1973
Chiến tranh càng ngày càng khốc liệt trên hai
miền đất nước. Bên nào cũng dùng sức mạnh
của mình để đón đường, trả giá với phía
bên kia. Hành động quân sự được dùng như
một lực ép đối phương giữa bàn hội nghị.
Hòa hội Paris như ánh lửa chớp tắt. Những
cuộc họp mật thương thảo đi đêm giữa hai thế
lực chủ động Washington và Hà Nội đang dằng co.
Một năm tang hoang dần qua. Giáng sinh sắp đến trong
ân phước của nhân loại hướng về tưởng
nhớ ngày đản sinh của chúa cứu thế Jesus. Ðất
nước tôi đón mừng ngày kỷ niệm này bằng tai
họa. Cọng sản Bắc Việt đang dồn tổng lực để
gây sức ép giữa hòa hội Paris. Hai bên đã
gặp bế tắc trong thương thảo. Giới chức quân
sự Hoa Kỳ bèn ra lệnh tấn công miền Bắc tối
đa bằng không lực. Hà Nội, Hải Phòng cùng
những căn cứ hậu trạm quân sự đã bị pháo
đài bay B.52 rải bom trong khoảng thời gian cuối
tháng 12 dương lịch. Miền Bắc triền miên dưới
mưa bom suốt 11 ngày đêm. Thánh ca hót mừng chúa
ra đời bỗng thành tiếng kèn đưa ma truy điệu,
hay xót hơn đó là khúc hợp tấu xương máu khổ
nạn đồng lõa với thịnh trị dửng dưng đang vận
hành trên mặt đất. Chúa giáng sinh hình như
không can dự gì đến phần đất bất hạnh này.
Tội ác đã dằn mặt, làm chai cứng hết lương
tri nhân loại. Hai bên tham chiến, dù nhân danh này
hay nhân danh kia, thì rốt cuộc đất nước và sinh
dân Việt Nam cũng đã lãnh trọn mọi tàn phá.
Những ngày cuối năm thời tiết bất nhất. Có
ngày nắng gắt tiếp theo ngày ám lạnh. Ngồi cùng
bạn bè ở quán cà phê, tôi chùn lòng. Nếu
nói tâm thái của nhà văn là tâm thái của xã
hội, thì tại sao những tai biến ghê gớm đang có
mặt kia lại chẳng khiến tâm hồn tôi nôn nao.
Tại sao những công phá kia không ấn đậm vào
thần tính tôi, để kéo ra lời ra chữ. Như lời
thế tục. Người cầm bút là chứng nhân của
thời đại. Hay tôi là tên trơ tráo bất nhân.
Tôi hận tôi, rồi hận lây cả chủng tộc mình.
Dĩ nhiên tôi muốn hoà bình. Ðó cũng là một
khát vọng chung cho toàn thể dân tộc. Nhưng phải
là nền hòa bình thật sự. Chứ không phải thứ
hoà bình cùng đường vì tội ác đã chất đầy.
Tội ác được biện giải bằng những mỹ từ
đang rêu rao trên báo chí lẫn đài phát thanh của
hai phe. Tội ác được đồng hóa với cứu cánh
chống Mỹ cứu nước, được đồng hóa với
sự chiến đấu diệt Cọng để bảo vệ tự do
nhân phẩm cho nhân dân miền Nam. Tôi hằn học khi
nghĩ về trách vụ chính trị của giới chức lãnh
đạo hai miền Nam Bắc. Họ chỉ là một thực thể
tay sai của hai thế lực tư bản cọng sản đang tranh
dành nhau khu vực ảnh hưởng trên toàn cầu. Tôi
hoang mang. Tôi hoang tưởng cho rằng chẳng cần phải
đấu tranh cách mạng, mà chỉ cần giới chức hai
miền dẹp bỏ tự ái tranh thắng chủ nghĩa, để
ý thức rằng sự tồn vong cùng danh dự của dân
tộc là điều tiên quyết hệ trọng. Họ phải
hiểu trắng ra là chỉ có người Việt mới yêu
thương đùm bọc lo lắng cho người Việt thực
sự. Vì sự sống còn của quê hương, hai bên
phải xóa bỏ dị biệt, ngồi lại với nhau trong tinh
thần nhân nghĩa hợp với truyền thống cố cựu.
Như thế chẳng cần phải cam tâm nô lệ, hoặc
nương tựa vào một ngoại lực nào mà đất
nước vẫn được cứu nguy.
Tôi biết mình viễn mơ. Ði bộ lên mặt trời
chắc dễ thực hiện hơn điều tôi đang mong ước.
Nhưng chắc chắn một điều, cho đến một ngày mà
những hoang tưởng trong tâm tư tôi chưa biến
thành hiện thực, thì đất nước này sẽ mãi
mãi trầm luân. Hay đất nước này, dân tộc này
được phát xuất và tựu thành bằng cừu hận.
Nó như một ma chướng, đó là tương tàn tiếp
diển theo vận hành của dân tộc tiếp liền từ
đời này qua đời kia. Hay tự tính của chủng
tộc Việt là hiếu chiến, chia rẻ. Mặc dù triều
đại nào cũng rêu rao nhân ái hiếu hòa. Huyền
sử một bọc trăm con phân ly tự đầu nguồn đã
lần hồi mở ra cho con cháu hậu duệ về sau thành
trăm vạn ngã đường tan tác. Chúng ta tự hào
bốn ngàn năm lập quốc. Chúng ta tự hào con
rồng cháu tiên. Chúng ta tự hào chưa bao giờ
lùi bước trước giặc ngoại xâm. Dĩ nhiên đó
là niềm tự hào vĩ đại không một ai phủ nhận.
Nhưng đó chỉ phản lộ khía cạnh chiến đấu tính
của nòi giống. Nhưng còn niềm tự hào về thái
hòa thịnh trị? Về xây dựng đất nước quang vinh?
Về yêu thương đùm bọc? Về văn hóa văn minh?
Sau cơn mưa bom trên miền Bắc và những trận địa
khốc liệt trên bốn vùng chiến thuật miền Nam.
Cũng như với những kế hoạch chủ động của hai
thế lực ma quái tư bản cọng sản. Cuối cùng
hiệp ước ngưng bắn cũng đã được ký kết
vào ngày 27 tháng 1 năm 1973 ở Paris. Ðây là
dấu mốc trên lý thuyết như mở đầu cho một
trang lịch sử mới. Hoa Kỳ bằng hiệp ước này,
đã rút chân ra khỏi cuộc chiến tranh không tuyên
chiến với cọng sản Bắc Việt. Họ coi như đã
xong phần. Ðiều chông chênh khó hiểu là dưới
sức ép của Washington, chính quyền tự do miền Nam
như bị áp đặt trước một sự kiện đã rồi.
Ðó là dù ngưng bắn, nhưng lực lượng chính qui
cọng sản Bắc Việt gồm hàng chục sư đoàn lại
không rút trở về miền Bắc, mà vẫn nằm mai
phục nguyên vị trí trên lãnh thổ miền Nam. Ðó
là cơ chế bù nhìn mặt trận giải phóng, hình
nộm của cọng sản Bắc Việt được xác nhận như
một thực thể. Giới quan sát quốc tế lạc quan
công nhận hiệp ước này là một kết quả mỹ
mãn. Xa hơn, khờ khạo hơn là giải Nobel hòa bình
trong năm (1973) cũng được hàn lâm viện Na Uy trao
cho Lê Ðức Thọ cùng Kissinger. Hai nhân vật chủ
chốt của cuộc thương thảo. Ðây tuy là hành
động tích cực cổ vũ khen thưởng cho các cá
nhân đạt thành tích cao tranh đấu cho hòa bình.
Nhưng trớ trêu thay trong trường hợp này chính
là sự lăng nhục, có giá trị như là tặng thêm
cây mã tấu cho đao thủ phủ. Nó được phơi bày
rõ ràng khi Lê Ðức Thọ từ khước giải
thưởng, tráo trở cho rằng hiệp ước đình
chiến tuy đã ký kết, nhưng hòa bình chưa thực
sự có mặt. Dù sao đi nữa, với hiệp ước
này tôi ngây thơ tin rằng máu sẽ thôi đổ. Dù
vẫn còn lắm dị biệt oan trái giữa hai miền,
nhưng rồi đất nước sẽ là lòng nôi cho dân
tộc tái tạo hồi sinh.
Sáng sớm ngày đầu tiên hiệp ước bắt đầu
có hiệu lực, tôi đã thả bộ xuống quán cà
phê tổng hội bằng tâm thế đó. Trời đang
giữa buổi mai khoáng mọng hơi nước. Cơn mưa
sáng vừa tan, bầu trời xanh non trở lại. Mặt
đường loáng phản chiếu ánh nắng lóa dịu tầm
mắt. Gió se se, nhưng tôi nghe như hương tết thơm
đang vờn quyện đó đây. Hòa bình. Hòa bình. Mẹ
già thôi khóc. Vợ trẻ mừng vui. Cha nôn nao
đợi ngày đoàn tụ. Bạn hữu tôi sẽ giã từ
súng đạn trở lại đời thường. Sự sống sẽ
ngọt hơn. Nụ cười ấm hơn. Nắng mưa sẽ từ nay
thiết tha hơn. Ðất nước sẽ nồng nàn hơn. Trời
biển sẽ thắm tươi hơn. Sông núi sẽ tình tứ
hơn. Tôi tưởng mình đang bước nghêu ngao giữa
mùa thịnh trị.
Bạn hữu tôi đang quần tụ. Mặt mũi đứa nào
cũng sáng rạng theo thời thế lạc quan. Tôi rề
vào chiếc ghế trống sát Nguyễn Nghĩa đang ngồi
chống cằm đăm chiêu bên cạnh Nguyễn Ánh nhấp
nhổm. Thấy tôi, Ánh huơ một cánh tay như vẫy
mừng, đồng thời như mời ngồi. Ngưng bắn rồi
đã quá. Tôi móc mấy điếu thuốc lá lẻ nhàu
nát trong túi áo sơ mi ra mời bạn. Nguyễn Tường
Sơn nghếch mặt khoan khoái. Từ nay ăn khỏe ngủ
khỏe, khỏi lo chạy giặc, pháo kích. Ðỗ Văn Tùng
chêm vô. Rứa là khỏi lo làm hồ sơ hoãn dịch
hàng năm. Cả bọn lao chao cười đùa nghiêng
ngã. Nguyễn Ánh vẽ vời lại dự tính lên núi
cao tìm một hang động để diện bích tu chứng như
Bồ Ðề Ðạt Ma. Tôi đùa. Mày mà thiền sư quái
gì. Ánh chưa phản ứng thì Sơn chêm. Cở như
thiền sư Ánh thì phải cần một thiền ni ngồi
thêm phía sau lưng mới đủ bộ. Ánh nỗi giọng ba
trợn. Rứa mới đúng như tâm tau mong muốn. Tùng
nhấp tí cà phê cho ấm cổ họng rồi hê hê. Rồi
hang động sẽ đầy ắp thiền nhi. Câu nói bất
ngờ lý thú khiến cả bọn hả họng cười ran.
Nguyễn Nghĩa nhắc lại bài bản cũ. Thì nhất âm,
nhất dương chi vị đạo. Tôi nhí nhố. Vị đạo cái
con khỉ, phải gọi đại đạo mới hợp lẽ nhiệm
mầu. Ánh nhếch mép cười, ngó tôi chăm chăm.
Tôi cũng nhìn lại bạn. Ðôi mắt hơi sụp một
bên lúc nào cũng ám nặng dấu hiệu trác tráng
vật dục. Ánh lại nhướng mắt như cố đuổi cơn
buồn ngủ. Giọng bạn trở lại lờ đờ cố
hữu. Chán bỏ mẹ.
Cả bọn lại ngồi yên. Tôi đăm đắm đuổi tầm
mắt theo tàng bông giấy rợp lá xanh chi chít sủng
nước. Ðôi lúc có gió tạt, nước lại rụng
rẩy xuống trên đầu trên cổ cả bọn. Nước
giọt trên mái tóc biếng gội của Nghĩa. Nước
thấm qua mặt kính cận của Sơn. Nước rủ ướt
lưng áo của Tùng. Nước xuyên qua cổ áo bò
xuống lưng tôi nhồn nhột. Tôi bỗng nghe lênh
đênh hiện về. Cách trở chỉ còn là chứng
liệu cho hôn ước. Cũng như hòa bình sẽ mở
thêm lối cho tai họa. Tôi thấy xuân xanh mình trở
ngọn bay mất tăm hơi. Sơn đập lên vai tôi hỏi
thăm về Trường Hạ Kinh, về những suy tưởng
mới. Tôi ái ngại. À thì cũng vậy, tau viết vì
không thể không viết. Mắt Sơn nhìn tôi như cố
cảm thông. Mày cứ viết đại đi, rồi về sau
biết đâu. Tôi nói trờ qua tình hình thực tại.
Về hòa ước Paris vừa ký. Về sự thiếu đồng
bộ của những điều lệ mà trước khi ra đây,
tôi đã nghe trên đài phát thanh Hà Nội. Sơn lo
âu. Tau thấy đó chỉ là sự dối trá tinh xảo.
Tùng đang ngồi yên bỗng đâm giọng khinh bạc. Thì
tụi bây không nghe Thiệu đã nói đừng nghe
những gì cọng sản nói, mà hãy nhìn cọng sản
làm hay sao. Ánh bực bội. Dẹp mẹ chuyện đó đi
tụi bay. Nghĩa hất mặt ra bảo Ánh. Cụ mày thiếu
hơi âm nên thần trí lộn xộn. Ðã biết nói thì
phải biết nghe. Ánh trề môi thay tiếng trả lời,
uể oải mồi điếu thuốc khác. Ánh vốn thế, bạn
tôi là kẻ theo chủ nghĩa hư vô hưởng lạc. Ánh
lúc nào cũng đói rách theo đúng với nghĩa đen.
Nhớ những lần gặp nhau, nhìn sắc diện tôi biết
là Ánh chắc đã mấy ngày không ăn uống. Tuy
thế, nếu gặp được bằng hữu tiếp viện cho
chút tiền còm là Ánh vội chui vào quán uống ly
cà phê, thay vì mua ổ bánh mì lót dạ cho qua cơn
đói. Lắm lúc tôi tưởng Ánh là nhân vật
tiểu thuyết hiện sinh đang từ trong chữ nghĩa chui
ra tung hê với đời. Ánh rít mạnh hơi thuốc,
lờ đờ bảo Nghĩa. Hoà bình, chiến tranh cái mẹ
chi. Ðó không phải là con đường mà tau thúc
bách. Tau muốn xuống sông nhưng chưa có khả năng
tài chính, đó mới là vấn nạn.
Trời đổ mưa nhẹ. Cả bọn với nhau như tấc
lòng đang lơ láo. Chúng tôi là ký sinh chăng. Vì
thế phận từng đứa một là nỗi khuất tạt hao
mòn. Câu thơ cũ ngời lên hình trạng heo hút,
minh họa cho thực thể trước mắt. khi quay lưng thì
không còn đằng sau. thật nhẹ nhàng đường đi
đằng trước. mũi súng thù trên ngọn cờ bay.
những tập thể anh họp lại khu vườn cô độc.
những tập thể anh điêu đứng tháng ngày...
Quán đã đông hơn. Nền đất lộ thiên nhễu
nước dơ dáy dập theo mớ tàng thuốc bẹp dí
cùng lá bông giấy lả tả láp nháp. Ðám bạn
thường lệ của tôi hầu như đủ mặt, vây quanh
cái bàn con đầy ly tách ngổn ngang. Nếu gọi hoà
bình là khúc hoan ca thì cớ sao nơi chốn này lại
hiện đầy trắc trở. Những khuôn mặt lười
lĩnh phiêu bồng không mưu toan. Những lo âu thời
thế đã bị đè cứng dồn ép, khuất lạc mất
tăm. Hà Thúc Thắng vừa tấp xe vô, chưa kịp
chào hỏi đã hổn hển. Ngưng bắn chi mô mà hai
bên đã vi phạm hiệp ước rồi. Trước khi tới
đây, tau vừa nghe radio, chính quyền miền Nam tố
cáo Việt cọng vi phạm hiệp ước. Chẳng có
đứa nào đưa lời hưởng ứng. Thắng kéo một
chiếc ghế con từ bàn bên cạnh đặt chen vô
ngồi xuống, rồi lên tiếng hào hiệp. Có thằng
mô uống thêm cà phê không. Tôi ngó qua Thắng,
vẫn khuôn mặt tròn với làn da nung núc trắng.
Bỗng một giọt nước từ tàng bông giấy rơi
trúng trên vầng trán bạn, nhưng Thắng vẫn thản
nhiên. Tôi nhìn giọt nước lăn dần xuống vành
lông mày nhạt rồi xuyên qua bò xuống tận mí
mắt. Thắng nhấp nháy mi, như một cố gắng đẩy
giọt nước mưa ra khỏi vành mắt, thay vì đưa tay
lên quệt. Bạn mỉm cười, rồi tiếp giọng như
giải thích thêm. Ðình chiến theo kế hoạch da beo
cũng mệt. Phe nào cũng tưởng nếu có lực
lượng mình đóng quân thì cứ việc kéo cờ
mình lên là hợp thức hóa xong chủ quyền phần
đất ảnh hưởng. Chẳng ngờ bên này thấy cờ
bên kia kéo lên là lập tức khai hỏa. Nghe lời
của Thắng xong, Nghĩa nhếch mép phụ họa thừa
thãi rỗng tuếch. Hòa bình để tiếp tục chiến
tranh.
Tôi trở về nhà, lòng dạ trì trệ. Với bạn
hữu cùng niềm vui mong manh đã qua. Gia đình đã
ăn xong cơm chiều, nhưng tôi không thấy đói. Mồm
miệng còn đắng đậm dư vị cà phê thuốc lá.
Cuống họng tôi râm ran lầy nhầy đàm dãi
vướng mắc khó chịu, khó thở. Quê hương lại
bùng lên. Khái niệm hòa bình chiến tranh dập
dờn trong trí não. Ðất nước vẫn đang còn bị
nhiều thế lực tham tàn cùng độ tiếp diễn dày
xéo. Súng đạn vẫn khai hỏa, dù chữ ký chấp
nhận bản hiệp ước đình chiến chưa ráo mực.
Tôi ngồi xuống cái bàn nhỏ đặt sát cạnh bộ
ngựa nhìn ra cửa sổ có tàng cây trứng cá.
Tôi muốn nhờ chữ nghĩa dẫn đường, trải lòng
mình theo tai biến đất nước. Tôi muốn bằng tâm
thành ghi lại cảm xúc được hun đúc từ hoạn
nạn nhiểu nhương của quê hương. Trong đầu óc
tôi sống động bao hình ảnh tang tóc đang thật
đang có. Như bom đạn, càn quét, lửa khói. Như
sinh mạng đồng bào hai miền đang bị đưa vào lò
sát sinh. Như chủ nghĩa hung cuồng hóa trang tình
tự lý tưởng cứu cánh. Như những mặt thú
đội lốt người đang xum xuê trong áo xống lãnh
tụ, kêu gọi thúc đẩy cưỡng bách quần chúng
tiếp tục hy sinh xương máu để họ thỏa mãn sân
si tham vọng. Quê hương! Âm vang xa vắng heo hút hư
không hoang dạt. Quê hương! Tiếng gào tuyệt vọng
giữa tai họa bạo hành bi thiết. Quê hương! Như
cánh đồng cháy nứt nẻ còn sót lại dăm bụi
lúa còi trơ chẹn tủi mòn lép hạt cằn khô. Như
trận địa hầm hào cắt xới lung tung dọc ngang
vườn tược. Như mẹ chong đèn trong đêm mòn
mỏi đợi chờ. Như cha thất thố khốn khó vô
vọng. Như chú bác mê man chia phe tụ bầy phanh
thây nhau oan khốc. Như cô dì mái tóc phủ khăn
tang trắng đời cô phụ. Như con cháu lớn lên
côi cút ngơ ngáo, không biết định nghĩa thế nào
là tương lai.
Tôi bóp mạnh cây viết, hiểu rõ rằng mình đã
bất lực tận cùng. Tâm không điều động chữ
nghĩa để rót xuống trang giấy. Hay tôi sâu sắc
quá, nên hiểu khổ đau trước mặt như chặng
đường bình đẳng như bao chặng đường khác. Hay
tôi là hoang thai, từ cõi không mà đi vô nguồn
vô ngọn. Hay tôi là tên câm điếc, tuy cảm nhận
được thống khổ nhưng chẳng có khả lực kêu
la. Câu hỏi xoáy lên. Tâm tư tôi đột phá. Tôi
viết về thực trạng quê hương để phơi bày, tố
cáo cho ai đây. Hay rồi chữ nghĩa của tôi cũng
chỉ là tiếng khóc oán thán trôi dạt bên này
bên kia. Tôi dờn dợn, sực nhớ mớ thơ văn
tranh đấu nhan nhãn trên báo chí, cũng như lưu
hành trong anh em sinh viên. Nó không phải là thông
điệp của nhân ái đối đầu trước bạo lực,
mà đó chỉ là mớ cảm xúc phụ họa thêm cho
cừu hận bén rễ oan thù. Những tình tự hiền
lành của dân tộc đã được lợi dụng tối đa,
như được bắt tra thêm móng vuốt. Nó tuyên
truyền kêu gọi hối thúc, xung động hiếu chiến,
cũng không thua gì thành lũy, tuyến hào, kẽm gai
đang vây bọc sinh mệnh của quê hương.
Tôi bình tâm. Tôi không thể nào là kẻ thỏa
hiệp với gian trá. Tôi phải vượt qua tôi.
Vượt qua xung động nhất thời. Vượt qua cằn
cỗi sáo mòn tự ái. Nhân tính tôi là tấm
gương soi. Tôi phải dùng để soi mặt mình trước
hết. Dĩ nhiên tôi là đứa con nhỏ của dân tộc
này thì làm sao có thể tránh né khỏi nỗi đau
chung. Có một dạo tôi đã từng vọng hảo. Có
một thời tôi đã hung hăng giữa khái niệm bạn
thù. Nó đã đâm chẻ tôi ra từng nhánh từng
phần lạ hoắc. Nó như son phấn điêu linh tô hồng
lên viền trăng non úa. Nó như lời khuyến dụ
đường mật bất mãn giai cấp. Nó như ánh đuốc
lung linh trên rừng chan đầy hào hùng đấu tranh
giải phóng cách mạng. Tôi đã nhận ra đó chỉ
là những tín hiệu còm cõi, chập choạng như đom
đóm, ma trơi.
Tôi trở lại với bản ngã mình. Tập bản thảo
Trường Hạ Kinh đang nằm phơi chờ đợi. Mặt
giấy trắng bỗng nũng nịu tôi như da thịt tình
nhân. Tôi hạ đầu cây viết xuống, không chờ
không đợi. Tâm tứ hồn hậu như nhiên, chẳng
bó buộc thúc bách dằn vặt. đừng bao giờ phân
vân và hãy suốt đời phân vân. đừng bao giờ
cuồng nộ và hãy suốt đời cuồng nộ. bởi vì
tình yêu em đã là cánh cửa mở ngõ bạo
hành...
nguyễn đức bạtngàn / thầm lặng trời, thầm
lặng đất