Phong Ðiền



 
 
 

        Quận lỵ Phong Ðiền có tên là Phò Trạch. Còn được gọi là Trạch Thượng, để phân biệt với Trạch Hạ, tức làng Phò Trạch nơi tôi đã học tiểu học. Ðây là điểm giữa của đoạn đường Huế và thị xã Quảng Trị. Ðoạn đường này, vài năm sau được một phóng viên chiến trường người Pháp đặt tên dãy phố buồn thiu, trong thời kỳ Việt cọng tổng tấn công vào mùa hè 1972. Khi tôi đến trọ học, thị trấn này khá tấp nập. Ngoài văn phòng hành chánh của quận, đây còn là nơi đặt hậu cứ của bộ chỉ huy trung đoàn 3 bộ binh. Bấy giờ chiến tranh đã trở nên qui mô hơn. Việt cọng đã chuyển từ chiến tranh du kích qua trận địa chiến. Hằng đêm, thị trấn thường bị pháo kích. Có một số dân ở vùng quê mất an ninh về tạm trú ở đây.
        Từ hướng ngoài nhìn vào, sẽ thấy thị trấn có phong cảnh khá nên thơ. Thị trấn được vây bọc bởi những đồi dương liễu cao vút, lả lướt, vi vu theo gió. Từ Huế đi xe đò ra, trước khi vào thị trấn thì đã gặp ngay văn phòng hành chánh quận đầu tiên về phía tay phải, tiếp liền một bãi đất trống, kế đó là trường của tôi. Phía bên tay trái có bệnh xá, nằm gần bệnh xá là dãy nhà với cái sân rộng, đó là văn phòng hành chánh xã Phong Nguyên.
        Trường học của tôi chỉ là một ngôi nhà khiêm tốn, nếu không thấy học trò ngồi bên trong, chắc chắn chẳng ai nghĩ đó là trường học. Trước kia, ngôi nhà nầy được dùng để chứa đựng vật liệu nông nghiệp. Khi có nghị định của bộ quốc gia giáo dục, lý do bởi quận còn nghèo, nên lấy tạm ngôi nhà này làm cơ sở giảng dạy trước rồi tính sau. Trường có 3 phòng luân lưu cho 4 lớp thất lục ngũ tứ chúng tôi. Phòng chính giữa còn được ngăn dọc ra 2 phần, bằng một tấm màn vải dày. Phần nhỏ chiếm khoảng 1/3 diện tích dùng để làm văn phòng hiệu trưởng, với chỗ hội họp của thầy cô giáo. Phần rộng còn lại là lớp học. Chúng tôi học chạy, thay đổi phòng theo mỗi giờ học. Tất cả thầy cô giáo đều ở Huế. Cứ buổi sáng thầy cô đi xe đò ra, chiều dạy xong thì đáp xe đò vô Huế lại.
        Từ trường đi tới hướng nghịch với văn phòng hành chánh là hai dãy hàng quán hơi cách xa mặt đường, có nhiều cây lớn che bóng. Hai bên lề đường là trạm xe đò. Xe đi Huế, Quảng Trị vô ra đều dừng đây rước khách, hoặc lên xuống hàng hóa. Phía sau lưng dãy hàng quán ở bên kia đường là chợ. Chợ đông vào buổi sáng đến chừng 3 giờ chiều thì chợ vãn. Ðây có một ngã ba, đi về khu tân lập Tân Nguyên của giáo dân Công giáo. Trong khu vực này có trường trung học tư thục. Nhánh rẽ này là hương lộ huyết mạch cho miền dưới. Ðây là đường về Phong Lộc, về phá Tam Giang, tôi cũng có thể đi về nhà của mình bằng con đường này, nhưng hơi xa.
        Vừa ra khỏi khu vực chợ, cặp hai bên quốc lộ, phía bên phải là doi đất cao. Nơi đó có một đám rừng dương liễu nhỏ trải rộng ra tận con đường xe lửa, cũng chạy cặp song song với quốc lộ. Phần còn lại là bãi đất trống dùng làm bãi đáp cho máy bay trực thăng chạy dài tận đến ga xe lửa. Phía trái, khu vực gần chợ là lũng đất khá thấp so với mặt đường, có nhiều căn nhà nằm sát nhau. Lũng đất này khi chạy tới nhà bác Phụng, nơi tôi trọ học thì trồi cao gần ngang với mặt đường trở lại. Phía sau lưng nhà tôi trọ cũng vẫn là những đồi dương liễu bao bọc, như một điểm tựa cho thị trấn. Vẫn theo hướng bắc, con đường chạy thẳng gặp cây cầu sắt bắc qua sông Ô lâu hữu trạch, được dùng chung cho xe lửa và xe hơi. Gần múi cầu sắt này, hai bên đầy những lô cốt pháo đài. Ðó là hậu cứ của bộ chỉ huy trung đoàn 3 bộ binh.
        Thất vọng lớn cho tôi, khi tôi hiểu rõ về những đồi dương liễu này. Nó cũng như cái cầu tréo, hoặc đám ruộng gần xóm của quê tôi. Nhìn xa thì rất quyến rủ, nhưng đến gần thì quá nặng mùi. Nơi đây, dân chúng cũng chẳng nhà nào chịu làm cầu tiêu riêng. Nên chi, lúc nhu cầu cơ thể đòi hỏi, thôi thì chạy đi tìm gốc dương liễu mà nín thở tâm sự. Nhưng dù sao tiếng dương liễu reo trong gió vẫn mê hoặc tâm hồn tôi.

        Tôi ở trọ nhà của vợ chồng bác Phụng, bác có người con trai là anh Hàng, bạn của anh Chính. Nhà của bác chuyên nấu cơm tháng cho bọn học trò xa nhà như tôi. Nhà có mái và phên che đều bằng tranh, nằm sát quốc lộ, được bác ngăn làm hai. Một là nhà cho chúng tôi ngủ và học. Một nhà nhỏ hơn, nằm ngang ở bên hông, dùng làm nhà bếp và ăn uống. Chúng tôi ở đây chừng 10 đứa. Chỉ mấy đứa học lớp lớn hơn là có vẻ linh lợi. Còn bọn lớp đệ thất thì khờ khạo, nhếch nhác giống nhau. Chúng tôi cùng ăn, ngủ, học chung vui vẻ. Sau lưng nhà là một căn hầm trú ẩn rộng rãi, kiên cố, nằm sâu dưới lòng đất, bên trên chất đầy bao cát. Hầm đủ chứa cho 20 chục người ngồi sát nhau.
        Từ cuộc sống quen được bao bọc che chở của gia đình. Từ miếng ăn tấm áo, nhất nhất đều được cha mẹ cùng mấy anh lo lắng. Khi tới đây trọ học, tôi thấy cuộc sống không nhân ái bình lặng như ở nhà mình. Tôi nghĩ ai cũng như mình, nghĩa là thật thà không có láu cá tranh giành. Thực tế trái ngược. Khoảng thời gian đầu tôi thường bị đói, bởi vì khi ăn tôi hay nhẩn nha như có cha mẹ anh em bên cạnh. Ăn chưa hết chén cơm đầu, ngó lại trên bàn, món ăn nào hầu như cũng sạch. Như một câu mẹ thường phát biểu mỗi khi người bênh vực chúng tôi. Ðể rồi mấy đứa con ra khỏi nhà mới học khôn được. Ðúng quá, bản năng con người tôi chỗi dậy. Thời gian sau tôi ăn nhanh hơn. Tôi không tham, ăn đủ no phần mình rồi vọt.
        Những đứa bạn học của tôi đều thích ba hoa, ngay cả mấy đứa học lớp cao hơn. Ðứa nào cũng có vẻ ta đây. Ở chung nhà, cùng lớp với tôi, có ba đứa ở làng Cổ Bi, thuộc xã Phong Sơn. Ðặc điểm của 3 đứa này là chỉ có tên họ, chứ không có chữ lót ở giữa. Ðó là Trần Phước, Bùi Lợi, Lê Thắng. Vì chúng ở vùng cận sơn, nên tôi hỏi han về phong cảnh núi rừng. Tôi còn hỏi chúng nó có ở gần Thanh Tân không. Vì Thanh Tân là chánh quán của Hàn Mặc Tử. Chúng thường hù tôi về cảnh hoang dại của rừng núi. Chúng giảng giải cho tôi thế nào là mang lạc nát làng. Tôi tò mò, nên vẫn lắng nghe. Tôi có khuyết điểm rất dễ tin. Ngoài ra còn có mấy đứa ở xã khác về. Như Lê văn Mỹ, biết nấu ăn. Như Trương Tu, to con khờ khạo. Như Lê Hoành Cuộc, vở học lúc nào cũng trang trí đẹp đẽ. Như Trần văn Ưu, mặt mũi trầm tư. Như Nguyễn Ðức Hoành, cười má lúm đồng tiền. Mấy đứa lớp lớn hơn, trông có vẽ già dặn. Có Lê Thừa Ðổng viết chữ đẹp. Có Nguyễn Văn Cách phong thái vui tếu. Có Trương Minh Lộc học giỏi hay ba hoa. Có Bùi Quang Cân, đôi mắt nheo nheo.
        Ngủ cũng là một vấn đề, chúng tôi đứa nào cũng sợ ma, không dám nằm phía trong hay phía ngoài bìa giường. Bác Phụng giải quyết dùm bằng cách đề nghị cho chúng tôi bốc xăm. Tôi cũng đôi lần gặp xui, không được nằm giữa. Nhưng xui nhất là Hoành, hay bị phải nằm ngoài. Khi bị như thế, Hoành thường trùm mền kín mít. Những đứa rắn mặt như Mỹ thường dọa thêm là ma đang phét phên thò tay vô. La lối thế nào thì chốc lát sau cả bọn cũng đều ngủ khò. Trong giấc ngủ có đứa khóc, có đứa nghiến răng, có đứa khò khè như bị suyển. Tôi thường thức giấc vì những tiếng động như thế. Có đứa đái dầm, nửa đêm cả bọn phải thức, khiêng thủ phạm ra bắt đi tắm. Bọn chúng tôi lớn nhỏ không đồng đều, nhưng có điều chung là đứa cũng vừa rời khỏi sự săn sóc của gia đình. Trông bơ ngơ báo ngáo như nhau. Thỉnh thoảng thị trấn bị Việt cọng pháo kích. Thế là cả bọn phải chạy xuống hầm trú ẩn sau lưng nhà. Hôm sau đến trường đứa nào mắt cũng đỏ kè, mặt mũi mệt mỏi.
        Anh Hàng cũng thích đọc nhật báo. Báo anh mua từ Huế, được gửi ra cho anh theo xe đò mỗi ngày. Báo đọc xong anh sắp xếp để một chồng, chiếm một góc bàn học. Tôi tha hồ đọc ké. Bác Phụng có một cô con gái tên Thu Mai, đang học lớp đệ tứ, bọn chúng gọi bằng chị. Mai khuôn mặt lẫn dáng dấp trung bình, chỉ có đôi mắt ướt át lãng mạn. Mai thích sưu tập những câu danh ngôn, chép kín một cuốn sổ tay, nói về tình yêu tan tác đổ vỡ. Ngoài câu yêu là chết trong lòng một ít, câu thơ phỏng theo thơ Pháp của Xuân Diệu. Mà có đứa cả gan ngâm ư ử yêu là ị trong quần một ít. Mai chép có nhiều câu là lạ đối với tôi. Chẳng hạn tình yêu nhìn từ xa là hạt kim cương, nhưng khi lại gần đó là giọt nước mắt. Hoặc yêu là xây một nấm mộ trong lòng, quấn một vòng khăn tang trong tim. Tuy nội dung sáo mòn, nhưng những câu đó cũng nói dùm tâm trạng cho nhiều người.
        Bên hông phải nhà trọ có khoảng đất cát ùn lên vài ngôi mộ. Khoảng đất này lài thấp xuống mé sau. Nơi đó có hai cái giếng nước, là nguồn nước chính được dùng để nấu ăn giặt giũ. Buổi sáng thường cả bầy thức sớm rủ nhau đi thăm rừng dương liễu, sau đó lại quần tụ quanh hai cái giếng này để rửa mặt đánh răng. Cũng ở hướng bên hông này, nhưng sát với quốc lộ là quán hớt tóc của bác Phụng. Khách hàng của bác là bọn chúng tôi và lính tráng. Khác với bác gái trầm ngâm, bác Phụng trai năng động vui tính. Bác lại thích nhâm nhi, mỗi ngày bác làm dăm ba ly. Khi ngây ngây, bác thường kể cho chúng tôi nghe nhiều chuyện. Như chuyện hồi trước bác đi lính cho Tây, vì bác nhỏ con nên bận quần là phải kéo lên tận nách. Tiếng nói của bác to lớn hào sảng thu hút. Bác thường dạy chúng tôi đọc tiếng Pháp bằng giọng mũi. Ðiểm độc đáo của bác là khi có rượu vào, bác cắt tóc rất đẹp. Khi bác thiếu rượu thì tay nghề của bác không giống ai.

        Những lần cuối tuần mà không về thăm nhà, mấy đứa chúng tôi thường đi theo bác lên những ngọn đồi hoang chung quanh thị trấn kiếm củi. Mỗi lần đi là một khám phá mới. Mấy bác cháu thường đi ra hướng sông Ô Lâu, sau khi qua khỏi cầu, thì men theo quốc lộ một chặng. Sau đó bắt theo những con đường mòn đi tấp vào hướng núi. Trong lúc mấy đứa khác cặm cụi cùng bác chặt củi, đóng bó để gánh về. Tôi chỉ biết leo lên những điểm cao nhất của ngọn đồi, ngó mông bốn phía. Những chân trời xa tắp kia như có một mãnh lực vô hình quyến dụ bước chân tôi. Sau những ngọn đồi hoang loang lở màu đỏ quạch là rặng trường sơn hùng vĩ trải dài bất tận. Màu xanh của núi loang xa đến chân trời tít mù hòa lẫn với mây trắng tạo thành một màng sương đục lờ mờ. Tôi xao xuyến, thấy tâm thân của mình run nhè nhẹ. Lúc nào cũng vậy, khi trở về bác Phụng thường trêu đùa tôi mơ mộng đã bưa chưa.
       
Lần khác, bác dẫn chúng tôi đi cặp theo bờ sông ngược lên hướng thượng nguồn. Chúng tôi đi trong rừng lồ ô. Có lúc chân cẳng bị gai đâm chảy máu. Tôi sợ nhất là những con vắt, nó giống như con đỉa, nhưng nằm thu mình trong lá cây. Cứ nghe có hơi người là vắt bắn theo vun vút. Nó bám vào chân tay dứt mãi không ra. Nó cũng hút máu người như giống đỉa.

        Tôi học hành bình thường, nhưng không có sự kềm cặp của gia đình như trước. Trực giác bén nhạy mà bấy giờ tôi lầm tưởng với sự thông minh đã làm hại tôi. Trong lúc mấy đứa bạn khác cần cù học tập, thì tôi ngược lại cứ ỷ lại vào sự thông minh ảo tưởng của mình. Môn học nào tôi vừa chép xong bài là cho mình đã hiểu trọn. Tôi không còn dẫn đầu lớp như thời tiểu học mà chỉ thuộc loại trên trung bình. Tháng nào tôi cũng ở khoảng từ thứ 5 cho đến thứ 10 trong lớp. Mặc dù mới lớp đệ thất, nhưng chúng tôi học rất nhiều môn. Như môn quốc văn chẳng hạn, môn này cũng chia ra ba thứ kim văn, cổ văn, luận văn. Về toán thì có hình học, đại số, số học. Và nhiều môn khác như địa lý, sử ký, công dân, vạn vật, lý hóa, anh văn...

        Trong tâm hồn đã bắt đầu những dấu hiệu nhột nhạt. Tôi cảm thấy mình có cái gì đó đang muốn chực trào ra. Một buổi trưa, tôi ăn cơm xong trước. Tiết trời nóng nảy, tôi đi ra quán hớt tóc của bác Phụng ngồi ngớt mặt ngó mông ra đường. Từng chuyến xe đò đầy khách chạy ngang trước mắt tôi. Trưa nắng hun hút tỏa nhiệt chụp xuống khiến cho mặt đường chảy nhựa. Tôi thèm thuồng được làm hành khách đang ngồi trên xe. Xe chạy về đâu cũng được. Về đâu cũng là những chân trời mới, không tù túng như nơi đây. Tự dưng tôi nhớ nhà, không phải tôi nhớ đến cha mẹ hay anh em, mà tôi nhớ đến những cái gì trừu tượng không sắc không hình. Như tiếng của tàu lá chuối lộp độp trong những đêm mưa, như tiếng gà gáy trong trưa vắng. Hoặc xa hơn là tiếng hò heo hút trong đêm. Tôi đã bật lên, một trong những giòng thơ đầu tiên của cuộc đời. gác trọ buồn vắng lặng, của những kẻ tha hương, mong ngày về cố quận, ngồi trong mái nhà xưa. lộ một buồn heo hút, cây than thở bên đường, thương cho người xa xứ, không gần kẻ thân yêu. Những câu thơ tuy tầm thường, nhưng nó đã làm cho thần trí tôi nhẹ bớt đi một đôi phần.
        Tôi có nhiều bạn mới, về sau trở thành thân thiết. Ðó là Lê Trọng Kế, Nguyễn Quốc Thông ở làng Phước Tích. Nguyễn Ðức Khoán ở làng Mỹ Chánh. Là Hoàng Xuân Sáu, người ở dãy phố Hòa Viện, gần chợ Hôm. Tôi còn có thêm hai đứa bạn, học trên tôi một lớp là Ðoàn Văn Giới và Hoàng Phước Sanh.
        Thầy dạy quốc văn của tôi là cô Xuân Trang. Cô khá lớn tuổi, dáng cô đi hơi khòng, lại chưa có chồng nên chi khó tính. Cô cho điểm rất gắt. Những bài luận của học trò, cô chưa bao giờ cho lên quá 12 điểm. Bài luận cao điểm nhất của tôi khi tôi học với cô là 11 điểm. Sau vài tháng, cô đổi đi dạy lớp khác. Thay thế cô là thầy Hiển, thầy có vẻ nghiêm qua cặp mắt hơi lộ, hai môi thầy túm lại như muốn trấn áp nụ cười muốn chực trào ra. Thầy cho điểm rộng rãi. Một kỷ niệm với thầy, tôi nhớ có một bài luận văn, thầy cho tôi 14 điểm. Sau khi phát bài cho chúng tôi xong, thầy gọi tôi lên bàn của thầy. Thầy khen bài luận tôi viết mạch lạc rõ ràng, khá nhất lớp. Tôi chưa có phản ứng bỗng thầy nói luôn. Nhưng thầy thấy là có vài câu em chép lại từ trong sách. Tôi hỏi thầy sách nào. Thầy trả lời không biết, nhưng thầy nói sau khi chấm bài của tôi thầy đã có cảm giác như vậy. Thầy quyết định trừ bớt tôi 3 điểm. Như vậy bài luận của tôi chỉ còn 11 điểm. Tôi dạ dạ, cám ơn thầy cho xong chuyện rồi trở về chỗ ngồi. Buổi trưa tôi gặp Kế nói chuyện này. Kế lấy bài luận của tôi đọc một hơi. Kế chỉ nói, thầy vô lý, nếu thầy nghĩ là mi chép sách thì phải cho mi 1 điểm hay zêrô, răng thầy chỉ trừ mi có 3 điểm. Sau lần này, không biết thái độ của thầy đối với tôi thay đổi ra sao, mà thầy thường lấy những bài luận của tôi đọc cho cả lớp nghe. Dù rằng nhiều lần bài của tôi thua điểm vài đứa khác. Tôi không ngạc nhiên khi thầy cho rằng tôi chép lại sách. Vì tôi ham đọc, có thể có những câu văn hay đã nhập tâm mình từ hồi nào mà mình không hay biết. Ðiều này chứng minh rõ ràng hơn khi tôi bắt đầu làm thơ. Thêm một khía cạnh nữa, có thể thầy Hiển đã đánh giá thấp bọn học trò nhà quê chúng tôi.

        Có những buổi chiều, sau khi cơm nước xong, tôi thường ra ngồi ở mấy khúc cây cạnh quán hớt tóc. Buổi chiều, hai cái giếng nước khá tấp nập. Thiên hạ đi gánh nước về để dùng cho ngày hôm sau. Trong đám này, tôi chú ý đến một cô gái vóc dáng mảnh mai, bận bộ đồ bà ba đen, có khuôn mặt trắng dịu thanh tú, với đôi mày nguyệt đậm màu đen tuyền cùng đôi môi hồng tự nhiên. Ðặc sắc nhất là mái tóc thề mượt mà xỏa xuống ngang lưng. Dù đôi thùng nước chĩu nặng cũng không làm mất hết nét mềm mại trong bước đi. Con đường xuống giếng hầu như cặp sát bìa hông nhà tôi trọ. Cứ mỗi lần lên đến bên quán hớt tóc, cô lại hạ gánh xuống ngồi nghỉ mệt. Tôi thấy trên vầng trán phẳng của cô lấm tấm mồ hôi. Cô đặt cái đòn gánh vắt ngang trên hai thùng nước, xong ngồi lên, quay mặt về phía tôi. Một tay cô chống lên đòn gánh, còn một tay vòng ra phía sau để lùa mái tóc về phía trước ngực. Ðầu cô nghiêng nghiêng, khiến cho lọn tóc chảy xuống tạo thành vòng cung che khuất nửa khuôn mặt. Màu đen mái tóc hòa lẩn cùng làn da trắng của khuôn mặt trông thật quyến rủ. Ðôi mắt cô to đen giữa hàng lông mi mông lung. Tôi chăm chú nhìn. Ðôi lúc cô nhìn lại, tôi thấy trong ánh mắt có một cái gì gờn gợn nao nao. Khi cô đứng lên, tiếp tục gánh nước về nhà. Tôi cũng trở vô nhà trọ để ôn bài vở, ánh mắt cô như vẫn còn đi theo. Sau này tôi dò ra mới biết cô tên Gái, con gái của chủ nhân cái quán ăn ở ngã ba đằng phía chợ.
        Trước mặt của nhà bác Phụng, phía bên kia đường, qua khỏi đường xe lửa, như đã nói đó là bãi đất trống được dùng làm bãi đáp cho máy bay trực thăng, gồm có đất cát trộn lẫn lộn với một loại sỏi màu đỏ quạch. Cứ mỗi lần có trực thăng lên xuống là bãi đất dậy đầy bụi đỏ mù mịt. Ði xuyên qua bãi đất trống, sẽ thấy một ngôi chùa còn mới. Chùa có phong cảnh bao quát bên ngoài đẹp mắt. Từ đây trông qua, sẽ thấy bãi đất này và nơi chùa tọa lạc như hai ngọn đồi được phân chia bằng một cái thung lũng nhỏ ở giữa. Ở giữa cái thung lũng nhỏ này có một số mồ mả, với một cái hồ nước đầy loại bèo con. Ði vào chùa là hai con đường nhỏ vòng hai bên theo hình cánh cung với hai hàng cây bạc hà đều đặn cao ngất. Tôi thường mang vở sách vở qua đây để học. Nói là học, nhưng vẩn vơ là chính. Bên trong chùa trang trí sơ sài. Giữa chính điện có một tượng phật bằng đồng khá lớn. Ði thẳng phía sau là cái hậu liêu nhỏ. Chùa chẳng có sư trụ trì, cũng không có ai trông nom. Nơi đây năm sau, là nơi tôi hẹn hò lần đầu tiên với một người nữ trong đời của mình.

        Thị trấn không còn một giây phút yên tĩnh nào. Ðêm cũng như ngày. Không có tiếng trực thăng từ bãi đất phía trước, thì lại có tiếng lồng lộn của xích sắt nghiến nát mặt đường những đoàn thiết vận xa M.113. Ðêm đêm, lính tráng say sưa cờ bạc chạy rượt lộp cộp vang mặt đường. Nhiều buổi học bị gián đoạn vì đường bị đắp mô, có những chuyến xe đò bị mìn nổ tung. Cho nên khi thầy cô ra tới trường thì đã hết giờ học, lại phải loay hoay đón xe đò vô Huế trở lại. Chúng tôi phải chịu những điều bất thường như thế.
        Bên hông cánh trái của trường có một khoảnh đất nhỏ. Chỗ đó thường dùng để bêu những tử thi Việt cọng. Mỗi lần binh lính kéo xác Việt cọng về, một số dân chúng bu lại coi. Trong đó có mấy đứa bạn học bạo gan của tôi. Tôi chỉ đứng xa xa chớ không có lần nào đến gần. Có thể vì nhát gan, nhưng lý do chính tôi thấy như vậy là bất nhẫn. Chết là hết. Tôi nhớ lời cha. nghĩa tử, nghĩa tận. Tôi tự hỏi tại sao chính quyền không đem những tử thi đó chôn quách đi. Dĩ nhiên chiến tranh có những điều phi lý vô nghĩa như thế. Có những lần tôi chạm mặt với những tù binh Việt cọng bị bắt về trong những cuộc hành quân. Họ đều bị trói quặt tay ra phía sau lưng. Ai nấy quần áo rách bươm, mặt mũi thâm tím, đôi mắt lạc thần. Tôi thầm nghĩ ước chi mình có đủ quyền lực để buông tha họ.


nguyễn đức bạtngàn / thầm lặng trời, thầm lặng đất