Go: [ MAIN PAGE ]
Fonts: [ VIQR ] [ VNI ] [ UNICODE ] [ VISCII ] [ VPS ]


-----------------------------------------------------------------------

M I Ệ T - V Ư Ờ N
Internet Magazine
bán nguyệt san văn học, nghệ thuật, nhân bản
ra ngày 1 và 15 mỗi tháng

chủ nhiệm: Hồng Lan
chủ bút: Nguyễn Tấn Hưng
cộng tác:
các cây viết miệt vườn và thân hữu

Home Page: http://saigonline.com/mietvuon/
Email: mietvuon@saigonline.com

Số 024, Ngày 15 Tháng 08, 2000

-----------------------------------------------------------------------

TRONG SỐ NÀY:

THƠ VĂN

01. Sao Chỉ Mình Ta? -- thơ Ðỗ Quảng
02. Muối Lồi -- thơ Phương Triều
03. Ðường Vui Xưa... -- thơ Hà Huyền Chi
04. Thảm Kịch -- truyện Hoàng Du Thụy
05. Ðêm Thu -- thơ La Lan
06. Ði Qua -- thơ Nguyễn Thị Thanh Bình
07. Màu Tím Anh Mơ -- thơ Hồng Lan
08. Lính Trận Miền Xa -- truyện Nguyễn Tấn Hưng

VĂN HỌC

09. Tình Yêu trong Thơ Nhạc... -- giới thiệu Phù Vân

LINH TINH

10. Thư Tín -- Sổ Tay Miệt Vườn

-----------------------------------------------------------------------
THƠ VĂN
-----------------------------------------------------------------------

01. Sao Chỉ Mình Ta?

by Ðỗ Quảng
doquang1@juno.com

Ðắp đất đào ao nuôi cá kiểng
Sáng xem hoa nở mấy giò lan
Trà pha thơm ngát hương sen Huế
Sóng dợn long lanh ánh mắt nàng
Ðất khách quê người câu thủ phận
Cuộc đời dâu bể chuyện phù vân
Quê nhà đói khổ trong cùm kẹp
Sao chỉ mình ta lại hưởng nhàn?

-----------------------------------------------------------------------

02. Muối Lồi

by Phương Triều
phtrieu@aol.com

Bắt con tép lội khù khờ
Vợ chồng kho nấu một tô muối lồi!
Vợ ăn tép - chồng liếm môi
Thèm chút nhỏ mọn, sống đời cực sao!

Xưa em không chịu chồng giàu
Tiểu thơ tuột dốc hát chào ve chai!
Gánh sầu oằn xuống hai vai
Ta vướng bẫy rập ngã dài bên em!

Muối lồi chồng húp, vợ thèm!

-----------------------------------------------------------------------

03. Ðường Vui Xưa Phai Mờ Dấu Chân

by Hà Huyền Chi
hahuyenchi@aol.com

Rồi hôm mai sẽ người hỏi thăm
Tình rất vui sao bỗng âm thầm
Trăm con nước hẹn người chẳng đến
Hy vọng chừng khuất lấp mù tăm

Rồi mai này sẽ người hỏi ta
Ðường rất gần sao tình vợi xa
Tưới đã tưới trăm dòng suối nhớ
Cây hẹn hò chưa lần nở hoa

Rồi mai đây người buồn hay vui
Thả trăm năm trong một tiếng cười
Tiếc chưa uống môi người thơm rượu
Tiếc chưa cùng nhắp cạn chén mời

Rồi mai sau thêm dài bóng nắng
Dường vui xưa phai mờ dấu chân
Còn trong ta nghìn chiều trống vắng
Còn trong nhau tháng ngày phù vân.

-----------------------------------------------------------------------

04. Thảm Kịch

by Hoàng Du Thụy
mietvuon@saigonline.com

Suy nghĩ mãi, cuối cùng tôi quyết định về thăm nhà.
Người Việt ở đây vẫn đi về như cơm bữa, vẫn kể chuyện
Việt Nam "văn minh" hơn ngoại quốc nghe mà bắt nôn. Thật ra
tôi có hai lý do chính đáng để về. Trước nhất là để
thăm bà cụ đang đau nặng, đã rời chùa để đi tu tại gia
cho con cháu chăm sóc. Sau đó là để lo giấy tờ bảo lãnh
cho Lãm. Sáu năm rồi Lãm vẫn chưa đi được dù tôi đã
gởi đủ thứ giấy tờ về. Năm ngoái có người bạn về lo
giấy tờ cho vợ, chị ấy đã sang đoàn tụ được mấy tháng
nay nên tôi cũng muốn về chạy giấy tờ cho Lãm thử xem có
nhanh hơn không. Tôi có cảm tưởng tôi hoặc Lãm sẽ không ai
chờ ai được nữa vì 6 chờ đợi như một thử thách mà ai
cũng cảm thấy mệt mỏi để đi cho đến đoạn kết. Lãm tuy
chỉ là vị hôn phu nhưng trước ngày đi chúng tôi đã làm hôn
thú nên trên giấy tờ cả hai chính thức là vợ chồng. Sáu
năm nay một mình trên đất khách, tôi vẫn giữ cho lòng mình
trong sạch để còn có ngày gặp lại Lãm. Tôi không thể
tưởng tượng được nếu tôi sa ngã, Lãm sẽ đối đãi với
tôi ra sao. Cứ giữ mình để chờ ngày sum họp không hứa
hẹn, nhiều lúc tôi cũng chán nản muốn buông xuôi. Ngày
nhỏ, má thường nói với tôi "người tu rất dễ bị phạm
giới, xoay bên nào cũng đụng giới luật, ngó bên nào cũng
phạm điều răn giống như cái trứng để cạnh bàn, rất dễ
lăn xuống đất." Bị nhiểm tư tưởng của má, tôi cũng tự
ví mình như ông thầy tu giữa một bầy ngạ quỷ. Ngạ quỷ nơi
đây là áo quần đúng mode, là nhà cửa, xe hơi, là tiện
nghi trong nhà đầy đủ. Với một công việc làm vững
chắc, tôi có đủ mọi thứ nhưng hưởng những phương tiện
đó mà vẫn không bị đám sa tăng cám dỗ thì không phải
dễ. Tôi cũng mừng là đến giờ phút này mình vẫn giữ
được tấm lòng chung thủy với người tình còn ở lại. Tôi
vẫn hy vọng có ngày Lãm sang đây, thấy công trình tôi tạo
dựng chắc là anh ấy sẽ hãnh diện lắm. Tôi dự tính sẽ
đi làm để cho Lãm đi học trở lại ngành nào mà Lãm thích.
Cuộc sống ở đây nếu không có bằng cấp thì cả đời coi
như không ngóc cái đầu lên nổi. Người có masters, ngày
càng đông, cái bằng đại học 4 năm không nghĩa lý gì nhưng
lấy được mảnh bằng đó thật là trầy vi tróc vảy nếu
không có người lo chuyện áo cơm cho mình.

Ðón tôi nơi phi trường là anh chị em, một người bạn thân
thiết, và dĩ nhiên là có Lãm. Má đi không được nên nằm
nhà. Tôi bước xuống phi cơ, lòng bâng khuâng như lúc
bước lên phi cơ 6 năm về trước. Những bó hoa chào đón,
những vòng tay ấm thân yêu, những nụ hôn trao vội trên má
làm tôi bật khóc. Lãm nói nhỏ vào tai tôi khi anh hôn lướt
trên trán tôi:

- Anh nhớ em.

Tôi cũng lập lại em nhớ anh và để anh nắm tay mình dắt ra
chỗ đậu xe. Tưởng sẽ nói thật nhiều sau 6 năm xa cách
nhưng khi gặp lại ai cũng thấy khó mở lời. Mấy đứa cháu
chỉ nhìn tôi và nói cô không thay đổi nhiều, vẫn gầy như
dạo còn ở đây. Chị Tuyết như cố tránh không đi cạnh
tôi, chỉ nói vài câu xã giao như "cả nhà chuẩn bị đón em cả
tháng nay" hay "em muốn ăn món gì, chị nấu..." Về đến
nhà, tôi sà lại võng ôm hun má. Mới có sáu năm mà má thay
đổi nhiều quá. Nét hồng hào đã biến mất, đôi mắt
đã không còn tinh anh, má chỉ thấy mờ mờ. Chiếc chân co
trên võng như cong thêm, chiếc chân duỗi thì cứng đơ như
khúc củi. Má cố gượng ngồi dậy, nắn nắn chiếc chân
cong, nói không ra tiếng:

- Má đi nhiều bác sĩ lắm rồi mà ông nào cũng bảo già
rồi, xương bị thoái hóa, không cách nào chữa được.
Chân má càng ngày càng cong mà xương thì xốp lắm, rất dễ
vị gãy nên bác sĩ cấm không được đi đứng nhiều. Cả
ngày cứ nằm trên võng thật rầu. Muốn đi chùa cũng đi
không được. Thật má chỉ mong được về với Phật cho
rồi.

Ðể má khóc lóc, kể lể xong, con Út dắt tôi chỉ căn phòng
của nó:

- Chị ở tạm phòng Út nghe, có cửa lưới đỡ bị muỗi
cắn. Phòng chị Tuyết ở kế bên nhưng không có quạt máy,
lại thiếu truyền hình cho chị giải trí.

Tôi nói:

- Bộ em tưởng ở Canada chị coi truyền hình cả ngày sao?
Thời giờ ở đâu mà ngồi mấy tiếng đồng hồ trước cái
truyền hình? Phải lo đi cày nữa chứ.

Con Út cười, nụ cười bí hiểm:

- Vậy mà em tưởng ở bển chị rảnh rỗi như bên này, cả
ngày dắt nhau ra quán café võng, café lều.

Tôi nghe lạ tai, hỏi lại:

- Ủa, cái gì mà có café võng trong đó nữa? Bộ ngồi trên
võng uống café hả?

Con Út lại nhe răng cười:

- Chớ sao, mà phải hai người người ta mới cho vô chớ đi
một mình là không ai tiếp đâu.

Tôi hiểu ra, bật cười nhưng nhìn lại chị Tuyết thì thấy
chị nghiêm trang ngó Út, có vẻ hơi hằn học. Có điều gì
không ổn mà tôi chỉ linh cảm chớ chưa biết ngay. Út không
để tôi suy nghĩ lâu, nó giở giọng nội tướng:

- Thôi, bây giờ cả nhà rửa mặt cho mát rồi ăn cơm. Ăn
trước rồi tính gì tính. Dĩ thực vi tiên mà.

Nói xong, nó vào bếp, giở nắp từng nồi một giới thiệu
nào là thịt kho nước dừa, nào là cơm chiên dương châu nó
làm sẵn vì biết tôi ưa món này. Út hỏi:

- Chị thích ăn canh gì không để Út nấu. Nhớ hồi còn ở
nhà chị ghét ăn cơm với canh nên Út không nấu sẵn.

Tôi cười dễ dãi:

- Bà đầu bếp cho ăn gì chị ăn đó. Ở bển ăn đã đời
rồi, về đây đâu phải để ăn.

Cả nhà xúm xít quanh mâm cơm thật ấm cúng. Ðám trẻ con có
lẽ từ lâu không được ăn thịt cá nên đứa nào cũng và
lia, và lịa. Tôi nhìn đám cháu vừa vui, vừa tội nghiệp.
Sau bữa ăn, tôi đưa tiền cho Út bảo:

- Mỗi ngày em đi chợ, nấu cho nhiều ra một chút cho mấy
cháu ăn chung cho vui.

Út bỏ tiền vào túi áo, miệng lầu bầu:

- Nấu ăn cho mấy chục người mỗi ngày trong suốt tháng chị
ở đây chắc Út chết quá. Tụi nó ăn như tằm ăn lên!

Biết tôi thích trái cây, Út mua đầy trái cây để sẵn trong
phòng cho tôi.

Tôi la nó:

- Sao Út không bày ra ngoài để mọi người cùng ăn?

Nó cười khanh khách:

- Chị làm như đây là Canada. Trái cây mà bày ra ngoài là
mỗi đứa tha một trái, chị còn cái dĩa không.

Tôi cười theo nó nhưng thấy buồn trong bụng. Xứ nghèo đói
nên ai cũng câu nệ cái ăn. Phải chi mình có thật nhiều
tiền chắc các cháu sẽ đỡ khổ hơn. Khả năng tôi hiện
tại chỉ lo được tiền chợ, tiền bác sĩ cho má, làm sao bao
giàn được đám con của mấy anh gần hai chục đứa?

Những ngày đầu sau buổi cơm tối, tôi kể cho cả nhà nghe
sinh hoạt của Canada hay thuyết minh những đoạn phim, những
thắng cảnh tôi quay ở Canada mà không có dịp giới thiệu.
Ðêm nào anh chị em cũng thức khuya lơ, khuya lắc nói dóc.
Tôi nghĩ tới ngày trở về Canada, lại thui thủi một mình mà
muốn khóc. Nếu Lãm sang được với tôi thì hạnh phúc biết
bao nhiêu!

Những ngày sum họp vui thì có vui thật nhưng tôi linh cảm như
mọi người toa rập dấu diếm tôi điều gì đó, không biết
là vì sợ tôi buồn hay vì tôi không còn là người trong gia
đình nữa. Chị Tuyết vẫn vui vẻ với tôi, nhất là những
khi có mặt Lãm. Chị vẫn xưng hô ông, ông, tôi, tôi với
Lãm y như tôi với chàng dạo mới quen. Mấy đứa cháu vẫn
chạy ra, chạy vào cô cần gì hú một tiếng là tụi con tới
ngay. Con Út vẫn nói cười toe toét nhưng những khi có mặt
chị Tuyết thì nó làm ra vẻ hậm hực điều gì đó mà không
nói được. Tôi chưa dám tìm hiểu ngay, sợ sự thật mà
cả nhà đang dấu diếm mình sẽ làm cho tôi thất vọng.

Một tuần lễ trôi qua, tôi quen dần với không khí tự nhiên
mà tôi cho là giả tạo ở trong nhà. Một buổi sáng, Bích,
con cháu gái nổi tiếng ngỗ nghịch, lái chiếc Honda cub mới
toanh đậu trước hiên nhà, chạy ào vô hỏi:

- Cô muốn đi đâu, con chở cô đi. Con rảnh nguyên ngày nay,
nếu cô còn thích ngồi quán café như hồi đó, con chỡ cô
đi lại chỗ này hay lắm.

Tôi cốc nhẹ vào đầu nó:

- Hồi đó của cô là cả chục năm về trước, con còn nhỏ xíu
làm sao biết được ý thích của cô?

Con nhỏ cười:

- Thì con nghe cô Tuyết với "dượng" Lãm nói.

Tôi ngạc nhiên vì nó ghép hai người này lại với nhau, lại
gọi Lãm bằng dượng. Tại sao lại "cô Tuyết và dượng
Lãm?" Con nhỏ níu áo tôi tuôn về phía cửa:

- Ði, cô đi với con rồi con kể cô nghe nhiều chuyện hay
lắm.

Nó hạ giọng như sợ ai trong nhà nghe được. Tôi chạy tìm Út
nói cho nó biết là tôi đi dạo phố với Bích rồi ngồi lên
chiếc xe Honda của nó. Sáu năm mới ngồi lại được chiếc
Honda, tôi thấy vui. Hồi đó, Lãm vẫn thường chở tôi đi
đó, đi đây bằng chiếc Honda của chàng. Giờ chiếc xe như
con ngựa già đã bị phế thải, Lãm thay chiếc xe cũ kỹ bằng
chiếc cub mới hơn. Tôi tiếc chiếc xe chở đầy kỷ niệm
của chàng và tôi. Tôi tự hỏi không biết chừng nào chàng
mới thay tôi và thay bằng một người đàn bà nào?

Ngồi vào một chiếc bàn khuất trong góc, Bích gọi nước cam
cho nó và gọi café cho tôi. Thấy vẻ thành thạo, dạn dĩ của
nó, tôi hơi ngạc nhiên. Con cháu tôi mới mười tám tuổi,
ngày tôi đi nó vừa tròn mười hai, còn trẻ con, còn bị anh
chị tôi đánh về tội hay ăn cắp vặt và ngỗ nghịch, không
nghe lời cha mẹ. Giờ đây nó trổ mã, vừa đẹp mà lại
vừa lanh lợi như một người từng trải. Tôi dấu sự ngạc
nhiên của mình khi nó thản nhiên móc bóp đầm lôi ra gói
thuốc, rút một điếu gắn lên môi, cử chỉ không chút
ngượng ngập. Trong giây phút tôi như thấy lại hình ảnh trẻ
dại của mình, cũng tập tành hút sách làm dáng mà nào dám
hít vào phổi hơi nào. Có lần lỡ dại làm tàng, tôi sặc
sụa khiến cả quán quay nhìn, quê không để đâu cho hết.
Tôi thấy thương Bích qua cái vẻ hao hao của tôi thời nhỏ.

Bề ngoài dạn dĩ đã đành, tôi không ngờ Bích còn dạn dĩ
cả trong lời ăn tiếng nói. Nó vào đề câu chuyện hết
sức đột ngột:

- Ở nhà có ai nói cho cô biết con làm vũ nữ chưa?

Tôi há hốc mồm nhìn nó. Con nhỏ cười to:

- Vậy là cô chưa biết gì hết. Chắc nội và mấy cô sợ
cô mới ở xa về buồn nên còn dấu. Dấu mà làm gì, trên
đời này có sự thật nào mà được che dấu mãi đâu. Nếu
biết không thay đổi được sự thật tại sao không nói thẳng
ra cho khỏi mất công gìn giữ rồi có khi lại còn phải nói láo
để che dấu một sự thật?

Quả tình là tôi kinh ngạc. Kinh ngạc vì sự thật cũng có mà
vì lối lý luận của Bích cũng có. Ðó không phải là cách
nói của một thiếu nữ vừa lớn, còn thơ ngây. Ðó đúng
là luận điệu của một người vũ nữ, hận đời, hận
người đời.

Tôi nghe nhói buốt trong tim, hỏi lại nó:

- Con nói cho cô biết tại sao con chọn nghề này. Tại sao ở
nhà không ai viết thơ cho cô biết. Con cần tiền hay con bị
ai dụ dỗ? Cô muốn biết hết sự thật.

Bích rít một hơi thuốc, gương mặt nó lạnh lùng không còn
vẻ ồn ào tình cảm như lúc nãy nữa:

- Chuyện dài giòng lắm, con chỉ vắn tắt thôi rồi khi nào
có nhiều thời giờ hoặc là nhớ thêm chi tiết, con sẽ kể
cô nghe. Bên nội ghét con vì con là vũ nữ chớ không ai hỏi
con vì sao con làm vũ nữ. Chỉ mình cô hỏi con câu đó, chỉ
mình cô là con thương mến và gần gũi hơn hết nên con kể
sự thật cho cô nghe. Nếu cô tin và thông cảm thì con cám
ơn, bằng không cũng chẳng hề gì vì sự thật vẫn là
sự thật, con không muốn ngụy biện hay trốn tránh.

Tôi gật đầu nhè nhẹ khuyến khích nó nói. Trái với sự
nôn nóng của tôi, con nhỏ từ tốn hớp một ngụm nước cam
rồi chậm rãi kể:

- Cô đi được 3 năm thì "tai nạn" xảy ra. Cha mẹ con nghèo,
lại chê con khó dạy nên gởi con lên Saigon để học nghề may
với chị Cúc, con bác Hai. Hồi cho con ở đậu học nghề,
chị Cúc và chồng chỉ là anh Hoài hứa sẽ lo tương lai cho
con, dạy nghề rồi dựng vợ gã chồng cho con. Ba má tin
lời, yên tâm trở về quê làm ruộng. Chị em chú bác thì
gần quá phải không cô? Dù là một đứa trẻ ngỗ nghịch,
con vẫn có tình huyết thống chứ. Con thương chị, thương
bác, thương ba má nên cố gắng học nghề và chăm sóc mọi
việc trong nhà để chị con rảnh tay lo cho các em. Con làm
quần quật mà vẫn bị anh Hoài đánh đập, chị Cúc chửi
mắng. Rồi đến ngày chị đi sanh đứa con thứ ba, ở nhà
anh Hoài dụ dỗ cho con tiền rồi chiếm đoạt con. Lần đầu
được thì dẫn đến lần thứ hai, thứ ba... cho đến khi
con có thai thì anh ấy bắt con đi nạo. Ðến năm mười sáu
tuổi thì con nạo thai ba lần! Lần cuối cùng thì con bị
nhiểm trùng nặng vì không có tiền lo thuốc men. Chị Lài,
em chị Cúc chở con vào nhà thương mới biết ra con bị nhiểm
trùng vì nạo thai. Chị bảo con phải nói thật người nào đã
hại đời con rồi chỉ sẽ tìm cách chạy chữa cho con, bằng
không chỉ bỏ cho con chết luôn. Mới đầu con không nói nhưng
sau đó chỉ dỗ ngon, dỗ ngọt, thấy chỉ thương con thật
tình nên con nói hết ngọn ngành. Chỉ giận dữ chạy tìm anh
Hoài bắt ảnh phải lo thang thuốc cho con, lại còn dặn con
không được nói cho chị Cúc biết để chỉ tìm cách thu xếp
cho con. Con tuyệt vọng quá, chị Lài bảo gì thì nghe nấy.
Chữa bệnh xong, con rời nhà thương không dám trở về với
chị Cúc nữa nên xin ở với chú Khải. Nhà chú nghèo mà vì
thương con nên chú bằng lòng. Tưởng đâu là êm xuôi, ngờ
đâu do ai mách lẻo không biết, chị Cúc đến nhà chú Khải
đánh ghen con. Nếu hôm đó không có chú ở nhà chắc là chỉ
giết con luôn. Ðàn bà lạ thật cô há, mọi tội lỗi họ
đều qui về một người đàn bà khác, không bao giờ do ở
chồng mình. Con mà có chồng thì trước khi đánh ghen người
ta, con đánh ghen thằng chồng mình cái đã. Nếu người
đàn ông không nọ kia, đàn bà nào mà dám rớ vô chồng
người khác? Tại cái vụ đánh ghen đó mà con đâm ra hận
mọi người, nhân có cô bạn cùng xóm hành nghề vũ nữ, con
xin theo học nghề vừa để có tiền, vừa để có dịp trả
thù bọn đàn ông tham lam thích của lạ mà không bao giờ dám
nhận trách nhiệm. Nhờ trời thương, con vừa có tiền,
vừa đạt được mục đích của mình là làm điêu đứng bọn
đàn ông. Cô đi làm cạy cục mỗi tháng được hai ngàn đo
là cao tay; con đi khách một lần là đã có năm chục đo
rồi. Ðó là chưa kể tiền moi móc được bằng những mánh
khóe khác. Một tháng con cũng được bạc ngàn mà không phải
làm lụng ngày 8 tiếng như cô. Lâu lâu có khách sộp bao thì
con không phải đi làm cực khổ, chỉ ở nhà ăn diện đi
chơi, mỗi tháng vẫn có tiền đều đều. Ai khinh con thì
khinh chớ tiền con quăng ra vẫn cúi lượm. Con làm vũ nữ
mà không thấy hèn vì con còn lương tâm. Mấy người miệng
đạo đức mà cái tâm họ làm đĩ thì mới nhục phải không
cô?

Tôi nhìn đứa cháu gái của mình qua một màn nước mắt mà
không tin rằng mình đã khóc. Ngồi trước mặt tôi đây là
đứa con gái mười sáu tuổi của hai năm về trước với ba
lần nạo thai oan ức, với nỗi hận đời to hơn núi, với
tấm lòng căm giận đàn ông và thân tộc khó phai. Nó có lý
của nó chớ nào phải nó vô lý đâu. Nhưng gia đình tôi lễ
giáo nho phong nên không chấp nhận có người làm vũ nữ.
Cúc, cũng đàn bà như mọi người đàn bà khác nên cố bảo
vệ hạnh phúc của mình mà quên đi nỗi đau khổ của một
đứa em gái còn trẻ dại. Cho dù nó có yêu Hoài đi nữa thì
lỗi cũng đâu phải ở một mình nó mà Cúc nỡ đổ ngọn lửa
ghen hờn lên đầu đứa em họ bé bỏng của mình? Mười sáu
tuổi thì đòn phép gì để quyến rủ đàn ông lớn hơn mình
mười mấy tuổi? Ai cũng lo bảo vệ cái danh dự, cái hạnh
phúc, cái tôi của mình mà quên đi cái danh dự, cái hạnh
phúc, cái bản thân tội nghiệp của một đứa con gái quê
nghèo khó. Tôi không chắc nếu mình còn ở nhà thì mọi
việc đáng tiếc đã không xảy ra nhưng tôi chắc một điều,
nếu tôi còn ở nhà thì Bích sẽ không sớm bước chân vào
đường sa đọa, sẽ không ươm vào đầu mối thù hận con
người. Bằng cách ngồi tâm sự với nhau thôi, tôi nghĩ
nỗi đau của Bích sẽ được xoa dịu nhiều lắm. Tôi chắc
chắn gia đình tôi không ai có kiên nhẫn và lòng tốt để
ngồi lại nói chuyện với Bích. Vũ nữ là danh từ ghê gớm
lắm, là điếm nhục gia phong. Tôi chắc Bích khó được tha
thứ dù thỉnh thoảng nó vẫn ghé nhà mua cho nội chục cam, mua
cho cô, chú vài món quà mọn.

Tôi còn muốn ngồi lại nói chuyện thêm nhưng Bích đã dằn
xấp bạc dưới ly café và đứng lên:

- Hôm nay con nói cho cô nghe bao nhiêu đó đủ rồi. Mai mốt
con sẽ nói thêm.

Tôi còn tức nghẹn vì câu chuyện của Bích nên không nói gì
được. Nó mạnh chân đạp máy xe rồi hối tôi ngồi lên.
Vừa quẹo ra đường Duy Tân đầy bóng mát, Bích quay lại nói
với tôi:

- Nếu cô còn thương dượng Lãm thì cố lo giấy tờ cho
dượng ấy đi nhanh nhanh, để lâu e không tốt đâu.

Tôi giựt mình, hỏi lại:

- Tại sao không tốt? Bộ dượng ấy có người khác hả?

Bích không trả lời tôi. Nó im lặng hồi lâu như suy nghĩ
rồi mới nói:

- Con kể cô nghe chuyện chị Cúc đánh ghen con để cô suy nghĩ
chớ không phải để mua vui đâu. Biết đâu nó sẽ là vết
ngả của xe trước cho cô tránh. Ruột thịt dù gì cũng hơn,
cô ơi.

Tôi hốt hoảng trước những lời bóng gió của Bích. Nó
không là một đứa trẻ con mười sáu tuổi nữa, năm nay nó
đã mười tám, đầu óc nó đã dày dạn lắm rồi. Tôi nắm
vai Bích lay mạnh làm chiếc xe nghiêng qua một bên:

- Con nói rõ cho cô biết coi, có chuyện gì xảy ra trong khi cô
đi vắng. Có phải dượng Lãm với...

Tôi không dám nói hết nhưng Bích đã biết ý tôi. Nó cười
to, tưởng như đùa nhưng thật ra giọng nó chứa đầy cay
đắng:

- Thì với cô Tuyết chớ hổng lẽ với con? Bộ con chuyên
môn đi giựt chồng người khác à?

Thì ra vẻ kỳ lạ của mọi người trong gia đình là do ở câu
chuyện tình kỳ cục này. Mọi người không đồng ý nhưng
không ai dám lên tiếng. Ðám cháu thì phận nhỏ nhoi, làm sao
dám nói. Còn con Út thì tính không thích chen vào chuyện tình
cảm của ai, nhất là hai bên, người nào cũng là chị nên nó
câm luôn. Tôi muốn biết thái độ của mọi người trong nhà
ra sao về mối tình tay ba này nên hỏi tới:

- Rồi mọi người trong nhà không ai nói gì sao? Họ cặp với
nhau từ bao giờ?

Bích phê phán:

- Ai mà dám nói hả cô? Nội thì đau nằm đó, có cũng như
không. Cô Tuyết lớn nhất trong nhà, còn ai can ngăn? Ngay
từ lúc cô đi là họ đã xáp lại với nhau rồi. Không phải
con binh cô Tuyết nhưng mà cái ông Lãm đó thật kỳ. Ðã
đính hôn với cô rồi mà còn vướng vô cô Tuyết rồi họ ăn
làm sao nói làm sao với cô? Con thấy người nào cũng có
nhận tiền, nhận quà của cô gởi về hết. Nếu họ còn
liêm sĩ thì dứt khoát cho rồi. Ngày nào hai người cũng xà
nẹo với nhau ở quán café đầy bóng tối, mấy chỗ đó con
"làm ăn" làm sao mà không thấy.

Tôi nghe như có tảng đá nào vừa đè lên trên ngực mình.
Tôi hổn hển nói:

- Thôi, con đừng nói nữa. Cô biết bao nhiêu đó đủ rồi.

Bích im lặng chở tôi về nhà. Nó bỏ tôi xuống trước
cổng và nói:

- Cô đừng buồn vì những điều con nói. Sự thật như căn
bệnh, biết sớm chữa sớm, may ra lành. Biết muộn thì có
khi nguy hại cuộc đời mình. Cô vẫn còn thời giờ để
quyết định mà.

Nói xong Bích phóng xe đi. Tôi bước vào nhà như một cái
xác chết. Bước vào phòng khách không thấy ai, tôi định
vô phòng cất đồ đạc rồi xuống bếp phụ nấu cơm với Út
nhưng bước chân tôi chôn tại cửa phòng khi nghe giọng Lãm lo
âu:

- Bây giờ mình tính làm sao đây "em"?

Chị Tuyết dứt khoát:

- Thì "anh" cứ trả lời với nó là anh không đi để nó
khỏi lo giấy tờ và trở qua bên đó kiếm chồng khác cho
rồi. Nếu anh không dám nói để "em"nói. Em sống hết
nổi trong sự lén lút này nữa rồi.

Tôi cắn chặt môi mình để đừng bật lên tiếng hét. Chị
tôi và người yêu tôi đó. Họ không còn ông tôi với nhau
như những khi có mặt người thứ ba. Họ anh em với nhau tình
tứ như đã thề nguyền từ trăm kiếp trước. Họ gạt tôi
ra bên lề cuộc đời như một kẻ tới sau. Họ làm gì với
nhau trong bóng tối của quán café hẹn, họ làm gì với nhau
trên chiếc võng đong đưa của các quán café võng, café lều
như Út đã xa gần?

Tôi nuốt nước mắt lặng lẽ bước vòng ra phía sau nhà,
thấy chiếc xe Honda Lãm dựng dó mà lòng lạnh băng. Chiếc xe
này Lãm đã thay cũng như hình bóng tôi giờ cũng đã có
người khác thế vào. Vậy thì đâu còn kỷ niệm gì nữa mà
luyến với lưu? Vậy thì đâu còn tình nghĩa gì nữa mà
giận với hờn, mà sum với họp? Trong một buổi sáng thôi
mà tôi chứng kiến hai vở bi kịch. Trong thảm kịch này, tôi
thủ vai chánh, tôi thấy mình tội nghiệp nhưng trong thảm kịch
cuộc đời của Bích, nó đáng thương hơn tôi. Nó mất tất
cả, từ tiết trinh cho đến danh dự và tình thân tộc. Nó
đã nói trước với tôi rồi, máu mủ bao giờ cũng hơn, vậy
thì nếu phải mất, mình chỉ nên mất nước lã, giữ lại
máu đào. Tự dưng tôi thấy thương Bích lạ lùng. Ngoài
tình cô cháu ra, nó còn là người đồng bệnh với tôi,
phải chịu đựng cái thảm cảnh từ trong huyết thống.

Có tiếng Út lục đục nấu nướng trong bếp vọng ra. Tôi lau
khô nước mắt trước khi bước vào trong bếp. Lấy giọng
thật tự nhiên, tôi nói với Út:

- Chị có việc cần gấp, phải trở về Canada sớm. Mai chị
ra đổi vé máy bay.

Con Út nhìn tôi, liếc nhanh về phía chiếc xe Lãm dựng ở
bên hè rồi nhìn vào phòng chị Tuyết. Nó hiểu câu chuyện
nên không hỏi thêm một câu nào.

-----------------------------------------------------------------------

05. Ðêm Thu

by La Lan
lalan2000@yahoo.com

Cụm liễu buồn hiu khóc trong đêm
Cỏ nằm im trốn sợ trăng tìm
Gió cũng dừng chân không dám bước
Sợ làm rung động mặt hồ êm

Liễu nhớ nhung ai xõa tóc mềm
Hờ hững bên hồ soi dáng tiên
Phải chăng liễu hiểu lòng thiếu nữ
Ddợi chờ thi sĩ, mộng tơ duyên?

Thiếu nữ thẫn thờ tựa bên hiên
Trải niềm tâm sự dưới trời đêm
Cỏ như cũng hiểu niềm thầm kín
Ngoan ngoãn nằm im dưới chân mềm

Văng vẳng trời khuya tiếng chim kêu
Ða sầu, thiếu nữ khóc cô liêu
Mưa thu lất phất hòa trong liễu
Nhuộm cảnh đêm tàn đến hắt hiu

Thiếu nữ chạnh lòng nghe mắt cay
Nhìn trăng lặng lẽ ngủ trong mây
Mưa thu nhẹ quá không ướt liễu
Nhưng ướt lòng nàng, lệ thắm mi...

-----------------------------------------------------------------------

06. Ði Qua

by Nguyễn Thị Thanh Bình
mietvuon@saigonline.com


Ði qua những thác ghềnh bấp bênh
Ði qua những rừng chim ngập lá
Ði qua những sa mạc mênh mông
Ðể đụng phải lòng sông lạnh giá

Hãy khép cửa chia miền quá khứ
Miếng thời gian huyên náo ngoài kia
Cứ mộng tưởng cho tình bất tử
Vì đời người trăm nhánh sông chia

Ước mơ đẹp khi ngoài tay với
Mưa nửa khuya đẹp ướt tim người
Những giờ giấc thao thức chơi vơi
Thèm đợi mãi một người không tới

Có đám mây lùa qua trí nhớ
Cắt trăng tàn ra làm hai nửa
Có tiếng gió vẳng từng nhịp thở
Vẳng về đâu nát mảnh trăng xưa

-----------------------------------------------------------------------

07. Màu Tím Anh Mơ

by Hồng Lan
mietvuon@saigonline.com

Quen em dạo ấy buổi học chiều
Nắng vàng hiu hắt chiếu qua sông
Cầu ngang cá lội theo dòng
Nước trong in bóng chim hồng đuổi nhau

Gió buồn nhẹ thổi ao vườn nhỏ
Chòm hoa bãi cỏ tỏa hương xa
Liễu xinh đưa đẩy quanh nhà
Cho anh thương nhớ áo cà tím mơ...

-----------------------------------------------------------------------

08. Lính Trận Miền Xa

by Nguyễn Tấn Hưng
nth@saigonline.com

Vầng thái dương còn chìm khuất dưới rặng cây cao,
nhưng quang cảnh hừng đông đang từ từ tỏ rạng. Ven cánh
đồng lát mênh mông, phía khuất ánh mặt trời, màn sương
sáng còn phủ trùm hơn phân nửa cái "hào lãng." Nhiều chỗ
đang bốc hơi nhưng một vài nơi còn dầy đặc, trông như
những cụm bông gòn nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Thấp
thoáng dưới đáy "hào lãng," phản chiếu từ thinh không, ánh
trắng bạc của các áng mây trôi.., bỗng chốc rung rinh,
tan biến vì một con cá vô tình trồi lên ăn mống. Ðang
say sưa mỏi mắt tìm mồi, một con vạc ăn sương chợt giựt
mình, vỗ cánh tung bay...

Trong lâng lâng, khoan khoái thả tâm hồn mình chìm đắm vào
thiên nhiên, Hiếu rít một hơi thuốc đầu ngày, bâng khuâng
thả khói. Không quên hớp một ngụm cà phê Bảo Lộc thơm lừng
do thằng đàn em thân tín, binh nhứt "đầu bếp" Triệu, vừa
mang lại. "Tháng năm chưa nằm đã sáng", nhưng hiện thời
chỉ vừa qua Tết độ hơn tháng, chưa đến tháng năm mà... chưa
nằm cũng đã sáng. Ðúng vậy, chàng mới mơ màng chợp mắt
đó mà giờ đây đã nghe văng vẳng bên tai tiếng gà gáy chập
ba, xuất phát từ trong xóm xa xa. Tuy có thiếu ngủ, song đối
với riêng chàng, một đêm an bình của đời lính chiến đã
âm thầm trải qua trong vùng U Minh Hạ. Nhất là trong khung cảnh
nặc mùi không khí chiến tranh, khi nằm kích xung quanh căn cứ
hỏa lực Biện Hai. Với sự nhắc nhở không ngừng của những
khẩu đại bác 155 ly, 105 ly, và một lô súng cối 81 ly đã
liên tục rót đạn đêm ngày vào vùng địch...

Từ ngày mãn khóa học Chiến Tranh Chính Trị ở Cần Thơ, Hiếu
những mong mình sẽ được bổ nhiệm làm Ðại đội phó Chiến
tranh chính trị cho một đại đội nào đó thuộc chi khu Chợ
Gạo, tiểu khu Ðịnh Tường, nhưng rốt cuộc rồi, chàng lại
bị đưa qua "thặng số" mới là xui xẻo, khổ đời. Kể như
phải ngồi chơi xơi nước một phen, chỉ vì chàng... có chút
ít tì vết trong hồ sơ an ninh quân đội.

Mà cũng lạ thật, câu chuyện xảy ra đã lâu lắm rồi, vào
thời... tổng tiến công tổng công kích Tết Mậu Thân lận!

Số là ông nội Hiếu có ba người con trai, ba chàng thứ ba
tên Văn Hữu Ðiểm, kế, chú sáu Văn Hữu Thành và, sau cùng,
chú bảy Văn Hữu Công. Kể ra cũng có vần và một "Ðiểm,
Thành, Công..." nữa có thể là tất cả đều được lót bằng
chữ Hữu. Ðến hàng cháu, ba chàng và các chú cũng theo tiền
lệ của gia phả mà dùng một chữ lót cho đám con, chữ Trung.
Tính theo vai vế, trưởng tộc coi như là chàng, Văn Trung
Hiếu. Kế đến, đám con chú sáu là Văn Trung Chánh, Văn
Trung Trực. Rồi con của chú bảy có Văn Trung Tâm, Văn Trung
Cang..., nhưng hầu hết tụi nó đều còn nhỏ. Chỉ có Chánh
là gần gũi vì cùng trang lứa, xấp xỉ tuổi chàng. Trong
thời gian chàng theo học Ðại học sư phạm thì Chánh là một sinh
viên Văn Khoa và cũng là một trong những giáo sư dạy giờ cho
các trường trung học tư thục tại Mỹ Tho như trường Hùng Vương,
Chấn Thanh, Nguyễn Công Trứ... Tuy nhiên, sau biến cố Mậu
Thân, không biết là "tình nguyện" hay là "bị bắt buộc" mà
Chánh lại tham gia Mặt Trận Giải Phóng...

- Anh hãy làm biên bản tự khai đi! Anh có liên hệ gì với
một tên Việt Cộng gộc trong tiểu đoàn 307, trung đoàn
Ðồng Tháp? Chúng tôi đã bắt được thư của hắn gửi
cho anh!

À, thì ra vậy! Tiếng nói của anh chàng Ðại úy phụ tá
trưởng phòng an ninh đã làm Hiếu vỡ lẽ! Vì trước đó
mấy ngày, chàng rất lấy làm ngạc nhiên khi nhận được văn
thư thông báo phải đến trình diện, tiếp xúc với phòng An
Ninh Quân Ðội tiểu khu... Hiếu vợ con, gia giáo đàng hoàng
mà! Ðâu có tham nhũng, hối lộ, gái ghiếc, hà hiếp dân
lành? Cùng lắm thì hay thả rong đi chơi, nhậu nhẹt vậy
thôi. Ðâu có gì gọi là... quá bê bối!

Trong cuộc đấu tranh Quốc - Cộng đã diễn ra từ bao năm qua,
và ngay cả với tình hình hiện tại, ở những vùng xôi đậu
tranh sáng tranh tối có lẽ không một gia đình nào mà chẳng
bị dính líu vào cả hai bên. Chuyện cha con, anh em, chú bác,
cậu mợ, cô dì... có người đi bên này, kẻ ở bên kia là
chuyện rất thường tình. Lắm khi không biết, đến
lúc... đùng một cái, ai nấy đều bật ngửa, chưng hững!

Nhưng hơi quái lạ là Chánh đã chết mất xác từ lâu rồi,
những năm 69 lận, trong trận rạch Gầm, xã Vĩnh Kim, quận
Sầm Giang! Vậy thì còn Chánh nào gửi thư cho Hiếu? Hay là
bọn an ninh quân đội, bọn "đâm sau lưng chiến sĩ" này,
mượn cớ để tống tiền chàng hay sao đây? Nửa cương
nửa nhu, chàng cũng muốn hỏi cho ra lẽ:

- Xin lỗi Ðại úy, theo tôi biết... thì tôi chẳng liên
hệ với ai là Việt Cộng hết! Ðại úy làm ơn cho tôi xem
lá thư... tang chứng đi!

Và, hiển nhiên, làm gì có tang chứng? Vì Hiếu cũng thừa
biết rằng, nếu thật sự có tang chứng như anh chàng Ðại úy
an ninh quả quyết, thì chàng đã bị đưa đi ngồi tù từ lâu
rồi. Chưa hẳn là Việt Cộng mà bọn làm tiền còn tìm đủ
mọi cách "chụp mũ," cho đội cái nón cối to tổ chảng lên
đầu để trở thành tên Việt Cộng ngụy trang, đặng dễ
bề khai thác, kiếm ăn...

Qua mấy bận trao tay, đi tới đi lui, chuyển đổi từ phòng
này sang phòng khác; cuối cùng, với nụ cười hơi đểu giả
trên môi, tên trung sĩ nhứt phòng an ninh đưa cho chàng xấp
giấy:

- Trung úy cứ thành thật khai báo, trả lời mấy câu hỏi
đã được liệt kê sẵn ra đây là xong ngay! Không ai làm khó
làm dễ gì trung úy đâu!

Vừa nói xong, hắn lùi ra, khép trái cửa bỏ đi. Một mình
trong phòng riêng, Hiếu cảm thấy thấm thía cho nỗi cô đơn,
trống trải với các câu hỏi hóc búa, quái ác đang nhảy múa,
quay tít trong đầu... "Trong gia đình thân tộc của đương sự,
có ai thuộc hàng ngũ địch quân?" "Ðương sự có liên hệ
gì với tên Văn Trung Chánh, Ðại đội trưởng Tiểu đoàn
307, Trung đoàn Ðồng Tháp của Việt Cộng?" "Ðương sự đã
gặp tên Chánh lần cuối cùng ở đâu, trao đổi những
gì?" Và, vân vân..., Hiếu liếc sơ những câu hỏi mớm
hơi, rồi thừ người thở ra. Hừm, kể cũng mệt thiệt.
Lạng quạng, thân bại danh liệt. Tốt hơn hết, có lẽ
mình có sao nói vậy, chàng tự nghĩ. Bọn nó đã biết
tẩy chuyện gia phả, dòng họ của mình rồi nếu chối quanh
chối quất lắm khi lại có hại thêm.

Sau vài lần trước sau như một, tuy không đến nỗi thành
khẩn, nhưng cũng có thể gọi là thành thật khai báo, bọn
an ninh quân đội biết chắc là không moi móc được gì ở
Hiếu nên đã kết thúc hồ sơ với một đề nghị lếu láo,
đại khái: "Ðể tránh mọi tiếp xúc với địch quân trong vùng
trách nhiệm có thể xảy ra trong tương lai, yêu cầu thuyên
chuyển đương sự rời khỏi Tiểu Khu..." Ðó, lý do tại sao
chàng bị đưa về "thặng số"...

Ðể rồi, tiếp theo chẳng bao lâu, Hiếu lại có lệnh thuyên
chuyển về Tiểu đoàn 23, Trung đoàn 32, Sư đoàn 21 Bộ binh.
Lúc mới đổi sang chủ lực quân, chàng thấy... ớn thiệt.
Gì mà luôn luôn di động, cứ bị Chinook trực thăng vận đến
hết chỗ này thì lại đưa sang nơi khác. Không hề biết
chuyện nghỉ phép hay trở về hậu cứ là gì. Toàn là xa
lắc xa lơ. Vừa rời Long Xuyên, Châu Ðốc thì lại bay
xuống Chương Thiện, Cà Mau. Toàn là đánh lớn. Tiếp cứu
và giải tỏa áp lực nặng nề của địch. Với chiến thuật
thí quân, lấy thịt đè người, địch cứ tràn ngập từng
vị trí một, đồn bót Nghĩa quân Ðịa phương quân cũng như
các căn cứ hỏa lực Miệt Thứ, Hòa Bình, Xẻo Rô, Kiên
Hưng, Tắc Cậu... Tuy nhiên, "lội" riết rồi cũng quen,
như chàng đã từng kinh nghiệm. Lắm khi cả tuần lễ, nửa
tháng chưa tắm một lần. Bận rộn, sống chết suốt cả
ngày, không còn thì giờ đâu mà nghĩ đến vợ con, người
thân, người thương, em hậu phương anh tiền tuyến!

Và, bây giờ, kể ra quả sướng thiệt với nhiệm vụ tăng
phái, bảo vệ căn cứ hỏa lực Biện Hai trong rừng U Minh
Hạ này, Hiếu nở nụ cười thầm. Coi như nghỉ xả hơi, coi
như ngừng tay chém giết. Vậy mà, cũng lạ thật, vẫn có
nhiều đứa hàng binh, cứ hay hủy hoại thân thể, bắn ngón
chân chặc ngón tay để được giải ngũ vì thuộc thành phần
phế binh. Có lẽ chỉ những ai đã từng thấy cảnh chết chóc
không toàn thây của đồng bạn, và chính mình có gần kề
lưỡi hái tử thần thì mới hiểu thế nào là... sợ chết
thôi. Thử hỏi, ai mà không sợ chết? Tuy nhiên, gặp mấy
đứa nhúc nhát, sợ chết quá đỗi thì cũng nên tìm cách cho
nó đào ngũ, bỏ ngũ cho rồi để khỏi gây ảnh hưởng, trở
ngại cho những đứa còn ở lại. Những đứa chai lì, không
chịu nhỏ lệ cho dù đã thấy hoặc đang đứng trước quan tài.

Mà nói cho ngay, quan hay lính gì gì thì cũng lãnh mỗi người
một viên đạn, nhưng mỗi người đều có một hoàn cảnh
khác nhau, một cách hành xử khác nhau. Chẳng ai biết được
phần số của mình ngày mai rồi sẽ ra sao. Vì trên đời này
có những trường hợp xảy ra rất là lạ lùng, ngoài sức
tưởng tượng.

Nhiều người vẫn nghĩ rằng, được biệt phái vào vùng khỉ
ho cò gáy này là một cơ may khó kiếm. Vì cái mạng sống
nhỏ nhoi, thoi thóp như chỉ mành treo chuông, mỗi khi lâm trận
giành giựt từng tất đất với địch quân, đạn thù bay veo
véo bên tai... bây giờ tuồng như đã được thay thế bằng
một sợi dây thừng to tổ bố. Vậy mà, cho đến hôm nay,
đã không còn mấy ai cảm thấy thực sự an toàn nữa.

Bởi sự việc vừa mới xảy ra ràng ràng, cách đây chưa đầy
một tuần, mới khổ. Số là trước đó một đôi ngày, ở
Ðại đội 2, có mấy tên bị báo cáo đào ngũ. Một nhóm binh
sĩ đâu năm bảy đứa, độ gần nửa tiểu đội, xin đi mò cua,
lưới cá rồi đi luôn. Chuyện gì kỳ cục vậy? ""Ðược
voi đòi tiên," "nhàn cư vi bất thiện?"" Quả đúng là, thiệt
tình, sướng quá sanh tệ?

Nhưng, tệ hơn nữa là đêm hôm sau địch tấn công vào vị trí
phòng thủ của Ðại đội 2. Ngoài việc thiếu mất mấy tay
súng trong khi chống trả chiến thuật biển người của địch,
đại đội bạn còn bị tổn thất nặng nề sau khi tàn cuộc.
Ðại đội trưởng, đại úy Khiêm, Trần Minh Khiêm, tử trận
vì bị đặc công địch ném lựu đạn ngay vào hầm chỉ huy.
Tất nhiên, phải có ai điềm chỉ cho nên bọn Việt Cộng mới
biết rõ đường đi nước bước như vậy! Hóa ra, không ai
xa lạ mà chính là mấy tên hàng binh đi mò cua, lưới cá... mất
dạng từ sáng hôm qua!

Chẳng lẽ bọn ngu ngơ này đã được móc nối, làm nội tuyến
từ lâu? Vô lý, bọn nó làm gì có bạn bè hay thân nhân ở
chốn đầm lầy, nước đọng quanh năm này! Hay là mới bị
bắt cóc, dụ dỗ làm tay sai cho địch? Cũng vô lý, gì mà
lẹ dữ vậy! Từ những cái vô lý đó lại dẫn đến một
cái rất hữu lý, ràng ràng trước mặt, là... có ba thằng
bị bắt sống tại chỗ. Trong số đó có cả binh nhứt Thuận
làm tà lọt, đầu bếp cho đại úy Khiêm mà Hiếu đã từng
biết qua một vài món nhậu thần sầu do nó chế biến như
rắn hầm, lươn nướng... Rồi vì quá nóng lòng cho những
cái chết tức tưởi, đau thương một cách hết sức vô lý,
Tiểu đoàn trưởng đã tức giận đích thân xử bắn tại chỗ
mấy tên phản nghịch, làm nội tuyến cho giặc. Cũng may là
quân địch vướng mìn "claymore", vướng trái sáng ngay từ
lúc bò vào vòng rào giao thông hào, nên lực lượng bạn ta kịp
thời phản công, làm chủ tình hình, địch chết như rạ.

Rồi kể ra cũng hên cho Hiếu là trong đêm đó Ðại đội của
chàng lại đến phiên đi kích, nằm xa ngoài vòng đai phòng
tuyến. Tiểu đoàn trưởng, thiếu tá Lê Thanh Long, tức
"rồng xanh" trên tín hiệu truyền tin đã ra lệnh cho "thằng 3"
èo uột, tức là Ðại đội 3 thiếu quân số của chàng, phải
án binh bất động, không cần phải đưa quân trở về tiếp
cứu vì sợ lầm lẫn giữa bạn với thù... Cho đến bây giờ
chàng cũng chẳng biết tại sao những đứa dễ mến như Thuận
lại có thể làm tay sai cho địch. Chịu thua, chàng không tài
nào giải thích nổi được điểm "lấn cấn" đó...

- Sao ông thầy, bữa nay ông có mục gì mới lạ không?

Ông mẹt ơi, hú hồn, lại cái thằng Bảo mắc dịch, Hiếu rủa
thầm thằng đàn em mang máy vô tuyến. Vì nó a thần phù từ
đàng sau phóng tới, làm chàng bất thần giựt mình! Thiếu
điều muốn ngả người lăn tọt xuống hố cá nhân! Ðể tránh
cái thế cận chiến, mả tấu lưỡi lê! Kinh nghiệm chiến
trường cũng cho chàng biết phải đào hố cá nhân sát bên chỗ
mình giăng võng, để có gì làm một vòng té xuống cho lẹ.
Giăng võng cũng không nên giăng cao, mà là là xà mặt đất
đặng té không đau. Sống khôn hay thác thiêng chỉ ăn thua đủ
trong một cái tít tắt ban đầu từ khi đạn nổ đó... Cố
làm ra vẻ như không có gì đến đỗi phải hú vía gọi hồn
tỉnh lại, Hiếu hất hàm trả lời thằng đàn em:

- Không! Còn mầy thì sao?

Bảo vuốt vuốt lại mái tóc còn ướt:

- Thì đang chờ quyết định của ông thầy coi ra làm sao đặng
thằng em nhờ ké vào chút chút!

Búng cái tàn thuốc văng ra xa, rơi tòm xuống mặt "hào lãng,"
Hiếu ra hiệu bằng cách lắc đầu, cười cười...

Nữa, lại cứ đổ thừa cho ông thầy há! Mà, ừa, đúng là
cái thằng non lòng, nhẹ dạ! Thuở đời nay, mình là thằng
độc thân trai trẻ đàng hoàng mà lại đi mê "đờn bà giá." Lời
người xưa có nói "trai tân gái góa thì chơi, đừng nơi có
vợ chớ nơi có chồng", rõ ràng như đang được hai bên
nghiên cứu, thi hành nghiêm chỉnh!

Tuy không nói ra nhưng Hiếu cũng biết là Bảo muốn đến thăm
Ngọc Hà, con gái lớn của ông trưởng ấp Hơn ở xóm dưới.
Chồng của cô ta một thời là lính Nghĩa quân, hoạt động quanh
vùng, và tội nghiệp, đã hy sinh trong một cuộc... công đồn
đã viện của địch. Ðể lại một vợ một con. Bởi vậy,
bây giờ Ngọc Hà là "gái một con trông mòn con mắt", thành
thử không riêng gì thằng Bảo, thằng Triệu... mà là hầu
hết trai tráng trong vùng cũng hay, bỗng dưng, đâm ra mê mẩn
tâm thần. Nhìn sơ qua, Ngọc Hà không đẹp vì nước da ngâm
ngâm. Nhưng có duyên ngầm nhờ vào đôi mắt sáng long lanh
và đôi môi hồng đỏ tự nhiên. Ðặc biệt hơn hết có lẽ
là cái vóc dáng thanh xuân căng đầy nhựa sống, nở nang
tròn trịa như đóa hoa nở rộ, đến đỗi thằng Bảo cứ hay
trầm trồ: "Mỗi lần thấy con nhỏ chổng khu thổi lửa tui
chịu hổng nổi ông thầy! Nhìn hai cái mông vun lù láng lẩy
tui cứ muốn nhảy vô ôm đại làm luôn tại chỗ rồi có tới
đâu thì tới..." Hèn gì, những lần đến thăm ông trưởng
ấp, thằng Bảo cứ hay giành phần với thằng "tổng khậu,
đầu bếp" Triệu để lo phụ một tay trong việc lửa củi,
nấu nướng cùng với con gái của gia chủ.

Riêng phần Hiếu thì ông trưởng ấp cũng mến tay mến chân
dữ lắm. Vì chàng một mực tận tình săn sóc ổng trong
những tiệc nhậu "mút mùa lệ thủy." Có lẽ chàng thích món
rượu đế pha nước dừa, ngọt ngọt cay cay, uống vô té xỉn
hồi nào không hay. Một lần đó ngà ngà say, ông già lại
dở chứng phát ngôn bừa bãi: "Ðó, tui nói thiệt với trung
úy, tui còn hai đứa con gái đó, con Ngọc Lan với con Ngọc Huệ,
ông muốn đứa nào tui gả cho đứa đó..."

Trời đất, vừa phải thôi ông già! Bộ ổng không biết chàng
có vợ, có con hay sao đây? Vả lại, hai đứa Ngọc Lan, Ngọc
Huệ còn nhỏ xíu mới mười lăm, mười sáu tuổi vú chưa dậy
trái tràm, chưa xứng đáng làm em út của chàng thì nói gì đến
chuyện gả, bán.

Tuy biết rằng ông già nói đùa trong lúc trà dư tửu hậu,
nhưng thỉnh thoảng chàng cũng hay nhắc lại vụ hứa gả con gái coi
ổng phản ứng như thế nào. Vậy mà mười lần như một, ông
già be bét rượu chè, lình xình đi đứng vẫn giữ một lời
chắc như bắp Ban Mê Thuộc, thích xổ văn chương và nho chùm:
""Nhứt ngôn ký xuất tứ mả nan truy", bảo đảm với trung úy
tui không phải là người "tiền hậu bất nhứt" mà là trước
sao... sau vậy."

Nhờ những giây phút say túy lúy đó mà Hiếu đỡ nhớ vợ con,
đỡ nhớ Hồ Ðiệp và thằng nhóc An nay đã lên sáu, đang âm
thầm sống thầm lặng nơi quê nhà Mỹ Tho. Ðỡ nhớ luôn cả
những người tình hằn dấu chân dung trong tâm não. Ðỡ nhớ
Mỹ Hạnh, người bạn Ðại học sư phạm năm xưa, qua hằng trăm
lá thư từ Ðà Lạt và đôi ba lần gặp gỡ ở Huế, Sài Gòn
nay chắc hẳn đã quay trở về hạnh phúc bên con bên chồng,
bên anh chàng Tâm không quân nào đó mà chàng chưa hề gặp
mặt, một thời đã đánh đập nhiếc mắng nàng thậm tệ vì
tội ngoại tình. Ðỡ nhớ Hồng Ngọc, cô học trò đã từng
vụng trộm sống với chàng như vợ chồng ở thành phố Bến
Tre, người đã từng cưu mang đứa con của chàng, nay cũng đã
bỏ chàng bặt vô âm tín. Hi vọng rằng nàng không ngu dại gì
đi theo chồng, tên Long nào đó ở ngoài Dốc Mơ, Long Khánh,
đã chết xuống dưới âm ty vì một tai nạn xe cộ. Ðỡ nhớ
Lãm Thúy, cô cháu chú Tiều ở Chợ Gạo, chỉ gửi cho chàng
duy nhất một lần thư rồi rơi vào im lặng, xa vắng ngàn
đời...

Nhìn đi nhìn lại, ôi, cái thời vàng son, cái thời chàng
đứng bảng dạy học trò hoặc cái thời được đưa đi trấn
thủ lưu đồn, giữ bót và giữ an ninh trục lộ nếu muốn
nói rõ hơn, sao mà nên thơ, mơ mộng quá! Và, cũng than
ôi, mọi thứ giờ đã xa, ngoài tầm tay với! Thôi thì hãy
lấy câu "vui đâu, chuốc đó" mà tạm sống qua ngày!

Có điều Hiếu vẫn thường đặt một câu hỏi thật lớn trong
đầu, rằng thì là, ba đứa con gái của ổng ở đây mà mấy
đứa con trai của ổng đi đâu? Có chắc tụi nó lên Sài Gòn
làm ăn như ổng nói hay không? Hay là đã vô bưng từ lâu
rồi và, hoặc giả, đã trở thành liệt sĩ? Bởi thế cho
nên, chàng phải biết giữ gìn ý tứ, chừng mực, đâu vào
đấy. Mặc dầu có nhiều đàn em cận vệ một bên mình,
nhiều lần chàng chẳng dám ở lại khuya. Di chuyển cũng vậy,
cứ men theo những bờ đê hay những đường mòn chính có dân
chúng lui tới qua lại hằng ngày để khỏi sụp hầm chông hay
bị gài mìn, chôn lựu đạn...

- Bữa nay mình có "dời đô" hôn ông thầy?

Lại có tiếng của Triệu xen vào từ phía bên kia mô đất, khuất
lấp sau mấy gốc dừa vô chủ... Cuộc đời Hiếu bỗng nhiên
lại phải gắn bó với những người không thân thuộc, hoàn toàn
là... người dưng khác họ. Như Triệu, kẻ chăm sóc miếng ăn,
giấc ngủ, giặt giũ cho chàng. Như Bảo, người theo sát một
bên mình trong những phút giây chiến đấu, kề cận tử thần.
Như, xa hơn một chút, lấy đồng đội làm anh em...

Hiếu đưa mắt đảo quanh một vòng. Lố nhố trong vuông đất
tha ma, hoang dã dẫy đầy cây cối, bụi rậm một mặt trông ra
"hào lãng" và một mặt ngó vô cánh rừng già âm u vô tận, hình
như mọi người đều đã thức giấc. Kẻ đánh răng rửa mặt,
người nhóm bếp nấu nước sôi, pha cà phê, nấu cháo, nấu
chè. Một vài làn khói mỏng quyện lấy hơi sương quẩn quanh
lưng trời. Khác với miệt U Minh Thượng, nhất là từ vàm
sông Trèm Trẹm đổ xuống, "rừng bách bì" tức rừng tràm dày
đặc, ở đây là rừng đước, mắm xen lẫn với tràm. Mùa
này hoa tràm trăng trắng vàng vàng chưa đến độ tràn ngập,
trắng xóa cả một vùng, nhưng cũng đủ hương thơm ngào ngạt,
ngon ngọt quyến rũ đám ong ruồi, ong mật, ong sắc thỉnh
thoảng phất qua theo cơn gió nhẹ.

Qua câu hỏi, Hiếu hiểu ngay là Triệu muốn gì! Bởi, mấy
ngày liên tiếp, Ðại đội 3 của chàng được chỉ định trấn
đóng và ngăn chận địch từ mặt biển tràn vào. Toàn là
rừng bụi, đầm lầy, tràm đước ngập nước quanh năm,
không chòm xóm, không thấy nhà dân thì mọi người chắc hẳn
là đang... rầu thúi ruột. Hứ, tại bọn nó ham vui chớ theo
ý chàng thì án ngữ ở mặt này vẫn an toàn hơn, ít khi chạm
địch. Vì ngoài khơi đã có tàu hải quân tuần tiểu thường
xuyên.

Có lần chàng theo đám rà mìn, mon men trên con đê lớn lần
ra tận bãi. Bãi cát? Trắng phau phau như Bãi Sau ở Vũng
Tàu? Ðang cố tình mời mọc những du khách bất đắc dĩ
nhào xuống tắm mát một phát? Không, đó chỉ là ước mơ
thôi! Trên thực tế, phải gọi là bãi bùn mới đúng vì cát
đen thui! Dọc theo ven biển cũng chẳng có xóm chài, xóm
lưới. Xa xa, một vài chiếc ghe cào biển ì ạch, lầm lũi
trôi xuôi hay một chiếc PCF (Patrol Craft Fast) của hải quân ngóc
đầu chạy nổi sóng trắng xóa. Xa hơn nữa, vào những buổi
trưa trời tốt, mờ mờ trong màu lục sẫm của biển khơi,
chàng có thể thấy bóng dáng các hòn đảo lúc ẩn lúc hiện,
lúc chìm lúc nổi, chẳng biết là hòn Cổ Tron, tức hòn Nam
Du Poulo Dama, hay là hòn Sơn Rái, tức Poulo Tamassu, như ghi
trên bản đồ...

Ðó cũng là một niềm thích thú khi sống nơi miền tha ma hoang
dã, Hiếu nghĩ. Vậy mà có mấy ai biết khai thác, thưởng
thức? Và mấy thằng em của chàng cũng vậy, tệ quá, nhưng
chàng cũng chẳng nên trách cứ tụi nó làm chi! Chàng quay lại
mở lời đưa hơi với Triệu:

- Chưa có lệnh hoán chuyển của "rồng xanh" thì làm sao mà
tao đưa tụi mầy đi được, mậy!

Như được dịp, thằng đàn em đổi đề tài, làm tới:

- Á, nếu mình không vọt xuống ông Hơn nhậu chơi thì
mình cũng chạy lên trên xã uống cà phê, cà pháo chớ ông
thầy? Chẳng lẽ ông cứ nằm đây phơi thây trên võng, đọc
tiểu thuyết hoài sao? Ông có đi một chút thì "rồng xanh"
cũng đâu có biết!

Bảo hùa theo:

- Ði đi ông thầy! Ban ngày ban mặt mà, chôn chưn ở đây
hoài chán quá!

Hiếu giả bộ hỏi lại:

- Nè Bảo, hỏi thử vậy chớ bây giờ mầy muốn đi
đâu? Ði uống cà phê hay là đi nhậu theo như lời thằng
Triệu vừa đề nghị?

Bảo nhoẻn miệng cười thật tươi, nói cứng:

- Sao cũng được hết mà, ông thầy! À, hay là mình đi
uống cà phê trước rồi đi nhậu sau!

Chu choa, cái thằng tính khôn hết sức, Hiếu nhủ thầm. Nó
cũng biết rành quá là sáng sáng, mới mở mắt ra mà súc miệng
bằng rượu là không hợp với tính của chàng. Bề gì cũng
phải lót dạ bánh bao xíu mại hay cà phê hủ tíu cái đã. Chỉ
tiếc rằng, cà phê hủ tíu cũng như bánh bao xíu mại ở đây
đều quá dở. Song, hình như chàng chẳng còn một lựa chọn
nào khác hơn, cho nên rốt cùng chàng cũng đã đi đến một
quyết định... không cần phải suy nghĩ!

Sau khi dặn dò thiếu úy Trân, Phan Như Trân, Trung đội trưởng
Trung đội 1, vài điều cần thiết, mấy thầy trò Hiếu lại
một lần nữa, không cần xe Jeep đón đưa, cứ lẵng lặng
khăn gói lên đường, hướng theo con đường mòn dẫn về
phương bắc.

Mặt trời đã lên cao. Bóng nắng xuyên qua cành lá tung tăng
nhảy múa trên mặt đất sét chưa chịu nhả phèn vàng quơ vàng
quách cùng với lớp cỏ dại xanh mướt mượt mà mọc lan ra ngoài
từ hai bên bờ. Xen lẫn với tiếng gió đưa cây xào xạc trong
rừng, tiếng chim chóc hồn nhiên tíu tít gọi bầy, tiếng khỉ
vượn khọt khẹt báo động đồng chủng... họp thành một bản
đàn đặc biệt, mang mang nhạc tính rừng sâu. Cũng không thiếu
một tiếng đại bác 155 ly nổ vang rền từ căn cứ hỏa lực
Biện Hai, như một nốt "bass" thật trầm giữ cho đúng
nhịp. Hiếu chẳng biết mình phải làm gì hơn cho một ngày
dài của đời... lính trận miền xa được thêm phần ý nghĩa...

-----------------------------------------------------------------------
VĂN HỌC
-----------------------------------------------------------------------

09. Tình Yêu trong Thơ Nhạc của NGUYỄN TẤN HƯNG
qua MỘT THOÁNG HỮNG HỜ

by Phù Vân
phuvan@t-online.de

(Ahrensburg - Ðức Quốc tháng 01, 1999)

Hơn một lần tôi đã giới thiệu thơ nhạc của Nguyễn Tấn
Hưng trên báo Viên Giác tại Ðức Quốc, nhưng chưa một lần
chúng tôi gặp nhau. Tuy nhiên, giữa Nguyễn Tấn Hưng và tôi
tương đối có nhiều liên lạc hơn so với các văn thi hữu
khác mà tôi quen ở bên kia bờ đại dương.

Với Nguyễn Tấn Hưng tôi gọi một cách rất thân thiết là
ông Một, bởi tựa những tác phẩm của anh (11 về văn và
3 về thơ nhạc) đều khởi đầu bằng chữ "Một". "Một
Thoáng Hững Hờ" là thi tập thứ ba của anh.

Nhìn chung thơ nhạc của Nguyễn Tấn Hưng thuần về thơ tình,
quê hương và thân phận người lưu lạc. Tình - dù có những
đắm say dang dở, nhưng không đến độ tuyệt vọng thảm
sầu. Quê hương, dù đã xa biệt ngàn trùng khó có ngày trở
lại, nhưng không làm giảm khí thế đấu tranh. Thân phận
người lưu lạc - dù có nhiều nghiệt ngã, nhưng không đến
nỗi quằn quại bi thương.

Ngoại trừ một hai bài hoài niệm về quê cũ hoặc mang chở
chút ít tinh thần sắc-không của Phật Giáo, thì hầu như 88
bài thơ - có 12 bài được chính tác giả phổ nhạc, trong
tập "Một Thoáng Hững Hờ" là thơ nhạc về tình yêu.

Tình yêu với những vuốt ve nâng niu, với những ân cần dâng
hiến, với những đắm say cuồng nhiệt, với những chia ngọt
sẻ bùi, với mãi mãi những bước chân bên nhau... là những
mơ ước tuyệt vời của những kẻ yêu nhau.

Nhưng cuộc tình chẳng bao giờ phẳng lặng, chẳng bao giờ
trọn vẹn. Trời có khi mưa khi nắng, người có khi vui khi
buồn nên tình cũng có khi đầy khi vơi, khi phong ba bão tố,
khi êm ái dịu dàng. Nguyễn Tấn Hưng cũng rõ như vậy trong
bài "Tiễn Em", trang 122:

"Tình nào mà chẳng đầy vơi
Cớ sao vẫn thấy bồi hồi, xót xa
Tình nào mà chẳng phong ba
Cớ sao vẫn thấy buốt da, lạnh người.
...
Tình nào mà chẳng phù vân
Cớ sao cứ phải trông gần, nhìn xa
Tình nào mà chẳng phôi pha
Cớ sao cứ phải thiết tha, mong chờ..."

Nhưng không có tình yêu thì khó có ai thành thi sĩ. Dù Nguyễn
Tấn Hưng khiêm nhượng không dám nhận mình là thi sĩ, nhưng
anh lại thì thầm với người yêu trong "Hãy Ðến Cùng Anh"
(trang 17) rằng:

"Nếu người đời tôn anh là thi sĩ
Thì em là tinh túy của hồn thơ..."

Vâng chính em - chính tình yêu, mới là tinh thần lẫn thể
phách, là hương sắc lẫn phong vị của hồn thơ. Vâng, có
em, anh mới làm thơ. Có em, anh mới tập tành làm thi sĩ.
Hỡi người tình của ta ơi!

Nhưng người tình trong thơ nhạc của Nguyễn Tấn Hưng là
ai? Có phải đó là người yêu dấu ("Trong Tình Yêu Anh"),
là người em cao nguyên ("Nhớ Thương Em, Hỏi"), là người
em sầu mộng ("Quà Tặng"), là người trong mộng ("Gian
Nhà Ðầy Thơ, Bến Mơ, Thương"), là người em bên kia
bờ đại dương ("Cám Ơn, Yêu Chơi Thương Thiệt"), là
người đã hoặc sẽ đi lấy chồng ("Sang Sông"), là
người chưa yêu ("Hãy Ðến Cùng Anh")...

Vốn là kẻ "nòi tình", nên Nguyễn Tấn Hưng đã từng bôn ba
trốn chạy hay bương bả kiếm tìm những cuộc tình không
tưởng:


"Nửa đời người vẫn còn đang tìm kiếm
Chút tình nồng sưởi ấm lại con tim..."

...(trong bài "Tàn Phai Ðợi Chờ", trang 20)

Anh cũng chẳng quản khó nhọc:

"Vì em ẩn chốn rừng xanh
Nên anh cứ phải quẩn quanh trên ngàn..."

...(trong bài "Hỏi", trang 55)

Nhưng tình trong thơ nhạc của Nguyễn Tấn Hưng là tình vô
vọng, dang dở, cách ngăn:

"Thương nhớ em thật nhiều
Chẳng biết phải làm sao
Khi đời luôn ngăn cách
Hai đứa mình với nhau?"

...(trong bài "Có Bao Giờ", trang 93)

Rồi có bao giờ anh phân vân tự hỏi:

"Tình mình rồi sẽ ra sao?
Một khi ta đã thầm trao gởi lòng!"

...(trong bài "Hỏi", trang 55)


Còn ra sao nữa khi người ta đã có chồng! Còn làm sao hơn khi
thi nhân thành kẻ thất tình. Hỡi ôi:


"Em, từ đó đến nay bên chồng
Anh, từ đó đến nay phiêu bồng
Góp chút tình cùng em chẳng xong
Ði lang thang bên lề cuộc sống
Ðành vùi chôn vương vấn trong lòng..."

...(trong bài "Ðêm Cali, Khung Trời Thương Nhớ", trang 18)

Ván đã đóng thuyền rồi. Cuộc đời đã đổi thay. Thi
nhân đành ôm nỗi niềm riêng - mối duyên tình dang dở,
vào chốn phong trần để:

"Hỏi lại lòng, cuộc đời từ đây rồi đổi khác?
Mến yêu chi khi ván đã đóng thuyền?
Kiếp phong trần lỡ dở mối tơ duyên?
Bao mộng ước, nỗi niềm riêng, em có biết?"

...(trong bài "Tàn Phai Ðợi Chờ", trang 20)

Này em hỡi, em còn nhớ:

"Nhớ thuở bên nhau đôi ta cùng lối mộng
Bởi vì đâu, than ôi, em vội vã sang sông?"

...(trong bài "Lời Cuối", trang 44)

Riêng về em, chẳng phải em quên những lời thề non hẹn biển
hay em không còn nhớ những mộng ước chung đôi! Nhưng nay em
đã có chồng con, mà tại sao lòng lại còn ray rứt bâng
khuâng? Than ôi, nửa đêm thức giấc bên chồng, càng muốn
chia xa thì càng níu kéo lại gần, càng muốn quên thì lại càng
thêm thương nhớ! Thôi cũng đành, chẳng còn thiết tha gì
nữa:


"Phải chi chưa có chồng con
Nặng niềm ray rứt nên còn phân vân
Càng xa càng níu lại gần
Càng thương càng biết ai cần hơn ai!


Ðào nguyên lạc lối thiên thai
Mộng mơ chưa dứt đã hoài uổng công
Nửa đêm thức giấc bên chồng
Nửa quên, nửa nhớ, nửa không thiết gì!"

...(trong bài "Chiều Em", trang 32)

Hoàn cảnh ngang trái này làm chúng ta liên tưởng đến nữ
sĩ T.T.K.H. với những lời thơ bi thiết não nùng:

"Nếu biết rằng tôi đã có chồng
Trời ơi người ấy có buồn không
Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng?"

Thơ nhạc của Nguyễn Tấn Hưng trong "Một Thoáng Hững Hờ"
còn là thơ tình phụ. Anh không làm thơ phụ tình, vì anh là
dân Hải Quân, vốn mang trong người dòng máu giang hồ lãng
tử. Anh đã trang trải tình yêu trên nhiều bến cảng, nhưng
anh nào có quên như con tàu bỏ lại bọt sóng sau lưng, mà hương
sắc đường xa càng làm tăng thêm phong vị mặn mà trên từng
dặm hải hành.

Tiếc thay, khi yêu anh không phân biệt đối tượng, không
chọn lựa hoàn cảnh, nên anh đã gặp rất nhiều cảnh oan
nghiệt trái ngang. Tuy vậy, anh vẫn yêu theo nhịp đập của
trái tim, dù anh biết rằng:

"Rồi em cũng bỏ ta đi
Như bao người đã, có gì khác đâu?
Lời em nói từ ban đầu
"Không quay lưng lại" cho dầu phải xa!

Nhìn nhau qua giãi ngân hà?
Tìm nhau qua ánh trăng tà bên song?
Còn gì đâu nữa mà mong
Kẻ quyết bỏ cuộc, người không lối về..."

...(trong bài "Quên Em", trang 30)

Rồi người yêu đã quyết từ bỏ cuộc tình, lạnh lùng ruồng
rẫy, ngoảnh mặt quay lưng. Dù anh có năn nì cách gì đi nữa,
người cũng chẳng còn một chút xót thương. Thế thôi:

"Anh biết rồi đây sẽ có ngày này
Ngày em quay mặt đang tâm ruồng rẫy
Chẳng chút xót thương tận tình xô đẩy
Vùi dập hồn anh vào chốn lưu đày
...
Có nói gì hơn em vẫn lạnh lùng!
Thôi đành bỏ lửng một quãng đời chung!"

...(trong bài "Ðếm Bước Ðường Cùng", trang 46)

Cuối cùng bị người yêu bỏ rơi, anh đành than oán:

"Sao em nỡ đuổi anh về
Trong khi trời đất tứ bề mưa giăng?"

...(trong bài "Thương Ðau Một Ðời", trang 86)

Và đành cam chịu số phận hẩm hiu, tuy nhiên anh cũng nói cho
em hay rằng:

"Anh đã quen rồi chuyện khổ đau
Giết anh lần nữa cũng chẳng sao..."

...(trong bài "Trớ Trêu", trang 92)

Cũng chẳng sao, nhưng anh lại dặn dò, một mai lỡ khi anh
chết thì:

"Em đừng khóc, đừng buông lời sám hối
Tủi hồn anh và làm chậm bước luân hồi
Bao nguyện ước như ngọn đèn trước cơn gió thổi
Vụt tắt rồi... chờ đợi kiếp sau thôi..."

...(trong bài "Lời Cuối", trang 44)

Người xưa thường bảo "tiên trách kỷ, hậu trách nhân." Anh
đã tự trách mình yêu cuồng sống vội, giờ anh có nên
trách người hay không? Trách người thế nào? Ðừng đùa
với lửa, đừng giỡn với tình! Cứ tưởng em chỉ giỡn nhau
chơi, chứ em yêu anh gì nữa khi anh đã ở vào lứa tuổi mây
trôi! Thế mà không ngờ... yêu chơi, ai dè em lại... thương
thiệt!

"Anh biết rằng em chỉ giỡn chơi
Yêu anh gì nữa tuổi mây trôi!"

...(trong bài "Giữ Lấy Lời", trang 24)

hoặc:

"Anh cứ tưởng em... yêu chơi ai dè em... thương thiệt
Người tình nhỏ của anh ơi bây giờ anh mới biết..."

...(trong bài "Yêu Chơi, Thương Thiệt", trang 65)

Rồi anh lại thương em, thương thiệt và càng ghét em, ghét
hờn. Thương ghét thật tình cuốn xoáy anh vào trong "cõi
buồn em trao." Ðã bảo thương nhau sao lại dửng dưng? Bởi
lòng dạ em dễ đổi thay, hay em lại tính gần tính xa, so đo
chữ tình chữ nghĩa, chữ phận chữ duyên... Hỡi ôi:

"Thôi em đừng ác với anh
Tỏ lời yêu mến rồi đành bỏ ngang
...
Thôi em đừng tính gần, xa
Chữ tình chữ nghĩa đôi ta đã từng
Bây giờ giả bộ dửng dưng
Lui về cố quận nửa chừng buông xuôi..."

...(trong bài "Ðừng", trang 81)

và:

"Có người ở ác với tôi
Bảo "thương anh..." nhắn một lời bâng quơ
Ngọc ngà môi mắt cứ chờ
Phải chăng tình hững duyên hờ là đây?"

...(trong bài "Thương", trang 77)

Dù là tình hững duyên hờ, nhưng:

"Hỡi em có thấu tình này
Tình cho em vẫn... đong đầy nhớ thương..."

...(trong bài "Ðong Ðầy Nhớ Thương", trang 124)

Người thơ Nguyễn Tấn Hưng thực sự đã "đong đầy nhớ
thương" vào thơ nhạc. Thương người, anh làm thơ. Yêu
người, anh viết nhạc. Thơ nhạc và yêu thương. Giai nhân
và ước mộng. Thế mà người nào có hay, hay người lại
cố tình làm ngơ? Hỡi người yêu dấu, sao người lại hững
hờ!

"Vì thương em anh làm thơ
Bởi yêu em anh viết nhạc
Ðưa thương yêu vào mộng mơ
Bóng giai nhân thêm thẫn thờ!

Vậy mà em không hề biết!
Hay là em chẳng thèm ngờ?
Có bao giờ em hối tiếc?
Cho... một thoáng hững hờ!"

...(trong bài "Một Thoáng Hững Hờ", trang 57)

Ðây là thi phẩm mang chở toàn bộ nội dung, nên được tác
giả dùng làm tựa đề cho tập thơ nhạc "Một Thoáng Hững
Hờ".

"Một Thoáng Hững Hờ" là thơ của người si tình vô vọng
khi yêu người đã thành gia thất, thơ của cuộc tình không
may - nếu không dở dang tự ban đầu thì cũng tan vỡ vào phút
cuối, thơ của người ôm mối tình đơn phương không có vọng
âm, thơ chẳng bao giờ có hạnh phúc khi người tình bỏ đi
không có ngày trở lại; thơ của hờn tủi than trách thân phận
bẻ bàng.

Tuy nhiên, xuyên suốt "Một Thoáng Hững Hờ", ta không
tìm thấy những đớn đau vật vã đến độ tuyệt vọng như
Felix Arvers trong tuyệt tác Sonnet d'Arvers, được Khái Hưng
dịch thành "Tình Tuyệt Vọng":


"Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thu
Tình tuyệt vọng, mối thảm sầu
Mà người gieo thảm như hầu không hay

Hỡi ôi, người đó ta đây
Sao ta thui thủi đêm ngày một thân
Dẫu ta đi trọn đường trần
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi..."

Ngoài thơ nhạc về những cuộc tình vô vọng - dang dở - không
may nêu trên, "Một Thoáng Hững Hờ" của Nguyễn Tấn
Hưng còn hai nét đặc thù - rất hiếm tìm thấy trong các thi
tập khác:

* Thơ táo bạo:

Không thể nói là thơ mỹ dục, vì Nguyễn Tấn Hưng, không
hề tả chân hình tượng của người mình yêu. Cũng không
thể nói là thơ mỹ tục, vì ta không tìm thấy những danh
từ trần tục, thiếu tao nhã.

Nhưng anh viết rất thực nên thơ anh gây cảm giác mạnh cho
người đọc về tượng thanh và tượng hình hoặc lẫn lộn
cả hai.

Mà không gọi tượng thanh sao được, khi đọc thơ, ta nghe rõ
những lời hối thúc bồng bột, những nũng nịu làm duyên
trách cứ giận hờn, những nuối tiếc bâng khuâng, những
phủ dụ ân cần...

Mà không gọi là tượng hình sao được, khi trong thơ anh hiện
hữu với những "xiết vòng ôm", "đưa em vào mộng", "ngụp
lặn đắm đuối môi hôn", "thịt da trinh nữ thỏa lòng đắm
say", "kẻ nuông chiều, người nâng niu", "nếm ngọt ngào ái
ân", "cứ lãng mạn đèo bồng với nhau", "leo mận, hái
đào"...

"Ừa... ngủ đi, ngủ đi em
Tay anh em gối khép rèm mi cong
Ru anh thoang thoảng hương nồng
Thịt da trinh nữ thỏa lòng đắm say..."

...(trong bài "Ru Em, Ru Anh", trang 90)

hoặc:

"Hôn em, hôn đồi ngực trần
Lắng nghe tim nhịp xa gần tiếng yêu
Kẻ nuông chiều người nâng niu
Từ ngàn xưa vẫn mỹ miều, thần tiên

Hôn lên rốn, vốn làm duyên
Cõi nhân gian bỗng lặng yên, im lìm
Cội nguồn hương lửa đi tìm
Ơn cha nghĩa mẹ nổi chìm ba sinh

Hôn em, hôn lên nụ tình
Chốn hoang sơ ẩn giấu mình chờ, mong
Thẳm sâu, thầm kín đáy lòng
Hôn luôn cho... mãi bềnh bồng, mềm môi..."

...(trong bài "Hôn Em", trang 108)

hoặc:

"Chiều em, anh đã ra đi
Ðã mang theo mớ xuân thì em trao
Giờ đây gẫm tiếc đêm nào
Không cùng anh nếm ngọt ngào ái ân!"

...(trong bài "Chiều Em", trang 32)

hoặc:

"Bây giờ lỡ dở, chim đã vào lồng
Thôi thì cứ lãng mạn, đèo bồng với nhau
Ngày xưa kẻ vạch lỗ người chun rào
Thời nay người leo mận kẻ hái đào như không

Biết ra, eo ôi, những ngóng cùng trông!
Chừng nào bóng ngọc sẽ sổ lồng... bay sang?"

...(trong bài "Bay Sang", trang 36)

hoặc:

"Này em hỡi, một mai tâm ngả hồn xiêu
Hãy vì người phách lạc cùng liều một phen
Chồng con, ôi thôi, nên gát sang bên
Bởi quanh em rập rềnh ý nhạc, gập ghềnh tứ thơ

Hỏi em rằng đời người... có mấy giấc mơ...
Biến thành sự thật mà chẳng uổng công đợi chờ hở em?"

...(trong bài "Có Mấy Giấc Mơ", trang 61)

* Thơ vui nhộn:

Trong "Một Thoáng Hững Hờ" của Nguyễn Tấn Hưng, người
ta cũng tìm được những nụ cười để khỏa lấp niềm đau
của kẻ si tình không may. Có vui, có tếu mới có những
giây phút an nhiên, có thêm nghị lực để sống, để vượt
qua những bất hạnh trong đời.

Với những ngôn từ đại chúng, với những tứ thơ thông
thường, nhưng qua ngòi bút của Nguyễn Tấn Hưng đã trở
thành những dòng thơ có hấp lực tự nhiên để trao cho chúng
ta những nụ cười thoải mái:

"Lạy chúa, cũng có lúc con muốn lên núi hành hương
Chẳng phải nhà thờ lớn mà vì cô bé dễ thương
...
Lạy chúa, chúa vẫn biết con là người ngoại đạo
Ði nhà thờ chẳng qua cũng chỉ theo cô bé đi dạo
...
Lạy chúa, suốt đời con vẫn theo đạo lòng vòng
Chỉ vì con chưa hẳn là người cô bé cầu mong..."

...(trong bài "Nên Ðạo Vợ Chồng", trang 52)

hoặc:

"Thôi em đừng cắt... "dây tình"
Ðể anh... "bắt gió" cho mình có nhau..."

...(trong bài "Cám Ơn", trang 71)

hoặc qua phần đối đáp:

"Vợ mình không nhớ, nhớ vợ người
Cái thói thơ văn, đáng ghét thôi
Thả dê bắt bóng, già cùng trẻ
Khóc mướn thương vay, cũng đáng đời!
...
Chồng mình chẳng "ghét", "ghét" chồng người
Cái thú thơ văn, dễ mến thôi
Bắt dê thả bóng, già lẫn trẻ
Cười thuê yêu mượn, cũng đã đời!"

...(trong bài "Xướng, Họa, Thơ Văn", trang 51)

Trả lời cho ký giả Ðào Huy Ðán trong cuộc phỏng vấn do báo
"Làng Văn" thực hiện số tháng 3, 1989, Nguyễn Tấn Hưng
cho rằng, ngôn ngữ thi ca qua các thời đại đối với anh là
những câu ca dao, phương ngôn tục ngữ.

Vả lại Nguyễn Tấn Hưng là dân Mỹ Tho nên thơ văn cũng bình
dị, đơn giản, hiền hòa như tâm hồn của anh. Qua đó thơ
nhạc của anh trở nên gần gũi với những điệu hò, câu hát
của dân miền Nam.

Từ đó, tình yêu trong thơ hay tình ca trong nhạc của Nguyễn
Tấn Hưng rất dễ thâm nhập vào tầng lớp tuổi trẻ đang
độ yêu đương, hoặc dễ gắn bó với quần chúng thường
thiết tha với quê cha đất tổ, với đồng ruộng nương dâu.

Vì vậy, "Một Thoáng Hững Hờ" của Nguyễn Tấn Hưng cũng
không đi ngoài khuynh hướng văn chương miệt vườn, để
thêm lần nữa đóng góp những thành công trên văn đàn người
Việt hải ngoại.

-----------------------------------------------------------------------
LINH TINH
-----------------------------------------------------------------------

10. Thư Tín

by Sổ Tay Miệt Vườn
mietvuon@saigonline.com

- Some short-cut to homepage provided by http://www.welcome.to. Thí
dụ có thể đến homepage của:

Minh Viên: http://www/ịam/minhvien
Nguyễn Tấn Hưng: http://www.fly.to/nth/
...

- Bài vở xin gởi về > > > nth@saigonline.com < < <, cám ơn nhiều.
Xin đừng gởi về miet-vuon@onelist.com (chỉ là trạm phát thư
mà thôi)!

-----------------------------------------------------------------------

NHẬN BÁO: Muốn nhận được báo, bạn hãy gửi một email
về địa chỉ miet-vuon@onelist.com. Trong message body, bạn chỉ
cần viết: "subscribe mietvuon" để nhận báo, hoặc "unsubscribe
mietvuon" để lấy tên ra khỏi danh sách.

BÀI VỞ: Xin gửi về mietvuon@saigonline.com. Nếu các bạn
không muốn đăng địa chỉ e-mail, hoặc danh tánh, xin ghi rõ
trong thư. Bài đã đăng ở nơi khác xin ghi rõ để tùy nghi
sử dụng. Nếu gởi bài của các tác giả khác, xin kèm theo
thư ưng thuận của tác giả. Miệt Vườn mong đón nhận các
sáng tác thơ, văn, nhận định, v.v. kể cả những ý kiến
xây dựng cũng như thắc mắc của các bạn.

TRÍCH ÐĂNG: Xin liên lạc trực tiếp với tác giả hay Miệt
Vườn.

CẢM TẠ: Chân thành cảm tạ saigonline.com, dưới sự bảo trợ
của ViNet Communications, Inc., đã cho Miệt Vườn lưu trữ, sử
dụng server miễn phí.

-----------------------------------------------------------------------