Phải, ở Việt Nam mà không du lịch Ðà Lạt
thì cuộc đời du lịch của mình kể như
không đi đến đâu hết. Vợ tôi không
thích những chỗ có dấu chân lãng bạc giang
hồ của tôi, cứ nhằm vào thác Gougah, thác
Prenn, thác Cam Ly, hồ Than Thở, hồ Xuân Hương,
đỉnh Lâm Viên, cà phê Tùng, v. v. mà đi.
Dò dẫm trong trí nhớ, không quên một điểm
nào, không lạc một đường nào. Tôi,
chẳng qua nhà giàu mà thiếu mẻ rang, vừa quê
vừa giận. May là lúc vợ tôi "tham quan," chỉ
có chị Hồng và anh Tạ Ký, huấn luyện viên
trường Võ Bị, hộ tống nếu phải một anh
chàng bá vơ nào khác thì bệnh tức của
tôi sẽ còn trầm trọng nhiều hơn. Chỉ
thiếu mỗi cái ly lớn bằng một dặm đó
mà suýt chút nữa tôi đã trở thành con
Thạch Sùng! Còn ai mà dám hô hào bước
chân mình đã trang trải trên khắp miền
đất nước quê hương? Từ ải Nam Quan cho
tới mũi Cà Mau?
Bây giờ qua xứ người, tôi vẫn làm người,
nên tôi vẫn phải thích đi du lịch. Nhưng
để tránh mục đường anh anh đi đường
em em bước, thường thường tôi dẫn vợ con
tôi theo. Các hãng tư của Mỹ vốn vẫn xài
sang hơn Hải Quân Việt Nam, sẵn sàng đài thọ
cho cả gia đình di tản
free
, chẳng khác nào du
lịch
free
, thì tội gì không bồng bế nhau
đi cho biết đó biết đây với người ta.
Phần tôi, nếu nhập chung mấy bận đi phỏng
vấn tìm việc, nhận việc, bỏ việc, đổi
việc tôi dám nói: tôi đã hai lần đi gần
hết chiều ngang nước Mỹ. I-90 ở mạn Bắc
và I-40 ở mạn Nam. Cũng đủ chán. Nhưng
tôi không dám tuyên bố ầm ĩ với vợ tôi
nữa đâu, vì tôi biết câu trả lời sẽ
là:
- Mà anh cũng chưa đi tới thành phố New York!
Mặc dù New York của Mỹ không thể so sánh với
Ðà Lạt của Việt Nam, nhưng tôi vẫn thua kém
vợ tôi ở điểm này. Cũng tại mấy hãng
hàng không Mỹ chịu chơi, đánh đấm lẫn
nhau, dám bán vé khứ hồi cho bà con đến New York
shopping
với giá 49 đồng 99 xu. Mà thử hỏi
ai là người có thì giờ rỗi rảnh để
đi
shopping
?
Hải Quân Việt Nam đã theo đức Trần Hưng
Ðạo đi vào dĩ vãng, thời mới ra trường,
college
lẫn
university
, cũng từ từ rơi vào
quá khứ. Những chuyến đi du lịch không tốn
tiền đã lẳng lặng đi sâu vào quên lãng.
Lâu lắm rồi tụi tôi không có dịp đi du
lịch. Không phải không có thì giờ mà thật
ra chỉ vì một lý do hết sức giản dị: móc
tiền túi của mình. Ði du lịch khác với đi
ăn mày, đâu có hà tiện được.
Chính vì câu nói đó, ý nghĩ đó mà
phải chần chờ. Rồi phải theo chủ nghĩa xét
lại, thêm vào đó một dấu hỏi. Kết
cuộc, hà tiện thì không phải hà tiện, nhưng
tính kỹ, xài kỹ.
Ở Việt Nam, nơi ăn chốn ở cho người đi du
lịch thông thường đã có bà con hay bạn
bè lo sẵn. Bên này đâu có dễ dàng
như vậy. Thâm tình lắm mới có chuyện ăn
nhờ ở đậu. Rồi chỉ riêng có mình
mình rỗi rảnh rong chơi, trong lúc bạn bè vẫn
phải bận bịu công ăn việc làm, khơi khơi
đến quấy rầy hạnh phúc của người ta ai
lại không ngại. Vả lại, đâu phải chỗ
nào mình muốn thăm viếng là có bạn thâm
tình ở đó. Như vậy, tự lo lấy thân
vẫn là điều tốt hơn hết.
Chi phí nặng nhất của những chuyến du lịch
đúng ra không phải là tiền ăn mà là
tiền ở.
Ăn thì nhiều chớ ở bao nhiêu
,
câu nói này trật đường rầy nhiều chỗ.
Hotel, motel
hạng trung bình, giá một đêm
cũng tròm trèm nửa tuần lương
minimum wage
.
Ðó là trường hợp hai vợ chồng son, một
phòng đơn, một giường chiếc là đủ
thấy ấm cúng, không còn biết cô độc, lẻ
loi. Ðằng này con cái bề bộn như tụi tôi,
muốn đóng đô ở đâu cũng đòi hỏi
nhiều phòng đôi, giường đôi. Trở ngại
đó chớ... À há, tại sao mình không đi
du lịch theo kiểu... đi cấm trại? Những đêm
lửa trại của thuở học trò bao giờ cũng vẫn
là những đêm đẹp đẽ nhất, êm đềm
nhất trong đời. Vậy thì phải tạo cho con cháu
mình có cái cơ hội này. Vừa đỡ tốn,
vừa vui.
Tôi bắt đầu nghiên cứu, xúc tiến. Cấm
trại cũng có nhiều hình thức. Bình dân
thì vác theo cái lều vải, trung lưu thì kéo
theo chiếc
pop-up camper
, sang giàu thì mua luôn xe
để dành đi du hí,
camper
có máy,
recreation vehicle
. Tôi xếp tôi vào hạng trung
lưu nên tôi tìm mua
pop-up camper
. Vớt
được một chiếc đời 75, hiệu Jayco, mua cũ
về tu bổ lại. Loại trung, 6
feet
12
feet
, có
sáu chỗ ngủ, gồm bốn chỗ ở hai tấm ván
lót nệm hai đầu và hai chỗ do bàn ăn sập
xuống ở khoảng giữa. Có bồn rửa mặt, tủ
lạnh, bếp gaz và mối nối điện nước.
Chỉ cần gắn cái
trailer hitch
vô cái cản sau
của chiếc xe Van là xong. Ăn chắc mặc bền,
năm này qua năm khác sẵn sàng kéo đi khắp
xứ. Ðám con tôi lại không chịu làm kẻ
trung lưu, tự xếp mình vào thành phần bình
dân, có chỗ ngủ dành sẵn trong xe mà cứ
đòi mua cho được mấy cái lều cá nhân.
Phần ở đã xong, bây giờ đến phần ăn.
Ở thì nhiều chớ ăn bao nhiêu
. Phải
hôn đó? Cũng trúng phần nào mặc dù
mới nghe có vẻ ngược đời. Nhưng trúng
chắc một điều là mình khác với Mỹ, thay
vì phải ăn tiệm,
eat out
, mỗi khi đi du lịch,
tụi tôi dự trù mỗi ngày mỗi đi chợ, đi
tới đâu nấu ăn tới đó. Nói đúng
ra, các món ăn ở nhà hàng thứ thiệt của
Mỹ thì quá mắc không hợp với chính sách
thắc lưng buộc bụng. Còn
fast foods, hamburger, hot
dog
thì tốt hơn
ta về ta ăn cá ao ta
.
Chỗ ăn ở đã xong, xe cộ xăng nhớt dầu
mỡ cũng đã đâu vào đó, bây giờ
chỉ còn một câu hỏi:
- Em định đi đâu?
- Ði Washington D.C.. Em nghe nói trên đó có
nhiều cửa hàng Việt Nam bán áo quần, nữ trang
rẻ lắm. Tiệm ăn nữa, đủ món Trung Nam
Bắc muốn ăn món gì cũng có. Rồi đền
đài, danh lam, thắng cảnh, di tích lịch
sử... thiếu gì chỗ đáng xem. Còn anh, anh
định đi đâu?
- Ði biển. Lâu rồi không ra biển, anh thấy
nhớ biển muốn nhìn lại biển. Chỗ nào
cũng được, miễn có biển. Biển, biển,
biển... em biết hôn?
- Như vậy em đề nghị mình đi Washington
D.C. trước, xong bận về mình vòng ra biển.
Hợp ý em cũng vừa lòng anh. Ði luôn một
lần,
vacation
không đi thì thôi, đi một
lần cho đáng. Mấy đứa nhỏ cũng đòi
đi thiệt lâu, xả hơi cho đã trước khi
đi học trở lại.
Vacation
đi một lần phải cho đáng? Xả
hơi phải cho đã trước khi đi học? Làm
như là đi Âu Châu, Úc Châu, Ai Cập, Trung
Quốc không bằng. Chỉ vòng vòng mấy tiểu
bang miền Ðông dọc theo bờ biển Ðại Tây
Dương này thì đã thấm vào đâu. Do
kinh nghiệm của những người Mỹ thích đi cấm
trại truyền lại, tôi dở cuốn
campbook
của
hội AAA ra nghiên cứu. Những khu cấm trại của
AAA, KOA, của những hãng địa phương, và
những State Park mọc lềnh khênh trên bản đồ.
Mặc tình lựa chọn. Có ghi rõ lộ trình,
số trại, tiện nghi công cộng: hồ tắm, nhà
tắm, nhà cầu, chỗ giặt quần áo, chỗ thả
tàu cho những người có tàu, chỗ câu cá cho
những người thích đi câu... v.v.. Chi tiết về
giá cả, thời gian cần thiết trước khi dành
chỗ, cách thức đóng
deposit
, cũng như
thời khóa biểu mở cửa hàng năm của trại
cũng được ghi đầy đủ trong đó.
Có dấu AAA hoặc KOA thì mắc một chút nhưng
bảo đảm sẽ sạch sẽ, khang trang hơn. Trật
tự và an ninh nữa, ban đêm có người đi
tuần?
Mấy tọa độ dọc bờ biển Atlantic đã
được chấm và một ngày đẹp trời cuối
tháng tám đã đến. Hai vợ chồng, bốn
nhóc, một thằng cháu và một thằng Mỹ con
biết ăn nước mắm, tất cả hân hoan chuẩn
bị lên đường. Tôi lo máy móc, xe cộ,
camper
, phụ tùng, bản đồ. Bọn nhỏ lo gom
góp dụng cụ du hí: cần câu, vợt
tennis
,
vợt vũ cầu, banh tròn, banh bầu dục, phao tắm,
lều cá nhân, đèn pin, vv. Vợ tôi lo áo
quần
sport
, khăn khiếu, giày dép và lương
thực ăn dọc đường trên xe: chả giò,
thịt gà quay,
sandwiches
. Nước ngọt, bia chất
đầy thùng đá. Không quên mang theo cây
đàn và mấy cuốn băng nhạc Việt Nam. Gửi
bịch
dog foods
cho người láng giềng nhờ chăm
sóc hai con Lucky và Bingo là việc làm sau cùng
trước khi dứt khoát ra đi.
- Hê, tất cả nghe đây. Còn ai quên món
gì, điều gì nữa không?
- Ba có lấy máy chụp hình và phim của ba con
để trên đầu tủ?
- Má mầy lo cái vụ đó mà... à, em có
đốt nhang trên bàn thờ?
- Rồi, em làm xong tất cả rồi. Chỉ có anh
là không nhớ cái gì hết mà thôi.
Cứ theo I-40 về hướng Ðông, rẽ qua I-85 tại
Durham, tiếp qua I-95 tại Petersburg là thẳng một
đường về D.C.. Xe mới ra khỏi
home town
một đỗi thì mấy đứa nhỏ bắt đầu
ngủ gà ngủ gật, không còn nghe láp dáp bàn
chuyện. Chỉ còn vợ tôi chịu khó nhướng
mắt nhìn đường với tôi cho có bạn,
thỉnh thoảng tiếp tế lương thực, một
đùi gà, một lon nước ngọt. Chạy thẳng
một lèo như tàu suốt không ngừng lại chỗ
nào hết, khoảng sáu tiếng thì đến nơi.
Pohick Bay Regional Park là chỗ tụi tôi sẽ cấm trại
cũng dễ tìm. Mặc dù hơi xa thành phố
nhưng tôi biết mình chọn đúng chỗ, cái
gì trông cũng mới, cũng sạch sẽ.
Trời về chiều. Vài giọt nắng còn sót lại
trong ngày lấp lánh trong tàn cây, bóng mát.
Cuộc sống gần gủi, hòa hợp với thiên nhiên
bao giờ cũng thanh bình, êm ả. Một con sóc
chạy lăn quăn trên cành cây, vài tiếng chim
hót đâu đó. Cảnh nào cảnh chẳng hữu
tình? Sau khi lấy thăng bằng cho chiếc
camper
theo
bọt nước gắn sẵn bên thành xe, đám nhỏ
xung phong dựng lều. Bốn trụ sắt bốn góc làm
sườn, được nâng lên bằng một tay quay.
Hai tấm ván lót nệm ở hai đầu kéo ra làm
giường. Hạ cánh cửa xuống, gắn mấy
đường biên của trần vải vào kẽ nhôm
là có ngay một căn phòng kín ruồi muỗi, kín
gió sương. Bàn ăn được dựng lên,
bếp gaz được lôi ra. Nối ống nước,
mạch điện dẫn vào xe không khác gì tàu
về bến, cặp cầu, xài điện bờ, nước
bờ. Xong, mấy đứa nhỏ đi vô rừng tìm
củi khô đặng để dành nấu bếp và đốt
lửa trại. Chất đầy xung quanh lò mà vẫn
thích đi kiếm thêm. Ðể chạy, giỡn,
la hét. Vợ tôi sợ mấy người láng giềng
phiền hà, rầy:
- Nè, không được làm ồn ào quá như
vậy. Nhỏ nhỏ thôi, không phải chỉ có mỗi
mình mình ở đây nghe.
Tôi phân bua:
- Kệ nó mà, biết đâu tụi Mỹ lại vui
lây với sấp nhỏ...
Ðợi tất cả tắm rửa xong xuôi trở về lều
tôi mới bắt đầu nhúm lửa. Ðóm lửa
gia đình. Mặc dù thiếu những bài hát dân
tộc và những bàn tay cùng lứa nối nhau thành
vòng, nhưng cái hình ảnh bập bùng của
đóm lửa cũng đang sưởi ấm lòng tôi.
Bằng một phương thức khác cho một niềm vui
khác. Không mấy chốc, đóm lửa thành bếp
than hồng. Vợ chồng tôi tay trong tay nhìn đám
nhỏ say sưa chăm sóc mấy miếng thịt sườn
ướp ngũ vị hương. Mùi thơm bay theo
khói, nồng nàn cả một vùng trời. Sau bữa
cơm chiều đám nhỏ biến mất trong mấy phòng
chơi
video game
. Tôi lấy đàn dạo cho vợ
tôi nghe những bài bản quen thuộc. Không
tưởng tượng ra mình đang ở xứ người.
Nơi đây có cái gì của một vùng quê
miền Nam với trùng trùng điệp điệp những
vườn cây ăn trái.
Ngày đầu tiên chúng tôi dành nhiều thì
giờ cho các thắng cảnh, đền đài. Khổ
nhất là tìm chỗ đậu xe, vòng đi vòng
lại đôi ba lần mới tìm được chỗ
trống. Bắt đầu từ mạn Nam của sông Potomac
với công viên Lady Byrd Jonhson. Qua cầu Memorial Bridge
đến thăm đài kỷ niệm Thomas Jefferson với
hàng anh đào cành lá xum xê trồng quanh hồ,
những cây anh đào nghe nói mang về từ bên
Nhật. Vòng lên đài kỷ niệm Lincoln.
Ðến đài kỷ niệm Việt Nam, nhìn tượng
mấy người lính Mỹ đăm chiêu, ngơ ngáo
bên cạnh bức tường bằng đá đen khắc
tên những người đã hy sinh cho cuộc chiến
bại. Ði dọc theo bờ hồ không được
gọi là hồ mà là
reflecting pool
, đến thăm
cây viết chì dựng đứng, đài kỷ niệm
George Washington. Thiên hạ dập dìu như chợ tết
Việt Nam, đủ mọi quốc tịch, màu da, sắc
tộc. Chụp hình lia lịa mà vẫn thấy chưa
đủ, phải nhờ người khác chụp thêm.
Mãi xem những tác phẩm điêu khắc, kiến trúc
có thật vẫn thường thấy trong báo, trên TV,
trong phim của thủ phủ D.C. mà quên đi mình
đang đói. Ðến xế trưa, vợ tôi mới
nhắc chừng đến chợ Việt Nam. Vòng một
mạch xuống Wilson Boulevard, một khu phố ở chợ cũ
của Sài Gòn có khác, với những bảng hiệu
tiếng Việt có phụ đề Anh ngữ. Tất cả
ăn hủ tiếu Mỹ Tho dằn bụng, rồi qua tiệm
khác ăn cơm. Như vậy mới đủ sức đi
vòng vòng
shopping
. Tôi và mấy thằng nhóc
cảm thấy thất thế, chỉ có vợ tôi và
đứa con gái là tâm đồng ý hợp.
Ðể thay đổi bầu không khí, tôi ghé vô
tiệm sách còn mấy đứa trai nhào vô quán
ăn có chứa bàn bi da. Một thời gian thật lâu,
tất cả quay về điểm hẹn. Vợ tôi vẫn
còn tiếp tục lựa quần áo, vải thêu, vòng
ngọc. Tôi hối:
- Chiều rồi, phải về trại. Mình còn ghé
tiệm thực phẩm mua đồ ăn đặng làm cơm
nữa!
- Anh khỏi lo, em mua hết rồi, chất đầy xe
để phía sau tiệm kia kìa. Ðợi em kêu bà
chủ tính tiền mấy thứ này rồi đi về là
vừa.
Tôi thở phào nhẹ nhỏm, may là có tiệm thực
phẩm nằm trong tiệm vải... Ðêm hôm đó
tụi tôi nấu nướng ăn trong xe, nhưng đám
nhỏ vẫn không quên phần đốt lửa trại.
Tòa Bạch Ốc và tòa Quốc Hội nằm trong
chương trình thăm viếng của ngày thứ hai.
Vì hồi đi không có coi ngày cho nên bây giờ
tụi tôi được toán cảnh sát cỡi ngựa
làm dàn chào ngay trước cổng tòa Bạch Ốc.
Nghe nói đám biểu tình đông lắm, đang
chuẩn bị xuống đường làm dữ, chẳng biết
đòi bảo vệ những bào thai chưa đẻ hay
bảo vệ mấy bà chửa hoang. Không muốn
rước họa vào thân, tụi tôi lấy tòa
Smithsonian thế vào. Rồi chỉ vòng vòng hai tòa
nhà này mà mất hết nửa ngày. Kể ra cũng
có nhiều vết tích lịch sử và những công
trình sáng tác lạ mắt để thưởng thức,
chiêm ngưỡng. Trưa này, mặc dù mấy
đứa nhỏ đòi ăn
pizza
, vợ tôi cũng
lôi cổ tụi nó trở về khu Việt Nam, ăn cơm
Việt Nam. Ngoài việc đi long rong coi hàng, vợ
tôi còn tìm được một tiệm bán thuốc
bắc có thầy bắt mạch cho toa tại chỗ. Biết
là mình không có bệnh hoạn chi hết mà vợ
tôi cũng ngồi vô coi mạch hốt thuốc, sửa
huyết, điều kinh. Thêm một lô dầu trắng,
dầu xanh, dầu nhị thiên đường mang về rất
là đủ bộ.
Ngày thứ ba đi thăm sở thú. Mục đích
chính là đi xem con gấu trắng, mắt đen đốm
đen,
panda bear
, của Trung Quốc tặng cho Mỹ.
National Zoo của Mỹ cũng không lớn hơn Thảo cầm
viên ở Sài Gòn bao nhiêu. Nhưng, có nhiều
thú lạ và tổ chức ngăn nắp hơn. Trên
sơ đồ chỉ dẫn lối đi còn có thêm
màu mè, xanh trắng đỏ. Theo lối đi màu xanh
sẽ thấy những con này, theo lối đi màu đỏ
sẽ thấy những con kia, cũng dễ chọn lựa. Với
tôi, chỉ là hình ảnh của một thuở nào xa
xưa. Nhưng với đám nhỏ, đây là hiện
tại, là ngạc nhiên, là thích thú. Rồi
làm gì làm, coi gì coi, xế trưa cũng phải
trở về khu Việt Nam như một thông lệ. Lần
này khác hai lần trước, chán cảnh đi vòng
vòng xem mớ quần áo đàn bà, tôi không theo
vợ con tôi vô tiệm mà đi thăm chợ trời
nằm phía sau. Không ngờ ở cái chợ chồm
hổm này người ta bày bán đủ thứ cải
đậu, rau thơm, và ngay cả thịt heo tươi cắt
theo kiểu bên nhà. Cũng còn cái không khí
Việt Nam với những tiếng trả giá, tiếng khen
chê món hàng giữa kẻ bán người mua. Trong
cảnh quang thúng ngổn ngang đó có người gọi
giật tôi lại:
- Ðại ca, đại ca, ông đi đâu
đây? Có nhìn ra thằng em không? Bây giờ
ông ở đâu?
Tôi quay lại trong mừng rỡ, ngỡ ngàng bắt tay
thằng đàn em:
- Trời, Khương, anh ở đây hả? Từ hồi
rời trại Thái Lan là tôi mất liên lạc với
mấy anh luôn. Bảy tám năm rồi. Tôi mới
dọn về tiểu bang Noth Carolina được hơn năm.
Sao, đám độc thân của mình hồi đó
đi chung một nhóm hay đi riêng từng người?
- Ði chung đại ca ơi, mà mấy thằng em mình
qua đây không đứa nào dạy dỗ được,
tụi nó bê bối hết trơn, chẳng đứa nào
chịu học hành, lo làm ăn gì cả. Rồi lần
lần chính tui cũng vậy. Bây giờ đại
ca về nhà tui chơi chớ? Tui đang ở Rockville,
khoảng nửa tiếng lái, chung với thằng
sponsor
già của tui từ hồi qua đây đến giờ.
- Tôi có kéo theo cái
pop-up camper
, cả gia
đình đang cấm trại ở dưới Pohick Bay State
Park. Bà xã và mấy đứa nhỏ đang ở
trong tiệm đằng kia.
- Phải đại ca đi một mình, ở lại vài
ngày, tui dẫn đại ca đi chơi. Phòng trà ca
vũ nhạc, đại nhạc hội..., à há, tui dẫn
đại ca đi xuống đường 14 trả thù dân
tộc...
- Bậy nà. Vợ con anh thì sao? Có bảo trợ
qua được không? Anh còn sống độc thân
hay đã vướng vít cô nào?
- Ðộc thân thì không hẳn độc thân,
mà vướng vít thì cũng không hẳn vướng
vít, nó làm sao ấy ông ơi. Giấy tờ bảo
trợ tôi lo đầy đủ hết rồi mà bên
nhà chưa được kêu làm giấy xuất
cảnh... Ðể tôi ghi số điện thoại, cho
đại ca, đại ca có cần gì thì gọi.
Ông tới chơi bất cứ lúc nào, nhà đủ
chỗ chứa hết đám con ông, ông đừng có
lo. Sao, qua đây có thêm đứa nào nữa hôn?
- Cũng bốn đứa đẻ bên nhà thôi, cắt
đốt cột rồi... Tình cờ gặp lại anh tôi
cũng mừng, không đến chơi coi cũng không
được. Nhưng thiệt tình, sáng mai tôi
tính phải về sớm. Hay là anh xuống lều chơi
với tụi tôi, đường đi nước bước
ở đây anh rành, nó dễ hơn.
- Nói như vậy thì thôi tôi ghi luôn cho ông
cái địa chỉ cho rồi, để tiện bề liên
lạc. Có dịp thầy trò mình sẽ còn gặp
lại sau, ông từ North Carolina lên đây cũng
gần mà.
- Qua đây làm nghề gì Khương?
- Tui làm thợ sửa máy hình ông ơi. Canon,
Chinon, Minolta, Yashica khỉ khô gì của tụi Nhật
là tui sửa ráo trọi, mỗi ngày cả hai ba chục
cái. Còn đại ca?
- Tôi được đi học lại. Ra trường
làm thợ điện cho Western Electric. Khương này,
có muốn đi gặp bà xã và mấy thằng
nhóc không?
- Tui ghé đằng này có chút việc, một
lát tôi tạt qua.
- Nhớ nghe. Bà xã rất mong gặp lại
Khương và mấy thằng em của mình đó!
Khương bỏ tấm giấy ghi địa chỉ của tôi
vô túi rồi vội vã đi lại chỗ đậu xe.
Tôi vào tiệm Mekong bằng cửa sau. Thiên hạ
đông như kiến cỏ. Tôi tìm vợ con tôi
còn khó, huống hồ Khương. Vả lại, tại
sao nó không nghĩ rằng lúc nó trở lại thì
tụi tôi sẽ không còn ở tiệm này? Tại
sao nó không đi cùng với tôi? Chắc nó
định vọt luôn! Ngày xưa Khương là sĩ
quan trực trung tâm hành quân, trong khi tôi làm trung
tâm trưởng. Trung tâm trưởng với sĩ quan
đi phiên cũng chẳng gắn bó, sống chết gì
với nhau cho lắm. Tình lính văn phòng nó
khác xa với tình lính tác chiến. Lúc chạy
chạy cùng một ghe, coi như cùng chung một số
phận. Ra khỏi Việt Nam, từ chỗ cùng chung một
số phận đi tới chỗ cùng chung một cấp, ngang
hàng ngồi với nhau cũng rất gần. Không còn
kẻ trên người dưới, ai cũng như ai phải
làm lại từ đầu. Khương còn nghĩ tình
thầy trò, chào hỏi tôi như vậy cũng là
đẹp lắm rồi, tôi nghĩ.
Sáng ngày sau theo dự trù là phải đi sớm,
vậy mà lúc khởi hành mặt trời đã lên
cao, sương đọng trên lều chừng như đã
khô. Phần viếng thăm thủ đô nước Mỹ
của vợ tôi đã xong, bây giờ đến phần
tôi, đi biển. Tôi đi ngược lên
đường US 50, xuyên qua tiểu bang Delaware, vòng ra
biển. Trạm ngừng đầu tiên là thành phố
Annapolis có trường hải quân. Annapolis, École
Navale de Brest, trường hải quân Nha Trang là những
trung tâm đào tạo sĩ quan hải quân của Mỹ,
Pháp và Việt Nam. Tôi thấy chiến hạm, chiến
đĩnh trong vịnh rõ ràng hơn khi chạy ngang qua
cầu Chesapeake Bay Bridge. Hồi tưởng lại ngày
nào ở Nha Trang với những lần hải hành thực
tập đầu đời. Thấy nhớ tàu, nhớ sóng
biển, nhớ những lần đi phiên, nhớ những
bữa ăn trong carré sĩ quan..., nhớ đủ thứ.
Con đường US 13 tiếp nối, dẫn chúng tôi
xuống Chesapeake Bay Bridge-Tunnel. Khoảng ba chục cây
số đường cầu, như từ Sài Gòn lên
Biên Hòa, với hai đoạn đường hầm ngầm
dưới đáy biển mỗi đoạn khoảng ba cây
số. Không hiểu Mỹ bắc cây cầu này với
dụng ý gì? Làm cảnh hay để phô
trương kỹ thuật? Cây cầu không có một
vị trí chiến thuật chiến lược nào hết,
và cũng không giúp ích gì cho hệ thống vận
tải đường bộ của nước Mỹ. Mặc
kệ. Tôi chỉ thấy gió biển làm lòng tôi
hân hoan, khoan khoái. Một vài con hải âu lạc
đàn bay rà rà theo xe.
Nghe vẽ nghe ve, nghe vè
nói ngược, xe chạy dưới nước, tàu chạy
trên bờ
... Xe chạy dưới nước? Không,
xe chạy trên biển, vì hai bên đều là biển,
và cây cầu nhìn trước nhìn sau đều chun
xuống biển. Gần đến bờ Norfolk, Virginia, tôi
lại gặp thêm một cảnh ngược đời nữa:
tàu dầu, hàng không mẫu hạm chạy trên
đầu xe hơi. Ai dám nói như vậy? Nên
nhớ rằng, hồi xưa ông Nguyễn Trường Tộ
chỉ vì nói thật mấy chuyện ngược đời
mắt thấy tai nghe mà đã bị chém đầu.
Ðầu đường hầm, cuối đường hầm
là hai hải đảo nhân tạo có hình hạt
đậu. Hai đoạn đường hầm vị chi bốn
đảo, bốn chỗ duy nhất có thể đậu xe
nghỉ xả hơi, hóng gió biển. Và nhìn lại
đoạn cầu đã chạy qua. Chạy một mạch
không được ngừng và không được
chậm hơn vận tốc ấn định tại vì mỗi
chiều chỉ có một
lane
. Trong bốn đảo
có một cái được làm lớn hơn, có
tiệm bán quà kỷ niệm, có quán ăn, có
cầu câu cá bắc ra ngoài xa. Thiên hạ tụ
tập ở đây chật nghẹt, du khách cũng có
mà người đi câu cũng có. Chụp hình,
lại chụp hình.
Xuyên qua thành phố Norfolk, theo đường 17,
đường 158 tụi tôi đi xuống vùng Outer Bank
của North Carolina. Một dãy đảo hẹp bề ngang
dài chiều dài, như những củ mì, nối tiếp
nhau thành hình chữ S giống giống như nước
Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào. Là một
cái Vạn Lý Trường Thành thiên nhiên chống
lại sóng gió Ðại Tây Dương? Cũng
hợp lý, vì đây là vùng biển được
coi là nguy hiểm nhất của nước Mỹ, mệnh danh
là "nghĩa địa Ðại Tây Dương." Tàu
chìm từ thời Kha Luân Bố cho đến thế hệ
hiện đại, nguyên tử này vẫn còn nằm
lềnh khênh ngoài khơi. Thống kê cho biết hơn
sáu trăm chiếc trong vòng bốn trăm năm. Lý
do là tại hai dòng nước ngược chiều chảy
xiết bên nhau, từ Bắc vô Nam và từ Nam ra Bắc.
Rồi những cồn cát ngầm coi vậy mà cũng lanh
lẹ, biết ăn theo thuở ở theo thời, uyển chuyển
di hành theo kẻ mạnh, sóng ngã chiều nào tràn
sang chiều đó.
Ðến mạn bắc Outer Bank thì trời cũng nhá nhem
tối. Tôi chạy thẳng đến vùng Vịt, Duck,
để tìm chỗ cấm trại cho gần. De xe vào
chỗ đậu xong xuôi, tôi chia phần với vợ tôi:
- Bây giờ như vầy, một mình anh ở lại
đây dựng lều, còn em làm ơn dẫn mấy
đứa nhỏ đi tắm. Nóng nực cả ngày
trên xe, đứa nào đứa nấy chua lè.
Vợ tôi lại thắc mắc chuyện khác:
- Rồi tính sao chuyện cơm nước? Vòng vòng
đây, em không thấy quán tiệm nào hết.
- Em đừng lo, để đó cho anh.
Dựng lều và sắp xếp đồ đạc chưa xong
thì tôi đã thấy vợ tôi và đám nhóc
chạy trở về như bị ai rượt. Tôi ngạc
nhiên hỏi:
- Tắm gì lẹ vậy.
Vợ tôi than:
- Cái địa danh Vịt mới nghe đã vô duyên,
đã vậy khu cấm trại lại còn vô duyên
hơn nữa, không có nước nóng, nước
lạnh lạnh run hà.
- Thiệt hả? Tụi này
rip
mình
off
!
Lỡ rồi. Chỉ tại tôi làm biếng không
chịu chạy thêm một đoạn đường nữa,
xuống State Park. Thầm nghĩ cứ để dành
đó, ngày mai sẽ xuôi Nam luôn
một lèo...
Tiếp nối Duck là vùng Kitty Hawk, Kill Devil Hill, Nags Head,
Whalebone. Không nổi tiếng như Kitty Hawk, không
được lấy làm tên cho một hàng không mẫu
hạm, nhưng Kill Devil Hill lại là nơi đã viết
lại lịch sử rất quan trọng của nền văn minh
nhân loại. Chỗ mà hai anh em Wright Brothers đã bay
thí nghiệm chiếc máy bay đầu tiên. Nhìn
chung, vùng này đâu đâu cũng có những
đụn cát cao như núi, vàng như trấu, rất
thuận tiện cho người xưa tập bay, cũng như
rất thuận tiện cho người nay tập
hang glider
.
Rồi đến một National Park mà không được
gọi là National Park: National Seashore, bờ biển quốc
gia. Tên nghe xôm trò như vậy nhưng thật ra
đây chỉ là một đảo hoang.
Wild life
được
protected
. Có nghĩa là chim trời,
cá nước được bảo vệ? Có nghĩa
là rừng mắm mọc dầy và cỏ lau mọc cao trên
cát mặn cũng được bảo vệ nốt? Ai mà
biết được! Biết chăng chỉ là sự tắt
ngấm từ lâu của những ngọn hải đăng, nay
đã thành những di tích lịch sử. Ngọn hải
đăng sơn sọc đen trắng theo kiểu
candy can
ở Cap Hatteras vẫn còn đứng vững sau nhiều lần
tu bổ đã trở thành ngọn hải đăng cao
nhất của miền Bắc Mỹ. Ngọn hải đăng
đã một thời làm con mắt thần của biển,
có thể nhìn thấy tàu bè xa hàng mười
bảy hải lý, khoảng ba mươi hai cây số.
Từ mũi Hatteras qua đảo Oracoke phải đi bắc.
Khoảng nửa giờ giống như qua bắc Mỹ Thuận,
nhưng khác một điểm là được đi
free
, khỏi phải mua vé. Tại bến bắc này,
tôi rất đỗi ngạc nhiên vì đàn hải
âu. Dạn không thể tưởng, dám mò tới
ăn luôn miếng bánh mì tôi đang cầm trên
tay. Ðâu cần
wild life protected
mà từ đâu
không biết tụ tập đông đảo như đám
bồ câu ở tòa thánh Vatican. Chí choé
điếc tai. Mấy đứa con tôi thì thích xem
hải âu đớp bánh mì trên không trung.
Xẹt qua xẹt lại như
star wars
mà không
đụng nhau mới là lạ.
Còn một chuyến bắc nữa từ đảo Oracoke vào
đất liền, Morehead City. Dài hạn hơn, những
ba tiếng đường biển. Và phải tốn tiền
toll
, mười đồng một xe không chạy khỏi
đằng trời. Tôi chưa từng đi một chuyến
bắc nào lâu như vậy. Thời khóa biểu rời
bến cặp bến hàng ngày đã được ấn
định sẵn. Phải gọi điện thoại giữ
chỗ trước nếu không muốn bỏ ra ba giờ ngồi
không chờ chuyến kế. Cũng là loại bắc hai
từng như bắc ở Việt Nam, nhưng lớn hơn một
chút. Lại một ngạc nhiên khác với đàn
hải âu, cứ vần vũ bay theo chiếc bắc ra giữa
biển khơi. Chi chít và đen nghẹt như đám
bồ hong đang bay trên đầu người khổng lồ
lúc trời chạng vạng tối. Những mẫu bánh
mì của tất cả mọi người cứ tiếp tục
xịt lên không trung như những ngòi pháo.
- Không phải chỉ những người làm lính
thủy mới biết thương mến con hải âu, phải
không?
Tôi hỏi đám con tôi như vậy.
Trước khi đến Salter Path, một
triple A campground
ở vùng Atlantic Beach, chúng tôi ghé thăm North
Carolina Aquarium. Tưởng là một trung tâm nghiên
cứu về hải sinh tương tự như Hải học
viện Nha Trang, với hàng ngàn chai hũ ngâm rượu
các xác chết của đủ loại sinh vật sống
trong biển mặn, ai dè chỉ vài chục lồng kiếng
nuôi cá biết lội. Cá ngựa, cá mú, cá
đuối, cá mập. Cầu gai, sao biển, ốc
tai tượng, đồi mồi. Ðặc biệt
có loại cá
bowlfin
, giống như con cá bống
trứng lớn bằng cườm tay của mình, đã
xuất hiện trên quả địa cầu này khoảng
một triệu ba trăm ngàn năm. Mấy dòng
chữ giới thiệu nói như vậy. Nhìn chung thứ
nào cũng ăn khách. Nhưng, thực khách chiều
hôm đó phải là gia đình tôi, một bữa
thịnh soạn đủ bộ tôm cua sò hến ăn với
bánh tráng rau sống mua từ D.C. Xong, đi ngủ sớm
để lấy sức cho ngày mai vì chương trình
có phần hơi nặng: sáng tắm biển, trưa cào
sò, bắt ốc trong Pamlico
sound
, vùng nước
giữa đảo và đất liền.
Chương trình buổi sáng không có gì thay
đổi. Tắm biển. Toàn là dân trắng chỉ
có bọn tôi là dân vàng và tuyệt nhiên
không thấy dân đen. Bãi biển không lài
như bãi Trước lội cả cây số nước
chỉ tới ngực, mà giống như bãi Nha Trang, bãi
Sau. Những lượn sóng thật lớn phủ vào bờ
trắng xóa. Mấy đứa con tôi mới được
tắm biển ở Mỹ lần thứ nhất. Mới đầu
sợ, dần dần quen, khoái, tắm hoài không chịu
lên. Tôi còn sợ hơn đám con tôi nhiều
vì sực nhớ ra chưa đứa nào đã biết
bơi rành rẽ.
Chương trình buổi trưa thay đổi thấy rõ
vì mục cào sò không hấp dẫn mấy. Cả
tiếng mà chỉ được một
dozen
. Tôi
và vợ tôi chuyển sang nghề bắt chem chép, con
muscle
, mọc đầy trong mấy bãi lát. Ðám
nhỏ đi vãi chài, tay chài năm thước
đường kính mới mua trong tiệm bán cần
câu. Tụi Mỹ chỉ chài vòng vòng trong mé
mục đích bắt
meno
, cá con, để làm
mồi. Nhưng đám con tôi chịu khó lội ra xa
nên bắt đủ thứ: cá đối, cá rô, cá
đuôi đỏ, tôm lóng, tôm thẻ, ghẹ.
Tay làm hàm nhai, chiều ngày đó gia đình
tôi cũng có bữa ăn toàn đồ biển.
Ðêm đến, mấy đứa nhỏ đi chơi
game
, chỉ còn lại hai vợ chồng nên tôi
đề nghị đi ra biển hóng gió. Bãi biển
về đêm trở nên vắng lặng. Một vài
cặp có lẽ là nhân tình song bước trong âm
thầm, đồng lõa. Chỉ còn tiếng sóng vỗ
bờ ì ầm nghe rõ mồn một. Như một bãi
biển nào ở Việt Nam? Ngoài khơi cũng vậy,
vài ánh đèn leo lét của tàu đánh cá,
tàu buôn. Cũng như một bãi biển nào ở
Việt Nam? Tôi bỗng nhớ Nha Trang,
anh nhớ Nha
Trang
, tôi nói nhỏ với vợ tôi như vậy.
Tôi bỗng thấy con đường Duy Tân, thấy dãy
villa trông ra biển, thấy bãi cát mịn màng
hiện ra trước mặt. Và bên tai tôi, tôi
còn nghe toàn tiếng nói của ngôn ngữ duy nhất
tôi yêu từ khi mới ra đời...
- Anh đi đâu vậy?
- ...
Tôi lội xuống nước mà tôi không hay.
Hình như tôi muốn sờ mặt nước xem có
thật đây là biển của Nha Trang? Tiếc thay,
nước biển này không phải là nước biển
Thái Bình Dương. Thất vọng, buồn vô tả.
Những ngày cấm trại, những di tích lịch sử,
những hình ảnh ghi lại trong tôi đột nhiên
trở thành vô nghĩa. Tôi cảm thấy mọi
thứ chỉ thật sự có nghĩa nếu nơi này
là quê hương, là Việt Nam.
Nhớ biển ta đi biển
Biển nào cho giống biển Nha Trang
Chốn này, biển gì đây?
Sao ngó quanh toàn cao ốc
Ra vào chẳng dễ dàng!
Vậy rồi ta tìm đâu
Bar số 5 xuống Chutt
Dấu chân thèm lang thang?
Bỗng nhiên chìm xuống
Bao nỗi rộn ràng
Biển này làm gì giống biển Nha Trang!
Tìm đâu ra đám dã tràng
Dưới chân ta toàn sand fleas
Bảo sao ta không vừa ý
Biển còn đâu thi vị
Còn đâu thi vị...
Qua ngày sau, mấy đứa con tôi chẳng hiểu hay
chỉ hiểu lờ mờ cái lý do tại sao tụi nó
phải dọn trại sớm hơn chương trình dự
trù một ngày. Riêng tôi, suốt đường
về lòng tôi cứ ngân lên tiếng vọng: còn
đâu thi vị...
back to top
03. TA TẮM AO TA
NGUYỄN TẤN HƯNG
Gặp nhau hàng ngày chẳng ai thèm để ý,
đến lúc sắp xa nhau mới thấy người chăn
gối kề cận bên mình là quan trọng. Ngay cả
những cặp chưa phải là vợ chồng. Trước khi
lên
limousine
ra phi trường, Trí nồng nàn
bá cổ ôm hôn cô
girl friend
tóc vàng đã
move in
với chàng hơn sáu tháng nay. Nụ hôn
nào cũng nhầy nhụa, ướt át nhưng đây là lần
đầu tiên Trí cảm thấy có chất mằn mặn của
tình yêu và mùi thơm tho của luyến tiếc. Thỏ
thẻ giọng oanh vàng, người tình riêng đã ân cần
dặn nhỏ Trí một câu:
-
Honey
, anh không cần phải
chase
cái
đám con gái ở dưới đó, nghe chưa?
Trí gật đầu, đáp nhanh:
- Ừa, anh hứa. Và em tốt hơn cũng làm
giống như anh vậy. OK?
Tình yêu kiểu Mỹ là thế. Có thể nói nó dễ
dàng đến rồi cũng dễ dàng đi. Nhưng, phải
chấp nhận một điều là sòng phẳng. Ăn đồng
chia đủ, thiếu một góc cũng không xong. Cũng
có cái hay của nó.
Check book
riêng, mua sắm
riêng, ăn uống riêng, ngay cả những liên hệ gia
đình và những ý nghĩ suy tư cũng vẫn là
personal
business
. Như vậy cái gì là của chung? Có phải
chăng là bầu trời này, là trăng, là sao, là
cái
apartment
, là cái giường và những giây
phút ái ân? Người đàn bà Mỹ, theo Trí quan
niệm, như là một áng mây. Phải biết chiêm
ngưỡng cái áng mây đó trước khi nó thay hình
đổi dạng hay vụt tan ra từng sớ mỏng. Tan hợp
hợp tan, như chẳng có gì bền bỉ tuyệt đối
hết. Rồi lỡ có ngày chia tay thì... chia tay.
Chẳng ai thèm mang nặng thêm một nỗi ân oán
giang hồ.
Còn người đàn bà Á đông thì sao? Trí đang
thèm tìm hiểu, khai phá thêm! Thêm nữa, ở
những khung trời xa lạ. Hay đang hăm hở trở về
bến cũ? Cũng chẳng sai!
Nhơn chi sơ tay rờ
vú mẹ, tánh bổn thiện cái miệng đòi bú
,
đã làm thân con trai mà không
rượt
cái đám
con gái thì
rượt
ai? Hơn nữa không mấy khi
được "sút chuồng," bắt Trí phải làm tên
bất bình thường, nguyễn thị, thì coi sao
được. I promise, anh hứa. Nhưng chắc phải
"hứa một đường, làm một nẻo" thôi. Trí mỉm
cười với riêng mình.
Suốt nửa tiếng trên xa lộ, Trí và người
tài xế da đen không một tiếng qua lại. Cũng
có thể hắn tiếc lời mà cũng có thể hắn
quá nể trọng Trí qua cách ăn mặc. Ông
lớn,
big boss, business man
có khác. Xe
đến phi trường, Trí trả tiền và không quên
lấy
receipt
cất vô cặp, sẵn sàng cho cái
báo cáo công tác sắp tới.
Chiều phi trường Raleigh-Durham rơi chầm chậm.
Lối ra vào thưa thớt người đi. Qua khỏi lớp
cửa tự động, Trí thấy quày Delta Air Line ngay
trước mặt. Chàng trình vé và nhân viên kiểm
soát gõ vào computer. Xong, đi thẳng ra cổng 22
theo lời chỉ dẫn. Ánh nắng vàng chói chang in vết
dài trên nền thảm màu xám tro nhạt. Qua vách kiếng,
Trí thấy chiếc Boeing 727 của mình đã lù lù đậu
sẵn đó tự bao giờ. Tiếng động cơ chạy chậm
ngân dài như tiếng ong kêu. Chuyến bay chót về
thành phố Atlanta, thủ phủ của miền Nam. Ngó trời
ngó đất chỉ một thời gian ngắn, chưa tàn điếu
thuốc của ông già ngồi kế bên, thì tiếng
hướng dẫn hành khách lên tàu vang lên trên máy
phóng thanh. Trí vạch tay xem đồng hồ,
bingo
,
không sai một phút. Máy bay Mỹ có khác.
Biết lơ lửng trên không khoảng một giờ hơn
nên chẳng ai thèm ngủ. Vả lại có muốn ngủ cũng
không được. Vì đèn
fasten seat belt
vừa
tắt thì mấy cô chiêu đãi viên liền lụp cụp
đẩy xe rượu, nước ngọt, snack đi cười xã
giao với khách ngay. Thấy họ sốt sắn làm việc
như vậy thì cũng đừng tưởng là họ yêu nghề.
Làm lấy có thôi, làm sớm nghỉ sớm, làm cho
xong cho rồi. Nụ cười mới chớm trên môi,
chợt tắt. Có để ý sự khựng lại đó mới
thấy nó sượng sùng, trò hề làm sao. Cảm tình
gì với những người cả đời chưa chắc đã gặp
lại lần thứ hai. Với khách đầu đen thì nụ cười
đó còn được
programmed
cho tắt sớm hơn một
chút. Thấy dễ ghét hơn một chút.
Gậy em đập lưng em, Trí thử trả đũa. Nụ cười
nửa mùa, nửa chừng trên môi Trí cũng chợt
tắt. Không thấy được chính mình, nhưng Trí
tự hình dung một khuôn mặt giống khỉ. Vì không
giống khỉ sao được khi người đối tượng bị phản
ứng. Ngỡ ngàng, ngơ ngác nhìn Trí trân trối
như nhìn một quái vật. Trí lấy làm thỏa mãn
cười tươi làm hòa đỡ lấy ly coke và gói almond
rang. Ðược dịp để mắt dò xét người đẹp từ
đầu đến chân. Trí bâng quơ cười mỉm, cười
thầm. Lại cười,
An nam ta gì cũng cười
.
Moi trong bọc
back seat
của ghế phía trước,
Trí lôi ra một tờ báo. Ðọc quảng cáo,
nhai almond, và quan sát bạn đồng hành là ba
việc làm cùng một lúc. Bên cạnh Trí, phía
cửa sổ, là một bà Mỹ sồn sồn đang trổ
tài đan áo. Xỏ xiên móc ngoéo thật là thuần
thục. Nhanh nhẹn, nhặm lẹ như muốn tranh thủ
cái thì giờ nửa đời còn sót lại của bà.
Chẳng thèm quan tâm đến thế sự, nhân tình xung
quanh. Cũng là một lối sống. Bên kia
aisle
là hai người Á đông mắt một mí, tóc muối
tiêu. Nhựt Bổn thì phải, vì trong cuộc đàm
thoại nghe nhiều vần ô ở cuối chữ, giống
giống như kimono, seiko, Tokyo, Yamamoto... Cũng
chẳng phiền thế sự, nhân tình xung quanh, coi
Trí như không có trên tàu.
Bỗng nhiên một trong hai cái đầu muối tiêu quay
lại nói chuyện với những người Mỹ ngồi phía
sau. Trí cứ nghĩ là họ không chịu nổi đám
khói tàu đang mù mịt tỏa lên trần phi cơ, vì
hàng ghế Trí đang ngồi là hàng ghế chót bét
của khu cấm hút thuốc. Nhưng, sau mấy lần gật
đầu xã giao và chìa bàn tay năm ngón viết phụ đề
Nhật ngữ, hai người mới dám thong thả bấm nút
cho ghế dựa từ từ ngã về phía sau. Duỗi chân
ra thoải mái, lim dim. Á, ngộ chưa, Trí nói
thầm! Lịch sự Á đông có thừa như vậy sao? Trí
bắt chước làm theo. Nhưng bấm nút đẩy lưng ra
sau một cái rẹt chẳng cần hỏi ai tiếng nào.
Không làm gì khác hơn được.
Can't help
it
. Màu mè hơn, Trí còn với tay tắt ngọn
đèn con trên trần rồi mới khoanh tay nhắm mắt
ngủ.
Mà có ngủ được đâu. Thiền chưa hết một nửa
cây nhang là có tiếng báo động sắp sửa đáp
của phi hành đoàn. Tiếng động cơ như nhỏ lại
và mọi người bỗng nhiên đâm ra nhốn nháo. Kẻ
mở mắt ngồi thẳng lưng, người vương vai trở
mình cựa quậy. Bà Mỹ ngưng đan, dõi mắt
qua cửa sổ nhìn xuống đất. Trí dòm ké, để
mắt ngó nghiêng nghiêng. Nắng bên ngoài dường
như tắt, vài chỗ đã thấy lên đèn. Bấm
nút cho ghế dựa chạy về phía trước, thắt lại
an toàn, Trí sẵn sàng chờ đợi. Lỗ tai rồi
sẽ bị lùng bùng, nhưng nhức. Nói lớn cũng chẳng
ai nghe. Phi cơ chòng chành một chút rồi sẽ gập
ghềnh trên phi đạo. Không có không tặc, không
có
near miss
, không có
mid air collision
. Chỉ
cần vậy thôi... Trí nhẹ nhỏm người khi máy bay
phom phom trên đường vào bến đậu.
Concourses A, B, C, D
? Là cái quái gì? Là
subway
, là đường xe điện ngầm? Rõ
mình nhà quê lên tỉnh, Trí nghĩ thầm. Phi
trường Hartsfield này phải là một trong những phi
trường quốc tế. Cái gì cũng to lớn và khác xa
so với phi trường nhà. Tản bộ trên thang máy
nằm ngang một đỗi thì Trí đến trạm
subway
đầu tiên. Không cần đọc lại lần thứ hai
lời chỉ dẫn cách quá giang, Trí nhảy vô nếm mùi
văn minh tân tiến với người ta.
- Cửa sẽ đóng trong vòng hai phút... Cửa
sẽ đóng trong vòng hai phút... Cửa sẽ
đóng trong vòng một phút...
Giọng lải nhải trong hệ thống âm thanh thật
là quái đản, chẳng giống tiếng người
chút nào hết. Tiếng của một
robot
, một
alien
từ thế giới xa lạ nào thì đúng
hơn. Trong đầu Trí như vọng về tiếng hát
của Jo Marcel...,
chúng là lũ người máy,
chỉ còn mình anh mong nhớ em, chỉ còn mình anh
mong tìm em, tìm em
... trong cuốn băng Ðời 11,
Dạ vũ Biển. Rồi bing, cửa đóng lại
sau một phút đúng, như không sai lệch một
nanosecond
nào. Vù vù vù, toa xe không
người lái vụt tự động chạy nhanh như
gió. Trí đứng phía sau nhìn vào khoảng
đường hầm xây bằng đá tảng, hun hút
tối om. Ðường hầm từ dinh Ðộc Lập ra
nhà thờ Cha Tam có ngon lành lắm chắc cũng
giống như vầy thôi. Không mấy chốc, toa xe
lại tự động thắng lại, ngừng lại.
- ... Cửa sẽ đóng trong vòng hai phút... Cửa
sẽ đóng trong vòng một phút...
Ðóng? Ðó, có giỏi đóng thì đóng đi, lũ
người máy! Trí nhảy ra đi bộ trở lại, không
thèm chơi cái trò trẻ con đó nữa. Bên ngoài
vừa rộng rãi khoảng khoác vừa có đủ thì giờ
ngắm nhìn người đẹp. Ðường nào trước sau
cũng về La mã, cũng phải dứt điểm ở chỗ
gọi là
terminal
. Thế thôi. Và nhờ vậy
Trí mới có dịp đi qua các thang máy nghiêng
loại hai ba từng cao, ở trên nhìn xuống thấy
ngộp. Ngộp thì có ngộp nhưng không phải lo
bị trượt chân té lăn cù từ chót đỉnh vì dưới
chân mình thiên hạ đã đứng chật nghẹt. Trí
chỉ lo hành lý của mình rồi không biết sẽ chạy
về đâu. Người một nơi của một ngã, một
lần nữa Trí học khôn. Lần sau có đi đâu
chỉ cần đem theo một ít áo quần là đủ. Không
cần khăn khíu giày dép mọi thứ lỉnh kỉnh. Một
sắc tay xách theo mình là tiện nhứt.
Atlanta, thủ phủ của dân chống đối miền Nam,
rebel
, chống lại đám hay dành cầm quyền
miền Bắc,
yankee
, trong thời nội chiến
Mỹ. Thời Nam Bắc phân tranh. Nhưng lạ quá,
chẳng thấy gì giống trong phim mà Trí đã
mấy lần xem tới xem lui hết vậy? Rất tiếc,
rất tiếc! Tất cả có lẽ đã
cuốn theo chiều
gió, gone with the wind
rồi. Ðừng mơ mộng!
Quả thật Atlanta bây giờ là một thành phố
rực rỡ đèn màu. Từ xa nhìn vào, đám nhà
chọc trời ở
down town
dính liền nhau nhấp
nhô như mô hình của một hải đảo ánh
sáng. Tuy nhiên, Trí chỉ được phép nhìn
thoáng qua mà thôi vì Trí còn phải lái
xe. Ðường I-85 năm sáu
lane
một chiều
đã là lạ con mắt, mà chiếc Toyota Camry thuê
của hãng Avis cũng đang lạ tay lái. Con gái
có đứng chật bên đường chưa chắc Trí đã
dám liếc ngang liếc dọc nói gì nhà cửa, tiệm
quán. Sáu mươi lăm, bảy chục dặm một giờ
băng qua thành phố. Chính vì vậy chẳng bao
lâu Trí đã đến Sheraton Hotel nằm chênh vênh
trong khu phòng sở làm việc Century Center.
- Tên của ông, thưa ông?
- ...
- Thẻ American Express Corporate Card của ông,
thưa ông?
- ...
Chẳng thèm nói một tiếng với em tóc vàng tại
quày nhận khách, Trí chỉ làm những động tác
của một người thi hành lệnh. Ðám này cũng chỉ
là một lũ người máy mà thôi. Là một anh hùng
hảo hán như Trí mà vẫn bị xem thường như loài
thảo khấu. Chẳng thấy cây bảo kiếm (phù hiệu
IBM làm bằng vàng 14) đang đeo bên mình (gắn
trên cà vạt) đây sao? Trà đình tửu điếm hạng
sang của Mỹ mà chẳng biết cách chiều chuộng khách
giang hồ có máu mặt gì hết. Quán trọ bên
đường thời Võ lâm ngũ bá, Anh hùng xạ điêu,
Thần điêu đại hiệp... mới bước vào thì đã
có tiểu nhị khúm núm mời rượu thịt rồi. Không
ai dám giục giặc hỏi tới hỏi lui một tiếng.
- Ðây là chìa khóa phòng của ông, thưa ông!
- ...
Chín trăm mười bốn? A, cái bọn gian tà này
dám để Trí nằm tuốt luốt trên lầu thứ
chín! Nhưng mà có thang máy thì lầu chín hay lầu
hai mươi ba, hai mươi lăm gì gì cũng vậy
thôi. Trí xách hai cái vali lớn lót tót đi
tìm elevator.
Vòng quanh một nửa vòng trong của cái building cất
ba mặt thành hình tam giác này, Trí gặp được
phòng. Tra chìa khóa vào ổ khóa mở cửa bước
vô phòng. Một cử chỉ hết sức thong thả
tự nhiên... Bỗng Trí giựt mình dợm chân muốn
nhảy trở ra. Thích khách? Ðịnh thần nhìn kỹ
lại Trí mới hay chỉ là bóng của mình trong
gương! Cái thằng
hotel designer
nào ngu quá,
ai lại lấy kiếng gắn lên cửa tủ móc áo quần
bao giờ. Muốn dộng cho một chưởng mười thành
công lực nhưng chỉ sợ chính mình bể tan tành từng
mảnh vụn. Trí bỏ hai cái vali nằm tựa tủ búp-phê
rồi để nguyên đồ mặc ngã người lên giường
nằm nghỉ. Tâm tư thả lần theo buổi ăn chiều.
Bò bít tết loại
New York strip
sẽ là món ăn
chính. Một tuần bị đi học cho hãng chứ đâu
phải cho Trí, thì tội gì không sống những ngày
huy hoàng và những đêm... nhứt dạ đế vương.
Sáng ngày sau vào lớp học Trí mới công nhận
rằng người xưa nói đúng: những chí lớn
thường dễ gặp nhau. Trong lớp học quốc tế
này, Japanese, Chinese, Indian, Iranian, Iraqi, West
German, GI Mỹ và ngay cả Vietnamese, Trí, đều
gặp nhau ở một điểm: để tâm đến chương
trình du hí nhiều hơn là chuyện dùi mài kinh
sử. Chẳng học cho lắm có cấm thầy cũng gửi
bằng cấp về nhà. Biết đám học trò vẫn còn
cưu mang cái bệnh lười cố hữu cho nên chương
trình học được sắp xếp rất là thoải mái.
Buổi sáng dành cho bài giảng, buổi chiều dành
cho bài làm. Buổi sáng kể như kẹt rồi,
nhưng buổi chiều mặc tình du di, làm sớm
vọt sớm. Chuyện xong hay không xong cũng không
lấy gì làm quan trọng. Cuối khóa, học trò
còn có đôi lời phê bình thầy, chấm điểm
phương cách giảng dạy của thầy, thì thầy
cũng đâu nỡ cho đám học trò bất đắc
dĩ này ôm trứng vịt.
Trở về phòng ngủ, thảy mấy cuốn sách trên
bàn, Trí chụp ngay cuốn điện thoại
yellow
pages
. Chỉ cần tới một tiệm bán thực phẩm
thì Trí sẽ tìm ra tất cả. Vũ trường Maxim rồi
ta cũng sẽ đến mà nhà hàng Ðồng Khánh rồi ta
cũng sẽ đớp, Trí tự nhủ. Và cả người đẹp
tóc đen nữa rồi ta cũng sẽ yêu. Nhưng quái
lạ thay, ở một thành phố lớn
top ten
của
Mỹ như Atlanta lại chỉ có hai tiệm thực phẩm Á
Ðông: Asian Food Mart và Oriental Food Market? Trí hơi
ngạc nhiên. Mấy chục ngàn dân Việt ở đây mà
chỉ có hai người theo nghề buôn bán? Chẳng lẽ
phải đợi cho đến năm 2000 dân mình mới chịu
quên cái câu: nhứt sĩ, nhì nông, tam công,
tứ thương? Trí dò lại bản đồ và thấy tiệm
Oriental Food Market nằm ngay trên đường Buford. Chỉ
quẹo ra đây là tới. Trí xách xe ra đường. Lúc
gặp đường Buford thì cứ nhằm hướng Bắc trực
chỉ. Rồi vòng lên vòng xuống Northwood Plaza,
Pinetree Plaza hai ba bận Trí mới tìm được cái
tiệm mình muốn tìm. Chẳng phải Việt Nam ta mới
khổ! Dĩ nhiên không ai khác hơn là mấy anh ba,
Tàu Chợ lớn! Bảng hiệu tiệm loại chữ An nam
hệt khuôn này chạy qua tới đây cũng còn
gặp. Cứ vào.
- Ông có cần chi không, thưa ông?
Ðôi môi mỏng và nụ cười duyên, nhưng rõ ràng
đuôi mắt một mí không có một mãi mai nào Giao
Chỉ cả. Thất vọng. Bằng tiếng ngoại quốc,
Trí trả lời:
- Tôi chỉ xem vòng vòng.
Cô chủ tiệm còn nhỏ quá so với tuổi của
Trí. Vừa coi quán vừa đọc sách. Sách
gì? Sách học hay là tiểu thuyết Quỳnh Dao.
Hay là Tứ thư ngũ kinh? Con gái làm gì đọc Tứ
thư ngũ kinh, nói chuyện Phong Thần? Trí rảo
quanh một vòng coi hàng. Mùi nước mắm xì
dầu pha trộn với mùi khô mực khô mặn quen
thuộc của những tiệm tạp hóa Á đông.
Tiệm nào cũng vậy, ngần ấy thứ đó lỉnh
kỉnh. Không có gì gọi là đáng mua, Trí
trở ra quày tính tiền diện kiến cái cô
chủ tuy non choẹt nhưng dễ thương. Lại một
nụ cười duyên. Duyên chớ không tình. Lần
này vì Trí không cười đáp lễ cho nên Trí nghĩ
mình giống Tàu. Nhưng không muốn cô chủ hiểu
lầm mình là Tàu, Trí gõ gõ ngón tay trên mặt
kiếng, chỉ mấy cuốn băng nhạc tiền chiến
đang nằm chung một thùng với những băng nhạc
tiền mất nước bán
sale
đồng hạng 1
đồng 99 xu:
- Cô làm ơn lấy cho tôi cuốn đó.
- Ông là Viet-lam-mese?
Viet-lam-mese hay Vietnamese gì cũng vậy, Trí gật
đầu. Qua bên này rồi mà cũng còn cái
giọng Chợ lớn.
Shit
, Trí rủa thầm. Biết
ân oán giang hồ giữa mình và cô chủ Chợ
lớn gốc Hồng Kông hay Ðài Loan này chỉ tới
đây là chấm dứt, Trí trả tiền rồi lơn
tơn trở ra xe. Mặc dù không có
speed bump
trong khu
shopping
nhưng Trí cũng chạy từ
từ. Biết đâu có một cái
restaurant
của
người Việt mình quanh đây? Bỗng hàng chữ
V.N. Discount Center đập vào mắt Trí. V.N. thì
phải là Việt Nam thôi! Vì ngoài hai chữ Việt
Nam ra V.N. chắc chắn không thể
stand for
một cái gì khác được! Trí de xe vào bãi
đậu. Hân hoan, hớn hở bước vô tiệm.
- Chào anh, anh mạnh giỏi?
Một giọng nói trong hơn tiếng chuông treo trên cửa
ra vào.
Ô hay! Ít ra cũng phải như vầy. Khuôn mặt trái soan
nữa chớ, dễ thương hết sức. Ðẹp não nùng nữa
chớ. Mái tóc cắt ngắn để lộ đôi bông tòn teng
bằng đá đen,
onyx
, bự cỡ. Chiếc áo hiệu
CocaCola
màu gan gà phủ luộm thuộm trên chiếc
váy cùng màu cũng đúng là mốt đương thời. Vậy
mà tiệm vắng que không có khách. Chẳng lẽ ở
Atlanta này không có con trai độc thân? Trí
đáp gọn:
- Chào cô chủ, cô mạnh giỏi?
- Hình như anh mới tới đây lần đầu phải
không? Chắc anh ở thành phố nào gần đây, vì
nếu anh ở Atlanta thì em phải biết!
Trí giựt mình bởi cách xưng hô anh anh em em coi
bộ hơi cởi mở này. Thêm vào đó một
nụ cười hiền. Vậy là ở lành gặp hiền.
Duyên tiền định. Trí bạo dạn lây:
- Em xem tướng cũng khá lắm nhưng chỉ trúng được
phân nửa thôi. Anh mới tới đây lần đầu thiệt
nhưng không phải từ một thành phố nào ở quanh đây
mà tuốt từ tiểu bang North Carolina lận.
- Ồ, North Carolina hả? Ðể em tính coi, North
Carolina, South Carolina, Georgia... vậy thì cũng
không xa lắm.
"Giót già," muốn êm tai phải phát âm như vậy? Có
lý! Không nên "Giọt gia, Giọt gia" như Trí, sai
bét. Trí chẫm rãi:
- Ừa, chỉ khoảng ba trăm dặm thôi, năm sáu
giờ lái xe. Anh đi học. Hãng gửi anh xuống
đây tu nghiệp một tuần.
- Như đi chơi hả? Sướng há!
- Anh tên Trí. Em tên gì? Sang đây lâu
chưa?
- Em là Hoàng. Tụi em mới sang đây hồi 80.
Tụi em? Sao lại tụi em? Ðừng thắc mắc! Trí
bảo mình vậy rồi nói:
- Mới qua mấy năm mà em đã làm được
cô chủ, hay quá! Anh đi từ hồi 75 đến giờ,
mười năm hơn mà chẳng làm nên trò trống
gì hết. Mãi đến bây giờ cũng còn phải
đi học lóm của người ta. Nè, nếu anh đoán
không sai thì em đi chung với gia đình ba má anh
chị em của em phải không?
Không trả lời câu hỏi của Trí, Hoàng bày
tỏ tâm tình mình ở một khía cạnh khác:
- Qua bên này sớm như mấy anh chuyện học
hành khỏi bị lỡ dở. Lúc tụi em sang đây
thì kể như là muộn màng rồi. Chỉ có
ông xã em chịu khó đi học lại, bây giờ anh
ấy đã ra trường, đi làm cho hãng điện,
lương một năm cũng được bốn chục
ngàn. Còn em, em học hết vô nên mới nhảy
ra làm ăn đó chớ. Em có bà cô ở bên
Cali cũng buôn bán như vầy, yểm trợ cho em làm
thử. Em thấy nếu đi làm công cho Mỹ năm
bảy đồng một giờ thì cũng vậy thôi.
Ðằng này em lấy công làm lời, đồng vô
đồng ra sống cũng không đến nỗi tệ lắm
mà mình được làm chủ lấy mình, anh thấy
không?
Còn trẻ vậy mà đã có chồng? Có chồng! Ði
đâu cũng gặp có chồng! Anh phải làm sao để
cứu em ra khỏi cảnh chim lồng cá chậu? Trí
đánh một dấu hỏi nhỏ vào đồng lương bốn
chục ngàn, rồi làm ra vẻ tự nhiên tiếp lời:
- Ông xã làm tiền nhiều quá, anh mà như em
thì anh ăn ở không ở nhà cho nó sướng
cái thân, bán quán bán tiệm làm chi cho mệt.
Bây giờ Trí mới để mắt nhìn quanh căn
tiệm. Bên cạnh Trí là ba cái quày bằng
kiếng kê liền nhau thành dãy, đựng nữ trang
và đồng hồ đắc tiền Seiko, Citizen, Longines.
Trên tường, áo quần thời trang treo xen kẽ
với tranh sơn mài, có mai lan cúc trúc hoặc
võng anh đi trước võng nàng theo sau. Ở mặt
tiền, những món quà kỷ niệm rẻ tiền bày
lẫn lộn với đám lục bình cổ. Ðồ giả nhưng
cũng có vẽ canh tiều ngư mục hoặc tranh thủy mạc.
Khoảng giữa là chỗ dành cho những
stand
tròn, móc áo quần đàn ông đàn bà đủ loại.
Từ quần jean, áo sơ-mi chim cò cho đến jupe dài
váy ngắn.
- Anh qua đây một mình hay có vợ con?
Vợ con? Nói ra chưa chắc cô em đã tin,
nhưng Trí cũng nói:
- Tuổi anh coi như đã luống mà tình trạng
bên này gái thiếu trai thừa như em thấy, thì
chuyện lấy được vợ đâu phải dễ em
biết không? Chắc anh ở giá suốt đời thôi!
Ngưng một chút Trí gạ gẫm:
- Hay là em có ai quen đó, giới thiệu cho anh
đi! À, mà ngày trước quê em ở đâu, tỉnh
nào? Kể anh nghe vài kinh nghiệm chung sống với
Việt cộng coi.
- Gia đình ba má em ở Sài gòn, cuối đường
Trần Hưng Ðạo. Ðến lúc Việt cộng vô, biết
trước sau gì không đi cũng bị đuổi, nên ba má
em dọn về Long Thành đường ra Vũng Tàu. May
là lúc làm ăn có tiền ba em có cho người khẩn
rẫy lập vườn ở ngoài đó, bằng không thì
chắc khó sống. Năm đó em đỗ phần hai,
em đang học Marie Curie mà...
Như chợt nhớ ra một điều gì, Trí cắt ngang:
- Ðường nào dài cho bằng đường Trần
Hưng Ðạo hả?
- Á, như vậy hồi xưa anh đi hải
quân? Ối, mấy ông hải quân các anh bay
bướm quá trời ai mà chịu cho thấu. Mấy
con nhỏ bạn em đứa nào cũng có bồ hải
quân, em thấy tụi nó khổ sở quá mà em sợ.
Nghề nghiệp bỗng nhiên bị đụng chạm, Trí
nói:
- Cái gì? Chưa bao giờ anh thấy ai mà ăn
nói lạ lùng như em như vậy. Hải quân hầu
hết là những kẻ chung tình, lênh đênh trùng
dương nổi sóng nhưng lúc nào cũng nhớ về
người mình yêu. Thế ngày xưa em yêu lính gì
và bây giờ em lấy chồng lính gì?
- Yêu là một chuyện mà lấy chồng là
chuyện khác. Em lấy chồng thầy giáo. Lính
và nhất là lính hải quân các anh thì chẳng
qua để dành làm người tình thôi.
- Người tình thôi là nghĩa làm sao?
- Nói anh Trí nghe chơi, ở đời ai mà không
có những mối tình lẩm cẩm trước khi lập
gia đình phải không? Nhưng mà hồi đó
nói thiệt em không ưa lính, nhất là lính
tàu, em chỉ thích kỹ sư bác sĩ thôi. Vậy
mà sau 75 em thấy mến thấy thương ngụy quan
ngụy quân hết sức mới khổ chớ. Mà không
riêng gì em, ba đứa em của em tụi nó đứa
nào cũng vậy. Mới đó mà bây giờ đứa
nào đứa nấy đã chồng con đầy đàn hết
rồi. Anh biết không, tụi em như bị trời
trả báo, đi tìm hải quân đỏ con mắt đặng
lấy làm chồng. Mà đâu có phải đụng anh
chồng hải quân nào thì mình cũng được đưa
đi vượt biên đâu, phải không anh? Rõ khổ.
Rốt cuộc rồi chỉ có em là dám cả gan đi
đường bộ băng qua Miên rồi qua luôn Thái
Lan. Cũng chẳng có một anh chàng lính rừng
nào hộ tống, mà chỉ có mỗi một anh thầy
giáo quèn mới quen mà thôi. Phần ba cô em của
em, ôi thôi, cho đến bây giờ ba anh chàng hải
chèo vẫn còn bỏ neo cắm sào tại Việt Nam.
Chẳng biết những lời Hoàng vừa nói có phải
là sự thật hay không, nhưng Trí thấy mình
như kẻ đang bị hài tội, bị hạ bệ sát ván
nên bắt đầu cũng muốn ăn nói bạt mạng:
- Cái miệng của em đúng là cái miệng bán
hàng xén. Nói tới nói lui, nói xuôi nói
ngược, nói sao nghe cũng được. Nghề này
làm gì có dạy ở Marie Curie?
- Á, nói cho vui vậy mà. Chớ anh nghĩ coi,
em phải làm gì khi ngồi không ở đây suốt mười
tiếng mỗi ngày?
Một bà Mỹ bước vô tiệm. May thay. Hoàng chào
hỏi lấy lệ và để bà ta tự nhiên dạo quanh xem
hàng. Trí nghĩ đã đến lúc phải giã từ người
em gái mới gặp lần đầu nhưng tưởng chừng quen
biết đã nhiều năm. Trí biết mình rồi sẽ
trở lại để tiếp tục câu chuyện hướng
về quê hương đang bỏ dang dở nửa chừng
này. Trí hỏi:
- Thường thường mấy giờ em đóng cửa?
- Tám giờ, nhưng những khi có khách thì vẫn
phải ở trễ cho đến khi họ về hết.
Bụng đã đói và chân đã mỏi. Muốn chắc ăn,
Trí hỏi thăm Hoàng:
- Gần đây có quán ăn Việt Nam nào của mình
không? Sao chẳng thấy ai
list
trên sổ điện
thoại hết vậy? Kể cả tiệm của em.
- Tiệm em mới ra được năm sáu tháng thôi
thành thử chưa có quảng cáo... Quán ăn hả? Em
nghe nói có quán cơm và quán nhậu bình dân hiệu
Việt Nam của ông Trình ở đường Lindbergh và
mới nghe có nhà hàng Aloha của một người Việt
gốc Thái mới mở chừng vài tháng nay không biết
ở đâu. Trên con đường này thì tiệm Á Ðông
mình nhiều lắm. Trăm người bán vạn người mua
phải không anh? Người ta làm được mình làm
được. Nhưng hình như không có quán ăn. Ðể
coi, đối diện bên kia đường thì có tiệm may
Sài Gòn, tiệm thực phẩm Thanh Nghĩa của bà Việt
gốc Lào, xuống chút nữa là tiệm Asian Food Mart
của bà Việt gốc Miên. Chính cống Việt Nam có
tiệm Khánh Tâm của bà Tâm cũng ở đường này
nhưng về phía này và tiệm Ðại Nam của ông Phong
ở khu Piedmont.
Chỉ cần có quán nhậu của ông Trình là đủ rồi,
Trí xin kiếu:
- Thôi anh phải đi. Lại đây tán dóc không,
chẳng có mua của em món gì hết. Làm phiền quá,
xin lỗi nha.
- Ðược mà, nếu anh có rảnh thì cứ ghé lại
đây chơi.
Trí ra ngoài xe xem lại bản đồ tìm đường đi
xuống quán nhậu. Trí cảm thấy vui vui. Giọng
Hoàng, giọng người em gái mới quen cũng còn lẫn
quẫn quanh đây. Cũng dễ thương. Người đàn
bà Á Ðông nói chung, người đàn bà Việt nói
riêng sẽ không là một áng mây. Không dễ gì
biến dạng nhanh chóng giữa bầu trời này. Mà
theo Trí, có thể giống như một món đồ cổ.
Phải biết cái giá trị của nó mới thưởng thức
hết cái đẹp tìm ẩn bên trong. Ðàn ông không
chase
đàn bà thì phải
chase
ai? Ðúng là
Trí đang trên đường đi tìm...
Chiều ngày sau Trí tự tan học và về phòng sớm
hơn một chút nữa. Trong lòng thì muốn chạy lại
thăm Hoàng ngay, nhưng nghĩ mới gặp ngày hôm qua
bữa nay đến nữa sợ Hoàng hiểu lầm mình phải
lòng cô em thì càng không ổn. Mà có phải lòng
hay không thì chính Trí, Trí cũng không rõ. Ði
ngắm phong cảnh thành phố đã, để cho cái nhớ
nhớ nó gặm nhắm tâm hồn mới thấy sự gặp nhau
là quan trọng cần thiết.
Trí đổi đường chạy thẳng ra xa lộ đi về Stone
Mountain National Park, kỳ quan nhân tạo duy nhất
trong vùng. Confederate Memorial, một tác phẩm điêu
khắc tạc trên vách núi để kỷ niệm những
vị anh hùng của miền Nam trong thời nội chiến.
Tổng thống Jefferson David đang cỡi ngựa cùng hai
ông tướng cận thần Robert Lee và Thomas Jackson.
Ngựa đi trên núi có phần vĩ đại hơn
voi đi trên giấy, nhưng vẫn nhỏ hơn nhiều so
với bốn cái mặt đá của bốn ông tổng
thống Mỹ, đã được điêu khắc gia Gutzon
Borglum ghi lại trên núi Mount Rushmore ở South Dakota.
Chắc ông tổ Borglum căm giận cái công trình
điêu khắc nửa chừng của mình ở đây
bị cạo phá nên nổi sùng làm một cái gì
thiệt lớn để đời?
Hình ảnh mấy ông tổng, ông tướng không
thể làm phai mờ hình ảnh người đẹp, cho
nên chiều ngày sau, sau khi đi học về Trí hăm hở
đi thẳng về V.N. Discount Center. Nhưng khi bước
chân vào tiệm, cái ao ước được gặp
lại người mình quen nhau từ kiếp trước, sau
48 tiếng đồng hồ xa vắng, đã bị chết
tức tưởi bởi một câu hỏi ngớ ngẩn của
một anh chàng lạ mặt:
- Chào anh, anh cần mua gì ạ?
Hoàng, cô chủ tiệm bé bỏng, xinh xinh của Trí
không còn nữa. Kẹt. Chẳng lẽ mình nói
thẳng là mình đến thăm vợ của người
ta. Mà nói dối mình chỉ là khách qua
đường ghé tiệm xem hàng, mua hàng thì cũng
không xong. Ðóng kịch không khéo người
thứ ba lại càng nghi ngờ hiểu lầm. Trí ngập
ngừng:
- Vậy chắc anh là anh chủ tiệm, là chồng của
cô Hoàng tôi có dịp gặp trước đây?
- Dạ phải. Hoàng ơi Hoàng, có người
đến kiếm em đây nè. Anh chờ một chút,
vợ tôi bận may mấy cái áo ở phía sau.
Trí mừng thầm. Dù sao có Hoàng ở đây thì
cũng đỡ ngột ngạt, lúng túng hơn. Hoàng chạy
lên tức thì, trên mặt có chút gì bẽn lẽn
không tự nhiên như buổi ban đầu:
-
Hi
. Ðây là anh Trí mà em có lần nói
cho anh nghe đó. Còn đây là ông xã em, ảnh tên
Cương.
Không biết Hoàng có nói với chồng thật hay
không mà Trí thấy Cương bắt tay mình trong
vẻ hơi sượng sùng:
- Chào anh, hân hạnh được biết anh.
Trí đáp lại:
- Chào anh. Hôm nay anh không đi làm à?
Cương trả lời:
- Tôi làm
on call
, chừng nào có công
việc thì họ gọi nên rảnh giờ nào là nhào ra
đây giờ nấy.
Trí chưng hửng. Ngày hôm kia mới nghe Hoàng
nói chồng làm bốn chục ngàn một năm mà,
sao lại có vụ
on call
. Ðàn bà rõ có tánh
hay khoe khoang,
brag too much
. Con học đại học
Chính trị kinh doanh Ðà Lạt mà có lần có bà dám
nói con tôi học trường đào tạo Thủ tướng. Trí
đã nghe khoe như vậy. Nói như Hoàng cũng chưa
có gì gọi là quá đáng. Thì ra miệng lưỡi
của cô bán hàng xén này thật đã chẳng vừa.
Trí bỗng quên đi lòng thành thật của mình đối
với người đồng hương trong chốc lát, định
đóng kịch trả đũa. Và việc trước tiên là
Trí phải nêu rõ cái lý do tại sao mình dám ngang
nhiên đến thăm vợ của người ta:
- Thấy cô Hoàng và anh mới sang đây có mấy
năm mà làm ăn phát đạt quá, tôi định ghé ngang
hỏi thăm, học hỏi thêm chút kinh nghiệm để
trở về North Carolina mở tiệm thử thời thử
vận. Làm công cho Mỹ chẳng khác nào đi lính
Việt Nam. Tiền lính tính liền, mười mấy
năm không dư được một cây.
Cương chắc không đọc nỗi thâm ý của
Trí nên trả lời rất thành thật tự nhiên:
- Thôi anh ơi, phát đạt cái gì. Tôi
muốn đóng cửa dẹp tiệm đây mà anh
đòi mở tiệm. Coi vậy chớ không phải vậy
đâu, mệt lắm. Thà là hai vợ chồng đi
làm đồng lương căn bản, sống cần kiệm
qua ngày, dư chút đỉnh gửi về nhà giúp
đỡ gia đình thì được rồi. Càng cao
danh vọng càng nhiều gian nan. Bởi cái tiệm này
mà tôi phải làm hai
job
, rồi vợ tôi hàng
đêm phải thức khuya hơn để sửa mấy cái
áo kiếm tiền thêm, mới bù đắp nổi chi
phí. Hàng về tới thì tiền mặt phải có
để chồng ngay. Bên này đâu có ai tin ai
mà cho mình mua thiếu mua chịu. Thì giờ trôi
qua không hay không biết, chẳng lợi lộc sướng
ích gì đâu. Tôi định tìm người sang
quách vừa tiệm vừa khách cho người ta, tôi
đi làm chuyện khác cho nó nhẹ cái thân.
Bộ anh chàng này sợ Trí mở tiệm giựt mối
hay sao mà bàn trớt thấy rõ như vậy cà? Hay
thật sự đây là một kinh nghiệm đau thương
cho những ai muốn làm triệu phú ở Mỹ? Nhưng,
bỗng dưng cô em Hoàng lại giải thích cho Trí
một cách khác:
- Anh nói vậy làm anh Trí ảnh nản. Thì
phải chịu cực chịu khổ, chịu lỗ mấy tháng
đầu, rồi từ từ mới đứng vững chớ.
Khách hàng càng ngày càng nhiều thêm nếu mình
biết cách mua chuộc họ. Coi vậy chớ đồng
ra đồng vô sống cũng được lắm anh. Anh có
chịu cực chịu khổ thì tiền anh làm ra cũng
đổ vô đó chớ chạy đi đâu. Ban đầu tụi
em định bỏ ra vài ba chục thôi, tiệm bây giờ
cũng đến bảy tám chục. Như vậy mà cũng chưa
đủ mặt hàng. Bốn năm chục ngàn làm ra là
vốn của mình, mặc dù nó bị kẹt nằm chết
cứng đó thật. Anh cứ làm thử đi, tụi này
gửi hàng về anh bán, mỗi thứ một ít.
- Hoàng có chịu bán chịu cho anh không?
Cương nói thay:
- Chỉ khi nào quen biết lắm, như bà cô tụi
này, thì mới nói chuyện mua chịu được.
Mà nói là mua chịu chớ thật ra trả liền
phân nửa, còn phân nửa trả trong vòng vài
tuần sau. Ðâu có chuyện thiếu chịu năm
này tháng kia như bên mình. Ở đây chỉ có
cash
thôi,
personal check
nhiều khi
chưa chắc họ đã nhận. Anh thấy mệt
chưa? Chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ!
Trí nói phân hai:
- Ừa, thấy ra cũng khó thật, nhưng có
phước làm quan có gan làm giàu. Mình muốn
làm giàu thì phải có gan, phải
take chance
.
-
Take risk
thì có còn
take chance
thì
không, theo tôi nghĩ.
Ðầy đủ quá cho một vụ học khôn. Khi không
tới tán tỉnh vợ người ta, khi không đòi làm
chủ tiệm. Mười năm không dư được một chỉ
nói gì được một lượng hay một hai ngàn. Trí
thấy mình như thoát nạn, cái nạn dám
take
risk
khi mò tới đây. Còn cái
risk
muốn
làm chủ tiệm kể như được thông qua ngay từ
buổi ban đầu. Tiệm quán gì hai lần Trí ghé
qua đều thấy vắng bóng khách hàng thì thử
hỏi đào đâu ra hai ngàn một tháng để trả
tiền mướn chỗ. Nghĩ cũng đau đớn cho phận
lo làm giàu. Ðể giã từ, Trí hỏi một
câu hỏi mà hình như Trí đã hỏi rồi, chỉ khác
một điều là tiếng em phải được thay thế
bằng một cái tên:
- Ở đây ngoài quán Việt Nam và quán Aloha,
mình còn quán nào nữa không cô Hoàng?
- Còn quán nào nữa không anh?
- Anh cũng không rành.
- Vậy tối nay chắc phải chịu phép ăn cơm
Mỹ. Thôi tôi đi nghen.
Hoàng nói vói theo:
- Khi nào rảnh anh tới chơi.
Trí trả lời:
- Chắc về luôn, từ đây đến cuối tuần
cũng không còn mấy hôm...
Chiều ngày sau đi học về, chưa tởn mùi thất
bại của ngày hôm qua, đầu óc Trí lúc
nào cũng mang mang về việc ghé thăm Hoàng
lần chót. Chiều mai chiều thứ sáu sẽ là
ngày về.
Mất một tướng chẳng thấm vào
đâu, lấy Kinh châu mới là đắc thắng
,
bởi vậy Trí đi. Nhưng lần này Trí biết
khôn, gọi điện thoại thăm dò trước. Biết
được Hoàng ở tiệm một mình, Trí mừng rơn.
Ðến nơi khác hẳn với sự suy đoán của
Trí, lần này tiệm của Hoàng có ba bốn ông
khách choai choai ở một thành phố lân cận
đến mua đồ. Hoàng bữa nay trông đẹp
hẳn ra với cánh áo tơ đỏ thẳm và chiếc
váy màu đen. Ðôi má bị phản chiếu màu
áo, hồng hồng thêm một chút nữa. Hoàng
cười tươi chào Trí rồi quay qua tiếp tục
chiều chuộng những người khách trẻ phương
xa. Giới thiệu thêm những món hàng mới về,
góp ý kiến về thời trang đang thịnh hành,
cũng như trình bày quan điểm về màu sắc
thích họp cho người trẻ kẻ già.
Trí đưa mắt vòng vòng đếm mặt hàng.
Có đến vài trăm thứ. Nội mấy chai dầu
gió cũng hơn cả chục loại. Trí lõm bõm
nghe đám nhóc nói vì ăn bài nên có tiền dư
đi mua sắm đồ kẻng. Ðể dự đại nhạc
hội có ca sĩ từ Cali sẽ đến trình diễn
vào cuối tuần này. Hết khen chê áo quần,
giày vớ lại sang qua ngắm nghía mầy cái
đồng hồ. Bữa nay Hoàng trúng mối, nhưng
Trí không thích như vậy. Cản trở, mất
thì giờ. Sau một hồi lâu mặc cả, Trí
vẫn chưa thấy có chuyện gì ngã ngũ giữa
chủ và khách. Trí định rời khỏi nơi
đây. Duyên nợ không thành thì chắc phải
chờ chuyến sau. Bỗng Trí lóe lên một hi
vọng. Nếu là dân Marie Curie, Lasan Taberd
thì Hoàng chắc phải biết những câu thơ
này, Trí lật mặt sau tờ giấy quảng cáo
lui cui viết để lại như sau:
Khi già nua ngồi bên lò sưỡi
Quay tơ và ca ngợi thơ ta
Tiếc thay nàng nói Ronsard
Tán dương ta đẹp khi ta đương thì *
Hãy gọi điện thoại cho anh số 567-1234 nếu
em muốn anh đưa em đi ăn tiệm và nghe
anh... tán dương em đẹp
.
Trí nói:
- Hoàng, anh để lại em cái
note
này.
Em nhớ đọc. Anh phải đi ngay bây giờ.
Trở lại phòng với một xâu bia và hộp bò
khô,
beef jerky
, Trí mở tivi xem đỡ
buồn. Ðài ESPN? Sport? Goft? Trí nghĩ
mình chưa đến nỗi già dữ như vậy! Nhưng
mấy đài kia giờ này chắc cũng chỉ có
cartoon
cho con nít thôi. Làm biếng sang đài,
Trí để nguyên nghe tiếng nói. Trí trông
chừng cú điện thoại của Hoàng, nhưng lòng
dặn lòng nếu không được điện thoại trong
vòng một tiếng đồng hồ thì Trí sẽ đi ăn
một mình. Coi như định mệnh đã an bài.
Thì giờ trôi qua thật chậm. Không duyên không
nợ thì thôi, chỉ một giờ. Nhưng rất may,
mới đến nửa giờ thì đã có chuông reo.
Cám ơn Pierre de Ronsard, Trí chụp vội ống nghe:
- Hello.
- Hello. Phải anh Trí đó không?
- Anh đây Hoàng.
- Anh đến đón em lúc bảy giờ được
không? Bữa nay em muốn đóng cửa sớm, bán
được bao nhiêu đó cũng đủ rồi.
Trí reo mừng:
- Hay là anh để đến rước em ngay bây giờ.
Mình đi ăn sớm một chút có được không?
Hoàng ngập ngừng trong giây lát:
- Vậy cũng được.
Không bao lâu Trí đến V.N. Discount Center.
Tiệm vắng khách. Hình như Hoàng cũng đang
trông đang đợi, dõi mắt về phía cửa.
Thấy Trí, Hoàng tắt hết đèn, khóa cửa
đi ra.
Adultery
, tội dâm loạn, ngoại
tình? Hoàng là một thủ phạm và Trí là một
đồng lõa? Trí không đến đón, chỉ mở
cửa xe ga lăng đưa tay mời. Những bài học
xã giao hải quân lâu lắm rồi đã không được
đem ra sử dụng. Hoàng ngồi vào ghế, nhấc
cặp đùi thon dài vào trong, kéo
skirt
phủ
lên gối. Màu đỏ và màu đen làm nước
da của Hoàng trở nên trắng hồng. Trí nhìn
xuống làn áo mỏng, gò ngực phập phồng,
hấp dẫn đến nỗi quên cả đóng cửa xe.
Hoàng ngước nhìn dò xét rồi bỗng dưng
chẳng bị ai tra vấn mà nói như khai thiệt:
- Ông xã em bữa nay đi sửa computer ở dưới
Alabama. Hai ngày nữa ảnh mới về.
Trí không khỏi giật mình trước thái độ của
Hoàng. Rõ ràng là có sự sắp đặt trước.
Thì ra ai là người chủ động, ai là người
bị động? Trí hay Hoàng, người nào đang cầm
cương? Trí đáp bâng quơ:
- Vậy à.
Trí đóng cửa xe, đi vòng phía sau qua ngồi vào
ghế lái, rồ máy. Một mùi thơm thoang thoảng
trong xe. Mùi nước hoa đắc tiền cũng như
mùi da thịt của người đàn bà. Người đàn
bà Á Ðông mà Trí hằng mơ ước. Trí lúng
túng không biết phải đối xử ra sao. Vì đây
là lần đầu tiên Trí giao du với một người
đàn bà có chồng, một người đàn bà đang
là vợ của một người đàn ông khác.
Ðể tránh tai tiếng và sự dòm ngó của thiên
hạ, Trí đưa Hoàng vào quán ăn Front Porch trong
Sheraton Hotel, nơi Trí đang cư ngụ. Một quán
ăn có cái không khí và khung cảnh ấm cúng đặc
biệt như chỗ dành riêng cho những cặp nhân
tình đang đi hưởng tuần trăng mật. Dưới
ánh đèn đôm đốm mờ ảo, Hoàng trông đẹp
hẳn lên, thoang thoảng nét liêu trai.
Thơ
mình vợ người
, câu nói này có ý nghĩa gì
sâu xa hơn nữa không đây? Trí cứ hiểu theo
cái nghĩa mộc mạc của nó. Vợ người ắt
phải đẹp. Dù cái đẹp đó có pha thêm một
chút lộng lẫy của một món đồ chơi đắc
tiền đi nữa.
Lúc bồi dọn thức ăn lên, Trí gắp bỏ một hai
miếng vào chén Hoàng, nửa đùa nửa thật:
- Bao nhiêu năm hành hiệp giang hồ mà đây
là lần đầu tiên anh mới gặp em, người đàn
bà có tâm hồn phiêu bồng, lãng bạc hơn anh
tưởng. Anh hỏi thật em, đến với anh đêm
nay em có sợ chồng em...
Hoàng cắt ngang, nói một hơi:
- Sợ gì? Em chỉ xem anh như một người anh
thôi. Nếu anh không muốn, thì em sẽ xem anh như
một người bạn. Mà nếu anh không thích
nữa, thì em sẽ xem anh như một người tình.
Như em đã nói với anh rằng lính, nhất là lính
biển như các anh, tốt hơn chỉ để dành làm
người tình. Những người tình không chăn gối.
Trí càng ngạc nhiên, há hốc hỏi:
- Những người tình không chăn gối? Em nói
nghe lạ quá! Không chăn gối thì làm sao gọi
là người tình cho được? Chẳng lẽ làm người
tình chỉ là để nhớ, để mong, để trông,
để đợi, để tôn thờ một thần tượng? Ở
bên này giờ văn minh rồi em ơi, làm gì có chuyện
cao thượng ỡm ờ đáng dẹp bỏ đó!
- Thôi đi ông ơi, ăn xong em phải đi ngay cho kịp
giờ đón hai đứa con của em đang gửi ở nhà bà
baby sit
nữa kìa. Qua bên này văn minh thật,
nhưng anh thấy không, ai cũng máy móc cả. Giờ
giấc chạy như tên bay!
Ai cũng máy móc cả và giờ giấc chạy như tên
bay? Thất bại! Trí vỡ lẽ và biết mình đang
thua xa, không cách chi chạy kịp theo Hoàng. Ước
vọng được chiếm giữ, gần gũi một người đàn
bà Á Ðông chợt tan biến mất. Ðôi bàn tay búp
măng đều đặn đang gọn gàng cầm dao, nĩa. Khuôn
mặt dịu hiền kia vẫn thách thức với rạo rực
yêu thương. Những sợi tóc mây lòa xòa bên
má, mơ màng quyến rủ. Và đôi gò ngực phập
phòng dưới làn lụa mỏng. Trí dừng lại tại
đó. Nhìn kỹ hơn, soi mói hơn. Tất cả thân
hình đối diện ấy phải là của Trí trong đêm
nay. Một đêm ôm ấp, mây mưa trên tầng lầu
thứ chín. Chỉ cần một chuyến thang máy đi
lên. Cao, cao thêm tí nữa... Nhưng không,
tất cả đã rơi rụng, vuột hẳn tầm tay. Ngoài
sức tưởng tượng của Trí.
Tình đời là thế
chúng nó đều thế, tình nào vừa xong cho tàn
luôn, chỉ cần tiền đô xanh xanh, xanh xanh,
thơm ngát ngát yêu, tiền thôi
..., tiếng hát
của Jo Marcel lại vang dội trong đầu Trí thêm một
lần nữa.
- Anh ăn đi chớ. Lẹ lẹ lên để trễ!
Cao lương mỹ vị bày đầy trên bàn bỗng dưng
đâm ra nhạt nhẻo. Trí lắc đầu:
- Em làm anh ăn hết vô. Chắc anh phải đưa
em về sớm hơn anh dự tính để em có đủ thì
giờ đi đón con em.
Rồi cả hai Hoàng và Trí bắt đầu yên lặng.
Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Trí
không biết Hoàng đang nghĩ gì, nhưng biết chắc
nàng không hề có ý dấn thân, tự nguyện. Xã
hội này cũng không cho phép ai cưỡng bức ai. Trong
giây lát, Trí đứng dậy lại quày trả tiền
rồi cùng Hoàng tay trong tay trở ra bãi đậu xe.
Một cuộc chia tay khi vòng tay vừa mới ấm, như
Trí đã đoán trước, rồi cũng sẽ xảy ra...
Chiều ngày sau đi học về, mặc dù trong lòng
vẫn ao ước muốn nhìn lại một lần nữa
cái khuôn mặt dễ thương, hiền thục của
người em nhỏ, nhưng Trí đã lẳng lặng
lái xe thẳng ra phi trường. Trên phi cơ,
Trí giả vờ say ngủ. Không màng đến mấy
cô chiêu đãi viên xinh đẹp, không thèm gặm
almond rang, không cần nước ngọt, đầu óc
suy nghĩ miên mang. Trí thật sự chưa hiểu
nổi người đàn bà Á Ðông, người đàn bà
Việt Nam. Nó chập chờn đưa đẩy chớ không
dứt khoác, quyết liệt như những người
phụ nữ Tây phương, những áng mây dễ dàng
chiêm ngưỡng và có thể dễ dàng hòa tan vào
bầu trời xanh lơ, vời vợi này. Trí tự hỏi,
hai đàng đàng nào thích hợp với Trí hơn?
Trí đã hứa với
honey
tóc vàng của mình
những gì và vì lý do nào Trí đã quên? Trí
thấy mình có lỗi. Thôi thì bây giờ
ta về
ta tắm ao ta
cũng chưa muộn mà! Trí không
ngờ mình có thể đem ngụ ngôn Việt Nam gán
ghép cho thân phận một cô gái Mỹ tài tình như
vậy! Cái ao tắm mát phương Ðông kia, trong đó
có đôi mắt tròn đen láy, có suối tóc huyền
huyễn hoặc gió trăng, có rong rêu cỏ dại của
thời con gái... như đã trở thành cổ tích xa
xưa, quá khó để cho Trí trở về.
Phi trường Raleigh-Durham đã lên đèn. Trời sập
tối. Một chút gió vào đêm êm đềm, dìu dịu...
* Thơ dịch của Pierre de Ronsard (không nhớ tên dịch giả):
Quand vous serez bien veille, au soir, à la chandelle,
Assise auprès du feu, devidant et filant,
Direz chantant mes vers, en vous émerveillant:
Ronsard me ce'lèbrait du temps que j'étais belle
back to top
04. MỘT CẢNH HAI QUÊ
NGUYỄN TẤN HƯNG
Chiều thứ sáu mà trời lại mưa! Thất
bại! Nóng đến cháy da chảy mỡ cũng
không sao, lạnh cho buốt xương nhức cốt
cũng không sao, và gió máy dù có chướng
ngược độc địa như thế nào đi nữa
cũng không sao, chỉ có mưa là tầm
bậy. Chiều thứ sáu, khởi đầu
của một cuối tuần luôn luôn đầy hứa
hẹn, mà phải bị ướt át, tan tành,
mục rữa vì những giọt mưa không thần
thánh chút nào hết đó mới oan. Rồi,
take your times
. Không như mọi khi, Tâm
phải vùn vụt lái xe về nhà, chui xuống bếp
lục lọi một cái gì, hùng hục nhai
nuốt. Ðể kịp thì giờ vọt ra sân với
lũ bạn, sẵn sàng chiến đấu những trận
tennis có cá độ, bia và đồ nhắm. Tennis,
chỉ có mưa là tầm bậy. Mà tennis đối
với đám già này chẳng qua chỉ là cái
cớ. Thể dục thể thao,
exercise
, thì
ít mà mục đích để gặp nhau, họp nhau
đi nhậu thì nhiều. Quân, dân, cán,
chính tỵ nạn giờ gom góp lại cũng
tạo dựng được một cái phong trào.
Mưa. Bà xã Tâm thích lắm. Khỏi phải
thắc mắc, khỏi phải gạn hỏi Tâm đi
đến chừng nào mới về. Giờ về
đối với đám nhậu thì khó lòng mà nói
cho trúng. Từ nửa đêm đến hai ba
giờ sáng có lẽ là câu trả lời hợp
lý nhất. Tại vì tất cả đều tùy vào
hoàn cảnh, thời cuộc của bữa tiệc. Có
đủ mồi đủ rượu, có hăng say tranh
luận, bàn cãi? Còn giờ đi, trái lại
đã ấn định sẵn và không được
trễ. Vì trễ thì thiếu tay thiếu
độ, dễ bị đứng ngoài nhìn người
ta chơi. Toàn là thiện nghệ cỡ... học
trò của Lendl, Edberg, Wilander, Mac Enroe... thì ai
mà chịu làm
fan
? Bởi vậy phải chạy
lẹ lẹ cho đúng giờ hoặc giả sớm hơn
một chút cho chắc ăn. Vậy mà bữa
nay Tâm không một chút gì hối hả.
Không thấy chiếc Toyota xập lết đậu trước
nhà, Tâm biết ngay mấy thằng con của anh đã
vọt đi xứ nào rồi. Tuy vậy, bước vô
cửa thấy đứa con gái đang nằm sofa coi TV ở
phòng khách, Tâm cũng hỏi:
- Anh hai, anh ba đâu? Em đâu?
- Anh hai, anh ba đi dợt
wrestling
ở đằng
trường, chuẩn bị cho
big matches
ngày mai
ở West High. Thông-
gy
đòi đi theo
để coi.
- Nữa, lại
wrestling
, lại đô vật. Tối
ngày tụi nó chỉ lo cho cái
animal sport
đó
thôi hả? Còn má con đâu?
- Má ở dưới nhà bếp, đang luộc càng
cua cho ba nhậu.
-
Really
? Hèn chi trời mưa thì phải!
Tâm thắc mắc, chẳng lẽ chỉ khi nào có
Tâm ở nhà thì bà xã anh mới quan tâm
tới việc nấu nướng? Nhiều lần
Tâm ăn cơm nguội trước khi ra sân kia
mà. Chắc thiếu người thưởng thức
tài nghệ chế biến món ăn của mình lúc
làm xong, nên bà xã anh không lấy việc
lửa củi bếp núc làm quan trọng hứng
thú. Tâm biện hộ cho vợ như
vậy. Bề gì tối nay không đi nhậu
được với bạn bè thì nhậu một
mình, có vợ đưa hơi cũng đỡ
buồn. Mà cũng là dịp tốt để
thay đổi bầu không khí. Bạn bè
hoài, cãi lộn hoài ba cái vấn đề lẩm
cẩm, như tha hương cầu tài, đóng hụi
chết nuôi gia đình, bằng hữu, sự chìm
nổi của các phong trào chính trị quân
sự... cũng chán ngấy. Vắng nhau một
hai tuần họa may có chuyện mới để
nói, có đề tài mới để bàn.
Tâm định xuống bếp hôn môi vợ một
cái để tỏ lòng yêu thương, nhưng
thôi. Tân tiến quá bà xã anh sẽ lên
mặt. Cũng muốn bắt chước Mỹ cho
honey
lên ngang hàng với mình dữ lắm,
nhưng Tâm bị cái nếp sống thôn dã và
phong tục ruộng đồng của quê hương
miền Nam tiêm nhiễm vào tận xương
tủy, nên anh không làm sao thay đổi
được. Ðàn ông cứ phải là số
một. Chuyện nhỏ nhặt như vậy mà
Tâm làm không xong, trong khi nhiều người
khác sang đây, chỉ cần ngày trước qua
ngày sau là họ đã lột xác. Nhất là
đám choai choai,
punk
còn hơn Mỹ. Mà
lột xác không thì cũng chẳng cần
phải nói làm chi, lột luôn hồn mới
là điều đáng sơ: bỏ đạo cũ theo
đạo mới. Chưa đủ, có người còn
dám nhảy ra hô hào, lôi cuốn đồng
hương của mình vào con đường mới
chuộng cũ vong mới ngặt. Phần
Tâm, Tâm nghĩ rằng mình còn nhiều tội
lỗi để làm thì đâu có sám hối vội
vàng như vậy. Hơn nữa, Tâm vẫn đinh
ninh rằng với tấm lòng ngay thẳng chân
thật có trời đất biết của mình,
ngày nào Tâm bỏ đao búa xuống là ngày
đó tức khắc Tâm sẽ thành chánh
quả. Bởi vậy rời gươm giáo đồ
tể làm chi vội? Tâm thay đồ
warm
up
rồi trở ra phòng ăn cười tình
với vợ:
- Bữa nay ông trời không biết mắc chứng
gì mà mưa cả ngày hả? Mưa như mưa
phùn gió bấc, mưa như mưa bão lụt miền
Trung không bằng. Cảnh buồn người có
vui đâu bao giờ? Nhìn trời u ám, ảm
đạm như vầy sao anh thấy nhớ nhà ghê.
Bà xã Tâm nhẹ nhàng phụ họa:
- Anh mà cũng biết nhớ nhà? Nhớ tennis thì
có! Nhờ mưa nên anh mới dám ở nhà
được một bữa. Con cái lớn rồi, mình
già cả rồi, anh đâu còn trai trẻ gì
nữa? Nói anh hoài, anh cũng nên tốp bớp
lại cái vụ giao du với lũ du thủ du thực
đó, tối ngày say sưa đầu làng cuối
ngõ không sợ người ta cười.
Lại cái luận điệu cũ rích, nhưng Tâm
phải nói cho vừa lòng vợ:
- Một tuần mới có một lần. Mà
cuối tuần này anh định ở nhà thì trời
bất dung nhơn đảng lại mưa. Rõ, mưu sự
tại nhơn mà thành sự tại thiên, thiên
thời địa lợi nhân hòa sao mà nó hợp
tình hợp cảnh quá...
Vấn đề tennis, vợ chồng Tâm như hai
kẻ đồng sàng dị mộng. Nhưng về vấn
đề ăn khai vị, món càng cua luộc, thì
vợ chồng Tâm rất tâm đầu ý
hợp. Ăn riết như ghiền. Càng cua loại
nào cũng ngon:
snow crab, stone crab
, và luôn cả
blue crab
, càng ghẹ cũng ngon. Ai mới nhìn
vô tưởng là cọp ăn bù mắt, vỏ không
chớ làm gì có thịt, đã vậy phải
đập dập rồi rỉa từng thớ mỏng thì
biết chừng nào mới ăn xong một
càng. Ấy, muốn thưởng thức hương
vị của càng cua thì trước hết cũng nên
học qua cái nghệ thuật ăn càng cua. Không
biết ăn thì ăn từng thớ mỏng, còn biết
ăn thì ăn nguyên một miếng thịt. Lẽ dĩ
nhiên phải có đồ nghề, phải có cái kềm
tách càng cua lận về từ mấy tiệm
all you can eat
càng cua, hay ít ra phải có cái
nut cracker
. Rồi phải biết chỗ mà
bấm và uốn nắn sao cho miếng thịt rút ra
khỏi vỏ, gọn lỏn như cái đùi ếch đang cầm
trên tay. Chấm chanh muối tiêu thì rượu có
vô đầy hũ cũng phải rót hết trở
ra. Nhưng đừng có dại dột tham ăn, ăn cho
lẹ mà hương vị càng cua nó mất
đi. Không còn gì chán cho bằng ăn càng cua
có người lột sẵn!
Lai rai gần hết thau càng cua thì hai đứa lớn
của Tâm mò về, oang oang bàn chuyện. Tiếng
của thằng anh hai:
- Vấn đề quan trọng là tao phải
make
weight
. Tao đang năm
pound over weight
mày biết
hôn? Sáng ngày mai nhịn đói, tắm nước
nóng xả hơi tao có thể sụt hai
pound
.
Coach
thế nào cũng bắt tao chạy mấy chục
mile
, có thể sụt thêm một
pound
nữa.
Còn hai
pound
không biết phải làm sao. Không
make weight
được thì tao phải đấu
independent
. Lại gặp thằng Gary và tao phải
để cho nó thắng mới quê. Tao mà thắng
nó thì điểm toàn đội của trường
mình sẽ kém so với mấy trường kia mày biết
hôn?
Thằng anh ba phát biểu ý kiến:
- Thì tối nay đừng ăn cơm. Mà anh có
make weight
được thì anh cũng phải đấu
với thằng Thái Lan, anh cũng thua. Thằng lùn
đó khó vật, bắp tay bắp chân của nó
cuồn cuộn như
body builder
, chắc nó
tập tạ dữ lắm!
Tâm để ý nghe từng tiếng một, hét vọng
ra cửa:
- Mưa gió như vầy mà hai đứa bây đi
đâu tới giờ này mới về?
Thằng anh hai chạy xuống hớn hở đáp lời:
- Ba à, ngày mai ba rảnh phải không ba? Ba muốn
đi coi con đấu đô vật hông? Có con chơi
cho trường ba khỏi cần mua vé vô cửa, phụ
huynh học sinh đi coi đông lắm. Nguyên cả thứ
bảy ngày mai, từ sáng đến chiều.
Không đi thì con nó tủi thân với đồng
bạn, mà đi thì coi như là trực tiếp khuyến
khích nó theo nghiệp
wrestling
càng không
ổn, Tâm dùng dằng ướm lời:
- Hứ, ba mầy không có rảnh để đi coi
cái vụ đó với mầy đâu.
- Ba không thích đô vật
hả?
Why
? Ðô vật này không phải
như đô vật chiếu trên TV đâu. Trên TV
tụi nó đánh cuội, còn đô vật của
high school, college
thì đánh thiệt và có
luật lệ giao đấu đàng hoàng.
Bà xã Tâm xen vào:
- Sao hai đứa bây không chọn bóng chuyền,
bóng rổ, đá banh, đánh banh, hay là
đánh... tennis như ba con vậy có phải
nhẹ nhàng và lịch sự hơn không?
- Má à,
volley ball
dành cho con gái, mấy thứ
kia dành cho con trai, tụi con lớn rồi tụi con phải
chơi
man sport
.
- Em nói với anh rồi, đã nói không cho chơi
là không cho chơi, vậy mà lần hồi anh cũng
ký giấy phép cho nó.
Tâm biện bạch:
-
Well
, qua bên này rồi em phải cho tụi nó
có chút
freedom
chớ. Em hồi nhỏ thì
sao? Có phải em thích cái gì thì em cũng
đòi cho được? Tụi nó thích chơi thì
để cho tụi nó chơi. Ê, mà chỉ một
lần này thôi nghen, hai đứa bây nghe rõ chưa?
Bà xã Tâm không muốn nghe nữa, gạt ngang:
- Thôi, tắm rửa đi đặng đi ăn
cơm. Ba mày coi kìa, bên màng tang nó sao mà
trầy trụa hết nữa rồi. Coi chừng có ngày
tụi nó bẻ mày gãy cổ cho mày biết thân
nghen!
- Không có đâu, con mạnh mà.
Nè... hự... má thấy
goft ball muscle
của con
chưa? Ha ha..., con
pin
tụi nó
down
, con không
thể để mấy thằng bạn của con nó
disappointed
. Thế nào con cũng được cái
letter W
cho cái
letterman jacket
của con.
- Ối, cái chữ W đó tao ra ngoài tiệm tao mua
thiếu gì, ở nhà tao may cũng được.
Thằng anh hai lắc đầu nguầy nguậy:
- Á à, má không mua được ở đâu
hết, chỉ có
earn
nó mà thôi. Con phải
work very hard
cho trường đó... Ba à, hồi
nhỏ đi học ba có chơi môn
sport
nào cho
trường của ba không?
Câu hỏi đột ngột này bất chợt khơi lại
một dĩ vãng màu mỡ của tuổi học trò. Con
trai thì phải chọn thể dục thể thao, con gái
thì phải theo nữ công gia chánh. Hồi đó
chiều nào đi học về Tâm lại không ghé
sân banh, Tâm hất mặt trả lời:
- Sao lại không! Ba giữ gôn, ba làm
goali
cho đội bóng tròn hội tuyển toàn
trường. Ðể coi năm đó ba học lớp
mấy nè, lớp 10 thì phải...
- Rồi ba có lãnh cái
letter
không?
Tâm muốn nói rất tiếc là hệ thống học
đường ở Việt Nam không có bày ra cái
vụ tưởng thưởng đặc biệt gì cho học
sinh xuất sắc về bộ môn thể dục thể
thao. Chỉ là một môn học lấy điểm
như mọi môn khác mà thôi. Nhưng bà xã Tâm
nạt vội:
- Không ai quan trọng hóa cái
letter
đó
như tụi bây hết, có cũng được không
có cũng được. Thôi đi tắm lẹ lên
đặng ra ăn cơm.
Ðợi cho hai đứa đi rồi bà xã Tâm mới
tiếp:
- Mười lăm, mười sáu tuổi rồi mà
tụi này sao nó khờ quá...
Bữa cơm chiều hôm đó có tôm rang dừa, canh
rau dền,
spinach
, nấu với tôm tươi đập
dập và kim-chi thế cho món dưa cải là những
món mà Tâm rất thích. Chắc cũng nhờ
trời mưa? Người ta thường nói
cơm ngày
ba bữa
nhưng sang đây cơm ngày một bữa
đã thành phong tục mới của những gia đình
Việt Nam. Vì thông thường, buổi sáng có
cereal
, sữa tươi và buổi trưa có
lunch
cafeteria
, nước ngọt. Học trò cũng như
người đi làm. Bởi vậy, đối với
Tâm duy nhất chỉ có bữa cơm chiều là có ý
nghĩa. Và ăn món gì cũng được, miễn có
cơm, có chén đũa là Tâm thấy vui. Cái vui
của hương vị quê nhà. Nhưng đối với
lũ nhỏ lại khác, tụi nó chưa chắc đã thắm
thía cái hương vị quê nhà như Tâm. Mặc dù
đã được kiềm chế uốn nắn tối đa,
vậy mà tụi nó hình như lại thích dùng cái
nĩa hơn là đôi đũa. Rồi nhiều lần
không còn e dè dấu diếm gì nữa, tụi nó
dám tuyên bố thẳng rằng món ăn Việt không
đủ chất bổ dưỡng, thiếu
nutrition
. Có
phải như vậy không? Vô lý, dân mình nhiều
người đã sống trên trăm tuổi kia mà,
Tâm phản kháng thầm.
Ngồi nán lại nói chuyện sau bữa cơm là một
thông lệ của gia đình Tâm. Một câu
chuyện trong ngày ở trường học hay ở sở
làm trước khi tan hàng nhiệm vụ ai nấy
lo. Người hay nêu đề tài là Tâm, nhưng
hôm nay anh cụt hứng chưa biết phải vào đề
như thế nào... Mưa vẫn rơi đều
đều ngoài hiên. Về hình thức thì mưa
ở đâu cũng vậy, nhưng về nội dung mưa
ở Mỹ thật sự khác hẳn với mưa ở
Việt Nam. Như dòng nước chảy trên máng
xối tỏn tỏn nghe rõ mồn một kia chẳng
hạn. Dòng nước ngọt ngào, mát mẻ đó
không thể để chảy bừa bãi xuống đất
mà phải dẫn vô hồ, vô lu, vô những hàng
mái dú bằng những bẹ chuối, những thân
cau chẻ ra làm rãnh...
- Ba má à, như vậy hồi nhỏ ba má sống ở
Việt Nam như thế nào?
Thằng anh hai đột nhiên nêu thắc mắc. Dòng
suy tư của Tâm hướng về quê nhà qua những
giọt mưa bị ngưng trong tích tắc rồi được
tiếp nối ngay, vì câu hỏi lại cũng đưa
Tâm về một quá khứ thật mông mênh. Ở
Việt Nam Tâm sống ra sao? Tâm nghĩ rằng mình
trình bày dù có hay cách mấy đi nữa thì
tụi nhỏ chắc cũng không thể hình dung
được cái cảnh sống của miền quê miền
Nam như thế nào. Nhưng cũng nên nói qua cho
tụi nó biết. Lờ mờ cũng được, có
còn hơn không. Suy nghĩ một hồi mà
không biết phải bắt đầu từ đâu,
Tâm nói đại:
- Thì ba má sống ở miền quê, ở ngoài
country
chớ không phải ở thành thị như
mình bây giờ. Ðời sống của dân quê
thì cực khổ rồi, nhưng những niềm vui
trong cái khổ cực đó không phải là không
có... Nội cái nước xài cũng là mệt
đứt hơi. Không có
faucet
với hai vòi
nước nóng nước lạnh lúc nào cũng sẵn
sàng cho mình như vầy đâu. Phải múc
nước đục từ ngoài sông, trong rạch, dưới
đìa, trên ao, bên mương... đổ vào mái
dự trữ. Cái mái cũng giống như cái thùng
barrel
đựng
wine
ở đây vậy nhưng
làm bằng đất sét hầm như người ta hầm
gạch. Rồi phải lóng phèn cho trong. Phèn chua,
sour alum
, là loại tinh thể hóa học đóng
khối bằng cườm tay có tác dụng lôi những
chất bẩn trong nước xuống đáy. Cầm
cục phèn chua quay vòng vòng thế này và cạ nhẹ
vào thành mái cho mau tan má-my hả?
Bà xã Tâm không phải hiểu lờ mờ như mấy
đứa nhỏ mà chừng như rất rõ ràng, bâng
khuâng tiếp lời:
- Ừa... Ðó là nước để tắm giặt,
nấu ăn, rửa chén thôi, còn nước uống
phải là nước mưa chuyền từ máng xối
chảy vô hàng mái tàu được đặt
riêng biệt ngoài mái hiên nhà nào cũng
có. Nước mưa không có nhiều
chemical
như nước trong vòi bên này đâu. Nước
trong vòi độc lắm gây ra đủ thứ bệnh,
còn nước mưa uống vô vừa mát vừa đã
khát. Nhiều nhà người ta còn thả bí đao
trong đó cho có vị ngọt.
Chẳng biết hai câu nói vừa rồi vợ chồng
Tâm đã dành cho riêng mình hay nhằm vào
mấy đứa nhỏ? Hình như hai người đang
tâm sự với nhau, đang nhìn lại những gì đã
mất thì đúng hơn. Nếu muốn cho mấy
đứa nhỏ thấy được cái hình ảnh
đơn sơ mộc mạc đó thì hai câu tả
cảnh sơ sài như trên đâu làm sao thực
hiện nổi cái mục đích lớn lao của
người nói. Vậy mà thằng anh ba hỏi tới:
- Nước mưa đựng trong
barrel
rồi làm sao
mà uống?
Bà xã Tâm tiếp luôn:
- Thì lấy tô, lấy lon, lấy gáo múc ra mà
uống, chẳng lẽ mày đút đầu chun vô
đó mà uống như chuột sao, cái thằng
này hỏi kỳ hôn! Nước múc ra gáo đôi
khi còn phải cẩn thận thổi mấy con lăng
quăng dạt ra một bên không khéo uống luôn vô
bụng, đau bụng mà chết. Tụi mầy tối
ngày chỉ uống
pepsi, coke, yellow mello, dr. pepper
không thì làm gì mà biết được. Lăng
quăng! Con lăng quăng Mỹ kêu là gì hả, ba mầy?
-
Larva? Mosquito larva
phải hôn bây?
- Má
means
má uống con
mosquito larva
?
- Chớ gì nữa! Ngơ ngơ, ngáo ngáo như
mầy nốc vô là cái chắc, rồi nó nở ra
muỗi trong bụng thì chết tổ nghe con, hả
hả... Nói cái cảnh dân quê nghèo nàn nghe
tội quá. Nước dưới sông thì cứt nổi
lềnh khênh, ỉa đái đó, tắm giặt đó,
rồi múc lên nấu nướng cũng đó. Mấy
đứa con mình về bên đó thấy vậy chắc
nó không chịu nổi đâu anh hả? Cho tụi
bây tắm nước lạnh luôn, củi lửa đâu
mà nấu nước nóng!
Ðứa con gái bắt đầu góp chuyện:
- Ở Việt Nam không có bồn tắm, không có
bath tub, shower
hả má?
- Tắm diệm, tắm thau thì có. Là cái chậu
lớn cỡ bằng một ôm tay này, bằng đất
sét nung hoặc bằng nhôm. Tụi mầy lúc nhỏ
đứa nào không tắm như vậy, bây giờ
lớn chồng ngồng hết rồi thì chắc là cho
nhảy xuống sông cứt nổi lềnh bềnh mà thôi.
- Như vậy ở Việt Nam cũng không có cầu
tiêu,
toilett bowl
?
- Có làm sao mà có, ở thành thị thì
họa may. Ở dưới quê người ta làm cầu
tiêu ngoài mé sông, cầu tiêu cá nhân cũng
như cầu tiêu công cộng. Chùi đít cũng
đâu có
toilett paper
thơm tho mềm mại như
ở đây đâu, mà chùi bằng giấy nhựt
trình, lá cóc kèn, lá chuối khô... Chùi
lá chuối tiêu nghe nói trị được bịnh
trĩ ba mầy hả?
Tâm phân trần:
- Em nói giỡn hoài, cũng có chỗ người ta
làm cầu cá tra, cầu cá dồ chớ.
- Ðó là chuyện ỉa, còn chuyện ăn thì
còn tồi tàn hơn. Mấy con có biết hôn ở
nhà quê đâu có ai xài tủ lạnh. Thường
thường người ta đựng thức ăn thừa
trong tủ ăn. Tủ ăn là một cái tủ cây có
hai phần. Phần dưới trống đặng dễ
để nồi niêu, xoong chảo, mẻ rang. Phần
trên được làm kín bằng những song cây
đứng để ngừa chuột bọ, hoặc
làm kín hơn bằng lưới kẽm hay lưới ni
lông để cản ruồi muỗi. Kiến thì giữ
bằng những chậu nước nhỏ có cù lao ở
giữa, kê dưới chân tủ. Vậy mà đôi khi
kiến còn thả bè, bắc cầu leo lên được
nữa đó. Rồi gián nữa,
cockroach
,
tự do bay tứ tung. Nhưng mấy thứ đó
không ghê bằng con dời, không biết từ
đâu mà nó vô được mới chết, ba mày
hả? Hừ, chính mình mình con ghê.
Tâm hỏi:
- Nè, con dời tiếng Mỹ kêu bằng gì? Cái
con nhỏ như con trùn, mà chỉ ban đêm tắt đèn
mới thấy, sáng lên như con đom đóm,
firefly
!
- Ba nói con
glow worm? Glow worm
bên này
cũng có, hồi ở nhà cũ anh hai bắt được
một con trong tủ áo, con bắt một con lớn hơn
ở ngoài sân.
- Ô chết! Sao tụi mầy không nói cho ba
biết. Trời, con đó nguy hiểm lắm, đứa
nào
touch
là bị nó ăn. Dời ăn thành
ghẻ độc lắm không trị được người
ta gọi là ghẻ hòm... Em biết hôn, chỗ anh
làm có thằng Mỹ gốc Ðức cũng bị ghẻ
hòm, nó nói bác sĩ bên này chỉ cho thuốc
uống và thuốc rửa để cầm cho khỏi lan
rộng ra chớ không thể nào chữa hết tận
gốc. Ngày nào đi làm nó cũng phải quấn
băng, phải bịt trắng cái ống quyển của
nó. Tội thiệt, cái bệnh theo hành nó
suốt đời. Vậy mà lũ này có biết
gì đâu.
Sure, you know that is the glow worm?
-
Yes
! Ba muốn con lật
encyclopedia
cho ba
coi hôn? Cô giáo có nói đó là con
larva
của một loài
European beetle
. Không phải
con ngâu,
Japanese beetle
, như ba thường thấy
đâu. Phấn của loại
larva
này nguy hiểm
lắm. Tụi con đốt nó chết tiệt
mà... Rồi, chuyện gì nữa ba má nói tiếp
cho tụi con nghe đi.
Bà xã Tâm mơ hồ:
- Vậy mà người ta vẫn sống, vẫn làm ăn,
vẫn lớn lên, rồi già rồi chết trong yên
bình, thanh thản. Không mấy khi nghe
heart attack,
cancer, diabetes
. Bà con thân thuộc, cha mẹ, anh
chị em mình bên đó giờ này chắc cũng vậy...
Cũng vậy? Cũng vậy đã là may phước
lắm rồi, Tâm nghĩ. Ngày xưa trong cái khổ
đó cũng còn cái tự do, như là luồng sinh
khí đã nối liền mọi thứ với nhau làm cho
người ta vui sống. Tự do bây giờ đã
bị tước đoạt mà cái ách cộng sản lại
phải tròng thêm lên đầu, thì cái khổ
đó chỉ được cộng thêm vào bởi một
cái đau mà thôi. Với cuộc sống gần như
xa hoa phung phí này, ai làm sao mà không thương,
không nghĩ đến những người còn ở
lại. Nhưng với sự đua chen của cái xã
hội xô bồ ở xứ này, những nỗi thương
nhớ, nghĩ suy rồi không mấy chốc cũng
bị xóa mờ hay bị đẩy vào quên lãng theo
dòng thời gian.
- Má..., má kể tiếp đi.
- Kể gì nữa? Nghe qua tụi mầy cũng chẳng
có biết gì đâu. Chỉ khi nào tụi con có
sống trong hoàn cảnh đó mới hiểu sâu xa,
thắm thía được. Cứ tưởng tượng
đi,
can you live without electricity
? Ban đêm phải
đốt đèn chong, đèn bong bóng để học
bài. Ðó là đèn dầu lửa giống như
kerosene lamp
bên này, còn đèn cầy,
candle
, thì không ai có tiền đâu mà mua.
Ðứa con gái rùng mình:
- Chắc sợ ma hả má? Chết thằng
Thông-
gy
rồi, mà con cũng không dám
ngủ
by
con-
self
nữa!
- Ừa, ở bên đó ma nhiều lắm. Chết
bắn, chết chém, chết oan, chết tức tưởi
không thì linh hồn làm sao khỏi dật dờ,
sương gió? Nghĩ lại mà thương, ông
ngoại bà ngoại làm sao mà dám về miếng
vườn ở dưới An Hóa để ở cho
được. Như là đám rừng, tịch mịch
âm u với dẫy đầy mồ mả. Cất cái
chòi trên nền nhà cũ của ông cố, cái
nhà thờ bị bom dội sập hết chỉ còn cái
nền không. Rồi huê lợi vườn ở đâu
mà sống? Chẳng lẽ đi khai rừng hoang mà lập
vườn mới trở lại? Ban đêm muỗi mòng
nhiều hơn đom đóm đậu gốc bần, quơ
tay ra là đụng. Bên này tụi mầy sướng
quá trời, tối ngủ khỏi giăng mùng, khỏi
bắt muỗi. Giường chiếu cũng không có
rận rệp chi hết.
- Rận rệp là gì hả má?
- Má cũng không biết tiếng Mỹ kêu là gì
nữa. Con đó nhỏ xíu bằng đầu tăm
xỉa răng này, ban ngày nó trốn trong mấy kẽ
hở ở giường ván, đợi ban đêm mới
bò ra đi hút máu. Nó cắn đau lắm không
phải như kiến cắn đâu, như ong chích
vậy. Ðổ nước sôi, đổ dầu lửa
hoài mà sao nó không chết hết mới
lạ. Còn rắc bột ÐT thì cứ như thoa phấn
thoa sãi cho nó thôi.
- Mình cứ gọi là
bed bugs
hả?
Tâm hơi chột dạ, phản ứng:
- Má mầy nói vậy hóa ra Việt Nam mình cái
gì cũng bết bát hết sao? Coi vậy chớ có
cái tình nên mình mới nhớ dai dữ vây. Tắm
sông cứt nổi lềnh bềnh cũng có cái đam
mê của nó. Ðốt đèn dầu cũng có cái
thơ mộng của nó. Ngủ mùng cũng có cái thi
vị của nó. Nằm chiếu rệp cũng có cái
thú đau thương của nó.
- Em bây giờ mà trở về bên đó không
biết có sống nổi hay không? Ðường xá
xe cộ bên này bon bon, về bên mình thì đạp
xe đạp, cuốc bộ, lội sình chắc chịu không
thấu. Ðó là chưa nói tới chuyện lên
gò, leo dốc. Rồi di chuyển từ chỗ này qua
chỗ khác làm gì có xe đò con chó chồm,
làm gì có
greyhound
hay
trailway
? Xe lô xe
đò cà rịch cà tang cũng không có đủ mà
chạy, trong khi bên này mỗi người xài một
chiếc xe nhà.
Thằng anh hai đưa ý kiến:
- Như vậy con không về Việt Nam đâu!
- Con cũng vậy!
- Con cũng vậy!
- Tại sao? Việt Nam dù có
really poor
tụi con cũng cần phải về đó để biết
where you come from
như thế nào. Tụi con
là
Vietnamese
chớ đâu phải
American. That
is your root
, tụi con phải
love
và
proud
cái
root
nghèo khó đó mới phải. Không
có nó không có
you
.
Tâm muốn chuyển sang đề tài khác, cắt ngang:
- Tại em chỉ nói toàn những chuyện thiếu
thốn, kém cỏi của dân quê mình thì tụi
nó làm sao mà không mặc cảm... Tụi con
cũng nên biết là ở thành phố, như ở
Bến Tre, Mỹ Tho, Sài gòn mình người ta ai ai
cũng có đủ thứ, nào TV, tủ lạnh, nhà
lầu, xe hơi như ở đây vậy. Lúc ba làm
được tiền, mức sống của gia đình mình
còn cao hơn mức sống hiện tại bây giờ ở
Mỹ nữa. Mà em thấy anh nào có nói sai
điều gì?
Bà xã Tâm lại giải bày theo kiểu khác:
- Ba má có cái tuổi trẻ của ba má, tụi con
có cái tuổi trẻ của tụi con. Lẽ dĩ
nhiên tụi con
growing up
ở đây thì phải
chịu ảnh hưởng ở đây. Về Việt Nam
được hay không đó chỉ là chuyện
tương lai, chuyện hiện tại là ba má chỉ
mong rằng các con chịu khó siêng năng học
hành,
good grade, straight A
như bé Hồng
là ba má vui. Chứ còn
wrestling
, đô vật,
thắng bại cho trường thì ba má thật
sự không màng. Các con hãy làm theo lời
ba má căn dặn rồi tự nhiên các con sẽ
thấy tại sao các con tự hào mình là
người Việt Nam.
Ðứa con gái đáp lời:
-
It's confused
. Nhưng, nếu ba má muốn
tụi con về Việt Nam thì tụi con sẽ về...
Tâm cắt ngang lần nữa:
- Thôi,
whose turn
dọn bàn, rửa chén bữa
nay?
- Con.
-
Do your chores
đi rồi đi làm
home
works
. Tao với má mày phải đặt lưng nằm
nghỉ một chút đã.
Bữa cơm chiều chấm dứt với nhiều ý niệm
mới trong đầu Tâm, khác hẳn với những lần
tiệc tùng, tranh luận với bạn bè. Tâm nghĩ
có lẽ bà xã anh nói đúng, anh đâu còn
trai trẻ gì nữa một khi con cái anh đã biết
nghe và hiểu được chuyện đời. Tâm
xô ghế đứng dậy đi lại cửa sổ nhìn
ra ngoài. Trời vẫn mưa và mây vẫn
xám. Mưa thành thị mưa thôn quê, mưa
Sài Gòn mưa Hà Nội, mưa Mỹ mưa Việt Nam
mưa nào cũng buồn buồn. Buồn thêm một
chút nữa là Tâm không biết thế hệ con cháu
của mình rồi sẽ đi về đâu? Ðám
ở Việt Nam sẽ thành cộng sản và đám ở
Hoa Kỳ sẽ thành Mỹ? Ðám ở thành phố
sẽ thành
homeless
và đám ở miền quê
sẽ thành dân kinh tế mới?
It's confused
,
ngay chính cả Tâm. Nhiều câu hỏi chưa có câu
trả lời dứt khoát! Nhưng, dứt khoát một
điều là Tâm và những người cùng thời
có lẽ sẽ làm đại diện cho một lớp
người Việt Nam mới: lớp người nói tiếng
Mỹ sẽ không bao giờ rành và sẽ quên dần
tiếng mẹ, lớp người đang sống một cuộc
đời một cảnh hai quê. Vì ai cũng hiểu
rằng:
Ra đi là sự đã liều
Nắng mai phố lạ, mưa chiều thôn xưa
.
back to top
05. GIÓ ÐÃ NGỪNG
NGUYỄN TẤN HƯNG
Người Việt mình chạy qua xứ người bây
giờ ai ai cũng bắt chước dân bản xứ một
điều: cai đẻ. Không riêng gì đàn bà,
đàn ông cũng sợ đẻ. Một hai đứa
là đủ nuôi, đẻ nhiều khổ nhiều. Cắt
đốt cột, tử cung buồng trứng ống dẫn tinh...,
cho bể khổ bớt trầm luân? Ðẻ không còn
là một thiên chức! Ðẻ như máy theo kiểu
ông bà cha mẹ mình bỗng trở thành một thứ
xa xỉ theo chế độ cộng sản ở bên nhà,
trở thành một cái gì hết sức lạc hậu xa
xưa của thời đá đẽo theo chế độ tự
do ở bên đây. Cái máy đẻ bây giờ
bằng mọi cách phải được kiểm soát chặt
chẽ. Không cắt đốt cột thì phải uống
birth control pill
, đặt vòng xoắn hay xài
condome
.
Bà Gia kia, tuổi sắp sửa về chiều mà không
chịu nổi cái cảnh mất tự do ân ái cũng
đòi cắt dạ con cho được. Rồi sợ
tiếng nói không mấy trong trẻo của mình càng
ngày càng trở nên ồ ồ, cạc cạc như
đấng lang quân nên lúc nào cũng ôm theo mấy
ống
hormone
kè kè bên mình, trong túi áo
trong xắc tay thấy mà tội. Cái tội giống như
cái tội của mấy bà già sắp sửa rụng
răng, mà dám cắn răng chịu đau cho mấy tên
nha công kiềm kẹp tròng cái niềng kẽm hai hàm
cười toé bạc, như con gái đang thời mới
lớn. Than ôi:
Bà già đi chợ cầu Bông
Ghé xem một quẻ có chồng lợi chăng?
Xem rồi ông bói nói rằng
Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn!
Nhưng còn thua bà Nghị một bực. Thuở đời
nay thằng chồng còn sống nhăn răng ra đó,
vậy mà bả tưởng mình lấy bậy thằng nào
có bầu, đợi cái bụng chình ình lên rồi
bả mới quyết định đi phá thai. Hồi ở
Việt Nam, hai người chẳng biết có cưới hỏi
gì không nhưng dầu sau đã chung sống với nhau
có một mụn con. Rõ khổ. Rồi sẵn đó
làm luôn, thiến. Bà chớ không phải ông.
Vì vậy mặc dù chưa được hân hạnh
hành nghề thái giám, số phần của ông Nghị
đường đường một đấng nam tử mạnh
khỏe như Trương Phi mà suốt đời chỉ
được làm ông ngoại. Ngoại trừ trường
hợp bà Nghị chịu cưới vợ lẻ cho ông.
Tiếc thay, bên này làm gì có chuyện đó.
Vợ chồng không xách nhau ra tòa ly dị như một
cái dịch, đã được coi là tình sâu
nghĩa nặng lắm rồi.
Tuy sợ đẻ như sợ cháy nhà, nhưng đám
con Rồng cháu Tiên qua bên này lâu lâu cũng
có đẻ. Và bởi lâu lâu cũng có đẻ
một lần đó cho nên đầy tháng, thôi nôi
thiên hạ ở đay hay làm đám rình rang dữ
lắm, còn lớn hơn đám giỗ ông cố tổ
nữa. Nhất là con so, con trai đầu lòng hay cháu
nội đích tôn. Thôi thì bà con được
dịp nhậu nhẹt, nhảy đầm, linh đình chúc
tụng lẫn nhau.
Chạy trời không khỏi nắng, bây giờ đến
phiên Thái làm đám cho con hắn. Trả lễ
đồng bào. Thế thôi. Vì con hắn không
phải cháu nội đích tôn, mà là cháu nội
rài. Cũng không phải trai, mà là gái.
Cũng không phải con so, mà là con rạ. Chỉ
để trả lễ đồng bào. Hễ có vay thì
có trả. Thật là dễ hiểu, chẳng cần phải
giải thích dài dòng.
Nửa đêm giờ tý
canh ba, vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi
. Lập
đi lập lại thì cũng cùng một nghĩa vậy
thôi. Trả lễ.
Nhưng khác với thiên hạ, thay vì đi mướn
hội trường YWCA như mấy người trước
đã làm, lần này Thái tổ chức tại
club
house
của khu chung cư mà hắn đang ở.
Có người hỏi tại sao làm vậy thì hắn ta
vui miệng:
- Tôi không muốn vợ tôi nhảy đầm. Non
ngày non tháng nhảy dựng dựng sớm quá cái
gì nó cũng xệ hết, thòng hết mấy cha
nội à.
Bởi câu trả lời đó mà đêm nay chỉ
là đêm ăn nhậu thuần túy. Bảo đảm
nhạc sống thì sống không nổi mà nhạc chết
cũng chết chìm luôn. Khỏi ai phải ngứa giò,
ngứa cẳng. Khỏi ai phải õng ẹo, ngửa tới,
nẫy lui.
Trạng gọi điện thoại cho anh bạn láng giềng:
- Ê, Công nè, tối nay có đi ăn đám
đầy tháng hôn?
Ðầu kia có tiếng trả lời:
- Ðâu có ai nhắn nhủ gì với Công
đâu. Ðám đầy tháng nào?
Trạng ngạc nhiên:
- Thiệt hay giỡn vậy Công? Ở nhà úm vợ
hay là đi thì nói cho biết. Nếu đi thì cho
Trạng đi ké với cho có bạn.
- Thiệt mà. Chẳng ai đếm xỉa đến
thằng Công này cả.
Kỳ ha. Chẳng lẽ hai đàng đang xích mích,
vợ chồng Thái và vợ chồng Công xưa nay vẫn
thân nhau, coi nhau như anh em một nhà mà. Trạng
nói thêm:
- Vừa thôi, làm bộ làm tịch hoài. Chớ
vợ chồng thằng Thái chưa nói gì với Công
hết à?
- Không, không có mời. Nhờ Trạng tiết lộ
nên mãi đến bây giờ Công mới biết đó.
Thôi chết rồi. Chẳng ai đánh mà khai. Khi
không mà hài danh hài tánh khổ chủ trong lúc
không biết hai đàng đang giận yêu với nhau, hay
là đang sửa soạn chém giết nhau thiệt. Cũng
khó mà đoán được lòng người. Lỡ
khai rồi thì cũng nên đứng ra tìm cách giảng
hòa, Trạng thong thả:
- Thì thằng Thái cũng đã chính thức mời
tụi mình rồi trong những lần gặp nhau trước
đây ở ngoài sân
tennis
. Bây giờ có
mời nữa thì cũng là sự lập lại mà thôi.
Mà theo Trạng nghĩ chắc thằng Thái nó sợ
Trạng lú lẫn quên ngày quên tháng nên mới
nhắc chừng như vậy...
Công cắt ngang:
- Chẳng ai mời mọc tự nhiên vác mặt mốc
tới thì ai mà coi cho được cha.
- Ðược rồi, được rồi, để Trạng
xách xe qua đó đón hai vợ chồng Công. Làm
khó làm dễ hoài...
Thiệt là
thương nhau lắm cắn nhau đau
.
Cũng tại vì quá sốt sắn với bạn bè mà
sinh ra phiền phức. Mà có gì đâu, chung qui
cũng chỉ vì việc đi thăm đẻ lẻ tẻ
đó. Một chậu hoa thay cho một cân thịt.
Dễ dàng quá, đẹp đẽ quá vậy mà một
đàng đòi đi một đàng không cho. Tại
sao không cho? Tại vì Công đang có tang, bà
già mới chết bên nhà, phải kiêng phải cử.
Chỉ sợ con nhỏ sẽ khóc lòi rún. Vậy mà
không chịu nói thẳng để lâm vào thế tình
ngay lý gian. Tính tới tính lui lựa lời từ
chối khéo, không mấy khéo, làm người nghe
hiểu lầm. Mà gấp gáp gì dữ vậy, đợi
đầy tháng đã. Như Trạng đây này,
còn lâu mới mãn tang ba năm của ông già, mà
rồi cũng có người thỉnh tới.
Biết có đem kiệu rước vợ chồng Công
cũng không đi, Trạng xin kiếu. Nửa đường
Trạng tấp vô rủ Cao, người anh em thuộc dòng
độc thân tại chỗ với Trạng, cùng đi.
Không hẹn mà Trạng đến thật đúng lúc,
Cao sửa soạn vừa xong. Hai đứa chung một xe vòng
xuống K-Mart mua hai thùng tã làm quà. Ðến
nơi, vòng tới vòng lui hai ba bận Trạng mới tìm
được cái
club house
nằm tuốt trong hốc bà
Tó.
Qua khung kiếng cửa sổ, thiên hạ lố nhố bên
trong. Trời lập đông, gió lành lạnh. Hà,
vợ anh Thái, như chực sẵn bên trong nhanh nhẹn
mở cửa:
- Ồ, vô đi vô đi hai ông thần. Hai ông
không giả gạo không bồng em, không vợ đẻ
không con đau sao ma tới trễ quá vậy?
Trạng không dấu diếm:
- Vợ đẻ con đau thì có bác đảng lo
rồi, bận là bận tìm hai cái thùng quà lý
tưởng này nè.
- Hai anh tới chơi được là vui rồi, quà
cáp làm chi cho mất công.
Cao xen vào:
- Giỡn hoài! Ở bên mình ăn mấy chục bao
gạo nó mới lớn, thì bên này cũng vậy
phải bịt mấy trăm thùng tã nó mới chịu
nhổ giò đó nghen, coi vậy chớ mà mệt à.
- Bà con mới lấy đồ ăn vừa xong thì hai
anh tới, thiệt là đúng lúc, khỏi phải xếp
hàng. Mời hai anh cứ tự nhiên. Mì xào với
vịt quay là hai món tụi này đặt ở nhà
hàng Péking đó, hai anh có chê thì chê mấy
ông thợ Tàu nấu bếp chớ đừng chê tụi
tui nghen.
-
Ăn giỗ đi trước lội nước đi sau
,
tụi mình tới trễ thiệt là thất bại Cao
hả? Thôi nhào vô Cao ơi, kẽo không kịp
nữa...
- Anh khỏi lo mất phần. Ðồ ăn tụi em làm
nhiều lắm,
second time
cũng chưa chắc đã
hết mà.
Cao đỡ lời:
- Ði vòng vòng chào bà con cái đã, cha
nội. Chẳng lẽ mình tới đây chỉ để
lo chuyện ăn, chuyện nhậu?
Trạng thẳng thắn:
- Ô cái ông Cao này bữa nay kỳ hôn. Bộ
không thấy bà con người ta đang bận dàn
chào cái dĩa thịt thơm phức kia sao? Không
có ai rảnh rỗi để "hai ho" với Cao thì Cao cần
gì phải nói tránh.
Rồi Cao cũng nối đuôi Trạng lấy đồ
ăn. Trên bàn dài có bốn cái khay cạn
đáy hình chữ nhật bằng
stainless steel
, hai
cái có đèn cồn đốt bên dưới đun
nước sôi giữ nóng thức ăn. Của nhà
hàng Péking cho mượn là cái chắc. Trông
lịch sự, sạch sẽ. Mì xào, vịt quay, chả
giò chiên chả lụa chiên, bánh phòng tôm,
bánh hỏi thoa mỡ hành và rau sống nước
mắm. Ðầy dĩa, Trạng ghé qua tủ lạnh vớt
một lon Bud cầm tay cho đủ bộ rồi mới chịu
đảo một vòng nhìn đồng hương. Rất
đông khách, nhưng hình như toàn là đàn
bà và con nít. Chào chị, chào chị, đi
đâu cũng chào chị. Còn bọn đàn ông
trốn xứ nào?
Ăn thông với
club house
là phòng tập thể
thao. Ðạp cánh cửa khép hờ, Trạng bắt
gặp nguyên một đám sồn sồn đang oang oang
bàn chuyện, chia thành hai ba nhóm kẻ dựa người
vịnh vào các dàn tập tạ
nautilus
. Ðám
lão làng có được một cái bàn vuông
kê trong góc đang ngồi nhâm nhi đấu láo với
chai rượu mạnh. Chào xã giao. Hê, mạnh
giỏi, mạnh giỏi? Ok, ok! Ăn thông với phòng
tập thể thao là phòng chứa máy giặt máy
sấy. Bọn choai choai đang đóng đô trên
mấy cái nấp máy, cũng ồn ào không kém.
Lại chào xã giao. Ok, ok? Nhờ trời mạnh giỏi,
mạnh giỏi!
Thăm dò tình hình xong Trạng quyết định trở
lại nhập bọn với đám lão làng. Có lẽ
ngoài Trạng ra không ai dám tham gia với đám
này cho nên duy nhất còn mỗi một chiếc ghế
trống đang chờ đợi. Kéo ghế ngồi, Trạng
mở đầu câu chuyện:
- Chào ông chủ tịch. Sao? Buổi họp về
việc tổ chức Tết liên thành phố vừa rồi
kết quả ra sao ông? Hổng nghe ai đá động
gì hết vậy?
- Ô, bữa hôm đó tôi và anh Gia có đi
dự phiên họp theo lời mời của anh Lương ở
dưới High Point. Nhưng theo sự bàn thảo và
đồng ý của anh chị em ở đây, tôi có
chuyển lời bà con cho họ biết là mình có
truyền thống tổ chức Tết riêng tại tỉnh
nhà, nên rất tiếc không tham gia vào công việc
chung được...
Ông Gia tiếp lời:
- Tôi nghe đồn thằng cha Lương đó là
Việt Cộng. Lần tổ chức nhạc nhiếc gì gì
trước đó anh ta đã phỉ báng ông Phi,
ông Ưng và ban đại diện thành phố Durham,
bảo là ỷ đông cướp công cướp của,
lợi dụng danh nghĩa cộng đồng để đề
cao cá nhân, vụ lợi riêng tư.
Trạng hơi ngạc nhiên:
- Vậy à? Nghe anh Thái nhà mình nói anh
Lương là thiếu úy hải quân, khóa 23 cùng
khóa với anh Thái mà, không lẽ hắn ta lại
là Việt Cộng?
Ông Lữ ngồi bên cạnh Trạng chêm vào:
- Ối, cái thằng Thái nó mà biết cái quái
gì. Mà chỉ có Trạng là hải quân mới tin
nó là thiếu úy hải quân thôi, ở đây ai
mà không biết.
Trạng càng ngạc nhiên hơn. Chẳng lẽ mình
nghe lộn? Trạng bèn hỏi lại:
- Anh nói gì tôi không hiểu. Anh nói anh Thái
không phải là sĩ quan hải quân?
Không trả lời câu hỏi của Trạng, ông Lữ
bàn sang vấn đề khác:
- Tôi thiệt chưa từng thấy ai mà chịu khó,
bỏ công bỏ của như tên Lương đó
hết. Gọi điện thoại từng nhà, đi tiếp
xúc từng người. Thử hỏi hắn phải mưu
đồ một cái gì chớ? Ngày làm tám
tiếng về nhà mệt thấy mẹ, ai ở không mà
đi làm những chuyện như vậy? Hắn ta lại
mới tới, nếu có muốn xưng hùng bá thì
cũng từ từ, đừng làm quá trớn.
Nghĩ tình đồng quân chủng, Trạng lên tiếng:
- Tôi không bênh hắn. Nhưng đừng thấy
anh ta chịu khó hô hào đồng bào tham gia những
công việc có ích lợi chung, rồi lại chụp mũ
anh ta là Việt Cộng. Nè, xưa nay ở đây
có người nào đứng ra kêu gọi bà con
đóng góp mà thành công vượt bực như
anh ta không? Năm ngàn đô giúp cho quỹ cộng
đồng đâu phải là ít! Tôi nghĩ mình
nên xét lại vấn đề, đừng có tánh
tài năng đố kỵ, thấy người ta làm
được thì kiếm cách dèm pha.
Thuận, anh của Thái, đứng ngoài nghe lõm bõm
cũng nhào vô:
- Ai nói tên Lương đó không là Việt
Cộng?
Trạng phân trần:
- Hắn ta là thiếu úy hải quân mà, cùng
khóa 23 với anh Thái mà, sĩ quan hải quân
đâu có tệ như vậy.
- Ai nói với anh hắn thuộc khóa 23?
- Thì em của anh, anh Thái!
- Ối giời ơi, tới giờ này mà anh còn tin
lời thằng Thái thì bỏ mẹ rồi...
Thuận cất tiếng cười ngất ngưỡng, bỏ
đi... Trạng không hiểu tại sao một người
anh lại có thể mở miệng nói về thằng em
ruột mình bằng những lời có vẻ hạ bệ
như vậy mà cười vui cho được. Hình
như Trạng chưa biết một điều mà thiên
hạ đã biết? Nhưng thời may có ông Lữ
kề tai giải thích:
- Nói nhỏ cho Trạng nghe, Trạng tới đây sau
nên không rõ vụ này, thằng Thái chỉ là
thằng hạ sĩ thôi. Nó còn đội bánh
tiêu mà. Nó đi chung tàu với thằng Từ
làm ở hãng bánh Royal Cake đó. Bữa nào
gặp thằng Từ, Trạng thử hỏi thằng Từ thì
sẽ rõ trắng đen hơn.
Sao có chuyện lạ như vậy? Còn đội "polo"
thì cao lắm chỉ là hạ sĩ nhất thôi.
Nhưng tại sao có lần chính Thái đã khoe
với Trạng là thẻ căn cước quân nhân
và chứng chỉ tại ngũ vẫn còn mang được
qua tới bên này. Chữ HQ-ThÚy ghi đậm nét
và chữ ký của thiếu tướng Nguyễn Xuân
Trang phòng tổng quản trị kia chẳng lẽ lại
là giả? Hay là bôi cạo, sửa lại, đánh
máy lại? Vô lý! Ðâu có ai làm chuyện
đê tiện vậy! Tánh tình của Thái theo sự
nhận xét của Trạng thì cũng là hạng
người biết điều, chơi được. Trạng
ngỡ ngàng:
- Thiệt vậy à?
Bên kia bàn, ông Gia bây giờ cả quyết:
- Tôi dám cá cha đó mà không là Việt
Cộng là tôi nghỉ sở Ba Son đó. Chỉ có
Việt Cộng chi tiền cho chả ăn ở không, chả
mới có thì giờ đi làm những chuyện tầm
ruồng cho thiên hạ. Ai người ta cũng lo chuyện
gia đình người ta trước hết. Theo các anh
nghĩ, đứng vai trò như các anh đi, các anh
có chịu bỏ chút thì giờ quý báo của
mình để làm một chuyện không công như
hắn ta không? Chỉ mỗi cái thì giờ thôi?
Trạng không nghĩ đến chuyện anh Lương là
Việt Cộng nữa, mà Trạng đang thắc mắc về
trường hợp của Thái, khổ chủ của buổi
tiệc đầy tháng ngày hôm nay. May là không
có Thái ngồi tại bàn, nếu nghe được
những lời này thì hắn ta nghĩ sao? Người
ta thường nói ở Việt Nam sau 75 sâu bọ lên
làm người, chẳng lẽ ở bên này sau 75 cũng
có chó mèo lên làm người? Thiệt khó
nghĩ!
Bên kia phòng đàn bà con nít bỗng nhiên có
tiếng cười hét, vỗ tay vui mừng vang dội át
luôn những lời bàn thảo của đám lão
làng. Trạng cầm lon bia của mình đứng dậy,
chạy sang. Mở quà? Hèn chi! Bình sữa, núm
vú? Cho ai đây? Cho con bé hay cho thằng cha của
nó? Rõ ràng là chơi nghịch, tặng quà
để làm trò cười... Rồi hết cười
tới khóc. Tiếng con nít ré lên phía sau bộ
sa-lông. Ðánh lộn, dành đồ chơi với
nhau là cái chắc. Rồi khóc dây chuyền hết
đứa này tới đứa kia. Sau cùng khóc hội
đồng, khóc cả đám. Trạng thấy lòng
ngao ngán. Thời ẩm bồng của Trạng đã
qua. Ðám con của Trạng bây giờ lớn khôn
rồi, biết viết những dòng thư mực tím gửi
sang Mỹ thăm ba thì chắc hẳn không còn cảnh
này. Trạng chợt nhớ đến vợ, đến
con... Thôi để mấy bà ở đó dỗ nó
đi, Trạng đi về, Trạng nghĩ vậy.
Mới nghĩ tới mà có người đã làm.
Chắc không chịu nổi đám con nít khóc la,
thiên hạ từ từ rút lui. Vài cặp đã
đứng cạnh lối ra bắt tay vợ chồng Thái
chào tạm biệt. Trạng qua phòng
laundry room
lôi Cao cùng về. Cái thằng này già mà
không biết thủ phận, Trạng nghĩ. Cứ
tưởng mình còn trẻ lắm tấp vô chơi với
đám mới lớn, rồi còn quên mình là
độc thân tại chỗ hăm he kết bè kết
đảng với đám độc thân thứ thiệt.
Ðúng là già không nên nết. Trạng réo:
- Ê, Cao. Về, khuya rồi.
- Còn sớm mà. Lại đây bàn chuyện
quốc nội, quốc ngoại với mấy thằng em mình
một chút đi.
- Ừa, muốn ở lại chính chị chính em cũng
được, nhưng tốt hơn hết Cao nên tìm
người khác đi quá giang đi, Trạng phải về
có chút việc...
Không cần nói với gia chủ, Cao lẳng lặng theo
Trạng ra cửa sau chuồn êm. Trời không một
chút gió nhưng Trạng cảm thấy lạnh. Tạt
qua tiệm Seven Eleven xách thêm mấy xâu bia, Trạng
định bụng ghé ngang nhà Cao uống tiếp. Mới
làm hai ba lon chưa thấm vào đâu. Chạy quanh
quẹo mấy con đường quen thuộc, lúc hơi
sưỡi bắt đầu tỏa ra trong xe thì vừa
đến nơi. Cao hối:
- Ê, chần chờ gì nữa, vô chơi chút đi!
Thấy đèn trong nhà sáng trưng, Trạng biết con
vợ chắp nối, một con trông lòi con mắt, của
Cao chắc đi hàng xóm xem chỉ tay hai mươi lá
đã về nên không muốn làm phiền. Trạng
viện cớ:
- Thôi, ngồi ngoài này lai rai hay hơn. Có
nhiều chuyện đám đàn bà không nên
nghe. À Cao nè, Cao có biết thằng Thái không
phải là sĩ quan hải quân hôn? Bấy lâu nay
tụi mình lầm hết!
Có lẽ bị tụi nhỏ kèm đủ "dose," Cao hơi
lè nhè:
- Lầm cái gì cha? Cha lầm chớ ai mà
lầm... Thôi đi, hừm, cha đi guốc trong bụng
thiên hạ mà cha cứ giả bộ ngây thơ hoài.
- Thiệt mà. Mới nghe ông Lữ nói hồi nãy
Trạng mới vỡ lẽ!
- Giỡn hoài, thì hồi nào nghe cha nói thằng
Thái coi vậy mà không có trình độ, Cao
tưởng cha có con mắt nhìn đời sâu hơn
thiên hạ.
Trạng giải thích:
- Ðâu có. Tại vì lần đó Trạng
giải toán cho nó. Trạng chỉ ngụ ý tại sao
nó là sĩ quan hải quân mà trình độ
toán lại thấp kém như vậy. Thế thôi.
Nhưng Trạng biết đó là trường họp không
thể tránh được vì sau này hải quân
thiếu sĩ quan nên thâu nhận luôn đám tú
tài ban A, ban C, ban D. Tóm lại, thiệt là mất
hết truyền thống và như vậy rõ ràng thằng
Thái nó đã làm nhục Hải quân. Thế
nào cũng có ngày Trạng hỏi thẳng nó cho
biết. Với cấp bực của Trạng, Trạng có
thể rầy nó được mà.
Cao cười ra tiếng:
- Thôi xin can cha đi. Qua bên này rồi thì
còn gì quan với lính, đù me mấy ông
tướng kia tụi nó còn coi chẳng ra gì huống
hồ cấp úy như cha. Mà nói ra thì có lợi
lộc gì chớ? Chuyện đó thì ai mà không
biết, chỉ có mình cha giả bộ ngây thơ.
Trạng gằn giọng:
- Ngây thơ, ngây thơ! Ngây thơ cái gì?
Cao thở dài:
- Hừ, nghĩ lại đau khổ và tội nghiệp là
cho thằng Từ. Trạng đâu có giao du với
đám nhỏ, đám độc thân Trạng đâu
có biết. Là bạn cùng khóa 72 tân binh, cùng
tàu HQ 500 mà bây giờ thằng Từ vẫn phải
kêu thằng Thái là thiếu úy. Một điều
thiếu úy hai điều thiếu úy, cha không
thấy sao? Thằng Lương ở High Point, thằng
đó mới thiệt là thiếu úy hải quân
khóa 23. Cao thấy thằng đó có tinh
thần nhưng bị người ta chụp mũ... Ối,
mà còn nhiều chuyện thúi như mắm, cha
không tiếp xúc nhiều sao cha biết được.
Rõ ràng bấy lâu nay mình rơi vào cảnh ếch
ngồi đáy giếng mà mình không hay, Trạng tự
xét như vậy. Không ngờ một chuyện nhỏ
nhặt này mà nẵm nay Trạng không thấy nổi,
không hiểu nổi. Nhưng Trạng biết mình có
cái nhìn riêng, nói:
- Hê, bên Không quân của Cao thì Trạng không
biết sao, nhưng bên Hải quân của Trạng thì
xưa nay Cao phải biết rất là quan liêu. Nhờ
cái quan liêu đó mà Hải quân có nề
nếp, kỹ cương hơn. Quan ra quan lính ra lính.
Trạng nghĩ có dịp nào thuận tiện Trạng sẽ
nêu vấn đề này với Thái. Trạng thấy
vẫn được, vẫn hợp lý. Phải dạy cho
nó một bài học tối thiểu về môn "Xã giao
Hải quân," để nó biết thế nào là vàng
thiệt, thế nào là vàng giả.
- Thôi đi cha ơi, đừng có tin tưởng vào
mình, vào truyền thống hải quân của cha thái
quá như vậy... Cao thấy thằng Thái coi vậy
chớ nó cũng biết ăn năn hối cải. Kể
từ ngày có cha là hải quân thứ vàng thiệt
tới đây, cha để ý đi, mỗi lần cha nhắc
tới vấn đề binh nghiệp cha thấy thằng Thái
dạo sau này có bao giờ xen vô bàn luận chuyện
gì nữa không? Nó luôn luôn kiếm cách
đổi đề tài. Thôi, Cao khuyên cha đừng
làm vậy. Dĩ vãng vàng son của mình, mình
cũng nên quên hết đi. Mình cũng lờ đi
những gì thằng Thái đã lỡ làm, đã
lỡ tuyên bố. Nó cũng hiểu lắm chớ, biết
ăn năn lắm chớ. Chỉ còn một chút hãnh
diện để người ta sống, dù là giả tạo
đi nữa, thì xin cha cũng đừng nên bóp
chết. Chẳng lẽ cây muốn lặng mà gió
chẳng ngừng...
Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng? Có
lý! Thằng này nói có lý! Trạng hối
hận thấy mình đã hơi quá đáng. Mặc
dù trong thâm tâm Trạng vẫn đau buồn, đau
buồn thiệt. Tại vì Trạng biết mình bất
lực trong hoàn cảnh này. Không thể thay đổi,
không thể làm gì khác hơn. Trạng thở
dài. Cao cũng thở dài... Rồi như có một
sự đè nén nào bị vỡ bờ bên trong, Cao
bỗng nhiên đâm ra hằn học:
-
Damn it!
Cao thấy thằng Thái vậy mà còn
xài được hơn là thằng Trung. Một thằng
lầm lỗi ít ra còn biết mình lầm lỗi, còn
một thằng thì hèn hạ hơn, lầm lỗi mà
không muốn biết mình lầm lỗi.
Trạng sững sốt:
- Trung úy Trung? Gì nữa đây, Cao mới nói
cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng mà.
Cao tiếp:
- Cao thấy thương thằng Thái nhưng bực thằng
Trung. Trung úy cái gì, trung sĩ Trung thì có.
Dám chắc nó chỉ là thằng hạ sĩ quan "mê
vô" thôi, không có pilot trực thăng, cessna, L 19
gì cả. Vậy mà mở miệng ra lúc nào cũng
tưởng mình là pilot thứ thiệt mới kẹt cho Cao.
Nó qua mặt mấy cha hải quân như cha thì
được, cho đằng này Cao là người trong
nghề mà, không quân thứ vàng thiệt mà, chỉ
cần một câu nói hớ là lộ tẩy ngay...
- Thiệt hôn đó Cao hay là chỉ suy bụng ta ra
bụng người?
- Nó múa rìu còn kém quá mà sao qua mắt
thợ được. Nhớ tuần rồi mình nhậu ở
nhà Công hôn? Trạng có để ý Cao chỉnh
nó về vấn đề xăng trực thăng
hôn? Xăng trực thăng thì phải tính bằng
pound, không thằng sĩ quan nào không biết, vậy
mà nó còn cãi với Cao, cố tình xài chữ
galon. Galon thì chỉ xài cho L 19, cessna thôi, vì
nó nhỏ quá. Ðã trật đường rầy
mà còn cố ôm vô lăng, Cao cũng lờ đi cho
nó nói cho suông câu. Mấy cha không ở trong
nghề mấy cha làm gì biết được.
Trạng lần này cười ra tiếng:
- Thật vậy sao? Lại thêm một tên trung úy
không có cầu chứng tại tòa! Có một lần
nhậu trước đây cũng tại nhà Công, Cao
còn nhớ trung úy Trung kể chuyện cho tất cả anh em
mình nghe về vụ đi họp với trung tướng
Nguyễn Khoa Nam trước khi Việt Cộng tiếp thu
hôn? Ðể coi nó nói ông Nam nói gì? À,
đúng rồi nó nói ông Nam bảo rằng: Vì
dân tộc đất nước, tôi mong các anh hãy
dẹp bỏ tình riêng, chỉ cần một tháng xa vợ
xa con, để cùng tôi tận lực chiến
đấu... Ha ha, chẳng biết ông Nam có nói
những lời vàng ngọc đó hay không, nhưng
bắt buộc thằng Trung phải là sĩ quan nó mới
có cơ hội đi dự buổi họp này. Không
những là sĩ quan, còn phải là sĩ quan cao cấp
nữa. Ðại úy quèn như Cao thì làm gì
có cái may mắn ngàn đời kia. Nó cho nó
làm trung úy đã là nhịn Cao một bực
rồi. May mắn hơn nữa là nó chưa dám
đề cập đến vấn đề Phục
quốc... Mà tại sao bữa đó Cao không dám
lên tiếng ừ hử, chỉnh đốn hàng ngũ gì
với nó hết vậy? Vụ này rồi Cao sẽ xử
trí ra sao đây?
- Chịu thôi. Chỉ cần nó có tinh thần tự
giác, tự hối như thằng Thái là Cao vui rồi.
Còn muốn vạch trần bộ mặt thật của nó
thì thiệt tình chẳng có gì khó khăn hết,
nhưng làm như vậy mình thấy mình có vẻ
tiểu nhân quá. Chẳng trách ai được.
Biết đâu chừng trong khóa của cha hay khóa của
Cao cũng có thằng dám vỗ ngực tự xưng
mình là đại tá. Thời buổi này vàng
thau lẫn lộn...
Sương khuya rơi ướt kín
... mặt kính
trước. Số lượng bia trong bọc giấy dầu
đã vơi đi hơn nửa. Không ngờ bữa
tiệc đầy tháng ngày hôm nay, một bữa tiệc
không có nhảy đầm, không kèn không trống,
mà đối với Trạng lại có nhiều ý nghĩa
hơn mấy lần trước. Trạng kết thúc:
- Lạnh quá rồi, thôi, Trạng đi về. Bữa
nào gặp lại.
Cao mở cửa xe:
- Ừa, uống hết nổi rồi, bữa nào gặp lại.
Cao lững thững đi vô nhà... Cây muốn lặng
mà gió chẳng ngừng? Một câu hỏi bâng
quơ trong trí Trạng, bất chợt Trạng lên tiếng:
- Ê Cao, trở lại đây Trạng nói cái này.
- Còn gì để nói, hả?
- Trường hợp của Cao thiệt là nghịch lý,
biết sao hôn, gió đã ngừng mà cây chẳng
lặng. Và cũng có thể cái cây gai góc
này nó sẽ còn rung động mãi mãi với thời
gian...
Cao quay lưng đi, cười vang. Trạng de xe ra
đường. Gió đã ngừng? Trời đêm
im phăng phắt...
back to top
06. MỘT BUỔI CHIỀU THỨ BẢY
NGUYỄN TẤN HƯNG
Tấn vừa xếp mớ giấy tờ bừa bãi trên
bàn cho thứ tự vừa hỏi vợ:
- Em nói gì?
- Em nói trưa này con bé Duyên nó mới có
period
lần đầu.
Tấn ngạc nhiên:
- Cái gì? ... Ồ, vậy hả. Năm nay nó bao
nhiêu tuổi?
- Nó mười ba tuổi rồi, con của anh mà anh
cũng không biết bao nhiêu tuổi nữa hả Tấn?
Bỗng dưng Tấn thấy mình thành ông cụ.
Ðã đến lúc Tấn phải tỏ ra đạo mạo
nghiêm nghị với lũ nhỏ đã không còn
nhỏ như hồi nào. Một lần nữa Tấn phải
thay đổi. Cũng như dạo đó, ngày Tấn
ngượng ngùng ôm khai trầu rượu đi cưới
vợ. Không người lớn cũng phải tỏ ra
người lớn, con nít mà có vợ thì coi sao
được. Rồi ngày nào mộng làm cha lớn
dần theo bụng vợ, thời son trẻ vút bay đi.
Tấm thân người lớn của Tấn còn phải
thêm phần tỏ ra điềm đạm, đứng đắn
nữa. Thời gian ấy vậy mà hiu hiu gió thổi, qua
hồi nào không hay... Bây giờ làm ông
cụ? Cũng chẳng sao. Vấn đề quan trọng là
đứa con gái đến tuổi dậy thì, tuổi khai
sinh cái hiện tượng làm mẹ của phái nữ.
Phải làm gì đây? Không bao lâu lại sẽ
đến tuổi cặp kê, trai gái mèo mả gà
đồng. Hũ mắm treo dàn bếp? Ðừng có
lo, Tấn nhủ thầm. Qua bên này ăn hamburger, hot dog
chẳng ai thèm mang cái hũ mắm đó đi theo
làm gì. Hơn nữa, có dàn bếp ở đâu
mà treo? Tấn hỏi:
- Nó có sợ lắm hôn?
Hồng trả lời:
- Không đâu, em có nói cho nó biết
trước. Với lại đám Mỹ bạn của nó
thường có sớm hơn đám nhỏ Việt Nam
mình, có đứa chỉ mới mười tuổi mười
một tuổi, vậy mà cũng biết nói nhau nghe.
Tấn bâng quơ:
- Cũng được. Cho mụn trên trán và gò
má của nó xuống bớt.
Biết đám con của mình không có cái cơ
hội sống cách biệt trong
the blue lagoon
, Tấn hầu
như quên đi, không chú ý đến sự phát
triển về thể xác của con cái. Người luôn
luôn để tâm đến vấn đề này là
Hồng, vợ anh. Ðứa nào bể tiếng nổi trái
cổ, đứa nào dậy ngực trổ mả vợ anh
đều ghi nhận hết, thấy hết. Ðối với
Tấn về phía con trai thì cũng dễ hiểu thôi,
vì có kinh nghiệm bản thân. Những cảm giác
lạ lạ từ lúc con cu ngói mới mọc lông măng
cho đến khi con dê xồm mọc râu kẽm, cũng
không phải là không có. Nhưng, chuyện tu mi
của kẻ thân dài vai rộng đối với Tấn
chẳng lấy gì làm quan trọng. Chuyện làm quen
với
stayfree, playtex tampon, depend
có lẽ là
chuyện phải hãi hùng hơn, đáng tìm hiểu. Tấn
hỏi vợ:
- Nè, hồi nhỏ em bị lần đầu thì em có
sợ hôn?
- Anh hỏi chi vậy..., ai mà nói chuyện kỳ cục.
- Chỉ có anh với em thôi, đâu có ai nghe
đâu mà em sợ, em mắc cỡ.
Không biết có phải vì mắc cỡ hay không mà
một lúc lâu Tấn không thấy Hồng trả
lời. Chuyện này có gì ghê gớm đâu
mà sống để bụng chết mang theo? Thật có
những chuyện vợ không thể nói với chồng,
và ngược lại thật có những chuyện chồng
cũng không thể thố lộ cho vợ biết? Vậy
thì thương nhau, ăn ở với nhau làm
gì? Hồng không nói thì thôi. Tấn bỗng
nhiên nhớ nhớ những người tình đã đi
qua trong đời mình. Ừa, những cuộc tình lớn
những mối tình con của Tấn, Tấn đâu đã
nói hết cho Hồng nghe!
Có tiếng Hồng lên tiếng:
- Hồi xưa em có lần đầu là vào ban
đêm, đến sáng trắng thức dậy mới hay.
Em tưởng mình đái dầm, định lết ra khỏi
giường đi kiếm quần khô thay đồ. Nào
ngờ lúc quay lại xem chừng bãi nước đái
mới hay đỏ cả chiếu. Hoảng hồn không
hiểu tại sao mình đái ra máu. Rồi nghi là
bị ai đánh, ác thiệt, đánh vào chỗ
kín. Nhưng không thấy đau đớn gì cả,
cũng lạ. Sợ quá rờ đáy quần ướt
nhẹp, không dám ra khỏi mùng, cũng không dám
kêu ai. Ðến lúc má bắt gặp, má mới
giải thích cho biết...
Ngưng một chút, Hồng nói tiếp:
- Anh làm gì đâu mất tiêu đi, hổng thấy
ừ hử trả lời trả vốn gì hết vậy?
Tấn đang đọc cái
report
mới gửi tới
nằm trên chồng hồ sơ. Làm một công xong hai
việc, vừa gạch màu
highlight
những điểm quan
trọng vừa
part time
nghe Hồng kể chuyện. Bị
hỏi ngang xương, Tấn quýnh quáng đáp:
- Hả, thì em cứ nói đi anh đang nghe mà.
Nè, lúc đó em học đệ thất phải
hôn? ...
Wait a minute, Sir!
- Come see me when you have a chance.
- O. K.
Hồng xen vào:
- Ai nói gì vậy? Hello...
- Hello, anh nghe đây. Thằng xếp của anh nó
mới đến đưa cho anh cái
memo
. Nó vừa
đi khỏi... Rồi sao nữa, má nói gì với em?
- Không thèm nói chuyện với anh nữa đâu.
Nói với anh như nói với đầu gối, anh để
tâm để trí đi chỗ khác mà nói gì.
- Anh nghe mà.
Một hồi lâu Hồng tiếp:
- Má nói con gái đến tuổi thì phải có
như vậy, thay đổi máu huyết cho da dẻ hồng
hào.
- Chỉ vậy thôi? Lúc đó em bao nhiêu tuổi?
- Ðể coi..., cũng mười ba. Em về quê bên
Bến Tre vào cuối tuần.
- Con Duyên năm này mười ba, em lúc
đó cũng mười ba, hèn chi người xưa nói
đúng: nữ thập tam nam thập lục.
Lấy chồng
từ thuở mười ba, đến năm mười tám
thiếp đà năm con
. Em giống y chang, sanh năm
một điều chi hả?
- Thì lỗi tại anh chớ tại ai, chẳng ai trồng
khoai đất này...
Câu nói của Hồng bỗng khơi lại cho Tấn một
dĩ vãng xa xưa. Phải rồi, lỗi tại Tấn
chỉ vì Tấn đòi đốt sách. Sách Cao Ly
Ðầu Hình, kết hợp mười thiên can với
mười hai địa chi: nam dụng can nữ dụng chi.
Chồng Ất dậu vợ Mậu tý, Ất thủ Tý chi
đồ. Tấn đã nhiều lần đọc đi
đọc lại trang này nên vẫn còn nhớ rõ
lời bàn và vài câu chú. Ðại khái hai
tuổi này rất hạp rất tốt, chỉ phải tha
hương xa nhà. Nhưng, sống đầm ấm êm
thuận suốt đời ví như rồng cọp núp ẩn
rừng xanh,
long hổ tự phục, đại sanh gia sự,
xiên từ lạc xứ
. Người chồng tánh tình
rất quân tử cho nên gia đình dù có gặp
khó khăn tai nạn buổi đầu nhưng rốt cuộc
sẽ được sung sướng vẻ vang về sau,
quân
tử dũng khí, gian nan tại tiền chi phúc hậu
.
Ngặc một điều đặng hào của mà chẳng
đặng hào con, chỉ sanh được một đứa
con trai mà thôi,
hữu đăng khoa hữu sanh nhất
nam tử...
Sách dám quả quyết như vậy, rủi không nuôi
được đứa con trai duy nhất ấy thì lấy ai
nối dòng, lấy ai lập cháu nội đích
tôn? Giấy hồng đơn của ông thầy đồ
còn ghi rõ như ban ngày thì ba má Tấn làm sao
chấp thuận cuộc hôn nhân này cho được.
Ðốt, đốt hết mấy cuốn sách tầm ruồng
đó đi
, Tấn nói như vậy. Yêu mà,
yêu quá cỡ thì cần gì sách vở, chữ
nghĩa. Tần Thủy Hoàng hồi xưa đốt sách,
chôn sống học trò vì Tần quốc thì Tấn
bây giờ cũng dám làm như vậy lắm nhưng
chỉ vì người tình. Khác với thời
Ðoạn Tuyệt phong kiến cổ hủ của Nhất Linh,
thời này là thời Yêu văn minh tân tiến của
Chu Tử nên con đặt đâu cha mẹ dám cũng
phải ngồi đấy lắm. Nhất là con trai trong
hoàn cảnh lính trận sa trường, sống nay chết mai
thì cha mẹ vì thương con chiều con là sự
thường.
- Anh có nghe em nói hôn?
- Nghe.
Nghe thì hai lỗ tai có nghe nhưng tâm hồn của
Tấn cũng còn đang thả tận đâu đâu.
Chỉ vì mấy cuốn sách? Phải, chỉ vì
đòi đốt mấy cuốn sách đó mà Tấn
luôn luôn bị lương tâm dày vò, cắn
rứt. Tấn thấy mình như đã làm một
việc gì hết sức trái ngược với luân
thường đạo lý. Chỉ vì tình, lụy vì
tình. Thà là cạo đầu đi tu, uống thuốc
chuột tự tử như nhiều người đã làm
cũng còn nhẹ tội, đỡ tầm bậy hơn là
đòi đốt sách, Tấn nghĩ.
Uổng công
cho mày ăn đi học cho nhiều, giờ này sách
vở thánh hiền mày đòi đem ra mày đốt
,
ba Tấn buồn buồn nói với Tấn như vậy.
Ðến lúc Hồng sanh cho Tấn thằng con trai thứ hai
thì Tấn mới an tâm là sách Cao Ly Ðầu Hình
chưa chắc đã trúng một trăm phần trăm.
Có lẽ ngoài căn bản một trăm hai chục thiên
can phối họp với địa chi, người ta còn phải
tính thêm phần cung mạng, giờ giấc và nơi sanh
nữa. Cái cung mạng Tích lịch hỏa của Hồng
và cung mạng Tuyền trung thủy của Tấn chắc có
gì tương sanh tương ứng, biến hóa khôn
lường cho nên hai đứa không phải chỉ có
nhứt nam tử mà là tam quí nam tử... Tấn
đổ thừa cho vợ một hơi:
- Lỗi nào tại anh? Lỗi tại em tặng anh miếng
bội ngọc. Lỗi tại em hăm hở muốn chồng.
Lỗi tại em năn nỉ ba má gã gắp cho anh. Lỗi
tại em xúi anh đòi đốt sách để cho em lai
sanh ra một lũ tiểu tử, tiện tỳ mà em còn
phải nói.
Hồng phản ứng ngay:
- Hứ, sao anh không nói là anh mê hoặc dụ dỗ
gái chưa đến tuổi vị thành niên. Bản
mặt vậy mà theo người ta như là đỉa
đói. Ban ngày ban mặt mà đòi chèo chẹo
như con nít đòi kẹo.
Tấn mơ màng nhớ lại thời mới lớn, tuổi
của mộng mơ, bồng bột. Một phố phường
cũng đủ cho bệnh tương tư, cần chi đến
ba mươi sáu. Chuyện trai gái, tình yêu bao
giờ cũng được đóng dấu mật, tối
mật, khẩn, thượng khẩn. Dấu diếm cha mẹ, anh
chị là chuyện đương nhiên. Bởi vậy
bảy tám năm trời quen nhau mà Tấn và Hồng
chưa đứa nào biết mặt song thân của
người đối tượng, thế mới là lạ.
Rồi anh chiến binh một chiều dừng chân nơi phố
xưa nay đã cháy tiêu tan thành tro bụi sau biến
cố Mậu Thân. Không biết đâu là
đường đâu là ngõ, Tấn hỏi thăm
đại một người đàn ông xa lạ đang
đứng trước căn nhà lụp xụp mới dựng
trên vuông đất mà Tấn nghĩ là nền nhà
cũ của người yêu:
Thưa bác, có phải
đây là nhà của cô Hồng?
Người
đàn ông nhìn Tấn từ đầu đến chân
dò xét, không thèm trả lời, bảo thằng nhỏ
đang đứng một bên:
Vô trỏng kêu chị
Tư mày có người quen tới kiếm
. Rồi
mới quay qua Tấn từ tốn:
Cậu chờ một chút
.
Chẳng lẽ ông bác này sẽ là ông già vợ
tương lai? Thôi chết rồi, sao lại nhằm ngay
ông bô mà hỏi thăm cô con gái. Mà chẳng
hề gì, Tấn lấy lại bình tĩnh, mình là
vàng thiệt thì đâu sợ lửa. Hên là bộ
quân phục màu xanh nước biển và cặp ga lông
thiếu úy còn mới sáng ngời trên vai chắc
chắn sẽ làm Tấn ra vẻ con nhà đàng hoàng,
đứng đắn lễ nghĩa.
Ồ anh Tấn, anh về
hồi nào vậy, vô trong này đi anh
, Tấn chỉ
muốn Hồng ngã vào vòng tay để Tấn
được ôm trọn vào lòng cái thân hình
bé bỏng đó, chớ đâu phải những câu
chào hỏi xoàng xĩnh kia. Nhưng Tấn liếc qua
thấy ông bác xa lạ đang trân trối trừng mắt
nhìn Hồng như chưa từng thấy ai làm chuyện
lạ lùng như vậy trên thế gian này. Hồng
nắm tay Tấn kéo đi, quên luôn bài học lịch
sự xã giao, không màn giới thiệu Tấn là ai cho
ông bác xa lạ.
Trong lần gặp gỡ đầu tiên đó, mặc dù
không nói ra nhưng Tấn cũng ngầm báo cho ông
bác không quen ấy một tin buồn theo ý của ổng,
một tin vui theo ý của Tấn: không bao lâu nữa
Tấn sẽ dẫn con gái của ông đi khắp chân
trời góc biển. Và tin vui đó đã đến
thật vì đám cưới của Hồng và Tấn
đã diễn ra tại căn nhà lụp xụp kia chỉ
vài tháng sau. Ông già vợ bấy giờ mới
biết ngán chàng rễ thuộc hạng chưa đi
đã chạy, chưa nói đã làm.
Tấn đổi đề tài hỏi Hồng một câu mà
hình như Tấn đã hỏi đi hỏi lại nhiều
lần.
- Nè, đêm anh gặp ba lần đầu, lúc anh
về em có bị ăn đòn không em nói hết cho anh
nghe coi.
Hồng trả lời:
- Lúc đó em đã lớn chồng ngồng rồi,
bị đòn gì nữa. Nhưng, bị rầy quá cỡ.
Anh cũng biết ước vọng của ba là mong cho con
cái đi học thành tài. Trai cũng như gái,
đứa nào chăm chỉ học hành không bạn bè
lêu lõng là ổng thương ổng lo. Bằng
ngược lại thì ổng hạch hỏi tra vấn đủ
điều và nhiều khi còn đánh đòn sanh
tử. Ðêm nào ổng kêu ra kiểm bài là
phải bầm mình. Thi rớt đệ thất thì thôi,
khỏi nói. Chuyện trai gái thì em rút kinh nghiệm
của chị Ba, thành thử ba tưởng em tối ngày
chỉ biết cặm cụi với bài vở, sách đèn.
Từ hồi nhỏ cho đến lớn em biết ba chưa bao
giờ nghĩ rằng em có bạn trai. Ông già bị
big surprise
vì đêm đó ổng thấy anh và
em tự nhiên quá như đã bồ bịch mấy
mươi đời.
- Ba nói gì với em?
- Thì ba nói chuyện bạn bè phải xếp qua một
bên để lo việc học hành, chuyển được
trường từ Bến Tre về Mỹ Tho đâu phải
dễ. Ðại khái như vậy. Ổng bảo là
ổng hết sức thất vọng, mặc dù em nói thật
em chỉ có anh là bạn trai. Hồi thời đó sao
mà ổng khó khăn với chị Ba và em dữ quá.
Mấy đứa em sau này ổng lại dễ, tụi nó
có bạn trai đi chơi tùm lum ổng có rầy, có
đánh gì dữ tợn đâu. Bị cấm đoán
quá con cái nhiều khi cũng có phản ứng. Lấy
chồng đại cho rồi, trước sau gì cũng lấy...
- Lấy anh hả? Nhưng mà... nếu đúng như
em nói thì em nào có thương yêu gì anh?
- Hứ, anh có biết là anh may phước tốt số
lắm hôn?
Lấy được vợ dĩ nhiên là may phước
rồi. Mà lấy được người tình mà
Tấn yêu thương thì còn phải phước
đức mấy đời. Nhưng Tấn cũng nói
ngược lại:
- Chớ em không may phước tốt số thì em cũng
làm gì lấy được anh.
- Còn lâu. Mấy người đi hỏi trước
anh ngon lành hết sức mà chẳng biết sao em lại
không chịu để ưng anh cù lần quá, không
biết
take care
vợ con gì hết.
- Thiệt vậy hả?
- Chớ gì nữa! Chỉ cần cái anh chàng cháu
kêu trung tướng Tôn Thất Ðính bằng cậu
là đủ hơn anh mấy bực rồi. Anh muốn nghe
chuyện không em kể cho nghe. Cũng tại bà năm
Nương con của cô Ba, chớ ai biết ất giáp
gì. Mà nói có mồ ma của thằng Ðức,
thằng Nguyễn Minh Ðức bạn của anh hồi nhỏ anh
còn nhớ hôn? Bà Nương đi thăm thằng
Ðức lúc đó đang học năm thứ tư Võ
Bị Ðà Lạt nên anh chàng bạn cùng khóa
lơ tơ mơ đó mới có dịp làm quen
đặng nhờ bả giới thiệu em út. Bả nhè
em mà bả đi giới thiệu mới chết. Bả lấy
hình em cho bả, bả tặng luôn người ta hồi
nào không hay. Mới thấy hình thôi mà anh
chàng đã mê mẫn tâm thần. Rồi sau khi ra
trường, anh chàng cậy cô Ba dắt ba má anh chàng
xuống nhà coi mắt. Hên là ông già không
chịu gã, nói là giữa hai gia đình có sự
cách biệt, và em cũng còn nhỏ chưa học tới
đâu hết.
Tấn biết là Hồng đẹp, một thời là hoa
hậu của trường nữ Trung học Bến Tre, nhưng
vẫn không ưa cái tật hay nói lên của
vợ. Mèo khen mèo dài đuôi, Tấn phải chặt
cho nó cụt bớt:
- Hên hay xui? Ông già không chịu, nhưng em
chịu. Sao hồi đó em không ưng phức nó cho
anh thì bây giờ anh đỡ biết mấy. Thằng
đó tên gì, sao chưa lần nào em kể cho anh nghe
hết vậy?
- Tạ Ðức Khâm. Trước ngày đám
cưới của mình mấy bữa, nó qua nhà nó
làm dữ. Cũng tại bà Hương chủ tiệm
phở Ngy bên Bến Tre, cháu kêu ông Ðạo Dừa
bằng cậu. Không biết là bả khoe hay là tình
cờ mà thằng Ðức đọc được cái
thiệp cưới của mình, rồi cho thằng quỉ
đó hay. Nó dẫn một đám lính xách xe
jeep chạy về Mỹ Tho, ngay ngày nhóm họ. Cô Ba
mình vì lúc trước đã một lần làm bà
mai hụt của nó nên bây giờ tiện bề cổ
đứng ra cổ lãnh đạo luôn. Cổ năn nỉ
nó quá trời, sợ nó làm ẩu. Súng,
đạn, lựu đạn nó mang đầy mình. Cổ
nói
số của cháu với Hồng không có duyên
có nợ thì thôi, với địa vị của cháu
thì cháu lo gì không tìm được một
người khác đẹp đẽ, danh giá hơn cháu
Hồng của nhà này
. Vậy mà nó chẳng
chịu, nó nói tại sao coi nó chẳng ra gì, mới
bác hôn nó chưa đầy năm mà bây giờ
làm đám cưới. Rồi ai nói gì nói, nó
ngồi lì chẳng chịu đi đâu hết, đòi
phải được gặp mặt em. Rốt cuộc em phải
ra nói chuyện với nó, nó mới chịu về.
Gay cấn thiệt, Tấn vội hỏi:
- Em nói gì với nó?
- Thì em nói tôi chẳng quen biết gì anh, tôi
không thương anh, giữa tôi và anh không có
gì hết thì anh tới đây làm gì. Nó
mới tiu nghĩu đi ra. Cô ba nhắn tin chị
Hương bên Bến Tre nhờ khuyên lơn nó phụ
giùm cho bả... À, mà cũng tức cười, sau
75 con Bé Năm với con Cúc Lan lên Sài gòn đi
làm, lại mướn ngay nhà của nó ở mới là
kỳ. Nhà ở đường Bà Hạt trong Chợ
lớn. Mới hay lúc đó nó đã cưới
vợ và theo quê vợ về bên Bến Tre. Nó
thề nó phải cưới cho được gái Bến
Tre hay sao hổng biết. Nhà chỉ còn lại hai ông
bà già, già lắm...
Tấn thở phào. Như vậy cũng không có
chuyện gì đáng quan tâm, chuyện trai gái liên
hệ lăng nhăng thời còn trẻ ai mà không có.
Ban đầu Tấn nghĩ là Hồng nói đùa chọc
mình chơi cho vui, nhưng bây giờ Tấn biết là
Hồng nói thiệt. Tại sao đợi đến giờ
phút này con cái đầy đàn mới
nói? Nếu Hồng nói ngay sau khi sự việc xảy ra
thì Tấn phải đối xữ như thế nào? Tự
ái, danh dự của Tấn có bị tổn thương
không? Cũng như tại sao Tấn không bao giờ
dám kể cho Hồng nghe chuyện Thu Hà xuống nhà
trọ thăm Tấn ngay trước ngày đám hỏi
một bữa.
Em xuống thăm anh bất thình lình
như vầy anh có mừng hôn?
Mừng chớ, mừng
thiếu điều muốn xón đái.
Em ghé tiệm
kem Mây Hồng mới mở dưới đường Trưng
Trắc để xem bà chị bà con của em làm ăn ra
sao, tiện đường ghé biếu anh mấy thứ lỉnh
kỉnh này
. Mô Phật, vậy là lạy Chúa
đừng cho em biết chuyện ngày mai. Em xuống
đây không phải với mục đích đánh ghen
hay ngăn chận cuộc hôn nhân của anh và vợ anh
là được rồi. Sống để bụng chết mang
theo, Tấn không thể nào nói chuyện này cho Hồng
biết được. Ðàn bà kỳ lắm, không bao
giờ quên những chuyện lăng nhăng của chồng.
Nhớ dai tận mạng. Có dịp là cứ lập đi
lập lại bản điệp khúc hài tội, trách
hờn. Chuyện thay đổi một thành kiến trong
đầu một người đàn bà có thể nói
như là một trong những việc làm khó khăn
nhất trên đời.
Tấn giả vờ bực mình:
- Chuyện hệ trọng như vậy tại sao em dấu anh
lâu dữ vậy hả?
- Chuyện đó là chuyện vui thôi, còn chuyện
buồn này nữa để em kể anh nghe. Số là
đối diện nhà cô Ba, chỗ bót Hoàng Hùng
cũ đó, có ông anh bà con bên dượng Ba
hồi xưa cũng mê em dữ lắm. Bà con mà, ai
mà để ý chuyện tình ý kỳ cục của
ảnh. Em chỉ xem ảnh như anh thôi, bạn của anh
tư Phúc, anh sáu Toản mà. Ðến hồi biết
em đã lập gia đình, lúc đó mình có
thằng Thông thì phải, ảnh tự tử chết mới
khổ chớ.
Nữa, lại chuyện gì đây? Tấn nghi ngờ:
- Làm sao em biết được người ta tự tử?
- Nghe nói ảnh đang làm Tiếp vận và đâu
mới đổi về Ðức Hòa. Không biết ảnh
buồn chán đến mức độ nào mà anh dám
lấy súng lục bắn vô đầu. Ðể lại
một bức thư tuyệt mạng cho bà già.
- Em có đọc lá thư trong đó nói gì
không?
- Chỉ nghe anh tư Phúc kể lại.
- Anh Tư sạo với em, cho em lên một chút mà em
cũng tin thiệt. Mà anh đó tên gì? Tại
sao từ hồi đó đến giờ em cũng chưa hề
nói cho anh nghe?
- Nói cho anh nghe cũng đâu có lợi lộc gì,
buồn thêm thì có. Tự nhiên không ít thì
nhiều em bị mang tội giết người. Không biết
ảnh tên thiệt là gì, chỉ biết ở nhà kêu
là Chuột Nhỏ. Hai anh, anh Chuột Lớn anh Chuột
Nhỏ. Thiệt tội nghiệp.
Lại một chuyện sống để bụng chết mang theo
tự nhiên bật mí. Tấn xét lại chuyện mình,
không biết hồi xưa có ai thương mình rồi
mộng không thành đi tự tử hay không? Hình
như không có. Phá thai thì có, nhiều lắm.
Cũng không làm sao đem chuyện đó nói với
Hồng cho được. Tấn tiếp tục khai thác
những bí mật của vợ:
- Còn ai thương em, mê em, đau khổ vì em nữa
hôn, kể hết cho anh nghe một lần đi. Nay em kể
chuyện tên này mai em kể chuyện tên kia nghe nó
nhức nhối lắm, thà cho nó thấu xương một
lần.
- Em nhớ tới đâu thì nói tới đó,
thiệt hổng biết bao nhiêu chuyện vớ vẩn lẩm
cẩm hồi còn nhỏ. Mà anh nghĩ lại coi thời
tuổi trẻ của mình sao mà hồn nhiên, vô tư,
vui vẻ quá hả? Bây giờ con cái ngày một
lớn, đủ thứ chuyện lo chán quá! Ước
gì mình trẻ lại, ước gì mình được
sống ở quê nhà. Ước gì em có dịp dẫn
anh về quê ngoại bên làng An Hóa...
-
Sorry, I thought you already get off the phone. I need to talk to
you.
Tấn bụm ống nói:
-
OK. I will be there, soon
.
Thằng xếp của Tấn giống như người nhắc
tuồng đến thật là đúng lúc. Cứ mỗi
lần Hồng ước gì, ước gì... là Tấn
sợ. Kinh nghiệm bản thân cho biết nếu để
Hồng tiếp tục thả hồn mơ màng về quê
hương thì chẳng bao lâu Hồng sẽ sụt sùi,
nghẹn ngào. Âu cũng là một cách hạ màn
không viết trước. Tấn muốn chấm dứt
bằng một câu trây trua với vợ, chỗ này
chẳng đứa nào nghe được tiếng Việt:
- Má my, anh phải đi gặp thằng xếp. Em tắm
rửa sạch sẽ rồi nằm sẵn đó chờ anh,
lát nữa anh về anh trị tội.
- Kẹt rồi, em cũng mới bị. Ai biểu hồi
hôm tối thứ sáu mà anh lại ngủ khò sớm
như vậy.
Tấn thất vọng. Ðiệu này nếu không làm
overtime
được ở nhà thì cũng nên
tiếp tục làm overtime ở hãng:
- Bậy bạ quá! Em muốn bắt chước con
Duyên bữa nay làm con gái mười ba mới có
period
lần đầu hả? Sợ hôn? Vậy
tối nay anh về trễ trễ một chút nha, anh ở nán
lại đặng làm xong cái
project
này cho rồi.
- Trễ là mấy giờ?
- Tám chín giờ, khoảng đó! Chớ em nghĩ
coi bài anh thuộc làu làu mà cô giáo cấm
không cho trả, thì em cần gì phải hối thúc
anh về sớm sớm chớ.
- Thôi cũng được.
Tấn gác điện thoại, cấm đầu cấm cổ
đọc cái văn thư trước khi đi nói chuyện
với xếp. Một buổi chiều thứ bảy, hừ,
một buổi chiều làm
overtime
với muôn vàn
hình ảnh Việt Nam.
back to top
07. MỘT MỐI TÌNH GIÀ
NGUYỄN TẤN HƯNG
Vì chạy theo công việc mà gia đình Trung phải
dọn về Lexington, North Carolina. Một thành phố
tương đối nhỏ so với các thành phố lân
cận. Tuy nhiên cộng đồng người Việt ở
đây không phải nhỏ. Ðiều đặc biệt
là phần lớn dân ở đây đều là dân
trí thức. Nhiều người đỗ kỹ sư, tiến
sĩ, thạc sĩ.
Với căn bản tú tài hai và một hai năm
đại học không tín chỉ, Trung nghĩ chỗ
đứng của mình trong cộng đồng có lẽ
cũng không đến nỗi tệ. Nhưng ở đời
có mấy khi nghĩ gì trúng nấy. Tưởng
tượng một đường mà thường thường
thực tế lại một nẻo. Trung cũng muốn đến
trường đi học cho quen mặt chữ với người
ta, nhưng hoàn cảnh không cho phép. Tuổi tác
coi như đã muộn màng, cộng thêm sự trễ
nải đôi ba năm nằm bên đảo khi chạy
thụt mạng sang đây. Rồi lớp nào tiền
nhà tiền xe, lớp nào tiền trả vé máy bay
tỵ nạn cho cả gia đình mười người, lớp
nào tiền quà cáp gửi về Việt Nam... thôi
thì trời kêu ai nấy dạ: bằng lớn giựt không
được thì giựt bằng nhỏ. Bằng cu-li.
Chỉ hận cái bà Bùi, tiến sĩ Nguyễn thị
Bùi, lên mặt kẻ cả khuyên Trung một câu:
- Qua bên này việc học hành, cấp bằng rất
là quan trọng, cậu có biết không? Cầm
được cái "tấm giấy lộn" đó trong tay,
cậu dù có làm lương
minimum wage
đi nữa,
đi đâu cũng có người nể nang kính trọng.
Hóa ra dân Việt mình ở xứ người trọng
nhau, nể nhau chỉ vì tấm giấy lộn? Còn lễ
nghĩa nhơn tình để đâu, chẳng lẽ bà
con xem thường vứt hết vô sọt rác. Và nếu
quả như vậy thì Trung dù có làm lương
gấp đôi gấp ba lần
minimum wage
, tiếng
nói của Trung cũng không có người nghe? Kỳ
thiệt. Cái quan niệm nghèo mạt cổ hủ đó
của dân Việt Nam đi đâu vẫn cứ mang theo,
đem ra xài hoài không biết chán. Trung không
bênh cái nghề cu-li của mình, cu-li thì có gì
để bênh, nhưng phải hiểu rằng nghề nào
cũng vẫn là nghề. Phải biết là đôi khi
có tiếng mà không có miếng. Phải biết là
mấy ông kỹ sư điện, kỹ sư hóa học
chưa tìm được việc vẫn đi làm
minimum
wage
ở Mc Donald, Burger King dài dài. Thiếu cha gì
ở đây. Không làm vậy thì con đường
duy nhất chỉ là con đường tiếp tục học
lên mà thôi. Mà chẳng lẽ chạy qua đây
để đi học suốt đời. Với Trung, dầu
gì đi nữa cái giá trị của con người
chưa hẳn đã tùy thuộc hoàn toàn vào
tấm giấy lộn.
Nhà Trung thuê nằm trong khu ít người Việt.
Nói nhà thì cũng hơi quá đáng, thực ra
đây chỉ là một nửa của cái
duplex
. Lúc mới dọn tới, người đầu
tiên đến xông nhà của Trung là bà
Bùi. Tự nhiên như hồi ở Việt Nam, bà
không cần gọi điện thoại, không cần
make
appointment
. Không phải bà không biết luật
lệ giang hồ ở Mỹ, nhưng sở dĩ bà tự tung
tự tác muốn viếng thăm thiên hạ bất cứ
lúc nào tùy ý bà là tại vì bà đang
làm ở văn phòng phụ trách về dân tỵ
nạn Á Ðông. Bà tự coi mình như là
người bảo trợ chung cho cả ba dân tộc: Việt,
Miên, Lào. Thậm chí bà còn tưởng chính
bà là người ban ơn, bố thí trợ cấp xã
hội cho những người được hưởng. Muốn
cho ai thì cho, toàn quyền quyết định, sinh sát.
Chẳng trách mấy người Việt gốc Lào gốc
Miên, có người đã có cháu nội cháu
ngoại mà vẫn gọi bà bằng bà và xưng con
ngọt. Mà tại sao bà không biết ngượng hà?
- Già quá bấm hết vô thì còn ngượng
ngùng cái nỗi gì. Vả lại nếu biết
ngượng thì làm sao có cả chục thằng
boy-friend
một lượt cho được.
Thiệt vậy à? Trung chỉ biết sơ sơ là bà
ta đã sắp sửa ngũ tuần nhưng vẫn còn
độc thân. Ðộc thân thứ thiệt, phải
gọi bà
miss
Bùi đàng hoàng. Nghe đâu
bà du học bên này từ hồi ông Diệm và là
em ruột của cựu đại sứ Việt Nam Cộng Hòa
tại Maroc. Chịu mồ hôi Mỹ quá cho nên bà
không thèm về nước. Mãi đến ngày mất
nước, tình cờ gặp lại đồng hương
tản lạc chạy sang đây bà mới ngậm ngùi than
thân trách phận: ôi, biết ngày nào ta mới
được trở lại quê hương? Rõ, đau
khổ!
Kể từ khi chương trình đoàn tụ gia đình
có tiếng vang, bà Bùi càng ngày càng trở
thành nhân vật quan trọng trong cộng
đồng. Mặc dù ở đây có nhiều cử
nhân, tiến sĩ, bác sĩ nhưng đâu phải ai
có bằng cấp cao thì dịch được khai sinh,
hôn thú, thẻ căn cước, chứng chỉ tại
ngũ... Bởi dư thì giờ ăn không ngồi rồi
cho nên bà Bùi nhảy ra cáng đáng đòi
dịch mấy giấy tờ hình hộ, luật pháp cho
đồng hương. Trong khi chuyên môn của bà
thuộc về ngành xã hội. Trước làm giúp
sau lấy tiền và từ từ bà ta có thêm
một nghề tay trái.
Nhưng phải đợi cho đến khi chương trình xin
vào công dân Mỹ được phát động rầm
rộ thì bà Bùi mới thật sự là nhân vật
số một trong cộng đồng. Số một đây
không phải tại vì bà sẽ là người
đích thân đứng ra làm lễ tuyên thệ cho
đồng bào, mà chẳng qua chỉ là người có
trách nhiệm phát đơn cho xóm giềng bà
con! Ê, chỉ việc phát đơn cho xóm giềng
bà con thì có gì quan trọng mà phải gọi là
number one
? Có chớ. Ðộc quyền phát
đơn,
monopoly
. Xin Mỹ, Mỹ không cho, chỉ
lại bà ta. Rõ ràng có sự bắt tay, cả bọn
săn-tăng ăn-công-ký với nhau. Kết bè
đánh lận con đen, đầu cơ tích trữ
đơn nhập tịch,
black market
đồng chủng
đồng hương. Không chịu thì thôi. Ai có
ngon thì mặc sức chịu khó bỏ ra nửa ngày
xách xe chạy xuống trung tâm di trú và tỵ nạn
của tiểu bang ở Charlotte mà xin đi.
Bà làm ơn nghĩ tình cháu..., chị làm ơn
nghĩ tình em
..., ngọt xớt như đường
phèn vậy thì may ra bà chị mới bố thí cho
xấp giấy của nhà nước, có hơi hám mấy
đồng tiền đóng thuế của mình. Lẽ dĩ
nhiên bà cháu, chị em chỉ là trước mặt hay
trên te'léphone thôi chứ còn sau lưng hay trong
bụng hả, thiên hạ ai ai cũng nghĩ... ngược
lại. Bà biết nhưng bà vẫn lờ đi, lên
mặt được lúc nào hay lúc đó. Cầm
được mấy tờ đơn ân huệ trong tay chưa
hẳn đã chắc ăn đâu, vì nếu sơ ý
lỡ tay làm trật một cái thì kể như tiền
mất tật mang, nước bọt thành nước
dãi. Ðơn xin lần thứ hai bắt buộc phải
gay go hơn lần thứ nhất nhiều. Gãy lưỡi
năn nỉ mà vẫn bị nặng lời, đại khái:
- Cậu có biết cậu đã vô tình thâm
lạm công quỹ không?
Trời đất, cộng sản cũng chưa bằng! Mà
câu nói này nên để cho bộ đội nón
cối, công an thành nói thì đúng hơn. Công
quỹ của Mỹ tỉ tỉ đô la mà nhằm nhò
gì ba cái đơn từ lẻ tẻ này, bà chị
Bùi. Biết nói cho lắm rồi rốt cuộc vẫn
là:
- Thôi cậu gửi tôi mấy con tem đi, tôi sẽ
bỏ phong bì gửi về tận nhà.
Thiệt là hết chỗ nói! Chớ còn mấy con
dấu đóng tem
bulk rate
đó đâu, sao không
ấn xuống một cái cho đám tha hương này
nhờ.
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
,
đương nhiên bà phải nhớ câu
này. Nhưng đối với bà,
người trong
một nước
có lẽ không có giống da
vàng. Mới nhớ ra bà chị là những kẻ
đứng bên lề. Bà nào có dịp được
làm thuyền nhân, chạy loạn vắt giò lên cần
cổ thì làm gì bà biết. Mà thử hỏi:
có hay không một bà Bùi thứ hai trên đất
Mỹ?
Nhưng phàm con người ta đã lên đến
đỉnh cao tuyệt đỉnh,
number one
rồi thì
trước sau gì cũng có ngày đổ dốc.
Anything
that goes up must come down
. Ngày đổ dốc,
down hill
của bà đã đến. Ðó là
ngày mà ông bác sĩ Tiến phàn nàn rằng
không biết bà Bùi vì vô tình hay cố ý
mà dám cho ông
born out of wedlock
của ba má
ông. May là bà Mỹ nhận đơn xin đoàn
tụ gia đình hỏi lại nên mới lòi ra cớ
sự:
- Mầy có phải là con sinh ra trong khi cha mẹ mầy
chưa có lập hôn thú không?
Ông giẫy nẩy:
- What? No, no, no. Á à...
Bác sĩ Tiến giận bà Bùi tím gan. Bả dám
tố cáo không bằng chứng, nhưng ràng ràng
trên giấy trắng mực đen, rằng hồi xưa mẹ
ông Tiến có chửa hoang. Cho nên ổng không
làm tùm lum sao được. Ổng đòi thưa
bả rà tòa vì cái tội tự khai mình có
đầy đủ khả năng để dịch:
I am competent
to translate
... "Phán rằng án này thế vì khai
sinh cho: Phan Tiến" thì đâu có gì dính líu
với hôn thơ, giá thú? Giấy tờ đoàn
tụ của ông Tiến vì vậy mà phải bị
đình trệ, mãi cho đến khi nhà nước cộng
sản Việt Nam ngưng cấp giấy xuất cảnh mới
điều chỉnh xong.
Cái huông xuống dốc của bà Bùi cũng chưa
chịu ngừng tại đó. Ai đời đám
đàn ông ở đây lủ khủ, trăm thiên mà
bà dám đứng ra triệu tập buổi họp để
thành lập hội ái hữu cho cộng đồng. Chắc
bả muốn làm bà chủ tịch? Hừ, bà chẳng
những không được làm bà chủ tịch mà
còn bị trở thành "bà lái heo!"
Số là ngày họp hôm đó cũng cận Tết, cho
nên ban đại diện mới được bầu lên
đề nghị sẽ làm một con heo quay cho tiệc mừng
xuân, đón Tết năm này. Bà Bùi xung phong
lãnh đạo việc mua bán, đổi chác với lò
thịt. Ông Sâm, Lương Triệu Sâm, người
tình già của bà thống thiết kết luận một
câu:
- Không ngờ "chị" Bùi của tôi sang đây
lại học được nghề lái heo. Giỏi thật!
- Tướng của bả làm bà "giặc nái" coi
cũng được mà...
Như nhớ lại thời vàng son, ông Văn cựu "giặc
lái ngụy" bỗng dưng phát ngôn một câu bừa
bãi làm mọi người cùng cười vang. Bà
Bùi, bà lái heo, chết tên kể từ đó.
Ông Sâm chính là người đang ở cạnh nhà
Trung.
Next door neighbor
, đang làm chủ một nửa
cái
duplex
phía bên kia. Ổng là người
thứ hai xông nhà của Trung sau bà Bùi. Hình
như ông nhỏ hơn bà Bùi một hai tuổi cho nên
bên ngoài ông vẫn gọi bà Bùi bằng
chị. Tuy nhiên hai người nếu xáp lại gần
nhau trông rất xứng đôi vừa lứa. Dĩ
nhiên cho mối tình già. Bà Bùi độc thân,
còn ông Sâm thì mặc dù một vợ hai con,
nhưng đang đăng ký độc thân tại
chỗ. Thuyền về bến có mòi thuận buồm
xuôi gió vậy mà có người đang tâm muốn
bẻ gãy tay chèo, thọc gậy vào bánh xe:
- Hứ, gái tơ mà phải lòng trai có vợ!
Tơ với không tơ? Rồi bả phải lấy ai bây
giờ? Lấy Mỹ à? Mỹ lấy từ khuya rồi,
chán ngấy rồi nên mới thèm của quý gởi
qua từ quê nhà. Dạo ấy cũng chính là lúc
bà đang làm đầu tàu, xách động đẩy
mạnh một phong trào mới: phong trào phụ nữ
liên đới tìm cách ly dị chồng mũi lõ mắt
xanh cho mấy bà lấy Mỹ. Ðể về với quê
hương, trổ tài tìm hiểu trai mới lớn, trai
tân? Phải, trai mới lớn bên này lềnh khênh,
lúc nhúc như vòi vì con gái đứa nào
chẳng ngó lên. Thôi thì mấy bà mặc
sức mặc tình lựa chọn, và cũng có bà
thành công.
Trời mưa nước chảy qua sân
Em lấy ông Mỹ qua lần thì thôi
Bao giờ ông Mỹ chầu trời
Thì em lại kiếm một người trai tơ
Trai tơ ơi hỡi trai tơ
Ði đâu mà vội mà quơ nạ-dòng
Ðó là những câu ca dao mới, "lấy ông
Mỹ" thay vì "lấy ông lão." Nhưng người
đời ở bên này đã lai Mỹ quá xá
rồi, phàn nàn hay chỉ trích gì gì thì
cũng vậy, nói thẳng:
- Có ai trai tân mà phải lòng gái
già? Ðã vậy, gái già lấy Mỹ hai ba
con. Ham đồ cũ, đi chôm vợ second
hand? Thằng ăn cái chi mà ngu quá vậy!
Những câu nói xiên xỏ đó mỗi ngày Trung
nghe rõ mồn một bên tai, tại vì nhà của ông
Sâm là chỗ chứa bài. Xì phé, xì lát,
xập xám, tứ sắc..., đủ hết, không thiếu
món gì. Ðánh lớn có đánh nhỏ có
và đôi khi đánh lộn cũng có. Không
riêng gì đàn ông con trai mà luôn cả
đàn bà con gái: kẻ đánh thay chồng
người nắm luôn tay con. Rần rần như cái
chợ. Hồi nào nhà mới dọn vô Trung đã
muốn dọn trở ra ngay, chỉ ngặt một điều là
khó mà tìm được một chỗ nào giá cả
tương đối khả dĩ như chỗ này. Lần
lần rồi Trung cảm thấy mình lia thia nay đã quen
chậu.
Trung không biết chính xác quê quán của ông
Sâm ở làng nào, quận nào, tỉnh nào. Ổng
chỉ nói mơ hồ là tổ tiên của ông sinh ra
trên vùng đất "sơn bất cao thủy bất
thâm." Và có lẽ không bằng lòng với mệnh
trời "nam đa trá nữ đa dâm" cho nên ông mới
đặt tên hai đứa con của ông, một trai một
gái còn kẹt với vợ ông ở bên nhà, là
Lương Thâm Sơn và Lương Cao Thủy. Trung
nghĩ rằng: Thâm Sơn thì hợp với cùn cốc
thâm sơn, tên người con trai còn nghe được;
chớ Cao Thủy thì ắt hẳn không hợp với giang
cùn thủy tận, tên người con gái nghe không
ổn chút nào hết. Như vậy chắc khó mà
cải được cái mệnh trời!
Ðể công bằng, trời đã mang tới cho ông
một niềm vui đặc biệt khác. Chẳng phải
là một giai nhân sắc nước khuynh thành, mà
chỉ là anh chàng tài tử Hồng Kông đóng vai
Trương Vô Kỵ trong Cô Gái Ðồ Long, Vi Tiểu
Bảo trong Lộc Ðỉnh Ký, Cầu Diêm Khách trong
Hoàng Hà Ðại Phong Vân... Lương Triều
Vỹ. Nhưng khác với mấy bà mấy cô mê
mệt anh chàng này vì tài diễn xuất, ông Sâm
mê chỉ có cái tên. Ông có cảm tưởng
như anh chàng này có bà con họ hàng gì lâu
đời với mình. Không bà con sao được khi
ông chỉ cần sửa chữ lót của mình từ chữ
Triệu thành chữ Triều:
- Hừ, Lương Triều Sâm. Hay, hay. Thanh tao,
hảo hán.
Ông gật gù với chính mình như vậy.
Phiền một nỗi ông có sửa chữ gì, kiểu
gì vẫn có người gọi ông bằng cụ, Cụ
Sâm.
Chửi cha không bằng pha chữ
, ấy vậy
mà có nhiều người bắt chước giọng của
ông nhưng nói không rành, trọ trẹ thành ra
Củ Sâm. Củ Sâm thì cũng được
đi. Chỉ có mấy thằng Mỹ nghịch tự trong
hãng cứ gọi ông rõ ràng là Cu Sam, của quý
của
Uncle Sam
. Mấy người làm chung
hiểu ý giải thích cho ông biết, tưởng là
ông sẽ bừng bừng tức giận ai dè ông lại
khoái chí. Cười híp mắt.
Ông Sâm coi vậy mà tục một cây. Ngoài
những tiếng địa phương của ông ít
người biết tới, ông còn dạy Trung luôn
những tiếng lóng miền Bắc, chẳng hạn như
cái "buồi" của đàn ông và cái
"lập là" của đàn bà mà chính Trung tới
bây giờ cũng chưa cảm nhận sâu xa
được. Ngôn ngữ mỗi miền mỗi khác và
Trung thích kiểu miền Nam hơn, nói huỵch tẹt ra
luôn cho nó gọn... Ông Sâm đến từng
tuổi đó mà mở miệng ra là ổng cứ xài
giấy năm trăm. Không có tiếng lóng tiếng
liếc gì cả. Chửi thề như là một cái
bệnh vô phương cứu chữa của ổng. Mà
cũng lạ, không bao giờ nghe ổng chửi thề khi có
mặt đàn bà, con gái hay là những đêm
ổng hứng tình ngâm thơ: thơ tục.
Chuyện ông Sâm hứng tình ngâm thơ là chuyện
họa hoằn lắm mới thấy xảy ra. Có thể coi
đó là một sự trùng hợp của nhiều yếu
tố, nhiều điều kiện tiên quyết. Vào
cuối tuần, vắng sòng bài bạc, có bạn bè
thân thích, có mồi ngon rượu quý..., và
nhất là phải có người đưa hơi... thơ.
Ông Sâm chịu bác sĩ Tiến vào đề lắm,
vì ông này cũng một cây thuộc nằm lòng
mấy bài thơ chỉ dành riêng cho phái
nam. Nhưng bác sĩ Tiến có một ngoại lệ
là không bao giờ đem mấy bài quen thuộc của
bà Hồ Xuân Hương ra làm bài dẫn nhập.
Ít ra cũng phải như vầy:
- Này cụ Sâm, có bao giờ cụ ngâm bài thơ
"Hái Chè" cho bà Bùi nghe chưa? Quên mất là
của ai rồi, nhưng bảo đảm bà Bùi bả mà
nghe được chắc bả phải mất vía, té ngửa
ra đó. Ðây:
Hôm qua em đứng hái chè
Có thằng phải gió nó đè em ra
Em xin nó chẳng chịu tha
Nó đè nó đút đầu cha nó vào
Ối giời em sướng làm sao
Em càng lúc lắc nó càng vào sâu
Trung phụ họa:
- Ðã thiệt. Nhưng, bên này làm gì có
vườn chè, vườn trà để mà hái anh
Tiến? Bộ anh tính xúi bác Sâm làm bà Bùi
tại trận trong Groger, Food Lions, Safe Way, Piggly Wiggly à?
Không để tâm vào câu nói của Trung, ông
Sâm cho ý kiến:
- Cái đó trắng trợn tục tĩu quá, ngửi
không vô. Tao nhân mặc khách thì phải ngâm
những bài thơ như vầy. Ðể coi, à, bài
thơ này tuyệt. Luôn cả cái thể thơ cũng
tuyệt. Có nghe thơ thất ngôn tam tuyệt,
độc ngôn tuyệt chưa?
Trung xen vào:
- Cái gì bác Sâm? Xưa nay cháu chỉ nghe
lục bát, ngũ ngôn, bát ngôn, thất ngôn bát
cú... làm gì có thứ tuyệt tuyệt.
Ông Sâm từ tốn:
- Loại thơ này đã thất truyền từ lâu
rồi, cứ nghe tôi ngâm rồi sẽ hiểu. Này,
hãy tưởng tượng cảnh hai vợ chồng đang
nằm trên giường. Bây giờ vợ trách chồng:
Dài lưng tốn vải để làm chi
Tắm mát ăn no lại ngủ khì
Mình ơi thức dậy chiều em tí
Ði
Ông Sâm đắc ý mỉm cười, rồi tiếp luôn:
- Ði. Ha ha, có thấy cái độc đáo của
độc ngôn tuyệt chưa. Một chữ thôi,
làm nhiệm vụ của cả một câu. Ðộc hơn
nhứt dương chỉ nữa. Nghe lại nè:
Dài
lưng tốn vải để làm chi, tắm mát ăn no
lại ngủ khì, mình ơi thức dậy chiều em tí,
đi...
Bác sĩ Tiến như bị thấm đòn, chống hai tay
bên càm thừ người ra suy nghĩ. Trung nói:
- Hay. Hay thiệt và lạ lùng thiệt... Rồi
sao nữa bác Sâm, phải tới phiên anh chồng trổ
tài đối đáp chớ?
- Ðúng vậy, cái anh này cũng biết thưởng
thơ. Nhưng đừng có nóng nải. Ðây, anh
chồng trả lời:
Ba ngày mắc bận việc văn bài
Mỏi cả xương sườn mỏi cả vai
Mình ơi cho anh xin gác lại
Mai
- Cái ông này giống bác quá bác Sâm ơi,
coi bộ hết sí quách rồi. Việc văn bài
thì có gì đâu cực nhọc mà mỏi cả
xương sườn mỏi cả vai. Tù cải tạo
cộng sản bị hút hết gân hết cốt, hết
xương hết tủy mà qua đây người ta còn
cưới vợ mới, làm ăn dài dài. Cái ông
nhà thơ này yếu quá!
- Bởi vậy cho nên nó bị con vợ nó chê,
cằn nhằn. Lẳng lơ như thế này:
Ông này sao lắm chuyện lông bông
Rán chút cùng em có tí bồng
Nay cứ hẹn mai mai hẹn mốt
Không
- Hay. Lại y chang như bà Bùi. Bả chịu hết
nổi bác Sâm à? Rồi trong trường họp này
bác phải tính sao đây?
- Thì mình cũng phải phản đòn
chớ. Ðộc hơn thịt vịt xiêm lai
này này...
Ông Sâm gắp một miếng thịt vịt bỏ vào
miệng, trệu trệu một hồi rồi nuốt
trọng. Thêm một hớp rượu đưa cay,
xong, ông thong thả ngâm tiếp:
Ngủ chung lắm lúc bực mình sao
Mình thì muốn không nó cứ gào
Muốn chết thì ông cho nó chết...
Ngừng một chút ông Sâm đưa ý kiến:
- Ðó, còn chữ chót tôi để cho ông
Tiến này, anh Trung này đâu làm ơn làm cái
chấm hết,
on-boong-phi-nanh
, cho chàng thi sĩ coi.
- Một chữ thôi?
- Thì phải một chữ thôi chớ sao. Ðộc
ngôn tuyệt mà lị.
- Với tuổi sung sức của cháu, cháu xuống
bút như thế này: Vào!
- Còn ông Tiến, sao?
- Cũng "Vào" luôn!
Ông Sâm lắc đầu nguầy nguậy:
- Không xong, không xong rồi... Người ta đang
ở trên giường mà vào là vào
đâu? Nếu đang đứng xà nẹo dưới
bếp thì được. Ðây chữ cuối này
nhà thơ diễn tả một cách hết sức lâm ly,
ai oán, rùng rợn:
Nào
...
- Có lý, có lý quá! Quả là tâm hồn
thơ. Bài này của ai vậy bác?
- Ðừng hỏi thơ của ai! Của bạn
bè! Người làm thơ và người
thuộc thơ đều là bạn bè với nhau
cả. Nhớ được bài thơ đã là
may phước...
Nãy giờ như chờ mãi mới tới phiên mình,
bác sĩ Tiến gằn giọng lấy hơi:
- Xong chưa cụ Sâm? Cụ nhớ đời bài
thơ này là phải. Ðây, bây giờ hãy nghe
thơ của quan Huyện từ kinh đô gửi về
quê cho vợ bé, với sự chiếu cố
rất nồng nàn của Cống Quỳnh;
Này thơ quan Huyện gửi về quê
Nhắn bảo bu bây chớ ngứa nghề
Kinh đô anh mang thằng cù lẳng
Quê nhà em giữ cái trai he
Hãy còn vướng vít như hang thỏ
Hay đã tan hoang như lỗ tê
Có ngứa nén lòng xin cố nhịn
Ðợi hai ba bữa nữa ta về
Không có giọng ngâm lê thê trầm bổng hoặc
đứt khúc đứt đoạn như ông Sâm, bác
sĩ Tiến thường đọc bài thơ luôn một
lèo. Trung nêu thắc mắc:
- "Cù lẳng" với "trai he" là cái gì hả anh
Tiến?
- Cái anh Trung này lại hỏi khó! Thì đại
khái cũng giống như "buồi" với "lập
là" mà cụ Sâm hay nói vậy.
Ông Sâm khen:
- Ðược lắm, được lắm. Thời buổi
này cái lỗ nào lại chẳng bằng lỗ tê,
lỗ trâu...
Rồi ông Sâm chuyển qua thứ khác:
- Bây giờ đến lục bát nghen, nghe này:
Lấy chồng từ thuở mười lăm
Chồng chê tôi bé không nằm với tôi
Ðến năm mười tám đôi mươi
Tôi nằm dưới đất chồng lôi lên giường
Một rằng thương hai rằng thương
Có bốn chân giường gãy một còn ba
Ai về nhắn mẹ cùng cha
Chồng tôi nó đã giao hòa với tôi
- Lần này làm dữ quá vậy bác Sâm! Sập
giường, gãy giường mà cũng đem được
vào thơ thì thiệt là hay.
Bác sĩ Tiến im lặng, trầm ngâm. Ông Sâm
buồn buồn giải thích:
- Sập giường, gãy giường này không phải
là lúc sung sướng đến cực điểm như anh
tưởng đâu, mà là đau khổ đến tận
cùng ấy. Có biết bài thơ này của ai
không?
Hỏi cho có hỏi vậy thôi, vì ông Sâm đã
tự mình trả lời ngay:
- Của nhà cách mạng lão thành Phan Bội Châu.
Mục đích của ông là để nhắn nhủ
đôi lời với các nghĩa sĩ của ta tại quê
nhà. Lấy chồng từ thuở mười lăm có
nghĩa là cụ đi làm cách mạng vào năm 1915,
đến năm mười tám, hai mươi thì cũng
vậy ám chỉ năm 1918, 1920 của thời Ðệ nhứt
thế chiến. Chồng là thằng Nhật Bản, vì
muốn bành trướng thế lực trong vùng Ðông
Nam Á, mà phải nài nỉ bắt tay với cách
mạng. Bốn chân giường ám chỉ bốn
người lãnh đạo phong trào Ðông Kinh Nghĩa
Thục tức Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Cường
Ðể và Nguyễn Thượng Hiền. Gãy một
còn ba là tại vì cụ Tăng Bạt Hổ mất
sớm...
- Thiệt vậy hả bác Sâm?
- Chớ anh bình thơ, giải thơ của cụ như
thế nào nữa đây?
- Không ngờ bác Sâm ngoài chuyện nhớ thơ
còn nhớ lịch sử nữa. Cháu bây giờ quên
tuốt luốt hết rồi. Rõ, hậu sanh bất khả
úy, tệ thiệt...
Và đúng là tệ thiệt. Vì đó là
lần ngâm thơ duy nhất của ông Sâm và bác
sĩ Tiến mà Trung cảm thấy có ý nghĩa. Nó
làm cho Trung, dù chỉ là thoáng qua, tưởng nhớ
đến những vị anh hùng đã xã thân bảo
vệ đất nước quê hương, chống địch
ngăn thù. Những lần khác chẳng qua chỉ nhằm
vào người tình già Nguyễn Thị Bùi của
ông Sâm. Những bài thơ tục không chỗ nói.
Rất tiếc ông Sâm không còn ở đây nữa.
Ông không còn là
next door neighbor
luôn luôn
ồn ào của Trung nữa. Người bạn già
đã mang lại cho Trung chút ít hương vị quê
nhà. Kể từ khi một gia đình Mỹ dọn vô,
Trung và gia đình coi như bị xô vào cảnh cô
độc, lẻ loi.
Ông Sâm phải đổi đi xứ khác làm ăn
vì chuyện khủng hoảng tình cảm không tránh
được đã xảy ra giữa hai người. Hai
người với hai cá tính rất là khác biệt nhau,
mà không hiểu tại sao lại có "cái thuở ban
đầu lưu luyến ấy." Ông Sâm phải trả
bà Bùi lại cho Mỹ và đó là một giải
pháp hợp tình hợp lý nhất. Và Trung nghĩ
ông Sâm có lẽ sẽ không bao giờ cảm thấy
ân hận. Vì ông còn phải lo vấn đề
bảo trợ cho vợ con ông. Thua thiệt xưa nay vẫn
là người đàn bà?
Trong lá thư dài mới gửi, Trung tập tễnh làm
thơ, định chấm giúp giùm ông Sâm một
dấu chấm hết,
on-boong-phi-nanh
, cho một mối tình
già mà chẳng biết có được như ý
muốn của ổng hay không. Trung viết như vầy:
... bác có biết hiện thời ở xứ này
trẻ con hay hát những câu đồng dao sau đây:
Bà Bùi với lại ông Sâm
Chưa ăn đã bới chưa nằm đã mơ
Trách ai lòng dạ hững hờ
Lexington chẳng ở chạy sang bờ Cali...
back to top
08. SỐ PHẦN
NGUYỄN TẤN HƯNG
Thuở sinh tiền, ông nội tôi là
người có chức phận trong làng. Làng Bình
Phan quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho. Người
trong làng thường gọi ông nội tôi là ông
Hương thân Lành, vì rất đơn giản: ông
nội tôi làm Hương thân và tên Nguyễn
văn Lành. Tấm giấy chỉ định chức
vụ được ông nội tôi lọng kiếng đàng
hoàng, đem chưng ngay giữa phòng khách nhà
trên. Giống như người ta chưng cái bằng
cấp Tiến sĩ vậy. Chữ Hương Thân
và chữ Nguyễn văn Lành bự tổ chảng
chiếm gần hết nửa tờ giấy, được
viết đậm nét bằng mực tím với ngòi
viết lá tre thật đẹp.
Tôi nghĩ ông nội tôi bỏ tiền ra mua cái
chức đó cho có bề thế với người
ta chớ ông nội tôi không làm cái mốc xì
gì trong làng trong xã hết. Tối ngày ông
chỉ có việc xách xe máy dầu, chiếc
motobécan
, chạy rong đi thăm vợ con, cháu
chắt mà thôi. Hoặc thỉnh thoảng ông đi
coi ruộng hay đi đá gà. Thời đó, thời
1950, có được chiếc xe đạp hiệu alcon
với hai càng thắng bọc theo ghi-đông đã là
quá sang nói gì đến xe máy dầu. Như
vậy phải nói ông nội tôi là người có
của, có bề thế, dư ăn dư để.
Ở trong nhà nếu có người lỡ kêu vua Gia Long
là Nguyễn Phúc Ánh thì cũng chẳng sao, nhưng
kỵ nhứt là tiếng Lành tên của ông nội
tôi, đừng ai dại mồm kêu ẩu. Phép vua thua
còn thua lệ nhà chớ nói gì lệ làng. Chỉ
kẹt chữ "ngon" nó thường được âu yếm
vuốt đuôi bởi chữ "lành" nên nhiều lần
tôi bị má tôi vả thiếu điều tét bản
họng.
- Ông tiên tổ mầy chớ ở đó mà
ngon với lành...
Mà chứng nào rồi cũng vẫn tật nấy, không
làm sao kềm hãm được khi mình đang ngon
trớn hết sức ngon... lành. Và cũng lạ, chỉ
má tôi đánh thôi chớ ba tôi không
đời nào đếm xỉa tới việc này. Thì
ra nội tướng bao giờ cũng mạnh hơn khi ở
trong nhà, tôi thấy như vậy.
Ông nội tôi có bốn bà nội. Gọi theo
thứ tự là: bà nội ruột, bà nội lớn,
bà nội ba và bà nội nhỏ.
Bà nội ruột có năm người con, ba trai hai
gái. Sành, Sỏi, Vinh, Hiển, và Thêu. Ba tôi
là người con trai thứ, Ba Sỏi. Thành thử,
nếu nói về phía bên nội tôi có đầy
đủ bác, chú và cô. Kể ra ông nội tôi
đặt tên cho con mặc dù không thanh tao nhã
nhặn cho lắm nhưng cũng có vần, có ý
nghĩa. Có sành sỏi thì mặc may gia phả dòng
họ mới có vinh hiển được chớ. Nhưng,
mới có vinh hiển được một chút mà nghĩ
ngay đến chuyện nhàn hạ, thêu thùa may vá
thì thiệt là trật đường rầy hết
sức. Bởi cái trật đường rầy
hết sức đó mà bà nội tôi mất sớm
khi sanh cô sáu Thêu? Vì vậy chỉ có Thêu
mà không có Thùa. Và cũng không có May,
Vá gì nữa cả.
Rất tiếc tôi không biết nhiều về bà
nội ruột của tôi vì bà mất lâu lắm
trước khi tôi sinh ra. Ngay cái khuôn mặt
của một người đàn bà đứng tuổi,
đẹp nghiêm trang trong tấm hình họa lớn cũng
không cho tôi một ấn tượng nào. Mặc
dù tôi được thấy nhiều lần. Nhiều
lần tôi đốt nhang bàn thờ ông bà nằm
phía hiên tây. Khác với ông nội tôi, mỗi
lần nhắm mắt lại là tôi có thể hình dung
không những những đường nét nhăn nheo trên
mặt, má hóp mắt sâu, mà luôn cả dáng đi
tướng đứng cũng như tiếng cười giọng
nói của ông.
Bà nội lớn không có con. Lúc về già
sống thui thủi một mình ở miệt Bình Phục
Nhứt thấy mà tội. Chỉ tại vì bà không
chịu ở với đứa con, đứa cháu nào
hết. Nhưng, nhờ vậy mà Tết năm nào tụi
tôi cũng có dịp viếng thăm nội. Ði Tết
nội, đem trà lá bánh mức cho nội.
Rồi tiện đường đi thăm luôn bà cố trong
chợ Mới cách đó vài cây số đường
xe ngựa (mãi sau nầy mới có xe lam). Bà cố
tôi sống rất thọ, đến 104 tuổi mà không
hề lẫn. Vào một đêm nào đó đã
ghi sẵn trong sổ Nam Tào, bà ngủ luôn giấc ngủ
ngàn thu, không một lời trăn trối. Trưa ngày
sau, ông Ba tức là anh thứ ba của ông nội tôi,
đi viếng mẹ hằng ngày như thường lệ mới
phát giác ra là bà đã mất. Bà cố tôi
sống một mình trong căn nhà nhỏ nằm bên góc
trái nhà của ông Ba, tự lo chuyện nấu ăn,
tắm giặt cho đến ngày chết. Ðám ma của
bà cố tôi tại chùa Chợ Mới làm lớn lắm
vì con cháu tụ về quá đông. Bà đã
có cháu sơ, cháu sở gì rồi. Bác Hai tôi
lúc đó làm Chủ tịch Hội đồng xã
Bình Phục Nhứt nên có ra lệnh bắn mấy phát
mút-cơ-tông dàn chào, lúc động quan cũng
như hạ huyệt.
Bà nội ba cũng không có con với ông
nội. Nhưng bà có một người con trai
riêng tên Phấn. Tại sao tôi phải gọi chú
Phấn là chú Tư tôi cũng không biết
nữa. Lẽ ra tôi phải gọi chú Phấn là chú
Năm, vì tôi đã có chú tư Vinh là chú
ruột rồi. Ðiều tôi biết chắc là chú
tư Phấn cao nghều nghệu, cao hơn bác Hai một
thước bảy mươi hai của tôi nữa. Tôi
chỉ gặp chú tư Phấn vài lần, vào những
dịp Tết. Vì tôi nhớ chú hay dẫn tôi đi
đánh bầu cua cá cọp ở đầu cầu trên,
trước cửa nhà máy xay lúa của ông sáu
Quây. Bà nội ba với chú tư Phấn sống an
phận với nghề xay hàng sáo và tiệm bán gạo,
cám ở chợ Dinh thuộc quận Hòa Ðồng, tỉnh
Gò Công.
Phải nói người đẹp gái và kiểu cách
nhứt là bà nội nhỏ của tôi. Bà ở với
ông nội tôi có hai người con gái, cô bảy
Nhãn và cô tám Lài. Kêu tiếp theo cô sáu
Thêu cho đúng thứ hạng, chớ không còn theo
vần nữa. Sành, Sỏi, Vinh, Hiển, Thêu, ... thêu
gì, ... thêu Nhãn, Lài. Nghe cũng tạm
được. Nhưng, tôi nghĩ việc lấy tên hoa
quả đặt cho hai cô có lẽ là ý của bà
nội tôi. Có điều hơi kẹt cho anh chị em
tôi là hai cô còn nhỏ quá, ngang ngang tuổi mà
bắt anh chị em tôi phải gọi bằng cô thì
cũng hơi ngượng miệng. Trước mặt bạn
bè lại càng không ổn chút nào hết. Hai
cô nhỏ tuổi hơn chị Hai tôi và chỉ
lớn hơn tôi khoảng hai ba tuổi gì đó
thôi. Ði học mặc dù khác cấp nhưng cũng
chung một trường. Năm cô Tám tôi đậu
tú tài một thì tôi đậu trung học đệ
nhứt cấp. Năm cô lãnh phần thưởng của
tổng thống thì tôi lãnh phần thưởng của
tỉnh trưởng. Kể ra cảnh muộn chồng muộn con
cũng hơi phiền.
Mặc dù ba bà nội còn sàng sàng đó, ông
nội tôi lúc về già không chịu ở với
bà nào hết.
Lắm vợ tối nằm
không
? Ðã vậy ông cũng không chịu ở
với đám con trai. Ông tá túc với đứa
con gái, cô năm Hiển của tôi. Có lẽ tại
vì cô Năm tôi giàu, giàu nhứt quận
Chợ Gạo với hiệu tạp hóa Thuận An ai
cũng biết tiếng. Miếng ăn thức uống
cho ông nội tôi nhờ vậy có thể được
chăm sóc đầy đủ chu đáo hơn.
Tóm lại, ông nội tôi hồi đương thời
làm ăn khá giả và lúc về già cũng
được khuây khõa, an nhàn. Ông để
lại đời không có gì đáng kể ngoài
một mớ ruộng đất, của cải cho con
cháu. Người nào không ăn của hương
quả thì được ông nội tôi cho vàng
và tiền mặt, có ghi rõ trong di chúc.
Vậy mà bao nhiêu cơ nghiệp tài sản ông nội
tôi đã tốn công gầy dựng cả đời
người đều phải tiêu tan trong chớp mắt
chỉ vì cái nạn cộng sản. Bao nhiêu đất
điền để lại cho đám con trai, cho bác hai
Sành, ba tôi và chú tư Vinh, tiếp tục làm
ăn đều bị xung công, tịch thu hết.
- Ruộng vườn bây giờ giao cho Bác Ðảng
rồi, mình chỉ làm thân ăn nhờ ở đậu
trên đất của mình thôi con ơi.
Ba tôi hay ngậm ngùi kể lể như vậy.
Nhưng tội nhất là cô Năm của tôi, cô
bị đánh tư sản thẳng tay. Nhà lầu hai
ba tầng, tiệm hàng xén, tiệm vải, tiệm
vàng, tiệm phụ tùng xe đạp xe honda đều
bị Bác Ðảng cướp hết. Trở về
ruộng cất cái chòi ở cạnh nhà ba tôi,
khổ sở trăm bề. Cô không điên vì
của đã là may phước lắm rồi.
Thì ra cái nạn 75 là đại nạn. Cái nạn
sâu bọ, ruồi muỗi lên làm người. Câu
nói đầu môi này bây giờ đã trở
thành ca dao mới. Ðể hàm chỉ cái nạn
chung của toàn thể quốc gia dân tộc chớ
không riêng gì một ai. Và khổ thay, nguyên
cả một dòng họ gia phả chỉ có mỗi mình
tôi là chạy thoát được ra xứ người,
tránh được cái đại họa không phải tru
di mà là... bần cùng tam tộc.
Mười năm sau, mãi đến tháng tư
năm 85 tôi mới có tin dượng Tám của tôi
đã vượt biên và định cư tại thành
phố Ottawa, thuộc tỉnh bang Ontario, Canada. Tôi
mừng. Thế thôi. Vì tôi chưa từng
gặp mặt ông dượng của tôi lần nào
cả. Tôi chỉ nghe phong thanh là hồi tôi đi
lính thì cô Tám của tôi lấy chồng. Một
giảng viên trường Khoa học và thầy của cô
thì phải? Thầy giáo nào chẳng hay mê học
trò? Nhứt là học trò đẹp nhứt nhì
phân khoa như cô Tám tôi. Với cái nhan
sắc mặn mà ở tuổi xuân thì mà bà
nội nhỏ của tôi còn để lại.
Phải đợi thêm tám tháng nữa thì tôi mới
mừng thật sự. Vì có tin cô tám Lài
của tôi và bốn nhóc đã vượt biên và
được an toàn bảo lãnh về Canada đoàn
tụ với chồng. Bởi vậy ngay giữa mùa
đông tuyết rơi tầm tã mà tôi vẫn phải
xách xe chạy cả ngàn dặm về mạn Bắc để
thăm gia đình cô dượng Tám. Bà con xa ra
xứ người còn quyến luyến nhau huống hồ tình
cô cháu tôi ngày nào cùng học chung một
trường. Hơn nữa, biết đâu chừng nhờ
chuyến ngược Bắc này tôi mới có cơ
hội biết thêm cái lạnh thấu xương của
những vùng lạnh nhất thế giới?
Ðó là mùa giáng sinh 85, vợ chồng con cái
tôi làm một chuyến xuất ngoại về xứ
của băng tuyết: Gia Nã Ðại. Tôi lần theo
đường I-81 đi lên. Ghé lại nhà người
quen ngủ nhờ một đêm tại thành phố Harrisburg,
thuộc tiểu bang Pensylvania. Trưa ngày hôm sau thì
đến thành phố Syracuse, thuộc tiểu bang New
York. Ở khoảng này, dọc theo đường thỉnh
thoảng đã thấy những vách núi "hóa thạch"
thành vách băng, vì nước trong núi rỉ ra
đông đặc lại thành nước
đá. Thành
icicle
. Với những cột thạch
nhủ lộ thiên bự cỡ. Trông lạ lạ với
những người quen sống ở miền Nam như
tụi tôi.
Qua thành phố Nước, Watertown, một đỗi thì
gặp dòng Saint Lawrence đang lấp ló.
Trời
mưa tránh trắng trời nắng tránh đen
, chỉ
một khoảng đen nhỏ ngoằn ngoèo ở giữa
vùng băng giá trắng phau. St. Lawrence waterway, một xa
lộ đường thủy làm ranh giới giữa Mỹ và
Canada nối liền hồ Ontario, một trong năm Ðại
hồ, với biển. Chảy qua nhiều thành phố lớn
như Montreal và Quebec. Nhưng, trục thủy lộ này
bây giờ như bị giới hạn hẳn, không thấy
tàu bè qua lại. Mà ơ kìa,
ở cái xứ văn minh tột đỉnh này qua cầu
cũng phải đóng tiền, mua vé? Thiệt chẳng
khác nào qua cầu Chợ Gạo ở Việt Nam! Và
nhìn kia, công viên quốc gia Ngàn Ðảo, Thousand
Islands National Park! Làm nhớ ngày nào tôi đã
đặt chân lên xứ Ngàn Hồ, Thousand Lakes Country,
vùng New Ulm phụ cận Mankato, thuộc tiểu bang
Minnesota. Ở miền Nam Việt Nam ngàn sông ngàn
rạch có dư, mà có ai gọi là xứ ngàn
sông ngàn rạch bao giờ. Rõ Mỹ. Cái gì
cũng muốn phô trương.
Rồi vùng trời biên giới giữa Mỹ và Canada
cũng không có gì khác lạ. Chỉ là thành
phố tiếp nối thành phố thôi. Trạm kiểm
soát không có hàng rào kẽm gai, không có
chòi canh, không có xe tăng súng ống gì
cả. Lạ thiệt. Người gác biên giới
đưa tay chận xe, ngó sơ người và hành
lý trong xe rồi khoác tay cho đi không quên
câu chúc vui:
-
Have a good day, folks
.
Thì ra chuyện vượt biên giới ở các nước
Tây phương không có gì đáng lo ngại cả,
dễ hơn từ tỉnh này sang tỉnh khác của
nước CHXHCN Việt Nam, cộng sản Việt Nam nói
trắng ra, là cái chắc.
Chẳng biết vô ý hay cố tình lây cái tật
hay phô trương kỹ thuật của Mỹ, dân tộc xứ
Lá Cây Phong không thèm dựng trụ đồng như
Thái Thú Giao Chỉ mà chỉ xây gần quan ải
một cái tháp thật cao, sừng sững bên
đường. Làm vật trấn biên giữa hai
xứ. Tôi gán cho nó cái tên "hồ nước
một cột," vì có dáng dấp của cái "chùa
một cột" ở xứ mình. Chỉ khác một
điều là "hồ nước một cột" này cao
quá và có cầu thang đi lên vòng vòng như
con rắn Y tế, còn "chùa một cột" thì chỉ
có mấy bậc tam cấp thấp lè tè...
Xa lộ Canada cũng không khác gì xa lộ ở Mỹ
mấy. Ðiểm khác nhau rõ rệt nhất có lẽ
là các bảng chỉ dẫn về khoảng cách,
được ghi bằng cây số thay vì dặm. Lại
khơi dậy những khoảng cách quen thuộc bên nhà:
Sài Gòn - Mỹ Tho 70 cây số, Sài gòn - Vũng
Tàu 110 cây số chẳng hạn. Vận tốc giới
hạn là 100 cây số giờ, thấp hơn vận tốc
giới hạn tự đặt ra của các tay lái xe
đò miền Tây trên quốc lộ 4 là cái
chắc. Tấp vô một trạm xăng để đổ
thêm xăng. Dung lượng được tính bằng
lít thay vì ga-lông. Ôi, sao mà giống cái
xứ Việt Nam quá. Hóa ra bấy lâu nay mình
bị Mỹ đồng hóa mà mình không hay. Mười
năm, ôi mười năm tình tự nhung nhớ quê
hương, giờ như đang nổi dậy trong lòng.
Theo xa lộ 401 chạy dọc theo sông Saint Lawrence một
đỗi rồi rẽ qua đường 16 về thành phố
Ottawa, thủ phủ của tỉnh bang Ontario. Tất cả
vạn vật được phủ trùm một lớp tuyết
dầy. Băng giá chất chồng giá băng. Dòng
sông Ottawa cũng như những cái hồ nhân tạo
đã trở thành những sân khấu rất lý
tưởng dành riêng cho bộ môn
ice skating
. Khu
dân chúng cư ngụ nhìn chung cũng giống giống
các thành phố khác ở vùng đông bắc
Mỹ. Nhà cửa hay cất theo kiểu đưa đầu
song ra đường. Hà tiện đất, nhà này
cách nhà kia vài bước. Làm như bên hông
nhà nào cũng có một cái hẻm nhỏ. Những
bậc tam cấp bằng xi-măng bước lên nhà làm
khoảng sân trước đã nhỏ càng nhỏ thêm.
Vòng tới vòng lui hai ba bận tôi tìm được
cái chung cư mà cô dượng Tám của tôi
đang ở. Chui vô cái
lobby
ngay cổng chánh
bọn tôi bị khựng lại vì cửa bên trong
đã khóa kín. Bởi từ ngày qua Mỹ đến
giờ gia đình tôi ở toàn là "nhà riêng,"
chưa từng nếm mùi
apartment
nên tôi hơi
ngạc nhiên, lúng túng. Dân Canadian định làm
khó dễ gì đây? Lại một bài học
khôn? Loay hoay một chút rồi cũng mò
được cách thức vô nhà: phải bấm số
để liên lạc với người mình muốn tới
thăm.
- Allo...
- Cô hả cô Tám? Hùng đây cô, cô
mở cửa cho tụi cháu vô đi. Lạnh quá.
- Ồ, Hùng đó hả? Mới tới
hả? Ðể cô mở cửa cho, khi nào nghe tiếng
kêu è è thì đẩy vô.
Tôi làm đúng như lời dặn. Lọt vô trong
cảm thấy ấm lại ngay. Nhào vô thang máy, bấm
tầng số 4. Cái gì cũng máy móc
hết. Cuối cùng tìm được phòng.
- Vô đi, vô đi. Con của cháu hết đó
hả? Mấy trai mấy gái vậy?
- Dạ, bốn đứa cô. Ba trai một gái.
- Cô cũng bốn đứa, cũng ba trai một
gái. Mấy đứa này có biết nói tiếng
Việt hôn?
Ðám con tôi chạy ào vô nhà. Vợ tôi
và tôi chùi giày kỹ lưỡng trên tấm
thảm nhỏ trước khi bước vô phòng
khách. Tôi trả lời:
- Tụi nó nghe hiểu được chớ không biết
nói đâu cô ơi. Hồi mới qua đây mới
có một hai tuổi khó kềm lắm, riết rồi tụi
nó như Mỹ. Chào ông Tám, bà Tám và
mấy chú mấy cô đi con.
Ðứa gật đầu, đứa giơ tay tuyên thệ:
- Hai, hai..., hai.
- Ừa.
Rồi cô Tám tôi chê:
- Chỉ biết hai-ho vậy thôi hả? Mầy
dở đó. Cô thấy nhiều gia đình qua
đây hồi 75, con cái họ vẫn nói tiếng Việt
như thường... Ðây, dượng Tám cháu
đây, hai dượng cháu đã gặp nhau lần
nào chưa?
Tôi bắt tay người đàn ông có vẻ lớn
tuổi hơn tôi:
- Hình như chưa, phải hôn... dượng Tám?
Dượng hỏi dồn:
- Ừa, mà cháu là thằng anh hay là thằng em
vậy cà? Anh chị Ba chỉ có hai đứa trai thôi
phải không em?
Cô Tám tôi giải thích:
- Ảnh chỉ có ba đứa trai lận. Thằng lớn
thằng Tấn, thằng này thằng Hùng, và còn
một thằng nhỏ nữa, còn kẹt bên nhà. Mới
đó mà anh quên hết trơn vậy.
Dượng phân trần:
- Anh đâu có biết đứa nào là đứa
nào. Mấy lần nhậu với anh Ba thì nghe ảnh
nói sơ sơ về tụi nó, chớ đâu có gặp
thằng nào lần nào đâu.
Tôi xen vào:
- Như vậy thì chắc cô dượng cũng chưa
gặp Lan, vợ cháu lần nào hết phải hôn?
Cô Tám tôi thở dài:
- Chưa. Lớn lên rồi mạnh ai nấy đi, tứ
tán hết. Cô nhớ sau khi ông nội mất, cháu
đi hải quân, cô với dượng Tám cháu lập
gia đình. Rồi chẳng bao lâu, cô dượng di
chuyển lên Ðà Lạt lập nghiệp. Bà nội
về ở với cô kể từ ngày
đó. Dượng Tám cháu làm ở Trung tâm
Nguyên tử lực, thuộc Nguyên tử lực cuộc
Việt Nam, còn cô thì làm trong phòng thí nghiệm
sau khi xong bằng Cử nhân Hóa học. Nghe nói cháu
sang bên này học giỏi lắm phải hôn?
Tôi tình thiệt:
- Cháu gần xong cái master. Nhưng, có xong rồi
chắc cũng khó đổi nghề đổi sở
lắm. Hãng xưởng của Mỹ coi bộ đang trên
đà xuống dốc. Dượng Tám bây giờ
làm ở đâu dượng Tám?
- Dượng làm cho chính phủ Canada. Công việc
cũng tương tự như ở Nguyên tử lực cuộc
Việt Nam vậy thôi. Nhờ dượng có mười
mấy năm kinh nghiệm trong nghề nên tìm việc
cũng dễ...
Cô Tám tôi muốn nói rõ hơn:
- Bằng của dượng Tám cháu là bằng Mỹ
mà. Xứ nào cũng công nhận hết nên khỏi
phải đi học lại. Dượng Tám cháu tốt
nghiệp ở VPI, Virginia Polytechnic Institute. Lâu
quá rồi, hai mươi năm chưa hả anh?
- Lâu hơn chớ!
Tôi thắc mắc:
- Vậy hồi mất nước cô dượng sống
với tụi Việt cộng ra sao?
- Nó bắt dượng Tám cháu tiếp tục làm cho
nó. Cháu nghĩ lương công nhân viên nhà
nước của Việt cộng thì làm sao mà
sống. Thua mấy người buôn bán chợ
trời. Nhưng được một cái là còn có
xe cộ di chuyển nên cũng dễ tìm mối vượt
biên. Dượng Tám cháu chạy bốn lần mới
được đó. Cô và mấy em chỉ đi một
lần. Hết vàng hết bạc, hết
tiền hết của, công trình dành dụm mười
mấy hai chục năm tiêu tan hết cả. Cô còn
thiếu nợ chủ ghe mấy lượng vàng chưa
trả nữa đây. Chút nữa họ sẽ đến
chơi, dượng Tám cháu có mời họ tới ăn
tiệc sẵn dịp có gia đình cháu lên, mừng
ngày cô cháu mình hội ngộ. Họ là ân
nhân của gia đình cô dượng... Thôi,
hổng ấy vợ thằng Hùng xuống bếp làm giúp
cô một tay đi, để hai dượng cháu nó
trên này nói chuyện.
Vợ tôi nhỏ nhẹ đáp:
- Dạ, để cháu phụ với cô. Cô
định làm món gì vậy?
- Cô cũng chưa biết.
Hai người đàn bà xa lạ, đột nhiên phải
coi nhau thân cận gần gũi, thiệt cái dây thiêng
liêng chồng vợ nó quấn quít chẳng khác nào
dây... tơ hồng. Tôi nghĩ thầm, có lẽ
sự thông cảm giữa hai người đàn bà sẽ
dễ dàng hơn trong căn bếp Việt Nam.
Mấy đứa nhóc của tôi và mấy đứa
nhóc của cô dượng Tám tôi cùng một
chạng tuổi, đáng lẽ rất dễ kết thân với
nhau nhưng trở ngại là sự bất đồng ngôn
ngữ. Và phải kêu bằng chú và cô,
uncle
và
aunt
, thì làm sao không khỏi ngạc nhiên
cho được. May là có mấy món đồ chơi,
mấy chiếc xe điện, nên đã xúm nhau dồn
vô một góc phòng.
Tôi với ông dượng người Quảng cũng
còn xa lạ lắm. Mặc dù ông Quảng này
đã lai dân Sài Gòn nhiều rồi. Tôi ngồi
nghe ông kể chuyện lúc mới sang:
- Úi chà, hồi mới qua tụi nó thảy dượng
vô một cái trường đại học ở một
thành phố gần đây, vừa đi làm vừa học
tiếp những cái thiên hạ mới phát minh mà
mình chưa biết. Coi như đi tu nghiệp
vậy. Lương tháng có vài trăm bạc không
đủ đâu vào đâu, không gửi về cô
Tám cháu một cắc. Tụi này định bốc
lột sức lao động của mình đây. Dượng
cũng nản rồi, chỉ mong có việc gì làm chính
thức ngày hai buổi như người ta, dành thì
giờ còn lại lo gia đình vợ con, chớ đua
đòi gì nữa. Rồi may quá, dượng
được Bộ năng lượng của Canada mời tới
interview
. Dính, dượng đi làm luôn. Nói ngay
cũng nhờ ông thầy ổng giới thiệu, chớ mình
mới qua biết ất giáp gì mà mò. Công ăn
việc làm coi như tạm ổn, lương hướng
cũng tạm đủ sống... Hồi xưa, dượng
có nhậu với dượng Bảy, dượng Năm và ba
của cháu vài lần. Nhớ anh Ba mỗi lần nhậu
ảnh hay nói rề rề dữ lắm. Không biết
lúc mất nước ảnh sống ra sao?
Tôi kể lể:
- Tiêu tan hết dượng ơi. Ruộng vườn giao
hết cho Bác Ðảng rồi, mình chỉ làm thân
ăn nhờ ở đậu trên đất của mình mà
thôi (vô tình tôi lập lại lời nói của ba
tôi, trong thư). Cháu thỉnh thoảng phải gởi
quà về phụ giúp gia đình.
Dượng vui miệng nói tiếp:
- À, nói gì chớ vấn đề gởi quà về
nhà thì cô Tám cháu rành lắm, dượng
chịu thua. Cô Tám cháu mới qua nên biết món
nào thịnh hành, bán có giá ở Việt Nam, chớ
thông thường người ta chỉ chạy ra tiệm gởi
một thùng thuốc tây là xong. Làm như ở xứ
mình ai cũng đau bịnh sắp chết hết. Thiệt
cái xã hội chủ nghĩa của cộng sản nó
không ra cái thể thống gì hết cả. Cháu
không sống với nó nên cháu không biết, mà
có nói cho lắm cháu cũng không hiểu nổi
đâu. Nó làm con người ta phản ứng như
con vật vậy.
Tôi đưa hơi:
- Mấy tụi bạn cùng khóa viết thư cho cháu
kể chuyện ở tù, học tập cải tạo nghe cũng
thảm não lắm.
- Ðó đó, chỉ cần bị nó quản lý
một thời gian ngắn là nếm đủ hết
những nỗi bất hạnh khổ đau của
thiên đường vô sản. Dượng chạy
mặt tụi nó từ lâu rồi. Phải tìm
đường "chui" lẹ lẹ. Vả lại, có ở
lại thì con cái của mình cũng không ngóc
đầu lên được...
Mặc dù tụi tôi nghe nhiều hơn nói, nhưng
buổi tiệc ngày hôm đó rất vui. Ðây
là buổi họp mặt của những người đồng
thuyền đồng cảnh trong hai cuộc vượt biên
thì đúng hơn. Hai cuộc vượt biên xuất
phát từ một mối, hai chiếc ghe đóng cùng
một chủ. Tất cả khó khăn, khổ cực bây
giờ chỉ còn là những kỷ niệm êm đềm,
những nỗi vui không bao giờ quên. Và nhờ
đó tụi tôi được dịp biết thêm lối
sống của gia đình cô dượng tôi hồi nào
ở Ðà Lạt, Nha Trang trong thời gian trước và
sau khi mất nước.
Nhập giang tùy khúc, nhập
gia tùy tục
, cô Tám tôi cũng bị ảnh
hưởng ít nhiều về phong tục của người
miền Trung. Tôi thấy cô pha một chút mắm tôm
vào chén nước mắm chấm. Gà xé phay mà
cũng đòi hỏi hương vị mắm tôm? Cách
ăn này ở phương trời nào, xứ nào?
Kể ra buổi hội ngộ của cô cháu tôi
cũng không đến nỗi ngỡ ngàng như tôi
tưởng. Nhứt là đối với những người
thân của cô, chồng con cô. Cũng như những
người thân của tôi, vợ con tôi. Xa nhau bao
nhiêu năm mà tình thương dành cho nhau vẫn
tràn đầy. Tuy nhiên, quan niệm sống giữa hai
gia đình hình như có điều gì rất khác
biệt. Phải chăng đó chính là sự khác
biệt của một gia đình có sống với Việt
cộng và một gia đình không?
Sau chuyến ngược Bắc trở về không
bao lâu thì tôi được thư dượng Bảy
của tôi đã vượt biên và đang định
cư ở Texarkana. Một thành phố nhỏ thuộc hai
tiểu bang Texas và Arkansas. Một nửa thành phố
nằm trong tiểu bang này và một nửa nằm trong
tiểu bang kia. Ðường ranh giới là một
đại lộ lớn chạy xuyên qua và chia đôi
thành phố. Khỏi cần nghiên cứu sâu xa về
ngôn ngữ học tôi cũng đoán biết Texarkana
là do hai chữ Texas và Arkansas viết liền nhau rồi
đọc trại ra.
Cũng như lần trước, tin dượng Bảy tôi
tìm tự do đến nơi đến chốn chỉ làm
tôi mừng sơ sơ thôi. Vì tôi cũng chưa
hề gặp mặt ông dượng thứ bảy của tôi
lần nào. Hình như cô Bảy tôi lại lấy
chồng sau cô Tám, tôi nhớ mang máng như
vậy. Phải đợi đến lúc cô Bảy và ba
nhóc được đoàn tụ gia đình theo kiểu
ODP thì tôi mới mừng thật sự. Tôi không
hiểu dượng Bảy tôi bảo trợ cách sao mà
chỉ trong vòng nửa năm mọi chuyện đều xong
xuôi, trót lọt. Gõ cửa đúng
nhà
,
chạy thuốc trúng
nước
?
Tình cô cháu một lần nữa lại bùng lên, gia
đình vợ con tôi tức tốc ngàn dặm xuôi Nam
đi về miền Texas. Ngay giữa mùa hè nắng
cháy, lửa đổ như thiêu. À há, vậy
thì đây là dịp may để bọn tôi biết
thêm
cái nóng nung người nóng nóng ghê
của những vùng nóng nhứt thế giới? Tôi
tự an ủi như vậy!
Theo xa lộ I-85 tôi đi thẳng một mạch về
thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia, thủ phủ của
miền Nam. Ðã một thời "cuốn theo chiều
gió," theo bà Margaret Mitchell. Với sự giới
thiệu trước của một người bạn, tôi ghé
qua Stone Mountain cho tất cả gia đình được
dịp "tham quan" mấy tay tổ miền Nam. Mấy
tay thất trận trong thời nội chiến của
Mỹ. Mấy tên cao bồi cỡi ngựa bắn súng
được tạc trên vách núi, tròn như cái mấm
rơm vĩ đại. Một khối toàn bằng đá hoa
cương. Trong đó có tổng thống Jefferson
David. Thiên hạ viếng thăm đông như kiến
cỏ. Quần đùi, áo nịt ngực (nhiều cái
top allmost less
), dép không râu lẹp xẹp nhỡn
nhơ vui đùa trước gió. Mùa hè mà. Tôi
chiêm ngưỡng không phải người đẹp (bà xã
cú đầu) cũng không phải "những vị anh hùng
dân tộc" (không phải của mình) mà chỉ cái
công trình điêu khắc thôi. Cũng là một
sáng tác có một không hai. Ai muốn xem rõ
những nét đục đẽo có thể mua vé ngồi
vào thùng xe thổ mộ để đi dây... như
dây tử thần, ngược lên đỉnh núi trọc.
Nhưng tôi đâu có thì giờ làm chuyện
đó. Tôi phải chạy cho kịp giờ đã ấn
định. Tiếp tục lên đường, theo I-20
xuyên qua tiểu bang Alabama, tới thành phố
Birmingham. Qua khỏi Birmingham một đỗi, thì
trời đã về chiều. Tôi đành tìm một
motel
ngủ qua đêm. Và theo lời đề
nghị của đám con tôi, phải tìm cho được
cái
motel
nào có hồ tắm. Một phần
vì trời mùa hè nóng nực, một phần vì
mấy đứa nhỏ vừa mới "tốt nghiệp" lớp
bơi sơ cấp và trung cấp tại tỉnh nhà. Con
cái của hậu duệ Trần Hưng Ðạo mà không
biết bơi thì tội lỗi lắm. Trầm nghịch
suốt mấy tiếng đồng hồ dưới nước
không thua gì Yết Kiêu. Tôi thấy tinh thần
bơi lội của đám nhóc con của tôi lúc ấy
quả thiệt là cao.
Sáng ngày sau tiếp tục lên đường, băng
qua tiểu bang Louisiana để về Texas. Tôi cứ
tưởng xuống tới khoảng này là có thể
thấy ruộng lúa giống như bên nhà. Hay ít
ra cũng có dừa chuối, vườn tượt, cây
trái như cảnh thôn quê Việt Nam. Nhưng tôi
hoàn toàn thất vọng. Vì dọc theo xa lộ I-20
từ Birmingham dẫn đến Dallas vẫn còn nhiều
rừng thông. Chán ngắt một màu. Thỉnh
thoảng mới có những đồng cỏ hoang cao đến
ngực mà nhìn xa xa tôi cứ mường tượng
như những ruộng mía miệt Ðức Hòa, Ðức
Huệ với lò đường Hiệp Hòa. Ngược
lại, về phía phong thổ thảo mộc của Mỹ, tụi
tôi bắt đầu nhận ra một loại cây ít
thấy ở miền cao nguyên. Ðó là cây
pecan
, môt loại hồ đào (
walnut
), có
trái cho hột dùng làm bánh
pecan-pie
. Nhiều
cây cao lớn, mười lăm hai chục thước có,
không thua gì những cây đa sống lâu năm ở
đầu làng.
Vừa chạy xe vào
drive-way
tôi liền thấy
một người đàn ông lạ mặt, dong dõng cao,
quần ngắn áo sơ mi, bước ra hiên:
- Tụi nó tới rồi em ơi, sao mà tìm nhà
hay quá vậy cà. Ðứa nào là thằng Hùng?
Bóng cô Bảy tôi và mấy đứa em lố nhố
chạy ra. Người nào cũng gầy ốm, đen
đúa. Tôi nhảy xuống xe bắt tay ông dượng
chưa gặp nhau lần nào:
- Chào dượng Bảy, chào cô Bảy. Cô qua
đây được bao lâu rồi? Cô ốm quá!
- Ờ, ở với Việt cộng thì ai mà mập
cho nổi. Cô mới tới chưa đầy
tháng. Thôi, vô nhà chơi, con mầy hết đó hả?
- Dạ, bốn đứa đó cô, ba trai một
gái. Còn cô được mấy đứa?
- Ba. Hai gái một trai.
Tôi ra lệnh cho đám nhóc:
- Thưa ông Bảy, bà Bảy và mấy chú mấy
cô đi con.
Ðứa khoanh tay, đứa cúi đầu:
- Thưa ông Bảy, thưa bà Bảy..., thưa ông
Bảy, thưa bà Bảy con mới tới...
Cô Bảy tôi giả lả:
- Ừa... Thôi mà, thưa thưa cái
gì. Cha, thằng khỉ này coi bộ muốn
cao hơn má nó nữa kìa.
Tôi làm tày khôn, giới thiệu:
- Cô Bảy, dượng Bảy nè em.
Bị vợ tôi chọc quê:
- Em biết cô Bảy mà...
Rồi vợ tôi quay sang cô dượng:
- Cô cũng không thay đổi mấy, chỉ ốm
hơn hồi đó nhiều lắm. Chào dượng Bảy,
dượng mạnh giỏi?
Dượng Bảy chép miệng:
- Cha, qua bên này thì đương nhiên là phải
mạnh giỏi rồi. Chỉ lo thiếu tiền gởi
về Việt Nam thôi.
Tất cả tuần tự chui vào nhà tránh nắng,
tránh nóng. Tôi vừa đặt đít ngồi xuống
salon thì ông dượng, tuy mới quen nhưng hình
như không có gì xa lạ lắm, liền đưa
ý kiến:
- Thằng Hùng mầy uống gì, làm một
lon bia nha. Bia bên này bảo đảm không thiếu
như bên nhà đâu.
Tôi tán thành ngay:
- Dạ được dượng. Ở đây nóng
và hầm dữ quá, phải uống bia cho nó đã
khát.
Dượng lại tủ lạnh lấy bia, khui cho tôi,
rồi quay sang cô con gái đứng bên cạnh:
- Con, con đi lấy nước ngọt cho mấy cháu
uống đi. Mình làm cô, làm chú tụi nó không
mà. À, mấy đứa này có rành tiếng
Việt hông đây?
Tôi đỡ lời:
- Dạ bập bẹ thôi dượng, như dượng
mới thấy tụi nó thưa đó.
- Trước sau gì cũng thành Mỹ hết, ba đứa
con của dượng mới qua mấy ngày mà đã
chập chững nói tiếng Mỹ với lũ bạn của
nó rồi. Lẹ thiệt.
Tôi khơi chuyện:
- Hồi xưa dượng có đi lính hôn dượng Bảy?
Dượng từ tốn trả lời:
- Dượng xuất thân từ ngành sư
phạm. Lúc mới ra trường bị đổi tuốt
lên Ban-Mê-Thuộc dạy một thời gian rồi mới
đổi về Mỹ Tho. Sau đó có chương
trình động viên giáo chức nên dượng
cũng phải vô lính. Ở lính cho tới ngày
mất nước.
Cô Bảy tôi nói vọng sang từ bên căn bếp:
- Dượng Bảy mày đeo lon trung úy
đó. Nhưng ỷ y có thân nhân là Việt
cộng làm lớn trong xã Thanh Bình nên không
chịu chạy sớm như người ta.
Tôi ngạc nhiên:
- Ủa, quê dượng Bảy ở Thanh Bình, Gò Cát
à? Cháu có vô trỏng chơi mấy lần, tại
vì cháu có thằng bạn thân ở trong đó. Ba
nó là Việt cộng, còn nó là sĩ quan Thủ
Ðức. Không biết hồi mất nước hai cha
con đối xử với nhau như thế nào?
Dượng cười:
- Ối, cái đám du kích xã Thanh Bình mà
nhằm nhò gì. Mấy lần nhậu say dượng chửi
tụi nó túi bụi, tụi nó có dám làm gì
dượng đâu? Mấy thằng công an xã, chi ủy,
huyện ủy đều là đàn em, học trò của
dượng hết. Mình phải biết lựa chỗ lựa
thời đem gậy ông đập lưng cha nó. Cho
tụi nó biết tay, tụi nó ngu lắm. Làm vô
đi cháu...
Vợ tôi đã theo cô Bảy phụ làm đồ ăn
dưới bếp. Mấy đứa nhỏ đã chạy ra
ngoài sân, ngoài nhà xe hết. Hình như ngoài
đám con của cô dượng và đám con của tụi
tôi còn có thêm một đám đông con của
láng giềng chòm xóm nữa. Ðám này
mới qua trước vài năm, biết nói cả hai thứ
tiếng Mỹ lẫn Việt. Như vậy cô cháu,
chú cháu cũng dễ làm quen nhờ đám thông
dịch viên bất đắc dĩ này. Nhưng, tụi
con tôi vẫn còn thắc mắc tại sao phải
kêu những đứa cùng tuổi nó bằng
uncle
và
aunt
.
Nốc một hớp bia, tôi hỏi tiếp:
- Sao hồi đó dượng không chạy?
Dượng phản ứng ngay:
- Chạy chớ sao không chạy. Trưa ngày 30
tháng 4 dượng đang ở quận Chợ Gạo chớ
đâu. Lúc ông Minh tuyên bố đầu hàng,
dượng vô dinh quận rủ mấy thằng bạn
cùng đi, tụi nó không chịu đi. Mấy ngày
sau dượng xách xe honda chạy lên Mỹ Tho, chạy
xuống Gò Công bàn tiếp với tụi bạn. Cũng
không thằng nào chịu bỏ xứ. Dân miền Nam
mình thiệt không hiểu rõ cộng sản như thế
nào hết. Cứ đinh ninh là lúc Việt cộng
lên nắm chính quyền thì cũng vậy thôi, chạy
chi cho mất công. Tới lui đôi ba bận không
tìm được phương tiện, mối mang nào hết
nên dượng cũng nản, nằm nhà luôn. Tới
đâu hay tới đó...
Hai dượng cháu ngưng một chút vì cô Bảy
và vợ tôi tiếp tế đồ nhấm. Một
dĩa thịt bò xào cần tây nghi ngút khói và
chén nước mắm bầm tỏi ớt lấm tấm
đỏ. Thơm phức. Gắp một miếng thịt
bỏ vào chén, dượng nói tiếp:
- Ăn tự nhiên đi cháu. Qua bên này có
gì ăn nấy. Cá tôm, cua mắm, gà vịt
không dễ gì kiếm như bên mình... (?) Ai
dè nó đâu có để cho mình yên. Bác
dạy nó vô sản hóa, bần cùng hóa nhân
dân. Ðảng dạy nó vơ vét tận ống chí
đáy. Không chừa một món. Ðói, ai
cũng đói dài người. Rồi nhân dân
mình coi vậy chớ học khôn lẹ lắm. Phen này
cho cha con tụi nó chết đói trước. Từ
gạo thóc đến những khoai bắp, ngô
lang... cái thứ khỉ khô gì ăn được
đều bỏ vô bao ny-lông thảy xuống đìa,
xuống mương hết. Dấu. Bởi vậy bao
ny-lông bên mình có một thời lớn nhỏ
gì cũng mắc dàng trời. Thiệt tình nó
ngu ơi là ngu. Biết thân phận mình là
một nước nhược tiểu, cũng giống
như đi ở đợ mấy nước lớn, thà
là ở đợ mấy thằng giàu còn có chén
cơm tô cháo để ăn, ai đi ở đợ chi
cái thằng nghèo mạt rệp cho áo quần
không có bận, hả?
Ði đâu cũng nghe chửi cộng sản hoài, chán
quá. Phần tôi, tôi không dám đá động
tới cộng sản tại vì tôi chưa chính thức
sống với nó một ngày nào. Chỉ sợ chửi
không đúng mốt thiên hạ chê. Tôi bèn
phân tách tình hình:
- Mười năm qua cộng sản đã biến Việt Nam
thành một nước nghèo nhứt thế giới, không
kể Miên và Lào. Cháu tưởng giờ này
lũ đó đã sáng mắt ra rồi chớ. Chung
quanh mình những tấm gương không cộng sản
của Nhật Bổn, Ðài Loan, Ðại Hàn, Thái
Lan... ai ai người ta cũng trên đà tiến triển.
- Thì vậy mới nói. Nó còn nằm mơ, còn
ngủ say trên chiến thắng. Tưởng đâu
là đánh bại được anh Mỹ anh Ngụy là hay
rồi. Ai ngờ những kế hoạch rừng rú
của tụi nó đưa ra không ai chấp nhận
hết. Chẳng ai muốn thi hành hết. Tại vì
nó hoàn toàn đi ngược lại lòng
dân. Tại vì nó làm cho thiên hạ ai ai cũng
điêu đứng, khổ sở. Cháu thấy hôn, gia
đình cháu, chị em cháu còn ở lại bên
nhà, ý là có cháu tiếp tế mà cũng không
sao sống nổi.
Tôi hỏi:
- Như vậy dượng nghĩ sao về tương lai
của nước Việt Nam mình? Nghe nói cha con nó
đang hăm he quay về với tư bản mà. Cho
tư nhân được quyền mở cửa hàng,
lập hãng xưởng xí nghiệp riêng.
Dượng quả quyết:
- Ối, nó nói như vậy chớ còn lâu lắm
nó mới làm. Mà xương cốt nó đã
là khỉ thì dù có lột mấy lớp da, thay mấy
lớp lông thì cũng khỉ thôi. Rồi thử hỏi
ai dám đứng lên cải thiện nó? Trừ phi
tụi nó tự giết lẫn nhau chết tiệt...
Tự giết lẫn nhau? Hay quá, hay quá! Nhưng
làm cách nào để tụi nó tự giết lẫn nhau
chết tiệt đây?
Tôi đang suy nghĩ tìm câu trả lời thì hàng xóm
quen biết cô dượng Bảy tôi bắt đầu ùn ùn
kéo đến chơi. Lại một cuộc họp bạn
tưng bừng? Thật vậy, cuộc hội
ngộ của cô cháu tôi, một lần nữa, đã
diễn ra trong không khí gia đình hết sức
ấm cúng.
Có điểm khác với lần trước đi thăm
cô dượng Tám tôi ở Canada, là dân Việt
ở đây hay bàn đến những mánh khóe làm
ăn trên đất Mỹ. Làm sao lãnh được
tiền an sinh xã hội, làm sao có bảo hiểm sức
khỏe của chính phủ, làm sao xin được nhà
dành cho những người lương thấp. Ðại
khái như vậy. Và tôi không ngờ có
người cho biết luôn những cơ quan chuyên lo về
vấn đề này ăn huê hồng tiền mặt. Văn
phòng chi nhánh mọc lên lềnh khênh ở
Dallas. Có luật sư lo giấy tờ thủ tục cần
thiết. Có bác sĩ sẵn sàng khám nghiệm và
chứng nhận mình có những chứng bệnh bất
bình thường, không tìm ra xuất xứ, nguyên
do. Họ cho rằng chỉ cần tốn vài ngàn để
rồi ngồi không hưởng lợi suốt đời (?)
thì quả