|
||
|
Với những phong cách làm thơ nêu trên, lại có background là một người ca tài tử, tôi rất được khuyến khích vào nghề qua giọng ca và khả năng sáng tác nhưng...[ *(1) xin xem chú thích trang 162 có trích đọan bài phỏng vấn của đài truyền h́nh SBTN]. Nên việc bước sang lănh vực biên soạn 45 bài ca Tân Cổ Giao Duyên , hẳn là một điều dễ dàng và dĩ nhiên cũng không có ǵ để ai phải ngạc nhiên. Điều quan trọng mà tôi muốn nói ở đây : Là tôi sung sướng vô cùng khi cảm thấy như ḿnh đang làm thơ vần điệu trên những bài ca vọng cổ... Nhưng nhân tố quyết định cho việc tiến hành biên soạn không phải là nồng độ yêu thích hay sự lo lắng, mà là một ước nguyện của tôi : Phải làm một cái ǵ đó cho nghệ thuật cải lương hay nền cổ nhạc VN đang trong cơn cần kíp. Một cái ǵ đó không nhất thiết là một cái lớn, nhưng ít ra phải có chút giá trị tác động dù là cái nhỏ... Chính từ đó, tôi có bao điều thú vị và hấp dẫn để nghiên cứu sâu thêm về nền âm nhạc cổ truyền rất đặc thù Việt Nam. Một nền âm nhạc truyền thống đă có từ thuở b́nh minh của dân tộc, được Mẹ Việt Nam sinh ra trước sau như một kết hợp nhân duyên từ hai nền “ ca hát dân gian và nhạc khí dân gian ” Với những yếu tố đặc thù này, cho phép chúng ta khẳng định rằng : Cải lương là một “ đứa con ” thật khôi ngô và tuấn tú, từ lúc được sinh ra và lớn nhanh như “ vươn vai Phù Đổng ”, chàng trai cải lương luôn ngoan ngoăn làm vui ḷng, cả đến say mê bà con họ hàng, làng nước. Nhưng sau đó ít lâu, Mẹ VN lại sinh ra thêm một đứa con khác, mà nguồn gốc từ Tây phương như một người cha, đó là Tân nhạc, coi như đứa con Tân nhạc là một người “em cùng Mẹ khác Cha “ với cải lương. Người em Tân nhạc này như cô gái xinh đẹp, cũng lớn nhanh không kém. Chúng ta có thể ví cô như một cô gái Việt lai Tây, ăn mặc đồ đầm, có ngoại h́nh hấp dẫn với môi hồng mắt xanh rất lôi cuốn. Nhan sắc cô như một sức hút từ lúc chào đời măi cho đến nay.(Không nên so sánh giọng điệu và ngôn ngữ cô với người anh về sức thuyết phục, khi khác nhau về phái tính ). V́ cô có “ gene “ truyền đạt thật rơ ràng, nghĩa là có “ kư âm pháp “ mạch lạc, để cô có bước đi khoan thai và tuyệt diệu trên con đường ngày một phát triển, nên được một số bà con trí thức cho là modern hay đôi khi ra kiểu làm dáng với người có chút chữ nghĩa.( Mặc dù bước cô đi tự nhiên mà tưởng chừng đă lấn người anh cải lương trong làng âm nhạc cổ truyền, đi vào tiểu lộ ” v́ không tạo nên phương pháp kư âm hoàn chỉnh “.) [ Bởi nền nghệ thuật âm nhạc cổ truyền của chúng ta là một nền âm nhạc tự nó không có nền tảng vững chắc và thiếu khả năng tái sinh” Về nhạc học, suốt mấy ngàn năm văn hiến, chúng ta không xây dựng được một cơ sở lư thuyết nào vững chăi. Chỉ có hồi giữa thế kỷ này các nhạc viện và các nhà nhạc học đă bắt đầu sử dụng kư âm pháp để ghi lại các sườn giai điệu, tuy nhiên rất đơn giản, và tổng số sưu tập vẫn c̣n quá ít ỏi. Nguyên nhân tổng quát có thể nh́n thấy là VN ngày xưa không có truyền thống sáng tác âm nhạc mới. Các nhạc sĩ ” không có nhu cầu tạo nên phương pháp kư âm “. Nhất là, mặc dù chúng ta đă cố hết sức bảo tồn âm nhạc nghệ thuật cổ truyền, nhưng cũng chỉ dừng lại ở đó... ] * (2) Xin xem trích đoạn bài phỏng vấn nhạc sĩ Hoàng Ngọc-Tuấn, hay chú thích trang 162 ‘’ Nh́n lại âm nhạc Việt Nam trong thế kỷ 20 “ do Minh Nguyệt thực hiện, hoặc ở web site : www.tienve.org/home/music/viewMusic.do Cảm thương thay, chàng trai này v́ cùng trên một con tàu vận mệnh đất nước, phải chịu thêm thăng trầm cùng sóng cả đại dương. Đă lâu nay chàng như bị những bước ngoặc lịch sử khiến chàng giậm chân ṃn đất, tưởng như đi bước thụt lùi, nét khôi ngô tuấn tú như thay vào vẻ mặt “ uglify “, càng gây cho một số bàng quan nặng thêm phần thiên kiến. Nhưng ngược lại, với tôi càng tự tin khi viết đến đây, chợt nhớ đến bài tiểu luận của Nhà thơ Khế Iêm, chủ biên “ tạp chí Thơ “ Hải Ngoại *(3) ( Xin xem trích đoạn nơi chú thích từ trang 162 hay ở Web site : www.tapchitho.com (->Tứ khúc tiểu luận, bài “Đọc thơ ”, có liên hệ nhiều đến nghệ thuật cải lương ) Và nhất là tôi càng yêu âm nhạc cổ truyền VN hơn khi may mắn trên bước đường sưu tầm gặp được bài biên khảo giá trị của một nhạc sĩ lăo thành tài danh “ Nguyễn Hiền “ : bài “ Claude Debussy – Nhà soạn nhạc Pháp và âm nhạc cổ truyền Việt Nam “ (4) Xin xem chú thích trích đoạn từ trang 162 -> Dù sao, chàng cải lương vẫn luôn “ sung sướng“ về việc Trời sinh ra ḿnh là để mang hạnh phúc lại cho ĐẠI CHÚNG, trong đó có đông đảo bà con b́nh dân. Bởi máu thịt của chàng là sự kết tinh của nền văn hóa nông nghiệp, rặc ṛng ṇi Việt Nam sau nhiều đời biến hóa từ một chút lai Tàu trở nên hẳn của ta... Dù sao, chàng cải lương vẫn là đứa con yêu quí đặc biệt của một dân tộc tuy nhỏ bé, nhưng chàng vẫn luôn thích chí về bản sắc thông minh của ḿnh. Biết linh hoạt biến hóa, biết pha trộn với mọi tính chất : “ Kết hợp và Cải cách” theo đà tiến bộ xă hội của loài người. Nhất là tôi càng tự tin hơn khi nh́n sang Đông sang Tây, thiên hạ không ai mà không có dân ca, truyền thống, để rồi họ cũng có bước kết hợp giống ḿnh... Họ to xác hơn, thế mà họ cũng quanh quẩn về sự thay - đổi qua - lại hay dùng cách pha – trộn truyền thống với hiện đại, theo bước chuyển động không ngừng hoặc sự vận hành bất định. Đó là t́nh trạng của các chủ nghĩa văn học và nghệ thuật đă và đang diễn biến trên thế giới Từ đó, chúng ta có thể t́m ra những tương đồng hay dị biệt để học hỏi cùng các nước, (hoặc có thể thử dùng phép đối chiếu hay áp dụng văn học so sánh ) với một chủ nghĩa ở phương Tây ( đi trước cải lương cả thế kỷ, v́ cuối thế kỷ 19 âm nhạc cổ truyền VN c̣n là thời kỳ phát triển cuối cùng của nhạc Lễ) là chủ nghĩa Lăng mạn (Romanticism ) xuất phát từ Đức, cũng đă bắt nguồn từ nền văn học và nghệ thuật b́nh dân (Folklore and Popular Art), nhưng lại kéo dài khoảng hơn bốn thập niên và chấm dứt vào năm 1848. Mặc dù thời gian cách nhau thật xa, nhưng nếu chỉ sánh sự kéo dài th́ nghệ thuật cải lương của VN vẫn sống cho đến bây giờ, dù lâu nay đă bị khựng lại trong không khí èo uột Trước chủ nghĩa Lăng mạn, ở thế kỷ 18 bao gồm cả chủ nghĩa Tân cổ điển (Neo- Classicism) và thời kỳ Ánh sáng (Enlightenment) với cách bảo tồn những tinh hoa xưa, pha trộn những cái nay, phục hưng cái hay cũ và phục hưng lại một cách hơn cả thời phục hưng ( Renaissance). Sau chủ nghĩa Lăng mạn là chủ nghĩa Tượng trưng (Symbolism) ra đời vào thập niên 1880, bao gồm cả chủ nghĩa Hiện thực (Realism). Nối tiếp chủ nghĩa Tượng trưng từ thập niên 1880 đến thập niên 1980, coi như một thế kỷ , với bao gồm luôn cả chủ nghĩa Hiện đại và chủ nghĩa Hậu hiện đại (post-modersm) Nhất là sự chuyển động của chủ nghĩa Hậu hiện đại từ lâu ở Hoa Kỳ, sự pha trộn quá khứ, kết hợp truyền thống, t́m về sự gần gũi với đại chúng... Tưởng cũng nên trích đoạn nơi đây những bài viết trên Tạp chí Điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ : * (5) Về cuộc phỏng vấn “ Tṛ chuyện với Dana Gioia”, nhà thơ và là đương kim chủ tịch NEA Quỹ Quốc Gia về Nghệ thuật của Hoa Kỳ ( người chủ trương phong trào Thơ Tân H́nh Thức của Mỹ ) * (6) Về Nghệ Thuật Ở Mỹ : Những Hướng Đi Mới, và Mang Nghệ Thuật Đến Với Tất Cả Người Mỹ, hay bài Những Phát Họa Từ Cây Cầu. Đọc phần trích đoạn chú thích từ trang 154 -> hay ở web site: http://usembassy.state.gov/posts/vn1/wwwhta89 0.html (or 89_1.html, 89_7.html ) Và, điều nổi bật đáng ghi nhận nhất ở đây, mặc dù chuyện ở trong nước nhưng (v́ tương tợ với việc làm của tập bài ca này) là : * (7) NSND Doăn Hoàng Giang và cuộc cách tân cải lương (đọc chú thích từ trang 162 -> hay ở web site : http://cailuongvietnam.com/modules.php?name=New&file=article&sid=40 , cùng với số ( = 230 ) ở trang web này, xin đọc thêm bài có tiêu đề: Vọng cổ : Một chút lư thuyết căn bản và thực hành, đặc biệt có bài “ kư âm pháp cho bản vọng cổ “ của Dược sĩ Lê văn Thành. Cho chúng ta thấy rằng con đường văn học và nghệ thuật của thế giới đă và đang quanh đi quẩn lại, giống như sự vận hành của nghệ thuật cải lương từ khởi thủy cho đến nay : Giới làm nghệ thuật, họ cũng t́m về với đại chúng hay đưa nghệ thuật đến với mọi người, qua các khuynh hướng cách tân, làm mới hoặc sáng tạo theo kiểu pha trộn truyền thống, hiện đại để có cho ḿnh một cái riêng ..v..v.. Trên đây là những điều tŕnh bày thật dài ḍng, đành vậy, nhưng cũng với mục đích để tôi chứng minh rằng nghệ thuật bao giờ cũng đồng nghĩa với sáng tạo ( chỉ nói đến sáng tạo chứ không đề cập đến độc sáng ) mà sáng tạo (create), dù ở quan niệm nào cũng là sự chuyển động trong liên tục của sự chuyển động. ( Nếu nghĩ văn học và nghệ thuật như là món ăn tinh thần ) th́ sáng tạo ( chỉ nói riêng nghệ thuật cải lương ) có khác chi là cách nấu ăn, chế biến hay pha trộn. Làm thế nào cho mỗi ngày một ngon hơn, càng hợp khẩu vị với nhiều người trong khối đại chúng... Nhắc đến khẩu vị của đại chúng hay của giới b́nh dân ở thập niên 1950, hẳn nhiên phải khác với khẩu vị của đại chúng hay giới b́nh dân của thập niên cuối Thế kỷ 20 (năm 2000) là cái chắc. Bởi, những thập niên cuối cùng của thế kỷ 20 là những thập niên của cách mạng điện toán, của sức mạnh truyền thông, của phát minh khoa học ..v..v.. V́ những lẽ nói trên nên tôi rất hào hứng bắt tay vào việc soạn tập bài ca Tân Cổ Giao Duyên này. Một việc làm b́nh thường, vẫn với tính cách kế thừa, xuất phát từ ước vọng đóng góp hay thể hiện ḷng đam mê. Việc soạn bài ca, ở tôi dùng ngôn ngữ b́nh thường, nhưng mang tính “ gạch nối (-) “, hay nói đúng hơn là: Một khuynh hướng làm “ nhịp cầu “ giữa các tŕnh độ thưởng ngoạn và tŕnh diễn nghệ thuật. Với cách kén chọn loại nhạc dù vẫn là loại nhạc phổ thông (popular music), nhưng không quá b́nh dân, để tôi minh chứng rằng : sự khai triển ngôn ngữ (với chút cách tân) sẽ làm nổi lên sự b́nh đẳng về thể loại, có lệch chăng chỉ là thiên kiến, hoặc có khác chăng chỉ ở pháp kư âm hay luật tắc của mỗi thể loại... Trở lại vấn đề nghệ thuật, chúng ta đừng quên rằng, vốn của nghệ thuật là sự tiến triển không ngừng nghỉ. ( Một món ăn cần phải nấu chín mà để y nguyên th́ không thể gọi là nghệ thuật. Một “ ngọc bất trác, bất thành khí” , dĩ nhiên không thể gọi là nghệ thuật. Nhất là một tự măn hay một ngủ quên trên chiến thắng, không thể gọi là nghệ thuật ) Và, nguồn gốc của ngành nghệ thuật cải lương chính là sự “ kết hợp và cải cách “ theo hai câu liễn nêu rơ của Đoàn Tân Thinh ra đời đợt 2 năm 1920 : “ cải cách hát ca theo tiến bộ lương truyền tuồng tích sánh văn minh “ Xem như đây là một “ cương lĩnh của nền nghệ thuật cải lương “ ( Một loại h́nh nghệ thuật hầu như “ duy nhất ” biết kết hợp các loại h́nh khác để tiến bộ ) Tương tợ như tinh thần dân tộc mở (open nationalism ) soạn giả diễn viên kiêm đạo diễn Nguyễn Thành Châu, một soạn giả rất tài năng đă vận dụng vốn liếng kiến thức Tây học đóng góp vào cho cải lương, cùng nhóm của ông có soạn giả tài danh hàng đầu Trần Hữu Trang, nghệ sĩ lăo thành Phùng Há ( nhóm này được phong là Tổ của cải lương hiện đại 1930 ) Cùng đưa cải lương lên đến tột đỉnh vinh quang với gần nửa thế kỷ huy hoàng, có các soạn tài năng như : Hà Triều-Hoa Phượng, Viễn Châu, Mộc Linh, Ngọc Điệp, Quy Sắc, Loan Thảo, Kiên Giang Hà Huy Hà, Yên Ba, Yên Lang, Lê Khanh, Yến Linh, Kinh Luân, Trần Hà, Trọng Nguyên, Nguyễn Huỳnh, Phong Anh, Hoàng thị Nguyệt, Duy Lân, Thái Thụy Phong , Thái Quốc Nam, Hoàng Khâm, Nguyễn Phương .v..v.. Nói đến cải lương, chúng ta cần phải nhắc nhớ những vị tiền phong ( avant-garde ), những người có công đầu trong ngành: Năm Tú ( công đầu xây dựng lối hát cải lương), Năm Châu ( công đầu phát triển cải lương lên tầm hiện đại) Nguyễn Tống Triều ( công đầu đưa đờn ca tài tử lên sân khấu) và nhạc sĩ Cao Văn Lầu ( công đầu sáng tác bài Vọng cổ). Đặc biệt, người mà tôi cần nói nhất ở đây v́ liên hệ đến việc tôi soạn ra tập bài ca mà quí vị có trong tay : Đó là Soạn giả Viễn Châu, ( người có công đầu, là cha đẻ của lối cổ kim ḥa điệu, đưa tân nhạc vào bản vọng cổ để thành một “ Tân Cổ Giao Duyên “ nổi tiếng nhất xưa nay ).Góp công nâng cải lương lên thêm tầm cở. Và, để kết luận cho bài viết tựa này, tôi xin lập lại việc tôi biên soạn tập bài ca Tân Cổ Nhạc Giao Duyên, là một việc làm tiếp theo sau rất nhiều soạn giả đă làm trong hàng chục năm qua. Nhưng, bước đi sau với bước tiến mạnh bạo và khẳng định cùng tính chất logic, phần nào cũng đă có một chút khác. Tuy nhiên, nên xem đây là một việc nhỏ của khối việc lớn trong vấn đề phải cách tân cấu trúc hay xây dựng lại tuồng tích cải lương cho phù hợp với xă hội đương đại. Riêng với sự ra đời tuy muộn màng của tập bài ca này, cái khác ắt phải có, ấy là điều hẳn nhiên. Cái khác đó mặc dù là sản phẩm văn hóa và nghệ thuật nhưng có thể sánh như sản phẩm công nghiệp và máy móc điện tử, phải đi từ “ update “ để đến với “ upgrade “. Cái khác đó hẳn mọi người đă tiếp cận, đă chung đụng hằng ngày với những thành tựu của tiến bộ và văn minh trong suốt hơn hai chục năm qua, bởi sự bùng nổ của khoa học kỷ thuật, của điện toán và truyền thông. Cho đến nay, sự thành tựu ấy như một ḍng thác, ngày càng dữ dội hơn, tạo ra sự cuồng quay và chuyển động mạnh mẽ theo bước chân công nghiệp hóa. Tất cả rơ ràng đă thúc đẩy hết mọi thứ. Nhất là sự toàn cầu hóa (Globalization ) đến nổi như biến thành một làng địa cầu (Global village ) như hiện nay. Thế là, việc làm nào hôm nay của chúng ta mà không thay đổi hay có thể gọi là thích nghi để được tồn tại và phát triển ?? HÀ NGUYÊN DU
TRƯỜNG KHANH
Phần chú thích Chú thích từ # 1 đến # 9, hay đọc nơi những trang website như đă giới thiệu trong bài tựa. Ở đây chỉ trích đoạn những phần tương đối quan trọng có liên hệ đến việc biên soạn bài ca hay nghệ thuật cải lương ... * 1 Theo cuộc phỏng vấn của đài truyền h́nh SBTN (thuộc trung tâm Asia do nhạc sĩ Trúc Hồ chủ trương) lúc 2 giờ ngày thứ tư 26 tháng 5 / 2004 ; ở đây tôi chỉ nêu ra phần trả lời ngắn về những động lực thúc đẩy tôi biên soạn tập 45 bài ca TCGD này: a/ Tôi hiện hữu nơi miền quê nghèo nàn, thuở nhỏ lúc theo học mấy lớp đầu đời, thường được thầy giáo Nguyễn Tấn Phương gọi lên bụt để ca vọng cổ. b/ Những năm ở Sàig̣n, đi học, làm báo, tôi ở căn gác 382/80B, sau “ ḷ dạy cổ nhạc “ của nhạc sĩ Văn Vĩ. Một hôm ghé lại xin thọ giáo (1970), sau khi tôi ca thử th́ liền được nhạc sĩ Văn Vĩ khen ngợi, rồi hỏi han xuất xứ và việc đi ca tài tử như thế nào. Sau đó tôi luôn được thầy khuyến khích vào nghề qua giọng ca và khả năng sáng tác. Nhưng...kém may mắn thay, tôi không thực hiện được theo lời thầy v́ bị động viên phải đi vào quân ngũ. * 2 Nhạc sĩ Hoàng Ngọc-Tuấn, trả lời cuộc phỏng vấn của Minh Nguyệt, có đoạn với câu hỏi : MN : Trở lại với nền âm nhạc nghệ thuật cổ truyền của chúng ta, anh cho rằng đó là một nền âm nhạc tự nó không có nền tảng vững chắc và thiếu khả năng tái sinh. Anh có thể nói rơ hơn một chút ? HN-T : Để soi rọi những điểm này ta nên lướt qua những đặc tính chính của nó. Âm nhạc nghệ thuật cổ truyền Việt Nam không tồn tại trên những bản kư âm chi tiết , mà tồn tại chủ yếu qua đường truyền khẩu. Trong trường hợp cần có bản kư âm để làm phương tiện giúp trí nhớ, các nhạc sĩ VN thuộc sắc tộc Kinh ngày xưa sử dụng một số chữ đặt tên cho các âm. Nhạc cổ truyền VN của sắc tộc Kinh sử dụng nhiều dạng ngũ cung khác nhau nhưng chủ yếu sử dụng năm âm chính là : ḥ, xự, xang, xê, cống. Để có thể kư âm những giai điệu rộng hơn một bát độ Tây phương, hoặc để ghi nhận sự khác biệt giữa các điệu thức, các nhạc sĩ VN đă đặt thêm vài chữ nữa như : phan, liu, ú, oan. Nh́n chung cách kư âm này chịu những hạn chế như sau : âm vực được kư âm rất hẹp ; âm sắc, cường độ, trường độ và tiết tấu không được mô tả ; và không có khả năng ghi bè đa điệu. Bởi những hạn chế đó, những nhạc khúc cổ truyền VN chỉ là những sườn giai điệu rất đơn giản và tổng quát... .. Tất nhiên, âm nhạc nghệ thuật cổ truyền VN có một lịch sử rất dài ... nhưng tổng số bài bản lại chỉ c̣n có chừng vài chục sườn giai điệu ... ... Nguyên nhân tổng quát có thể nh́n thấy là VN ngày xưa không có truyền thống sáng tác âm nhạc mới ... ... Chính v́ không nhắm đến sáng tác, nhạc sĩ ngày xưa không có nhu cầu tạo nên phương pháp kư âm hoàn chỉnh ... nên thế hệ trước có thể học thuộc ḷng bằng miệng, và từ đó tiếp tục dạy lại cho thế hệ sau... ... C̣n về nhạc học, suốt mấy ngàn năm văn hiến, chúng ta không xây dựng được một cơ sở lư thuyết nào vững chăi ... Đó là những lư do tại sao ...tôi nói...tự nó không có nền .. và khả năng tái sinh ... * 3 Đáng nói là từ trước đến nay, người làm thơ chỉ để ư đến tân nhạc, ngâm thơ, và đánh giá cao ca dao, trong khi ca dao lại đơn điệu, nghèo nàn, và chỉ tạo ra một thứ thơ như cao dao ... Một bộ môn ít người để ư và coi thường là cải lương, lại cho chúng ta nhiều điều suy ngẫm. Bỏ qua những khuyết điểm rất lớn của cải lương là tuồng tích, thiếu chất sáng tạo và tư tưởng có tính trí tuệ, ( thật ra đối với cải lương th́ đây không phải là khuyết điểm v́ mục đích là phục vụ cho giới b́nh dân ) bố cục và nút thắt đôi khi lỏng lẻo, không hợp lư, những đề tài tâm lư xă hội quen thuộc và lập đi lập lại, chủ yếu chỉ để lấy nước mắt và khêu gợi mối thương tâm, tại sao cải lương lại hấp dẫn và mê hoặc khán thính giả b́nh dân đến vậy. Lư do có thể tạm giải thích là, ngoài những giai điệu phong phú, sự thích nghi với mọi hoàn cảnh và thời đại, cải lương có một tính truyện, phối hợp được với rất nhiều bộ môn từ ngâm thơ, tân nhạc, kịch nghệ đến những đối đáp, và ngay cả lời ca cũng không chuốt lọc mà chỉ những câu nói đời thường, phù hợp với những tâm trạng và đời sống của người b́nh dân. Không những có khả năng mở rộng, dễ biến hóa, ḥa nhập mọi h́nh thái diễn đạt, để làm thành bản sắc, cải lương c̣n có thể vừa bảo tồn vốn cũ vừa tiếp nhận những cách tân, xứng đáng là một bộ môn nghệ thuật có tầm vóc ... Chỉ tiếc rằng cải lương đă không được coi trọng, càng ngày càng sa sút, một phần cũng là do sự ngăn trở của tầng lớp thị dân, sự lơ là của những người làm văn hóa, không thấy đó là một gia tài quư giá, và c̣n rất nhiều lư do xă hội chính trị khác nữa...[Cũng xuất phát từ dân gian, nếu so với tranh gà lợn của hội họa, ca dao của thơ th́ cải lương là một bất ngờ lớn, nghệ thuật diễn xuất có khi c̣n hơn cả kịch nghệ và điện ảnh. Vả chăng những nghệ sĩ cải lương nổi tiếng đều là do những người có tài năng, giỏi nghề, và sống chết với nghề, đă góp công không nhỏ trong việc đưa cải lương trở thành một bộ môn có tính nghệ thuật chuyên biệt.] Giới hạn của cải lương là chỉ được đa số giới b́nh dân tán thưởng, và nếu tránh được những khuyết điểm đă nêu ở trên, có một soạn giả và đạo diễn đủ kiến thức và tài ba, am hiểu nhiều bộ môn nghệ thuật khác nhau ( như trường hợp kịch tác gia tiền phong Hoa Kỳ ở thập niên 1980, Richard Foreman, vừa là nhà soạn kịch, vừa là đạo diễn, vừa là lư thuyết gia, tường tân về mọi ngành nghệ thuật, văn học và triết học), áp dụng thêm những kỹ thuật mới, th́ ảnh hưởng và sức mạnh của cải lương sẽ không thể nào lường trước. Tuy nhiên, điều này chỉ xảy ra khi cải lương có điều kiện và được tạo điều kiện để phát triển ... Đáng ngạc nhiên là những người hay ưu tư đến những vấn đề văn hóa, những thành phần trí thức, hoặc v́ thiên kiến, thiếu nhạy bén, hoặc không nh́n xa thấy rộng, đă không thấy giá trị độc đáo của cải lương. Ngoài cải lương ra, sẽ không c̣n bộ môn nào có thể làm nên chuyện ... * 4 ... “ Nếu chưa t́m hiểu sâu xa, nhiều người sẽ cho rằng âm nhạc của ta nghèo nàn hơn nhạc Tây phương, nhưng thật ra ngoài 5 cung chính : Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ, c̣n những biên cung nằm giữa nữa nên có nhiều thanh âm màu sắc phong phú không kém khi ta nghiên cứu so sánh đôi bên. Tiếc rằng các nhà viết sử âm nhạc thế giới v́ không đủ điều kiện và phương tiện nên chưa có dịp đi sâu vào kho tàng âm nhạc các dân tộc trong đó có nhạc cổ truyền Việt Nam. Người viết bài này nhân dịp sưu tầm tài liệu từ vài chục năm nay do một cơ duyên sắp đặt may mắn đă t́m ra những sử liệu chứng minh rằng nhà soạn nhạc người Pháp nổi tiếng khắp thế giới CLAUDE DEBUSSY nhờ ông chịu ảnh hưởng âm nhạc cổ truyền Việt Nam . Điều đó là sự thật chẳng phải nói ngoa mà sau đây xin trích dẫn tài liệu có thực cũng như đă xuất bản và phổ biến. Thiết tưởng nhân đây chúng ta cũng cần biết sơ qua vài gịng về CLAUDE DEBUSSY để thêm niềm hănh diện về âm nhạc cổ truyền dân tộc mà chúng ta được thừa hưởng từ các vị tiền nhân để lại sau gần 5 ngàn năm văn hiến của gịng giống Lạc Hồng. Ông ra đời năm 1862 tại Saint German-en-Laye và mất năm 1918 tại Paris (Pháp). Tên tuổi của DEBUSSY đánh dấu giai đoạn mở đầu của trường phái âm nhạc hiện đại (Modern music) trên thế giới, tiếp nối các trường phái lăng mạn (Romantism) và cổ điển (Classicism)... ... Năm 1888- 1889, ông ( Claude Debussy ) đi sang Beyreuth viết các nhạc phẩm soạn theo ư thơ của Baudelaire và Verlaine với tên gọi là “ Les Ariettes Oubliées “ mang tính chất độc đáo DEBUSSY. Sau đó ông soạn bản “ Tứ tấu cho đàn giây “, rồi năm 1894 ra đời bản “ Prélude à l’après midi d’un faune “ mở đầu kỷ nguyên mới của âm nhạc hiện đại dựa trên giai điệu Đông Phương (Orientalism) mà mọi người đều ghi nhận như một hiện tượng biện chứng âm nhạc của thế kỷ 20 vừa qua. T́m hiểu động lực nào đă khiến DEBUSSY chuyển hướng sáng tác độc đáo như vậy, đó là ở năm 1890 nhờ ông tham dự Hội chợ toàn cầu tại thủ đô Pháp (Exposition universell de Paris ) và được thưởng thức âm nhạc cổ truyền Việt Nam do giàn nhạc Đại Nội Triều Đ́nh Huế sang đây tŕnh tấu... ... Điều quan trọng ở đây là nội dung cuốn “ Tự điển âm nhạc hiện đại “ của nhà xuất bản Larousse ấn hành nói trên do Claude Rostand nhà phê b́nh âm nhạc nổi tiếng thế giới phụ trách phần biên soạn, cho nên những nhận định của ông về DEBUSSY mang tính vô tư đáng tin cậy và đem lại một dữ kiện tôn vinh âm nhạc cổ truyền Việt Nam mà ít người được biết đến... ( Những đoạn trên đây được trích ra từ bài viết “ Claude Debussy- Nhà soạn nhạc Pháp và Âm Nhạc Cổ Truyền Việt Nam “ của Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, đăng trên trang web : dactrung.net/baiviet/noidung/.aspx?BaiID=Hu%2qIls * 5 Về cuộc phỏng vấn “ Tṛ chuyện với Dana Gioia “, nhà thơ và là đương kim chủ tịch NEA về quỹ quốc gia và nghệ thuật Hoa Kỳ, do Micheal J. Bendler thực hiện. Ở đây tôi xin trích những đoạn trả lời quan trọng của nhà thơ. Mong quí vị đọc thêm trên trang web như đă nêu ở phần bài viết tựa. Hỏi : Hăy bắt đầu bằng việc đánh giá nghệ thuật ở Mỹ qua lăng kính của ông, của NEA. Trả lời : Tôi đến NEA với một quan điểm đơn giản. Một đất nước vĩ đại xứng đáng có một nền nghệ thuật vĩ đại. Mỹ là quốc gia giàu mạnh nhất trong lịch sử thế giới. Nhưng thước đo sự vĩ đại của một nước không phải là của cải hay quyền lực. Mà là nền văn minh nó tạo ra, hun đúc và phát triển. Nói khái quát là điều tôi hy vọng đạt được ở đây là nhằm xây dựng nền văn hóa đại chúng mà nước Mỹ xứng đáng có ... ...Ngày càng có nhiều người nhất tán thành về sự cần thiết phải kết hợp giữa sức mạnh của chủ nghĩa hậu hiện đại và nghệ thuật thử nghiệm với kiểu khả năng tiếp cận dân chủ và tính sẵn có của nghệ thuật đại chúng truyền thống ... ... Hăy nh́n vào âm nhạc cổ điển mà thực ra đưa tôi đến kết luận về xu hướng chính thứ hai : đó là quan niệm về sự pha trộn, các truyền thống hợp lại với nhau * 6 Về nghệ thuật ở Mỹ: Những hướng đi mới (Lời Ban Biên Tập ). Trong cuốn sách xuất bản “ Những viễn cảnh của nước Mỹ “, nhà phê b́nh nghệ thuật sinh ở Australia Robert Hugles chỉ ra một trong những thực tiễn quan trọng của Mỹ là “ một sự khởi đầu lại, từ bỏ bản sắc trong quá khứ “. Đối với Hugles điều này không có nghĩa là rũ bỏ sạch trơn mà là sự giao thoa phức tạp với truyền thống cũ ... Trong bài viết của BBTập này, có trích câu trả lời trong bài phỏng vấn nhà thơ Dana Gioia, chủ tịch NEA : “ Vậy đâu là gốc rễ của trào lưu sáng tạo hiện nay mà tờ báo này đang bàn đến? Trong cuộc phỏng vấn mở đầu của chúng tôi, Dana Gioia, và là chủ tịch Quỹ Quốc gia v́ nghệ thuật, đă chỉ ra một nguồn gốc chắc chắn : “ Lư do v́ sao Mỹ có một lịch sử nghệ thuật tiêu biểu đa dạng như thế, với một bề dày thành tích chưa từng có từ điện ảnh đến chủ nghĩa biểu trưng trừu tượng đến nhạc jazz đến văn học hiện đại là v́ Mỹ đă là và đang là một xă hội thừa nhận tự do cá nhân của nhân dân ḿnh “... * 7 Thật là trùng hợp một cách ngẫu nhiên, tập bài ca đă soạn xong lâu nay, trong thời gian tôi đang viết tựa cho cho tập này th́ bất ngờ tôi đọc tin trên net, thấy có soạn giả đă làm việc tương tợ như ư hướng ḿnh đă thực hiện, tôi rất vui, xin trích nguyên văn như sau : Trên trang web “ cailuongvietnam.com “, trong mục Nghệ sĩ tâm sự được ghi cập nhật vào ngày 02/06/2004, có đăng bài theo tin VN Express : NSND Doăn Hoàng Giang và cuộc cách tân cải lương Ông là đạo diễn duy nhất được mời tham gia dự án nâng cấp sân khấu cải lương TP HCM với kế hoạch dựng một số vở diễn cho nhà hát Trần Hữu Trang. Ông tiết lộ sẽ đưa nhiều yếu tố mới vào vở diễn để thay đổi cách nh́n về cải lương. Hai vở cải lương do ông dàn dựng sắp tới có yếu tố nào đặc biệt ? Nếu tiết lộ bây giờ th́ sẽ không c̣n yếu tố bất ngờ nữa, chỉ biết rằng tôi đang bắt tay vào chuẩn bị cho vở T́nh hận giữa hoàng cung, mang cốt truyện dân gian và một vở đề tài hiện đại tôi chưa đặt tên. Chắc chắn người xem sẽ hài ḷng v́ sẽ có nhiều yếu tố cách tân nhưng không phải là sự lai căng lố bịch. Theo ông, sân khấu cải lương hiện đang mắc những “căn bệnh” ǵ? Sở dĩ môn nghệ thuật này bị sa sút so với kịch nói v́ đề tài của cải lương đang đi theo lối ṃn. Tôi không tin việc khôi phục lại một số vở diễn từng ăn khách là cách tân sân khấu cải lương. Khán giả sẽ có cảm nhận h́nh như sân khấu cải lương né tránh những vấn đề cuộc sống. Bên cạnh đó ngôn ngữ cải lương rất cũ và sáo, tiết tấu th́ rề rà, chậm chạp, không có thủ pháp mới. Như vậy trong hai vở diễn sắp tới ông sẽ không đưa các thủ pháp cũ vào tác phẩm ? Đúng vậy, v́ tôi coi sức mạnh của cải lương chính là nghệ thuật cải biến để hoàn thiện. Người ta vẫn khuyên, nghệ thuật phải là cái cây th́ nó c̣n phát triển. Nghệ thuật là bức tường rồi th́ không bao giờ c̣n tiến lên được nữa. Nếu không đau đớn đổi mới ḿnh th́ môn cải lương măi măi chỉ giậm chân tại chỗ. Theo VN Express. * 8 Về ư nghĩa trong mỗi bài ca tân cổ nhạc giao duyên mà tôi biên soạn, qua những kư hiệu ở cuối mỗi câu được tôi biểu thị bởi những “ chữ đờn “ hay notes và nhịp . Hoặc được viết tắt như sau : Chữ Ḥ, gọi theo tân nhạc là note La, ḥ nhịp 16 & ḥ nhịp 20 câu 1,2,4,5 = (...) Ḥ (La) nhịp 16 & 20 / c1,2,4,5 và xề 24/ c 6, xề 32/ c 5 = ( ... ) Xê (Mi) gọi là nhịp Song Lan ở mỗi câu nhịp 24, (và Cống 32/ c1 & Cống 16/ c 6, mang chung kư hiệu) = ( ..! ) Xang ( Ré ) Xang 28/ c1 và Xang hoặc Xê 28/ c2, c5 cả Xang 12 & 20/ c 6 = (.., ) * 9 Danh sách quí Nhạc Sĩ và số bài nhạc dùng trong tập bài ca này : 1. Từ Công Phụng 2 2. Anh Bằng 2 3. Trần Duy Đức1 4. Phạm Duy 5 5. Nguyễn Đức Quang1 6. Anh Việt Thu1 7. Trịnh Lâm Ngân1 8. Thanh Sơn1 9. Hoàng Thi Thơ1 10. Lam Phương1 11. Tâm Anh1 12. Trần Thiện Thanh 5 13. Hoàng Thanh Tâm1 14. Tú Nhi1 15. Đỗ Lễ1 16. Trầm Tử Thiêng 2 17. Trúc Hồ1 18. Nguyễn Đ́nh Toàn1 19. Lê Uyên Phương 1 20. Ngô Thụy Miên 3 21. Nguyễn Hiền1 22. Trịnh Công Sơn 4 23. Vũ Đức Sao Biển1 24. Anh Thy1 25. Phạm Đ́nh Chương1 26. Song Ngọc1 27. Nguyễn Vũ1 28. Vũ Đức Nghiêm 1 29. Thanh Phương 1 |
|
|