THƠ NGUYỄN ĐĂNG TUẤN:
DƯỜNG NHƯ LÀM T̀NH VỚI CHỮ
Lưu Nguyễn Đạt

Lưu Nguyễn Đạt



Thơ Nguyễn Đăng Tuấn không đơn giản, hiền hậu, dễ hiểu như người ta chợt tưởng. Đó là chỗ hẹn ḥ của ánh sáng và bóng tối kết tụ thành chất xám của thi ảnh lồng cách, của thi cảm nhị trùng. Đó là thế giới hư hư thực thực của sự thật và bóng gió; của trong trắng và dục thể; của hồn nhiên và ảo thuật; của tầm thường và sáng kiến; của thất vọng và niềm tin; của hư vô và dấu tích.

Jonathan Culler 1 phân biệt thi cách "mỹ miều" (Fancy) và "sáng kiến" (Imagination) trong thuật tạo thi ngữ. Phép "mỹ miều" có khuynh hướng trưng bày bóng bẩy bề ngoài qua lối ghép chữ một cách máy móc, thúc đẩy bởi h́nh thể sẵn có của từ ngữ căn bản, hoặc ấn định bởi những nguyên tắc sát hợp tâm lư (principles of associationist psychology)2. Nếu quá chú trọng tới khía cạnh "mỹ miều", người làm thơ dễ luẩn quẩn chơi chữ, đảo ngữ, nói lái, có lúc bóng bẩy nghịch ngợm, có lúc sáo ṃn, v́ thiếu sâu sắc, thiếu tâm lực. Ngược lại, "sáng kiến" sinh hoạt tự tại, bằng cao hứng và tâm lực để sáng tạo những thi ngữ mới lạ, sâu sắc hoặc những thành ngữ bất hủ, xuất chúng. Lúc đó chơi chữ sẽ nhường bước để chữ chơi một cách tự chủ và sống động. Với "Sáng kiến", thi ngữ và thi ca thực sự khởi sắc bằng chiều sâu tự tại khi thi sĩ đă hội nhập được với chính bản năng và nhu cầu của thi ngữ, của thi cảm.

Trong thi tập Dường như tôi ngại thốt lời yêu em3 , Nguyễn Đăng Tuấn đă dấn thân vào con đường làm mới thi ca bằng những cố gắng khơi sâu thi ngữ, bằng những cơ hội hẹn ḥ và t́nh tứ ngay với chữ nghĩa. Như trong bài "Bất dung" (DNTNTLYE, 19), kết thúc bằng hai câu:

tôi chùn tôi lại đă thèm
sáng ra nhón bỏ tên, đem vào chùa

chúng ta đối diện tức khắc với hai vị trí khác hẳn nhau: một cảnh thế trần tục và một chiều hướng siêu thoát. Sự trần tục ở đây được cô đọng thành một tác động nửa chừng xuân, giữa tới và lui, giữa hành sự và bất động. Cái thế "tôi chùn tôi lại" là một nghịch lư đ̣i hỏi hai đà khác nhau: một đằng th́ xông tới, tiến thẳng về mục tiêu phía trước, bất chấp trở ngại; một đằng th́ lại rụt rè, kiềm hăm và rút lui phía sau. Thoáng tưởng sự dằng co, bỏ rở cuộc hành tŕnh đó là phản ứng của một t́nh trạng bị kẹt, một trở ngại thể xác. Nhưng sự dằng co này lại có tính cách tâm năo, nếu xét theo chiều hướng rụt rè của tâm t́nh căn bản được thổ lộ ngay từ cái đề "Dường như tôi ngại thốt lời yêu em". Tối thiểu đó là một sự vầy ṿ tâm năo, một ám ảnh "quyết liệt/không quyết liệt", nói theo kiểu công án của Du Tử Lê 4. Vậy cái phản ứng rút lui có trật tự trong cảnh thế "tôi chùn tôi lại" không thể coi như là cảnh huống thụ động dưới sự chi phối của một trạng thái bán thân bất toại, một thứ tê liệt thân thể trong chốc lát, mà phải coi đó là một thứ tê liệt tinh thần sâu sắc hơn, một trạng thái e ngại căn bản ngay trong đam mê tột đỉnh.

Cũng trong bài "Bất dung" trên, khía cạnh trần tục của ám ảnh "tôi chùn tôi" đă được sửa soạn bởi nhiều chi tiết gợi h́nh, gợi cảm trái ngược nhau. Nếu thi ảnh của "tôi nằm trên phiến đá trong" nói lên trạng thái "bất dung" ? vừa tê cứng trong thể chất cứng chưa chảy ra thành thể chất lỏng5, vừa lạnh lùng trong trắng, th́ thi ảnh của "chân tay quờ quạng rêu rong mượt mà" lại có vẻ tưng bừng, kích động và gợi cảm khác hẳn. Tột đỉnh của vọng cảm này được ghi lại dưới hai chữ: "đă thèm". Vậy căn tâm của thi ảnh trong bài thơ "Bất dung", dù bất toại, dù bất thành, dù ảo giác, vẫn có tính cách thiết tha của dục vọng, của đam mê rất trần gian. Rất người. Đôi khi tả chân đến độ sắc bén, gần "như vẽ" rơ từng nét.

Nếu cảnh thế "trần tục" được ghi nhận một cách phong phú, từng giai đoạn, từng chi tiết khác nhau khắp "bẩy phần tám" bài thơ, th́ chiều hướng siêu thoát trong thế "Bất dung" này chỉ cần một ḍng mỏng mảnh để tiêu biểu ánh sáng của giác ngộ, của tâm linh: "sáng ra nhón bỏ tên, đem vào chùa". Động từ "nhón bỏ" không những nói lên một cử chỉ nhẹ nhàng, thanh lăm, khác hẳn sự cắt bỏ tinh hoàn làm mất khả năng sinh sản, hoặc cắt hoạn 6 theo từ ngữ của Freud. Sự "nhón bỏ" ở đây không có tính cách phân bộ, như cắt bỏ một phần của cơ thể, mà lại có tính cách toàn diện, v́ tác động "nhón bỏ tên" đưa tới sự thay đổi nhân bản lớn lao có tính cách thoát ly toàn khởi, như trong cuộc xuất gia đi tu. Đó là giai đoạn của siêu thoát vượt khỏi nghịch lư, vượt khỏi cảnh thế bất toại, "bất dung" và bất dụng.

Tới đây, người đọc thơ Nguyễn Đăng Tuấn có cảm giác nhà thơ đă vượt thoát khỏi cái bóng bẩy mỹ miều chơi chữ khi sáng kiến "nhón bỏ" đă hội nhập với thi ngữ "đem vào chùa" để trở nên siêu thoát. Tất cả những h́nh ảnh nghịch ngợm ? "chân tay quờ quạng rêu rong mượt mà" trên đă nhẹ nhàng hồi hướng vào tâm linh, qua mẫu mực của đạo Phật, của đạo giải thoát. Khi nhà thơ tin vào cơi thơ, tin vào sứ mạng trong thơ là tạo dựng một đời sống có chiều sâu, có ư nghĩa, th́ thi ảnh, thi ngữ sẽ lănh hội sự chân thực trong sáng kiến.

Chơi chữ thường có tính cách bông đùa, nghịch ngơm, đôi khi ma mănh, trần tục, như cách nói lái, chuyển hoán phần vần hay phần phụ âm đầu để đổi trật tự âm tiết và ư nghĩa của cụm từ "đổi đời". Trong bài "Rừng phong có nhớ người che nắng vàng" (DNTNTLYE, 20), thi ảnh "xuống đèo" có thể nói lái thành "đé(...) xuồng" ? nôm na là "làm t́nh trên thuyền nhỏ không có mái che", khá lộ liễu ? để tạo thành một đề tài "tục ca" muối mặt giang hồ theo kiểu tân Hồ Xuân Hương cuối thế kỷ 20. Trong thơ Nguyễn Đăng Tuấn, sự bộc lộ của t́nh ái thường được diễn tả bằng những thi ảnh lên xuống náo động, bồng bột, điển h́nh, gần như tả chân. Nguyễn Đăng Tuấn đă nhắc đi nhắc lại nhịp độ của t́nh yêu qua những tác động "xuống đèo" hoặc "xuống đồi" với thi ảnh "vấp ngă đôi chân ḷng bồi hồi" (DNTNTLYE, 56). Thi ảnh "vấp ngă" này được dùng ở đây như một cơ hội chuyển ngữ từ tiếng Anh "fall in love", trong âm hưởng "liên thảo".7 Việc chuyển ngữ từ sáo ngữ Anh "fall in love" có lẽ là một đề tài thích thú của Nguyễn Đăng Tuấn. Trong bài "Nhón" (DNTNTLYE, 40), nhà thơ cũng nói lên sự bộc lộ của t́nh ái qua thi ảnh lên xuống náo động, bồng bột, khi tác nhân đă phải "nhón" lên tới ba lần để có đà "vội ngă vào vàng tim em". Cái thú vị trong đà "ngă vào tim" người yêu, ngă vào t́nh ái, là ở chỗ Nguyễn Đăng Tuấn luôn luôn lồng bóng gió ngay trong ḷng sự thật: trong trắng đă được ẩn dụ ngay trong dục thể; hồn nhiên trong ảo thuật và sáng kiến trong tầm thường của sáo ngữ. Tất cả như để t́m lại niềm tin từ thất vọng, t́m lại dấu tích từ hư vô. Tác động "ngă" cũng có thể là phóng ảnh trở về với cái ngă trong bản ngă, về lại tâm linh của sáng kiến, khi chơi chữ đă nhường bước cho chữ chơi, khi sáo ngữ có cơ hội sống lại theo chiều sâu của tư tưởng, h́nh ảnh và âm điệu trong thi ca.

Sáng kiến có thể bắt gặp ngay trong những mối liên hệ bất ngờ giữa cụ thể và trừu tượng. Trong bài "Bất dung" trên, cụm từ "buồn nḥa tâm" đẹp và sống động lạ lùng. Thi ảnh đă biến chuyển từ một thị giác mờ nhoà bởi nước mắt sang hậu ảnh che lấp phần nào lư trí và ánh sáng của tâm linh. Nguyễn Đăng Tuấn đă kết nạp cụ thể với trừu tượng để lồng tạo thi ảnh một cách linh biến. Như trong cụm từ "ngọt tầm" (DNTNTLYE, 20) chẳng hạn, thi ảnh "tầm" rơi v́ t́nh yêu từ thể thu hút vật lư đă khéo léo chuyển hoá thành vị giác "ngọt" ngào, thành cảm giác lạc mạch ? cái nguồn vui êm dịu qua khe suối, từ trên cao chảy xuống: một thi ảnh vừa thơ mộng, vừa gợi cảm, vừa khêu gợi. Nếu cuộc sống c̣n vất vưởng trong do dự, trong cái tầm thường "bất dung" và bất toại, thơ hằng chọn con đường của t́nh ái để cảm hoá ḷng người. Điều đáng mừng là Nguyễn Đăng Tuấn đă thành công ngay trong việc làm t́nh với chữ trước khi ? và nhờ đó ? thành công với chính cuộc t́nh ḿnh. Thơ Nguyễn Đăng Tuấn cũng mang sứ mạng cứu văn thời cuộc như chủ đích của người kể truyện suốt Một Ngàn Một Đêm Lẻ để nhà vua mê say quên ra lệnh hành quyết kẻ tử tội bên ngoài. Có khác là nhà thơ vừa là kẻ bênh vực vừa là kẻ sống c̣n ngay trong ḍng thơ ḿnh tạo dựng: làm t́nh với chữ để tạo t́nh yêu và để chuộc lại hy vọng tồn sinh.

Trong khi thơ Du Tử Lê là loại thành tŕ chữ nghĩa, là tâm tư sắp xếp nghiêm chỉnh, vạch đường chỉ lối, khép (đóng), ngưng, nghiêng, ngắt, (bẻ), quanh, co, thủ thỉ, tḥng, (buộc), bắt, (trói), mở, moi, cắt, (cưng), vân, vê, vá, (vụn), to, nhỏ, thôi, (hồi), văn, (hỏi) ? một thứ mê hồn trận trong tâm hồn ngập đam mê ? thơ Nguyễn Đăng Tuấn lại là thứ thơ bỏ ngỏ để người đọc lạc ngay vào hồn chữ, "dường như" cũng để phải ḷng với chữ nghĩa ? phải ḷng với cuộc đời vậy.

LƯU NGUYỄN ĐẠT

1 Jonathan Culler, The Pursuit of Signs, Semiotics, Literature, Deconstruction, “The Mirror Stage”, p. 155-168. Cornell University Press, Ithica, New York, Third Printing, 1988.

2 Cùng tác phẩm trên, “The Mirror Stage”, p. 158.

3 Nguyễn Đăng Tuấn, Dường như tôi ngại thốt lời yêu em, Làng Văn, 1999. Trích dẫn trong bài tham luận sẽ ghi thi phẩm viết tắt DNTNTLYE

4 Xem Lưu Nguyễn Đạt, Văn Luận, “Chấm dứt luân hồi: cơ cấu ẩn dụ và hoán dụ trong thơ Du Tử Lê”, p.117

5 Xem định nghĩa từ “dung”, Hán-Việt từ Điển của Đào Duy Từ

6 Castration

7 Lây chữ nghĩa, dẫn tạo qua nhiều bản văn khác nhau, theo quan niệm “liên thảo” hay Intertextualité của Julia Kristéva.



Tác giả sinh năm 1940 tại Hà-Nội, Việt-Nam. Di cư vào Nam năm 1954. Định cư tại Hoa Kỳ từ năm 1975.

Cựu học sinh Lycée Albert Sarraut (Hà-Nội) và Lycée Yersin (Đà-Lạt), Cử nhân Văn chương Pháp. Cử nhân Luật (Đại Học Saigon), Cao học và Tiến sĩ Văn chương Pháp (MA, Ph.D, Michigan State University), Cao học / Hậu Tiến sĩ Luật (MCL, LLM, Howard Law School).

Thanh tra, Tổng thư kư Khu Kỹ Nghệ An Hoà Nông Sơn (Bộ Kinh Tế). Phó Tỉnh trưởng Quảng Nam. Giáo sư trung học Lycée Pascal (Đà-Nẵng) và Lycée Yersin (Đà-Lạt).

Giảng sư Pháp văn, Michigan State University (East Lansing, Michigan); Hood College (Frederick, MD)

Phối hợp viên, Chương tŕnh Song Ngữ Lansing Schools District, Michigan.

Phối hợp viên, Chương tŕnh Giáo huấn Đa Ngư Đa Văn (PEO), School of Education, University of Michigan (Ann Arbor, MI).

Luật sư Thực thụ Toà Thượng Thẩm Huế và Saigon. ? Chuyên viên Luật Quốc tế, VP Luật sư trưởng, IRS/Bộ Tài Chính, Chính phủ Liên Bang Hoa Ky.

Giám đốc Alpha Title & Settlement Company, thuộc Luật sư đoàn Virginia. Giám đốc International Legal Aid Center (ILAC) - Trung Tâm Trợ Dẫn Luật Pháp - hợp tác với Luật sư Herman M. Sawyer, Luật sư đoàn VA & Washington, D.C, & Federal Bankruptcy Court, Luật sư Charles Wall (Immigration) & Luật sư Lưu Thiên Kỳ, Luật sư đoàn New York.

TRONG LĂNH VỰC SINH HOẠT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT

Tổng thư kư Hôi Hoạ sĩ Trẻ, Việt-Nam (1972); Triển lăm Hội Hoạ, Điêu khắc tại Đà-Lạt, Sài-g̣n (Việt-Nam); California (Hand of Hope, Camp Pendleton, 1975), Michigan, Virginia (USA). ? Làm thơ, viết văn từ thập niên 1960.

Chủ nhiệm sáng lập, kiêm chủ bút, các tập san Carrefour (1960, Đại học Văn Khoa Saigon); Group Creation (1976, Michigan State University); Cỏ Thơm (1996, Virginia), Tư Tưởng Việt (2003, Virginia).

Sáng tác bốn thi phẩm: VÙNG CAO NƯỚC ẨN (Cỏ Thơm); HỒN NƯỚC (Cỏ Thơm); CA TỤNG NIỆM (Cỏ Thơm); PAROLES DE SABLE (Editions Fleuve de Minuit) ? và một số tác phẩm biên khảo: VĂN LUẬN (Cỏ Thơm); CẨM NANG LUẬT PHÁP HOA KỲ (Trung Tâm Trợ Dẫn Luật Pháp).

Dùng bút hiệu Lưu Nguyễn Đhạt (Đệm chữ “H” ở giữa tên ḿnh cho thêm hào hứng) khi làm thơ, hội hoạ.



Home