Go:
[
MAIN PAGE
]
Fonts:
[
VIQR
]
[
VNI
]
[
UNICODE
]
[
VISCII
]
[
VPS
]
-----------------------------------------------------------------------
M I Ệ T - V Ư Ờ N
Internet Magazine
bán nguyệt san văn học, nghệ thuật, nhân bản
ra ngày 1 và 15 mỗi tháng
chủ nhiệm: Hồng Lan
chủ bút: Nguyễn Tấn Hưng
cộng tác:
các cây viết miệt vườn và thân hữu
Home Page: http://saigonline.com/mietvuon/
Email: mietvuon@saigonline.com
Số 019, Ngày 01 Tháng 06, 2000
-----------------------------------------------------------------------
TRONG SỐ NÀY:
THƠ VĂN
01. Cám Ơn -- thơ Cao Bình Minh
02. Ốm Nhom -- thơ Phương Triều
03. Vá Cờ -- thơ Hà Huyền Chi
04. Hoa Tâm -- thơ Nguyễn Thị Thanh Bình
05. Cuối Bể Ðầu Sông -- truyện Hoàng Du Thụy
06. Kho Tàng Trên Lá -- thơ Vũ Thi An
07. Huế Và Tôi -- thơ Tứ Diễm
08. Trăng Ðợi Anh Về -- thơ La Lan
09. Lá Trầu Cay -- thơ Hồng Lan
10. Trăng Mật Bến Sông Cầu -- truyện Nguyễn Tấn Hưng
VĂN HỌC
11. Văn-Minh Ðông-Á -- Trần Ðại-Sỹ
LINH TINH
12. Thư Tín -- Sổ Tay Miệt Vườn
-----------------------------------------------------------------------
THƠ VĂN
-----------------------------------------------------------------------
01. Cám Ơn
by Cao Bình Minh
mietvuon@saigonline.com
Cám ơn em đến bên ta
Cám ơn môi đã mặn mà lời ru
Cám ơn dòng tóc sương mù
Gợi ta cội cũ cho dù đã xa
Cám ơn màu nắng trên da
Mùi thơm trên cỏ mượt mà lũng trăng
Cám ơn thân thể lăng xăng
Chân chưa quấn quít, tay tằn mằn nhau
Cám ơn hơi thở chậm mau
Cám ơn luôn những cái đau ngọt người
Cám ơn bất chợt tiếng cười
Cám ơn nước mắt bỗng rơi thình lình
...
Cho ta khoảnh khắc an bình
Hiếm hoi giữa những điêu linh cõi người
-----------------------------------------------------------------------
02. Ốm Nhom
by Phương Triều
phtrieu@aol.com
Cứ tưởng thêm buồn cho kỷ niệm
May còn khơi dậy chút hương xưa
Ðem thơ tội nghiệp về rao bán
Em có nghe lòng đau xót chưa?
Trẻ quen vú mẹ - đòi, kêu khóc
Cha dỗ dành con, gạn nước cơm!
Mai đi mò ốc về nuôi miệng
Tráng sĩ sa cơ buồn như rơm!
Ống tre thổi được lời muôn điệu
Còn đục chi thêm những lỗ buồn?
Tay người nén chặt từng câm nín
Muôn dặm, hề, bóng ngựa chiều sương!
Ðời vẫn thênh thang đường gió bảo
Một bên ôm trẻ, một bên gươm
Hỡi ơi, tuồng tích đầy ngang trái
Soạn giả buồn hiu, ngồi ốm nhom!
-----------------------------------------------------------------------
03. Vá Cờ
by Hà Huyền Chi
hahuyenchi@aol.com
(Cảm đề tác phẩm "Vá Cờ"
của Nguyễn Ngọc Hạnh... )
Ðường chỉ thẳng, một đường gươm bén
Chém ngang đời vết chém như mơ
Vá tim tan tác như cờ
Vá hồn vị quốc chưa mờ linh quang
Vá hạo khí dọc ngang trời đất
Bốn ngàn năm bất khuất kiêu hùng
Trên cờ thấy núi thấy sông
Người vì nghĩa cả đã dâng hiến đời
Nhấm dòng máu còn tươi nỗi hận
Nghiêng mái đầu súng trận còn vang
Yêu người yêu lá cờ vàng
Lệ thầm nuốt nghẹn từng hàng mỗi đêm
Ðời chinh phụ thoắt chìm trong tối
Tình yêu quê réo gọi đầy lòng
Lửa tim hận nước, thù chồng
Lửa thiêng còn cháy bập bùng ngàn thu.
-----------------------------------------------------------------------
04. Hoa Tâm
by Nguyễn Thị Thanh Bình
mietvuon@saigonline.com
Trên đỉnh non cao tìm mây trắng
Dưới khe chờ hoa nở đem tin
Hoa chưa kịp nở tàn mùa trước
Chỗ ấy hoa lòng rộ bình minh
-----------------------------------------------------------------------
05. Cuối Bể Ðầu Sông
by Hoàng Du Thụy
mietvuon@saigonline.com
Ðể ủng hộ cho ngày đại hội cao bồi miền Tây, cả sở
hùa nhau mặc jeans đi làm và gọi ngày hôm nay là "Be seen in
jeans day". Thấy thiên hạ hí hửng, tôi cũng bắt chước
mặc jeans theo. Dân ở đây thật lạ, đi làm đối với họ như
một cực hình nên mỗi khi có dịp để quên công việc sinh
nhai của mình là mọi người đều nhiệt tình hưởng ứng.
Sáng vào sở, người nào cũng quần jeans, áo jeans, đủ
kiểu, đủ cỡ. Nhìn thiên hạ tíu tít chào nhau, kẻ khen
quần jeans của người này màu đẹp, quần jeans người kia
đúng mode acid washed, tôi nghĩ đến cảnh chợ trời quần jeans
ở Việt Nam, thiên hạ trì kéo nhau, rờ rẫm, trả giá. Dân
Việt Nam vẫn cho rằng người sang là người diện đồ jeans,
họ không hề biết ở ngoại quốc, đồ jeans là đồ lao
động, lên máy bay mặc jeans bị mời xuống, vô nhà hàng sang
trọng, mặc jeans chẳng ai tiếp. Tôi mặc lại cái jeans cũ
từ thời đi học cho giống với người ta. Ai sao tui vậy, ai
làm bậy, tui làm theo! Ðược dịp trút bỏ bộ đồ đầm
vướng víu, giày cao gót mỏi chân, tôi cũng khoái. Ði làm
mà đóng bộ jeans và giày chạy bộ coi thoải mái hơn nhiều.
Giờ nghỉ giải lao, Radica, cô thu ngân viên người Nam Mỹ cứ
than phiền về cái quần jeans chật chội gây khó chịu cho cô.
Tiện tay, cô sờ cái quần jeans của ông Al, trưởng phòng
tài vụ và cũng là xếp của cô:
- Quần jeans mầy coi bộ vải mềm mại hơn vải của tao.
Anh chàng cười hãnh diện:
- Chứ sao, ngoại trừ lúc đi làm ra, tao mặc toàn jeans nên
phải mua thứ mắc tiền mặc cho dễ chịu.
Rồi anh chàng nắm ống quần kéo kéo lên như để chứng minh
rằng quần mình thuộc loại đắc tiền:
- Ðây là cái quần ưng ý nhất của tao đó.
Tôi nghĩ anh chàng sẽ đứng lên, xoay mông lại mọi người
để khoe luôn cái marque Levís đỏ!
Thấy tôi ngồi im lặng không ý kiến, chàng quay qua hỏi:
- Còn cô Vy thì sao, cô có thích quần jeans không?
Tôi ừ ào cho qua chuyện:
- Hồi đi học thì tôi khoái vì bạ đâu ngồi đấy không sợ
hư quần áo nhưng đi làm mặc đầm đã quen, tôi ít có dịp
mặc jeans nên cũng không thích lắm.
Khoe quần xong, anh chàng khoe tới áo:
- Cái áo này là áo tao khoái nhất đấy. Mặc vừa thoải
mái, lại vừa trông giống như tài tử xi nê.
Tôi cầm tờ quảng cáo làm bộ đọc nhưng thật ra để dấu
một nụ cười. Tôi cười vì tính đỏm dáng của anh chàng và
cười luôn chiếc áo "giống tài tử xi nê" nữa. Cái áo sọc
xuôi màu xám đậm chen với xanh dương, trông giống đồ tù
mà dám nói là giống tài tử xi nê, thật không biết mắt
thẩm mỹ hắn ta để đâu. Tôi định nói nhưng nếu ông cứ
mặc sơ mi trắng đi làm như thường ngày chắc là đẹp trai
hơn nhiều. Trong phòng chỉ có mình chàng là đàn ông nên
đề tài quần áo chỉ nói được có bấy nhiêu. Mọi người
bàn qua tới vấn đề sắm sửa Noel sắp tới. Tôi liếc
nhìn đồng hồ tay rồi xin phép trở lại làm việc để thiên
hạ tự do thả hồn vào cõi mộng mơ của tháng mười hai với
hai tuần lễ nghỉ đông thỏa thích mà vẫn được hưởng
lương. Tôi không có gì để bàn bạc vì tôi nào có bận bịu
gì chuyện mua với sắm. Tôi chỉ cần thời giờ nghỉ xả
hơi, dọn dẹp lại nhà cửa bê bối từ trong năm. Những ngày
tất bật cuối năm chuẩn bị đón Tết nguyên đán, sơn nhà,
quét dọn, không còn nữa. Phong tục đón mừng Giáng Sinh của
người tây phương thì tôi chưa hội nhập được nên không
thấy nô nức vào tháng mười hai như mọi người. Tôi leo
mười mấy bực thang trở lại văn phòng để tiếp tục cày cho
hết ngày. Trách dân Canada sợ làm việc chớ đôi khi tôi
cũng như họ, nhất là vào những dịp long week-end, đi làm
trở lại thật là uể oải. Hàng ngày sau hai lần coffee
break, trở lại bàn giấy tôi cứ ngẫm nghĩ và cười cợt
mãi về những câu nói diễu trong giờ nghỉ của Radica, bận
tâm về con chó Coco của bà Barbara vừa mới được chích
thuốc cho ngủ giấc ngàn năm, hay tủm tỉm cười về những
mẩu chuyện khôi hài lượm lặt được từ mọi người. Có
hôm tôi phải ngồi định thần mấy phút mới hoàn toàn tập
trung tư tưởng vào công việc được. Thành ra bịnh sợ làm
việc là bịnh chung, bịnh của trời đâu phải của riêng ai như
bịnh tương tư.
Tôi lướt qua mớ thư từ mới nhận, soạn các thư mà tôi
nghĩ là quan trọng để riêng một bên, còn những thư quảng
cáo, tôi để nguyên cả phong bì cho vào thùng rác. Ngày nào
vô sở cũng mở thư, về nhà cũng mở thư, tôi nghĩ thương
cho mấy nhân viên bưu điện. Bốn bề là thư, ngày nào
cũng thấy thư, năm này sang năm khác, làm sao họ chịu được
cũng hay. Cầm cái phong bì cứng lên, tôi định cho vào thùng
rác chợt nhận ra nét chữ quen của Tưởng. Lâu lắm rồi,
không có thư chàng, tôi cũng trông. Ðột nhiên, được cái
thiệp, không đúng vào dịp lễ nào lại cũng không phải là
ngày sinh của tôi nên tôi tò mò mở ra. Tôi cố nhịn cười
vì một mình cười vu vơ đám người trong thư viện dám bảo
tôi làm việc quá hóa điên. Kể ra chàng là người có đầu
óc khôi hài lắm đó chớ. Nghĩ sao mà chàng gửi tôi hình
hai con heo hồng bị khớp mỏ, xiềng đuôi, đang ngồi "nhìn
nhau mà lệ ứa" với giòng chữ "thinking of you"? Ông
Nguyễn Văn Vĩnh nói An Nam ta có thói quen gì cũng cười chỉ
đúng vào thời đó, thời bây giờ khác. Người Mỹ họ hay
cười hơn người mình nhiều. Gì họ cũng cười, ai họ cũng
diễu. Hãng Carlton, Forget Me Not, làm giàu nhờ mấy thứ
thiệp khôi hài họ sáng chế. Tôi nhìn hai con heo, thấy
giống y chang Tưởng và tôi. Ðã bị khớp mỏ mà lại còn
xiềng xích nữa chớ. Lời yêu đương còn không có miệng
để tỏ thì nói gì đến chuyện tìm nhau, nắm tay, nắm chưn
nhau. Heo mà còn bị như vậy thì người như chàng với tôi
mang cùm, mang gông trên cổ là phải quá rồi. Cười thầm
một mình xong, tôi mới mở ra đọc mấy giòng ghi vội của
chàng. Cũng lại cáo lỗi vì không thời giờ biên thư. Rồi
lại ăn năn vì đã cùng tôi "ngoại tình trong tư tưởng!" Chàng
chưa dám liều mình vì yêu, tức là chưa yêu. Ðã ngoại tình
mà còn sợ sệt, chưa phải là anh hùng. Chưa cầm tới kiếm
mà đã chùng tay sao dám đòi làm tráng sĩ? Tráng sĩ Tưởng
của tôi còn nhát nên chỉ dám "thinking of you", chớ không
dám nói ra điều gì hết. Mà biết đâu nghĩ lại ghê gớm
hơn là nói vì nói ra là người ta biết được ý mình còn tư
tưởng mình chỉ nghĩ thôi, có trời mới đoán được.
Gạt mớ giấy tờ bừa bộn trên bàn sang một bên, tôi dựng
đứng tấm thiệp cạnh hình con gái cho hai mẹ con cùng
ngắm... heo. Tấm thiệp này mà đem về nhà là nhất định
cô nàng sẽ giành cho bằng được. Biết đâu chơi chán thì
chị sẽ đem khoe... ba! Ðứa con gái ba tuổi của tôi đã tỏ rõ
lập trường. Lúc nào nó cũng đứng về phía ba và kiểm
soát bà mẹ rất gắt gao. Có lần tôi nói chuyện điện
thoại với người bạn trai học chung lớp từ mấy năm về
trước, con nhỏ la hét ầm ĩ để tôi khỏi nói. Ba nó nghe
kể lại thành tích này ôm con hun lấy hun để, khen giỏi!
Cả buổi chiều tôi cứ ngồi ngắm mãi hai con heo tội
nghiệp. Mới đây, tôi có đọc bài báo về tâm lý những
người nhàm chán chỗ làm, người viết bài đề nghị nên đem
những đồ vật từ nhà như sách vở, tranh ảnh bày nơi bàn
viết để tinh thần thoải mái hơn trong lúc làm việc. Giờ
tôi mới đồng ý với người viết bài này và công nhận là
bà ta tâm lý lắm. Hai con heo đã giúp tôi phấn chấn làm
việc, ít ra trong suốt buổi chiều hôm đó.
Cả mấy tháng trôi qua, tôi vẫn không nhận thêm tấm thiệp
hay giòng chữ nào của Tưởng. Tôi sốt ruột điện thoại cho
chàng, chỉ có máy trả lời nên nhắn lại vài lời với chàng
rồi thôi. Ai điên mà đi nói chuyện với máy, vừa tốn
tiền, vừa mất thời giờ vô ích. Ngày nào vô sở tôi
cũng hy vọng có điện thoại hoặc thư của chàng. Nếu có lúc
tôi thấy tật lười viết thư của chàng là dễ yêu thì lúc
này tôi lại thấy căm ghét cái tật kỳ cục này. Chắc bị bà
xã kềm kẹp quá, không dám liên lạc nữa chứ gì. Tội
nghiệp con heo đực đang ở cách xa con heo cái mấy ngàn dặm,
chắc là giờ này đang đón đỡ những đòn phép của bà nhà.
Không biết rồi chàng có còn dám thư từ cho tôi hay trốn
biệt? Không biết lần này chàng sẽ gửi tôi hình gì để
tạ lỗi đây? Chắc vẫn hai con heo bị khóa mỏm, bị xiềng
nhưng vẽ thêm vào đó một con sông Tương. Con Tương giang
đầu, con Tương giang vĩ và cùng ẩm Tương giang thủy mà nhớ
nhau! Tôi ước gì đất Mỹ có sông Tương để hai con heo
khốn khổ (biểu tượng cho chàng và tôi) được đi vào văn
học nước Mỹ.
Ðiệu này chắc là hãng Forget Me Not đã sập tiệm nên không
còn in ra tấm thiệp khôi hài nào cho chàng mua tặng tôi nữa.
Tôi nhớ chàng thiệt tình chớ bộ giỡn sao. Không điện
thoại, không thư từ, không cả thiệp hay một giòng chữ nhớ
nhau, chắc chàng đã "cải tà quy chánh" sám hối với vợ
hiền rồi. Những bức thư tôi gửi đi, chưa hoặc có lẽ
không bao giờ được hồi âm. Nghe tình hình kinh tế bên Mỹ
cũng đang sa sút, tôi hơi lo. Lần rồi nghe nói sở sa thải
nhiều kỷ sư, cho dù có nhiều năm thâm niên như chàng cũng
chẳng ăn thua gì. Tôi không lo chàng thất nghiệp thì sẽ
không có tiền nuôi vợ con, tôi chỉ lo chàng thất nghiệp thì
sẽ không cách gì liên lạc được. Ai dám viết thư về nhà?
Ai dám điện thoại về nhà? Ai dám gửi cho chàng những câu
nhớ thương, tình tứ? Cũng dám chàng thất nghiệp thật
lắm, nếu không sao mấy tháng qua chẳng thấy tăm hơi?
Không, chàng không thất nghiệp cũng chẳng bị lay-off. Chàng
vẫn chăm chỉ đi làm nuôi vợ, nuôi con. Chàng vẫn hàng
ngày sáng xách ô đi chiều xách ô về như một công chức
cần mẫn. Chỉ khác một điều thư tình chàng không viết
nữa, những tấm thiệp diễu cợt kia sẽ không bao giờ
được gửi đến cho tôi nữa. Chỉ vì một phút khinh xuất
mà sự "ngoại tình trong tư tưởng" của chàng đành phải
dang dở. Số là hôm đi mua tấm thiệp cho tôi, chàng dắt
theo đứa con gái lên ba (lại cũng lên ba!). Lứa tuổi này
là tuổi đáng tin cậy nhất của những bà mẹ đa nghi. Lứa
tuổi này là lứa tuổi đáng được "đi hỏi già, về nhà
hỏi trẻ". Ðứa con gái của vợ chàng Trương vô tình hại
mẹ chỉ vì ngỡ bóng mẹ trên tường là bóng cha trong khi cha đi
vắng nên mẹ vì muốn minh oan phải tự trầm. Giờ đứa con
lên ba tuổi của chàng cũng đã vô tình hại cha. Khi cả nhà
đi tìm mua tấm thiệp mừng sinh nhật bạn cô bé, cô nhỏ thơ
ngây chỉ cho mẹ tấm thiệp hai con heo bảo hôm nọ bố mua tấm
thiệp này. Bà mẹ tần ngần giây lát, ngỡ con nói đùa
nhưng khi nhìn thấy giòng chữ "thinking of you" thì bà linh
cảm là con không đùa. Hỏi chồng thì ông chồng lúng túng
chối phăng nhưng đàn bà khi đã nghi ngờ rồi thì khó lòng
mà bỏ qua. Ðêm về, nàng đã cật vấn chồng về tấm
thiệp lại còn hăm dọa hôm nào sẽ đến sở "thanh tra". Ông
chồng hãi quá, cố đánh tan mối nghi ngờ của vợ bằng cách
thề thốt đủ điều và ngày hôm sau lập tức thu dọn mọi thư
từ hình ảnh của người tình trong tư tưởng xếp vào một
xó. Sau đó chàng gửi ngay một bức thư tạm biệt người
tình cũ và xin nàng hãy để kỷ niệm ngủ yên.
Tôi đọc thư chàng xong, nhìn lại hai con heo đang tâm tình
bằng ánh mắt thấy tội nghiệp chúng hơn. Giữa hai con heo
không là một con sông Tương nào hết mà là một đại dương
mênh mông. Con này trông ngóng con kia miền cuối biển. Con
này thương khóc con kia bên bờ đại dương. Sông Tương còn
hạn hẹp, đại dương này là nghìn trùng. Vậy là kiếm sĩ
của tôi đã buông kiếm chào thua. Chàng không dám đi suốt
cuộc tình dang dở hai mươi năm. Chàng đã mạnh dạn rẽ sang
một lối khác khi đường tình đến một ngã ba. Tôi vẫn
yêu chàng như thời con gái, tôi vẫn mơ về chàng như mơ
một trang kiếm khách anh hào. Tôi không giận hờn hay oán
trách chàng. Trong giây phút thất tình chợt đến, tôi chỉ
ước ao phải chi mình biết ca vọng cổ để lúc này nắn giọng
xuống một câu mùi mẫn: "tráng sĩ ơi"...
-----------------------------------------------------------------------
06. Kho Tàng Trên Lá
by Vũ Thi An
REXBOUTIQU@aol.com
Em cúi mặt nhẹ nhàng hôn lên lá
Nhớ những ngày còn bé quá chưa yêu
Lòng chưa vương phải sợi nắng tơ chiều
Và tất cả đầy màu xanh hy vọng
Em vẫn nhặt lá vàng rơi trước ngõ
Tập làm thơ với thương nhớ giả vờ
Khi có anh chàng khuôn mặt ngẩn ngơ
Ði ngang cửa cứ nhìn em len lén
Ừ lạ nhỉ sao xưa chưa biết thẹn
Cứ cười đùa ầm ỉ như con trai
Ðể mẹ hay la hoặc trách mắng hoài
Con gái thế ai thèm đi hỏi cưới
Từ dạo nào em biết buồn rười rượi
Thả hồn theo mây trắng bay thật xa
Từ ngày nao em biết điểm tay ngà
Màu hồng lợt, đếm ngày trong nhung nhớ
Có lẽ từ dạo anh hôn lên má
Ðắm đuối nhìn gọi thật nhẹ: cưng ơi
Mình chưa hôn nhau dù môi đã chạm môi
Giây phút đó ngàn năm không quên được
Có lẽ từ khi em xa xóm nhỏ
Bỏ lại chân trời lam ngọc dễ thương
Bỏ lại khoảng sân đầy lá trong trường
Và một chút vấn vương thời thơ dại
Có lẽ từ khi ai vô tình nhắc lại
Thuở học trò yêu ái thật vô tư
Khi tình yêu chưa đạt hết ngôn từ
Lời thơ vụn nắn hoài không ra chữ
Xin ướp lá với hương tình ngày cũ
Thả trôi theo dòng sông nhỏ về nguồn
Lá chở đầy niềm nhung nhớ yêu thương
Hằn trên ấy một kho tàng kỷ niệm
-----------------------------------------------------------------------
07. Huế Và Tôi
by Tứ Diễm
tudiem@hotmail.com
(May 23, 2000)
Răng cứ nghĩ tui là dân Huế
Làm người ta ốt dột như ri
Răng cứ đoán rồi lại sinh nghi
Dò la hỏi, dị òm ai nớ
Răng cứ noái, noái hoài như rứa
Ðể khi không lòng thoáng bâng khuâng
Răng tự dưng thấy Huế thật gần
Và thầm ước: "giạ mình dân Huệ"
-----------------------------------------------------------------------
08. Trăng Ðợi Anh Về
by La Lan
lalan2000@yahoo.com
Về đây anh, ta cùng dạo biển đêm
Mây nước đẹp, biển thì thầm nhịp vỗ
Anh coi kìa cơn sóng đang làm bộ
Hôn bờ xong - vờ như chỉ vô tình
Trời đêm nay nhiều sao sáng lung linh
Trăng nghịch ngợm vén rèm cười nửa miệng
Anh đâu rồi sao hông thèm lên tiếng
Ðừng trêu mà, em sợ lắm màn dêm
Anh gạt em - hứa sẽ chãi tóc mềm
Vòng tay ấm che vai em khỏi lạnh
Nhưng giờ này sao bỏ em hiu quạnh
Tim mệt nhoài thổn thức gọi tên ai
Ðêm nay nữa là đã mấy đêm dài
Chỉ mình em bồi hồi nhìn bóng nguyệt
Chờ lâu ghê nên lòng Hằng cũng khuyết
Anh hãy về cho mộng được tròn trăng
-----------------------------------------------------------------------
09. Lá Trầu Cay
by Hồng Lan
mietvuon@saigonline.com
Vào vườn ngắt lá trầu lương
Viết lên hai chữ "anh thương" gửi chàng
Thả theo dòng nước trôi sang
Ðể anh đón lấy giữ mang trong lòng
Con đò ngày ấy bên sông
Anh đi qua đó hằng mong gặp nàng
Từ khi cuộc chiến tràn lan
Trầu vàng không thấy vườn hoang điêu tàn
Lối mòn xóm cũ đình làng
Ðổi thay chẳng bóng họ hàng người thân
Ngày xưa hai đứa còn gần
Chỉ nhìn triền nước một lần nhớ nhau
Bây giờ xa cách phương nao
Trầu nay anh vẫn một màu không phai
Chiều chiều nước lớn chảy dài
Ðợi em trông lá trầu cay nhạt nhòa
-----------------------------------------------------------------------
10. Trăng Mật Bến Sông Cầu
by Nguyễn Tấn Hưng
nth@saigonline.com
(Kỷ niệm với HQ/ThTá Lê Anh Tuấn...
bài viết trước khi hay HQ/ThTá Tuấn
đã tuẫn tiết trên kinh Thủ Thừa
ngày mất nước 30 tháng 4, 1975...)
>
"Ðêm đã khuya, tiệc đã gần tàn. Hoàng nghĩ mình đãi bữa
>
nay cũng không đến nỗi tệ lắm. Bạn bè có mặt đầy đủ.
>
Mình không quí người ta ai quí mình, mình không đến với
>
người ta ai đến với mình. Cũng có lý. Ở cái thành phố nặng
>
mùi thuốc lá này, Winston-Salem, North Carolina, số gia đình Tar-Heel
>
gốc Giao Chỉ của mình cũng không có mấy. Ðếm đầu ngón tay.
>
Số ít nhưng tình nhiều. Chiều thứ sáu mà không có điện
>
thoại của bạn bè thấy như thiếu một cái gì. Mình muốn quên
>
hãng xưởng, quên làm lụng để thấy weekend còn dài. Chiều
>
thứ bảy vẫn là những mục tiêu lớn. Và chiều chúa nhật là
>
những gì còn sót lại, những gì khẩn cấp cần thiết, vì thứ
>
hai còn phải đi làm. Ba chiều phải có một chiều, một chiều cho
>
đồng hương, cho quê hương. Ba chiều có đủ ba chiều thì càng
>
hay. Lắm khi liên tiếp ba chiều được Việt ngữ hóa, sáng
>
thứ hai vào sở phát ngôn mấy tiếng Mỹ đầu ngày như bị ngọng.
>
Buổi họp về việc tổ chức văn nghệ gây quỹ bữa nay cũng
>
thành công. Còn dợt nhạc, còn gặp nhau dài dài...
>
>
- Anh cũng ở Sông Cầu nữa hả. Mà sao anh biết Nghề ở Sông
>
Cầu?
>
>
Hoàng cũng không hiểu câu chuyện đầu đuôi ra sao mà bây giờ
>
dẫn tới màn này, câu hỏi này. Hoàng trả lời đại:
>
>
- Thì nghe thằng Thành nó mới nói.
>
>
Nghề ra vẻ trầm ngâm suy nghĩ:
>
>
- Từ hồi qua Mỹ đến giờ em chưa bao giờ nói với ai là em ở
>
Sông Cầu.
>
>
Hoàng cắt ngang:
>
>
- Sao vậy. Quê hương của mình mà, làm gì mình lại chối bỏ.
>
>
- Em chỉ muốn sống với quê hương cho riêng mình mà thôi. Em
>
cứ nghĩ hình như trên đất Mỹ này không còn ai biết Sông
>
Cầu là gì cả. Thằng Thành nữa, nó chỉ biết em ở đó thôi
>
chứ nó đâu có biết Sông Cầu về cái gì đâu... Mà anh còn
>
nhớ trường trung học Sông Cầu ở hướng nào không?
>
>
- Nhớ cái gì! Anh chỉ nói sơ sơ từ chiếc tàu chìm trong vịnh,
>
cái sân banh ngó vô dinh quận, bến xe đò cạnh quốc lộ 1, cái
>
chợ cất bằng cột dầu vuông, lợp tôn cũng sát bên quốc
>
lộ 1, với những buổi chợ phiên có bạn hàng xuống từ trên
>
núi, và... những con heo nái dẫn con dạo phố cùng đường là
>
đủ diễn tả Sông Cầu, cần gì cái trường trung học.
>
>
- Trời đất ơi, vậy là anh rành quá rồi. Không ngờ em lại
>
gặp anh. Anh ở Sông Cầu vào lúc nào?
>
>
Nghề đưa tay ra bắt tay Hoàng, xiết thật mạnh như tỏ lòng kính
>
mến đàn anh. Hoàng lâng lâng thả hồn về một thời xa xưa,
>
những ngày tháng nên thơ tại cái thành phố nhỏ nhoi miền biển
>
này. Kỷ niệm như có đối tượng để được khơi lại, để
>
được bột phát, để được thấm thía một lần. Hoàng bắt
>
đầu kể truyện."
>
***
Phục vụ trên Hải vận hạm Tiền Giang HQ 405 mới được hơn một
năm thì tôi được lệnh đổi lên bờ. Tôi là một trong những
thằng cùng khóa bị đổi về bờ sớm nhất. Không khá được!
Tất cả bạn bè đều còn ở dưới Hạm Ðội mà mình phải lên
bờ. Lẻ loi, bơ vơ, lạc đàn. Thiệt tình mà nói, lúc đó tôi
đang khổ với ông hạm trưởng lé của tôi, tôi đang bị trù
giống như thời tôi còn ở trong trường. Thuở đời nay, dưới
tàu mà cũng bị cấm trại dài hạn, cho đến khi có lệnh mới.
Nhưng, tôi vẫn còn thích đi tàu, đi tàu như đi du lịch khỏi
tốn tiền. Tàu cập bến lúc nào cũng có bạn bè vì chiếc nào
cũng có bạn cùng khóa, pont cũng như cơ khí. Vả lại hồi xưa
mình đâu có khí phách anh hùng, đâu có chọn tàu tuần dương
miệt mài biển khơi thì đâu gì phải lo. Tàu vận chuyển có
hải hành nhiều lắm là bốn ngày bốn đêm, Sài Gòn-Ðà Nẵng
chẳng hạn, thì cũng cập bến, có dịp ngắm nhìn người đẹp,
có dịp say sưa. Cầm cái công điện thuyên chuyển đã thấy
bất mãn mà lại thuyên chuyển về Tây Kết, bộ tư lệnh Vùng 2
Duyên Hải, Nha Trang, thì lại càng bất mãn hơn. Huấn luyện ở
đó hai năm, hai năm tung tăng khắp phố phường, hang cùng ngõ
hẻm đã nhàm chán rồi. Vậy mà bị đưa trả về đây. Lúc ra
trường tất cả đã bàn giao cho khóa đàn em, cho con cái, cháu
chắt hết rồi, bây giờ đâu có đòi lại được. Hơn nữa tôi
cũng sắp sửa hết còn độc thân, Lan và tôi đã làm lễ hỏi
năm sáu tháng nay, sau chuyến chở hàng về Cần Thơ. Bởi vậy
lúc vác sac-marin vào Tây Kết tôi tự hứa: sẽ không bao giờ
trở ra phố Nha Trang nữa. Rồi tôi được thảy xuống làm sĩ
quan trực trung tâm hành quân. Chán chưa. Sĩ quan trưởng phiên
trên tàu có lý hơn nhiều. Xung quanh mình còn có trời, mây,
trăng, nước, còn được ra lệnh, còn được làm hạm trưởng
tạm thời. Trong "ca" có súp, hết "ca" có đồ nhai, sẵn trong
carré sĩ quan. Trực trung tâm hành quân chỉ thấy bốn bức
tường và khói thuốc. Lên "ca" mì gói xuống "ca" mì gói ở câu
lạc bộ và... cờ tướng, bi-da. Cờ tướng và bi-da như là
nghề phụ của hầu hết các sĩ quan trực trung tâm hành quân.
Nhờ cờ tướng và bi-da tôi lại ăn chịu và quen thân với đại
úy Biên, trưởng phòng một, một tay cầm cơ có hạng.
- Ðại úy làm sao đưa tôi đi khỏi chỗ này. Tôi chán ở đây
quá.
- Mày đi mất tay chơi sao? Còn mấy chỗ thiên hạ chê đó mày
muốn đi thì đi, Déji, Sông Cầu chẳng hạn.
- Còn mấy duyên đoàn ở phía nam chi cha nội, Cam Ranh, Thanh
Hải gì đó.
- Không dễ gì đổi vô đó đâu, tao đề nghị tư lệnh cũng
bác, mày mới tới có mấy tháng.
Rốt cuộc rồi cũng có ngày tôi khăn gói lên đường đi Sông
Cầu, duyên đoàn 23. Còn đỡ hơn Déji, duyên đoàn 21, duyên
đoàn địa đầu của Vùng 2 Duyên Hải. Hồi ở đây ngày nào
cũng mong đi, đến lúc đi lại thấy buồn buồn, tiếc tiếc.
Chiếc fibro-ciment, loại ghe chỉ được chế tạo tại hải quân công
xưởng Việt Nam, của duyên đoàn gửi về sửa chữa ở Cầu Ðá
đã xong và sẵn sàng chờ tôi tách bến. Ngày ra đi tôi đến
từ giã đại úy Biên, ổng lại gửi tôi một câu thòng:
- Hoàng, mày muốn được đổi về Sài Gòn không? Nếu muốn thì
ký tên vô đây để tao đề nghị mày về học tình báo. Ở đây
cóc có tên nào chịu đi.
Tôi ký tên đại vào chỗ trống có đánh dấu. Ðúng ra tôi chỉ
muốn trở về Sài Gòn thôi. Học một khóa sáu tháng mình như
được đi phép sáu tháng, học một năm mình đi phép một năm.
Chứ học tình báo thì tôi chưa biết có thích hay không. Chẳng
lẽ lại đổi nghề à, nghề hải quân của mình nó cao đẹp nên
thơ lắm, bỏ sao được. Thây kệ tới đâu hay tới đó.
Tôi xuống ghe duyên đoàn 23 đi về duyên đoàn 23. Thủy thủ đoàn
biết tôi mới đổi về đơn vị săn sóc tôi rất chu đáo không
như mấy đứa hạ sĩ quan, đoàn viên ở trung tâm hành quân, công
việc ai nấy làm, mì gói ai nấy ăn, mình như quan không có lính.
Xế chiều ngày hôm sau thì ghe về đến bến. Vịnh Sông Cầu
rộng lớn, sóng nước nhấp nhô trông như một mặt hồ hơn là
mặt biển. Tôi ngạc nhiên thấy chiếc tàu chìm, cứ tưởng mình
đang đi trong sông vì tàu thường chìm trong sông chứ tàu đâu
chìm ngoài vịnh. Ống khói, cột cờ đài chỉ huy in bóng dài trong
nắng chiều. Chỗ này như là chỗ đi câu lý tưởng, mà sao
không thấy ghe tàu đánh cá, xứ gì lạ vậy. Tất cả như im
lặng, không hoạt động.
Ghe cập cầu, tôi ngạc nhiên thấy người đón tôi là trung úy
Tám, em của thằng bạn cùng khóa, thằng Kiết. Tôi chào trung úy
Tám, qua lại vài câu xã giao rồi lang thang theo hắn ta về trại.
Duyên đoàn nằm dọc theo sông Sông Cầu, bắt đầu từ cửa sông
có cái miếu Thổ Thần cho đến cây cầu sắt trên quốc lộ 1.
Một bãi cát dài chỉ thấy một nhà kho, và một nhà tiền chế
trống trơn không có vách. Nhiều lô-cốt phòng thủ vòng đai dọc
theo bờ sông, có kéo mấy lớp kẽm gai tròn. Lội cát một khoảng
đừ người mới đến câu lạc bộ, cư xá hạ sĩ quan và đoàn
viên, rồi đến khu sĩ quan và cố vấn Mỹ. Tôi bỏ đồ đạc
vào phòng rồi xuống câu lạc bộ sĩ quan, Hội Trùng Dương, một
cái nhà sàn ngó ra dòng sông. Trung úy Ðịnh cùng khóa với ông
Tám, khóa 15, làm chỉ huy phó. Ông Tuấn, cũng trung úy, khóa 14,
làm chỉ huy trưởng. Ai cũng trung úy hết, chỉ có tôi là thiếu
úy, khóa 17. Mà sao không có đại úy? Tôi đến đúng vào giờ
cơm nên nhảy vô nhập tiệc luôn. Tất cả đều độc thân, chỉ
có ông Ðịnh là có gia đình, vợ mới cưới, chưa con cái và có
nhà riêng ở ngoài phố. Cơm nước xong xuôi còn lại tôi và ông
Tám, ông Tám nói nhỏ cho tôi biết chỉ huy trưởng của mình là em
của trung tướng Lê Nguyên Khang, em của trung tá Lê Khánh, tỉnh
trưởng Khánh Hòa. Vậy sao, hèn chi ổng mới trung úy đã nắm
chỉ huy trưởng rồi. Tôi thấy mình như Tôn Tẩn bắt được
cây Hạnh huỳnh kỳ. Trên đầu như có cây dù quá lớn, bảo đảm
lần thuyên chuyển này sẽ không đến nỗi.
Sĩ quan ăn uống khỏi tốn tiền lại có đầu bếp giỏi, trung sĩ
Ngô. Dọn dẹp phòng ốc, giường nệm và giặt ủi áo quần có
hạ sĩ Nhánh. Còn đòi hỏi gì nữa. Tôi được chỉ định làm sĩ
quan kỹ thuật, coi việc bảo trì sửa chữa máy móc tàu bè, kiêm
sĩ quan chiến tranh chính trị, lo việc phát thực phẩm, áo quần
cũ, thuốc men, quà tâm lý chiến nói chung, cho dân nghèo. Việc
hành quân, tuần tiễu do mấy ông lớn lo hết, lý do, tôi chưa
có kinh nghiệm chiến trường. Còn gì phải đòi hỏi? Cố vấn
Mỹ có ba tên, đại úy Pine, trung úy Alexander, và trung sĩ Mập,
tại vì hắn ta mập quá và thích được kêu như vậy. Ðại úy
Pine và trung sĩ Mập nói tiếng Việt cũng khá lắm, biết chửi
thề, văng tục. Không biết ai dạy tụi nó, thâu băng cho tụi nó
mà tối ngày cứ nghe tape, thực tập rồi phát ngôn bừa bãi,
rồi cười.
Tôi ở được ba tuần chưn ướt, chưn ráo thì đến ngày xin
phép về Mỹ Tho cưới vợ. Ông bà già vợ nghe nói phải đi ra
tận miền Trung thì ngại lắm, nhưng con gái lấy chồng thì phải
theo chồng, đâu có cản được. Ngày ra đi bà già khóc sướt
mướt làm như tôi đưa con bà đi tới chỗ chó ăn đá gà ăn
muối, làm công lên chuyện xuống gì nhọc nhằn lắm vậy. Tôi
phải trấn an Lan vì Lan cũng chưa lần nào ra Trung, ngoài ấy
sống được lắm, em khỏi phải lo gì ráo trọi, tôi nói như
vậy. Và lời nói này quả thật không sai tí nào hết. Ðây có
lẽ là lần đầu tiên Lan có dịp đi Air Việt Nam. Ðáp xuống phi
trường Tuy Hòa xong hai đứa tôi đón xe đò về Sông Cầu. Cũng
là dịp đầu tiên cho tôi được đi qua vùng này bằng đường
bộ. Thường thường hải quân phải đi đường sông đường
biển, nhưng mấy ai dẫn vợ đi tàu, vừa lâu vừa bất tiện.
Ðường miền Trung lên đèo xuống vịnh, ngoằn ngoèo trong núi,
mù tít trong rừng. Nhiều đoạn di chuyển thật chậm, theo toán
rà mìn của lính Mỹ, lính Ðại Hàn. Mệt mỏi rồi cũng đến
nơi. Phòng ở độc thân của tôi trở thành phòng có gia đình.
Cũng không sao, kéo thêm tấm rideau cho kín đáo một chút. Bên
mặt là ông Tuấn, bên trái là ông Tám, ai cũng muốn dành căn
bìa, hai đứa tôi phải ở căn giữa. Lan cũng nhảy vô carré sĩ
quan "ăn chùa," tạo thêm đề tài cho ông Tám, ông Tuấn. Bữa ăn
nào cũng vậy, ít khi kết thúc sớm.
- Rồi, bữa nay ông Hoàng chọn ngồi phía này đặng dễ dàng ngó
qua phía đầu cầu bên kia rồi.
- Ngó qua bên đó rồi sao?
- Bà này làm bộ ngây thơ nữa. Bà không biết bên đó có cái
quán nước hả. Cô chủ quán cũng coi được lắm nghe, hồi bà
chưa ra cổ để ý ông Hoàng dữ lắm đó.
- Không biết để ý ông Hoàng hay ông Tám đây, cái gì cũng đổ
tội cho ông Hoàng hết chắc có ngày nồi cơm bị bể.
Lan xen vào:
- Chỉ huy trưởng nói vừa vừa thôi.
- Cái bà này hiền khô, tui chịu cái tánh bà bình dân. Người
đẹp phải đẹp cả thể xác lẫn tâm hồn. Tui không ưa cái thứ
son phấn, õng ẹo.
Khỏi cần giải thích tụi tôi cũng biết ông Tám muốn nói xiên
nói xỏ bà Ðịnh, ông Tám không ưa gái Nha Trang và cũng có lẽ
tại ông Ðịnh là bạn cùng khóa mà trên quyền... Cơm nước sẵn
ngày ba bữa sáng trưa chiều, còn bữa tối thì đôi khi tụi tôi
phải làm lấy, khi trung sĩ Ngô không có ở trong trại. Gà vịt
thì nuôi sẵn bên chuồng, cá, cua, tôm hùm thì rộng sẵn dưới
sông muốn ăn lúc nào cũng có. Riêng phần tôm hùm, mấy đứa
có nghề lặn được giao nhiệm vụ đặc biệt: đi bắt tôm hùm
cho chỉ huy trưởng. Mỗi ngày. Vậy mà lớp ăn lớp cho cũng
hết. Không lần nào về Nha Trang họp mà ông Tuấn không mang theo
tôm hùm. Tôm hùm vừa cỡ ăn mới ngon, nhiều con lớn quá, "tôm
biết nói," bằng bắp đùi trở lên thì bị chê, nướng thơm
phức trong lò mà không ai thèm ăn. Trung sĩ Ngô nấu mấy món ăn
kiểu Tây thì hết sẩy, có điều ai cũng phàn nàn là bánh mì
Sông Cầu sao mà cứng quá, hình như chỉ làm toàn bằng bột gạo,
không có bột mì.
Vài tuần sau ông Ðịnh tổ chức đi biển. Hải quân tổ chức
đi biển thì chỉ có đi đảo hoang, bãi hoang chưa người đặt
chân tới. Vậy mới thú, vậy mới thần tiên, cứ tưởng như
mình là chúa đảo. Rau sống bánh tráng làm sẵn ở nhà mang theo,
bia lạnh đã vô thùng đá. Mấy thằng em thì quá rành với việc
đánh cá bằng chất nổ. Dân đánh không được chứ mình đánh
được, bởi vậy phải kiếm chỗ hoang vắng. Phải lựa bầy cá
thật nhiều, thật to mới làm một phát. Một trái lựu đạn MK3
là cá chết ngập mắt cá chân, cá đuôi đỏ. Xúc lên ghe vài
thùng nướng liền tại chỗ, cá tươi ngọt làm sao. Lần đi này
có thêm vợ chồng đại úy Bê, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn
pháo binh, và vợ chồng ông Thân, trưởng chi quan thuế.
Tháng sau ông Ðịnh bỗng nhiên được lệnh đổi về Nha Trang.
Tôi mới tới, ông Ðịnh lại đổi đi, rồi sẽ có sĩ quan thay
thế, hình như ở trong hải quân không ai được ở yên một
chỗ. Ông Tám lên làm chỉ huy phó, tôi làm sĩ quan đệ tam tuy
nhiên công việc của tôi cũng không có gì thay đổi, tôi cũng
chưa có kinh nghiệm chiến trường. Vợ chồng ông Ðịnh đi,
nhường lại vợ chồng tôi căn nhà ngoài phố. Tưởng là thuê
là mướn gì ai dè cũng ở không. Cư xá của quan thuế, cư xá
của ông bà Thân, một dãy nhà gạch năm căn. Nhân viên quan thuế
không có ai thiếu chỗ ở, nên cư xá được nhường cho các
quân binh chủng bạn, hải quân, cảnh sát, pháo binh... Ông bà Thân
ở cái nhà giữa lớn như cái dinh có sân cờ, có cổng vào hẳn
hòi. Ðối diện với khu quan thuế, bên kia đường là nhà của
ông bà đại úy Bê, Lan có thêm bạn để trò chuyện, đi qua đi
lại cũng gần. Lúc này vào dạo hè, dân miền núi hay xuống miền
biển nghỉ mát. Cô Bộ, em bà Bê cũng từ Kontum xuống Sông Cầu
thăm chị, ở chơi vài tuần trước khi nhập học. Lan lại có thêm
bạn bè nữa để trò chuyện. Ngang ngang tuổi, cô Bộ và Lan thân
nhau ngay. Ðặc biệt hơn, sau mấy lần tiệc tùng tại nhà ông
bà Bê, ông Tuấn lại có cảm tình với cô Bộ. Phen này anh chàng
hết dám chọc mình rồi, chọc mình mình chọc lại. Nói vậy chứ
ổng bề gì cũng là chỉ huy trưởng của một đơn vị, chuyện
tình cảm lúc nào cũng kín đáo, dè dặt. Ông Tuấn không bị chọc
mà ông Tám lại bị kết làm đề tài:
- Ông Tuấn bây giờ có nơi có chỗ rồi, giờ chỉ còn mình ông
thôi, kiếm một người nào gần đây đi khỏi phải đi Tuy Hòa chi
cho xa... Cô bán gạo dưới chợ coi cũng được lắm đó, trung
úy.
- Thôi đi ông bà ơi, thôi để tui chịu khó đi xa xa một chút
đi. Ở đây không được đâu, mang tiếng chết. Chỗ này nhỏ,
có gì một chút thiên hạ đồn rùm beng lên, khó làm việc lắm.
- Rồi chừng nào cho ăn đám cưới đây. Lúc này thấy ông đi
Tuy Hòa đều đều, đi hai ba bữa mới về nữa.
- Ði như "đi giải độc" vậy thôi, vợ con gì, cưới hỏi gì.
Rồi cô Bộ và ông Tuấn càng lúc càng khắn khít. Nhanh thiệt.
Cô Bộ muốn ông Tuấn về Kontum một lần cho biết nhà, biết gia
đình nhưng chưa biết làm sao để ngỏ lời. Ngày về cũng gần,
không thể bỏ lỡ dịp may. Rồi không biết ai đề nghị, cô Bộ
và Lan về Kontum trước, ông Tuấn và tôi hai tuần nữa sẽ lên
sau. Gặp lúc đi họp, ông Tuấn đưa cô Bộ và Lan đi Qui Nhơn
ở một đêm rồi sáng hôm sau mới ra bến xe đò về Kontum. Tôi
có bàn với Lan đi như vậy em có làm cản trở tay chân người ta
không. Lan bảo cô Bộ không muốn đi một mình với ông Tuấn, mà
ông Tuấn cũng không muốn như vậy. Cũng được, mình có dịp đi
phép về miền núi. Ðến chừng đi họp về, ông Tuấn đổi ý
không đi Kontum vì bận lo công vụ, nhiều kế hoạch hành quân mới
của Vùng vừa đưa ra phải chuẩn bị thi hành. Sẽ có thêm sĩ quan
bổ nhiệm về đây. Tôi phải đi Qui Nhơn rồi Kontum một mình
để đón Lan về. Lần đầu tiên qua đèo An Khê, lần đầu tiên
đi qua Pleiku phố núi, "phố núi cao, phố núi đầy sương... đi
năm phút, trở về chốn cũ"..., lần đầu tiên đến Kontum.
Cũng may là ba của cô Bộ làm xếp ở văn phòng Air Việt Nam nên
tôi cũng dễ tìm một chút. Cô Bộ buồn, khóc, trách ông Tuấn
quá chừng khi thấy tôi đến có một mình. Chẳng làm gì khác
hơn được, Lan và tôi được dịp đi thăm thành phố có cái
nắng chang chang nhưng lành lạnh này. Còn nhớ chợ Kontum, còn
nhớ dòng sông Dak Bla, còn nhớ ký túc xá Bok Kiom, và còn nhớ
những làng thượng với những mồ mả có hàng rào cây tạc hình
đầu người. Rồi phút chia tay cũng đến, ai muốn gửi lời
thăm, lời nhắn nhủ, lời dặn dò? Hẹn rồi sẽ có ngày gặp
nhau. Hẹn rồi sẽ thư từ qua lại. Chúc tụng nhau những gì thật
ân cần, thật tốt đẹp... Ðến Qui Nhơn thì trời cũng về
chiều. Còn chuyến xe lam cuối cùng về Sông Cầu. Tôi còn hỏi
lại cho chắc:
- Liệu có về kịp không bác tài.
- Kịp mà.
Không ngờ gặp chiếc xe chạy như rùa bò, chạy hoài không thấy
tới đâu hết. Mặt trời chếch bóng, rồi mặt trời lặn. Vài
ánh nắng chiều thoi thóp. Không cách gì về kịp, phải chiếc xe
khác thì chắc đã tới mất tiêu rồi. Hành khách đã xuống
hết dọc đường chỉ còn hai đứa tôi ngồi bó gối. Trời một
lúc một tối thêm, xe bật đèn, chạy được một lúc thì ngừng
lại cạnh cái quán cóc bên đường.
- Mời cô bác xuống xe.
- Sao vậy? Chưa tới mà!
- Không đi được nữa, đi đêm đoạn này nguy hiểm lắm. Ngủ
lại đây.
- Ngủ chỗ này sao được, tụi này đâu có quen ai ở đây. Ðây
là đâu rồi?
- Tuy Luật Hòa.
Chưa từng nghe qua, chưa từng biết tới. Sao có chuyện này
được, bác tài này ác vừa vừa thôi chứ. Tụi tôi chần chờ
chưa chịu xuống, thì hắn ta tiếp luôn:
- Muốn đi theo tôi thì đi, ở đây thị tứ còn đỡ chứ theo
tui thì càng nguy hơn.
Chẳng lẽ thằng cha này là Việt Cộng nằm vùng, là giao liên
thành phố cũng không chừng. Chúm được mình thì lập công to
với Bác và Ðảng rồi. Không được, tôi kéo Lan xuống xe, vào
quán uống nước nghỉ xả hơi trước, rồi hỏi thăm tình hình
sau. Tuy Luật Hòa, Tuy Luật Hòa là đâu. Chiếc xe lam chạy theo
quốc lộ 1 một đỗi rồi quẹo về phía biển mất dạng. Gặp
thằng Mỹ làm hãng thầu RMK, hắn hiểu hoàn cảnh và mời hai
đứa tôi về chỗ nó ở, ngủ qua đêm. Ðâu có được, cũng
đâu có tin thằng Mỹ này được. Cám ơn lòng tốt của nó, tôi
còn Lan, còn vợ con phải bảo vệ. Phải nhờ bà chủ quán chỉ
đường vô văn phòng xã. Khỏi phải lo, chờ một chút, chờ
thằng Mỹ về, đóng cửa quán rồi đi luôn. Từ quốc lộ vô
xã cũng xa, băng qua mấy nhà kho của Mỹ và một đơn vị Ðại
Hàn. Tại văn phòng xã anh em nhân dân tự vệ súng ống hẳn hòi
đang tập họp để chuẩn bị phân nhóm đi canh, đi kích. Ai cũng
từ chối khéo. Nước cùng tôi vọt miệng nói với người
trưởng đoàn:
- Thôi, làm ơn cho tụi tui ngủ tại văn phòng này đi.
- Không được đâu, tôi khóa cửa và về ngay bây giờ... À,
đâu để tôi dẫn chú em lại nhà thiếm ba coi.
Bây giờ đi đâu cũng được, tới đâu tính tới đó, hi vọng
gặp hên. Thêm một đổi quanh quanh quẹo quẹo trong xóm, chúng tôi
đến một dãy nhà lá cất rời nhau từng cái một, nhưng cái
này khít khít cái kia như thiếu đất.
- Thiếm ba ơi?
- Ai đó.
- Tui đây.
Nghe tiếng người quen thiếm ba mở cửa, cánh cửa bằng lá
được đẩy lên trần, cửa mở như kiểu mở cửa garage.
Người đàn ông phân trần hoàn cảnh thay cho hai đứa tôi.
Thiếm ba hiểu ý trả lời:
- Cũng được.
Ngọn đèn dầu không đủ sáng, leo lét soi lờ mờ khắp căn nhà
như có một phòng. Phòng khách có cái bàn và mấy cái ghế,
phòng ngủ có cái giường phía bên kia, phòng ăn nhà bếp thì
cũng có mấy ông táo nằm đó. Vậy rồi phòng khách đâu, mình
ngủ ở đâu. Thiếm ba chỉ cho cái ghế bố để dựa bên vách.
Mới bước vào nhà là đã nghe mùi đàn bà đẻ rồi nhưng chưa
dám chắc, đến lúc thấy bộ đi, tướng đứng của thiếm ba
như học trò lễ mới biết là mới sanh, non ngày non tháng. Tôi
nhảy lại bê cái ghế bố trải ra gọn gàng như của mình. Cái ghế
bố nặng quá chừng mà không thấy gì mệt nhọc. Thiếm ba lấy
đưa cho tôi một cái mền mới rồi chun vô mùng với đứa nhỏ
chẳng nói thêm tiếng nào.
- Chị muốn tắt đèn hay để đèn?
- Chú muốn tắt cũng được.
Ðàn bà ở một mình, chắc thiếm ba để đèn sáng đêm, bữa
nay có khách khỏi phải lo. Tôi thổi đèn, bóng đêm chợt phủ
trùm, đen như mực. Mò mẫm lại ghế bố nằm, tôi tung mền
đắp bít chân bít đầu cho cả hai. Tôi biết Lan muốn trách tôi
tại sao không ở lại đêm ở Qui Nhơn để khỏi phải gặp cảnh
trắc trở như vầy nhưng nàng không nói được. Bây giờ phải
im lặng và ngủ thôi, làm ồn ào con thiếm ba thức thì lại càng
không ổn. Nói vậy mà nửa đêm thức giấc hai đứa thì thào và
làm đủ trò trong chăn mà chẳng thấy thằng nhỏ giật mình. Tờ
mờ sáng thức dậy, không cần đánh răng rửa mặt, cám ơn
thiếm ba rối rít đặng đi về. Thiếm ba cũng ừ hử ở trong
mùng mà không thèm bước xuống đất. Cửa không khóa, mở lên
xập xuống là hai đứa đã bước vào với thiên nhiên, không
khí trong lành của buổi sáng. Cứ theo con đường duy nhất của
xóm mà đi thì gặp đường cái, rồi theo đường cái ra quốc
lộ 1. Bây giờ mới có dịp nhìn lại cảnh vật hai bên đường
đêm rồi mình đã đi qua. Tất cả như khác lạ. Ra đến quán
thì thấy mấy chiếc xe lam chạy sớm đã đậu thành hàng. Chỗ
này lại là bến xe? Hai đứa nhảy lên chiếc đậu đằng
trước. Bác tài chờ khoảng mười phút không thấy ai nữa thì
rồ máy chạy. Không ngờ từ Tuy Luật Hòa xuống Sông Cầu đâu
có xa, thêm chiếc xe chạy như gió. Về ngang duyên đoàn chưa
đến tám giờ, chưa đến giờ làm việc, Lan và tôi về nhà
tiếp tục ngủ, chuyện "báo cáo tình hình Kontum" cho ông Tuấn hà
hồi phân giải, thiếu chút nữa bị thiên hạ bắt cóc rồi...
Một tháng sau chuẩn úy Tâm đổi tới đơn vị. Tâm còn trẻ, ít
nói, lại không ưa hải quân, bảo là bị hải quân bạc đãi. Từ
Thủ Ðức chuyển sang, không được mang danh hiệu hải quân trung
úy, hải quân thiếu úy như các sĩ quan xuất thân từ trường hải
quân, mà gọi là chuẩn úy chiến binh. Chiến binh viết tắt là
CB. Hạ sĩ quan và đoàn viên hải quân lại không ưa sĩ quan chiến
binh gán hai chữ "Cán Búa" thay cho chữ CB... Chuẩn úy Cán Búa...
Tôi có trách nhiệm hướng dẫn và bàn giao chức vụ sĩ quan kỹ
thuật và chiến tranh chính trị cho Tâm. Tôi làm một lần phát
quà thiệt lớn và dẫn Tâm đi theo. Khu phát quà nằm dưới
miệt Gành Ðỏ, khu nổi tiếng có nhiều Việt Cộng. Nhân viên
ban hai cũng thừa cơ hội này đi theo để dò la tin tức. Sĩ quan
có trung úy Alexander, Tâm, và tôi, hạ sĩ quan có trung sĩ nhất
Dương phụ tá ban chiến tranh chính trị, trung sĩ Ninh y tá, và
một lô thủy thủ đoàn. Quà cáp chuyến này mang theo gấp đôi
số lượng. Tất cả dồn lên chiếc "chủ lực," loại ghe lớn của
hải quân. Vừa vào vịnh đã thấy một bãi cát thật dài, rồi
cát và rau muống biển xen lẫn nhau trông như một đồng cỏ xanh
bao la, xa tít. Ðến bìa rừng mới có tàn cây bóng mát, có lẽ
vì vậy mà không ai cất nhà ngoài bãi trống này. Dương và tôi
đến trụ sở ấp trước tiên, một ngôi nhà lá lụp xụp vừng
ba phía vách để trống mặt tiền và bên trong có kê một cái
bàn và lỏng chỏng mấy cái ghế đẩu. Nhân viên ban hai mới lên
đã phân tán mỏng vào xóm, hình như tụi nó đã từng ăn dầm
nằm dề ở đây. Ðường ngang đường dọc, hẻm hóc chằng chịt
trong bụi lá rừng cây. Dân chúng tề tựu về trụ sở ấp càng
lúc càng đông, người nào cũng trông lê thê, lếch thếch. Quà
tâm lý chiến cất lên xong thì ông trưởng ấp cũng chỉ thị ông
"tà-la," mang ống loa đi phát động khắp vùng. Ông tà-la đi theo
đường mòn lên xóm trên, vừa khuất dạng được một lúc thì
nghe một loạt đạn nổ chát chúa, tôi hỏi:
- Cái gì vậy Dương, ai nổ súng mà chưa có lệnh bậy bạ như
vậy?
- Dạ, chắc không có gì lạ đâu.
Anh hạ sĩ đứng kế bên vọt miệng:
- AK nổ đó thiếu úy, không phải mấy thằng em mình đâu.
Tôi cũng chưa rõ tiếng súng AK khác với tiếng súng M 16 của
mình ra sao. Chưa nghe loạt thứ hai, chưa biết được. Tôi bảo:
- Sao chỗ này kỳ vậy Dương. Anh kêu anh em tập họp hết về ngay
đây cho tôi.
- Dạ.
Nhìn đi nhìn lại chỉ có Dương, Ninh, một hạ sĩ và ba thủy thủ
lẫn lộn trong đám dân, còn bao nhiêu đi đâu mất hết. Tôi có
linh tính như đi chuyến này không yên, nhứt quá tam, hai lần
trước phát quà vùng Từ Nham, Cù Mông thật là tốt đẹp. Xong
việc rồi còn tiệc tùng với dân trong ấp, còn nhớ món gỏi
"cá suốt" đặc biệt, những ngôi nhà xây bằng đá ong và đám
dân hiền lành chất phác... Ông tà-la chạy như chạy cà nhắc
trở về trụ sở ấp, nhưng không phải chân mà là tay, cánh tay
trái ôm cánh tay phải xụi lơ, không cử động, máu me thấm đỏ
làn vải đen, mặt mày nhăn nhó:
- Du kích về nữa rồi. Tôi bị bắn sẻ.
Ninh để ông tà-la ngồi xuống ghế băng bó vết thương, đạn
đi giữa bắp tay trên, chắc trúng xương. Mấy thằng em nghe
tiếng súng lạ cũng đã tự động qui tụ về, M 16 lên đạn nghe
lách cách. Tôi cũng rút khẩu Colt 45 lên đạn.
- Còn chuẩn úy Tâm và trung úy Mỹ đâu?
- Chưa thấy lên, chắc đang đi giữa đường.
- Dương, kêu anh em rút ra bãi thôi. Mình không rành địa thế,
ở đây bất lợi.
- Thiếu úy đi trước đi, tôi cho tụi nó sắp xếp đồ đạc
rồi tôi đi sau.
Ông tà-la, Ninh, và vài ba đứa nữa theo tôi, còn phần đông ở
lại với Dương. Gần đến bãi mới gặp Tâm và Alexander. Thằng
Alexander thấy ông tà-la bị thương, thấy máu, rồi mặt mày tái
dần tái dần xanh như tàu lá. Hắn im lặng rút khẩu Colt 45 lên
đạn sẵn rồi để vô bao trở lại. Tôi yêu cầu nó gọi trực
thăng tải thương. Nó làm nhiệm vụ và cho biết trực thăng sẽ
đến trong vòng hai mươi phút, bây giờ mình phải chọn bãi đáp
và bảo vệ bãi đáp. Bãi cát trống này đáp đâu chẳng được,
tầm đạn Việt Cộng trong bìa rừng cũng bắn không tới. Chuyện
này dễ. Ông tà-la được để lên băng ca lúc nào tôi không hay,
sắc mặt biến đổi, mất hết thần khí. Dương và đám nhân
viên còn lại khệ nệ khiêng mấy bao bột mì, mấy bành áo quần
cũ trở ra bãi. Tôi cằn nhằn:
- Bỏ cha nó trong đó cho rồi, khiêng tới khiêng lui chi cho mệt.
- Ðể dành cho chuyến tới, thiếu úy, khỏi phải báo cáo tổn
thất.
Tôi kêu Dương sắp xếp nhân viên làm vòng đai phòng thủ cho bãi
đáp. Hơn hai mươi phút rồi, không thấy máy bay. Thằng Alexander
check lại mới biết hai mươi phút nữa, tình trạng này chỉ nằm
ưu tiên hai. Hai mươi phút nữa rồi cũng đến. Khói màu thả
lên làm hiệu. Trực thăng lượn một vòng rồi đáp xuống,
băng ca đưa vào, bốc lên bay đi lập tức... Trong khoảnh khắc
dồn dập này tôi bất thần nhìn ra biển thấy ghe duyên đoàn
xuất hiện chạy ào ào vào vịnh, một chiếc, hai chiếc, năm
chiếc, rồi hình như cả hải đội của duyên đoàn. Sao có chuyện
gì kỳ lạ vậy. Phút chốc đoàn chiến đĩnh vào tới nơi. Quan,
lính nhảy xuống nước, súng dơ ngang đỉnh đầu lội vào bờ,
đổ bộ, đổ bộ như trong phim "The Longest Day". Tôi lội ra tiếp
ông Tuấn và đại úy Pine:
- Sao commandant xuống đây?
- Thì chuẩn úy Tâm báo cáo anh đang đụng Việt Cộng, đang kẹt
giữa đường, tiến vô đất liền không được mà rút ra bãi
cũng không xong.
Bấy giờ tôi mới để ý là không thấy thằng Tâm ở đâu
hết. Không ngờ nó lội ra ghe còn lên máy báo cáo bậy bạ.
Ðến giờ cũng chưa thấy ló đầu ra. Tôi giận:
- Tôi đâu có ra lệnh cho nó làm cái gì đâu. Cái thằng mất
dạy này.
Tôi tường thuật mọi sự cho ông Tuấn, chuyện cũng chẳng có
gì là quan trọng. Ông Tuấn cho biết ổng đã hiểu rồi, thằng
Tâm đã báo cáo lại, nhưng lỡ đi rồi nên xuống đây luôn.
Ðại úy Pine, trước khi lại tiếp chuyện với thằng Alexander,
đến bắt tay tôi mỉm cười:
- Ðây là một kinh nghiệm tốt cho thiếu úy.
Tôi mím môi gật đầu, gật đầu.
Chuẩn úy Tâm bắt đầu đảm nhiệm chức vụ sĩ quan kỹ thuật
và chiến tranh chính trị, còn tôi bắt đầu tham gia vấn đề
hành quân tuần tiễu. Một vài lần kích đêm trong vịnh khi có
tin tình báo cho biết Việt Cộng bè vũ khí từ biển lên núi.
Ðại úy Pine cũng thích đi kích với tôi, hắn lại thích trực
những ca khuya để nhìn "starlight scope", vũ khí mới mới trang bị
cho duyên đoàn. Chưa có lần nào tôi bắt được bè.
Phần hành quân của tôi không gì trở ngại lắm, chỉ thỉnh thoảng
bỏ Lan ngủ một mình, nhưng phần chiến tranh chính trị của Tâm
thì không ổn chút nào hết. Chuyện gì thằng Dương cũng lên
báo cáo với tôi mà coi chuẩn úy Tâm như không có, tôi rầy hoài
cũng vậy. Thằng có bệnh kỳ thị "sĩ quan cán búa" rất nặng.
Tôi đứng giữa giải thích cho hai đứa biết thế nào là truyền
thống, trách nhiệm, bổn phận và có lần đề nghị với ông
Tuấn cho hai đứa làm hai ngành khác nhau. Ông Tuấn nói để coi
lại, coi lại, rồi chần chờ cũng chưa có gì thay đổi. Cho đến
ngày Thanksgiving, trong lúc ông Tuấn và đại úy Pine đi họp, ông
Tám đi chơi ở Tuy Hòa, Lan và tôi trên đường vào trại vì tình
hình lúc rày hơi động không dám ngủ ngoài, vừa bước ngang cửa
câu lạc bộ hạ sĩ quan và đoàn viên thì nghe mấy tiếng súng
nổ chát chúa bên trong. Tôi bảo Lan về phòng trước để tôi
bước vào xem sao. Thằng Tâm bắn thằng Dương, có ba phát trúng
vô người, một vô bụng, một vô bắp đùi, và một vô bắp
chân. Dễ sợ chưa. Thằng Tâm chạy biến đâu mất, đám hạ sĩ
quan nóng lòng bạn, đòi kiếm thằng Tâm trả thù. Tôi hết hồn
kêu ông thượng sĩ quản nội trưởng tập họp tất cả nhân viên
ra tuốt ngoài nhà tiền chế, giữ tất cả ở đó, và chờ lệnh
mới. Vợ thằng Dương và mấy bà trong cư xá hạ sĩ quan túa ra,
lớp khóc, lớp la, lớp chửi. Thằng Alexander có mặt tại đó
lại chạy đi kêu trực thăng. Tôi hỏi Ninh câu chuyện đầu đuôi
ra sao, Ninh trả lời:
- Tụi tôi đang nhậu thì chuẩn úy Tâm và trung úy Mỹ đến cho
biết sẽ chiếu phim cho anh chị em coi. Thằng Dương phản đối
chuẩn úy Tâm nói đi chỗ khác chiếu phim chỗ này chỗ nhậu,
tắt đèn đổ rượu vào lỗ mũi sao. Chuẩn úy Tâm bỏ đi, không
ngờ một lúc sau ổng trở lại với cây Colt và bảo thằng Dương,
tôi ra lệnh cho anh đi chỗ khác nhậu chỗ này chỗ chiếu phim.
Thằng Dương đứng dậy nói, chuẩn úy muốn bắn tôi hả, rồi
dang hai tay banh ngực, nè chuẩn úy có ngon bắn tôi đi. Chuẩn
úy Tâm lên đạn nói, anh bước thêm một bước nữa là tôi bắn.
Thằng Dương bước tới là ổng bắn.
Tôi bước lại băng ca kéo mền coi vết thương rồi đấp lại cho
Dương. Máu ra nhiều quá. Dương run rẩy thì thào:
- Tôi lạnh quá thiếu úy.
Trực thăng tới tức thì và anh em phụ đưa băng ca ra ngay. Vợ
thằng Dương trao thằng nhỏ trên tay cho bà đứng kế bên leo lên
trực thăng theo chồng. Viên đạn vô bụng thấp quá, sợ trúng
bọng đái, khó sống... Tôi trở về khu sĩ quan tìm Tâm chẳng
thấy nó trong phòng. Chạy qua khu cố vấn Mỹ thấy nó trong phòng
trung sĩ Mập. Tôi chưa có câu nào thuận tiện để nói, tôi im
lặng thì Tâm mở lời:
- Thiếu úy, tôi không hiểu tại làm sao tôi lại hành động ngu
dại như vậy. Cuộc đời tôi như đã tàn.
- Chuyện lỡ xảy ra rồi, không thể nào kéo lại được. Hãy
nghĩ đến chuyện sắp đến thôi. Hi vọng thằng Dương nó không
sao. Mình lo trấn an tụi lính và chờ chỉ huy trưởng về mới
tính được.
Tâm bỗng nhiên nhảy lại chụp cây M 16 treo trên vách ôm vào
lòng. Tôi la lên:
- Tâm, anh làm gì vậy.
- Tôi phải có cây súng mới được, thiếu úy. Tôi phải bảo
vệ tôi.
- Anh ở đây là an toàn rồi. Tôi không để ai hại anh đâu.
Trung sĩ Mập tiến lại, từ tốn:
- Ðưa nó cho tôi, làm ơn.
Tâm biết mình không thể giữ súng của người khác được, trù
trừ một lúc rồi đưa súng cho thằng Mập, rồi ôm mặt khóc...
Cũng may, lúc đó ông Tám bỗng nhiên ở đâu bang bang về. Tôi
mừng hết sức, nói cho ông Tám biết sơ sơ câu chuyện và điều
quan trọng là đám lính vẫn còn tập họp ngoài nhà tiền chế.
- Ðược rồi. Ðể tôi lo.
Ðêm đó, ai cũng trải qua một đêm phập phòng. Sáng sớm hôm sau
ông Tuấn và đại úy Pine về đơn vị. Tôi để ông Tám báo cáo
hết mọi việc xảy ra ở nhà và tôi chuẩn bị đi Qui Nhơn thăm
thằng Dương. Không ngờ nó còn sống, còn nói đùa với tôi vài
câu. Bác sĩ giải phẫu cũng lẹ, chai nước biển vẫn còn treo,
dây nhợ chằng chịt. Tôi mừng cho nó, cho gia đình vợ con nó.
Tôi bảo tôi sẽ còn ra thăm nó nữa và tôi phải trở về Sông
Cầu trong ngày. Tôi lại đi thăm thằng Tâm, đang bị nhốt ở
nhà giam của ban quân cảnh tư pháp. Tôi cho nó biết thằng Dương
chưa chết, nhưng hình như nó chẳng màng về việc chết sống
của thằng Dương. Nó nhắn tôi làm sao cho gia đình nó hay và
biên cho tôi cái địa chỉ ở khu Hàng Xanh, Gia Ðịnh. Tôi hứa tôi
sẽ làm điều này cho nó.
Tuần sau, thêm một vụ làm chấn động dư luận nữa. Thằng
Dân, một nhân viên của duyên đoàn đi ngủ đêm với điếm,
không hiểu vì tư thù hay vì Việt Cộng, bị ném lựu đạn vô
phòng nổ banh xác. Ðâu ngờ cái quận lỵ nhỏ nhoi này cũng có
gái điếm. Rồi vợ con nó từ Sài Gòn cơm ghe bè bạn ra hốt
xương chồng, khóc, kể lể đủ điều, ông Tuấn cũng rầu thúi
ruột.
Hai vụ khủng hoảng liên tiếp làm tinh thần binh sĩ trong duyên
đoàn xuống dốc kinh khủng. Ði đâu cũng thấy tụm năm tụm ba
bàn tán, không ai muốn làm việc. Cái thời vàng son như đã qua,
những ngày êm đềm như đã mất. Ông Tuấn có ý định xin đổi
đi chỗ khác, nhưng tôi lại đi trước ông Tuấn, tôi có lệnh
đổi về trường Cây Mai học lớp tình báo, cách đó mấy hôm.
Tôi mừng, Lan cũng mừng. Mình ra đi cũng vừa đúng lúc. Tiệc
tiễn đưa tụi tôi cũng đủ mặt bạn bè. Ai cũng chúc may mắn,
thành công. Còn nhớ ông Tuấn cho tiền mua vé máy bay, ông bà
Thân cho ba cái áo len, một cho Lan, một cho tôi, và một cho đứa
bé trong bụng. Lan có bầu. Ngày đi Lan và tôi còn ra miếu Thổ
Thần cúng vái giã từ, cũng như hồi tụi tôi mới tới. Cầu
nguyện cho duyên đoàn, cho những người ở lại được bình yên.
Hai đứa đi xe đò về Nha Trang rồi mới đáp Air Việt Nam về
Sài Gòn. Phải cho Lan biết Nha Trang, nơi mà hầu hết những sĩ
quan hải quân truyền thống đã được đào tạo.
Cứ nghĩ như không còn dịp nào để trở lại miền Trung. Mà
thật đúng như vậy. Mấy năm trước 75 còn gặp thiếu tá
Tuấn, cũng còn độc thân, đổi về làm trưởng phòng Tâm Lý
Chiến ở bộ tư lệnh Hải Quân. Rồi nghe đâu ông đổi về làm
chỉ huy trưởng "chấm," một "task force" thuộc lực lượng Trung
Ương, trong vùng Tuyên Nhơn, Ðồng Tháp Mười trước khi mất
nước. Còn gặp vợ chồng đại úy Ðịnh và ba bốn con nhỏ ở
Bình Thủy, Cần Thơ, trên đường thuyên chuyển về lực lượng
Thủy Bộ, Năm Căn, Cà Mau. Còn gặp lại ông Tám, một nhóc tì
và vợ mang một bụng bầu ở trại Fort Chaffee, Arkansas. Có lẽ
không bao giờ gặp lại thằng Tâm, cô Bộ, ông bà Bê, ông bà
Thân... Cũng không bao giờ gặp lại đám cố vấn Mỹ... Cho Lan,
cho tôi, sáu tháng Sông Cầu như hai mươi bốn tuần trăng mật.
Tình nào đẹp cho bằng tình mới cưới...
***
>
"- Ðáng lý ra em phải gọi anh bằng chú, ba em, ông Thân như anh
>
kể đó, bây giờ sa sút lắm rồi. Ba em phải xuống ghe đi
>
đánh cá mà sống qua ngày.
>
>
Hoàng nhìn Nghề trố mắt. Con của ông bà Thân? Không lẽ thằng
>
nhóc chạy lững cững ngày đó bây giờ lớn như vầy? Hoàng
>
chợt nói như đang mơ:
>
>
- Phải thật em là con của anh chị Thân không? Ở Sông Cầu chỉ
>
có một ông Thân quan thuế thôi.
>
>
- Ba em đó.
>
>
- Có hai đứa con, một trai một gái.
>
>
- Bốn đứa lận, hai trai hai gái. Hai đứa nữa chắc anh không
>
biết đâu...
>
>
... Chuông điện thoại bỗng reo vang, Nghề vội vã nói tiếp:
>
>
- Vợ em kêu nữa rồi. Anh nói là em mới rời đây chừng năm
>
phút. Thôi em về, dịp nào em sẽ mời anh chị lại nhà chơi.
>
Trời, bớn giờ sáng rồi.
>
>
Nghề và Thành bước ra khỏi cửa, Hoàng đầu óc lâng lâng,
>
rã rời, ngã người lên sofa..."
>
-----------------------------------------------------------------------
VĂN HỌC
-----------------------------------------------------------------------
11. Văn-Minh Ðông-Á
by Yên-tử cư-sĩ Trần Ðại-Sỹ
trandais@MicroNet.fr
(Tháng 9-1996...
Thân tặng các cháu Lâm Diễm-Hồng (TN),
Nguyễn Lộc- Quy (PA), Hoàng Lan (GA), Trần
Quỳnh Kim-Ngân (KY), Mai-thị Huyền-Trang (TN))
__________
>
Lời ngỏ của tác giả
>
Tôi không có tài viết báo, lại cũng không thích viết báo.
>
Những bài mà tôi gửi cho các báo thân hữu thường là những
>
bài:
>
- Diễn văn, tại các trường đại học Văn-khoa.
>
- Diễn giảng tại đại hội các bác sĩ về khoa Vu-sơn học
>
(Sexology).
>
- Một vài bài diễn văn tại các viện nghiên cứu lịch sử.
>
- Khoa học huyền bí (Tử-vi, Ðịa-lý, Thiên-văn, Lịch-số).
>
>
Tất cả những bài trên nội dung nghiên cứu về lịch sử, về
>
văn học, về y hoc. Chưa từng có một bài nào về chính trị,
>
hay thời cuộc. Vì tôi tự biết mình dốt chính trị. Người
>
thợ giầy đừng đi quá đầu gối. Nên không bao giờ viết về
>
loại này.
>
>
Thế nhưng tại sao, lại có rất nhiều bài văn chả ra văn, lý
>
luận ngớ nga ngớ ngẩn đăng trên một số báo ở Hoa-kỳ mang
>
tên tôi? Thưa người ta mạo danh tôi, chẳng biết với mục đích
>
gì? Dưới đây là một bài duy nhất, triết luận về thời
>
cuộc, tôi viết sau khi dự đại hội Về-nguồn tại tiểu bang
>
Tennessy, Hoa-kỳ năm 1996. Ðộc giả đọc để biết lối văn hài
>
hước, mà tôi thường dùng trong những bài diễn giảng.
__________
Tôi có ông anh họ sống ở bang Texas, năm nay ông đã đi vào cái
tuổi cổ lai hy (70). Ổng viết thư rủ tôi sang Mỹ chơi. Sau khi
kể hết nguồn cơn về những đảo lộn trong cuộc sống ở xứ
người, ông kết luận: Hồi đầu thế kỷ này, trước những
thay đổi của xã hội Việt-Nam, thi-sĩ Trần Tế-Xương than:
Nhà kia lỗi đạo con khinh bố,
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.
Thi sĩ Tản-Ðà cũng than:
Văn-minh Ðông-á trời thu sạch,
Nay lúc cương thường đảo ngược ru?
Anh nghĩ, nếu có phép tắc nào gọi hồn cụ tú Xương, thi-sĩ
Tản-Ðà, rồi mời các ngài ngao du một vòng Mỹ, Âu, Úc, thăm
những gia đình Việt-Nam; chắc chắn các ngài sẽ lắc đầu:
thôi cho tôi trở lại âm-phủ, chứ nhìn dương gian thế này, tôi
lại chết một lần nữa vì kinh khiếp.
Mùa hè năm nay 1996, đáp lời ông anh đó, tôi làm một chuyến
Mỹ du. Sau khi đi thăm 10 tiểu bang, tôi dự trại hè Về-nguồn
tại Lexington, bang Tennesse Hoa-kỳ từ 30 tháng 8 đến 3 tháng 9, của
450 người trẻ Việt đến từ 11 tiểu bang; để tìm hiểu thêm
về đời sống lứa đôi trên đất Mỹ. Nhân các cháu Diễm-Hồng,
Hoàng-Lan, Quỳnh-Ngân, Lộc-Quy, Huyền-Trang hỏi tôi về xã hội
người Việt ở Pháp, tôi viết bài này.
Biết rằng văn mình không hay, suy tư lại gàn dở, tôi tự hứa
rằng loạt bài này như cái máy hình thu đời sống người Việt
ở Pháp trong giai đoạn mới. Biết đâu, hậu thế trăm năm sau,
có người muốn biết xã hội người Việt đổi đời từ văn
minh Ðông-á sang văn minh Gaulois (1) có những gì xẩy ra, còn có
chỗ mà tìm. Bài đầu tiên xin lạm bàn chung về tình nghĩa vợ
chồng, tình yêu đôi lứa ở Pháp, nhưng cũng xía qua ở Úc, ở
Mỹ đôi chút. Rất mong không bị chư vị hiền nhân quân tử có
chi phật lòng, xin đánh cho chữ đại xá.
Nhất nam viết hữu,
Thập nữ viết vô.
Hồi chín mười tuổi, tôi học chữ Nho cùng với những người
lớn hơn mươi, mười lăm tuổi. Cái ông anh họ rủ tôi Mỹ du,
hơn tôi một con giáp. Ở trường Tây anh ấy đang học thi tú tài,
trong khi tôi mới học lớp ba (cours élémentaire). Nhưng học chữ
Nho ở nha,` thì tôi đã đuổi kịp, và học cùng với anh. Một
lần, đêm trước ảnh đi chơi với đào ở Cổ-ngư (2), không học
bài, hôm sau trong giờ học Luận-ngữ (3), anh bị ông tôi truy, ảnh
nghệt mặt ra không trả lời được. Lập tức cụ gọi tôi đứng
dậy giảng cho ảnh. Khi nghỉ trưa, tôi dương dương bộ mặt tự
đắc, anh tức lắm, kéo tai tôi ra chỗ vắng rồi hỏi:
- Mày tưởng mày giỏi lắm sao? Ban nãy ông có nói đến câu
Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô. Vậy câu này nghĩa là
gì?
Tôi vẫn vênh mặt lên:
- Dễ quá, khi có một con trai, cũng coi như có con. Còn khi có
mười con gái, thì coi như không có con nào. Tổng chi có nghĩa
một con trai quý hơn mười con gái.
Ông anh họ ký vào đầu tôi:
- Mày hiểu như vậy là khuyển nho, cẩu nho, tặc nho, biết không?
- Thế câu đó nghĩa là gì?
- Câu đó phải hiểu rộng hơn: con nào chả là con. Con gái, con trai
đều mắm sốt như nhau. Mày không biết đấy, ở bên Tây con
gái còn được chiều chuộng hơn con trai nhiều. Sau này lớn lên
vào trung học mày sẽ được học. Tao thì tao cho câu trên các cụ
có ý chỉ: một con trai thì vưỡn là có cái đó còn mười hay
trăm con gái cũng không có cái đó hiểu không? Mày thì mày lại
cho rằng con trai có giá hơn con gái hẳn? Mày sai rồi, bọn đàn
ông chúng mình thối tha, sao so với các cô thơm như hoa lan, hoa
huệ. Tục ngữ nói: Một trăm con trai không bằng cái trai con
gái. Nhớ chưa?
Tôi cãi:
- Tục ngữ cũng nói: Một trăm con gái, không hòn dế con trai
đó sao?
Ông anh cốc vào đầu tôi:
- Mày ngu quá đi. Sau này lớn lên, mày sẽ hiểu hết ý nghĩa
câu đó.
Ngày tháng thoi đưa, năm nay tôi sang Mỹ chơi, thăm ông. Nhân mấy
đứa cháu tụ tập nhờ tôi giảng giải về cái gọi là ga-lăng
(chiều phái đẹp) của xứ Tây. Sau khi tôi giảng xong, ảnh phang
ngay một câu:
- Ngày xưa, ta bảo sau này chú mày sẽ hiểu rõ ý nghĩa câu Nhất
nam viết hữu, thập nữ viết vô. Bây giờ chú mày chịu thua ta
chưa?
Tôi ngớ mặt ra, vì không ngờ ông anh tôi nhớ dai thế. Ông
đắc thế phang tiếp:
- Chú thấy không? Người xưa cụ thể lắm. Một con trai, dù sao
xẻo đi cân cũng được vài lượng. Còn mười con gái, làm đếch
gì có cái nhô ra mà xẻo? Hồi còn nhỏ chú mày cứ cãi lý về
giá trị nam, nữ. Bây giờ tao hỏi chú mày, bên Tây, liền ông
đứng hàng thứ mấy?
- Nước Pháp là nước liberté, égalité, fraternité. Nam nữ bình
quyền.
- Không phải. Tao nghĩ chúng mình đếch có chút giá trị nào cả,
thua liền bà là cái chắc rồi, thua cả con quýt, con vện, con tu
tu nữa. Tao nghe người bên Tây đánh giá trị như sau: nhất đàn
bà, nhì trẻ con, ba chó, bốn đến liền ông như anh em mình.
- Anh hiểu lầm rồi! Câu đó phát xuất từ các kinh tế gia.
Một người đàn bà tốn tiền gấp đôi trẻ con. Nuôi một đứa
trẻ đắt gấp ba nuôi chó. Nuôi một con chó đắt gấp rưỡi
nuôi một đàn ông.
Ông anh tôi cáu quá, chỉ tay vào trán tôi:
- Mấy năm nay ta cứ thắc mắc mãi rằng vợ chú qua đời mười
năm, mà tại sao chú mày chưa kiếm ra bà nào để hú hí, trong khi
địa vị có, sức khỏe dư thừa! Hỡi ơi! Này, chú mày mà còn
nghĩ như thế thì mười kiếp sau cũng không lấy được vợ. Nam
nữ bình quyền là lý thuyết. Tao hỏi chú mày, nếu lỡ ra có anh
chồng nào bợp tai vợ một cái, thì lập tức nó bấm số 911.
Cảnh sát sẽ tới làm biên bản, rồi giam cổ vào tù, rồi con vợ
có quyền đem chồng ra tòa. Nhưng nếu có anh chồng nào bị vợ
cho ăn củi tạ, mà chạy ra trình cảnh sát, thì cảnh sát sẽ chở
anh ta đi tìm bác sĩ thần kinh ngay. Có đúng thế không?
Tôi tịt ngòi, ngồi im.
Ông anh tôi lại tiếp:
- Nếu bây giờ có cặp vợ chồng nào bỏ đứa con ba, bốn tuổi
lêu bêu trên đường phố, hoặc để ở nhà một mình. Người
ta kêu phú-lít là cặp vợ chồng đó ở bất cứ nơi nào trên
đất Mỹ, họ sẽ tìm ra và bắt phải về giữ trẻ ngay. Nhưng trên
đất Mỹ, có hàng trăm triệu anh đực bị vợ bỏ đói ở nhà, bỏ
lêu bêu ngoài phố, có ai thèm chiếu cố đến đâu? Có đúng
không?
Tôi gật đầu.
- Nếu khi đi trên phố, chú mày thử đá con chó một cái, lập
tức bị người ta xúm vào mà nguyền rủa. Nhưng nếu có ai đá
đít chú mày, thì chả ai thèm chú ý cả. Ðúng không? Vì vậy ta
nghĩ câu: Nhất đàn bà, nhì trẻ con, ba chó, bốn đàn ông là
nói về giá trị đó. Liền bà sang Tây, sang My,~ sang Úc có giá
lắm. Còn nhân vị chúng mình thua cả cẩu vị.
Ba đồng một mớ đàn ông con trời.
Mấy đứa cháu gái lắc đầu:
- Bố cháu cứ nói vậy hoài. Cháu thì cháu nghĩ khác. Người ta
đưa ra câu nịnh đầm, chứ ngay bên Mỹ này đàn bà vẫn phải
nuôi con, tắm cho con, dọn nhà cửa, chui đầu vào bếp như
thường. Chú đi Tầu nhiều, bây giờ cháu hỏi chú, bên Tầu
người ta có khinh đàn bà như xưa không?
- Không! Mao chủ tịt cho nam nữ bình quyền.
- Ðó là lý thuyết, nhưng thực tế ra sao?
- Thực tế thì khó biết. Tầu không nịnh đầm như Tây, như Mỹ,
nhưng người ta bắt liền ông uống thuốc ngừa thai, chứ không
như Tây, như Mỹ bắt liền bà ngừa thai.
- Thế thì Tầu nịnh đầm hơn Tây, hơn Mỹ sao?
- Không hẳn thế. Bên đó người ta có kế hoạch ngăn ngừa sinh
đẻ. Nếu cặp vợ chồng nào không sinh con, thì được tăng
lương, lại khỏi thuế. Còn như nếu có con, thì chỉ được đẻ
một đứa. Vì vậy khi sinh con gái, người ta bóp mũi cho chết
đi. Hoặc gần đây lúc đàn bà có thai ba, bốn tháng, người ta
làm siêu-âm (Echographie), khi kết quả: nếu là con trai thì người
ta giữ, còn là con gái, thì người ta phá thai liền. Bên Trung
quốc phá thai được khuyến khích và miễn phí.
- Kinh khiếp!
- Kế hoạch sinh sản tính đến nay trải hai mươi bẩy năm. Chú đã
thăm hàng chục tỉnh, hàng trăm huyện, hàng nghìn làng, chú thấy
có hiện tượng giống nhau. Ông xã ủy nào cũng than rằng: trong
xã con trai đánh nhau liên miên vì dành gái. Bởi trong lớp tuổi
một đến hai mười bẩy, thì cứ năm, sáu đứa con trai, mới có
một đứa con gái. Con trai bên Trung-quốc ế vợ dài dài. Ðánh
nhau vì gái cũng dài dài. Không hiểu tương lai sẽ ra sao? Có lẽ
phải năm đứa lấy chung một vợ mất. Thực đúng với ca-dao
Việt xưa:
Ba đồng một mớ đàn ông,
Ðem bỏ vào lồng cho kiến nó tha.
Ba trăm một mụ đàn bà,
Ðem về mà trải chiếu hoa cho ngồi.
Các ông Việt ta sang Tây ngoan kỳ lạ
- Vậy thực tế bên Tầu, liền bà con gái có giá hơn liền ông
nhiều rồi. Còn bên Tây. Cháu nghe nói các ông Việt sang Tây
ngoan lắm phải không?
- Tây họ ga-lăng ở lời nói, ở cử chỉ, chứ về tài chánh,
về tình cảm thì cần phải xét lại. Ít có đấng mày râu Tây
nào ngoan ngoãn đi làm nuôi vợ lắm. Vợ làm vợ tiêu, chồng làm
chồng tiêu. Trong khi các cụ ta có truyền thống rằng của chồng,
công vợ. Các ông làm được bao nhiêu tiền, trao cho vợ giữ
hết. Bà vợ chi tiêu sao tùy ý, ông không cần biết đến. Cho
nên các bà Việt diện hơn đầm nhiều.
Tôi nói nhỏ:
- Các ông Việt sang Tây ngoan kỳ lạ, đổi hẳn như trâu đen với
trâu trắng vậy. Nói đâu, những ông từng là quốc trưởng,
thủ tướng, tổng bộ trưởng, tướng lĩnh, bác sĩ, ngay cả Ðại
Nam hoàng đế Bảo-Ðại... Hồi ở bên nhà có biết cái bếp là
gì đâu? Khi sang Tây, các ông ấy hăm hở lao mình đi làm kiếm
tiền về cho gia đình, rồi đi chợ với vợ, hút bụi, rửa chén,
đưa đón con đi học, tắm cho con... rất là tự nhiên, không than
thở, không hà tì gì cả. Ðại-Nam hoàng đế Bảo-Ðại sáng sáng
còn xếp hàng mua bánh mì nữa! Nói theo nho gia, các ông nớ đắc
đạo rồi. Ðáng kính lắm.
Tôi ngừng lại một lát, rồi tiếp:
- Ðể chú kể cho cháu nghe hai câu chuyện về cái gọi là ga-lăng
của Âu-Mỹ. Trên TV người ta đố nhau, nay chú đố lại các cháu:
Có ba cặp vợ chồng da trắng. Cặp thứ nhất, ăn xong bà vợ
ngồi hát karaoke, ông chồng rửa bát. Cặp thứ nhì, sau khi ăn
xong, ông chồng giúp vợ dọn bàn, rửa chén, rồi leo lên dường
đánh cờ. Cặp thứ ba thì ông chồng ngồi đọc báo, bà vợ rửa
chén, dọn bàn. Cho biết quốc tịch ba cặp vợ chồng đó?
Không do dự mấy đứa con trai đáp:
- Ăn xong rồi bà vợ nằm ngửa ra, để chồng hầu, hẳn là cặp
vợ chồng Mỹ. Còn hai cặp kia cháu chịu.
- Ăn xong, cả hai vợ chồng cùng dọn là cặp vợ chồng Tây.
Nước Tây là nước bình đẳng mà. Còn ăn xong, ông chồng ngồi
đọc báo, kệ bà vợ dọn dẹp như chị hai là cặp vợ chồng
Y-tà-lồ (Ý) hoặc Y-pha-nho (Tây ban nha).
Mấy đứa cháu gái sướng quá, chỉ vào mấy đứa con trai:
- Nhập gia tùy tục. Bố cháu cứ bắt con gái rửa bát, nấu cơm,
còn bọn con trai chỉ biết ăn với bầy. Hà... từ này mình phải
theo Mỹ.
Tôi kể tiếp:
Có ba cặp vợ chồng Á-châu vào nhà hàng ăn. Cặp thứ nhất, hai
vợ chồng cùng cầm thực đơn lên xem, rồi bàn tính một lúc,
mới gọi. Sau khi ăn xong, hai vợ chồng bàn với nhau rồi cả hai
cùng trả tiền. Cặp thứ nhì, người chồng cầm thực đơn rồi
gọi món ăn, ăn xong, chính ông ta trả tiền. Cặp thứ ba thì bà
vợ cầm thực đơn, gọi các món ăn, rồi khi ăn xong bả trả tiền.
Cho biết quốc tịch ba cặp vợ chồng đó?
Không ai trả lời đúng cả. Mãi sau có mấy chú bồi bàn, các chú
ấy đáp trúng phóc, vì kinh nghiệm thực tế.
-???
- Cặp thứ nhất là Nhật-bản. Bên Nhật bây giờ nam nữ bình
quyền, trai gái đều đi làm, tiền ai nấy tiêu. Vì vậy họ bàn
nhau rồi gọi món ăn, ăn xong chia nhau trả. Cặp thứ nhì là người
Thái hoặc người Tầu. Vì phong tục Tầu, Thái thì ông chồng là
chúa, quyết định món ăn, cũng chính ông giữ tiền, rồi ông chi
tiền. Cặp thứ ba là vợ chồng Việt-Nam. Bà vợ là nội tướng,
nuôi con, chăm sóc chồng, được chồng tin tưởng, trao hết toàn
quyền cho, vì vậy bả quyết định ăn gì, ước tính túi tiền
rồi gọi món ăn. Ăn xong bà trả tiền, vì bả giữ tiền, chứ ông
có giữ đâu?
Tôi hỏi nhỏ:
- Thế sang đây, bố mẹ cháu ra sao?
- Ði ăn hàng thì bố mẹ cháu Việt. Nhưng ở nhà ăn xong, thì bố
mẹ cháu Y-pha-nho.
Các bà, các cô giỏi hơn hồi ở trong nước.
Ðám con trai hỏi:
- Thế các bà các cô sang Tây ra sao? Ngoan hơn hồi ở VN hay hư
hơn?
Bèn đáp:
- Vừa hư hơn lại vừa ngoan hơn.
Bọn con gái nhao nhao lên:
- Chú nói vậy thì chú thành ông ba phải rồi. Hư thì là hư, ngoan
thì là ngoan; chứ có đâu vừa hư vừa ngoan.
- Khoan đã nào, chưa chi đã nhảy choi choi lên; đúng là Trần-thị
Bà-Chằng.
- Thì cháu họ Trần như chú mà.
- Trước hết hãy nói về cái ngoan của các bà các cô. Cây sầu
riêng trồng ở Cần-thơ thì thơm, ngọt, béo ngậy, mà đem trồng
ở Thái-nguyên thì trái nhỏ xíu, lại vô hương vô vị. Cây trà
trồng ở Phú-thọ, thì uống vào hương vị đậm đà, nhưng trồng
ở Cà-mau thì uống vào vừa chát vừa đắng. Con gái Việt-Nam
cũng thế. Ở Việt-Nam thì ảnh hưởng phong tục Việt, sang Pháp
thì ảnh hưởng phong tục Pháp. Người nào có giáo dục, thì biết
thu lấy cái hay của người, hợp với cái hay của ta; biết bỏ cái
dở của ta, xa cái dở của người, sẽ thành con người tuyệt
hảo. Ða số các bà các cô Việt mình ở Pháp thuộc thành phần
này.
Ðám con gái sướng quá:
- Như vậy các bà các cô sang Pháp được quá há chú?
Tôi lên mặt ông chú hắng giọng, rồi tiếp:
- Hồi ở Việt-Nam trăm bà chỉ có mươi bà làm việc, còn thì ở
nhà đánh móng tay, trông coi con, làm việc thì rờ rờ như rùa,
đôi khi không biết đến bếp núc ra sao cả. Ấy vậy mà sang Pháp,
thì chỉ vài tháng là lăn xả vào làm việc. Nhiều bà tiếng Tây,
tiếng u ăn đong hay phải nói bằng tay, cân cả người lẫn quần
áo chưa quá bốn chục kí, thế mà vẫn can đảm đi cầy ngày bẩy
tiếng. Sau một ngày làm việc, người nhừ như cái mền rách,
trở về nhà vẫn săn sóc con cái, sạch nhà ngọt cơm, cuối tuần
còn đi chợ Tây, chợ Tầu. Chồng làm, vợ làm, chi tiêu dè sẻn,
nên mấy tháng sau trong nhà không thiếu thức gì. Ba bốn năm còn
mua nhà nữa. Một số ông không kiếm được việc làm, ngồi
nhà, nhưng các bà vẫn thông cảm, nuôi chồng, nuôi con không khác
gì bà tú Xương.
Bà chị dâu tôi dường như bị nhột, cự:
- Chú nói thế, vậy tiền eo-phe đâu? Tiền trợ cấp xã hội
đâu?
- Thưa chị bên Mỹ không đi làm việc còn có lương ông Bush, lương
ông Clinton. Còn bên Tây, cũng có tiền chẩn bần (RMI) khoảng 400
đô một tháng. Nhưng một cặp vợ chồng, mà một người đi
làm, thì người thứ nhì không được trợ cấp gì cả.
Mấy đứa cháu gái hỏi:
- Thế mấy ông chồng có xót vợ không?
- Có ông xót. Có ông không. Nhiều ông vừa xót vừa đau, chiều
chiều khi tan sở trở về ông tẩm quất cho bà, rồi lăn vào làm
bếp, giúp bà chăm sóc con cái. Cũng có ông ảnh hưởng của Tây,
học được môn võ công ga-lăng, dành làm việc nhà, để giữ sức
cho vợ. Mỗi chiều khi đi làm về, còn mua một bông hồng ở hầm
métro đem tặng vợ. Mùi đáo để. Ðám con gái gật gù cái đầu
ngụ ý mấy ông này được quá. Còn đám con trai nói nhỏ với nhau
cải lương, theo đạo thờ bà.
Tôi gõ đầu mấy đứa con trai:
- Cải lương cái gì? Thờ bà gì? Bay phải sang Tây học một khóa
ga-lăng. Hoặc học lối nhã lượng quân tử của các cụ ngày xưa.
Tương truyền cụ Yên-Ðổ khi đi vào tuổi già, con đàn, cháu
đống, mà mỗi độ tết đến cụ còn gọt, trồng, tặng riêng
cho cụ bà một chậu Thủy-tiên; khi hoa đào nở đầu xuân, cụ
cắt cành đẹp nhất tặng cụ bà; hè đến, cụ thân ra bờ hồ
hái sen về ướp trà, rồi chính cụ quạt lò pha trà, hai tay trịnh
trọng đưa ngang mày mời cụ bà xơi. Cụ đã áp dụng câu Phu thê
tương kính như tân nghĩa rằng vợ chồng kính nhau như khách tới
nhà. Khi xưa cụ Yên-Ðổ trồng hoa, pha trà mời cụ bà, các ông
Việt ngày nay ở Tây làm bếp giúp vợ xuất phát từ tình nghĩa
vợ chồng. Khi các cụ, các ông làm vậy tình yêu mới đậm đà,
cuộc sống vợ chồng mới có ý nghĩa.
Ông anh tôi ngứa gan quá phát cáu:
- Khi xưa thì chú coi thường liền bà, bây giờ thành Tây rồi
thì Tây quá. Thế anh hỏi chú, cụ Yên-Ðổ ga-lăng với cụ bà,
có gì làm bằng?
- Có chứ. Cụ ra hồ sen hái hoa, nhân đó cụ được chứng kiến
cảnh thầy đồ dạy học ngắm hoa sen nên có làm thơ để lại.
- Ðọc nghe thử?
Bèn đọc:
Thầy đồ nọ vốn người tài bộ,
Quẩy cầm thư đi giáo thụ phủ Vĩnh-tường.
Trước nha môn thiết một học đường,
Dạy dăm chữ chi, hồ, giả, dã.
Nhân gặp lúc thầy đồ nhàn hạ,
Ra hồ sen xem ả hái hoa.
Ả hở hênh ả đề đồ ra,
Ðồ trông thấy ngâm ngay tức khắc:
Phong tiền lãng mạn hoa sinh sắc,
Thủy diện vi mang bạng thổ thần. (4)
Ðồ trông rồi đồ đứng tần ngần,
Ðồ nọ tưởng đồ kia thêm thắc mắc.
Suốt năm canh ngọn đèn không tắt,
Rõ mơ màng đồ nọ tưởng đồ kia.
Ðồ đâu gặp gỡ làm chi!
Biết tôi ngụy biện, nhưng ông anh đành chịụ
Ðược thể tôi tiếp:
- Nhưng cũng có ông, sau khi đi làm về thì ngồi đọc báo, bà vợ
cặm cụi vừa nấu cơm, vừa dọn dẹp nhà cửa. Ăn xong, ông ngồi
coi TV, trong khi bà rửa chén, lau bếp. Khi mở miệng là ông ra
lệnh cho vợ, độc tài quá Mao-trạch-Ðông, phát-xít hơn Hitler.
Bên Tây là xứ rượu vừa ngon vừa rẻ, ông uống như hũ chìm,
hũ nổi. Vợ nhỏ nhẹ khuyên rằng không nên uống rượu nhiều
có hại cho sức khỏe, thì ông đổ quạu xổ nho chùm rồi kết
luận Nam vô tửu như kỳ vô phong. Ðôi khi ông tặng cho mấy bợp
tai rụng cả răng. Ðã hết đâu, ông còn hút thuốc, miệng phun
khói như tầu lửa. Ít lâu sau lăn đùng ra, chở vào nhà thương
thì thầy thuốc cho biết lượng đường trong máu lớn hơn 4g/l
và lượng choléstérol trong máu mới tới 7,8 g/l mà thôi. Thế là
ông phải tự đâm mình lấy máu thử hàng ngày, rồi tự chích
insuline, trong khi phải uống thêm thuốc hạ mỡ. Ðến đây ông
biến thành thái giám, trái khổ qua biến thành trái ớt; đầu
gà thụt vô hang như đầu rùa. Ông lâm cảnh ngủ với vợ một
mình... Bà vợ còn trẻ, vừa phải hầu hạ ông chồng bệnh hoạn,
vừa xót cho cái cảnh có chồng cũng như không, đau cho thân phận
nửa chừng xuân hiu quạnh mới ức chứ! Nhưng được cái những
ông ba trợn này bên Tây không nhiều cho lắm.
Ông anh phát cáu hỏi:
- Hỏng! Liền bà con gái bên Mỹ này mà chiều kiểu ga-lăng của
chú mày, nó sẽ ngồi lên đầu, lên cổ mình, rồi nó đi ăn chè
Mỹ trắng, ăn cháo Mỹ đen; nó đem ệt (AIDS) về mà đổ nợ.
Thế bên Tây, các bà có đi ăn chè Tây không?
- Không nhiều. Không nhiều lắm. Ða số loại quái thai này phát
xuất ở hai thành phần. Một là thất học, hai là mới qua. Nhưng
từ năm 1989 có phong trào về VN cưới vợ, các bà các cô xuống
giá quá, nên nạn này giảm đi rất nhiều.
Tinh thần Trưng, Triệu vẫn còn
Nhân mấy đứa cháu trai nhắc lại câu hỏi:
- Các bà các cô sang Pháp ngoan hơn hay hư hơn?
Thay vì trả lời, tôi đáp tinh thần Trưng-Triệu vẫn bàng bạc
trong hầu hết các bà các cô. Tôi nhắc nhở chúng:
- Như các cháu biết người Việt-Nam lấy ngày giỗ vua Trưng làm
ngày phụ nữ. Chú vốn sinh sau, đẻ muộn, lại dốt nát, nên tra
hết các sách vở cổ kim cũng không tìm ra ai đã có sáng kiến
lấy ngày giỗ của ngài làm ngày phụ nữ.
Theo sử thì ngài lên ngôi vua ngày mùng một tháng bẩy năm kỷ
hợi (39 sau Tây-lịch). Song ngày sáu tháng giêng năm canh tý (40 sau
Tây-lịch) ngài mới làm lễ cáo yết Quốc-tổ, Quốc-mẫu, sai
ghi vào sử là niên hiệu thứ nhất. Người sau ghi nhầm là ngày
ngài lên ngôi vua. Ngài tuẫn quốc ở Cẩm-khê ngày mùng tám
tháng ba năm quý mão (43 sau Tây-lịch). Nhưng ngày mùng sáu tháng
hai là ngày tắm tượng.
Hằng năm cứ vào ngày mùng sáu tháng hai, thì ban trị sự đền
tuyển chọn những trinh nữ đức hạnh, trai giới ba ngày, rồi
được tắm tượng ngài cùng mười hai nữ đại công thần. Lại
tuyển đồng nam để lau bàn thờ, cùng quét dọn đền. Người
sau lầm rằng ngày tắm tượng là ngày giỗ, riết rồi thành
quen. Hồi trước năm 1945, thì ngày giỗ vua Trưng rất nặng về
lễ nghi tôn giáo. Tùy địa phương, mỗi vùng có một tập tục
khác nhau.
Bởi theo Quốc-triều điển lệ của Ðại-Nam hoàng đế, thì vua
Trưng được liệt vào hàng quốc tế. Chữ quốc-tế ở đây có
nghĩa là triều đình và toàn quốc phải tế ngài, chứ không phải
quốc tế là dịch ở chữ internationnal hay mondiale mà lầm lớn.
Khi sắp tới ngày giỗ ngài, những nơi có đền thờ thì chính
quan tổng đốc, tuần phủ cùng với các vị đại khoa bảng; thân
đứng ra đốc thúc ban trị sự tu bổ đền, cùng tổ chức lễ
tế, rước kiệu, hội hè. Dân chúng các nơi lũ lượt đem lễ
tới cúng bái, tôn kính cùng cực. Trong suốt triều Nguyễn, chưa
từng có một vị tổng đốc, tuần phủ nào bị quở phạt vì sơ
sót nhiệm vụ này. Như vậy, đủ tỏ tổ tiên ta tôn kính vua
Trưng biết là dường nào.
Còn những nơi không có đền thờ ngài, thì dân chúng đến lễ
ở các am thờ thánh. Những bà, cô nào có căn được bà bắt
làm lính, thì gia đình chuẩn bị cho hàng tháng trước: không
được cáu giận, không được nói dối; phải ăn chay, tắm gội
sạch sẽ. Rồi đến ngày giỗ thì tới đền, am, điện ngồi
hầu. Khi ngài về đồng, thường mặc áo tím, oai nghi, mắt
chiếu ra tia sáng rực, mỗi lời phán đều oai vệ.
Tôi giảng giải:
- Chú nghe cụ ngoại kể: hồi cụ Từ Ðạm làm quan ở quê mình. Cụ
vốn sính thơ, lại hay chữ. Gặp ngày giỗ vua Trưng, chính cụ làm
bài văn tế ngài, lời lẽ thống thiết vô cùng. Nhưng đến khi
cô đồng ngồi đồng, thì ngài không giáng. Các bà khấn, cầu
xin thế nào cũng không được. Cụ Từ thân đến lễ tạ, xin ngài
dạy cho những điều sai trái. Cụ khấn rằng: nếu có gì sơ
xuất, cụ xin thay dân chịu tội trước ngài. Sau khi cụ khấn,
thì một nữ tướng của vua Trưng là công chúa Gia-hưng Trần
Quốc nhập ngay thiếu nữ mười hai tuổi và cho biết một
truyện đau lòng.
Nguyên có một bà già tuổi trên bẩy chục, ở xa những hai ngày
đường. Nhưng bà vốn thờ kính vua Trưng từ lâu, nên năm nào
cũng đem lễ tới lễ ngài. Năm đó, vì chồng chết, gia đình
sa sút, bà chỉ dành dụm đủ tiền mua một nải chuối nhỏ, đem
đến dâng ngài. Vì đi đường, nải chuối bị dập, nên ban lễ
nghi thấy vậy, đuổi bà rạ Bà tủi thân, đem nải chuối ra gốc
cây trước đền, thắp hương rồi khóc và khấn rằng:
"Tấu lạy vua Bà. Con làm lính vua bà từ thủa còn con gái. Mỗi
năm đều hầu hạ, lòng thành tưởng nhớ công ơn vua Bà. Năm
nay, chồng chết, con cái nghèo khó, con không đủ tiền mua sắm
lễ vật, chỉ mang nải chuối nhỏ, gọi là chút lòng dâng lên vua
Bà. Nhưng lễ quá đạm bạc, nên con bị đuổi ra. Tại thiên chi
linh xin Bà chứng giám cho con."
Lòng thành của bà lão nghèo thấu đến vua Trưng, nên ngài không
giáng. Cụ Từ trách phạt ban nghi lễ, rồi thân ra gốc cây đón
bà già vào đền, để ngồi ngang với cụ. Bấy giờ vua Trưng
mới giáng.
Ðây là nói về lễ nghi chính thức, còn trong dân chúng, thì
không biết tục lệ có từ bao giờ, khi sắp đến ngày giỗ ngài,
các ông tự nhiên giữ gìn lời nói, cùng chiều chuộng các bà
khác hẳn với ngày thường. Chú tìm hết các sách vở cổ kim,
cũng không biết tục lệ này có từ đâu? Thời nào?
Năm 1950, bấy giờ chú mười một tuổi, sắp sửa thi tiểu học
(CEP), trong lớp chú có hai cô bạn đầm lai, một cô tên Ðặng
thị Sản Rosalie, một cô tên France Thérèse. Chú gọi Rosalie là
Ổi-xá-li. và Thérèse là Té-rè-se. Mỗi lần chú gọi cái tên
đó ra, là y như các cô đuổi theo chú đấm vào lưng thùm thụp.
Khi không đuổi kịp, thì các cô khóc. Ðến ngày rằm tháng giêng,
thấy cụ, rồi ông nhắc nhở rằng sắp tới ngày giỗ vua Bà,
phải tử tế với các bà, các cô. Chú cũng đổi thái độ, sáng
hôm ấy đi học, chú hái mấy bông hoa trong vườn đem đến
trường. Mọi khi gặp hai cô là chú cất tiếng: chào Ổi-xá-lị,
Té-rè-se, thì chú đem hoa cài lên tóc hai cô. Chú làm công việc
này hàng ngày suốt từ rằm tháng giêng tới rằm tháng hai. Cô
giáo với hai cô bạn Rosalie, Thérèse thấy chú thay đổi như trâu
đen thành trâu trắng cũng ngạc nhiên không ít. Sau chú giải thích,
các cô mới hết ngạc nhiên. Rồi từ đấy chú không trêu hai cô
bạn Rosalie, Thérèse nữa.
Nhắc để độc giả trẻ biết: từ 1954 về sau, tại miền Nam,
ngày giỗ vua Trưng được ghi vào ngày lễ lớn của toàn quốc,
và lấy ngày ấy làm ngày phụ nữ. Trong khi ngày phụ nữ quốc
tế là ngày 11 tháng 3 dương lịch. Vào ngày đó, tại các tỉnh
thường có cuộc lễ, đôi khi diễn hành của các đoàn thể phụ
nữ, các nữ sinh. Tại đô thành Sài-gòn, hai trường nữ trung học
lớn nhất là Trưng-vương, Gia-long sẽ tuyển hai nữ sinh lớp đệ
nhất (hay lớp 12) vừa xinh đẹp, vừa nết na, đức hạnh, đóng
vai hai bà, ngồi trên bành voi diễn hành. Hai cô này sau đó, có
hàng trăm cậu học giỏi, đẹp trai, con nhà giầu đến cầu hôn.
Cho đến nay, tôi gặp lại nhiều cô, tuy tuổi đã đi vào tuổi
cuối Thu sang Ðông, mà nét hoa vẫn còn mặn mà đáo để; dù sang
Mỹ, sang Úc, sang Pháp hay Canada, các cô vẫn là gương sáng về
đức hạnh cho lớp người ngang tuổi, hay nhỏ tuổi hơn.
Bàn chung, thì các bà các cô sang Tây, gần như chịu một cuộc
đổi đời. Hồi ở VN chỉ ăn chơi, coi con, trông nhà, sao cho
cơm lành canh ngọt. Bây giờ phải đi làm, mà làm việc trong một
hoàn cảnh bỡ ngỡ về nghề nghiệp, khó khăn về ngôn ngữ,
phiền tạp về đối xử với chủ, với đồng nghiệp. Ðói thì
đầu gối phải bò, họ can đảm vượt qua được hết, đó là
một điều đáng ghi vào sổ vàng. Thế nhưng việc dạy con, tề
gia nội trợ không khiếm khuyết bổn phận. Ôi thực đáng khen,
đáng trọng.
Ngày trước, hình như thi sĩ Hồ-Zếnh có câu ca tụng các bà,
các cô, nay đem áp dụng vẫn còn đúng. Thơ rằng:
Tôi muốn nạm vàng chữ khổ cực,
Cho đời cô gái Việt thêm tươi.
Bàn tay có ngón dài, ngón ngắn
Ðấy là nói về các bà các cô sang Tây ngoan hơn. Nhưng bàn tay
có ngón dài ngón ngắn. Thời Trần có Hưng-Ðạo vương thì cũng
phải có Trần Ích-Tắc. Hồi đầu thế kỷ có cô Giang, cô Bắc
thì cũng có cô Tư-Hồng. Một số bà, cô sang Tây, không quen,
không biết giới đầm thượng lưu, giới đầm có giáo dục, chỉ
quen với loại đầm rau muống, đầm cấy sen, đầm bùn lầy nước
đọng, tưởng rằng tất cả đàn bà Pháp đều thế, bèn đi một
đường vỡ lòng học lấy những nghề nghiệp hay. Những loại
đầm này sống cực kỳ phóng đãng, các cô bèn đi một đường
phóng đãng hơn!
Nước Tây là nước ga-lăng, dù nhan sắc bà như Chung Vô-Diệm,
kém Thị-Nở, dù tuổi bà đi vào ngũ tuẫn, lục tuần, mấy ông
Tây cũng khen đẹp. Các bà cho là thực, bèn đi một đường nhảy
tớn lên như con choi choi; tưởng đâu mình thành Tây-Thi, Hằng-Nga
hết ráo. Tưởng rằng ông giám đốc này, ông tổng giám đốc
nọ đem võng đào đón về, đội lên đầu, để mỗi ngày bà đi
ngủ với hai, ba ông bồ khác nhau.
Lại cũng có những bà cong cớn: ha ha, đàn bà sang Tây có giá, ta
cần phải ăn gà Tây cho biết mùi. Thế rồi, tối tối bỏ con cho
chồng coi, bà đi nhảy đầm. Nhảy xong, nhảy dù luôn, có khi nhảy
dù một lúc với hai ba người, sáng mệt lử người ra rồi mới
về, chồng có hỏi đi đâu thì đòi ly dị. Sau khi ly dị, những anh
khen đẹp, khen xinh, thề sống, thề chết đâu chạy mất. Bấy giờ
mới hối lỗi, mới hận đời thì đã muộn rồi.
Kết cục, nếu có chút liêm sỉ thì nhảy lầu hoặc mua thuốc ngủ
uống. Còn mặt dầy thì tiếp tục phiêu lưu trong cái hận đời.
Sau biến cố 1975, những người di tản sang My,~ sang Úc, cứ trăm
ông mới có mười bà. Thành ra dương thịnh, âm suy. Lại nữa các
một số các bà muốn đổi món ăn, thích gà Mỹ, gà Úc. Bởi gà
Mỹ-Úc to con, bề thế, ăn mới thấy đã. Còn gà vàng thì nhỏ
con, lại quen quá rồi, ăn riết thấy ngán. Nhiều bà bỏ chồng,
còn làm nhục chồng bằng cách đem bồ Mỹ, bồ Úc đi khơi khơi
trước mắt bà con, hay đem về nhà. Bởi vậy các ông mới mua
chó lửa, cho bà ăn kẹo đồng, mời bà tiêu dao miền cực lạc
(Hay về nước chúa).
Bên Tây nạn các bà các cô động cỡn, biến thành heo, thành khỉ
đột đỡ hơn, bởi đa số người Việt đến Pháp bằng boeing,
chứ không phải chèo ghe, chống xuồng, nên tương đối các bà
các cô cùng các ông các cậu thăng bằng. Lại nữa nước Pháp
là nước văn học, trọng những gì thanh cao, trọng những gì là
tình nghĩa. Người Việt ở Pháp nếu không giữ được đạo lý
cổ truyền VN thì cũng ảnh hưởng văn hóa Pháp, nên các bà các
cô ít nổi loạn hơn.
Thời gian 1985-1989 nước Pháp gần như ngừng nhận người tỵ nạn,
nên thiếu các cô cung ứng cho nhu cầu cho nhưng ông chẳng may
giữa đường đứt gánh. Cô nào còn sót lại chưa chồng, dù
chống ề, cũng cong cớn lên rồi treo cao giá ngọc. Có cô bắt
bồ một lúc năm, sáu cậu. Thứ hai thử cậu X, thứ ba nếm cậu
Y, thứ tư ngửi cậu Z, sang thứ năm hít Tây, thứ sáu thổi Bỉ,
thứ bẩy ôm Ðức, chủ nhật đeo Rệp. Thời gian này là thời
gian đen tối nhất của các cậu đi kiếm vợ Việt. Bởi vậy đã
có ông bác sĩ, chỉ vì muốn ta về ta tắm ao ta, mà tục huyền
với một cô quá lứa. Lấy chồng được mấy tháng, cô đi một
đường tống cổ đàn con chồng ra khỏi nhà giữa mùa Ðông tuyết
phủ. Một ông bác sĩ khác, cũng tục huyền với cô vừa lùn vừa
thối miệng, lại vừa ngu dốt, cô không đuổi con chồng, nhưng
cô cân não, làm con chồng khổ quá, nhảy lầu tự tử.
Ðây là vài mẩu chuyện rất thông thường, không thiếu trên
đất Pháp.
Hoặc có người hỏi: Các cô Việt như vậy sao không lấy đầm?
Ðầm rất thích trai Việt. Ai cũng nói gà của trai Việt tuy nhỏ
con, kém bề thế, nhưng dẻo dai, lại dài, đầm thử một lần là
đeo dính không buông. Ðầm vừa đẹp hơn, học giỏi hơn, tháo vát
hơn, lại quen với đời sống Tây-phương hơn thì giúp đỡ chồng
đắc lực hơn? Nhưng, những ông, những cậu nghĩ xa, hướng về
dân tộc, nên dù các cô Việt cà chớn vẫn phải cố đấm ăn
xôi.
Các cô xuống giá thê thảm
Sang thời điểm 1989, có phong trào mở rộng cửa cho người Việt
về quệ Thống kê cho biết, số liền bà VN trong nước nhiều
hơn liền ông những sáu triệu. Các cậu, các ông thi nhau về VN
cưới vợ. Các cậu, các ông bỗng có giá, các cô xuống giá thê
thảm. Xin kể một chuyện thực trăm phần trăm.
Bấy giờ là năm 1986, cô X. hai mươi lăm tuổi, đỗ tú tài, làm
nghề cô ký điệu, nhan sắc tương đối coi được. Cô có một
cậu bác sĩ, một cậu dược sĩ, một cậu kỹ sư, thêm dăm bẩy
cậu lằng nhằng nữa theo đuổi. Cô cong cớn lên, chê: cậu bác
sĩ lùn quá. Cậu dược sĩ chưa có dược phòng. Cậu kỹ sư có mẹ
khó tính. Tuy vậy cô cũng õng ẹo tiếp các cậu. Sang năm 1989
cậu bác sĩ về VN cưới sang một cô dược sĩ đẹp óng mượt,
ngoan ngoãn. Năm 1990 cậu dược sĩ về VN cưới cô giáo sư nữ
công gia chánh tươi như hoa. Cậu kỹ sư về cưới cô bác sĩ.
Cô X. hoảng quá, quay đi quay lại chỉ còn một cậu chuyên viên
sửa TV, cô luôn điện thoại cho cậu. Nhưng cậu ỡm ờ, đi chơi
thì đi, cho cậu xài không thì cậu OK, còn cưới thì xin khoan.
Cuối năm cậu về VN cưới một cô á hậu sang. Cho đến năm 1993,
cô đã ba mươi ba, mà chẳng ma nào rước. Cuối cùng còn một
cậu sửa xe hơi, mà cô hắt hủi khốn khổ. Cô gọi cậu tới
chơi rồi đòi cưới. Cô thách: mời 200 người ăn. Cậu lấy
máy tính ra tính: 200 người, mỗi người 200 quan, phí tổn 400
ngàn (80.000 đô Mỹ). Tiền may quần áo cưới, nữ trang, lặt vặt
20 ngàn nữa (5000 đô)! Cậu lắc đầu chê đắt quá. Cậu nói:
lấy máy bay về VN có 5 nghìn quan thôi (1.000 đô), đám cưới
mời năm trăm người cũng chỉ tốn độ 5 ngàn nữa là cùng. Cậu
lắc đầu quầy quậy, rồi lặn luôn. Cô nổi cáu: tụi con trai
Việt cà chớn quá, ta đi lấy Tây cho bõ ghét. Nhưng kiếm Tây
không ra, cô bị khủng hoảng thần kinh.
Từ năm 1991 đến giờ lại có phong trào các cô con nhà khá giả
trong nước, các tiểu thư đỏ, mượn cớ du lịch Pháp rồi kiếm
chồng. Cũng có cô nộp đơn xin du học, nhưng thực sự xem có
cậu nào, ông nào đắt cho con lợn lòng ế hẩm ế hiu không?
Hồi đầu, phân nửa các cô thành công. Sang đầu năm 1992 trở
về đây, số các cậu có máu mặt độc thân bị các cô chài
hết, các cô hết kén chọn nữa, thôi thì đã sang Tây, vớ cậu
nào cũng hẩu lớ. Miễn sao được ở lại là tốt rồi, còn hơn
về VN lấy bọn trâu xanh, bò vàng, vừa đói, vừa rách. Ðầu
năm 1993, các cô đổi chiến dịch, kiếm những lão ông, những
ông khá giả, rồi a-la-sô nhảy vào, cho ông thưởng thức hũ mắm
ruốc bà giáo Thảo. Có nhiều ông khoái quá, liệng bà vợ già
khó chịu, chụp các cô. Nhưng cũng có ông khôn tổ mẹ, các cô
cho, ông thử rồi lặn luôn. Thời gian qua thực mau, visa hết hạn,
túng quá dù không biết tiếng Tây, các cô cũng chạy theo mấy ông
Tây già góa vợ, vợ bỏ. Tin này đồn ra, các bà có chồng hoảng
hốt, vội vàng co bớt lưỡi lại, lo chỉnh đốn cho sạch nhà ngọt
canh, bằng không thì lỡ chồng bị đội quân các cô trẻ mới sang
bắt mất. Mà bây giờ bà đã đi vào cái tuổi mùa Ðông, da nhăn,
gối mỏi, tiếng nói rè rè, và cái ngàn vàng khô như cá mực.
Trên cơ thể thì chỗ đáng lẽ phải lõm vào thì nó lại lồi ra,
chỗ đáng lẽ phải lồi ra thì nó lại lõm vào... thì dù bà có
đi tìm chó berger nó cũng chệ Bấy giờ chỉ có nước chổng mông
mà gào.
Và các bà ở Mỹ.
Mấy đứa cháu gái đi một đường thắc mắc:
- Chú vừa đi một vòng nước Mỹ, chú có nhận xét gì về các
bà, các cô Việt ở xứ cờ hoa này?
Tôi đáp không suy nghĩ:
- Chú chỉ mới thăm California, Texas, Kentucky, Tennessy, Virginia,
Philadelphia, New York, Louisana, Arkansas, Indiana... như vậy nhận xét
của chú có thể đúng hai chục phần trăm mà thôi. Thứ nhất,
phụ nữ bên này rất giỏi tiếng Việt, nói giỏi, viết giỏi, đọc
giỏi và nói rất ngọt. Bằng chứng là tiểu thuyết của chú là
thứ tiểu thuyết đầy những danh tự Hán-Việt, điển cố, thế
mà đi đâu chú cũng gặp những nữ độc giả; họ phê bình rất
chính xác. Về cái ngọt ngào thì hạng nhất là các bà các cô trong
thương trường, ngay cả trong các cơ sở mà chủ nhân là Mỹ như
ngân hàng, đại học, bệnh viện. Hai là, các bà, các cô thu thái
của người Mỹ được lối phát biểu ý kiến thẳng thắn, không
e dè, không vòng vo, không ẹọ..ẹo như hồi ở VN. Chú thích cái
ưu điểm này nhất. Ba là các bà sang đây đều đổi số Tử-vi,
tất cả thành tuổi Sửu hết.
- Tuổi Sửu?!?!?!
- Các bà, các cô làm việc ghê quá, hơn cả trâu nữa, thế mà
vẫn chăm sóc con cái, lo cơm nước, sạch nhà ngọt canh như
thường. Chú xin nghiêng mình, chắp tay bái phục. Trong đó có
mẹ cháu.
Ông anh tôi phát cáu:
- Chú mày khen các cô bên Mỹ quá như vậy, sao không xách cổ về
một cô?
- Em không bao giờ dám xách, mà chỉ dám khuất thân cầu xin. Anh
nhớ mình học Kinh-Thi không? - Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo
cầu. Chứ làm gì có - Yểu điệu thục nữ, quân tử xách
cổ?. Nhưng...nhưng không ai ưng sang cái xứ Tây tuyết lạnh,
trời tối âm u cả, thành ra - Cầu mà không được, đêm nằm
trằn trọc, lòng buồn man mác, dở mình thổn thức.(5)
Ông anh tôi tức quá, ông chửi đổng với bà chi dâu, nhưng để
cho tôi nghe:
- Hồi nhỏ nó học như rồng cuốn nước, được cụ cưng, nó vênh
mặt lên. Bây giờ nó thành Tây rồi, nó lại dùng cái vốn ga-lăng
để nịnh các bà, các cô.
Ðám con gái cùng nhao nhao lên:
- Chú có lý hơn bố! Như chú nói, thì ngày nay cụ Khổng, cụ Mạnh
vẫn còn hợp thời, văn minh Ðông-Á chưa bị thu sạch. Bọn con phải
đi mua bộ Luận-ngữ, Mạnh-tử về học mới được.
Kể từ đó, mỗi cuối tuần, trong căn nhà ở ngoại ô thành phố
Houston, có một ông già bỏ hết họp bạn bè để chửi đời; lại
cũng có sáu đứa trẻ tuổi từ 23 đến 40 bỏ hết karaoke, disco,
bỏ phòng trà... họp nhau nghe ông già giảng Nhọ Ông già đó là ông
anh họ tôi, và sáu đứa trẻ đó là sáu đứa cháu tôi. Bố thì
kiên nhẫn dạy, con thì hăm hở học, bởi chúng đã khám phá ra cái
kho tàng tư tưởng Ðông phương ở trong bố nó.
Chúng học rất mau, chúng không công kích bố chúng khi ông xổ Nho,
rồi chúng cũng xổ Nho; ngược lại ông cũng không than văn minh
Ðông-á trời thu sạch, mỗi khi đi đâu về, thế nào ông cũng
tạt qua hàng hoa mua một bông hồng về tặng bà.
Trong thời gian ở trại hè Về-nguồn, tôi gặp cô bé Hoàng-Lan.
Tuy đã tốt nghiệp đại học Hoa-kỳ, nhưng Lan lại đang về nguồn,
đang học chữ Hán, đang thâm cứu những nét đẹp của văn minh
Ðông-á; hầu như những bạn trẻ trong trại này đều có những
ước muốn như Hoàng-Lan.
Nói tóm lại, bây giờ là thời điểm 1996, cái gọi là chồng chúa
vợ tôi trở thành hủ lậu, nhưng xuất giá vẫn phải tòng phu,
các bà các cô cũng nên nhìn vào sự thực mà giữ lấy nếp của
ngươi Việt trước là tình, sau là nghĩa mà ăn ở với nhau, cho
đúng với chữ bạn đời. Xin các ông ở Tây, ở Mỹ cứ giữ
lấy cái bài học ga-lăng. Hồi mới lấy nhau là tình, bây giờ
thì là nghĩa. Ta lấy nghĩa mà ở với nhau. Trong văn chương
Anh-ngữ của nữ hoàng Elizabeth, trong ngôn ngữ Pháp của tổng
thống Jacques Chirac... dường như không có từ ngữ nghĩa. Ta nên
trở về với tổ tiên ta để ăn ở với nhau cho có nghĩa. Mong
vậy thay.
----------
Chú giải
(1) Gaulois là một tộc văn minh ở châu Âu, gốc của dân Pháp.
(2) Con đường nối đê Yên-phụ với Hà-nội, chạy giữa hồ Tây
với hồ Trúc-bạch.
(3) Một trong Tứ-thư: Ðại-học, Trung-dung, Luận-ngữ, Mạnh-tử,
là sách căn bản của Nho gia.
(4) Trước gió hiu hiu sóng lăn tăn, "hoa" sinh sắc. Trên mặt
nước, "con trai" thè lưỡi ra.
(5) Lược dịch đoạn đầu của bài Quan-thư, phần Quốc-phong, Chu
Nam:
Quan quan thư cưu,
Tại hà chi châu.
Yểu điệu thục nư,~
Quân tử hảo cầu.
Cầu chi bất đắc,
Ngụ mỵ tư phục,
Du tai du tai,
Triển chuyển phản trắc.
-----------------------------------------------------------------------
LINH TINH
-----------------------------------------------------------------------
12. Thư Tín
by Sổ Tay Miệt Vườn
mietvuon@saigonline.com
- Bài vở xin gởi về mietvuon@saigonline.com, cám ơn nhiều.
Xin đừng gởi về miet-vuon@onelist.com (đây chỉ là trạm phát
thư mà thôi)!
- CUỘC THI THƠ LIÊN MẠNG MANG CHỦ ÐỀ "DÁNG VIỆT"
Mến chào các bạn yêu thơ tại hải ngoại,
Thoáng chốc một phần tư thế kỷ đã trôi qua, kể từ ngày
những người Việt đầu tiên đã phải bỏ xứ ra đi sau tháng
Tư 1975. Trong môi trường sinh sống nơi xứ người, tiếng
Việt đã trở thành ngôn ngữ thứ hai cho các thế hệ trẻ
lớn lên tại hải ngoại.
Nhằm mục đích bảo tồn tiếng mẹ đẻ, duy trì cùng khai triển
những ưu mỹ của nền văn hóa Việt Nam, cũng như tạo điều
kiện để các bạn yêu thơ hiện đang sống tại nước người
có cơ hội phát triển khả năng sáng tác và trau dồi tiếng
Việt, có cơ hội về gần với cội nguồn dân tộc trong tư
tưởng và tâm hồn, Anh Thư Quán - (anhthu@egroups.com) - trân
trọng mời toàn thể các bạn yêu thơ tại hải ngoại tham gia
cuộc thi thơ Song Thất Lục Bát liên mạng do Anh Thư Quán tổ
chức lần đầu tiên mang tên "DÁNG VIỆT".
Sau đây là chi tiết về chủ đề, thể loại, điều lệ tham
dự, cùng các giải thưởng. Mọi tin tức liên quan đến cuộc
thi sẽ được cập nhật hóa trong web site:
http:www.geocities.comcohoangthitho_dangviet.html
CHỦ ÐỀ: DÁNG VIỆT
Ðây là một đề tài khá bao quát. Người viết hoàn
toàn tự do trong việc chọn lựa từ cách đặt tên đến
nội dung, chi tiết, bố cục bài thơ miễn là có liên quan
đến chủ đề nêu trên.
Chẳng hạn như có thể viết về:
- điểm đặc sắc độc đáo riêng của dân Việt
- nét duyên dáng của phụ nữ Việt Nam
- nét oai hùng của các chàng trai Việt
- gương sáng của tiền nhân Việt Nam
- kỳ tích hay cá tính nào đó của riêng người Việt
- thắng cảnh của đất nước Việt Nam
- chiến tích oai hùng trong lịch sử Việt Nam
THỂ LOẠI: SONG THẤT LỤC BÁT
Ðây là một thể loại độc đáo đầy tính dân tộc,
tuy nhiên hơi hiếm thấy trong các sáng tác của giới
trẻ tại hải ngoại. Cũng nhằm mục đích muốn giúp
các bạn yêu thơ có cơ hội phát triển tài sáng tác
nên Anh Thư Quán đã quyết định chọn thể loại này
làm thể loại bắt buộc trong cuộc thi thơ.
Tuy nhiên, các thể loại thơ khác vẫn được chấp
nhận, nhưng sẽ chỉ được tối đa 7 điểm về hình
thức mà thôi, còn những bài dự thi viết theo thể
Song Thất Lục Bát sẽ được tối đa 10 điểm về
hình thức.
Xin lưu ý:
- mỗi bài dự thi chỉ được dài tối đa 32 câu,
những bài dài hơn sẽ bị loại bỏ không chấm điểm.
- mỗi bài dự thi dù ở bất cứ thể loại nào
đều sẽ được tối đa 10 điểm về nội dung vì
điểm chấm về nội dung, hoàn toàn không bị lệ
thuộc vào hình thức.
Nếu cần tham khảo thêm về niêm luật Song Thất Lục Bát,
xin mời ghé các web site:
http:www.geocities.comcohoangthitho_dangviet.html
http:members.fortunecity.comsuoinguon
(số 009 tháng 6 mục Tin Văn Học Nghệ Thuật)
THỜI HẠN DỰ THI:
Cuộc thi sẽ bắt đầu từ ngày 01 tháng 06, năm 2000 và
chấm dứt lúc 23:59 PM EST ngày 30 tháng 09, năm 2000.
Kết quả cuộc thi sẽ được công bố vào ngày 15
tháng 10, năm 2000 trên Anh Thư Quán Mailling List cũng
như trên các tờ báo liên mạng sau đó. Ban tổ chức
cuộc thi sẽ liên lạc trực tiếp với người trúng
giải qua email và sẽ thông báo kết quả cuộc thi qua
Anh Thư Quán (anhthu@egroups.com) cũng như tại web site:
http:www.geocities.comcohoangthitho_dangviet.html
THÀNH PHẦn BAN TỔ CHỨC:
Ban tổ chức gồm các thành viên trong Anh Thư Quán sau đây:
- Hiếu Học
- Thơ thơ
- Vũ Thi An
THÀNH PHẦN BAN GIÁM KHẢO:
Các bài thơ dự thi sẽ được chấm theo nội dung và thi luật.
Ban giám khảo gồm có các thành viên trong Anh Thư Quán sau
đây:
- Anh Thư : quán chủ "Anh Thư Quán"
- CatLan : chủ bút "Bút nhóm Cỏ Hoang"
- Hoa Bằng Lăng: quán chủ bút "Bút nhóm Hoa Bằng Lăng"
- Ng Tấn Hưng : chủ bút tạp chí Miệt Vườn
- Quốc Thái
- Tứ Diễm : chủ bút Bút Nhóm Nắng Mới, Trưởng BVH Âu Cơ
- Tường Vi : chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ Ngàn Phương
THỂ LỆ DỰ THI CUỘC THI THƠ DÁNG VIỆT
- Mọi người Việt ở hải ngoại đều có quyền dự
thi không phân biệt tuổi tác, giới tính. Tuy nhiên,
các vị trong BTC và BGK tuyệt đối không được dự
thi dưới bất cứ hình thức nào.
- Thí sinh gửi bài dự thi của chính mình (kèm theo
tên bài thơ dự thi và bút hiệu của mình) về
email address:
thitho_dangviet@hotmail.com
- Không nhận thơ tay, thơ qua đường bưu điện, và
thơ qua điện hình thư (fax)
- Không nhận bài dự thi gởi qua địa chỉ EM của các
thành viên trong Ban Giám Khảo
- Mỗi thí sinh có thể dự thi tối đa 3 bài thơ theo
chủ đề và thể loại nêu ở trên. Nhưng sẽ chỉ
được nhận tối đa một giải thưởng.
- Bài thơ dự thi phải là bài thơ nguyên bản, chưa từng
được phổ biến dưới bất cứ hình thức gì.
Chẳng hạn: các trang nhà (homepage), đặc san, tuần san,
nguyệt san, cũng như các nơi khác.
- Bài dự thi sẽ lần lượt được đăng tải trong
Anh Thư Quán (anhthu@egroups.com) dưới ký số đánh
dấu bởi BTC (không kèm tên + email của tác giả).
Anh Thư Quán có toàn quyền trong việc phổ biến và
đăng tải các bài dự thi này. 100 bài hay nhất
sẽ được chọn đăng trong Tuyển Tập Thơ Dáng Việt.
Mỗi thí sinh có bài được chọn đăng sẽ được tặng
một tập thơ này.
GIẢI THƯỞNG:
- 1 giải nhất: Một vé máy bay du lịch trong nước Mỹ (trừhai
tiểu bang Alaska và Hawaiị), 2 CD nhạc(Hãy Cứ
Là Tình Nhân, Những K Khúc Của Lê) cùng một
số sách, truyện, thơ. Nếu người thắng giải
không sống tại Mỹ, ban tổ chức sẽ gửi quà
trị giá tương đương với giá một vé máy bay
vào thời điểm lúc bấy giờ.
- 1 giải nhì : 1 Tự Ðiển Anh Việt, 2 CD nhạc (Hãy Cứ Là
Tình Nhân, Những K khúc của Lê), một số
sách, truyện, thơ và một năm nhận tạp chí
Văn Tuyển miễn phí.
- 1 giải ba : 7 cuốn sách, truyện, thơ của những tác giả
khác nhau, 2 CD nhạc (Hãy Cứ Là Tình Nhân, Những
K khúc của Lê) và một năm nhận Tập San Thi Ca
miễn phí.
- 5 giải khuyến khích: 5 cuốn sách, truyện, thơ và 2 CD nhạc
Hãy Cứ Là Tình Nhân, Những K khúc của Lê)
DANH SÁCH CÁC VỊ MẠNH THƯỜNG QUÂN:
BTC xin thành thật cám ơn quý vị mạnh thường quân đã
ủng hộ về tinh thần lẫn vật chất để giúp cuộc
thi thơ lần này được thêm phần hào hứng và hoàn
hảo hơn.
1 Ðức Trí - Quế Anh
2 Thi, văn sĩ Du Tử Lê
3 Bút nhóm Hoa Bằng Lăng
4 Thi, văn sĩ Ly Lan
5 Thi, văn sĩ Nguyên Khôi
6 Thi, văn sĩ Nguyễn Tấn Hưng
7 Thi sĩ Nguyễn Tư Phương
8 Anh Phạm Ngọc (chủ biên tạp chí Văn Tuyển)
9 Chú Phạm Quang Tân (chủ nhiệm tạp chí Văn Hóa Việt Nam)
10 Anh Quốc Thái
11 Thi, văn sĩ Thanh Bình
12 Nhà xuất bản Tống Châu (Canada)
13 Nhạc sĩ Tú Minh
14 Nhóm ThiCaNet
15 Một vị mạnh thường quân ẩn danh sẽ hỗ trợ
trong việc thực hiện Tuyển Tập Thơ Dáng Việt
Xin thân mến mời các bạn yêu thơ xa gần hưởng ứng
tham gia đông đảo để cuộc thi thơ Song Thất Lục Bát
thêm phần hào hứng, cũng như để khách yêu thơ được
cơ hội thưởng thức những sáng tác đậm đà nét đẹp
của dân tộc con Rồng cháu Tiên chúng ta.
Mọi bài dự thi, thắc mắc cũng như ý kiến đóng góp,
xin vui lòng gửi về:
thitho_dangviet@hotmail.com
Thân aí,
BTC cuộc thi thơ DÁNG VIỆT
Hiếu Học, Thơ thơ và Vũ Thi An
-----------------------------------------------------------------------
NHẬN BÁO: Muốn nhận được báo, bạn hãy gửi một email
về địa chỉ miet-vuon@onelist.com. Trong message body, bạn chỉ
cần viết: "subscribe mietvuon" để nhận báo, hoặc "unsubscribe
mietvuon" để lấy tên ra khỏi danh sách.
BÀI VỞ: Xin gửi về mietvuon@saigonline.com. Nếu các bạn
không muốn đăng địa chỉ e-mail, hoặc danh tánh, xin ghi rõ
trong thư. Bài đã đăng ở nơi khác xin ghi rõ để tùy nghi
sử dụng. Nếu gởi bài của các tác giả khác, xin kèm theo
thư ưng thuận của tác giả. Miệt Vườn mong đón nhận các
sáng tác thơ, văn, nhận định, v.v. kể cả những ý kiến
xây dựng cũng như thắc mắc của các bạn.
TRÍCH ÐĂNG: Xin liên lạc trực tiếp với tác giả hay Miệt
Vườn.
CẢM TẠ: Chân thành cảm tạ saigonline.com, dưới sự bảo trợ
của ViNet Communications, Inc., đã cho Miệt Vườn lưu trữ, sử
dụng server miễn phí.
-----------------------------------------------------------------------