Bên Bờ Ô Lâu
Ấu thơ tôi có nhiều ngọt nồng. Tôi là con thứ
tám trong một gia đình có chín anh chị em. Khi tôi
sinh ra thì hai người anh và hai người chị đã
chết vì tật bệnh. Tôi trở thành đứa con thứ
tư của một nhà có năm anh em trai.
Mới sinh ra tôi
là đứa nhỏ khó nuôi. Tôi bị bệnh khóc. Khóc
hoài không dứt. Tôi còn bị tật cà lăm nặng.
Lúc 5, 6 tuổi thì bị sài, ghẻ đầy người. Lên
7, 8 tuổi tôi lại đau yếu ngặt nghèo, phải chở
đi điều trị ở bệnh viện Huế. Bệnh hoạn còn
tiếp tục hành hạ hầu như suốt thời gian tôi
theo học trung học đệ nhất cấp. Ðó là chuyện
về sau.
Trở lại bệnh
khóc của tôi. Theo lời mẹ kể, lúc tôi sinh ra
thì giặc Tây ruồng bố. Cả nhà phải trốn tránh.
Rất cần sự yên lặng để bảo toàn mạng sống.
Rứa mà tôi cứ khóc ngất. Thôi thì phó thác
cho trời. Cả nhà tôi trốn chui trốn nhủi từ
hầm này đến mương kia. Tôi được quấn trong bao
bố.
Có lần lũ lụt.
Căn hầm trú ẩn của nhà tôi ngập nước. Mẹ
đặt tôi nằm trên tấm phản kề sát miệng hầm.
Tôi không chịu nằm yên, ngọ nguậy lung tung. Mẹ
tôi vì bận việc quên để ý. Làm thế nào mà
tôi lại rớt ngay xuống hầm, rồi chìm xuống tận
đáy. Khi mẹ tôi quay lại không thấy tôi đâu.
Nhìn miệng hầm thì thấy bọt nước sủi tăm. Mẹ
nhào xuống bồng tôi lên. Tôi cả người tái
ngắt. Rứa mà trời không bắt tôi chết. Sau này
trải qua bao nhiêu tai biến trong đời, tôi hiểu
được một điều giản dị. Sống hay chết không
phải là điều dễ dàng.
Cha tôi là người nghiêm khắc, kỹ lưỡng. Suốt một đời người, ông chỉ biết công việc. Tính ông nóng nảy, thường rầy rà con cái, cũng như hay hối thúc mẹ tôi trong bất cứ công việc gì. Trong thời gian khiêm tốn được sống gần ông, tôi nhận thấy cha tôi hình như chẳng đam mê một thú tiêu khiển nào. Ngoài một điều là ông rất hào sảng với bạn hữu. Hào sảng là một tính tốt, nhưng đôi lúc vì bạn mà ông quên hẳn vợ con thì quả là chuyện không hay. Ðiều này khiến mẹ tôi tủi thân và làm tôi bất mãn. Cha tôi không thích rượu, nhưng luôn sẵn có rượu ở nhà. Ðám bạn của ông thì khác hẳn ông, có nghĩa là ham nói. Nhà tôi là một trại mộc, nằm ngay con đường cái. Trong lúc ông làm việc thì người này ghé qua kẻ tạt ghé vào. Phần lớn là khách hàng, còn lại là bạn của cha tôi. Lần nào cũng vậy dù bận bịu, nhưng có bạn là cha tôi dừng tay vào nhà mang rượu ra mời. Rồi ông tiếp tục công việc bỏ dở vừa làm vừa nói chuyện. Rượu vào lời ra. Bạn của cha tôi tha hồ nói. Cha tôi không ngừng tay, nhưng tai lắng nghe. Lâu lâu góp vào một câu vô thưởng vô phạt. Tôi thường đứng xớ rớ bên cạnh. Toàn chuyện tào lao. Lời mẹ tôi bình phẩm. Riêng tôi, tôi vừa nghe vừa nghi ngờ lẫn chút bất phục. Tôi cho rằng bạn của cha tôi nói trạng nhiều hơn nói thiệt. Phải chăng đó là dấu hiệu cho tâm hồn nỗi loạn của tôi sau này.
Ông nội tôi mất sớm. Qua lời của cha, sinh thời ông nội tôi là một người thợ mộc khéo, thu nhận nhiều học trò. Nhưng vì ông ra đi vội vã nên tinh hoa của ông không truyền đạt lại cho mấy đứa con trai. Về sau cha tôi theo nghề mộc, nhưng cha đã học nghề lại từ một môn sinh của ông nội tôi. Ông nội cũng có chút chút tài hoa. Ðó là ngón đờn sau khi rảnh rổi công việc. Cũng vì chính tiếng của ngón đờn này mà bà nội tôi đã bỏ theo ông, dù bà biết khi đó đời của ông đang nặng thê thiếp. Cái chết của ông nội quá vô duyên. Dĩ nhiên có cái chết nào mà chẳng vô duyên. Trong một ngày hội làng khoảng cuối mùa xuân, dân làng tụ tập ở đình để cúng tế rồi sau đó cùng nhau ăn uống. Có ai ngờ bữa tiệc này cũng là bữa tiệc vĩnh biệt cho khoảng hai mươi người. Có kẻ cho tai họa xảy ra là bởi vì thức ăn bị ngâu bọc. Tôi không hiểu ngâu bọc là gì, chỉ lờ mờ rằng chắc thức ăn để ngoài trời tế lễ quá lâu nên bị nhiễm độc. Chết là hết, nhưng sau hội lễ mùa xuân, mà trong làng phải chịu một đám tang với hai mươi quan tài dàn hàng một lượt. Cứ hình dung tôi thấy não nùng làm sao.
Ông nội có bốn bà vợ. Bà nội tôi là
người thứ ba. Tôi chẳng biết từ khi kết nghĩa
tào khang với ông, bà có hạnh phúc được
ngày nào không. Ông tôi mất để lại cho bà
tôi bốn người con. Bà nội tuy còn nhan sắc,
nhưng vẫn thủ tiết. Bà một thân một mình xông
xáo nuôi bầy con trưởng thành.
Tôi không biết
số anh em cùng cha khác mẹ với cha tôi là bao
nhiêu người, vì khi tôi lớn lên thì đám
người đó đã thất tán đâu mất. Cha tôi là
con thứ hai. Người con đầu là o Chanh, lấy chồng
là dượng Cược ở xóm trên cùng làng. Hai
vợ chồng o Chanh bỏ xứ đi làm ăn xa, trôi dạt
qua tận bên Lào, rồi Xiêm. Sau 1954 thì hồi hương
nhưng ra Bắc, sống ở Hà Nội. Kế cha tôi là
một gái một trai. Chú Tuệ, người em út, cũng
bỏ xứ theo vợ chồng o Chanh. Có một thời nghe
chú làm thầu khoán ở bên Lào. Sau năm 1954 chú
cùng vợ con theo o Chanh ra miền Bắc, lập nghiệp
ở Tuyên Quang. Người em gái kế của cha tôi là
o Bụi, lấy chồng ở làng, người chồng cũng
tên Cược, trùng tên với chồng của o Chanh, đẻ
một bầy con. O Bụi bị Tây bắn chết vào khoảng
năm 1950. Tôi còn một người chú nữa, chú
Châu, em cùng cha khác mẹ với cha tôi, con của
bà nội thứ tư. Chú rong chơi một mình mất tăm
mất tích, bỏ vợ con ở lại làng. Vợ của chú
là thím Tám, hai đứa con gồm một trai tên Sừng,
cỡ tuổi với anh Cung. Sừng bệnh hoạn, chết yểu
khi mới ngoài hai mươi tuổi. Một gái là Táo,
lớn hơn tôi một vài tuổi. Táo có về ở chung
với gia đình tôi một thời gian. Về sau thím tái
giá làm vợ bé của chú Lý Quảng, sinh được
thằng con trai. Chẳng ai ngờ là sau năm 1975, chú
Châu trở về. Phong thái dáng dấp của chú trông
rất giống cha, chỉ hơi khác khuôn mặt. Khi đó
thím Tám đã mất. Táo lấy chồng phương xa, chú
cũng chẳng gặp mặt. Chú có ngồi với tôi tâm
sự một lần. Tôi thấy chú là kẻ chung tình có
lòng, chứ không hoang đàng hư hỏng như cha tôi
đã phác họa. Chú nói. Tau giống ôn nội của
mi.
Như vậy chỉ còn
ba tôi ở lại lo hương hỏa tổ tiên. Bà nội
của tôi tuy đã già nhưng vẫn còn sáng suốt,
sắc sảo. Ðiều này càng gây thêm khổ tâm lẫn
phiền toái cho mẹ tôi. Giữa bà nội và mẹ,
tôi thương cả hai.
Mẹ tôi là người nhân từ bao dung, luôn luôn
vui. Dáng của mẹ hơi nhỏ bé so với cha. Làng
Phú Kinh quê mẹ, nằm phía dưới làng tôi, bên
kia sông Ô Lâu. Mỗi lần về ngoại phải qua một
chuyến đò ngang. Giòng sông tuy nhỏ nhưng đối
với tôi là không gian bát ngát. Hình ảnh qua
sông thời thơ dại trải dài trong thơ tôi mãi
tận đến ngày hôm nay.
Theo lời mẹ kể,
ông ngoại tôi mất sớm. Như hình ảnh ông nội,
tôi cũng chẳng mường tượng được ông ngoại
là người như thế nào. Chỉ biết ông ngoại
thuộc họ Nguyễn Ðăng, một họ thế gia của làng
ngoại. Bà ngoại của tôi bước thêm bước
nữa. Phía bên nội của mẹ tôi bắt mẹ lại,
không cho mẹ theo sống cùng bà ngoại. Bà ngoại
tôi sau đó còn sinh thêm cho tôi hai bà dì với
một người cậu. Người cậu này, khi trưởng
thành đã bỏ xứ đi làm ăn xa mất tích.
Thời bà ngoại
còn sống với hai bà dì, mỗi lần anh em tôi về,
đều được nuông chiều hết mức. Muốn chi
được nấy. Bà ngoại đôi mắt đã mù. Bà
thường gọi anh em chúng tôi đến gần để cho bà
rờ rẩm. Ðời sống của hai bà dì kém may mắn
hơn mẹ tôi. Cả hai bà, chồng đều chết sớm. Dì
Thỉ, em út của mẹ không tái giá, ở với bà
ngoại nuôi một bầy con. Dì em kế của mẹ là dì
Lé, gọi tên như vậy bởi vì đôi mắt của dì
bị lé bẩm sinh. Với đời chồng trước, dì
không có con cái. Dì lấy người chồng sau là
dượng Thảo, và sống cùng mấy đứa con của
chồng. Ông ngoại thứ hai của tôi, tôi cũng
không thấy mặt. Bên phía ông theo đạo Thiên
Chúa. Nên chi bà ngoại tôi cùng hai bà dì cũng
đi theo. Ngôi nhà thờ làng ngoại tuy không đồ
sộ nhưng uy nghiêm, xây dựng theo kiến trúc La
Mã. Ðã nhiều lần tôi theo dì cùng mấy người
em họ đến nhà thờ đọc kinh.
Hình bóng lớn nhất bao trùm suốt cả đời người tôi, là mẹ tôi. Giữa cha tôi và mẹ tôi là hai hình thái lớn xung biệt nhau. Cha lạnh lùng cô độc, con cái không dám đến gần. Mẹ ngược lại, từ ái che chở. Mẹ chẳng bao giờ ghét ai. Cuộc sống cay nghiệt vậy mà hiếm khi thấy người than thở. Mẹ là một khối lớn của lòng tự tín, dũng cảm, đảm lược, nhân hậu. Mẹ thường bảo chúng tôi. Buồn bã không giải quyết được chi mô con ơi. Về sau anh em tôi phân hóa, cuộc sống trong chiến tranh gây nhiều mất mát. Mẹ lo lắng buồn phiền, điều này khiến mẹ đổi tính đôi phần. Con cái tuy thành thân nhưng nằm ngoài ước vọng của mẹ. Mẹ thỉnh thoảng gắt gỏng, hài tội anh em chúng tôi. Cũng chẳng có gì lớn chuyện. Như đứa này ham chơi, đứa kia nghe lời vợ. Tuy vậy, như bao giờ, mẹ vẫn là điểm tựa lớn giữa đời khắc nghiệt đang bao quanh tôi. Mỗi lần tưởng về người, tim tôi nhói đau. u thơ tôi như cánh buồm. Mẹ là gió lớn thổi tràn đầy căng buồm đưa thuyền đi xa. Mẹ là khởi điểm lửa đầu của đời thơ tôi.
Tôi không biết là mình có trí nhớ từ bao giờ, chắc khoảng năm tôi được chừng vài tuổi. Ðó là thời kỳ sắp sửa cho hiệp định đình chiến Genève (1954) chia đôi đất nước ra hai miền Nam Bắc. Hai miền, hai thể chế chính trị xung biệt. Miền Bắc do Hồ Chí Minh lãnh đạo theo chế độ cọng sản. Miền Nam do Ngô Ðình Diệm cai quản theo chế độ cọng hòa. Hồ là cọng sản thuần thành, được huấn luyện từ Nga, trở về nước lập ra đảng cọng sản. Hồ núp dưới danh nghĩa dân tộc, lãnh đạo phong trào kháng chiến chống Pháp dành độc lập cho đất nước. Ngô là cựu quan lại của vương triều nhà Nguyễn, vì bất mãn Ngô đào tị ở Mỹ, trở về. Khoảng thời gian đầu của chia cắt, tình hình đất nước tương đối yên tĩnh. Làng tôi sống trong trạng thái an ổn. Trong khoảng thời gian này trong nhà tôi hay bàn đến chuyện tập kết, tức là những người theo Việt Minh Cọng Sản ra miền Bắc. Câu hát chiều nào đây trên bến ca nô, sáng nào đây bên đường quốc lộ, không có người ra Việt Bắc xa xôi, tôi nghe anh Cung ư ử suốt ngày. Mẹ tôi thường răn. Con ngậm miệng lại khôn thì chết. Chuyện cụ Ngô chấp chánh với những câu châm biếm khinh bạc của cha tôi về ngày trưng cầu dân ý 23 tháng 10 năm 1955. Tự do cấy chi mà phải xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ bì.
Những lần ở nhà cùng bà nội, với đứa em
út còn dại. Mấy bà cháu thường ra ngồi ở
phía sau nhà. Bà nội thầm thì chuyện xưa chuyện
nay. Tai tôi nghe, nhưng đôi mắt cứ nhìn sông Ô
Lâu xanh mướt lấp lánh. Trên mặt sông điểm
xuyết những bóng cò trắng xóa, lướt bay rồi
tụ bầy hạ cánh trên cồn Nỗi. Có lần tôi
buột miệng. Mệ ơi mệ, cun cò đậu bên tê
sông mệ tề. Ðó chỉ là câu nói ngẫu nhiên
từ cảnh tượng khách quan có tính bột phát. Bà
nghe xong gật gù, tôi tưởng vậy rồi thôi. Không
ngờ bà nội đã kể lại cho cả nhà nghe. Cả
nhà được một trận cười. Thằng Ðái mần
thơ. Ðái là tên tục của tôi do bà nội
đặt, theo ý bà là cứ hễ đặt tên xấu thì
đứa nhỏ dễ nuôi. Câu cun cò đậu bên tê
sông được mọi người trong nhà lặp đi lặp
lại. Nhất là người anh thứ hai của tôi, anh
Cung. Ðôi lúc hứng chí anh Cung còn ngâm lên
khiến cả nhà cười vang. Câu này không dừng
lại ở trong nhà mà còn lan ra ngoài. Ðám bạn
tuổi nhỏ của tôi cứ đi theo xoi tì, tức là
vừa bươi móc vừa chọc ghẹo tôi không ngớt.
Trong lúc ghi lại hồi ức này (tháng 8/1994) tôi
nghĩ câu cun cò... là sản phẩm thơ đầu tiên
của đời thơ tôi.
Giai thoại lớn
nữa về tôi, mà cả gia đình hay nhắc nhở để
cùng cười đùa vui vẻ, bắt nguồn từ tật cà
lăm của tôi. Anh Chính, người anh cả đi dạy
học. Một bữa anh trở về nhà với một cái
cặp da mới. Tôi lân la bày tỏ một câu giao
hữu. Anh mua cái cạc táp mới hả anh. Nhưng
vì cà lăm, tôi nói đến tiếng cạc thì mất hơi.
Cho nên câu nói của tôi như thế này. Anh mua
cái cạc cạc cạc cạc cạc táp...Tôi không
biết mình lặp tiếng cạc bao nhiêu lần. Phần
đông anh em tôi đều có tính tếu lâm. Chắc là
do di truyền của mẹ.
Ba người anh lớn của tôi vì hoàn cảnh loạn lạc nên trễ nãi việc học hành. Anh Chính, anh Cung học xong bằng tiểu học liền ở nhà phụ việc mộc với cha tôi. Anh Cương cũng vậy, năm anh mười hai tuổi mới bắt đầu lớp tư. Cha tôi là một người thợ mộc khéo. Không những có tiếng ở làng mà còn lan ra cả vùng phụ cận. Thường thường cha tôi được mời làm thợ cả trong những công trình như làm đình, làm nhà thờ họ. Mỗi lần đi làm xa, cha tôi dẫn theo hai người anh lớn. Ðôi khi dăm ba tháng mới về nhà. Lúc cha vắng nhà, mọi công việc đều do mẹ quán xuyến. Anh Cương coi sóc tôi và thằng em út Kim Long, tên ở nhà là Cửu.
Năm tôi bắt đầu đi học, cũng là năm anh Chính
xin được chân giáo viên tiểu học. Anh dạy
trường tiểu học Phò Ninh, thuộc xã Phong An ở
cùng một quận. Khi đó anh Chính đã được cha
mẹ tôi cưới vợ. Chị là người cùng làng,
ở xóm dưới. Anh Chính không dẫn vợ theo. Chị
Chính ở nhà giúp mẹ tôi trong tất cả mọi
chuyện. Cứ dăm ba tuần, anh Chính lại về thăm
nhà. Trong cư xử, anh Chính quan tâm nhiều đến cha
mẹ anh em. Mỗi lần anh kèm tôi học, hoặc có
thắc mắc gì hỏi anh. Anh luôn luôn giảng giải
bằng lời dịu nhẹ, khác với hai người anh kế
thường sừng sộ. Anh có kiến thức khá phong
phú. Anh thường giải nghĩa cho tôi những câu
được coi là khúc mắc với lứa tuổi tôi hồi
đó. Như tiên trách kỷ, hậu trách nhân,
hoặc kỷ sở bất dục vật thi ư nhân. Về
thái độ đối xử với bạn hữu, thì anh
thường nói tếu một câu. Trên đường đời
vạn nẻo, một cú đá đít giúp bạn tiến nhanh
hơn cái bắt tay. Trong thời gian dạy học ở
Phò Ninh, có thể anh bất mãn vì cuộc hôn nhân do
cha xếp đặt, anh đã lén lút lấy thêm một
người vợ nữa.
Mặc dù ít cơ
hội đến trường, nhưng anh Chính lại ham học hỏi.
Tủ sách của nhà tôi phần lớn do anh gầy dựng.
Ða số sách là của nhóm Tự Lực Văn Ðoàn.
Không biết anh mua lúc nào, nhưng khi tôi biết
đọc thì đã thấy có khá nhiều trong tủ sách gia
đình của mình rồi. Ngoài ra còn có một số ấn
phẩm của các tác giả khác nữa. Như Tố Tâm,
Một Chuyện Tình Mười Lăm Năm Trước, Cô Giáo
Minh,Vang Bóng Một Thời, Quê Mẹ, Số Ðỏ, Một
Người Cha, Dế Mèn Phiêu Lưu Ký... Và một bộ
Quốc Văn Giáo Khoa Thư cũ kỷ... Cùng thêm
nhiều thứ khác mà tôi không nhớ hết. Chẳng
hạn một số truyện thiếu nhi, chuyện Tàu, chuyện
kiếm hiệp. Sau này anh còn đặt mua năm tạp chí
Thời Nay, tạp chí chuyên cung cấp về kiến thức
phổ thông. Cho dù tôi ở thôn quê, nhưng nhờ
anh Chính, mớ kiến thức hiểu biết của anh em tôi
chắc không thua sút với đồng lứa ở thành
phố bao nhiêu. Ngoài ra, còn một vài cuốn mà
tôi không thể nào quên, bởi vì nó là bầu
bạn của tôi trong suốt thời ấu thơ. Như bộ Cổ
Học Tinh Hoa của Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê
Nhân. Một số sách của Nguyễn Hiến Lê mà tôi
hay đọc nhất là Ðắc Nhân Tâm. Cuốn này là
bản dịch cuốn How to Win Friends and Influence People của
Dale Carnegie, một tác giả người Mỹ.
Về thơ, đặc
biệt là anh Cung, từ lúc nào, anh đã có một
tập thơ dày cộm bằng cả cuốn tự điển, do
chính tay anh chép. Ða số là thơ tình tiền chiến.
Cứ dăm ba trang, tôi thấy có một cái bông hồng
đỏ loét, cùng con bướm vàng vẫy cánh, không
biết anh đồ đồ lại từ tạp chí nào. Còn anh
Cương có một cuốn tập khá dày, anh chuyên chép
lại những đoạn văn hay từ những văn phẩm mà
anh thích. Về truyện thơ, cha tôi cũng có một
mớ, nhưng ông cất kỷ. Vì ông không cho phép, cho
nên tôi cứ đợi ông vắng nhà là mằn mò
đọc lén. Số truyện thơ này gồm có Lục Vân
Tiên, Trê Cóc, Cung Oán Ngâm Khúc, Lục Súc Tranh
Công, Chinh Phụ Ngâm... và nhiều thứ khác. Lạ
một điều là không có Kim Vân Kiều của Nguyễn
Du. Lớn lên tôi hiểu lờ mờ rằng, chắc cha
tôi bị quan niệm đàn ông chớ kể Phan Trần,
đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều, khiến cho
ông không thèm lưu giữ danh phẩm này trong tủ
sách của ông chăng. Tất cả văn phẩm của cha
tôi đều cũ kỷ. Tuy đọc lén nhưng tôi phải
cẩn thận, lật thiệt nhẹ sợ trang giấy bị gãy
bể bất cứ lúc nào. Còn về báo, đã có chú
Lý Quảng, tức là người chồng sau của thím
Tám, lúc đó chú là thôn trưởng. Hằng tuần,
mỗi lần đi họp ở xã về, chú ghé ngang quăng
cho nhà tôi một xấp. Ðó là nhật báo Công
Dân. Có một mục mà tôi còn nhớ, mục Kèn
Thổi Ngược của Ngô Ganh.
Anh Cung trong thời
kỳ này vui nhất. Ngoài công việc nhà ra, anh còn
là một thành phần sốt sắng của gia đình phật
tử. Anh mang về nhiều sách truyện Phật Giáo. Anh
chỉ không vui khi bị bắt phải gia nhập lực lượng
thanh niên cọng hòa, do cố vấn Ngô Ðình Nhu khởi
xướng. Anh thừa hưởng tinh hoa nghề mộc của cha.
Anh hay làm những món đồ nho nhỏ bằng gỗ, để
chưng bày trong nhà. Như mô hình kỳ đài Phu Vân
Lâu. Hoặc bộ lục xảo gồm 6 thanh gỗ nhỏ,
được lắp ráp lại với nhau thành một khối
trông rất đẹp mắt. Trong sinh hoạt gia đình phật
tử, anh Cung yêu chị Lay, người chợ Hôm. Chị
cũng thương anh, nhưng cha tôi không chấp nhận. Sau
này chị Lay xuất gia, tu ở chùa Sư Nữ Huế, trở
thành sư cô Minh Nguyên. Dù đã tu hành, nhưng chị
vẫn mừng rỡ mỗi lần gặp mặt anh em chúng tôi.
Chị thường lấy giấy trắng đóng thành một tập
dày cho anh Cương ghi chép. Còn anh Cung bị cha tôi
bắt cưới vợ, chị Cung là người cùng xóm.
Có lần tôi bị
anh Cung tộn một trận. Hình như tôi được sinh ra
cùng với tính phản kháng. Hay nhìn ngược lại
những vấn đề mà cuộc đời này định sẵn.
Bữa đó anh Cung cùng mẹ đang nói về phật pháp.
Tôi ở bên cạnh chỉ nghe loáng thoáng. Bỗng dưng
tôi nghe anh nói về từ bi hỷ xã, tôi vọt miệng
chen vào. Từ bi hỷ xả cấy chi, từ bi hỷ mũi
thì có. Anh nỗi nóng, cho tôi một bạt tai.
Ðúng là từ bi hỷ mũi. Anh tộn tôi để bảo
vệ chân lý hỷ xã của anh thì đúng là hỷ mũi
rồi.
Thằng em út Kim
Long, tức là Cửu, được anh Cung thương nhất. Dĩ
nhiên vì nó là út cho nên được sự cưng chìu
của cả nhà, kể cả cha tôi. Khi anh Cung làm việc
hay nghỉ ngơi, cứ mỗi lần có Cửu ở bên cạnh,
thì anh Cung thường gọi Cửu, Cửu, Cửu...
Do tập luyện trước, Cửu xướng lên dạ dạ
dạ... Anh Cung làm người khó không. Cửu
tiếp lời khó khó khó... Anh Cung làm chó
dễ không. Cửu dễ dễ dễ...
Khi tôi bắt đầu đi học, anh Cương đã lên trung học đệ nhất cấp. Cha tôi không cho anh vô Huế để thi vào trường công, mà bắt anh đi học trường tư. Ðó là trường trung học tư thục Ưu Ðiềm. Trường chỉ có tới lớp đệ ngũ. Anh là người chăm chỉ chịu khó, nhưng không gặp may. Anh học rất chăm, mặc dù công việc nhà túi bụi, nhưng lúc nào trong túi áo của anh cũng có một cuốn sổ tay nhỏ ghi chi chít tóm tắt bài học. Lúc hở tay, anh lại lôi ra đọc lẩm nhẩm. Anh còn đúc tạ, tập thể dục hằng ngày. Anh có thân hình cân đối lẫn khuôn mặt đẹp trai nhất trong 5 anh em. Có thể nói trong anh em, anh Cương đã chịu nhiều cay đắng nhất của cuộc đời. Anh cũng có làm thơ, đóng thành một tập nhỏ với bút hiệu rất chi con gái: Dziệu My. Trong thơ anh chỉ có sự cố gắng chớ không độc đáo. Chẳng hạn như về quê em một chiều đông nắng đổ, nhạc kinh thành réo rắt bước chân đi mà anh sáng tác trong thời gian anh yêu chị Quế, người Quảng Trị.
Tội ác lớn nhất mà tôi phạm phải trong thời gian này là tôi đã đập chết con mèo của gia đình mà không ai hay. Ðó là con mèo có bộ lông vàng luốc. Tôi rất thương nó, coi nó như là người bạn thân thiết. Mỗi lần tôi ăn hay học, nó hay lẩn quẩn một bên. Nó thường cạ tấm thân mềm mại vào hai ống chân tôi. Có cái gì ăn, tôi cũng chia phần cho nó. Tôi hay ôm nó ngủ chung với mình. Ðiều này mẹ cấm, vì mẹ sợ bọ chét bò qua quần áo của tôi. Tôi thường ôm nó tung lên cao, bao giờ nó rớt xuống đất cũng bằng bốn cẳng chụm lại rất vững vàng. Bữa đó, tôi chọc giận nó. Nó quào tay tôi chảy máu. Tôi nổi hung lên, xách nó quật mạnh vào đống gỗ ở bên hông nhà. Chắc thân thể của nó bị đập vào chỗ phạm. Vài ngày sau nó chết. Tôi chảy nước mắt. Anh Cương mang xác nó đem chôn dưới gốc cây bông mai. Hình ảnh này cứ bám siết tra tấn tâm hồn tôi, dù rằng chuyện đã ngót 40 năm.
Có một đêm trăng, bốn anh em chúng tôi, không
có anh Chính, cùng ngồi với nhau phách tu. Tức
nói đủ mọi thứ chuyện. Anh Cương nhắc chuyện
Ôm Cây Ðợi Thỏ trong sách Cổ Học Tinh Hoa. Cả
bầy đang hi ha vui thú, bỗng dì Thỏ của chúng tôi
xuất hiện, vác cho mấy cây mía. Dì Thỏ là em họ
xa của mẹ, cũng lấy chồng người ở làng tôi.
Dì hỏi mẹ đâu. Mẹ tôi khi đó đang ở dưới
bến lên tiếng chào dì. Dì bỏ chúng tôi bước
theo mẹ nói chuyện. Anh em tôi nhìn nhau khúc khích.
Huyền thoại hiện hữu. Anh Cung cạp mía hít hà
triết lý.
Quê tôi là làng Vĩnh An, thuộc xã Phong Bình,
quận Phong Ðiền, tỉnh Thừa Thiên. Ðó là một
dải đất nhỏ, phía tây bắc tựa sát vào hữu
ngạn sông Ô Lâu, phía đông nam là cánh đồng.
Bên kia sông là làng An Thơ, xã Hải Kinh, quận
Hải Lăng, thuộc tỉnh Quảng trị. Tuổi nhỏ tôi
gắn chặt với giòng sông này. Tổ tiên tôi làm
nghề chài lưới. Ðến đời ông vãi tôi, mới
tấp vào làng này ngụ cư.
Giòng họ
Nguyễn-Ðức của tôi gồm chưa tới mười nóc
nhà dựng sát bìa sông. Cả làng đều kỳ thị
chúng tôi. Họ thường châm biếm bươi móc chúng
tôi là tụi cá chài. Họ cho chúng tôi là thứ
dân ngụ, không phải dân chính thống của làng.
Sự kỳ thị này còn nhắm vào cả người đã
chết, bằng chứng những ngôi mộ của tổ tiên
tôi chỉ được phép chôn ở tận đuồi của
cánh đồng làng. Sau này nhờ thế lực tiền bạc
của cha mẹ tôi, khi bà nội mất, mộ của bà
mới được chôn ở giữa cánh đồng. Ðiều
trái ngược là tôi nhìn cả làng chẳng có mấy
nhà trội hơn nhà của tôi. Ða số đều cày sâu
cuốc bẩm, nheo nhóc, thiếu ăn, lẫn thiếu học.
Phản ứng của giòng họ tôi đều thầm lặng, theo
chủ trương mọi sự do trời, ở hiền gặp lành.
Mấy chú bác của tôi thường biểu lộ như vậy.
Tôi không nói ra, nhưng tôi không thích. Tôi
khoái mấy bà o trong họ của tôi hơn, nhất là o
Bệt. Ăn miếng trả miếng. O Bệt cùng chung với
cha tôi một ông cố. O có nhan sắc, có hai đời
chồng người ở làng. Chồng trước của o mất
vì tật bệnh. Chồng sau là dượng Lục, khỏe
mạnh, đẹp trai. Cứ mỗi lần có người khích
bác tụi cá chài, thì o Bệt đáp lại bằng một
chanh chua nhọn sắc. Cha bây đừng phụ cá chài.
Cúng cha cúng mạ mua hoài cá tau. Những lần
như vậy tôi thường nhìn o với lòng cảm kích.
Có lần phiền lụy vì sự kỳ thị này, cha tôi
nói. Tụi nớ có ra chi mô mà ngược ngạo.
Tổ tiên mình đời trước làm quan đến tứ trụ
triều đình. Nhưng vì anh em bất hòa, nên chi ông
tổ trực hệ của mình mới từ bỏ công danh,
xuống sông ở làm nghề chài lưới. Ðó là
lần duy nhất tôi nghe cha nói về gốc gác của
mình.
Trên đường số một từ Huế xuôi bắc đến Mỹ
Chánh, có con hương lộ rẽ về hướng phải, cặp
sát hữu ngạn sông Mỹ Chánh, tức là nhánh Ô
Lâu tả trạch. Khúc sông này về đoạn dưới
nhập chung lưu lượng với nhánh Ô Lâu hữu
trạch ở ngã ba thuộc làng Phước Tích. Từ
đây là một giòng Ô Lâu chảy về phá Tam giang.
Hương lộ hầu như kèm sát theo giòng sông cũng
chạy dài về tận phá. Mỹ Chánh, thuộc về tỉnh
Quảng Trị, là trung tâm chợ búa buôn bán trao
đổi cho cả vùng này. Theo hương lộ qua khỏi Mỹ
Chánh thì gặp nhánh Ô Lâu hữu trạch, con
đường được nối bằng chiếc cầu sắt sàn lót
gỗ. Qua cầu là làng Phước Tích, xã Phong Hòa,
thuộc tỉnh Thừa Thiên. Về đến Mỹ Xuyên, con
đường và con sông cách xa nhau. Ðến làng Câu
Nhi thì sông và đường cặp kè trở lại. Rồi
chia cách. Khi về đến chợ Ưu Ðiềm, sông với
đường trở lại cặp song song. Sinh quán của bà
nội tôi ở đây. Chợ Ưu Ðiềm còn được gọi
là chợ Hôm. Gọi như vậy là vì chợ đông vào
khoảng sau 12 giờ trưa. Ðây cũng là một trung
tâm thị tứ tấp nập. Chợ có bến xe đò đi vô
Huế. Xuống nữa là một dãy phố thuộc làng Hòa
Viện, cùng xã với làng tôi. Từ dãy phố này,
bước qua chiếc cầu sắt, còn có tên là cầu
mụ Tú, bắc ngang con sông nhỏ chảy về từ làng
Phò Trạch.
Nơi đây bắt
đầu địa phận làng tôi. Nơi có mồ mả tổ tiên
tôi. Nơi bà con giòng họ tôi cư ngụ. Nơi cha mẹ
tôi hoài thai tôi. Nơi anh em tôi một thời chung
nhau vui buồn. Nơi nguồn thơ tôi khơi đòng. Nơi
tôi đã trải qua thời thơ ấu với tự hào, mơ
mộng, thương xót, đắng cay, đau đớn, bùi ngùi
trộn lẫn: Vĩnh An.
Ngay đầu
làng, từ hương lộ chính có một con đường rẽ
phải. Phía đối ngược là cái bến với ngôi
nhà nhỏ có cửa hàng tạp hóa lèo tèo dăm
món hàng của bác Ðiền tôi. Con đường này
một bên, như đã nói, là nhánh sông từ làng
Phò Trạch chảy về. Còn một bên là nhà cửa
thuộc tổ 12 của làng. Lối này cũng dẫn vào
ngôi chùa nhỏ. Chùa mới xây sau đình chiến 1954.
Ngôi chùa vì thế chẳng có gì cổ kính rêu phong
như hình ảnh thường gặp trong sách truyện mà
tôi đã đọc. Chùa không có chuông, cũng chẳng
có sư trụ trì. Qua khỏi chùa, con đường chạy
lên làng Phò Trạch. Ðây là con đường chính
để cho dân làng Phò Trạch liên lạc với thế
giới bên ngoài.
Khởi từ cái
bến đầu làng thì hương lộ chính và sông Ô
Lâu lại tách rời ra. Dọc theo đường, cứ một
khoảng, có một con đường xóm rẽ phải. Một con
đường xóm là một tổ. Làng tôi có 12 tổ theo
thứ tự từ số lớn đến số nhỏ, bắt đầu
từ đầu làng cho đến cuối làng. Qua khỏi
đường xóm của tổ mười thì đến một đám
ruộng về phía tay phải. Ðình làng nằm trơ trọi
giữa đám ruộng đó. Chung quanh đình chỉ có một
lũy tre đơn sơ vây bọc. Cũng như chùa, đình
cũng mới được trùng tu. Về phía trái, từ con
đường ra sát bìa sông Ô Lâu là đất đai nhà
cửa thuộc làng Hòa Viện. Trong xóm đó có nhà
của Thợ Ðộ làm nghề rèn. Khúc chạy qua
trước mặt đình còn gọi là đường lụy. Gọi
như vậy là vì khi lụt lội, khúc đường này bị
nước chảy tràn qua trước nhất, khiến cho con
đường hư hoại thường xuyên. Tôi hay trốn nhà
theo đám bạn lên đây lội nước mỗi khi mùa
lụt bắt đầu. Hết khúc đường lụy, hương lộ
ngoặt góc 90 độ theo hướng đông, dân làng gọi
khúc đường này là ngoẹo giàng xay, chạy bọc
theo hướng bên hông phải của đình làng, còn
phía trái là con hói bọc quanh cồn nổi. Ðám
đất này thường được trồng đậu bắp. Cũng
trên khúc đường này phía tay phải, là nhà
thờ họ Nguyễn (không có chữ lót), họ khai canh
của làng, làm bằng phên tre, mái tranh, xiêu vẹo
ọp ẹp. Từ con đường rẽ vào tổ 8 và 9 nơi
có nhà thờ họ Hoàng đồ sộ. Hương lộ lại
ngoặt lại hướng 90 độ, tức là trở lại
chiều dọc như cũ đi thẳng về. Khu vực này,
hương lộ chạy song song với con hói. Ðây là
giòng chính của sông Ô Lâu ngày trước. Bên kia
là cồn Nổi. Bên này là nhà Văn Thánh, về sau
bị đập bỏ để xây nhà thờ thiên chúa giáo,
cùng một dãy nhà xây khang trang, là nơi ăn ở
của các chị thuộc giòng tu công giáo. Trường
học cũng tọa lạc ở đây, do các chị phụ trách
giảng dạy. Ngay phía trước mặt nhà thờ, chếch
lên một chút, nằm sát đường là một ngôi
miếu cổ gọi là miếu Ông. Thuở trước theo
lời dân làng thì rất thiêng, nhưng khi tôi lớn
lên thì ngôi miếu hoang phế. Nơi này tôi cùng
tụi bạn tuổi nhỏ thường hay chơi trò trốn tìm.
Trong miếu bụi bặm cùng mạng nhện giăng đầy.
Trên bệ thờ đóng đầy phân dơi và chuột. Tôi
thường bâng quơ là không biết thần linh đã bỏ
đi đâu. Chếch xuống một chút, vẫn ở trước
mặt nhà thờ, là bến chợ. O Bụi của tôi bị
Tây bắn chết ở bến này. Mẹ thường răn đe
anh em tôi đừng tắm ở đây. Sợ o Bụi bắt.
Tôi tắm ở bến này nhiều nhất, vì bến nằm ngay
phía trước trường học. Tôi chẳng hề sợ o
Bụi bắt một tí nào, mà chỉ sợ đỉa. Sát bến
gần bìa sông là quán tạp hóa của o Thị. Tiếp
theo đó là miếng vườn của cha tôi mua lại của
chú Hương Liên để cho anh Chính ra riêng. Khi chưa
làm nhà cho anh Chính, miếng vườn này được
trồng khoai. Trong vườn có một cây ăn trái duy
nhất là cây khế còi.
Trước khi đến
tổ 6 thì qua con hói bằng cái cầu đúc. Vừa qua
cầu đúc đã gặp ngay con đường rẽ vào tổ 6.
Nhà tôi nằm sát cầu đúc, ngay ở ngã ba của
con hói và sông Ô Lâu, đối diện với đường
xóm tổ 6. Bên cạnh nhà tôi, là miếng đất của
bác thợ Gạc, bác với cha tôi cùng chung một
ông nội. Bác theo vợ về sống ở làng Xuân
Viên, gần biển. Khi anh Càng, con của bác Lượng,
cưới vợ ra riêng đã làm nhà trên miếng đất
này. Khi anh Càng dọn đi, miếng đất được trồng
bắp, thuốc lá... Kế đó là nhà của chú Anh.
Ông chú họ này đã phát hiện tôi trốn học,
chuồi vở bụi tre để đi chơi. Ðối diện nhà
tôi với nhà chú Anh bên kia đường là chụm
nhà có chung một cái sân, là nhà o Lùn, nhà
chú Hương Liên, và nhà ông Oanh. Ông Oanh có
đứa con trai tên Hiền, cỡ anh Chính, theo đạo
Công giáo, thường hay hoát nạt người ta.
Cứ như vậy cho
đến cuối làng. Cứ một con đường rẽ vào xóm
là một tổ. Phía dưới nhà tôi một chút là
ngôi nhà ngói của Cửu Vọng. Người được coi
giàu nhất làng. Ðối diện nhà Cửu Vọng là
cái bến nước lớn. Bến được xây bằng xi
măng có thang cấp hẳn hoi. Người làng gọi bến
này là bến cửu vọng. Gọi vậy vì bến ở ngay
trước mặt nhà ông ta. Còn xây dựng bến là do
công của dân làng đóng góp. Nơi bến này anh
Cương cũng đã cứu dăm ba đứa trẻ trong làng
suýt bị chết đuối. Ðầu đường xóm vào tổ 5
có quán tạp hóa của o Nguyện. Xuống tổ 4, dọc
theo hương lộ bên phải là nhà thờ họ Ngô
cũng khá khang trang. Ðối diện nhà thờ họ Ngô
là một cái lầu cũ rêu phong, không biết có
từ thời nào. Nếu có việc phải đi qua đó ban
đêm tôi thường có cảm giác rờn rợn. Ðầu
con đường rẽ vào tổ 3 là quán tạp hóa của o
Dọi. Nhà chị Lụt, vợ lớn của anh Chính ở trong
này. Ngay đối diện con đường rẽ vào tổ 2, có
con đường dẫn ra cái bến ở bờ sông. Bên
cạnh cái bến này là xóm nhà của bác Lượng,
anh Túc, anh Hồ... họ hàng của tôi.
Từ đây cho
đến cuối làng, một bên cặp bờ sông là ruộng
biền, còn một bên là nhà cửa của tổ 1. Cuối
làng có một con hói vắt ngang. Con hói này chính
là con hói ở nhà tôi sau khi chảy bọc ra sau
cánh đồng lại chảy vòng ra đây, nhập vào sông
Ô Lâu ngoài kia. Ðường xóm của tổ 1 cặp theo
con hói này. Bắc qua con hói cũng là cái cầu
sắt được gọi là cầu Tùng Thị. Qua sát múi
cầu, nằm bên mé trái là nhà của chú thợ
Bảng làm nghề rèn. Nơi đây có con đường cặp
bờ ruộng dẫn xuống bờ sông đến bến đò qua
làng ngoại của tôi.
Hương lộ vẫn
chạy hút xuống phía dưới. Từ cầu Tùng Thị
nhìn về là vòng cung ruộng đồng ngát xanh. Phía
cuối của hương lộ trước khi vào làng Vân
Trình, còn gọi tên làng Rào, quê ngoại của một
vì vương sính thơ triều Nguyễn, là cây xoài cổ
thụ, dù trải qua bao tai biến, với cái táng xanh
to tròn vẫn bình yên đứng đó. Nhìn xa hơn nữa,
đột khởi hai ngôi nhà thờ đạo của làng Thanh
Hương. Ðó là hai ngọn tháp. Một cái tháp đôi,
một cái tháp một, sừng sững chọc thẳng vào
nền trời.
Ðó là cái nhìn
bao quát về làng tôi trong những năm của thập
niên 50, và một hai năm đầu của thập niên 60.
Trở lại với
nhà của tôi.
Nhà ở ngay ngã
ba sông Ô Lâu và con hói. Phía sau là triền sông
lở. Phía bên kia con hói là miếng đất hương
hỏa của giòng họ tôi. Nhà thờ họ của tôi
tọa lạc trên miếng đất này. Ngôi từ đường
quay mặt ra hướng bờ sông. Ðứng bên cạnh,
gần con hói, có thêm một cái miếu nhỏ.
Khi đủ trí khôn,
tôi còn nhớ là ở phía sau nhà mình vẫn còn
một khoảng đất khá rộng từ thềm nhà ra sát
bờ sông. Dọc bờ sông là những bụi tre
được cha tôi trồng để giữ đất. Thêm vào
đó có hai cây sầu đông đứng gần nhau, tiếp
dọc theo là một cây bàng và một cây bưởi
hiếm khi có trái. Mẹ thường hái lá bưởi để
luộc chung với ốc. Tiếp giáp với miếng đất
bỏ hoang của bác thợ Gạc là cây quao. Nằm sát
với chuồng heo là cây ổi do cha tôi lấy giống
từ làng Thanh Hương mang về rất sai trái. Còn
lại là chuối sứ, chủ yếu trồng để nuôi heo,
còn lá thì để mẹ tôi gói bánh. Cứ mỗi mùa
nước lu, đất phía sau của nhà tôi lở thêm
một ít. Cứ thế, từng bụi tre trầm mình xuống
sông chỉ còn thấy những cái đọt khẳng khiu khô
queo, chỉa lên từ mặt nước, cùng dăm ba cánh
chuồn lẻ loi. Tôi thường ngồi tựa lưng vào
thềm nhà nhìn sững khung cảnh đó. Cánh chuồn,
đọt tre khô, hòa với mặt sông gợn sóng xao
xác, tôi buồn vô hạn.
Khoảng cách từ
thềm nhà phía sau ra bờ sông theo thời gian thu
hẹp lại dần. Tôi xót xa khi nhìn từng mảng đất
lở mất đi. Tôi tự hỏi tại sao cha mẹ mình
không bỏ chỗ này, kiếm miếng đất khác. Miếng
đất cũng khắc họa rõ cuộc đời của cha mẹ
tôi. Ðời sống của Người phải chống chọi từ
trăm phía. Miệng tiếng của dân làng về nơi phát
tích của mình. Sự bào mòn quanh năm của thiên
nhiên. Có gì nơi đây mà cha mẹ tôi cùng họ
hàng tôi phải bám trụ. Phải có một cái gì
thiêng liêng lắm mà tôi chưa nhìn ra. Trước kia
theo lời cha, khi mà sông Ô Lâu chưa đổi giòng,
thì đất nhà tôi là đất bồi, ẩm thấp, nằm
sát với mé nước. Cha mẹ tôi đã bỏ bao nhiêu
công sức để tu bồi. Từ chỗ bùn lầy mấp mé
mặt nước, cha mẹ tôi biến thành cái nền đất
cao ráo cùng một ngôi nhà tương đối khang trang.
Khoảng giữa cái sân của nhà tôi và hương lộ
khi trước là một miếng đất trủng. Trời mưa,
nước đọng thành cái ao con. Có hàng chè tàu
làm cái hàng rào phân định giữa nhà tôi với
con đường cái. Trên cái ao này, cha và anh làm
một cái dàn tre cao để cho bầu bí leo. Về sau cha
tôi thuê người chở đất về lấp bỏ cái ao con
để mở rộng cái sân ra. Cửa ngõ nhà tôi nằm
sát múi cầu, nơi có bụi tre già um tùm đứng
chen với cây sầu đông cổ thụ. Sát với hàng
chè tàu là một vườn bông nhỏ nhắn. Anh em tôi
trồng hai cây mai. Quanh hai gốc mai là dăm cụm
bông như thược dược, vạn thọ, mồng gà,
mười giờ. Nhích qua một vài bước là cái
đụn rơm khô, nguồn năng lượng cho cả nhà. Nơi
đó còn có một cây ổi già nhưng trái nhỏ tí.
Phần đất còn lại sát với hàng chè tàu,
được mẹ trồng tía tô và é chanh để làm gia
vị cho những bữa ăn. Khoảng năm 1959, anh Chính
đã mang về từ Phò Ninh, nơi anh dạy học, hai cây
phượng nhỏ. Một cây bông đỏ, một cây bông
vàng. Cả hai cây được mẹ trồng chung với hàng
tía tô.
Nhà tôi là
ngôi nhà tranh khá rộng gồm một gian hai chái.
Nhà có một cửa sổ lớn ở chính giữa. Hai
bên là hai cửa ra vào. Gian giữa đặt một bộ
ngựa bằng gỗ quí lâu ngày đã lên nước bóng
láng. Sát cửa sổ là một cái bàn được dùng
để ăn cơm, tiếp khách, và cũng là nơi cho anh em
tôi học hành. Phía trong bộ ngựa là một cái
tủ thờ nhỏ. Trong tủ chứa đầy sách truyện.
Trong cùng là bàn thờ chính, được cha tôi
đóng lên như một cái bệ. Vì quá cao, nên mỗi
lần thắp nhang, cha phải bắc ghế đứng lên. Bên
dưới có chiếc giường bố rộng là chỗ ngủ
của cha tôi. Gian trái là nơi cha tôi làm việc,
chỉ dành một khoảng nhỏ phía trong, anh Cương ngăn
lại để làm phòng học. Gian phải, sát bộ ngựa
là cái giường rộng, chỗ ngủ của mẹ tôi, tôi
với đứa em út. Sát giường vào phía trong là
cái sập. Sinh thời bà nội tôi nằm trên đó.
Trong nữa là cái buồng con, dành riêng cho vợ
chồng anh Chính.
Phía tay phải của
ngôi nhà từ ngoài nhìn vào, cha tôi làm thêm
một cái nhà ngang để dùng cho bếp núc, nơi xay
lúa làm gạo, và cái chuồng heo. Miếng đất sát
bên hông nhà ngang là vườn rau của nhà. Mẹ
trồng nhiều thứ như ớt, cải, môn..., nhưng
nhiều nhất là khoai lang. Ðọt khoai lang luộc chấm
với nước ruốc do mẹ làm là món tôi thích
nhất. Miếng cơm và với rau, kèm dăm ba lá thơm,
cùng với nửa trái ớt đỏ, thì có gì sướng
bằng.
Tuy cha tôi làm
nghề mộc, dĩ nhiên phía trong nhà tôi, cột kèo
được người dựng lên bằng gỗ thứ tốt,
nhưng vách nhà lại là những tấm phên tre
được trát bằng phân trâu. Có lần tôi hỏi cha
sao mình không làm bằng gỗ, thì cha tôi nói làm
bằng phên tre thì nhà mát mẻ hơn.
Trái hẳn với anh em tôi là những kẻ siêng
năng. Tôi là một đứa nhỏ biếng nhác thường
trốn việc nhà, trốn học. Ðiều tôi thích thú
là đọc sách và lang thang. Thiên hạ có câu cha
truyền con nối, tôi thấy không được đúng với
trường hợp của mình. Tôi chẳng có một tí gì
thích thú về cái nghề thợ mộc của cha. Lại
vụng về, cứ mỗi lần cha sai việc là tôi mang
họa, nếu không bị đứt tay vì đục chàng, thì
tôi cũng sướt chân vì cưa búa. Tay con là tay
lục bại. Cha mẹ thường gọi tôi như thế trong
những lần tôi gây tai nạn cho chính mình. Có
lần, nhằm mùa gặt, tôi theo mẹ ra đồng. Bổn
phận của tôi là chỉ đứng chơi, đồng thời
rình xem thử my người đi mót lúa có ăn cắp
lúa của mình không. Nếu thấy thì la lên. Tự
dưng tôi nỗi hứng nhào xuống ruộng, dành lấy
cái vằng của một người làm. Tôi thấy người
ta làm sao thì tôi theo vậy. Trước hết đưa cái
móc vằng ra quơ bụi lúa lại. Rồi bàn tay trái
xòe ra nắm ly bụi lúa. Tay phải thì đưa cái vằng
vô để cắt. Có chi mô. Thiệt là dễ. Nhát vằng
đầu tiên của tôi cũng là nhát cuối cùng của
bữa đó. Thay vì cắt lúa thì tôi cắt vào ngón
tay trỏ của bàn tay trái mình. Vết thương khá
sâu ngay cái mắt thứ hai. Cha tôi rầy răng khôn
đứt luôn cho rồi. Bây giờ vẫn còn vết sẹo
nhỏ nơi ngón tay tôi.
Trước khi đi
học tôi bị một trận đau nặng. Bệnh ở đường
ruột. Cha mẹ tôi đã mời hết thầy thuốc trong
vùng nhưng họ đều bó tay. Quanh năm trong nhà tôi
luôn bận rộn, không ngớt việc. Tôi bệnh hoạn
là một trở ngại lớn cho công việc gia đình.
Mẹ phải mang tôi vào bệnh viện Huế điều trị.
Cha đi mượn chiếc tròng của chú Anh. Tôi được
chở ngược theo sông Ô lâu, lên tới Mỹ
Chánh. Từ đó mẹ bồng tôi đón xe đò vô
Huế. Tôi nằm ở khu dành riêng cho nhi đồng. Mẹ
và anh Chính thay phiên nhau trông chừng tôi. Bệnh
viện nằm trên đường Lê Lợi, sát với tòa
hành chánh tỉnh. Những lần tỉnh táo, mẹ dẫn
tôi ra công viên, ngay trước mặt bệnh viện ngồi
chơi. Nơi đây cũng là bến đò Thừa Phủ, có
cây ngô đồng cổ thụ rợp bóng. Hai mẹ con
thường ngồi ở cái ghế đá nhìn xuống bến
đò. Trời đất Huế thanh vắng. Nhìn qua bến bên
kia cũng có một tàng cây xum xuê lá như bên
này. Nhìn xa nữa là dãy trường thành rêu phong.
Ðột khởi là kỳ đài Phu Văn Lâu cao ngất đang
phất phơ ngọn cờ vàng. Mẹ chỉ dãy trường
thành rồi bảo. Hồi trước vua ở trong nớ
đó con. Tôi vẫn lặng lẽ quan sát. Xa theo phía
núi là cầu Bạch Hổ đen sì, không một bóng
người. Nhìn về là cầu Trường Tiền sáu vài
mười hai nhịp trắng xóa sang trọng, nhộn nhịp xe
cộ qua lại. Bên kia phố chính rộn ràng. Cặp bờ
sông có vô số con đò có mui che đậu cặp sát
nhau. Mặt sông Hương xanh biếc, lặng lờ, rộng
gấp mấy lần con sông Ô Lâu nhỏ bé của tôi. Con
muốn đi qua bên nớ. Tôi nói với mẹ. Mẹ
bảo lúc nào con lành thì mạ dẫn đi.
Khi tôi gần bình
phục thì mẹ phải trở lại nhà lo công việc. Anh
Chính vào trông tôi. Ngày tôi xuất viện, anh
Chính chở tôi đi chơi. Hai anh em qua dãy phố chính
là đường Trần Hưng Ðạo. Anh mua cho tôi một bộ
quần áo mới. Anh lại dẫn tôi vào nhà sách.
Tôi nhìn những kệ sách sắp xếp tề chỉnh với
lòng thèm thuồng. Ước chi nhà mình cũng có
nhiều sách như rứa. Ðến chiều anh đưa tôi vô
thành nội. Tôi hỏi anh chỗ vua ở nằm chỗ nào.
Anh bảo là vua ở trong Ðại Nội. Tôi đòi đi thì
anh bảo tối hung rồi, để khi mô đã. Ðêm đó
anh em tôi ngủ ở nhà ông thầy Tế, chung quanh
nhà có nhiều cây nhãn già cỗi. Hôm sau hai anh em
tôi phải đi sớm cho kịp chuyến xe lửa. Tôi tiếc
hùi hụi, bụng ấm ức vì không vô được trong
Ðại Nội. Anh chở tôi ra khỏi thành nội qua ngã
cửa Ngăn. Buổi sáng sớm chìm lặng, không một
bóng người. Cửa Ngọ Môn đập vào mắt tôi
kiêu kỳ rực rỡ. Ðẹp chi lạ. Ðúng như hình
ảnh ngọ môn năm cửa chín lầu mà tôi từng
nghe mẹ kể. Hai bên cửa Ngăn là hai ụ súng
thần công khổng lồ. Anh chở tôi ra ngược lại
phố, qua cầu Trường Tiền, dọc theo đường Lê
Lợi, lên thẳng ga xe lửa. Tôi ngồi ở chỗ gần
cửa sổ. Hai mắt cứ dán miết vào cảnh vật. Khi
tàu hú còi chạy, tôi giật thót người. Mọi
cảnh vật lùi dần về phía sau. Tất cả đều lạ
lùng thu hút. Tôi phát hiện ra núi cũng loang
lở, khô cằn, chứ không chỉ là một màu xanh
thuần khi tôi nhìn từ xa. Ðây đó cũng là
những sinh hoạt vất vả như quê mình. Tới ga
Ðông Giạ, thì hai anh em tôi xuống. Anh Chính đưa
tôi đến nhà người vợ thứ hai của anh. Từ ga
xe lửa này về đường số 1, là con hương lộ
cặp theo bờ sông Bồ. Hôm sau anh em tôi xuống
Phò Ninh, nơi anh Chính dạy học. Bây giờ là mùa
hè. Trường của anh Chính đóng cửa. Trường là
một dãy nhà dài, bề thế, mái ngói, có sân
rộng. Chung quanh trường có nhiều cây cối. Nơi
đây lại có nhiều ve sầu. Thiệt khác với
trường làng tôi.
Khi trở lại
nhà, tôi vẫn tiếp tục dưỡng bệnh. Ngày ngày
chị Huyền, chị bề trên ở đây ghé nhà chích
thuốc cho tôi. Gần như một năm sau mới thôi.
Tôi nhát gan, sợ đau. Cho nên cứ mỗi là phải
chích là một cực hình. Mẹ khuyên gắng đi, đau
hơn chết con ơi.
Cùng thời gian này, bà ngoại mất. Trong lúc bà
ngoại nằm bệnh, hầu như đêm nào, sau khi xong
công việc là mẹ cũng đi qua săn sóc bà. Mỗi
lần đi, mẹ dẫn một đứa chúng tôi theo. Có khi
cả nhà cùng đi. Tôi lúp xúp chạy theo mẹ. Buổi
tối, chuyến đò ngang thường không có. Mẹ
đứng bên bờ này gọi sang. Những gia đình ở
gần bến đò cũng là những cậu, những dì bà
con xa của chúng tôi. Nghe tiếng mẹ, những người
này chống thuyền cho chúng tôi qua bờ. Những
đêm không trăng, trời tối. Chung quanh tôi,
những lùm cây thân thuộc ban ngày, trở thành
những cái bóng kỳ dị đe dọa. Ðêm có trăng
thì thiệt kỳ ảo. Mọi cảnh vật bình thường ban
ngày được bóng trăng choàng thêm một lớp
ánh sáng mỏng lấp lánh. Khi ngồi bên triền sông
lở hoặc khi đã bước xuống đò, tôi thấy
bóng trăng và giòng sông hòa nhập nhau, vờn
trên mặt sông là vô số miểng trăng đuổi theo
nhau, chan hòa bất tận.
Qua bến đò, theo
đường cái, xuống một đoạn ngắn, gặp quán
tạp hóa của dì Liên. Bên cạnh là con hẻm nhỏ.
Con hẻm này dẫn vào xóm nhà bà ngoại. Bà
ngoại vẫn nằm trên chiếc giường tre quen thuộc
ở bên gian trái. Hai bà dì vẫn ngồi hai bên,
khuôn mặt chĩu nặng buồn phiền. Chị Thợ mới
qua. Mạ chừ ra răng. Cháu tới cho mệ rờ.
Trao đổi giữa mẹ và hai dì lúc nào cũng chừng
đó. Tôi bước đến giường, cầm tay bà ngoại.
Bàn tay của bà nóng ẩm, xương xẩu, chai khô.
Tôi vốn nhạy cảm, thường bỏ ra ngoài hè,
nước mắt trào ra.
Bà ngoại mất
vào buổi sáng sau đó mấy hôm. Khi bà đi, không
có chúng tôi bên cạnh. Bên ngoại cho người qua
tìm, khi đó mẹ đang ở ngoài cánh đồng. Mẹ bỏ
việc trở về nhà, rồi dẫn Kim Long đi theo. Tôi
phải coi nhà, đợi cha với các anh. Khi tôi có
mặt, trong nhà của bà ngoại đã đông đảo bà
con tụ họp. Ngay gian giữa là cái bàn thờ với
cái thánh giá. Bên trong là cái hòm trắng, phía
trên nắp có một hàng nến trắng đang cháy đỏ.
Vì bà ngoại theo đạo công giáo, nên nghi lễ
không có nhang khói. Một số bà con cùng đạo quì
phía trước lầm thầm đọc kinh cầu nguyện. Tôi
nhìn vào cái giường quen thuộc, nơi bà ngoại
thường nằm. Không còn bóng dáng thân thuộc
của bà. Giường được trải chiếu mới, trên
đó có mấy khay cau trầu. Tôi nhìn vào hòm gỗ.
Mệ ơi, mệ đi mô rồi. Một bà dì họ vỗ về
tôi. Cháu đừng khóc, mệ đi lên trời với
chúa. Tôi chạy ra đụn rơm phía bên hè nhà
khóc ngất. Tôi nhìn ngược lên trời, ngắm
từng phiến mây. Tôi tìm kiếm coi phiến mây nào
là bóng hình bà ngoại của tôi.
Tôi không nhớ buổi đầu tiên đến trường của
đời mình. Làng tôi chỉ có trường sơ cấp,
tới lớp 3. Trường nằm gần nhà thờ, là một
dãy nhà nhỏ có hai phòng, được xây bằng xi
măng, mái lợp tôn. Hai phòng được ngăn bằng
một vách ván mỏng, có cái cửa nhỏ thông nhau.
Sân trường là một khoảng đất khiêm tốn. Ngay
ở giữa sân có cột cờ. Mỗi buổi sáng chúng
tôi phải làm lễ chào quốc kỳ, và suy tôn Ngô
Tổng Thống. Bên cạnh sân trường có một cây
bồ đề lớn, có rất nhiều cành, đủ để cho
chúng tôi leo trèo. Qua khỏi lớp 3 thì học trò
phải đi qua làng Phò Trạch, hay Vân Trình để học
nốt bậc tiểu học. Trường do các chị thuộc
giòng tu công giáo đảm trách. Các chị dạy dỗ
tận tâm và rất nghiêm khắc theo chủ trương tiên
học lễ, hậu học văn.
Trong chiến tranh
đa số đều thất học. Khi hòa bình lập lại, phải
mất đôi ba năm làng mới xây dựng được
trường ốc. Do đó, bọn nhỏ chúng tôi đến
trường với số tuổi rất chênh lệch nhau. Lớp
nhỏ nhất của trường là lớp mẫu giáo cùng
lớp năm ngồi chung lẫn. Có đứa cao hơn tôi cả
cái đầu. Có đứa chỉ ngang vai. Sau một thời
học hành, các chị thấy khả năng của từng
đứa như thế nào mới sắp xếp lại. Cũng vì
sự sắp xếp lại này mà tôi bất mãn. Tôi tự
thấy trình độ mình là phải được lên lớp
năm. Rứa mà các chị bắt tôi phải ngồi lại
lớp mẫu giáo. Bởi vì khi đó tôi đã đọc
truyện làu làu. Tôi phàn nàn cùng mẹ. Ðiều
trái ngược là mẹ cũng thuận theo sự sắp xếp
đó.
Tôi có thái
độ riêng của mình. Tôi cũng rời nhà đến
trường theo thời khóa biểu như những đứa trẻ
khác. Nhưng thay vì đến trường thì tôi bỏ đi
chơi chỗ khác. Lúc nào nghe tiếng trống tan học
thì tôi lại trở về nhà. Tôi thường trốn ở
cái nương của nhà thờ họ Nguyễn Ðức của
tôi. Thường lệ, tôi ôm cái bao đệm đựng
vở chuồi vào trong một bụi tre kín đáo. Rồi
tôi chơi một mình, vừa chơi vừa canh chừng, sợ
bị người bắt gặp. Chơi chán, tôi chui vào trong
một lùm tre, lấy lá chuối lót làm chỗ nằm. Mơ
mộng viễn vông. Bấy lâu nay, tôi cứ tưởng
mặt đất luôn yên vắng. Khi nằm sát xuống, tôi
nghe từ đất phát ra nhiều tiếng, nhiều âm thanh.
Tiếng bò rột rạt của rắn mối, tiếng tắc
lưỡi của cắc kè, tiếng lá cọ vào nhau khi có
làn gió nhẹ thoảng qua. Tiếng chim ríu rít trên
cao. Qua kẽ lá là từng mảng trời biếc xanh. Tôi
chỉ giật mình khi nghe tiếng trống bãi trường. A
lê hấp, tôi vùng dậy, đến nơi tôi cất dấu bao
vở, lấy trở ra, thơ thới về nhà ăn cơm.
Thiên bất dung gian. Một bữa tôi đang thoải mái,
nằm xoải cẳng ra trong giang sơn thân thuộc của
mình thì có tiếng người. Thằng Ðái răng mi
nằm ở chỗ ni. Răng mà mi khôn đi học. Tôi
vùng dậy, ấp úng không nói được, tật cà
lăm khiến tôi câm luôn. Thì ra chú Anh, ông chú
họ của tôi. Bữa đó chú đang lui cui chặt hóp
để chẻ lạt. Chú lại chui vào ngay cái bụi tre,
nơi tôi cất dấu bao vở. Chú nhìn thấy, cúi
xuống lượm lên. Chú quay lại nhìn tôi với
đôi mắt nghiêm khắc. Rứa ra mi trốn học
chuồi vở bụi tre. Chẳng nói thêm một lời
nào, chú thả cái rựa trong tay xuống đất. Một
tay chú cầm bao vở, tay còn lại chú xốc nách
tôi. Chú kéo tôi thẳng về nhà.
Tôi bị một trận
đòn dữ dội của cha, kèm theo lời phụ họa của
mẹ, cùng cả gia đình. Tuy thế tôi vẫn chưa chịu
đi học. Tôi được trói lại gánh đến trường.
Mẹ bỏ công việc bận áo dài đi theo sau.
Sau biến cố này, tôi được kềm cặp kỹ lưỡng
hơn bao giờ. Tôi lại đến trường đều đặn.
Dù vậy, tôi vẫn thấy nhà trường là nơi tù
túng, không thích hợp với mình, mặc dù tháng
nào hầu như tôi cũng đứng đầu lớp. Bởi vì
nếu tôi tụt xuống phía sau một vài đứa, thế
nào tôi cũng không thoát nỗi roi vọt của cha và
mấy người anh. Thường khi ngoài giờ học ở
trường, tôi phải ở nhà học dưới sự kềm
cặp của mấy anh tôi. Ðặc biệt là anh Cung, ông
anh này ra bài cho tôi túi bụi. Với lời răn đe
là phải xong rồi mới được đi mô thì đi. Bài
tập thường là dăm bài toán đố, thêm một
bài luận tả những sự kiện gần gũi chung quanh.
Ðặc biệt, trong những bài luận này, đôi khi anh
Cung lựa ra một vài câu đem ngâm nga. Tôi chỉ
còn nhớ ít câu trong bài luận tả cảnh cày
ruộng. Con trâu lội bì bõm giữa đám ruộng
đầy nước bạc. Bác nông phu mệt nhọc trán
đầy mồ hôi. Tuy chặt chẽ như vậy, rứa mà
tôi cũng xong phận sự, vẫn có thì giờ trốn đi
chơi. Lần nào cũng vậy.
Ngoài giờ phải
đến trường học, giờ ăn, giờ phải làm bài
tập ở nhà. Tôi thường hay thơ thẩn ở bờ
sông. Ðôi lúc ngồi ghe câu bơi ra giữa giòng,
nhìn lên cồn Nổi. Gọi là cồn Nổi là bởi vì
đó là cù lao đất nằm giữa sông Ô Lâu. Hồi
trước khi sông Ô Lâu chảy về đến khúc này,
thì giòng chính là khúc sông phía trái (tức là
nhìn từ phía nhà tôi nhìn lên) phân chia làng
tôi và làng An Thơ bên kia sông. Còn khúc sông
phía bên phải chỉ là con hói nhỏ. Lâu dần lưu
lượng giòng nước đổi thay, phía con hói trở
thành khúc sông chính. Trên cồn thường trồng
bắp, dăm thứ đậu và ớt. Giòng Ô Lâu mất
biến trong tầm mắt. Nhìn xa hơn là rặng trường
sơn hùng vĩ ngắt xanh. Nhìn ngược lại phía hạ
lưu, sông mất hút sau những khúc quành cũng màu
xanh bởi những bụi chuối và tre. Hai bên bờ là
những lùm nga (tức là lau sậy, lá giống lá
mía) xào xạc phất phơ. Ngồi sững trên ghe câu,
đôi khi còn nằm dài. Tôi cảm thấy thật đã,
bất cần mọi sự. Ðôi mắt nghiêm nghị của cha.
Lời rầy rà của mẹ. Roi vọt của mấy người
anh...Những thứ đó nhường chỗ cho xao xuyến,
chơi vơi, lâng lâng...
Cánh đồng cũng
là một cám dỗ mê hoặc lớn. Con hói cạnh nhà
tôi chảy thẳng ra đồng. Con đường xóm tổ 6
cặp theo con hói này. Con hói cạn, trong vắt, tôi
nhìn thấu tận đáy. Ðây đó là những đám rong
vướt lên mặt nước. Những chiếc lá khô trôi
chậm rải lờ đờ. Dăm ba con cá nhỏ bằng ngón
tay ngoe nguẩy, tung tăng. Bên kia hói là nhà của
ông Hoàng. Vườn nhà ông có cây khế ngọt, tuy
được ông rào kỹ lưỡng, nhưng đám bạn rắn
mắt của tôi cũng chui vô hái trộm nhiều lần.
Tiếp liền theo theo là miếng vườn của anh Dương,
anh họ tôi. Dọc theo con hói bên này là nhà
cửa của xóm giềng. Tôi có hai đứa bạn học
ở đây. Ðó là Phụng con của thím Dàng. Phụng
khôn lanh, thích đọc sách. Hết lớp 3 thì Phụng
theo người o ruột vô Huế. Còn Bàng, con của ông
Lỗ. Bàng thân với tôi hơn. Bàng cũng bị cà
lăm. Tuy còn nhỏ nhưng Bàng phải làm việc như
một người lớn. Ngoài việc học, Bàng còn phải
chăn một bầy trâu. Vì làm việc nhiều, quá sức
mình, thân hình của Bàng quắt lại. Bàng rất tốt
bụng. Những lúc tôi phải nghỉ học vì đau ốm,
Bàng lại chép bài học dùm. Mỗi lần Bàng chăn
trâu, tôi thường cỡi lên lưng trâu ngồi chung.
Tôi sợ đỉa, mỗi lần bị đỉa đeo vào chân, tôi
thường la bai bải. Bàng thản nhiên ngửa bàn tay
ra, nhổ vào tí nước miếng rồi cúi xuống chân
tôi. Bàng đưa bàn tay thoa vào con đỉa. Tự dưng
con đỉa như mất sinh lực rụng xuống tức thì.
Tôi thường ra
đồng bằng con đường xóm này. Cuối đường có
mấy cây mưng. Ðọt mưng chát tôi thường hái
chấm muối ăn. Bông mưng đẹp hơn. Từng chùm
buông thỏng như xâu chuổi, chảy dài, chi chít
những cánh hoa tím đỏ. Con hói chảy ra tới bờ
ruộng thì ngoặt trái, cùng với con đường. Con
đường này cũng chạy tới cuối làng, dành cho
trâu đi.
Muốn qua tới
đồng, tôi phải đi qua cái cầu tréo. Cầu chỉ là
một cây tre già nằm vắt ngang. Ðược nâng đỡ
bằng hai cái nạng cũng bằng tre đóng chéo nhau,
có một nhánh nạng trồi lên cao, ở giữa lòng
con hói. Bên nhánh trồi cao có một cây tre nhỏ
buộc vào để làm tay vịn. Nơi đây thì phong cảnh
nặng mùi, chẳng nên thơ tí nào. Dân quê tôi
thường ít nhà có cầu tiêu riêng. Bạ đâu đi
đó. Cái cầu tréo này, cũng như những bờ
ruộng gần xóm, cũng là nơi cho dân trong xóm
ngồi phóng uế. Mỗi lần bước qua cầu, tôi chỉ
dám nhìn thẳng đồng thời nín thở. Vừa bước
tới bờ đất là tôi nhắm hướng, men theo mấy
bờ ruộng chạy một mạch, bất kể lá lúa quất
sướt vào hai ống chân chảy máu. Khi cách một
khoảng xa, cảm thấy an toàn tôi đứng lại thở
phào. Sướng chi lạ.
Nghĩa địa nằm
giữa cánh đồng. Tôi thường nhảy nhót từ gò
mả qua gò mả kia. Ðôi khi nằm lăn, quần áo dính
đầy bông cỏ may. Ðôi khi trèo lên gò mả cao
ngồi nhìn chung quanh. Vẫn những khung cảnh quen
thuộc. Vẫn màu xanh của lúa tiếp giáp cùng nền
trời. Vẫn những con trâu đang nhẫn nha gặm cỏ
trên mấy gò mả chung quanh. Vẫn bóng dáng cần
mẫn của dân làng đang còng lưng làm việc. Nhìn
vào thôn xóm, vẫn những mái nhà tranh yên
vắng. Nhìn qua hướng đông là ngôi mả đôi cao
ngất của họ Hoàng. Xa hơn nữa là lũy tre lờ
mờ của làng Cồn, tức làng Siêu Quần. Làng
này và làng tôi có hiềm khích. Trẻ chăn trâu
của hai làng cứ gặp mặt là đánh nhau. Lắm khi
có sự can dự của người lớn. Có một thanh
niên làng tôi đã chết vì sự đụng độ mà
tôi cho là rất vô lý này. Ðịa giới giữa
làng tôi và làng Siêu Quần có một cây dưới
với tàng lá nhỏ tròn chi chít. Có người nói
ma họp chợ ở dưới gốc. Nhìn qua hướng đông
nam là lũy đất chạy dài cây cối xum xuê, gọi
là rồn, của làng Phò Trạch, còn có một tên
nôm na nữa là Cấy Phù. Làng này trù phú và
văn vật hơn làng tôi. Gọi như vậy bởi vì làng
này có nhiều nhà giàu, cũng như có nhiều
người có bằng cấp. Ngay giữa cánh đồng có
một gò đất nổi cao. Trên chóp gò trồng một
bụi tre già lớn. Ðó là Bụi Trái Một. Hằng
năm thường có cúng tế ở đây để cầu trời
cho mưa thuận gió hòa. Cánh đồng còn có thêm
một gò đất nữa, nằm gần phía sau xóm tổ 10.
Trên có nhiều cây cổ thụ. Cách phối trí đẹp
mắt. Trông giống như một hòn non bộ khổng lồ.
Ðó là Hòn Mô.
Tôi thường
ngồi lặng. Tôi thấy tâm hồn mình dàn trải theo
cánh đồng. Tuyệt diệu nhất là mùa lúa phơi mao.
Khi đó giữa mặt ruộng xanh nối tiếp không gian
là lớp sương mù trắng mỏng. Tôi tưởng chừng
như cánh đồng là đại dương. Huyền xanh nắng
ruộng mưa cồn. Sầu đưa biển trắng triều mồn
một phơi. Mười mấy năm sau hình ảnh này
bùng lên trong Giữa Triền Hạn Reo.
Ngồi chán chê,
tôi đi nhập bọn với bạn bè chăn trâu, moi ốc
bắt dế. Mạo hiểm hơn thì đứa cỡi lên lưng
trâu và đứa đứng dưới ly roi thọc dái trâu
khiến cho trâu nhảy. Vài người lớn làm lụng
ở gần đó khi nhìn thấy tôi thường mỉa mai. Con
ôn thợ sướng thiệt, chỉ biết đi học và đi
chơi, không đụng cái móng tay.
Khi tôi trở về
nhà nếu gặp mẹ trước thì không sao. Con cứ
đi lêu lêu, không chịu ở nhà học hành.
Nhưng nếu gặp cha hay mấy anh thì thôi khỏi nói.
Anh Cung sừng sộ mi mần bài tập hết chưa.
Anh Cương đi bẻ cho tau cây roi để tau đuổi gà.
Tôi hăng hái chạy ra bụi hóp bên hông nhà bẻ
liền một cây mang vào cho anh. Anh Cương cầm cây
roi, thay vì đuổi gà như anh nói, quay sang tôi, chỉ
vào bộ ngựa giữa nhà. Mi nằm lên đây.
Tôi nằm sấp xuống đưa cái mông lên. Anh Cương
hạ thủ. Cứ xong một roi là anh nói. Ði chơi
nì, đi chơi nì. Tôi bị khoảng chừng dăm ba roi.
Cha và anh Cung đưa mắt nhìn cổ vũ. Ðần cho
hắn chết, hết đi chơi. Xong rồi, anh kiểm soát
bài tập, thì thứ gì tôi cũng làm xong và đúng
hết. Thế là tôi phải lãnh thêm một mớ bài
tập khác. Khi đó mẹ can thiệp. Mẹ nhìn anh Cương
bảo. Ðể cho em ăn cho no rồi học chi thì học.
Tôi đi xuống nhà ngang ăn cơm. Kim Long nhìn tôi
cười khúc khích. Tôi muốn tộn em tôi nhưng
không dám, mặc dù trong bụng còn nhiều ấm ức.
nguyễn đức bạtngàn / thầm lặng trời, thầm lặng đất