|
||
|
Văn của người viết ở đây cũng bị ảnh hưởng thơ Hà Nguyên Du, đánh nhiều dấu phết để chấm nửa câu, như muốn diễn tả ( tương tự như văn thể HND ) một cách vừa cứng cỏi vừa đơn sơ, nhân t́nh và nhân tính : Mất ǵ trên đôi tay thơ
Thơ óc năo, thơ dệt bằng từ ngữ chọn lọc, thể văn nhiều lúc cần cù nhưng không kiểu cách, trong sự t́m kiếm một phương pháp diễn tả t́nh đời và t́nh người hoàn toàn đặc biệt, bao giờ cũng thiết thật, trung thành với lư tưởng, với quá khứ thương đau mà nhà thơ không muốn quên, với cuộc đời sống mới mà người đương xây dựng, can đảm và đầy hứa hẹn. Qua “ Mấy Đoạn Sử Thi “ ( Tr, 55- 61 ) , tác giả hồi kư ngày 13/09/77 (Mười Ba/Chín/Bảy Bảy, tr , 55 ) trong ngục tù của tinh thần và xác thể : Tưởng như cá rục man, vi
C̣n nói ǵ đến ngày 07/07/82 ( Bảy/Bảy /Tám Hai, tr, 57 ) ông vẫn c̣n sống dưới chế độ chà đạp con người và t́nh cảm , cho nên sự toan làm giải thoát là mục đích của mỗi ngày : Ḷ ṃ bước mạo hiểm cùng
Cho đến ngày 16-23/11/90 (Mười Sáu/ Hăm Ba/Mười Một/Chín Mươi, tr, 59 ), Hà Nguyên Du được trả về tự do và từ hồi ấy, sinh sống tại Mỹ Quốc, quyết tâm đi t́m một “ Lối Khác “ cho đời ḿnh. Nhà thơ diễn tả nỗi mừng vui của kẻ vừa thoát địa ngục, được chấp nhận vào cơi thiên đường sáng lạng : Thoát đi từng đợt, từng đoàn
Hà Nguyên Du là ai ? Tôi hân hạnh biết nhà thơ qua Vương Thu Thủy ( một nữ nghệ sĩ điêu khắc và thơ mà nhạc sĩ Trịnh Hưng đă giới thiệu cho độc giả Nghệ Thuật, trong số 61, th, 04- 1999 ) sau một chuyến đi từ Pháp qua quận Cam vào khoảng tháng 05- 1999, được thi sĩ Hà Nguyên Du và tổng thư kư Trần Ngọc thuộc Trung tâm Văn bút Việt Nam ( Hải ngoại ) đón tiếp với sự có mặt của nhạc sĩ lăo thành chủ tịch Nguyễn Hiền và những nghệ sĩ ở Cali ( x, nhật báo ‘ Miền Nam Cali ’, ngày 15 th, 05- 1999). Lúc trở về Paris, VTT chuyển trao cho tôi một bản thi tập ‘ Lối Khác ’ do tác giả Hà Nguyên Du đề tặng ( Tựa Du Tử Lê, B́a Khánh Trường, Tŕnh bày Đoàn Duy Hiệp, Phụ bản Cao Bá Minh, Lê Thánh Thư, Khánh Trường, Quang Trường, Nhạc Vũ Thành An, Hoàng Linh Duy, Trần Duy Đức, Đỗ Lễ, Ngô văn Tín, Nhà xuất bản Tân Thư Hoa Kỳ 1998 ). Thi phẩm Hà Nguyên Du gồm có 91 bài ( thật là phong phú ) trong đó 15 bài được phổ nhạc. Thơ họ Hà như tôi đă nói trên, rất kích thích tâm thần, nhưng đọc qua đọc lại nhiều lần quả thật là thích thú, và từ giây phút đó sẽ mến phục, mến cảm, mến yêu. Theo tiểu sử tóm tắt ở trang b́a cuối, Hà Nguyên Du bắt đầu làm thơ từ hồi rất trẻ và đă đăng trên nhiều báo lừng danh ở quốc nội ( trước ngày 30/4/75) và hải ngoại ( từ năm 1990 ) với bút hiệu Mộng Yên Hà. Ông là người đă sáng lập – cùng với Nhất Chính, Hoàng Triều Dương, Nguyễn Thanh Tùng – Đông Tây Thời Báo năm 1992, đă cho in Trong Mùa Lá Xanh ( sách tập hợp, 1970 ) và sẽ xuất bản Anh Biết, Em Yêu Dấu ( thơ ), Bóng Trắng Trong Tâm Hồn Đen ( tập truyện ) và Cho Em Bài Sonnet ( tuyển tập nhạc từ những bài thơ được phổ ). Vừa rồi, thi bản Cho Tôi Bài Tango ( thơ HND, Nguyễn Hiền phổ nhạc ) đăng trong Nghệ Thuật số 64, th, 07- 1999, tr, 52, được nhạc sĩ Lê Dinh khen ngợi ( đó là một bảo đảm quan trọng cho tương lai). Trong số 65, th, 08 – 1999 ( NT, tr, 31 vừa qua, chúng ta lại được thưởng thức thêm những câu thơ đẹp của Hà Nguyên Du trong Đă Rồi Một Cánh Chim Bay, như : Đâu rồi suối cũ, trăng xưa
Tác giả ‘ Lối Khác ’ không những đă đạt được một lối khác cho đời ḿnh mà c̣n đạt được một lối khác cho thi ca Việt Nam. Hà Nguyên Du thi sĩ không tương tợ với ai trong vườn thơ nước nhà. Tôi đă cố t́m kiếm và đọc lại các văn thi sĩ trong ‘ Thi Nhân Việt Nam ’ ( Hoài Thanh – Hoài Chân ), trong 5 Bộ ‘ Nhà Văn Hiện Đại ’ ( Vũ Ngọc Phan ), trong 9 tập ‘ Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến ’( Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng ), để đi tới một so sánh nào ( có thể ) với HND nhưng phải thú thật là rất khó khăn. Trừ phi Đoàn Phú Tứ (có lẽ) với mấy câu tuyệt vời trong ‘ Màu Thời Gian’ : Màu thời gian không xanh / Màu thời gian tím ngắt / Hương thời gian không nồng / Hương thời gian thanh thanh mà theo Hoài Thanh – Hoài Chân : ‘ Người xem thơ cũng biết rằng đây là h́nh ảnh một đôi mẫu đời, nhưng h́nh ảnh mờ quá không thể đoán những mẫu đời kia ra thế nào. Có khi cả ư nghĩa bài thơ cũng không hiểu rơ ’ Sự so sánh hơi quá đáng này phải chấm dứt ngay ở đây : bởi v́ – trái với ĐPT – danh từ và từ ngữ của họ Hà rất sắc sảo, nhắm làm nổi bật bức tranh ông phát họa cho đời. H́nh ảnh nhà thơ để lại cho hậu thế, thật giống nét vẽ của Daumier trong thế kỷ thứ 19. Trong lănh vực nhân t́nh, Hà Nguyên Du đă để gia đ́nh trên tất cả, v́ thi tập...‘Lối Khác ’ trước hết được tác giả ‘ kính dâng hương hồn cha, cho gia đ́nh, mẹ, các em cùng vợ và hai con ’. Thân phụ yêu dấu của nhà thơ đă mất ( v́ chế độ bạo tàn ) ngày 10/12/86, là một vết thương ḷng không bao giờ hàn gắn : Gọi con, cha trút hơi cùng
May thay ! Hạnh phúc mới đă đến với nhà thơ trên đất khách quê người, và ngày 24/06/95 ( 5 năm sau lúc định cư tại Westminster – California ), tuổi vừa tứ tuần, chàng gặp nàng trong một t́nh yêu vĩnh cữu : Bốn mươi năm đă chẳng là...
Đến “ bạc đầu, răng long? “ Hạnh phúc hiện tại, hạnh phúc tràn đầy ! Ngày 23/04/96, chỉ gần một năm sau ngày hôn phối, nhà thơ sung sướng được làm cha lần đầu : Tôi mừng run, mắt rơi thưa
Hà Nguyên Du làm thơ rất nhiều để ca tụng t́nh yêu xưa, t́nh yêu mới, t́nh yêu tự đáy ḷng : Thơ ta/ Xung động……………………………../ Ngục trần oan khiên / Thơ ta / Măi ngát hương, hiền / Khai thông / Cho máu trăm miền về tim……….. .( Thơ ta, tr,10 ), v́ : Yêu người như một bài thơ / Cho ta thức trắng đêm chờ ư tuôn ( Yêu người, tr, 12 ) ; và một khi đă yêu, chàng muốn đặt một ṿng hoa hậu lên trên đầu nàng, xây dựng một biệt thự nguy nga cho riêng người yêu dấu : Bàn tay có một ngón dài
.. .Bàn tay có một ngón dài
Nhưng giọt lệ chia ly hay mường tượng chia ly ám ảnh nhà thơ họ Hà, đeo đuổi hứng cảm của người thi sĩ đă từng sống biết bao trạng huống đau buồn nơi quê cha đất tổ, mỗi khi gặp người thương một chiều mưa gió : Đôi mắt mưa buồn, đôi môi chợt tím
“ Năo Ḷng “ ( tr, 46 ) với họa sĩ Quang Trường ( phụ bản tr, 89 ) : Rồi theo gió bạt mây ngàn
Và c̣n biết bao vần thơ hay đẹp tặng nàng, trong một t́nh yêu muôn thuở mà nhà thơ ôm ấp ngày đêm : Em cho ǵ giữa cơn mưa?/ Mà nghe nặng trút v́ chưa muốn tàn! ( Ví Dầu T́nh Ta, tr, 43 ), hoặc Em khóc t́nh ta / Anh ḥa mắt lệ / Em đi hoang phế / Anh đến dương tà / Em khóc ngày mai / Anh hoài ước vọng / Em khao khát sống / Anh thiết trần ai ( Em Khóc Ngày Mai, tr, 115 ). Trong “ Em Và Măi Măi ” tr, 69), nhà thơ tự hỏi : Đâu hạnh phúc trần gian mà ta đợi
Nhưng t́nh quê hương không bao giờ phai lạt, mặc dù xa cách muôn trùng, người vẫn tiếp tục : Mơ một đời về bên mái nhà
Nhưng HND không quên được nỗi thống khổ của dân ḿnh, của những người thân yêu lúc ông c̣n là tù nhân đày đọa của một chế độ khinh miệt nhân quyền : Ơi! quê nhà rách tủa áo, trơ thây!
Cũng như phần đông những đồng bào chúng ta đă phải bỏ nhà xa nước, kéo lê cuộc sống nơi quê người, ngày nào thi nhân lại không hướng mắt về cố đô, thành phố hồi xưa biểu hiện của dân chủ tự do, của hạnh phúc của mỗi người : Sàig̣n trong mơ, Sàig̣n trong thơ
.. Sàig̣n trong mơ, Sàig̣n trong thơ
LÊ MỘNG NGUYÊN
|
|
|