Nội
Ngoại
Tết năm này (Ðinh Mùi) nhà tôi vắng vẻ. Vì
ảnh hưởng của hoàn cảnh chung nên trong nhà cha
mẹ chẳng sắm sửa gì. Nhà cửa cũng chẳng dọn
dẹp. Vâng lời cha, tôi chỉ lấy cái chổi lông
gà phất bụi sơ sơ trên bàn thờ.
Tôi trở lại
nhà từ hôm 24 tháng chạp, sau buổi họp mặt tất
niên của trường. Không khí cả làng nặng nề.
Bà con xóm giềng ai nấy thui thủi chịu đựng.
Làng mạc bỏ ngõ cho du kích. Phía quân đội miền
Nam thỉnh thoảng mở một cuộc hành quân càn
quét, nhưng chưa có đụng độ lớn. Lính tráng
chỉ có việc bắt gà bẻ măng, gây thiệt hại hoa
màu. Qua đợt hành quân, du kích Việt cọng bò ra
sách nhiễu. Ðâu lại vào đó. Dân chúng một
cổ hai tròng không biết kêu ai. Dọc đường làng
đầy những hầm chông tre do Việt cọng cưỡng ép
dân chúng thực hiện. Nó lồ lộ trước mắt,
như một sự trình diễn vụng về, chỉ gây tai họa
cho dân làng, những người phải đi ra khỏi nhà
vào ban đêm. Có một số dân làng bị sụp hầm,
bị chông tre xuyên suốt hai bàn chân. Ngoài ra
chẳng gây hề hấn cho một người lính của quân
đội miền Nam nào.
Vì tình hình mất
an ninh, nên những người ở xa chẳng có mấy ai
về quê ăn tết. Những ngày cuối năm, tôi đi
thăm bà con họ hàng. Tôi qua nhà chú Anh, thăm
hỏi sức khỏe của ôn mụ Trâm, tức là cha mẹ
của chú Anh. Ôn thì quá già, mấy năm trước bị
bệnh nặng, tưởng đã qua không nỗi. Một bên
gian nhà từ bao giờ đã để sẵn một cỗ hậu
sự cho ôn. Mụ vẫn còn sắc sảo, khỏe mạnh.
Chú đang lui cui ngồi chẻ lạt để cột bánh. Thím
đi chợ chưa về. Mấy đứa em họ của tôi, em kế
của Cháu, đứa thì đi câu, đứa thì đi chơi.
Chỉ còn Yến, đứa lớn nhất ở nhà đang phụ
chú Anh ngâm nếp.
Tôi ngồi bên
cạnh nhìn chú chẻ lạt. Cây tre tươi được chú
cưa sẵn ra từng khúc. Với cái rựa sắc bén
trong tay, chú cầm từng ống tre dựng đứng trên
viên gạch, rồi chẻ dọc ra từng sợi lạt mỏng
như tờ giấy vở. Chú vừa làm vừa hỏi han
tôi. Nhìn hai tay chú đều đặn trong công việc
tôi bắt mê. Tôi cầm một sợi lạt lên vẫy
vẫy trong không khí vừa trả lời những câu chú
hỏi. Chú tâm sự thấy con cháu đi ra khỏi cái
chỗ cất đầu lên không nỗi này là chú mừng.
Tôi nhìn khuôn mặt vuông, rám nắng khô đét
của chú, như biểu trưng cho cả giòng họ. Hình như
tất cả bà con tôi; ngoài việc đồng áng, đều
giữ nghề đi câu như một sinh kế thứ hai. Nhìn
ngắm sông nước có thể làm cho tâm hồn rộng
mở. Nhưng phải sống nhờ sông nước thì trái
lại. Bà con của tôi ai nấy đều quắt queo. Ngồi
suốt ngày trên ghe câu để trông vào sự may
rủi, hình như làm cho suy nghĩ trong đầu thu hẹp
lại. Có thể tôi chủ quan, nhưng ngồi với chú,
tôi thấy chú như có một gánh nặng vô hình đang
trỉu trên vai. Tôi nhìn qua đứa em họ, Yến, đang
quay lưng vo nếp ở đầu chái bếp. Em tôi cũng
vậy, thân hình khô đét như que củi. Tôi hỏi
chú khi mô thì Cháu về ăn tết. Chú trả lời
chắc khoảng mồng hai.
Tôi còn đi
xuống xóm dưới thăm bác Lượng, anh Túc, và
anh Hồ. Nhà của mấy người này quay mặt ra
hướng bờ sông. Bác Lượng cùng một ông cố
với cha, vợ của bác mất sớm. Bác sống với
người con trai cả là anh Túc, với mấy đứa
cháu nội. Mấy người em kế của anh Túc là
Càng, Tư, và Năm đều đã nhập ngũ. Anh Càng
thì lính của sư đoàn 1. Hai anh Tư, Năm đồn trú
tận trong Nam. Người con trai cả của anh Túc là
Ðàm, cỡ tuổi tôi, đã bỏ đi theo Việt cọng
từ mấy năm trước. Mấy đứa kế vừa học xong
tiểu học là ở nhà làm ruộng, đi câu.
Khi tôi đến,
bác Lượng đang dọn dẹp bàn thờ. Tôi lên
tiếng chào, bác quay ra thấy tôi, ngạc nhiên.
Cháu về khi mô. Tôi thưa là đã về mấy bữa,
hôm nay xuống thăm bác. Bác gọi tôi ngồi xuống
với bác trên cái giường tre bên hông nhà.
Bác chỉ nói câu ngắn. Cháu về chi cho thêm lo
lắng. Xong bác móc bao thuốc ra vấn một điếu
châm lửa. Tôi nhìn theo làn khói phà ra từ mũi
miệng của bác. Làn khói tán mỏng lan rộng, tầm
nhìn tôi trôi theo. Làn khói bay ra cửa, thoát
biến theo với gió se lạnh ngoài sân. Tầm mắt
tôi chạm tới lùm nga nằm bên bến sông. Nhìn
những ngọn lá mỏng đu đưa theo gió, tôi như
xuất thần. Thiên nhiên lúc nào cũng thế, thanh
thản an hòa, chỉ có con người với những mưu
toan, tham vọng làm rối loạn cuộc sống vốn đã
sẵn bình trị. Bến sông nhỏ, sát bên lùm nga kia,
tôi nhớ năm nào khi về thăm bác, giờ đây
vẫn nguyên hình dáng cũ. Lối mòn nhỏ đi xuống
bến vẫn loang loáng những rêu xanh trơn trợt.
Những thân nga vươn lên từ mặt nước tụm lại
rì rào âm thanh thân quen. Tôi chỉ dạ dạ khi nghe
tiếng bác. Tai và lòng tôi đang trộn lẫn với
bến sông ngoài kia.
Anh Túc đi đâu
vừa về tới. Tôi chào anh, anh than. Năm ni buồn
quá. Anh buồn cũng phải, chỉ cần anh nghĩ về Ðàm
không biết sống chết ra sao là cũng đã nát
lòng rồi. Dáng người đẫm thấp vạm vỡ, tiếng
nói lúc nào cũng nhuốm vẻ lo lắng dù khi chúng
tôi tếu đùa. Rứa thì khi mô chú lấy vợ.
Chẳng đợi tôi trả lời, anh tiếp luôn. Vợ con
chi cho mệt. Thời buổi ni, lo thân mình cũng đã
khổ rồi. Tôi vui lên. Rứa răng anh lấy vợ. Em
nghĩ lấy vợ cũng có cái sướng chớ. Anh nhìn
tôi giọng triết lý. Cái sướng ít ỏi, không
bù lại cái khổ. Tôi hì hà. Rứa thì em đi tu
quách. Anh hạ giọng buồn. Chú có tu thì cũng
rứa thôi. Tôi hỏi anh tin tức của Tư, và Năm.
Anh than oán. Có tin chi mô, tết nhứt mà chẳng
có đứa mô nhớ cấy chi hết. Anh bảo tôi ở
lại ăn cơm, nhưng tôi từ chối.
Tôi chào bác
Lượng và anh rồi ghé qua nhà anh chị Hồ, nhà
ở kề bên. Anh Hồ gọi bác Lượng bằng chú
ruột. Tôi không biết hai chú cháu có điều gì,
mà hai bên ít có qua lại. Khi tôi bước vào
nhà, gặp ngay anh Hồ đang ngồi giữa bàn uống
nước. Tôi lên tiếng chào. Anh trả lời chậm
rãi. Tui nghe tiếng chú bên chú Túc, tôi nghĩ
răng chú cũng ghé qua. Tui pha nước ngồi đợi
chú đó. Dáng dấp của anh vẫn loắt choắt như
cũ. Khuôn mặt ốm với vầng trán hẹp như kéo
hai bên thái dương co rút lại. Miệng anh hơi hô,
cái cằm dưới muốn khuỳnh ra át cái miệng, tạo
cho anh một bản mặt nhuốm nét đau đớn nặng nề.
Chị từ sau bếp bước ra giọng vồn vã. Lâu lâu
chú về, mời chú ở lại ăn cơm. Chị dáng gầy,
nhưng có bề cao hơn anh chừng một cái đầu. Mái
tóc của chị tuy được bối gọn lại, nhưng vẫn
rối bù lên, với hai mắt chị như bị loét, lúc
nào cũng kèm nhèm.
Tôi nhìn lên
bàn thờ, thấy đã có bày biện hoa quả, nhang
đèn. Tôi nhìn quanh không thấy thánh giá với
mấy bức hình đức chúa, đức mẹ, cũng như
những tranh ảnh về đạo công giáo như trước.
Tôi hơi ngạc nhiên nhưng không hỏi. Gia đình anh
là người duy nhất trong giòng họ tôi theo đạo
công giáo. Tôi biết gia đình anh theo đạo là
muốn tìm một điểm tựa vật chất, chứ không
phải vì niềm tin. Trong bà con có người dè bỉu.
Tôi không có ý kiến, nhưng lúc này nhìn lên
bàn thờ thấy anh bày biện, tự dưng bụng tôi
thấy ấm áp.
Nhà anh chị khang
trang so với nhà những người bà con khác. Vách
nhà xây bằng táp lô. Tủ thờ, bàn ghế đều
bằng thứ gỗ tốt. Anh chị có một bầy con. Ðầu
lòng là đứa con gái tên Ðầu đã lỡ thì,
người nhỏ bé loắt choắt như anh. Ðứa con trai
kế là Khứ, hồi tiểu học học chung với tôi,
cao lớn vạm vỡ. Xong tiểu học, Khứ ở nhà
tiếp tục những công việc của anh. Chị Hồ mời
tôi uống nước. Chị bảo nước chè tươi vừa
mới nấu, chú uống đi cả nguội hết ngon. Tôi
nể lời bưng ly nước lên vừa thổi vừa uống.
Hương chè tươi ngan ngát đầu mũi. Vị nước gây
chan chát lẫn ngọt dịu trong cổ họng. Tôi hỏi chị
rứa mấy đứa đi mô hết rồi. Chị lên tiếng
gọi. Khứ từ sau bếp bước ra, trong tay đang cầm
cái dao mổ gà. Khứ lên tiếng chào hỏi. Tôi
thấy Khứ già dặn hơn tôi nhiều. Vầng trán đã
có vài nếp nhăn hằn lên. Khứ nói chú cứ
ngồi chơi, tui đang bận tay. Khứ quay lại phía bếp.
Hai anh em ngồi
ngó ra sân yên lặng. Bỗng dưng anh nói, giọng
bùi ngùi. Mấy chú gắng lên, trước là ấm
thân, sau là vẻ vang giòng họ. Anh muốn nhắn gửi
mơ ước vào mấy anh em nhà tôi. Tôi thấy xấu
hổ trong lòng vì sự tin cậy hư ảo này. Bản
thân mình vốn không ra chi. Ðầu óc viễn vông
hoang tưởng. Ăn nói cà lăm cà cặp. Mấy
người anh tôi thì tầm nhìn cũng hạn hẹp, coi như
bỏ đi. Tôi bối rối nhìn vào mắt anh, thấy hiện
lên trong đó những nhẫn nhục thua thiệt. Tôi nao
lòng, đứng lên giã từ, dù chị Hồ nằn nì
tôi ở lại.
Tối 28 tết, mẹ và hai anh em tôi ngồi quanh nồi
bánh tét ở dưới bếp. Cha đi qua khấn vái bên
nhà thờ họ. Tôi ngồi bó gối nhìn Kim Long đang
lấy củi chuồi vô thêm. Mẹ đang hút thuốc. Ánh
lửa cời lên lấp lánh trên khuôn mặt mẹ và
em. Khuôn mặt Kim Long không giống tôi mấy. Tuy
vầng trái hai anh em đều cao, nhưng khác nhau. Trán
em cao, gồ lên ở phần giữa trán, biểu lộ ngoan
cố bướng bỉnh. Còn trán tôi cao, nhưng chân
trán từ lông mày hướng lên như cong trợt về
tận chân tóc. Cằm Kim Long hơi nhọn, miệng rộng
nhìn nghiêng khuôn mặt hơi có hình lưỡi cày. Hai
anh em giống nhau ở chỗ hai quai hàm dưới đều
bạnh ra. Sống mũi của em thẳng, nhưng hai cánh mũi
hơi nhỏ và hơi sắc ở chuẩn đầu. Mũi của tôi
trung bình, hơi gãy ở phần niên thượng, bù lại
thì phần chuẩn đầu khá đầy đặn. Ðôi mắt
tôi lớn hơn. Nhưng Kim Long lại có cặp lông mày
dài và đẹp hơn cặp lông mày của tôi. Vậy
nhưng người khác thoạt nhìn vào thấy ngay chúng
tôi là hai anh em ruột. Chúng tôi giống nhau ở
dáng dấp phong thái. Em có sức khỏe, cách hành
động cũng mạnh bạo. Có lần, khoảng mấy năm
trước, khi đi học Kim Long bị chòng ghẹo sao đó,
nó nỗi hung đánh lộn, gây thương tích cho một
đứa cùng trang lứa ở sau lưng. Cha mẹ tôi phải
đi xin lỗi, đồng thời bồi thường chi phí thuốc
men cho con người ta.
Kim Long đun thêm
củi, rồi khều than ra hai bên. Ðôi mắt chăm chăm
vào ngọn lửa. Em tôi còn vô tư. Tôi ước cho
em mình về sau đừng có tâm hồn bông lông như
tôi. Mong em có được một cuộc sống thực tế
bình thường như những người bình thường.
Ðừng vẩn vơ mộng ảo như tôi đang mang. Thỉnh
thoảng hai đầu mày của em nhíu lại, nửa như bị
khói, nửa như đang suy nghĩ chuyện gì. Chúng tôi
nín lặng, chìm theo ánh lửa chập chờn.
Tôi quay qua
hướng mẹ ngồi. Khuôn mặt người điềm tĩnh,
trầm tư. Vẫn là phong thái đó, chịu đựng mọi
nghịch cảnh trong an nhiên. Vẫn là bóng dáng tuy
nhỏ bé, nhưng lại hùng vĩ như trường thành trong
cuộc đời tôi. Tôi nhìn ngắm lại khuôn mặt
của người. Làn tóc mẹ đã ngã màu muối
tiêu, với những sợi phủ lòa xòa trên vầng
trán nhăn. Vẫn là đôi mắt, tuy hai mí trên hơi
sụp vì tuổi già nhưng vẫn tròn đều hiền hậu.
Vẫn là môi miệng luôn chứa nụ cười duyên
dáng ẩn ẩn. Ðặc biệt nhất là cái mũi của
người. Chuẩn đầu đầy đặn nối với sống mũi
kéo thẳng lên tận ấn đường. Giữa hai chân
mày của mẹ như một khoảng sáng rộng rãi. Tôi
học mẹ chỉ được phần đầu của hai cánh mũi.
Còn sống mũi và ấn đường tất cả anh em tôi
đều học cha. Hai tai của mẹ lớn, dày chắc,
được nhiều người khen là phúc thọ. Tôi thấy
lời này hình như chỉ đúng có một nửa. Sống
lâu thì mẹ có thể, nhưng còn phúc thì tôi
không biết nó ở đâu. Tôi nhìn vào hai vạt áo
của mẹ. Hai bên vạt áo được mẹ may hai cái
túi lớn. Trong đó được mẹ đựng đủ thứ,
từ tiền bạc đến thuốc hút, lẫn cau trầu. Hồi
nhỏ tôi hay cà rà bên cạnh rờ rẫm hai cái
túi này, mỗi khi ngoài đường có hàng quà
bánh đi qua.
Nồi bánh tét
của nhà tôi năm nay được nấu sớm hơn, cũng
như ít hơn những năm trước. Nhớ năm nào mấy
anh em tôi quây bên bếp lửa cùng nhau hi ha. Anh
Chính kể chuyện tiếu lâm cho bầy em đuổi cơn
buồn ngủ để đợi giao thừa. Anh Cung mầy mò
mấy tờ giấy bạc mới để mừng tuổi cho ba
đứa em. Anh Cương vừa nói vừa nghe, vừa tì
cuốn sổ nhỏ trên hai đầu gối để viết nhật
ký. Kim Long ngủ gà ngủ gật. Tôi cà lăm cà
cặp đòi anh Chính giảng một tích chuyện ngày
xưa... Những thứ này tôi thấy gần gũi vô
cùng, nhưng sao lúc này lại mất...
Ðể bảo đảm an
toàn, cha mẹ bảo hai anh em tôi ra ngủ dưới hầm
trú ẩn ở ngoài sân. Kim Long bưng đèn xuống
trước. Tôi đứng ở miệng hầm nhìn ngược
lên trời chi chít sao. Ðêm cuối năm se lạnh. Một
thoáng gió khiến tôi rùng mình, đưa tay kéo cao
cổ áo len. Tự dưng tôi sợ du kích đến bắt
tôi đi. Tôi sợ điều này không phải vô cớ.
Những đứa bạn cùng cỡ tuổi ở làng hầu như
không còn ai. Nếu không bỏ đi xa như tôi thì
cũng đã bị Việt cọng bắt đi trong những đợt
tuyển quân. Tôi thấy mình liều lĩnh ngốc ngếch.
Nhớ hôm mới về, tôi chạm ngay đôi mắt cha
nghiêm khắc. Người ngó với tôi như một sự
đã rồi. Tôi bối rối tránh tia nhìn của cha,
chạy vội đi gặp mẹ gặp em. Giờ đây, đứng
trên miệng hầm tôi hoảng hốt. Nhưng lo lắng cũng
qua nhanh. Bản tính tôi suồng suổng, thôi thì mặc.
Tới đâu hay đó.
Tôi an tâm chui
xuống hầm, nằm xuống bên cạnh Kim Long đọc vài
trang sách. Tôi vơ nhằm tập truyện ngắn của
Thạch Lam, đọc lại một truyện đầu tiên. Tôi
vào giấc ngủ bằng hình ảnh lãng mạn của tình
ái muôn đời. Mỗi mùa cô lại giắt hoàng
lan trên mái tóc, để tưởng nhớ mùi hương.
Hôm sau, ngày 29 tết. Tôi nằm ngầy ngật dưới
hầm cho đến gần trưa mới chui lên. Kim Long đang
phụ giúp cha làm những việc lặt vặt. Mẹ đang
chuẩn bị đồ đạc để mồng 4 tết vô Ðà Nẵng
thăm hai người anh lớn. Tôi uể oải đi xuống
bến rửa mặt đánh răng. Trời nắng lạnh. Tôi
đưa hai tay bụm nước vả vào mặt. Chung quanh là
những đám hơi sương là là theo mặt hói, đang
lả lướt vươn cao. Phía cửa hói tràn ra mặt
sông Ô Lâu là những gợn nắng mỏng chan hòa.
Mặt sông yên tĩnh vắng lặng. Không một chiếc ghe
đò đi qua. Tôi nghe tiếng động cơ của máy bay
thám thính rà trên đầu hòa lẫn với tiếng gà
gáy xao xác đâu đó.
Bến nước này
một thời là nơi tụ hội buồn vui của anh em tôi.
Nơi anh Cương dạy tôi tập bơi. Cũng chỗ này tôi
suýt làm cho Kim Long chết đuối. Lần đó tôi
cõng em lội qua bờ bên kia. Tôi bị mất thăng
bằng khiến cho em ngã ngược. Thay vì tay tôi phải
buông hai ống chân em, để quay trở lại bồng em
lên. Tôi lại hoảng hốt giữ chặt hai chân của
em mình để cố vượt qua con hói. Kết quả là Kim
Long bị sặc nước, mặt mày tím ngắt. Tôi nhìn
những tảng đá được cha và các anh sắp đặt
theo thang cấp để lên xuống đã lên đầy ngấn
rêu vì ít có bước chân người. Gần mặt
nước là một tấm xi măng đúc khá dày được
tô láng để làm chỗ giặt quần áo. Bề mặt
còn hiện rõ nét chữ "Kỷ Hợi - 1959" do
tay anh Cung tỉ mỉ khắc lên.
Tôi bước lên
từng bậc đá, trở vào nhà. Mẹ đã chuẩn bị
xong xuôi cho chuyến đi Ðà Nẵng. Cha ngồi trên bộ
ngựa xếp vàng bạc để dâng lên bàn thờ. Sau
khi ăn uống qua loa, tôi đi thăm o Bệt. Nhà o ở
phía sau tổ 8 sát bìa cánh đồng. Trước khi ra
khỏi nhà cha dặn nhớ phải về sớm để cùng gia
đình cúng tất niên. Năm nay tháng chạp thiếu,
nên ngày 29 cũng tính thành ngày 30.
Tôi đi đường
băng đến nhà o. Lộ trình là theo con đường xóm
tổ 6 ngay trước mặt nhà đi thẳng ra hướng cánh
đồng... Qua kẻ lá là những đốm nắng rải lốm
đốm trên mặt đường. Cặp bên cạnh là con hói
vẫn lặng lờ trầm mặc. Cuối đường, gần với
cầu tréo vẫn còn đó cây mưng già xơ xác. Tôi
bước qua cầu thanh thản, không phải còn khó chịu
nín thở như hồi còn nhỏ. Tôi cặp theo mấy bờ
ruộng theo hướng tay phải rồi rẽ vào con đường
xóm của tổ 8. Tôi nhìn quanh cánh đồng thấy một
màu xanh phơi phới chảy dài những đợt nắng
mỏng theo làn gió nhấp nhô trên đầu ngọn. Lúa
đang chuẩn bị trổ đòng. Thời gian này là mùa
làm cỏ, nhưng hôm nay không một bóng người.
Nhà o Bệt nằm
ngay bên trái con hẻm ngay từ cánh đồng đi vào.
Từ ngoài ngõ tôi nghe tiếng o. Vẫn là cái
giọng kim sắc rõ châm mạnh vào màng nhĩ. Cháu
về khi mô. Tôi chưa kịp chào hỏi thì o làm một
hơi. Mấy đứa bây đi mất đất, không nhớ chi
bà con họ hàng. Một năm đợi tết mới ló mặt
về. Tôi bước vào nhà cười tếu. Dạ thưa o,
cháu về thăm o đây. O vui vẻ, hỏi han tôi đủ
thứ. Trên cái giường tre bên góc nhà, Bỡi
đứa em họ tôi đang ngồi gói bánh, nhe răng hì
hì chào tôi. O cũng đang gói dở dang nửa
chừng. O bảo tôi ngồi xuống cái giường tre
đặt ngay gian giữa, rồi tiếp tục công việc. Hai
tay o thoăn thoắt, rành rõi. Vừa gói bánh, o
vừa nói đủ thứ chuyện. Tôi nghe câu này chưa
hết thì o vòng qua chuyện kia. Môi miệng o duyên
dáng linh động. Không biết thời o còn con gái
đã làm mê đắm bao nhiêu trai làng. Vầng trán,
mũi miệng của o là một kết hợp đều đặn.
Dưới hai chân mày thanh tú tự nhiên là đôi
mắt lớn linh động tuyền đen. Chỉ có hai lưỡng
quyền là hơi cao. Tôi quí trọng o ở chỗ dám ăn
miếng trả miếng, và tự hào về tổ tiên chài
lưới của mình. O có với người chồng trước
một đứa con gái là Sum. Chồng Sum nhập ngũ,
đồn trú đâu đó. Sum theo chồng đã mấy năm
nay. Sau khi cha của Sum qua đời, o bước thêm một
bước nữa. Tôi hỏi o dượng Lục đi mô rồi.
Bỡi cho hay là dượng đi nhóm họ chắc cũng sắp
về.
Tôi ngồi nhìn
quanh, nhà của o tuy bằng mái tranh vách tre đơn sơ.
Nhưng dượng là người khéo tay, nên mọi thứ
được bày biện ngăn nắp. Phía sau nhà tựa lưng
với cái rồn tre thấp ngăn chia với ruộng lúa.
Tôi muốn gặp mặt dượng Lục nên nấn ná một
hồi, nhưng không thấy bóng của dượng đâu.
Nhớ lời cha dặn là phải về sớm. Tôi đứng
lên xin phép o để ra về. O cười, mắng tiễn
chân tôi. Tổ cha mi, chê cơm tau nhà nghèo.
Tôi trở về
nhà bằng đường thẳng, theo con đường tổ 8
chạy ra gặp nhà thờ họ Hoàng. Chỗ này là ngã
ba gặp con đường xóm tổ 9. Tôi ngoặt ra đường
cái đi về ngang trước mặt nhà thờ công giáo.
Ngôi giáo đường đã bị bom đạn làm sập một
bên nóc. Dãy nhà xây khang trang bên cạnh của
các chị cũng bỏ hoang. Chung quanh vách nhà cỏ dại
tràn lan. Nhìn vô trường học, nơi tôi khai tâm
đầu tiên trong đời, thấy cửa ngõ toang hoác,
bàn ghế bừa bộn.
Trước khi về
nhà tôi ghé vô o Cư. Thấy mặt tôi o trách.
Cháu về mấy bữa, hôm ni mới vác mặt tới
thăm o. Tôi cười hề hề. Mấy đứa em họ tôi
bu lại. Mấy đứa em này gần gũi tôi. Mùa hè
nào tôi cũng dành thì giờ để chơi với chúng
nó. Ðứa thì cầm tay, đứa thì níu áo. Khuôn
mặt chúng, tất cả đều học mẹ, linh hoạt xinh
xắn. Ðứa này răng cái quần anh như ri. Ðứa kia
răng cái áo của anh như rứa. O cư quay xuống
bếp, để mặc tôi vui đùa với mấy đứa em.
Trước khi từ giã o và mấy đứa em, tôi đi vô
trong bàn thờ để thắp nhang cho người chồng đã
tử trận của o là dượng Ngoãn. Tôi nhìn vào di
ảnh dượng thấy u buồn hiện ra trong đôi mắt. O
Cư lặng yên theo dõi tôi, rồi bùi ngùi cùng
mấy đứa em đưa tôi ra cửa.
Mẹ làm một mâm cơm khiêm tốn dọn giữa bộ
ngựa, trước bàn thờ. Cha bận áo dài đen,
trên đầu đội khăn đóng phía trước trán có
hình chữ nhân. Trên bàn thờ khói hương nghi
ngút. Hai ngọn nến hồng chập chờn linh động.
Tôi và Kim Long đứng hai bên. Lễ cúng tất niên
của gia đình đạm bạc, thiếu vắng hơn bao giờ
hết. Cha đứng trước bàn thờ cầu nguyện. Tôi
bâng khuâng. Không biết lời nguyện của cha có
tương thông cùng hương linh tổ tiên. Tôi hình dung
trên bàn thờ tổ tiên đang về ngự trị. Chắc
những đấng vô hình kia đang nhìn con cháu ngậm
ngùi. Những đổ vỡ thất tán ở ngoài quyền
lực của họ. Tôi chắc tổ tiên cũng lắm xót
xa. Cha sì sụp lạy. Mẹ quì theo. Tôi và em cũng
quì xuống. Trong tôi là một khoảng trống hỗn
độn dị hình. Tự bao đời nơi mảnh đất này
vẫn chất chứa đầy hàm oan và khổ đau. Người
chết đã yên phần, còn người sống phải chống
chọi với khổ nạn từ trăm phía. Ðời của mẹ
cha tôi rồi đến anh em tôi. Tôi cầu xin một
điều nhỏ bé là làm sao được bình an trước
những hung họa của cuộc sống đang rình rập chực
chờ. Còn vài giờ nữa là qua một năm khác.
Tức là phải chào đón những khổ hạnh khác.
Nối tiếp như xâu chuổi trong cái vòng tròn luân
lưu bất tận.
Bữa cơm tất
niên chúng tôi ngồi ăn trong im lặng. Cha nhấp
một ly rượu nhỏ. Tôi nhìn mẹ và em cũng đang
uể oải thờ thẩn. Chúng tôi ăn qua loa vội
vàng. Sau đó cha cùng mấy bác, mấy chú tập trung
ở nhà thờ họ để làm lễ. Mẹ nấu xôi chè
để chuẩn bị cho lễ đầu năm. Tôi và em giúp
mẹ dọn dẹp đâu đấy xong xuôi, hai anh em tôi
ngồi vào bàn. Kim Long đọc sách, còn tôi mang
cuốn sổ nhật ký ra ghi chép. Tôi nhìn lên bàn
thờ, những nén nhang đang nghi ngút khói. Tôi
nhìn vào di ảnh bà nội đang nhìn xuống trầm tư.
Tôi nhìn quanh nhà, không dưng trong suy nghĩ tôi
bỗng rộn lên những hồi chuông ngân vang đằm
thắm. Tôi đang ngồi đây, nơi ngôi nhà tôi cất
tiếng khóc chào đời. Nơi có mẹ có cha có em
có trầm luân có xiêu đổ. Tôi viết thoăn
thoắt xuống đầy trang giấy trắng. Ước chi mấy
người chị tôi đừng mệnh yểu thì đời mẹ
tôi vui thêm biết bao. Ước chi quê hương đừng
giặc giã thì hôm này nhà tôi sẽ tưng bừng lễ
hội.
Cha từ nhà thờ
họ về đúng lúc để cúng đầu năm. Mâm xôi
chè đơn sơ được mẹ bày biện đẹp mắt. Cha
đốt nến, thắp thêm nén nhang mới, rồi quỳ
lạy. Chúng tôi đón giao thừa lặng lẽ. Chẳng
có pháo đì đùng. Chẳng có tiền mừng tuổi.
Chẳng có lộc đầu năm.
............
Ngày mồng một
tết không nắng, mây tuy mỏng nhưng đủ che lấp
ánh mặt trời khiến cho không gian u u. Tôi ở
nhà không đi xông đất bà con, vì sợ mình nặng
vía sẽ làm cho bà con xui xẻo trọn năm nên ngần
ngại. Tôi ngồi trong cửa sổ nhìn ra bụi tre già
trước ngõ sát múi cầu. Trong đó còn có cây
sầu đông trụi lá hắt những nhánh cành khẳng
khiu vượt lên khỏi đọt tre. Còn bám víu trên
cành những chùm trái khô đen chưa rụng. Hàng
chè tàu trước sân vẫn xanh. Hai gốc mai già vẫn
chưa có nụ bông nào để đón tết. Mẹ đi lễ
chùa từ sớm. Cha đi mừng tuổi bà con họ hàng,
rồi lên chợ Hôm thăm bác Cách để mừng tuổi
tổ tiên bên ngoại. Nhà bác là nơi thờ linh vị
ông bà ngoại của cha. Một ngày đầu năm bình
thường nhạt phèo. Tôi chui lên giường bố của
cha ngủ một giấc cho đến khi cha mẹ và Kim Long
trở về.
Hôm sau, tôi và
em theo mẹ về làng ngoại. Dọc đường đi tôi
thở với mùi nhang trầm quyện trong không khí. Dù
tình thế bất ổn, nhưng mùi vị tết đâu đó vẫn
đằm đằm tự tại. Những người quen đi ngược
chiều gặp nhau chào hỏi rộn ràng. Bước qua cầu
Tùng Thị là không gian mát rượi trước mặt.
Theo con đường nhỏ chúng tôi rẽ xuống bến đò.
Vẫn là triền sông lở đứng. Người đưa đò
cặp sát bờ, cất tiếng chào hỏi mẹ thân
thiết.
Làng ngoại cũng
là một dải đất hẹp dọc theo sông Ô lâu như
làng tôi. Con đường cái chạy cặp theo sông từ
đầu làng cho đến cuối làng. Từ đường cái
cũng là những con đường xóm nhỏ chạy ra cánh
đồng phía sau lưng.
Năm nào cũng
vậy, nơi đầu tiên chúng tôi phải đến trước
đó là ngôi nhà tranh bé nhỏ nằm gần tận cuối
làng. Ðó là nhà của anh Hóng, cháu gọi mẹ
bằng o. Trong ngôi nhà này thờ linh vị của ông
ngoại tôi. Những người đồng hàng ruột thịt
với mẹ đều không còn ai. Kẻ thì đã qua đời,
người thì thất tán. Cho nên việc thờ phượng
đều do anh Hóng chăm sóc. Thân sinh của anh với
mẹ cùng chung một ông nội. Tuy ngang hàng tôi,
nhưng anh Hóng chẳng nhỏ tuổi hơn mẹ bao nhiêu.
Hàm răng anh rụng gần hết tạo cho khuôn mặt lúc
nào cũng móm mém hom hem. Chị Hóng cũng thế,
khuôn mặt bao giờ cũng xanh xao như người bệnh.
Anh chị có 2 người con trai. Ðứa lớn tuổi tên
Lười nhập ngũ đồn trú ở xa. Ðứa kế là
Ða, đi theo du kích từ mấy năm trước.
Sau những chào
hỏi mừng rỡ, mẹ bảo anh Hóng bày biện lễ
vật mà mẹ mang theo ra trên cái giường tre nằm
trước bàn thờ. Anh Hóng đốt đèn, thắp nhang.
Mẹ quì xuống khấn nguyện. Tôi và Kim Long quì theo
lạy mừng tuổi ông ngoại.
Tôi không biết
sinh thời ông ngoại ra sao. Chẳng biết ông có linh
thiêng nhìn xuống đứa con gái vất vả của mình
cùng mấy đứa cháu ngoại đang cúi đầu cầu xin
ơn phước. Tôi biết ông mất sớm. Thời con gái
mẹ mồ côi cha. Tôi biết bà ngoại bước thêm
bước nữa. Những điều này càng khiến cho
thời thanh xuân của mẹ khô quắt chia lìa. Tôi
biết đời mẹ bất hạnh. Nhưng lạ, là bao giờ
mẹ cũng nhắc nhở cho bầy con về thuở con gái
của mình những kỷ niệm hồng hào chất ngất
niềm vui. Ở đó luôn là vầng sáng như nắng ban
mai. Ðôi lúc tôi tò mò hỏi mẹ. Người chỉ hạ
giọng buồn khổ thì nhớ chi con. Tôi mong ông
ngoại đang ở đâu đó hãy tự hào về mẹ.
Ðứa con gái côi cút thuở nào giờ đây đã
vươn lên, dù cuộc sống khổ lụy trầm luân nhưng
trong tâm trước sau vẫn an hòa trung hậu.
Tôi ra trước
hiên nhà ngồi bệt xuống trên thềm đất ngó
mông. Bên kia sông, cánh đồng trải rộng trơ
độc cây xoài sừng sừng cái tán tròn xanh, như
tụ điểm hy vọng giữa nền trời. Chung quanh ngôi
nhà là một miếng đất rộng bao bọc. Miếng đất
này tới mùa thì được anh Hóng cày lên để
gieo mạ. Sau khi mạ nhổ rồi thì trồng sắn khoai.
Sát bìa là những hàng chuối sứ, cùng dăm ba
bụi mía lau. Trên chỗ này ngày nào tôi trần
truồng chạy nhảy với Ða. Hai chú cháu chơi chán
chê rồi quay ra vật lộn sứt trán u đầu. Tôi
quay vào nhà hỏi thăm tin tức về Ða, anh Hóng
chỉ thở dài. Không biết hắn ở mô. Chị Hóng
khi nghe nhắc đến con mình thì người trở nên
đờ đẫn.
Chúng tôi quay ngược lại đường cũ, qua vài con
ngõ hẻm, gặp nhà thờ họ ngoại. Ðó là ngôi
từ đường rộng lớn đồ sộ, nằm bên đường
quay hướng ra mặt sông. Sát mặt đường, ngăn
chia với cái sân rộng là cái bình phong bằng
đá xây, được chạm trổ những rồng phượng.
Hai bên là hai cửa ra vào hình bán nguyệt, cánh
cửa là những miếng gỗ dày chắc đã lên
nước đen sì. Từ bình phong đến từ đường là
cái sân rộng lót gạch đều đặn. Hai bên sân
có nhiều cây kiểng được trồng trong những
chậu men sứ trắng có bông xanh tô điểm. Mái
ngói đã lên đầy rêu. Trên đỉnh mái, chính
giữa có một vật thể giống như hình mặt trời
tròn. Hai bên có hai con rồng chầu mặt vào. Nhiều
loại cây tầm gửi bám đầy hai bên vách tường
đầy lá xum xuê. Bên trong là những bệ thờ
trang nghiêm, cùng với cột kèo chạm trổ tinh vi,
tất cả đều được sơn son thếp vàng.
Chúng tôi đi
vào cánh cửa bên phải. Từ cánh cửa này là
một dãy hành lang có mái dẫn thẳng ra sau hậu
đường. Ðây là nơi dùng để làm bếp núc và
chỗ ăn uống. Thủ từ là người cậu họ, mừng
rỡ khi thấy chúng tôi. Cậu sốt sắng mang bánh
trái bày ra. Cậu hỏi anh em tôi. Mấy đứa bây
học hành tới mô rồi. Kim Long thưa gửi chi đó
khiến người cậu cười xòa.
Tôi rón rén bỏ
dép ở ngoài cửa bước vào từ đường. Trên
điện thờ chỉ có vài ngọn đèn dầu tù mù
tạo nên không khí rờn rợn âm u. Tất cả các
bài vị và những bát nhang đều lạnh lẽo chập
chờn trong chút ánh sáng hư ảo nhỏ nhoi từ
bóng đèn hắt lên. Tôi đi thẳng tới chính
điện. Hương linh tổ tiên của giòng họ ngoại
tôi đang ngự trì trên đó. Trí óc tôi rộn
ràng trở về những ngày giỗ chạp có đầy đủ
con cháu tụ họp đông vui. Ðịnh luật sống của
thời này là mất mát chăng. Hôm nay, ngày mồng
hai tết chỉ còn có đứa cháu ngoại thui thủi
trước điện thờ. Không dưng tôi sợ hãi, đi
giật lùi ra cửa.
Tôi nghe tiếng
mẹ. Ghé qua thăm cậu một chút rồi tui đi vô
thăm ôn. Có tiếng người cậu. Rứa chị không
vô điện thờ mừng tuổi tổ tiên. Giọng mẹ
trầm lại. Thôi đi cậu, tui không muốn. Tôi biết
mẹ không muốn bắt gặp cảm giác buồn tủi, nên
người thoái thác.
Nằm ở ngay sau
lưng nhà thờ họ là hai ngôi nhà của cậu Hoành
và cậu Xích, em họ của mẹ. Hai cậu đã trung
niên, đều có vợ con. Ôn mà mẹ nhắc là thân
sinh của hai cậu. Ôn đã già nhưng còn quắc
thước. Khuôn mặt tuy nhăn nheo nhưng điểm vào
đó là bộ râu trắng như cước mọc xuống tới
ngực. Gặp chúng tôi hai mắt của ôn cười him
lại thu dấu sự mừng rỡ. Cậu Hoành xoa đầu
cả hai đứa cháu rồi hối thúc mợ dọn thức
ăn. Mợ là người nhỏ bé như mẹ, luôn ham
việc. Tuy không đói bụng nhưng chúng tôi vẫn
ngồi vào bàn. Cậu nhắc nhở chúng tôi gắp món
này, ăn món kia. Mấy đứa em họ ngồi quanh nói
cười luôn miệng. Sau khi ăn uống mợ Hoành còn
nhét cho anh em tôi một mớ bánh trái làm quà
tết.
Chúng tôi xin
phép giã từ rồi bước qua nhà của cậu Xích
ngay bên cạnh. Khác với cậu Hoành là người cao
gầy nho nhã trầm tư. Cậu Xích là người đẫm
thấp, vạm vỡ với khuôn mặt vuông vức. Trên
môi luôn chực sẵn nụ cười vui nhộn. Cậu chào
mừng tôi bằng cái xách tai mạnh bạo. Cậu nhìn
mẹ cười hề hề. Chị rứa mà có phước. Con
cái đứa mô cũng có khiếu học hành. Cậu quay
sang gọi tục danh của tôi hồi nhỏ. Cậu quay sang
Kim Long hỏi cháu biết viết thơ ve gái chưa. Chưa
biết thì khi mô qua đây cậu dạy cho. Mợ Xích,
trái lại cao hơn cậu một cái đầu, đang thầm thì
với mẹ nghe cậu đùa, mợ chen vào. Cậu bây chỉ
có cái đó là giỏi. Cả nhà đều cười vang
ấm áp... Cậu Xích nhìn mẹ rồi ngó qua tôi
nói giọng trầm trọng. Chị bảo cháu lo mà giữ
thân. Cứ ngờ ngờ như rứa bên mô gặp cũng
rắc rối. Chị nói cháu sau tết ni đừng có mò
về nữa. Mẹ đáp lời bình thản. Tui lo mà rồi
không lo nữa, tính cháu như rứa, liều mạng...
Tôi biết lắm chứ, nhưng hề gì. Tới đâu thì
tới. Mảnh đất này tôi không thể nào chối
bỏ. Lý trí tôi bảo đừng nhưng lòng tôi lại
không nghe theo.
Chúng tôi đi
ngược lên hướng cũ, ghé vào nhà hai bà dì.
Nơi ngôi nhà mà sinh thời bà ngoại đã ở. Dì
Thỉ ra đón mẹ con chúng tôi tức tưởi. Dì Lé
ở nhà bên cạnh bước qua. Ba chị em hàn huyên
trong nước mắt. Tôi rưng rưng. Nước mắt có
làm nguôi bớt những khổ lụy hay lại chồng
chất thêm. Ðời hai bà dì bất hạnh hơn mẹ. Mất
mát tinh thần cọng với đời sống nghèo túng
làm cho đời của các dì mòn hơi. Dì Lé sống
với mấy đứa con của chồng như một sự nương
tựa tạm bợ. Còn dì Thỉ thì dượng Kính, chồng
của dì chết sau khi Vang mới lọt lòng. Tôi không
nhớ rõ chi tiết về người dượng này nhiều.
Theo mẹ cho hay thì dượng cũng một tay tài hoa,
từng làm ra dăm ba bài vè cho bà con ngâm nga.
Dượng bỏ lại cho dì một bầy con 6 đứa, nhưng
đời dì cũng chẳng may mắn hơn. Ðứa con trai cả
là Dường, đi lính đóng ở Pleiku, đã dẫn vợ
con theo. Người con gái thứ hai là Tin, nhan sắc
linh lợi. Tin lấy chồng có 2 đứa con, bị bệnh qua
đời đột ngột. Tín, đứa em trai kế cũng chết
lúc còn nhỏ, tôi không nhớ mặt. Tiếp theo Tín
là Vui, con trai bằng tuổi tôi. Vui cũng đã yểu
mệnh vì bệnh hoạn mấy năm trước. Áp út là
Vẻ, con gái cũng đã chết tức tưởi lúc tuổi
dậy thì. Dì còn một cô con út bằng tuổi Kim Long
là Vang, đang ngồi trước mặt tôi, hai mẹ con
cùng nhau sớm tối hẩm hút... Nuôi con trong hoàn
cảnh góa bụa, tưởng đâu con cái sẽ là những
niềm vui. Chứng kiến những đứa con yểu mệnh
dần dần, dì phải có một nghị lực to lớn lắm
mới trấn áp nỗi những khổ đau, sống được
cho đến bây giờ. Dì đưa tay quệt nước mắt
bảo Kim Long lại gần. Dì đưa bàn tay đen rám lên
khẻ gỡ một bợn ghèn bên khóe mắt em. Kim Long
ngẩng mặt ngọ nguậy.
Tôi muốn đến
ôm dì an ủi, nhưng sợ dì tủi thân khóc nữa
nên ngồi yên. Tôi muốn thắp nhang lạy mừng
tuổi bà ngoại, nhưng đành chịu. Trên bàn thờ
hai bên là hai cây nến trắng, chính giữa là một
bình hoa cắm đầy bông vạn thọ. Xa trên vách phía
trong là tượng chúa đóng đinh trên thánh giá.
Tết nhất mà không có nhang khói làm cho không
khí căn nhà thêm trống vắng lạnh lẽo. Bà ngoại
mất đã mười mấy năm mà tôi thấy như hôm
qua. Vị trí cái giường của bà nằm vẫn còn chỗ
cũ. Căn nhà phối trí vẫn như xưa. Vang ngồi thả
hai chân xuống chà chà nền nhà, hỏi tôi. Khi mô
thì anh đi học lại. Tôi nói là thứ hai mồng 5
tết. Khuôn mặt Vang bé nhỏ, chịu đựng, tuy còn
dại nhưng thần thái như nụ hoa khô. Tôi nguyện
thầm em hãy sống với dì đừng có bỏ đi.
Nhìn mẹ và hai
dì ngồi với nhau chĩu nặng buồn phiền, tôi chịu
đựng hết nỗi, bèn bước ra ngoài sân. Trước
mặt nhà vẫn con hói nhỏ chảy ngang trên mặt phủ
đầy bèo. Từ sân ra tới bìa hói là một
khoảng đất trủng vuông vắn được trồng rau
muống. Bên kia hói còn đó ngôi nhà hàng xóm
với cái nền khá cao cách lìa với mặt sân.
Bên hông phía nhà của dì Lé là đám ruộng
chạy ra thẳng gặp rặng tre già phân chia với
cánh đồng bên kia. Sát vách nhà là độn rơm
khô ngày nào bà ngoại mất, tôi chạy ra đó
đứng khóc một mình.
Nhà dì Lé cửa
ngõ toang hoác. Mấy đứa em họ tôi đi vắng. Tôi
bước vào, trên giường tre bên góc một con gà
đang bươi móc. Tôi quơ tay xua đuổi. Nó hoảng
hốt lách nhanh ra cửa. Tôi ngồi xuống cái
giường đặt giữa nhà. Cũng như bên nhà dì
Thỉ, mọi vật bày biện trong nhà hiện rõ lên
sự nghèo túng xơ xác. Trên mái cũng như chung
quanh vách đều được lợp bằng tranh. Lâu quá
lớp tranh này chưa được thay nên đã ngã màu
nâu đen gần như muốn rã mục. Tôi ngậm ngùi.
Ước chi mình giàu có. Những suy nghĩ, những
chữ nghĩa của tôi đều vô ích trước thực
tại này. Con gà hồi nảy không nghe gì lại thập
thò trở vào. Nỗi phẫn uất vô cớ bùng lên,
tôi vụt đứng dậy rượt đuổi con gà. Nó thất
thần đập cánh quay trở ngược, trả tôi những
tiếng quang quác thức thách.
Chắc nghe tiếng
gà, dì Lé trở lại nhà, thấy tôi dì hỏi chi
rứa cháu. Tôi thu lại buồn bực đáp vui vẻ. Con
gà vô phá nhà, cháu đuổi ra. Dì không trả
lời đi thẳng vô góc bếp. Dì lục lọi một hồi
rồi bưng ra cái trẹt nhỏ, trên đó có 4 chén
chè, một nãi chuối tiêu với một đòn bánh
tét. Dì nói giọng an phận. Tết khôn có chi, dì
để dành chừng ni cho hai đứa bây. Ăn khôn hết
thì nhớ mang về. Trong lòng tôi muốn từ chối,
vì thấy nhà không còn gì, nhưng sợ dì tủi
thân. Tôi sốt sắng. Ðể cháu bưng qua. Hai dì
cháu trở lại nhà của dì Thỉ. Thấy chúng tôi
vào, dì Thỉ đứng lên. Mần chi cho chị với hai
cháu ăn uống để rồi về. Vang đi vô bếp lấy
chén đũa. Dì Thỉ bưng ra thêm một dĩa thịt heo
luộc thái mỏng, cùng vài dĩa xôi. Chúng tôi
ngồi quanh trên cái giường trước bàn thờ. Mẹ
vui vẻ nhắc chuyện mấy chị em khi còn ấu thơ.
Bữa ăn như tươi tắn lại. Tôi tò mò. Rứa
hồi nớ răng mà cha gặp mạ. Dì Thỉ cười. Mạ
cháu có biết chi mô. Bên nội cháu qua hỏi thì
bên ngoại gả. Dì Lé đùa thêm. Em còn nhớ chị
bữa đưa dâu còn khóc hù hụ. Chị trốn trong
buồng không chịu ra. Mẹ cười lim dim hai mắt.
Duyên nợ hết hai dì ơi. Tôi phụ họa. Nhờ rứa
chừ mới có mấy đứa cháu qua thăm dì chơ. Mẹ
nghe tôi nói, bật cười làm cho hai dì cười theo.
Trước khi trở
về, chúng tôi còn phải đi vào thăm nhà ôn
Thỉ, trùng tên với bà dì tôi. Ôn là em họ
của bà ngoại. Khi ra khỏi ngõ nhà của hai dì, nơi
sát đường cái, cái quán tạp hóa nhỏ của dì
Liên đóng cửa vắng ngắt. Mẹ nói là dì Liên
đã đi theo ở với con cháu nơi nào đó xa lắm.
Trời đã ngã chiều. Ba mẹ con đi trở ngược
về hướng bến đò. Qua ngôi giáo đường cổ,
nhìn vào cửa nẻo đóng chặt. Cái sân rộng lên
đầy rêu. Sừng sững trên nóc là ngọn thánh
giá in hình vào nền trời. Tôi nhớ những lần
theo dì đọc kinh quì ê cả hai đầu gối. Tiếng kinh
cầu còn ngân vang. Kính mầng Maria đức mẹ chúa
trời cho chúng tôi là kẻ có tội... A men. Những
lần đó tuy buồn ngủ, phải gục đầu xuống hàng
vai tựa của dãy ghế trước mặt, trong trí tôi
vẫn gợi những thắc mắc. Răng mà cho chúng tôi
là kẻ có tội được. Chúng tôi có mần chi mô
mà phải có tội. Tôi đã mang điều này hỏi
một người bà con. Người dì họ này đã trả
lời tôi, giọng lo lắng sợ như có người thứ
ba nghe được. Cháu đừng có thắc mắc như rứa,
không nên.
Qua cái cầu nhỏ
bắc qua con hói ngay bến đò, chúng tôi tiếp tục
đi nữa. Phía bên tay phải là ngôi đình làng
ngoại to lớn với cái sân thật rộng quay mặt ra
hướng bờ sông. Sau chiến tranh đình được
trùng tu. Cha tôi là một trong những người dự
việc xây dựng này. Dân làng đã làm lễ khánh
thành ngôi đình rất trọng đại. Hình như cha
được làng ngoại cho một vinh dự chi đó, nhưng
cha đã từ chối. Cha nại cớ mình là con rễ của
làng thì cũng phải đóng góp như dân làng. Hồi
đó, công việc túi bụi. Tuy gần nhà, nhưng cha
ăn ở luôn trong cái rạp nhỏ bên hông. Thỉnh
thoảng anh em chúng tôi qua thăm rồi ngủ lại.
Những cậu, những dì mang quà bánh cho anh em chúng
tôi nhiều vô kể. Cha thường phiền hà, nói
với bà con là đừng mầng như rứa mấy cháu
thêm hư hỏng. Một lần, sau khi một ông cậu họ xa
mang đến cho anh em tôi một nải chuối chín vàng.
Tôi hí hửng nhận quà. Sau khi ông cậu ra về,
tôi xớ rớ ở bên cạnh nhìn cha đang đo thước
tấc những thân gỗ. Cha ngước mắt lên nói
với tôi bằng giọng nghiêm nghị. Chừ con biết
nhận thì sau ni con phải biết cho. Xong câu, cha cúi
xuống tiếp tục công việc.
Con đường chạy
ngang trước đình thẳng tới thì gặp một con hói
khá rộng từ sau cánh đồng làng ngoại chảy ra
nhập vào sông Ô Lâu. Bắc qua con hói là chiếc
cầu gỗ rộng rãi hình cánh cung. Bên đó là địa
phận của làng An Thơ. Cặp theo con hói này, ở
bên hông đình, là con đường cái chạy thẳng ra
phía sau cánh đồng. Nhà thờ họ Lê-Thanh, nơi
thờ phượng tổ tiên của bà ngoại tôi nằm
trên con đường này. Ðó là ngôi từ đường
to lớn cổ kính bề thế nhất làng. Ngay cổng ra
vào là hai trụ hoa biểu cao lớn vững chãi, với
một dãy tường thành phân cách bên ngoài và
bên trong. Ngoài ngôi điện bề thế nằm giữa, hai
bên là hai tòa nhà nằm ngang cũng to lớn không
kém. ở giữa là cái sân gạch rộng lớn đặt
nhiều chậu cây kiểng rất đẹp mắt. Khi đi ngang
qua, tôi không thấy gì bên trong vì hai cánh cửa
đã được đóng kín.
Nhà của ôn Thỉ
nằm gần cuối đường. Ôn trạc bằng tuổi mẹ,
nhưng vai vế lớn hơn. Ôn vẫn com rom như bao giờ.
Lại thăm hỏi chào đón. Lại ăn uống vui vẻ.
Mẹ vào trước bàn thờ thắp nhang. Mẹ quay ra
bảo tôi với em vô lạy mừng tuổi tổ tiên bên
ngoại của mẹ. Mụ Thỉ lui cui cột cho hai anh em tôi
mấy đòn bánh tét. Nhìn anh em tôi, mụ cười hề
hề văng nước cốt trầu đỏ tươi ra ngoài
miệng. Mụ đùa, cháu có muốn sau ni mần rể làng
ngoại khôn. Tôi cười ngượng ngịu. Ôn Thỉ trả
lời dùm tôi giọng che chở ấm áp. Mấy đứa
bây gắng học tập nên người cái đã. Có muốn
như cha bây thì khi đó tau mai mối cho...
Ba mẹ con trở lại nhà khi trời đã vào đêm. Bầu trời kéo mây, gió se lạnh. Ðường làng vắng tanh. Vài mái nhà bên đường đã lên đèn, hắt chút ánh sáng ra ngoài, le lói chập choạng. Khi qua khỏi cầu Tùng Thị một đoạn, chúng tôi định tạt vô thăm o Khả, nhà ở sát bên vệ đường. Khi đi ngang nhà o bên trong tối thui, chắc o đi vắng. O là em ruột của bác Lượng, góa chồng sớm. O không tái giá, ở vậy nuôi một bầy con. Hai người con gái cuối của o là Hạnh và Hoa, lấy chồng làng. Cả hai người anh rễ này đều đã tử trận. Hạnh, Hoa trở thành góa phụ trong cái tuổi còn ngồn ngộn trẻ măng. Tôi nhận thấy phần lớn những người nữ có bà con xa gần với tôi tuy có nhan sắc, nhưng lại gặp bất hạnh về đường phối ngẫu. Lúc này suy nghĩ của tôi còn non nớt, chưa tìm cho mình được một giải đáp thỏa đáng. Tôi chỉ mù mờ nhận ra rằng mỗi người sinh ra hình như đã được sắp đặt sẵn một định mệnh. Ai có phần nấy, không chọn lựa. Tức là khi được sinh ra con người ở trong thế một sự đã rồi...
Còn một ngày mai nữa. Ngày mốt chủ nhật, mồng
4 tết tôi sẽ phải trở lại Phong Ðiền tiếp tục
công việc học hành. Cả ngày mệt mỏi, sau khi cha
mẹ thắp nhang trên bàn thờ, cúng bánh trái, cả
nhà ăn uống qua loa. Tôi và Kim Long liền chui
xuống hầm trú ẩn ngoài sân. Ðặt lưng xuống là
tôi ngủ thiếp đi. Trong mơ hồ tôi thấy mình trần
truồng phơi nắng ngoài độn cát. Rồi có tiếng
chó tru tréo rượt đuổi. Tôi chạy thục mạng
té lên té xuống rồi giật mình thức giấc. Cổ
họng tôi khô rát, cơn khát nỗi dậy. Tôi lồm
cồm bò lên, trong bóng tối, tôi mò mẫm bước
vào nhà, tìm nước uống.
Mấy ngụm nước
làm cho tôi tỉnh táo. Tôi chưa chui xuống hầm
liền, mà đứng ngay miệng cửa. Thân thể tôi
ở trong vị thế nửa trên nửa dưới, ngực tôi
ngang bằng với mặt đất. Ðêm tối đen. Gió lạnh
thổi rì rào trên đọt tre. Tiếng tàu lá chuối
sột soạt bên hiên nhà. Thỉnh thoảng có luồng
gió thổi sát mặt đất, đập thẳng vào mặt vào
ngực, tôi rùng mình ớn lạnh. Tôi đứng như
thế không biết bao lâu. Bỗng dưng tôi nghe tiếng
của nhiều bước chân người đi nhịp đều ở
hướng xóm trên đang tiến dần xuống. Tôi sợ
hãi thụp đầu xuống, nhưng chưa chui vô hẳn trong
hầm. Tiếng của những bước chân vẫn đều đặn
đi ngang trước mặt nhà, rồi thẳng xuống phía
dưới. Tôi nghĩ đó là một toán du kích Việt
cọng đang trên đường đến khủng bố một mục
tiêu nào đó. Tôi chui vô hầm, nằm xuống bên
cạnh Kim Long cố dỗ giấc ngủ.
Hôm sau tôi chạy qua chú Anh xông đất. Cháu vẫn
chưa về thăm. Tôi đùa nghịch với mấy đứa em
họ một hồi rồi trở về nhà. Choạng vạng tôi
đi theo cha qua nhà thờ họ thắp nhang. Trái ngược
với nhà thờ họ ngoại, ngôi từ đường họ
nội của tôi thật khiêm tốn nhỏ nhoi. Ðó chỉ
là một ngôi nhà hẹp, tuy vách được xây bằng
táp lô nhưng chưa được tô láng. Trên mái
lợp tranh, cửa ngõ làm bằng tre đan lại. Ðiện
thờ là 3 cái bục xây bằng xi măng, đã nứt
nẻ sập lún xuống vì nền từ đường dựng
trên đất bùn thiếu vững chắc. Nhìn tổng thể
của ngôi từ đường cũng đủ thấy biểu
tượng của cả giòng họ nội tôi. Xiêu vẹo,
chông chênh như đời sống của đám con cháu.
Mỗi lần qua đây
là mỗi lần tôi xót xa. Nhìn lên kệ thờ hoang
lạnh tồi tàn chỉ một màu xám đen. Nhìn những
bát nhang còm cõi trong không khí thiếu vắng. Nhìn
bệ thờ rạn nứt muốn ngả đổ bất cứ lúc
nào. Tổ tiên ngự trì một nơi như thế thì làm
sao cho con cháu cất đầu lên. Không phải là bà
con họ hàng không chịu trùng tu. Nhưng rồi đâu
lại vào đấy. Những bộ đồ thờ đều bị
người trong làng, tôi không biết ai, đánh cắp.
Họ hàng tôi đành thúc thủ, không biết kêu ai.
Tôi phụ cha thắp
nhang trên bàn thờ, rồi đi ra ngôi miếu cổ ở
bên hông. Ngôi miếu nhỏ phía trong chỉ vừa đủ
cho một bát nhang. Trên mái rêu xanh mủn bám dầy,
hai bên nóc đầy những cây leo buông thỏng cành
lá đu đưa. Tôi cắm nhang xong, trở lại từ
đường ngồi xuống bậc cửa nhìn ra mặt sông.
Bên trong cha đang quì lạy. Không biết người khấn
nguyện những gì. Tôi nhớ về nơi phát tích của
tổ tiên mà trong một lần cha thú lộ. Tôi không
biết người khởi đầu của giòng họ này khi
từ quan xuống sông làm nghề chài lưới có
tiên đoán tương lai của đám con cháu về sau như
chúng tôi không. Hay người cũng chỉ vì những
ngông ngạo tự ái nhất thời khiến cho đám hậu
duệ phải chìm đắm theo tận đến bây giờ. Nghĩ
cho cùng tôi không hề trách cứ tổ tiên. Vì
nghề chài lưới theo tôi đâu phải là một nghề
hạ bạc như thiên hạ hẹp hòi qui trách. Chẳng qua
là vì cách sống của chúng tôi đấy thôi. Chịu
đựng nhẫn nhịn đã trở thành thói quen khiến
cho thiên hạ dễ dàng lên mặt khiêu khích. Nếu
bà con tôi quả cảm thêm một chút trong lề lối
hành xử thì chắc không ai dám coi thường. Tôi
không ngoa đâu. Phát tích của nhà Trần mấy lần
thắng giặc Mông Cổ, giữ nghiệp đế vương mấy
trăm năm cũng khởi từ cơ nghiệp chài lưới
như tổ tiên giòng họ tôi...
nguyễn đức
bạtngàn / thầm lặng trời, thầm lặng đất