Phong Ðiền
Quận lỵ Phong Ðiền có tên là Phò Trạch. Còn
được gọi là Trạch Thượng, để phân biệt
với Trạch Hạ, tức làng Phò Trạch nơi tôi đã
học tiểu học. Ðây là điểm giữa của đoạn
đường Huế và thị xã Quảng Trị. Ðoạn đường
này, vài năm sau được một phóng viên chiến
trường người Pháp đặt tên dãy phố buồn thiu,
trong thời kỳ Việt cọng tổng tấn công vào mùa
hè 1972. Khi tôi đến trọ học, thị trấn này khá
tấp nập. Ngoài văn phòng hành chánh của quận,
đây còn là nơi đặt hậu cứ của bộ chỉ huy
trung đoàn 3 bộ binh. Bấy giờ chiến tranh đã
trở nên qui mô hơn. Việt cọng đã chuyển từ
chiến tranh du kích qua trận địa chiến. Hằng đêm,
thị trấn thường bị pháo kích. Có một số dân
ở vùng quê mất an ninh về tạm trú ở đây.
Từ hướng
ngoài nhìn vào, sẽ thấy thị trấn có phong cảnh
khá nên thơ. Thị trấn được vây bọc bởi
những đồi dương liễu cao vút, lả lướt, vi vu
theo gió. Từ Huế đi xe đò ra, trước khi vào thị
trấn thì đã gặp ngay văn phòng hành chánh quận
đầu tiên về phía tay phải, tiếp liền một bãi
đất trống, kế đó là trường của tôi. Phía
bên tay trái có bệnh xá, nằm gần bệnh xá là
dãy nhà với cái sân rộng, đó là văn phòng
hành chánh xã Phong Nguyên.
Trường học của
tôi chỉ là một ngôi nhà khiêm tốn, nếu không
thấy học trò ngồi bên trong, chắc chắn chẳng ai
nghĩ đó là trường học. Trước kia, ngôi nhà
nầy được dùng để chứa đựng vật liệu nông
nghiệp. Khi có nghị định của bộ quốc gia giáo
dục, lý do bởi quận còn nghèo, nên lấy tạm
ngôi nhà này làm cơ sở giảng dạy trước rồi
tính sau. Trường có 3 phòng luân lưu cho 4 lớp
thất lục ngũ tứ chúng tôi. Phòng chính giữa
còn được ngăn dọc ra 2 phần, bằng một tấm
màn vải dày. Phần nhỏ chiếm khoảng 1/3 diện tích
dùng để làm văn phòng hiệu trưởng, với chỗ
hội họp của thầy cô giáo. Phần rộng còn lại
là lớp học. Chúng tôi học chạy, thay đổi
phòng theo mỗi giờ học. Tất cả thầy cô giáo
đều ở Huế. Cứ buổi sáng thầy cô đi xe đò
ra, chiều dạy xong thì đáp xe đò vô Huế lại.
Từ trường đi
tới hướng nghịch với văn phòng hành chánh là
hai dãy hàng quán hơi cách xa mặt đường, có
nhiều cây lớn che bóng. Hai bên lề đường là
trạm xe đò. Xe đi Huế, Quảng Trị vô ra đều
dừng đây rước khách, hoặc lên xuống hàng
hóa. Phía sau lưng dãy hàng quán ở bên kia
đường là chợ. Chợ đông vào buổi sáng đến
chừng 3 giờ chiều thì chợ vãn. Ðây có một
ngã ba, đi về khu tân lập Tân Nguyên của giáo
dân Công giáo. Trong khu vực này có trường trung
học tư thục. Nhánh rẽ này là hương lộ huyết
mạch cho miền dưới. Ðây là đường về Phong
Lộc, về phá Tam Giang, tôi cũng có thể đi về
nhà của mình bằng con đường này, nhưng hơi xa.
Vừa ra khỏi khu
vực chợ, cặp hai bên quốc lộ, phía bên phải
là doi đất cao. Nơi đó có một đám rừng dương
liễu nhỏ trải rộng ra tận con đường xe lửa,
cũng chạy cặp song song với quốc lộ. Phần còn
lại là bãi đất trống dùng làm bãi đáp cho
máy bay trực thăng chạy dài tận đến ga xe lửa.
Phía trái, khu vực gần chợ là lũng đất khá
thấp so với mặt đường, có nhiều căn nhà nằm
sát nhau. Lũng đất này khi chạy tới nhà bác
Phụng, nơi tôi trọ học thì trồi cao gần ngang
với mặt đường trở lại. Phía sau lưng nhà tôi
trọ cũng vẫn là những đồi dương liễu bao bọc,
như một điểm tựa cho thị trấn. Vẫn theo hướng
bắc, con đường chạy thẳng gặp cây cầu sắt
bắc qua sông Ô lâu hữu trạch, được dùng chung
cho xe lửa và xe hơi. Gần múi cầu sắt này, hai
bên đầy những lô cốt pháo đài. Ðó là hậu
cứ của bộ chỉ huy trung đoàn 3 bộ binh.
Thất vọng lớn
cho tôi, khi tôi hiểu rõ về những đồi dương
liễu này. Nó cũng như cái cầu tréo, hoặc đám
ruộng gần xóm của quê tôi. Nhìn xa thì rất
quyến rủ, nhưng đến gần thì quá nặng mùi. Nơi
đây, dân chúng cũng chẳng nhà nào chịu làm
cầu tiêu riêng. Nên chi, lúc nhu cầu cơ thể đòi
hỏi, thôi thì chạy đi tìm gốc dương liễu mà nín
thở tâm sự. Nhưng dù sao tiếng dương liễu reo
trong gió vẫn mê hoặc tâm hồn tôi.
Tôi ở trọ nhà của vợ chồng bác Phụng, bác
có người con trai là anh Hàng, bạn của anh Chính.
Nhà của bác chuyên nấu cơm tháng cho bọn học
trò xa nhà như tôi. Nhà có mái và phên che
đều bằng tranh, nằm sát quốc lộ, được bác
ngăn làm hai. Một là nhà cho chúng tôi ngủ và
học. Một nhà nhỏ hơn, nằm ngang ở bên hông,
dùng làm nhà bếp và ăn uống. Chúng tôi ở
đây chừng 10 đứa. Chỉ mấy đứa học lớp
lớn hơn là có vẻ linh lợi. Còn bọn lớp đệ
thất thì khờ khạo, nhếch nhác giống nhau. Chúng
tôi cùng ăn, ngủ, học chung vui vẻ. Sau lưng nhà
là một căn hầm trú ẩn rộng rãi, kiên cố,
nằm sâu dưới lòng đất, bên trên chất đầy
bao cát. Hầm đủ chứa cho 20 chục người ngồi
sát nhau.
Từ cuộc sống
quen được bao bọc che chở của gia đình. Từ
miếng ăn tấm áo, nhất nhất đều được cha mẹ
cùng mấy anh lo lắng. Khi tới đây trọ học, tôi
thấy cuộc sống không nhân ái bình lặng như ở
nhà mình. Tôi nghĩ ai cũng như mình, nghĩa là thật
thà không có láu cá tranh giành. Thực tế trái
ngược. Khoảng thời gian đầu tôi thường bị
đói, bởi vì khi ăn tôi hay nhẩn nha như có cha
mẹ anh em bên cạnh. Ăn chưa hết chén cơm đầu,
ngó lại trên bàn, món ăn nào hầu như cũng
sạch. Như một câu mẹ thường phát biểu mỗi khi
người bênh vực chúng tôi. Ðể rồi mấy đứa
con ra khỏi nhà mới học khôn được. Ðúng quá,
bản năng con người tôi chỗi dậy. Thời gian sau
tôi ăn nhanh hơn. Tôi không tham, ăn đủ no phần
mình rồi vọt.
Những đứa bạn
học của tôi đều thích ba hoa, ngay cả mấy đứa
học lớp cao hơn. Ðứa nào cũng có vẻ ta đây.
Ở chung nhà, cùng lớp với tôi, có ba đứa
ở làng Cổ Bi, thuộc xã Phong Sơn. Ðặc điểm
của 3 đứa này là chỉ có tên họ, chứ không
có chữ lót ở giữa. Ðó là Trần Phước,
Bùi Lợi, Lê Thắng. Vì chúng ở vùng cận sơn,
nên tôi hỏi han về phong cảnh núi rừng. Tôi
còn hỏi chúng nó có ở gần Thanh Tân không. Vì
Thanh Tân là chánh quán của Hàn Mặc Tử. Chúng
thường hù tôi về cảnh hoang dại của rừng
núi. Chúng giảng giải cho tôi thế nào là mang
lạc nát làng. Tôi tò mò, nên vẫn lắng nghe.
Tôi có khuyết điểm rất dễ tin. Ngoài ra còn có
mấy đứa ở xã khác về. Như Lê văn Mỹ, biết
nấu ăn. Như Trương Tu, to con khờ khạo. Như Lê
Hoành Cuộc, vở học lúc nào cũng trang trí đẹp
đẽ. Như Trần văn Ưu, mặt mũi trầm tư. Như
Nguyễn Ðức Hoành, cười má lúm đồng tiền.
Mấy đứa lớp lớn hơn, trông có vẽ già dặn.
Có Lê Thừa Ðổng viết chữ đẹp. Có Nguyễn
Văn Cách phong thái vui tếu. Có Trương Minh Lộc
học giỏi hay ba hoa. Có Bùi Quang Cân, đôi mắt
nheo nheo.
Ngủ cũng là
một vấn đề, chúng tôi đứa nào cũng sợ ma,
không dám nằm phía trong hay phía ngoài bìa
giường. Bác Phụng giải quyết dùm bằng cách
đề nghị cho chúng tôi bốc xăm. Tôi cũng đôi
lần gặp xui, không được nằm giữa. Nhưng xui
nhất là Hoành, hay bị phải nằm ngoài. Khi bị như
thế, Hoành thường trùm mền kín mít. Những
đứa rắn mặt như Mỹ thường dọa thêm là ma
đang phét phên thò tay vô. La lối thế nào thì
chốc lát sau cả bọn cũng đều ngủ khò. Trong
giấc ngủ có đứa khóc, có đứa nghiến răng,
có đứa khò khè như bị suyển. Tôi thường
thức giấc vì những tiếng động như thế. Có
đứa đái dầm, nửa đêm cả bọn phải thức,
khiêng thủ phạm ra bắt đi tắm. Bọn chúng tôi
lớn nhỏ không đồng đều, nhưng có điều chung
là đứa cũng vừa rời khỏi sự săn sóc của
gia đình. Trông bơ ngơ báo ngáo như nhau. Thỉnh
thoảng thị trấn bị Việt cọng pháo kích. Thế là
cả bọn phải chạy xuống hầm trú ẩn sau lưng
nhà. Hôm sau đến trường đứa nào mắt cũng
đỏ kè, mặt mũi mệt mỏi.
Anh Hàng cũng
thích đọc nhật báo. Báo anh mua từ Huế, được
gửi ra cho anh theo xe đò mỗi ngày. Báo đọc xong
anh sắp xếp để một chồng, chiếm một góc bàn
học. Tôi tha hồ đọc ké. Bác Phụng có một cô
con gái tên Thu Mai, đang học lớp đệ tứ, bọn
chúng gọi bằng chị. Mai khuôn mặt lẫn dáng dấp
trung bình, chỉ có đôi mắt ướt át lãng mạn.
Mai thích sưu tập những câu danh ngôn, chép kín
một cuốn sổ tay, nói về tình yêu tan tác đổ
vỡ. Ngoài câu yêu là chết trong lòng một ít,
câu thơ phỏng theo thơ Pháp của Xuân Diệu. Mà
có đứa cả gan ngâm ư ử yêu là ị trong quần
một ít. Mai chép có nhiều câu là lạ đối với
tôi. Chẳng hạn tình yêu nhìn từ xa là hạt kim
cương, nhưng khi lại gần đó là giọt nước mắt.
Hoặc yêu là xây một nấm mộ trong lòng, quấn
một vòng khăn tang trong tim. Tuy nội dung sáo
mòn, nhưng những câu đó cũng nói dùm tâm
trạng cho nhiều người.
Bên hông phải
nhà trọ có khoảng đất cát ùn lên vài ngôi
mộ. Khoảng đất này lài thấp xuống mé sau. Nơi
đó có hai cái giếng nước, là nguồn nước
chính được dùng để nấu ăn giặt giũ. Buổi
sáng thường cả bầy thức sớm rủ nhau đi thăm
rừng dương liễu, sau đó lại quần tụ quanh hai
cái giếng này để rửa mặt đánh răng. Cũng
ở hướng bên hông này, nhưng sát với quốc
lộ là quán hớt tóc của bác Phụng. Khách hàng
của bác là bọn chúng tôi và lính tráng. Khác
với bác gái trầm ngâm, bác Phụng trai năng
động vui tính. Bác lại thích nhâm nhi, mỗi ngày
bác làm dăm ba ly. Khi ngây ngây, bác thường kể
cho chúng tôi nghe nhiều chuyện. Như chuyện hồi
trước bác đi lính cho Tây, vì bác nhỏ con nên
bận quần là phải kéo lên tận nách. Tiếng nói
của bác to lớn hào sảng thu hút. Bác thường
dạy chúng tôi đọc tiếng Pháp bằng giọng mũi.
Ðiểm độc đáo của bác là khi có rượu vào,
bác cắt tóc rất đẹp. Khi bác thiếu rượu thì
tay nghề của bác không giống ai.
Những lần cuối tuần mà không về thăm nhà,
mấy đứa chúng tôi thường đi theo bác lên
những ngọn đồi hoang chung quanh thị trấn kiếm
củi. Mỗi lần đi là một khám phá mới. Mấy
bác cháu thường đi ra hướng sông Ô Lâu, sau
khi qua khỏi cầu, thì men theo quốc lộ một chặng.
Sau đó bắt theo những con đường mòn đi tấp
vào hướng núi. Trong lúc mấy đứa khác cặm
cụi cùng bác chặt củi, đóng bó để gánh về.
Tôi chỉ biết leo lên những điểm cao nhất của
ngọn đồi, ngó mông bốn phía. Những chân trời
xa tắp kia như có một mãnh lực vô hình quyến
dụ bước chân tôi. Sau những ngọn đồi hoang
loang lở màu đỏ quạch là rặng trường sơn
hùng vĩ trải dài bất tận. Màu xanh của núi loang
xa đến chân trời tít mù hòa lẫn với mây
trắng tạo thành một màng sương đục lờ mờ.
Tôi xao xuyến, thấy tâm thân của mình run nhè
nhẹ. Lúc nào cũng vậy, khi trở về bác Phụng
thường trêu đùa tôi mơ mộng đã bưa chưa.
Lần khác,
bác dẫn chúng tôi đi cặp theo bờ sông ngược
lên hướng thượng nguồn. Chúng tôi đi trong
rừng lồ ô. Có lúc chân cẳng bị gai đâm chảy
máu. Tôi sợ nhất là những con vắt, nó giống
như con đỉa, nhưng nằm thu mình trong lá cây. Cứ
nghe có hơi người là vắt bắn theo vun vút. Nó
bám vào chân tay dứt mãi không ra. Nó cũng hút
máu người như giống đỉa.
Tôi học hành bình thường, nhưng không có sự kềm cặp của gia đình như trước. Trực giác bén nhạy mà bấy giờ tôi lầm tưởng với sự thông minh đã làm hại tôi. Trong lúc mấy đứa bạn khác cần cù học tập, thì tôi ngược lại cứ ỷ lại vào sự thông minh ảo tưởng của mình. Môn học nào tôi vừa chép xong bài là cho mình đã hiểu trọn. Tôi không còn dẫn đầu lớp như thời tiểu học mà chỉ thuộc loại trên trung bình. Tháng nào tôi cũng ở khoảng từ thứ 5 cho đến thứ 10 trong lớp. Mặc dù mới lớp đệ thất, nhưng chúng tôi học rất nhiều môn. Như môn quốc văn chẳng hạn, môn này cũng chia ra ba thứ kim văn, cổ văn, luận văn. Về toán thì có hình học, đại số, số học. Và nhiều môn khác như địa lý, sử ký, công dân, vạn vật, lý hóa, anh văn...
Trong tâm hồn đã bắt đầu những dấu hiệu nhột
nhạt. Tôi cảm thấy mình có cái gì đó đang
muốn chực trào ra. Một buổi trưa, tôi ăn cơm
xong trước. Tiết trời nóng nảy, tôi đi ra quán
hớt tóc của bác Phụng ngồi ngớt mặt ngó
mông ra đường. Từng chuyến xe đò đầy khách
chạy ngang trước mắt tôi. Trưa nắng hun hút tỏa
nhiệt chụp xuống khiến cho mặt đường chảy
nhựa. Tôi thèm thuồng được làm hành khách
đang ngồi trên xe. Xe chạy về đâu cũng được.
Về đâu cũng là những chân trời mới, không
tù túng như nơi đây. Tự dưng tôi nhớ nhà,
không phải tôi nhớ đến cha mẹ hay anh em, mà
tôi nhớ đến những cái gì trừu tượng không
sắc không hình. Như tiếng của tàu lá chuối lộp
độp trong những đêm mưa, như tiếng gà gáy trong
trưa vắng. Hoặc xa hơn là tiếng hò heo hút trong
đêm. Tôi đã bật lên, một trong những giòng
thơ đầu tiên của cuộc đời. gác trọ buồn
vắng lặng, của những kẻ tha hương, mong ngày về
cố quận, ngồi trong mái nhà xưa. lộ một buồn heo
hút, cây than thở bên đường, thương cho người
xa xứ, không gần kẻ thân yêu. Những câu
thơ tuy tầm thường, nhưng nó đã làm cho thần
trí tôi nhẹ bớt đi một đôi phần.
Tôi có nhiều
bạn mới, về sau trở thành thân thiết. Ðó là
Lê Trọng Kế, Nguyễn Quốc Thông ở làng Phước
Tích. Nguyễn Ðức Khoán ở làng Mỹ Chánh. Là
Hoàng Xuân Sáu, người ở dãy phố Hòa Viện,
gần chợ Hôm. Tôi còn có thêm hai đứa bạn,
học trên tôi một lớp là Ðoàn Văn Giới và
Hoàng Phước Sanh.
Thầy dạy quốc
văn của tôi là cô Xuân Trang. Cô khá lớn
tuổi, dáng cô đi hơi khòng, lại chưa có chồng
nên chi khó tính. Cô cho điểm rất gắt. Những
bài luận của học trò, cô chưa bao giờ cho lên
quá 12 điểm. Bài luận cao điểm nhất của tôi khi
tôi học với cô là 11 điểm. Sau vài tháng, cô
đổi đi dạy lớp khác. Thay thế cô là thầy
Hiển, thầy có vẻ nghiêm qua cặp mắt hơi lộ, hai
môi thầy túm lại như muốn trấn áp nụ cười
muốn chực trào ra. Thầy cho điểm rộng rãi. Một
kỷ niệm với thầy, tôi nhớ có một bài luận
văn, thầy cho tôi 14 điểm. Sau khi phát bài cho
chúng tôi xong, thầy gọi tôi lên bàn của thầy.
Thầy khen bài luận tôi viết mạch lạc rõ ràng,
khá nhất lớp. Tôi chưa có phản ứng bỗng thầy
nói luôn. Nhưng thầy thấy là có vài câu em
chép lại từ trong sách. Tôi hỏi thầy sách nào.
Thầy trả lời không biết, nhưng thầy nói sau khi
chấm bài của tôi thầy đã có cảm giác như
vậy. Thầy quyết định trừ bớt tôi 3 điểm. Như
vậy bài luận của tôi chỉ còn 11 điểm. Tôi dạ
dạ, cám ơn thầy cho xong chuyện rồi trở về chỗ
ngồi. Buổi trưa tôi gặp Kế nói chuyện này. Kế
lấy bài luận của tôi đọc một hơi. Kế chỉ
nói, thầy vô lý, nếu thầy nghĩ là mi chép
sách thì phải cho mi 1 điểm hay zêrô, răng thầy
chỉ trừ mi có 3 điểm. Sau lần này, không
biết thái độ của thầy đối với tôi thay đổi
ra sao, mà thầy thường lấy những bài luận của
tôi đọc cho cả lớp nghe. Dù rằng nhiều lần
bài của tôi thua điểm vài đứa khác. Tôi
không ngạc nhiên khi thầy cho rằng tôi chép lại
sách. Vì tôi ham đọc, có thể có những câu
văn hay đã nhập tâm mình từ hồi nào mà mình
không hay biết. Ðiều này chứng minh rõ ràng hơn
khi tôi bắt đầu làm thơ. Thêm một khía cạnh
nữa, có thể thầy Hiển đã đánh giá thấp bọn
học trò nhà quê chúng tôi.
Có những buổi chiều, sau khi cơm nước xong, tôi
thường ra ngồi ở mấy khúc cây cạnh quán hớt
tóc. Buổi chiều, hai cái giếng nước khá tấp
nập. Thiên hạ đi gánh nước về để dùng cho
ngày hôm sau. Trong đám này, tôi chú ý đến
một cô gái vóc dáng mảnh mai, bận bộ đồ bà
ba đen, có khuôn mặt trắng dịu thanh tú, với
đôi mày nguyệt đậm màu đen tuyền cùng đôi
môi hồng tự nhiên. Ðặc sắc nhất là mái tóc
thề mượt mà xỏa xuống ngang lưng. Dù đôi
thùng nước chĩu nặng cũng không làm mất hết
nét mềm mại trong bước đi. Con đường xuống
giếng hầu như cặp sát bìa hông nhà tôi trọ.
Cứ mỗi lần lên đến bên quán hớt tóc, cô
lại hạ gánh xuống ngồi nghỉ mệt. Tôi thấy trên
vầng trán phẳng của cô lấm tấm mồ hôi. Cô
đặt cái đòn gánh vắt ngang trên hai thùng
nước, xong ngồi lên, quay mặt về phía tôi. Một
tay cô chống lên đòn gánh, còn một tay vòng ra
phía sau để lùa mái tóc về phía trước ngực.
Ðầu cô nghiêng nghiêng, khiến cho lọn tóc chảy
xuống tạo thành vòng cung che khuất nửa khuôn
mặt. Màu đen mái tóc hòa lẩn cùng làn da trắng
của khuôn mặt trông thật quyến rủ. Ðôi mắt
cô to đen giữa hàng lông mi mông lung. Tôi chăm
chú nhìn. Ðôi lúc cô nhìn lại, tôi thấy trong
ánh mắt có một cái gì gờn gợn nao nao. Khi cô
đứng lên, tiếp tục gánh nước về nhà. Tôi
cũng trở vô nhà trọ để ôn bài vở, ánh
mắt cô như vẫn còn đi theo. Sau này tôi dò ra
mới biết cô tên Gái, con gái của chủ nhân
cái quán ăn ở ngã ba đằng phía chợ.
Trước mặt của
nhà bác Phụng, phía bên kia đường, qua khỏi
đường xe lửa, như đã nói đó là bãi đất
trống được dùng làm bãi đáp cho máy bay trực
thăng, gồm có đất cát trộn lẫn lộn với một
loại sỏi màu đỏ quạch. Cứ mỗi lần có trực
thăng lên xuống là bãi đất dậy đầy bụi đỏ
mù mịt. Ði xuyên qua bãi đất trống, sẽ thấy
một ngôi chùa còn mới. Chùa có phong cảnh bao
quát bên ngoài đẹp mắt. Từ đây trông qua, sẽ
thấy bãi đất này và nơi chùa tọa lạc như hai
ngọn đồi được phân chia bằng một cái thung
lũng nhỏ ở giữa. Ở giữa cái thung lũng nhỏ
này có một số mồ mả, với một cái hồ nước
đầy loại bèo con. Ði vào chùa là hai con đường
nhỏ vòng hai bên theo hình cánh cung với hai hàng
cây bạc hà đều đặn cao ngất. Tôi thường mang
vở sách vở qua đây để học. Nói là học,
nhưng vẩn vơ là chính. Bên trong chùa trang trí sơ
sài. Giữa chính điện có một tượng phật bằng
đồng khá lớn. Ði thẳng phía sau là cái hậu
liêu nhỏ. Chùa chẳng có sư trụ trì, cũng không
có ai trông nom. Nơi đây năm sau, là nơi tôi hẹn
hò lần đầu tiên với một người nữ trong
đời của mình.
Thị trấn không còn một giây phút yên tĩnh nào.
Ðêm cũng như ngày. Không có tiếng trực thăng
từ bãi đất phía trước, thì lại có tiếng
lồng lộn của xích sắt nghiến nát mặt đường
những đoàn thiết vận xa M.113. Ðêm đêm, lính
tráng say sưa cờ bạc chạy rượt lộp cộp vang
mặt đường. Nhiều buổi học bị gián đoạn vì
đường bị đắp mô, có những chuyến xe đò bị
mìn nổ tung. Cho nên khi thầy cô ra tới trường
thì đã hết giờ học, lại phải loay hoay đón xe
đò vô Huế trở lại. Chúng tôi phải chịu
những điều bất thường như thế.
Bên hông cánh
trái của trường có một khoảnh đất nhỏ. Chỗ
đó thường dùng để bêu những tử thi Việt
cọng. Mỗi lần binh lính kéo xác Việt cọng về,
một số dân chúng bu lại coi. Trong đó có mấy
đứa bạn học bạo gan của tôi. Tôi chỉ đứng xa
xa chớ không có lần nào đến gần. Có thể vì
nhát gan, nhưng lý do chính tôi thấy như vậy là
bất nhẫn. Chết là hết. Tôi nhớ lời cha. nghĩa
tử, nghĩa tận. Tôi tự hỏi tại sao chính quyền
không đem những tử thi đó chôn quách đi. Dĩ
nhiên chiến tranh có những điều phi lý vô nghĩa
như thế. Có những lần tôi chạm mặt với
những tù binh Việt cọng bị bắt về trong những
cuộc hành quân. Họ đều bị trói quặt tay ra phía
sau lưng. Ai nấy quần áo rách bươm, mặt mũi thâm
tím, đôi mắt lạc thần. Tôi thầm nghĩ ước chi
mình có đủ quyền lực để buông tha họ.
nguyễn đức bạtngàn / thầm lặng trời, thầm lặng đất