ĐỌC THƠ NGUYỄN ĐĂNG TUẤN
Hà Huyền Chi

Hà Huyền Chi



Những năm gần đây, thơ Nguyễn Đăng Tuấn xuất hiện đều đặn trên khắp báo chương, và báo điện tử. Cái ấn tượng tôi có với nhà thơ này là một dòng thơ rất trẻ ở hình thái và thi ngữ. Dường như Nguyễn Đăng Tuấn muốn làm mới thi ca bằng thể hiện cùng lúc sự trân trọng và bất cần ở cấu trúc? Cũng thế ở thi ngữ.

Chỉ thoáng nhìn thôi, người đọc dễ có cái cảm tưởng rằng Tuấn đã đùa bỡn với chữ nghĩa và buông thả trong vần điệu. Tưởng như Tuấn làm thơ thật dễ dàng. Đụng gì viết nấy. Nghĩ sao viết vậy. Viết ngay một mạch. Không cần gọt rũa. Và cũng không màng đọc lại những gì đã viết. Thế nên ở thơ Tuấn thường là lẫn lộn giữa những hạt thủy tinh lấp lánh và những sỏi đá sần sùi thô nhám. Giữa chọn lọc cầu kỳ và những nét vội vã chiếu lệ. Thơ rất thơ và thơ chẳng giống thơ.

Nghĩ như vậy cũng đúng thôi, nhưng có hơi oan uổng với người thơ. Có thể là Tuấn chưa phô diễn được điều anh muốn? Anh muốn nhiều quá? Có thể là ý hướng muốn cách tân thi ngữ nơi anh chưa đạt? Anh tự sáng tạo cho mình những chữ mới, những hình tượng riêng. Chẳng giống ai và cũng không ai giống mình. Tuấn cần một con đường dài hơn để tự trắc nghiệm tuổi nghề, và cũng là để trắc nghiệm lòng mình. Người ta có thể làm thơ cho vui, hoặc bỏ luôn không làm thơ. Nhưng với Nguyễn Đăng Tuấn thì thơ, trong giai đoạn gần đây đã là hơi thở, là sự sống của chính anh.

Do một tình cờ, tôi biết được Tuấn đã từng trải qua một thảm trạng tình duyên. Sự đổ vỡ hạnh phúc lứa đôi đã để lại trong anh một khủng hoảng tinh thần tồi tệ nhất. Và thơ đến với Nguyễn Đăng Tuấn như một mặc khải, cứu rỗi. Thêm vào sự khuyến khích của hai nhà thơ bạn là Bá Dĩnh, Thuỷ Trang, tác giả đã tìm được chốn nương náu phiền muộn đích thực. Trong thơ, với thơ.

Và trên diễn đàn thi ca của chúng ta có thêm sự nhập cuộc của người thơ Nguyễn Đăng Tuấn, với biệt danh là “Ngựa mải chân bon”. Anh cũng từng trợ thủ đắc lực cho vài tạp chí như Cảo Thơm ở DC, tờ Người Việt Quốc Gia ở Montréal. Và cũng thường xuyên góp tay góp tiếng trong những tổ chức ra mắt sách ở điạ phương.

Một cách nào đó, dường như thơ Nguyễn Đăng Tuấn có những nét tương đồng với thi sĩ Bùi Giáng ở cơn mê loạn cùng chữ nghĩa? Và thơ choáng ngợp mầu vàng của Van Gogh?

Bùi Giáng ưa nói chuyện với châu chấu, cào cào, thì Nguyễn Đăng Tuấn ưa nhắc đến đủ loại chim: chim sẻ, chích choè, ròng rọc, bói cá... Xin đơn cử một vài hình ảnh tiêu biểu như sau:


“Vì đâu mây đậu trên ngàn
Cho con chèo bẻo hót vàng nỗi vui”
(Em Ơi Tôi Ngại Thốt Lời Yêu Em)

“Bây giờ tình đã sang sông
Con chim bói cá lông nhông trên trời...”
(Bây Giờ)


“Tôi con chim xoải dòng thu muộn
Hỏi lá phong chừng dấu hoang liêu”...
(Có Chút Gì Anh Cũng Như Em)

“Ngủ ngoan đi nhé mộng lành
Đôi chim sẻ nhỏ sớm hanh nắng vàng”...
(Tình Mãi Ở Phương Đông)

“Này con chim chích choè khờ
Cũng theo phố núi bơ phờ ngóng ai?”
(Bài Phố Núi Thiền Hoang)

Mầu vàng trong thơ Tuấn cùng khắp:


“Vàng hoa hiu hắt lòng hoa đó”
“Tội con sông sớm mưa vàng gót chân”
“Có vàng câu nói lời hèn mọn thôi”
“Hoa vàng mấy đoá cụm vàng phơi”

Trên dưới 100 bài thơ trong thi tập đầu tay này là một trộn lẫn hồn nhiên giữ một bút pháp chưa định hình thế đó. Giữa những danh cúc, danh trà, là những thứ hoa đồng cỏ nội chen sống. Nhưng có lẽ nhiều người còn chưa biết Nguyễn Đăng Tuấn làm nhạc?

Giữa lời nhạc và lời thơ có đôi chút khác biệt ở thanh điệu và cấu trúc. Lời nhạc của Trịnh Công Sơn rất thơ, nhưng dường như họ Trịnh ấy đã chưa từng làm thơ? Nhạc dung nạp những sáo ngữ và chuyên tải theo nó một số hư từ. Đôi khi là những lập lại không cần thiết, khó chấp nhận được trong thơ. Lập lại ở thể điệu và tiết điệu, ở ngôn từ. Người viết lời nhạc thường phải cố vượt qua những khúc mắc bất tử ấy do tứ nhạc đòi hỏi. Người viết lời nhạc bình thường, sẽ ném vào cung bậc đột biến ấy một số hư từ, một mảng chữ làm dáng vô hạị Người có kiến thức hơn thì đem bầy hàng vô tội vạ những dấu ấn của triết, của thiền. “Làm sao em biết bia đá không đau?” hầu như không ăn nhập gì tới lời ca trữ tình của họ Trịnh trong bài Diễm Xưa. Nhưng đã cứu được Diễm Xưa ra khỏi những đơn điệu nhàm tẻ.

Nguyễn Đăng Tuấn có lẽ cũng không thoát ra khỏi cái khó khăn giữa người làm thơ và người viết lời nhạc? Bởi thơ đích thực, luôn chứa trong nó thứ nhạc riêng. Nhưng ngược lại, lời một bản nhạc thì hầu hết không là một cấu trúc thuần tính của thơ. Ta hãy “nghe” bài thơ Hương Tình của Nguyễn Đăng Tuấn dưới đây:


Người ở cùng ta ở cùng ta
Sương non vừa đậu dưới chân ngà
Bàn tay êm ấm len chân tóc
Mới ủ hương tình một tối qua

Này người đôi môi hồng đôi môi
Phấn son cũng còn thẹn bên người
Sáng nay con nắng còn ngái ngủ
Nên chút hương tình vẫn chưa phai

Này người đôi vai tròn đôi vai
Đêm qua da thịt ngát hương trời
Hương thơm còn nát nhầu bên gáy
Mang hồn phong nhụy đến chơi vơi

Này người hôm nao buồn ghé lại
Giữ mãi nụ hồng son trên môi
Long lanh thu ảo màu mắt biếc
Hương tình người quyện cả đời tôi
(Hương Tình)

Ba trong bốn đoạn thơ trên đã có nhiều chỉ dấu là lời viết cho nhạc hơn là cho thơ. Ba cặp mở đầu ở mỗi đoạn trên đã có chung một giai điệu và thể cách trình tự. Cũng không hề gì, nếu người viết bỏ vào đấy nhiều công phu hơn, như khi viết loại thơ bốn, hoặc năm chữ. (Thơ càng ít chữ, càng khó viết cho đạt, càng phải tuyển chọn nhiều hơn. Không có chỗ đứng cho những sáo ngữ, hư từ.)

Còn Chút Gì Anh Cũng Như Em là một trưng dẫn khác cuả Nguyễn Đăng Tuấn viết lời ca, và Nguyễn Đăng Tuấn làm thơ:


Có những đời xanh như cỏ rêu
Xuôi theo suối lượn mãi ban chiều
Tôi, con chim xoải dòng thu muộn
Hỏi lá phong chừng dấu hoang liêu

Có những hồn xanh như bóng cây
Lỡ như thu xám trơ thân gầy
Tôi cây cổ thụ mùa lá rớt
Còn chút bọng ròn trống bủa vây

Có những ngày xanh như biển quanh
Em, con sóng vỡ cuốn tình anh
Cả ngàn bọt trắng nhoà xô cát
Còn dấu ân tình xoá tim nhanh

Có những buồn xanh như buồn tôi
Bao năm quạnh quẽ bóng quê tồi
Nhập ra thủy tận vùng thương nhớ
Trải khắp chốn cùng mênh mang trôị
(Có Chút Gì Anh Cũng Như Em)

Những “bọng ròn, sóng vỡ...” là những cố gắng đáng kể của Nguyễn Đăng Tuấn trong ý hướng làm mới ngôn từ thi ca. Trong thơ Tuấn cũng có không ít những cụm từ mới khác còn là thử thách đối với người sành điệu như: “mầu lẫm, nạm thề, sũng ào, cay mờ, lẻ au, lẫm the...” Theo tôi, thi sĩ là người sáng tạo ra ngôn ngữ mới. Chúng được chấp nhận hay không còn là một dấu hỏi lớn, một cơ duyên nào đó. Trước đây vài thập niên, hẳn ít có ai trong chúng ta tưởng được rằng những từ thô xảm, vô duyên như: “sức mấy, hết xẩy, mút mùa, hàng xịn, chôm chĩa...” đã có được chỗ đứng trong ngôn ngữ nhân gian, và ở cùng văn chương.

Hy vọng rằng qua bài giới thiệu ngắn ngủi này, tôi đã nhìn đúng chân dung nhà thơ Nguyễn Đăng Tuấn ở nhịp thơ bình thường. Và những lúc thơ anh buông thả. Vô ý hoặc cố tình?


Phải Thu

Buồn riêng người ở thu sầu
Ngàn mây cũng hỏi người đâu chưa về
Buồn theo con sóng não nề
Chia vùng ký ức thành quê quán cùng.
(Ngựa Mải Chân Bon, 10/98)


Nhập Thất

Khi nhìn vách thấy rõ ràng
Thạch thùng tạch lưỡi vội vàng ra sân
Còn trong thạch thất đỏ rần
Chạy vòng chạy loạn cái tâm rập rình.
(04-19-99)

Khá nhiều người đã chết vì thơ, cho thơ, nhưng dễ đã mấy ai khiến thơ sống mãi. Hãy cứ là “Ngựa Mải Chân Bon”, và mãi dành cho thơ một tấm lòng. Thế nhé, bạn ta.

HÀ HUYỀn CHI
071799



Home