Có những hình ảnh, những kỷ niệm tưởng rằng
đã tan theo thời gian, bỗng nhiên một lúc nào đó chợt trở về trong trí
nhớ, loáng thoáng như vệt nắng, như giải mây trôi trên bức họa muôn
mầu.
Saigon 1960, thời gian chập chờn, thật xa và cũng thật
gần đó. Tập thơ của Bồng vừa gửi đến, vô tình đã
gợi nhớ về những kỷ niệm thật trong sáng, dễ thương của
một thuở quê hương yên bình và thơ mộng.
Quê hương ngày đó, có cô em Trưng Vương áo trắng Bích
Huyền, có cậu trò nhỏ, ngồi trên xe đạp, một chân trên bàn đạp, một chân chống đất -
Mùi Qúy Bồng -. Cái tên không thể lẫn và cũng không thể quên.
Chúng tôi hay gặp nhau trước cửa tòa soạn Ngôn Luận, Văn Nghệ Tiền Phong, với tiếng cười hồn nhiên, giữa
những giòng văn học trò và những ước mơ cho tuổi trẻ. Thế
giới riêng của Linh Lan và các em mỗi chiều thứ tư trong toà soạn.
Rồi từ chiến tranh lan rộng ... tôi lao đao theo chồng. Xa
các em từ dạo đó, tôi đem văn chương đổi thực tại
của quê hương.
Sang phòng thời sự đài truyền hình Việt Nam, tôi tham gia những chuyến đi tiền tuyến. Sư đoàn 5,
Sư đoàn 7, rồi Khe Sanh, Lao Bảo. Có Linh Linh Ngọc, Nhật Trường, Tô
Kiều Ngân với tiếng sáo cao vút trong đêm trên đồi lạnh.
Rồi xót xa, nước mắt thấm đẫm khăn tay trên
những chuyến trực thăng tải thương. Rồi như sét đánh ngang
đầu khi được tin người em văn nghệ Văn Khoa N.Q.B. đã
đền nợ nước trong một phi vụ rừng già không tìm được xác.
Xa quá rồi một thời vô tư với mục Mỗi Ngày Một Truyện trên Ngôn Luận, với mục thư tín dễ thương cho Văn Nghệ Tiền Phong.
Tôi tưởng mình đã quên nhưng vẫn còn nhớ. Bích Huyền nũng nịu ngày nào vừa gặp lại kỳ em sang họp Trưng Vương 1994. Vẫn đôi mắt thông minh ngày xưa, nhưng cay đắng cuộc đời em đã gói trọn trong tuyển tập "Lối Cũ Chẳng Sao Quên" vừa xuất bản.
Riêng Bồng - mười mấy năm sau liên lạc lại, em là
một y sĩ chưa già nhưng cũng không còn trẻ. Tôi đã có rể, có dâu.
Thay đổi quá nhiều, nhưng may mắn Bồng đã giữ lại cho mình được tất cả những gì đã có như đã mong, đã ước. Tình yêu đầu đời của Bồng và những điều tôi được biết - từ cậu học trò nhỏ đến một lương y,
tôi tin rằng Bồng đã chọn đúng con đường thênh thang, cao cả đang
đi, và điều đáng nói nhất là tôi đã tìm thấy
Mùi Qúy Bồng của những ngày đã qua, tuy già dặn, tha thiết hơn nhưng trong nét vẽ, lời thơ vẫn còn nguyên vẹn tình thương rào rạt và những cảm xúc chân thành.
Có điều - có lẽ Bồng không biết - Bồng đã nhắc
lại cho tôi những kỷ niệm thật êm đềm, thật đẹp của
một thời làm văn nghệ xa xưa.
Xin cám ơn Bồng thật nhiều.
Houston, 5/11/94
Tuyển Tập Thơ Mong Manh (1994)
LINH LAN